Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Thực trạng về pháp luật quảng cáo của Việt Nam hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Khóa luận: Đánh giá thực trạng những bất cập về pháp luật quảng cáo của Việt Nam trong thời gian qua dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
Nội dung chính
I: KHÁI QUÁT THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG QUẢNG CÁO CỦA VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA
1. Thực trạng phát triển của ngành công nghiệp quảng cáo Việt Nam
Đầu những năm 1990, khi nền kinh tế thị trường bắt đầu vận hành ở Việt Nam, hoạt động quảng cáo cũng có những dấu hiệu phát triển rõ rệt. Tuy nhiên, hoạt động của ngành công nghiệp này chỉ thực sự trở nên sôi động kể từ năm 1995, khi Mỹ bỏ cấm vận đối với Việt Nam. Vào thời điểm đó, một loạt các tập đoàn đa quốc gia đã tiến hành đầu tư vào thị trường Việt Nam, kéo theo sự thâm nhập của các công ty quảng cáo nước ngoài uy tín như Optel Media (Úc), Leo Burnett (Mỹ), Saatchi & Saatchi (Anh). Giai đoạn 1994 – 1996 là thời kỳ tăng trưởng mạnh của nền kinh tế Việt Nam với tốc độ trung bình hàng năm lên tới khoảng 10% thì cũng là thời gian ngành quảng cáo đạt được con số tăng trưởng siêu tốc. Mức tăng doanh thu trung bình của giai đoạn này được tính bằng hai chữ số. Trong hai năm 1997 – 1998, khi Việt Nam (Nguồn: Niên giám quảng cáo) chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ khu vực, nền kinh tế có những dấu hiệu suy thoái thì chi phí dành cho quảng cáo cũng sụt giảm đáng kể. Năm 1998 là năm mà doanh thu quảng cáo đã tăng trưởng âm. Từ năm 2001 trở lại đây, doanh thu quảng cáo đạt tốc độ tăng trưởng khá ổn định, tuy không tăng mạnh như những năm đầu thập niên 90. Hai năm 2004 và 2005, doanh thu quảng cáo đạt mức cao nhất với trên dưới 5.000 tỷ đồng góp vào GDP, nộp ngân sách 300 – 400 tỷ đồng. Kế hoạch đến năm 2010 doanh thu quảng cáo sẽ đạt 1 tỷ USD và năm 2020 là 3 tỷ USD.
Hiện nay, cả nước cả nước có khoảng hơn 3.000 đơn vị chuyên kinh doanh hoặc có chức năng kinh doanh dịch vụ quảng cáo trên nhiều loại phương tiện, trong đó Thành phố Hồ Chí Minh chiếm đến 70% số này. Về phương tiện quảng cáo, ở nước ta có gần 500 cơ quan báo chí với hơn 600 ấn phẩm báo chí, hơn 60 đài phát thanh – truyền hình là công cụ chuyển tải thông tin quảng cáo [36]. Khóa luận: Thực trạng về pháp luật quảng cáo của Việt Nam.
Tuy tốc độ tăng trưởng khá khả quan nhưng quy mô ngành công nghiệp quảng cáo Việt Nam vẫn còn nhỏ bé. Hiện nay, doanh thu quảng cáo trung bình hàng năm của Việt Nam khoảng 250 triệu USD, trong khi Singapore đạt trên 1 tỷ USD, Hàn Quốc là 5,5 tỷ USD [34]. Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp quảng cáo nội địa cũng còn nhiều yếu kém và hạn chế. Tuy số lượng các doanh nghiệp quảng cáo rất nhiều nhưng hiện cả nước mới có khoảng 10 công ty quảng cáo nội địa đạt trình độ chuyên nghiệp, có thể hoạch định chiến lược quảng cáo cho khách hàng như Đất Việt, Vinaxad, D&D, Quảng cáo Trẻ, Kim Minh, Việt Mỹ, Sài Gòn, Sao Mai… Trong khi đó đã có tới trên dưới 30 công ty quảng cáo nước ngoài hoạt động tại Việt Nam dưới nhiều hình thức với những tên tuổi lớn như JW Thomson, Saatchi & Saatchi, McCann-Ericson, Bates, Ogilvy & Mather, Denstu, Leo Burnett… [35]. Doanh nghiệp quảng cáo của Việt Nam không thể cạnh tranh với những tên tuổi này ở khu vực có vốn đầu tư nước ngoài – khu vực luôn có mức chi phí quảng cáo cao nhất. Công việc hoạch định chiến lược và sáng tạo nằm trong tay các công ty quảng cáo nước ngoài, và họ thuê lại doanh nghiệp Việt Nam thực hiện những công đoạn hết sức cụ thể hoặc thuần túy kỹ thuật. Vì thế không có gì là ngạc nhiên khi những tên tuổi lớn đó hiện nay chiếm 80% thị phần quảng cáo tại Việt Nam.
Nói chung, ngành công nghiệp quảng cáo của Việt Nam hiện nay vẫn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng. Một trong những nguyên nhân chính cản trở sự phát triển đó là những quy định còn bất cập của hệ thống pháp luật.
Có thể bạn quan tâm đến dịch vụ:
2. Một số vi phạm trong hoạt động quảng cáo thời gian qua
Bên cạnh việc các doanh nghiệp luôn “kêu ca” rằng những quy định pháp luật đang kìm hãm hoạt động quảng cáo thì họ cũng luôn tìm cách lách luật, dẫn đến một số lộn xộn trong hoạt động này thời gian qua.
2.1. Quảng cáo vi phạm nguyên tắc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Mục tiêu của nhà sản xuất khi quảng cáo là để đẩy mạnh bán hàng, nghĩa là để kích thích người tiêu dùng mua sản phẩm của mình. Tuy nhiên, đôi khi vì chạy theo lợi nhuận một cách thái quá mà những quảng cáo này đã gây ra sự hiểu nhầm hay có tính chất lừa dối người tiêu dùng. Tại Việt Nam, sự vi phạm này trong những năm qua thường biểu hiện dưới một số hình thức cụ thể như:
- Quảng cáo với nội dung không rõ ràng:
Có những quảng cáo thông báo các chương trình khuyến mại hấp dẫn nhưng họ lại bỏ sót một số thông tin quan trọng làm cho khách hàng bị hiểu nhầm. Điển hình của loại mập mờ này là quảng cáo của các hãng hàng không giá rẻ với những thông tin rất chung chung như bay từ Hà Nội sang Thái Lan hay từ Thành phố Hồ Chí Minh sang Singapore chỉ tốn 25 đôla, mà họ không nêu rõ mức giá này thực tế còn bao gồm nhiều loại phí khác và mỗi chuyến bay chỉ có một tỷ lệ nhỏ ghế ngồi bán theo giá này. Hay như trong năm 2004, một nhà phân phối điện thoại di động Nokia đã đăng thông báo “Khách hàng sẽ có cơ hội mua điện thoại di động Nokia 3660 và 3300 với giá bằng 50% giá hiện tại. Chương trình bắt đầu từ 05/07/2004 cho đến khi hết hàng”. Mấu chốt mập mờ nảy sinh của nhà phân phối đối với khách hàng là “hết hàng”. Vậy là hết hàng gì? Hết hàng khuyến mại hay hết hàng trong cửa hàng? Vì thế mới có chuyện khách hàng ùn ùn kéo về cửa hàng, có những người lặn lội từ xa, xếp hàng từ 5h sáng nhưng cuối cùng nhận được câu trả lời của nhân viên là đã “hết hàng”. Loại quảng cáo “bỏ sót” thông tin kiểu đó thường gây sự phẫn nộ cho khách hàng mỗi khi họ phát hiện bị lừa, và chắc chắn sẽ để lại ấn tượng xấu đối với khách hàng [45].
- Quảng cáo phóng đại: Khóa luận: Thực trạng về pháp luật quảng cáo của Việt Nam.
Một kiểu nữa cũng gây hiểu lầm cho người tiêu dùng là quảng cáo phóng đại về tính năng của sản phẩm. Người tiêu dùng Việt Nam chắc không lạ gì quảng cáo của các nhãn hiệu bột giặt trên thị trường mà chỉ cần một vài lần vò nhẹ là từ một chiếc áo bẩn trở thành một chiếc áo trắng tinh như mới. Những quảng cáo đó có thể mới chỉ gây cho người xem những khó chịu nho nhỏ vì sự phi lý của nó. Nhưng những vi phạm trong việc quảng cáo các sản phẩm y tế, tập trung ở 3 lĩnh vực chữa bệnh, thuốc và mỹ phẩm có thể dẫn đến những ảnh hưởng trực tiếp đối với sức khỏe người tiêu dùng. Các quảng cáo này thường tuyệt đối hóa tính ưu việt của các loại mỹ phẩm, thực phẩm, đặc biệt là các sản phẩm thay thế sữa mẹ khiến cho nhiều bà mẹ trẻ đã vội thay thế sữa mẹ bằng các loại sữa được quảng cáo khi trẻ chưa được đầy một năm tuổi. Theo Bộ Y tế, do chưa có những quy định cụ thể về xử phạt hành chính đối với các trường hợp vi phạm trong lĩnh vực y tế nên thanh tra Bộ Y tế và các sở y tế chưa thể tiến hành xử phạt đối với các đơn vị, cá nhân có sai phạm [30].
- Quảng cáo không đúng sự thật:
Nhiều quảng cáo có nội dung vượt quá khả năng thực tế mà hàng hóa có thể đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng. Quảng cáo về kem đánh răng làm trắng răng là một ví dụ. Theo Tạp chí Consumer Reports của Mỹ, khi thử nghiệm 14 loại kem đánh răng được quảng cáo là làm trắng răng thì không một sản phẩm nào có thể làm trắng men răng cả. Thế nhưng các nhãn hiệu kem đánh răng tại Việt Nam vẫn hàng ngày đưa ra những quảng cáo hứa hẹn “đẩy lùi những vết ố trên răng” hay làm cho hàm răng “trở nên trắng bóng”.
2.2. Quảng cáo vi phạm nguyên tắc cạnh tranh lành mạnh
Cạnh tranh là một hoạt động tất yếu trong nền kinh tế thị trường. Nhưng không ít trường hợp vì tranh giành “miếng bánh” thị phần mà một số doanh nghiệp không ngần ngại sử những thủ thuật bất chính gây thiệt hại cho đối thủ. Tất cả những biểu hiện của quảng cáo không trung thực, vi phạm nguyên tắc bảo vệ người tiêu dùng như đã nêu ở trên cũng là một hành vi cạnh tranh không lành mạnh.
Ngoài ra, một dạng điển hình khác của việc vi phạm nguyên tắc cạnh tranh lành mạnh là quảng cáo so sánh vì nó có thể làm hạ thấp uy tín của đối thủ cạnh tranh. Để thực hiện mục đích của mình, một số nhà sản xuất thường tự khẳng định rằng sản phẩm của họ hơn hẳn so với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh. Chẳng hạn những thông điệp kiểu như “ Xà bông Lifebuoy sạch hơn xà bông thường, diệt 90% vi khuẩn…” vẫn thường được bắt gặp hàng ngày trên các phương tiện báo chí và truyền hình. Một ví dụ khác như các sản phẩm quảng cáo dầu gội đầu Rejoice, Clear… tuy không trực tiếp nhưng người xem có thể dễ dàng nhận ra có ý nói xấu đối thủ ngay trên truyền hình. Khóa luận: Thực trạng về pháp luật quảng cáo của Việt Nam.
Hiện nay trên thế giới, không phải tất cả các nước đều coi quảng cáo so sánh là hành vi bất hợp pháp. Một số nước như Anh, Mỹ không cấm quảng cáo so sánh nếu đáp ứng một số điều kiện nhất định. Tuy nhiên, theo khoản 5 Điều 9 Luật Thương mại 2005 thì các quảng cáo “so sánh trực tiếp hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ của mình với hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ cùng loại của thương nhân khác” bị cấm ở Việt Nam. Trên thực tế ở Việt Nam đã có một số vụ kiện liên quan đến vấn đề này. Đó là trường hợp Công ty Kim Đan bị hai công ty Vạn Thành và Ưu Việt đưa đơn kiện vì cho rằng nói xấu sản phẩm của mình khi đăng quảng cáo với nội dung “… Đệm lò xo phân bố lực không đều, độ đàn hồi thấp nên bị xẹp theo thời gian. Độ đàn hồi cao thì dễ gây cháy, nguy hiểm cho người sử dụng… Đệm nhựa tổng hợp poly-urethane (nệm mút xốp nhẹ) tính dẻo ưu việt nên không có độ đàn hồi, mau bị xẹp…”. Sau hai lần xét xử, Tòa án Nhân dân Tối cao đã có có kết luận đây là hành vi vi phạm quy định về quảng cáo thương mại [44]. Một vụ kiện khác cũng thu hút nhiều sự chú ý của công chúng là việc Công ty Unilever Việt Nam kiện Công ty Procter & Gamble khi quảng cáo cho sản phẩm bột giặt Tide đã sử dụng phương pháp so sánh trực tiếp qua thông điệp: “Chỉ có Tide mới cho quần áo trắng tinh mà ngay cả những bột giặt với chất tẩy an toàn cũng không sánh được”. Đồng thời, quảng cáo này còn sử dụng màu sắc của túi bột giặt OMO để so sánh với bột giặt Tide. Trong khi đó, thông điệp quảng cáo cho nhãn hiệu OMO “với chất tẩy an toàn” và những gam màu đặc thù này đã được đăng ký bảo hộ tại Cục Bản quyền Việt Nam cùng với nhãn hiệu OMO. Đây là những hành vi cạnh tranh không lành mạnh, đã vi phạm quy định của Luật Cạnh tranh cũng như các quy định của pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp ở Việt Nam.
David Ogilvy, nhà sáng lập công ty quảng cáo Ogilvy & Mather từng chủ trương: quảng cáo chỉ nên tập trung vào sự kiện, không cần dùng những từ hoa mỹ. Bởi lẽ, quảng cáo hay có thể dụ dỗ khách hàng mua sản phẩm tồi, nhưng chỉ một lần thôi, và quảng cáo tồi có thể làm giảm doanh số bán hàng. Thế nhưng dường như các nhà quảng cáo vẫn chưa thực sự chú ý đến nguyên tắc này mà vẫn tiếp tục những chiêu thức đánh lừa khách hàng hay nói xấu đối thủ của mình.
2.3. Quảng cáo không phù hợp với văn hóa, thuần phong mỹ tục, đạo đức xã hội của Việt Nam
Có rất nhiều quảng cáo của các nhãn hiệu sản phẩm có thể được chấp nhận ở các nước phương Tây, nhưng khi du nhập vào Việt Nam lại không phù hợp với truyền thống của người Việt Nam, vì thế gây nên những phản cảm trong một số bộ phận người tiêu dùng. Một trong những ví dụ đó là quảng cáo của Dove. Cái mà các nhà sản xuất Dove tưởng là hay, là ấn tượng, phù hợp với giới trẻ hiện đại lại là sự vô duyên, sự đáng xấu hổ đối với không ít người dân Việt Nam, thậm chí trong cả tầng lớp trẻ. Có một quảng cáo bột giặt Viso cũng gây khó chịu là cảnh người mẹ trẻ nói với bà rằng “cứ để cháu chơi bọt bột giặt, vì bọt này không ăn tay”. Đoạn quảng cáo này gây ra hai phản tác dụng: thứ nhất người mẹ trẻ thể hiện sự cẩu thả trong việc giữ gìn vệ sinh cho con cái; thứ hai, hình ảnh người con cãi lại mẹ không phù hợp với thuần phong mỹ tục của người Việt Nam.
Theo PGS.TS. Hà Đình Đức (Hội Bảo vệ thiên nhiên môi trường Thủ đô), quảng cáo là cần thiết, nhưng phải “trong văn hóa” chứ không thể “bất chấp” văn hóa [43]. Quả thật như vậy, khi các tập đoàn nước ngoài thâm nhập vào thị trường Việt Nam, muốn sản phẩm của mình bán được cho người Việt Nam thì cũng phải “nhập gia tùy tục”. Điều đó không chỉ bảo vệ cho quyền lợi người tiêu dùng mà còn xây dựng hình ảnh đẹp về doanh nghiệp trong mắt người Việt Nam.
2.4. Quảng cáo vi phạm quyền sở hữu trí tuệ Khóa luận: Thực trạng về pháp luật quảng cáo của Việt Nam.
Một trong những biểu hiện rất phổ biến đối với việc vi phạm quyền sở hữu trí tuệ trong quảng cáo là tình trạng quảng cáo không trung thực, “nhái” thương hiệu của doanh nghiệp khác. Loại vi phạm này có thể diễn ra dưới nhiều hình thức như gây nhầm lẫn về nhãn hiệu, kiểu dáng, bao bì sản phẩm…
Để có được một thương hiệu nổi tiếng và có chỗ đứng trên thị trường, các doanh nghiệp phải tốn rất nhiều công sức, thời gian và tiền bạc. Trong khi đó, một số doanh nghiệp vì mục tiêu lợi nhuận đã “tìm lối đi tắt” là kinh doanh dựa vào sự nổi tiếng của các thương hiệu có sẵn trên thị trường. Một ví dụ điển hình về hành vi vi phạm này là việc nhãn hiệu nước khoáng Lavie – một sản phẩm có uy tín bị rất nhiều cơ sở sản xuất khác “nhái” theo với những tên gọi có cách viết hoặc phát âm gần giống như Lavile, Lavila, Lavige…
Theo pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu đối với tên gọi, nhãn hiệu hàng hóa, Nhà nước nghiêm cấm các hành vi sử dụng tên gọi, nhãn hiệu hàng hóa giống hệt hoặc gần giống, nghiêm cấm mọi hành vi tương tự làm cho khách hàng nhầm lẫn với nhãn hiệu hàng hóa của chủ thể khác đã đăng ký với cơ quan bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp. Tuy nhiên, do sự quản lý thiếu hiệu quả của các cơ quan chức năng mà các hành vi quảng cáo “nhái thương hiệu” vẫn ngang nhiên tồn tại. Tất nhiên những kiểu đánh lừa khách hàng như thế chỉ là chộp giật và không thể tồn tại lâu được. Mặc dù vậy vẫn cần có chế tài để xử lý nghiêm những trường hợp này.
2.5. Một số vi phạm khác trong hoạt động quảng cáo ngoài trời
Tình trạng lộn xộn trong quảng cáo diễn ra nhiều nhất đối với hoạt động quảng cáo ngoài trời. Trong những năm vừa qua, cùng với quá trình đô thị hóa, hoạt động quảng cáo ngoài trời đang tồn tại nhiều sai phạm gây mất mỹ quan đô thị, thậm chí còn ảnh hưởng đến an toàn trật tự công cộng.
Tại các thành phố lớn, điển hình là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, các panô đặt trên cao ốc, không che chắn mặt sau, khung sườn gỉ sét làm mất mỹ quan đô thị, chân panô quá cao, không an toàn khi có gió lốc, bão. Quảng cáo bằng băng rôn khuyến mại sản phẩm thì rất lộn xộn; bảng hiệu quá to che hết các cửa sổ, mặt tiền; quảng cáo lưu động dùng phương tiện phát thanh gây mất trật tự, ồn ào, khó chịu cho người dân… Theo thống kê của Sở Văn hóa – Thông tin Thành phố Hồ Chí Minh trong năm 2003, hơn 90% biển quảng cáo ngoài trời hiện nay ở thành phố đều sai phạm quy định Nhà nước [41]. Đa phần là các vi phạm về kích cỡ, vị trí được phép quảng cáo. Nhiều biển quảng cáo quá thời hạn không được dỡ bỏ hoặc thường không ghi tên, địa chỉ, số giấy phép được cấp vào phần dưới của bảng. Nhiều quảng cáo, biển hiệu dùng toàn tiếng nước ngoài. Vấn đề đáng nói là, các doanh nghiệp mặc dù biết rõ mười mươi là sai nhưng vẫn cố tình vi phạm. Vì lợi ích kinh tế nên nhiều doanh nghiệp chấp nhận nộp phạt đến 15 triệu đồng một lần vi phạm để dựng cho được biển quảng cáo. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn có nhiều doanh nghiệp làm ăn đúng đắn thì cảm thấy lo ngại trước cách thức kinh doanh không nghiêm chỉnh này.
Vì sao lại có thực trạng tỷ lệ vi phạm cao như vậy? Câu trả lời là từ cả hai phía: doanh nghiệp và Nhà nước. Ngoài việc các doanh nghiệp vì chạy theo lợi nhuận mà cố tình vi phạm quy định của Nhà nước thì còn do nguyên nhân nữa là hiện nay những quy định của pháp luật còn nhiều bất cập và mâu thuẫn nhau, hoạt động quản lý thì yếu kém khiến cho doanh nghiệp quảng cáo nếu không “phạm luật” thì khó lòng mà tồn tại được.
II: ĐÁNH GIÁ NHỮNG VẤN ĐỀ BẤT CẬP VỀ PHÁP LUẬT QUẢNG CÁO CỦA VIỆT NAM Khóa luận: Thực trạng về pháp luật quảng cáo của Việt Nam.
Cùng với đà tăng trưởng của nền kinh tế, quảng cáo ngày càng đóng vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh của bất kỳ một doanh nghiệp nào. Sự phát triển của ngành quảng cáo là một tín hiệu đáng mừng đối với nền kinh tế thị trường của Việt Nam. Nhưng mặt khác, chính điều đó cũng lại tạo một sức ép đòi hỏi hệ thống pháp luật về quảng cáo của Việt Nam phải được hoàn thiện, tạo một khung pháp lý đồng bộ và hợp lý thúc đẩy cho ngành dịch vụ quan trọng này phát triển. Hiện tại, pháp luật về quảng cáo của Việt Nam vẫn còn tồn tại nhiều bất cập.
1. Về khái niệm quảng cáo
Ở Việt Nam, hệ thống quy phạm điều chỉnh hoạt động quảng cáo bao gồm: các văn bản do Bộ Văn hóa – Thông tin chủ trì soạn thảo hoặc ban hành theo thẩm quyền (Pháp lệnh Quảng cáo và các văn bản hướng dẫn thi hành) và các văn bản do Bộ Thương mại chủ trì soạn thảo hoặc ban hành theo thẩm quyền (Luật Thương mại và các văn bản hướng dẫn thi hành điều chỉnh hoạt động quảng cáo thương mại). Song hành cùng với hai nhóm văn bản trên là hai khái niệm “quảng cáo” và “quảng cáo thương mại”.
Theo khoản 1 Điều 4 Pháp lệnh Quảng cáo 2001 thì “Quảng cáo là giới thiệu đến người tiêu dùng về hoạt động kinh doanh, hàng hóa, dịch vụ, bao gồm dịch vụ có mục đích sinh lời và dịch vụ không có mục đích sinh lời”. Như vậy trong nội hàm khái niệm quảng cáo theo Pháp lệnh Quảng cáo đã bao hàm hai khái niệm là quảng cáo thương mại và quảng cáo phi thương mại. Còn trong Luật Thương mại 2005 thì chỉ tồn tại khái niệm quảng cáo thương mại, theo đó, “Quảng cáo thương mại là hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân để giới thiệu với khách hàng về hoạt động kinh doanh hàng hóa, dịch vụ của mình”. Như vậy, theo Luật Thương mại thì quảng cáo là một hoạt động nhằm mục đích sinh lời, do đó có bản chất là hoạt động mang tính thương mại và được coi là một hành vi thương mại [42]. Có thể nhận thấy khái niệm quảng cáo trong Pháp lệnh Quảng cáo có nội hàm rộng hơn khái niệm quảng cáo thương mại trong Luật Thương mại và quảng cáo thương mại chỉ là một bộ phận của hoạt động quảng cáo. Trên thực tế, ở hầu hết các quốc gia trên thế giới không tồn tại khái niệm quảng cáo phi thương mại vì quảng cáo luôn gắn với tính thương mại. Ví dụ Luật của Cộng đồng châu Âu khẳng định: “Quảng cáo không gồm: các thông tin do cơ quan phát thanh phát có liên quan tới chương trình của cơ quan và các sản phẩm phụ trực tiếp của các chương trình này; các thông tin về dịch vụ công cộng và các lời kêu gọi cho việc làm từ thiện miễn phí” (khoản 3 Điều 18a Chỉ thị 97/360 của Quốc hội châu Âu và Cộng đồng châu Âu về việc thực hiện các hoạt động phát thanh truyền hình) [21].
Nguyên nhân của những quan niệm khác nhau này là do sự khác nhau về cơ quan chủ trì soạn thảo và thời điểm soạn thảo, ban hành các văn bản luật. Xuất phát từ sự khác biệt đó mà hai văn bản luật đã đưa ra những quy định khác nhau khiến các doanh nghiệp hết sức lúng túng không biết phải thực hiện theo quy định nào, đồng thời gây khó khăn cho ngay bản thân các cơ quan quản lý Nhà nước trong quá trình quản lý hoạt động quảng cáo. Do đó, một yêu cầu đặt ra là cần phải có một văn bản quy phạm pháp luật mới nhằm thống nhất các văn bản hiện hành, tạo sự nhất quán trong việc áp dụng các quy định của pháp luật về quảng cáo. Khóa luận: Thực trạng về pháp luật quảng cáo của Việt Nam.
2. Về các chủ thể tham gia trong hoạt động quảng cáo
Để cho ra đời một sản phẩm quảng cáo hoàn chỉnh phải trải qua rất nhiều công đoạn và có sự tham gia của nhiều chủ thể trong chu trình đó. Theo quy định của pháp luật hiện hành, hoạt động quảng cáo có sự tham gia của các chủ thể là: người quảng cáo, người kinh doanh dịch vụ quảng cáo và người phát hành quảng cáo. Trong phạm vi của đề tài sẽ chỉ tập trung nghiên cứu về người kinh doanh dịch vụ quảng cáo và người phát hành quảng cáo.
2.1. Người kinh doanh dịch vụ quảng cáo
Cùng với quá trình chuyên môn hóa trong hoạt động sản xuất kinh doanh, hiện nay các doanh nghiệp thường có xu hướng thuê một công ty riêng để thiết kế các sản phẩm quảng cáo cho mình. Sở dĩ các doanh nghiệp quảng cáo ngày càng có chỗ đứng trên thị trường là vì khác với các doanh nghiệp thuê dịch vụ quảng cáo có chức năng chính là sản xuất, tiêu thụ sản phẩm thì các doanh nghiệp này lấy dịch vụ quảng cáo làm ngành nghề kinh doanh chính của mình. Chính vì thế mà họ chuyên nghiệp hơn trong việc đề ra chiến lược, sáng tạo các ý tưởng, thiết kế, xây dựng một sản phẩm quảng cáo. Do đó xét về mặt hiệu quả thì việc thuê một công ty quảng cáo riêng sẽ tốt hơn và giúp cho các doanh nghiệp thuê quảng cáo tránh được thất bại trước mỗi chiến dịch quảng cáo.
Theo khoản 6 Điều 4 Pháp lệnh Quảng cáo, “người kinh doanh dịch vụ quảng cáo là tổ chức, cá nhân thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình quảng cáo nhằm mục đích sinh lời” và theo quy định của Điều 104
Luật Thương mại 2005, “kinh doanh dịch vụ quảng cáo thương mại là hoạt động thương mại của thương nhân để thực hiện việc quảng cáo thương mại cho thương nhân khác”. Như vậy, người kinh doanh dịch vụ quảng cáo theo quy định của pháp luật là thương nhân và do đó họ phải có Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh khi muốn thực hiện dịch vụ này. Vì là thương nhân nên họ có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy chế thương nhân. Ngoài ra, người kinh doanh dịch vụ quảng cáo còn có những quyền đặc trưng riêng của nghề này, đó là quyền yêu cầu bên thuê quảng cáo cung cấp thông tin quảng cáo trung thực, chính xác và theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng. Một điểm mới của Pháp lệnh Quảng cáo và Luật Thương mại so với các văn bản quy định về hoạt động quảng cáo trước đó là thương nhân có quyền đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với sản phẩm quảng cáo. Khóa luận: Thực trạng về pháp luật quảng cáo của Việt Nam.
Nghiên cứu những quy định về quyền và nghĩa vụ của người kinh doanh dịch vụ quảng cáo thấy những quy định này còn nhiều điểm chưa rõ ràng, chưa cụ thể. Chẳng hạn điểm b khoản 2 Điều 24 Pháp lệnh Quảng cáo quy định người kinh doanh dịch vụ quảng cáo phải có nghĩa vụ thực hiện đúng các quy định của pháp luật về quảng cáo. Theo đó, nếu một người kinh doanh dịch vụ quảng cáo trên mạng máy tính sẽ phải “thực hiện theo đúng các quy định của pháp luật về quảng cáo, dịch vụ truy nhập, dịch vụ kết nối và việc cung cấp các loại hình dịch vụ quảng cáo trên mạng máy tính; thực hiện các quy định về kỹ thuật, nghiệp vụ nhằm đảm bảo bí mật Nhà nước” (Điều 11 Pháp lệnh Quảng cáo). Như vậy đây là một kiểu quy định lòng vòng gây khó khăn cho quá trình thực thi pháp luật trong thực tế.
Đối với hoạt động kinh doanh dịch vụ quảng cáo có yếu tố nước ngoài, có thể nói quy định của pháp luật thể hiện trong Pháp lệnh Quảng cáo và Nghị định 24/2003/NĐ-CP hướng dẫn thi hành pháp lệnh quảng cáo đã có những điểm tiến bộ so với các quy định trước đó. Theo các quy định trước đây, chúng ta mới chỉ cho phép đầu tư nước ngoài tham gia vào lĩnh vực quảng cáo dưới hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh. Với hình thức đó, các đối tác nước ngoài không được trực tiếp quản lý nên không muốn đầu tư, chuyển giao công nghệ, vì thế doanh nghiệp Việt Nam cũng không có điều kiện học hỏi kinh nghiệm. Tuy nhiên theo quy định mới của Nghị định 24 thì bên nước ngoài có thể đầu tư dưới hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh hoặc liên doanh. Cũng theo quy định mới thì tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ quảng cáo nước ngoài được phép thành lập văn phòng đại diện và chi nhánh tại Việt Nam khi có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật, so với trước đây chỉ cho phép công ty quảng cáo nước ngoài thành lập văn phòng đại diện tại Việt Nam. Với quy định như trước đây, mỗi năm Nhà nước thất thu một khoản thuế khá lớn từ hoạt động của các công ty quảng cáo nước ngoài vì hợp đồng quảng cáo được ký kết ở nước ngoài. Tuy nhiên, những quy định về việc thành lập chi nhánh của công ty quảng cáo nước ngoài ở Việt Nam còn khá ngặt nghèo, cụ thể là: tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ quảng cáo nước ngoài ở Việt Nam chỉ được thành lập chi nhánh nếu “đã hoạt động từ 5 năm trở lên kể từ khi đăng ký kinh doanh và có văn phòng đại diện tại Việt Nam từ 7 năm trở lên kể từ tháng 12 năm 2001 nếu không vi phạm pháp luật Việt Nam” (điểm b khoản 1 Điều 25 Nghị định 24). Những quy định chặt chẽ đối với công ty nước ngoài nhằm mục đích bảo hộ cho các doanh nghiệp quảng cáo trong nước. Ngay cả Trung Quốc và Thái Lan, hai nước có nền kinh tế thị trường phát triển hơn Việt Nam vẫn chưa cho phép công ty quảng cáo 100% vốn nước ngoài được hoạt động tại nước họ. Nhưng trên thực tế, đối với những hoạt động bị pháp luật hạn chế, các công ty nước ngoài vẫn lách luật bằng cách thuê lại các công ty Việt Nam thực hiện các dịch vụ đó cho mình với mức phí thấp. Doanh nghiệp quảng cáo Việt Nam vẫn chỉ là “lính đánh thuê” ngay trên sân nhà cho các doanh nghiệp nước ngoài [31]. Nên chăng cần mở rộng hoạt động đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực quảng cáo để doanh nghiệp Việt Nam có thể tiếp thu được công nghệ, kinh nghiệm, đồng thời làm quen dần với sự cạnh tranh của các tập đoàn lớn khi thị trường quảng cáo sẽ mở cửa trong tương lai. Tuy nhiên, Nhà nước cần có một lộ trình mở cửa cụ thể để các doanh nghiệp trong nước có những bước chuẩn bị sẵn sàng.
2.2. Người phát hành quảng cáo Khóa luận: Thực trạng về pháp luật quảng cáo của Việt Nam.
Theo khoản 4 Điều 4 Pháp lệnh Quảng cáo, “người phát hành quảng cáo là tổ chức, cá nhân đưa sản phẩm quảng cáo đến người tiêu dùng, bao gồm cơ quan báo chí, nhà xuất bản, tổ chức quản lý mạng thông tin máy tính, người tổ chức chương trình văn hóa, thể thao, hội chợ, triển lãm và tổ chức, cá nhân sử dụng phương tiện quảng cáo khác”. Như vậy người phát hành quảng cáo là người có quyền sử dụng phương tiện quảng cáo. Trong pháp lệnh quảng cáo còn đề cập đến “người cho thuê phương tiện quảng cáo”. Trong thực tiễn, rất nhiều trường hợp người phát hành quảng cáo đồng thời là người cho thuê phương tiện quảng cáo, tức là họ vừa có quyền sở hữu, vừa có quyền sử dụng phương tiện quảng cáo. Thực tế cho thấy việc đưa ra thêm khái niệm này không thật cần thiết vì hoạt động cho thuê phương tiện quảng cáo không hẳn là một khâu quan trọng trong quá trình quảng cáo, không cần sự điều chỉnh của pháp luật quảng cáo vì nó giống như một hoạt động cho thuê tài sản thông thường. Luật Thương mại 2005 không đưa ra khái niệm người cho thuê phương tiện quảng cáo mà chỉ quy định “người phát hành quảng cáo thương mại là người trực tiếp phát hành sản phẩm quảng cáo thương mại”. So với khái niệm trong Pháp lệnh quảng cáo thì khái niệm này ngắn gọn và súc tích hơn.
Người phát hành quảng cáo có quyền quảng cáo trên phương tiện của mình và thu phí dịch vụ phát hành quảng cáo theo quy định của pháp luật. Bên cạnh đó họ có các nghĩa vụ tuân thủ các quy định của pháp luật về báo chí, xuất bản, về quản lý mạng thông tin máy tính, chương trình hoạt động văn hóa, thể thao, hội chợ, triển lãm và Pháp lệnh Quảng cáo trong việc sử dụng báo chí, xuất bản phẩm, mạng thông tin máy tính, chương trình hoạt động văn hóa, thể thao, hội chợ, triển lãm và phương tiện quảng cáo khác để quảng cáo; thực hiện hợp đồng phát hành quảng cáo đã ký kết; bồi thường thiệt hại do mình gây ra và thực hiện các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật (Điều 25 Pháp lệnh Quảng cáo).
Nhìn chung, Pháp lệnh Quảng cáo cũng như Luật Thương mại 2005 vẫn chỉ đưa ra những quy định chung chung, không cụ thể về quyền và nghĩa vụ của người phát hành quảng cáo. Các quy định của văn bản dưới luật như Nghị định 24/2003/NĐ-CP, Thông tư 43/2003/TT-BVHTT, và Thông tư 79/TT-BVHTT cũng không có quy định chi tiết hơn về vấn đề này.
3. Về sản phẩm quảng cáo
Sản phẩm quảng cáo chính là “đầu ra” của một quá trình thực hiện chương trình quảng cáo, từ nghiên cứu thị trường, tìm hiểu tâm lý khách hàng, định vị sản phẩm đến việc thiết kế, sáng tạo ra kết quả cuối cùng sao cho có sức thu hút nhất với người tiêu dùng. Ngày nay, với óc sáng tạo của con người và sự trợ giúp của các phương tiện kỹ thuật, chất lượng của sản phẩm quảng cáo ngày càng được nâng cao.
Theo Điều 105 Luật Thương mại, “sản phẩm quảng cáo thương mại gồm những thông tin bằng hình ảnh, hành động, âm thanh, tiếng nói, chữ viết, biểu tượng, màu sắc, ánh sáng chứa đựng nội dung quảng cáo thương mại”. Còn theo khoản 3 Điều 4 Pháp lệnh Quảng cáo thì “sản phẩm quảng cáo là sản phẩm thể hiện nội dung quảng cáo, hình thức quảng cáo”. Như vậy trong nội hàm khái niệm quảng cáo bao hàm hai yếu tố là nội dung và hình thức quảng cáo.
3.1. Nội dung quảng cáo Khóa luận: Thực trạng về pháp luật quảng cáo của Việt Nam.
Nội dung quảng cáo chính là những thông điệp mà người quảng cáo muốn truyền tới công chúng hay khách hàng mục tiêu nhằm thuyết phục họ mua hàng hóa, dịch vụ của mình. Khoản 1 Điều 6 Pháp lệnh Quảng cáo quy định “nội dung quảng cáo bao gồm thông tin quảng cáo về hoạt động kinh doanh, hàng hóa, dịch vụ”. Nội dung quảng cáo rất phong phú, từ những thông tin về hàng hóa, dịch vụ đến những nội dung nhằm thuyết phục người tiêu dùng mua sản phẩm.
Những thông tin này do được truyền bá trên các phương tiện thông tin đại chúng nên có tầm ảnh hưởng rộng đến công chúng. Vì thế, không chỉ có Pháp lệnh Quảng cáo điều chỉnh trực tiếp hoạt động quảng cáo mà cả pháp luật về báo chí, xuất bản, về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cũng đều quan tâm đến vấn đề này. Mục đích của các quy định pháp luật này là để bảo vệ lợi ích của cộng đồng, và quan trọng nhất là quyền lợi của người tiêu dùng. Điều này đã được thể hiện rất rõ trong Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 1999. Theo đó, tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ phải thông tin quảng cáo chính xác và trung thực về hàng hoá, dịch vụ; niêm yết giá hàng hoá, dịch vụ; công bố điều kiện, thời hạn, địa điểm bảo hành và hướng dẫn sử dụng hàng hoá, dịch vụ của mình cho người tiêu dùng (Điều 15). Thống nhất với Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, khoản 2 Điều 6 Pháp lệnh Quảng cáo cũng quy định thông tin quảng cáo về hoạt động kinh doanh, hàng hóa, dịch vụ phải đảm bảo trung thực, chính xác, rõ ràng, không gây thiệt hại cho người sản xuất, kinh doanh và người tiêu dùng. Cụ thể hoá Pháp lệnh quảng cáo, Nghị định số 24/2003/NĐ-CP chỉ rõ tại Điều 4: “Thông tin quảng cáo phải đúng với phạm vi ngành nghề đăng ký kinh doanh. Thông tin quảng cáo về hàng hoá, dịch vụ sinh lời phải phản ánh trung thực, chính xác, đúng với quy cách, chất lượng, công dụng, nhãn hiệu, kiểu dáng, chủng loại, bao bì, xuất xứ, phương thức phục vụ, thời hạn bảo quản, thời hạn bảo hành. Thông tin quảng cáo về dịch vụ không sinh lời phải trung thực, chính xác, phản ánh đúng yêu cầu, khả năng, chất lượng dịch vụ”.
Những quy định thể chế hóa nội dung quảng cáo là hoàn toàn phù hợp nhằm bảo vệ cho quyền lợi của người tiêu dùng. Tuy nhiên, những quy định này phần nào vẫn còn chung chung. Tìm hiểu luật pháp của một số nước phát triển thì họ có những quy định cụ thể hơn về vấn đề này, đặc biệt là bảo vệ trẻ em trước tác động của quảng cáo hay về nội dung quảng cáo của một số loại hàng hóa cần hạn chế sử dụng. Ví dụ tại Điều 15 Chỉ thị 97/360 CE của Quốc hội Châu Âu và Cộng đồng châu Âu về việc thực hiện các hoạt động phát thanh truyền hình có những quy định rất cụ thể về việc quảng cáo đồ uống có cồn, trong đó nêu rõ quảng cáo đồ uống có cồn không được nhằm vào trẻ em và đặc biệt không được giới thiệu trẻ em đang dùng đồ uống, không được liên hệ việc dùng đồ uống có cồn với việc cải thiện khả năng của cơ thể hoặc tới khả năng lái ô tô…
Với những quy định như của Việt Nam thì rất khó cho các nhà hành pháp có thể xử lý các trường hợp xâm phạm đến quyền lợi người tiêu dùng trong hoạt động quảng cáo. Khóa luận: Thực trạng về pháp luật quảng cáo của Việt Nam.
3.2. Hình thức quảng cáo
Khoản 1 Điều 7 Pháp lệnh quảng cáo quy định: hình thức quảng cáo là sự thể hiện sản phẩm quảng cáo bằng tiếng nói, chữ viết, biểu tượng, màu sắc, ánh sáng, hình ảnh, hành động, âm thanh và các hình thức khác. Như vậy hình thức quảng cáo là biểu hiện bên ngoài của nội dung quảng cáo. Hình thức quảng cáo rất đa dạng, phong phú, không chỉ đơn thuần là tiếng nói, chữ viết, là hình ảnh mà có thể là sự tổng hợp của các hình thức ấy trên một sản phẩm quảng cáo. Kết quả là hình thức quảng cáo sẽ có tác dụng gây ấn tượng và tác động đến người xem, người nghe. Thông thường, hình thức quảng cáo bao giờ cũng phải tuân thủ các quy định khá nghiêm ngặt của pháp luật không chỉ về tính hợp pháp mà còn cả tính thẩm mỹ. Cụ thể, hình thức quảng cáo phải rõ ràng, dễ hiểu, có tính thẩm mỹ; hình thức quảng cáo phải có dấu hiệu phân biệt những thông tin quảng cáo với những thông tin không phải là quảng cáo để không gây nhầm lẫn cho người sản xuất, kinh doanh và người tiêu dùng (khoản 2 và 3 Điều 7 Pháp lệnh Quảng cáo).
Xem xét quy định trên có hai vấn được đặt ra. Thứ nhất, thế nào gọi là có tính thẩm mỹ? Đây là một khái niệm hết sức trừu tượng, vì thế cần được cụ thể hóa trong các văn bản pháp luật để có thể xác định rõ những trường hợp vi phạm và biện pháp xử lý. Chẳng hạn như trong thời gian qua có rất nhiều những quảng cáo về các loại thuốc đặc trị các bệnh ngoài da được phát trên truyền hình vào những giờ nhạy cảm gây nhiều phản ứng từ phía người xem. Những quảng cáo như thế có được coi là có tính thẩm mỹ không? Nếu chỉ căn cứ vào Pháp lệnh Quảng cáo thì khó có thể xác định được mà phải chờ đến khi có một văn bản riêng là Thông tư 43/2003/TT-BVHTT quy định cấm quảng cáo những loại sản phẩm như vậy trên đài phát thanh, truyền hình lúc 18h – 20h hàng ngày. Thứ hai, đâu được gọi là “dấu hiệu để phân biệt” những thông tin quảng cáo với những thông tin không phải là quảng cáo? Cả Nghị định số 24/2003/NĐ-CP, Thông tư số 43/2003/TT-BVHTT và Thông tư số 79/2005/TT-BVHTT đều không có quy định gì thêm về vấn đề này. Chính sự không rõ ràng trong quy định của pháp luật mà tại Báo cáo kết quả kiểm tra hoạt động quảng cáo đã đưa ra kết quả là: “Hầu hết các đài truyền hình chưa thực hiện khoản 3 Điều 7 Pháp lệnh Quảng cáo: chưa có dấu hiệu phân biệt quảng cáo với thông tin tuyên truyền, nhất là những đoạn cắt trong chương trình phim truyện hay trong chương trình văn nghệ, thể thao, vui chơi giải trí (trừ Đài Truyền hình thành phố Hồ Chí Minh)” [18].
4. Về phương tiện quảng cáo Khóa luận: Thực trạng về pháp luật quảng cáo của Việt Nam.
Cùng với sự phát triển của xã hội thì phương tiện quảng cáo cũng ngày càng đa dạng, phong phú và hiện đại, từ các phương tiện truyền thanh truyền hình đến những chiếc xe buýt đang đi trên đường. Và ngày nay mạng Internet đang trở thành một phương tiện quảng cáo hữu hiệu. Tuy nhiên, khi nhiều phương tiện quảng cáo xuất hiện thì vấn đề bảo vệ trật tự an toàn xã hội, bảo vệ lợi ích người tiêu dùng và xử lý nghiêm minh các trường hợp vi phạm cần được đề cao hơn.
Theo Điều 106 Luật Thương mại 2005, phương tiện quảng cáo thương mại là công cụ được sử dụng để giới thiệu các sản phẩm quảng cáo thương mại. Quy định này đã mở rộng danh sách những phương tiện quảng cáo được liệt kê tại Điều 9 Pháp lệnh Quảng cáo. Việc sử dụng phương tiện quảng cáo phải đảm bảo các yêu cầu sau: tuân thủ các quy định của pháp luật về báo chí, xuất bản, thông tin, chương trình hoạt động văn hóa, thể thao, hội chợ, triển lãm; tuân thủ quy định về địa điểm quảng cáo, không gây ảnh hưởng xấu đến cảnh quan, môi trường, trật tự an toàn giao thông, an toàn xã hội; đúng mức độ, thời lượng, thời điểm quy định đối với từng loại phương tiện thông tin đại chúng (khoản 2 Điều 107 Luật Thương mại 2005). Sau đây sẽ tập trung vào bàn kỹ những quy định của pháp luật về quảng cáo trên các phương tiện: phát thanh, truyền hình; báo in; quảng cáo ngoài trời và phương tiện điện tử.
4.1. Quảng cáo trên đài phát thanh, truyền hình
Theo số liệu thống kê của Bộ Văn hóa – Thông tin, quảng cáo trên đài truyền hình chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng chi phí cho hoạt động quảng cáo, tới 45%, tuy nhiên, 83% số lượng quảng cáo trên truyền hình là của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. So với quảng cáo trên truyền hình, quảng cáo trên sóng phát thanh có có tỷ trọng khá khiêm tốn, chỉ từ 2 – 3,5% trong tổng doanh thu ngành, tốc độ tăng trưởng cũng không cao [14]. Khóa luận: Thực trạng về pháp luật quảng cáo của Việt Nam.
Pháp luật có những quy định khá chặt chẽ đối với hoạt động quảng cáo trên loại phương tiện này. Theo đó, thời lượng quảng cáo không quá 5% thời lượng của chương trình, trừ kênh chuyên quảng cáo; mỗi đợt phát sóng đối với một sản phẩm quảng cáo không quá 8 ngày, trừ trường hợp đặc biệt do Chính phủ quy định; mỗi ngày không quá 10 lần; các đợt quảng cáo cách nhau ít nhất 5 ngày; không quảng cáo ngay sau hình hiệu, trong chương trình thời sự (khoản 2 Điều 10 Pháp lệnh Quảng cáo). Ngoài ra, mỗi chương trình phim truyện trên đài truyền hình không được ngắt để quảng cáo quá 2 lần; đối với chương trình vui chơi giải trí thì không được ngắt để quảng cáo quá 4 lần, mỗi lần không quá 5 phút; quảng cáo hoạt động kinh doanh, hàng hóa, dịch vụ của một người quảng cáo không được quá 50% thời lượng của mỗi lần quảng cáo; quảng cáo liên tục quá 10 phút được tính là một chương trình chuyên quảng cáo và phải được Bộ Văn hóa – Thông tin cho phép (Điều 8 Nghị định 24/2003/NĐ-CP).
Những quy định này một mặt nhằm bảo đảm quyền lợi của người xem, người nghe chương trình phát thanh, truyền hình; mặt khác nhằm bảo hộ cho các công ty trong nước, tránh tình trạng các công ty nước ngoài lợi dụng việc quảng cáo với tần suất lớn để cạnh tranh với các công ty trong nước. Những quy định như thế là cần thiết, song phải xem xét đưa ra mức giới hạn như thế nào là hợp lý. Chẳng hạn, căn cứ vào đâu để đưa ra tỷ lệ khống chế 5% về thời lượng? Và mức tỷ lệ khống chế như thế có phù hợp với mọi chương trình phát thanh, truyền hình có thời lượng phát sóng, có nội dung, mục đích… khác nhau hay không? Ví dụ, thời lượng phát xen quảng cáo vào giữa các chương trình phim truyện, thể thao, ca nhạc, vui chơi giải trí sẽ phải khác với các chương trình khoa học hay chương trình dành cho thiếu nhi. Các điều khoản trên cũng chưa đưa ra những quy định cụ thể về việc ngắt để quảng cáo giữa các chương trình như thế nào nhằm đảm bảo cho nội dung chương trình được tự nhiên, chất lượng chương trình không bị ảnh hưởng. Nói chung, những quy định trên còn cần được cụ thể hóa để các quy định của pháp luật có tính khả thi hơn và dễ dàng áp dụng trong thực tiễn.
4.2. Quảng cáo trên báo in
Báo in vẫn được coi là loại phương tiện truyền thống và được các doanh nghiệp sử dụng rất nhiều để quảng bá cho sản phẩm của mình. Những tờ báo hiện nay được các doanh nghiệp sử dụng nhiều nhất là Lao động, Đầu tư, Thời báo kinh tế, Phụ nữ, Thanh niên và Tiếp thị & Gia đình.
Để tránh những tiêu cực trong hoạt động quảng cáo trên báo chí, pháp luật hiện hành đã có những quy định đối với loại phương tiện này, cụ thể: diện tích được phép quảng cáo không quá 10% đối với báo in được tính trên tổng diện tích các trang của một tờ báo, tạp chí, trừ báo chuyên quảng cáo; mỗi đợt quảng cáo cho một sản phẩm không quá 5 ngày đối với báo hàng ngày hoặc 5 số liên tục đối với báo phát hành theo định kỳ; các đợt quảng cáo cách nhau ít nhất 5 ngày đối với báo hàng ngày hoặc ít nhất 4 số liên tục đối vớ báo phát hành theo định kỳ; không quảng cáo hoạt động kinh doanh, hàng hóa, dịch vụ trên trang một, bìa một. Nếu cơ quan báo chí có nhu cầu quảng cáo quá 10% diện tích thì tiến hành thủ tục đề nghị Bộ Văn hóa – Thông tin cho phép ra phụ trang, phụ bản chuyên quảng cáo và số trang của phụ trang, phụ bản chuyên quảng cáo phải đánh trang riêng, phải có cùng khuôn khổ và phát hành kèm theo báo chính, phải ghi rõ thông tin phụ trang (phụ bản) quảng cáo và không tính vào giá bán.
Hiện nay đang có rất nhiều băn khoăn của doanh nghiệp về vấn đề giới hạn 10% diện tích đối với báo in. Việc giới hạn như thế đã hạn chế hoạt động quảng cáo của doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nước. Mặc dù Bộ Văn hóa – Thông tin đã có quy định nới lỏng là cơ quan báo chí có thể xin phép để ra thêm phụ trang, phụ bản quảng cáo, nhưng đứng trên góc độ doanh nghiệp thì việc quảng cáo trong những phụ trang, phụ bản như thế hoàn toàn không hiệu quả vì người đọc ngày nay có xu hướng bỏ qua những trang quảng cáo trên báo và tạp chí. Do đó đối với doanh nghiệp thì việc “nhét quảng cáo của mình vào giữa phụ trương này coi như sự “ném tiền qua cửa sổ” [32].
4.3. Quảng cáo ngoài trời Khóa luận: Thực trạng về pháp luật quảng cáo của Việt Nam.
Các phương tiện quảng cáo ngoài trời rất đa dạng, bao gồm bảng, biển, panô, màn hình, băng rôn, vật phát quang, vật thể trên không, dưới nước, phương tiện giao thông, vật thể di động khác và các hình thức tương tự treo, đặt, dán, dựng ở ngoài trời. Với một xã hội di động thì quảng cáo ngoài trời ngày càng phát huy ưu thế. Tuy nhiên, quảng cáo ngoài trời có ảnh hưởng rất lớn đến cảnh quan xung quanh, đến trật tự an toàn xã hội. Vì thế nếu không có trật tự và quy chuẩn thì sẽ gây ra sự lộn xộn và làm xấu cảnh quan, đe dọa phá vỡ quy hoạch đô thị, gây mất an toàn…
Đối với các phương tiện quảng cáo này, pháp luật có các quy định như sau: quảng cáo trên các phương tiện quảng cáo ngoài trời không được che khuất trên 10% diện tích sản phẩm quảng cáo đã đặt trước chưa hết thời hạn, theo hướng phía trước, cách 200m, nhìn vuông góc chính giữa với các quảng cáo có trước; không được che khuất biển báo, đèn tín hiệu giao thông, bản chỉ dẫn công cộng; tại các đô thị, hạn chế quảng cáo có diện tích lớn ngoài trời không phù hợp với quy hoạch đô thị, an toàn xã hội, mỹ quan và cảnh quan môi trường; quảng cáo trên màn hình chuyên quảng cáo ở ngoài trời không được dùng âm thanh; thời hạn đối với quảng cáo ngoài trời không quá 1 năm; khi hết hạn nếu muốn tiếp tục, chủ quảng cáo hoặc tổ chức kinh doanh dịch vụ quảng cáo phải xin gia hạn và sau khi được phép mới được tiếp tục quảng cáo; khi tiến hành quảng cáo phải tuân thủ quy hoạch quảng cáo và phải có giấy phép thực hiện quảng cáo. Hiện nay, hoạt động quảng cáo ngoài trời có nhiều lộn xộn ảnh hưởng đến mỹ quan đô thị và trật tự an toàn, đặc biệt tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, mà một phần nguyên nhân trong đó là do việc quản lý hoạt động này còn nhiều bất cập. Thứ nhất là về vấn đề quy hoạch quảng cáo ngoài trời. Hiện nay ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh đều chưa có một quy hoạch tổng thể đối với quảng cáo ngoài trời mà chỉ có những quy định chung chung như cấm quảng cáo ngoài trời làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn giao thông và mỹ quan đô thị. Những quy định như thế khiến cho nhiều biển quảng cáo ngoài trời rất dễ bị xét vào diện “không phù hợp với mỹ quan đô thị” mỗi khi có một “chiến dịch” lập lại trật tự an toàn giao thông và mỹ quan đô thị. Thêm vào đó, các quy định tại các tỉnh, thành phố nhằm quản lý quảng cáo ngoài trời cũng còn nhiều điểm bất hợp lý. Quyết định 108/2002/QĐ-UB của UBND Thành phố Hồ Chí Minh là một ví dụ. Theo khoản 8 Điều 4 của Quyết định này thì quảng cáo trên các phương tiện vận tải, vận chuyển hành khách công cộng bị cấm, trong khi đó khoản 8 Điều 9 Pháp lệnh Quảng cáo ghi rõ phương tiện giao thông, vật thể di động là một trong những phương tiện quảng cáo. Với Quyết định này, Thành phố đã hạn chế hoạt động quảng cáo trên các phương tiện như xe buýt, taxi, ước tính làm mất đi một nguồn doanh thu khoảng 150 tỷ đồng mỗi năm từ quảng cáo trên các phương tiện này [46]. Hay khoản 9 Điều 7 của Quyết định nêu “Thủ tục hồ sơ xin cấp phép phải có giấy phép thực hiện nội dung quảng cáo của cơ quan quản lý chuyên ngành” trong khi Pháp lệnh cũng không yêu cầu nội dung này. Quy định này đã gây rất nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp trong việc xin giấy phép quảng cáo ngoài trời. Thực tiễn cho thấy Quyết định này sau một số năm triển khai không mang lại hiệu quả trong công tác quản lý hoạt động quảng cáo ngoài trời, cần phải sửa đổi, bổ sung.
4.4. Quảng cáo trên phương tiện điện tử Khóa luận: Thực trạng về pháp luật quảng cáo của Việt Nam.
Quảng cáo trên các phương tiện điện tử đang ngày càng phổ biến với các hình thức đa dạng như gửi thư điện tử hay tin nhắn qua điện thoại di động, đặt biểu tượng trên các trang tin điện tử… Tuy nhiên, là một loại hình còn tương đối mới mẻ ở Việt Nam và với tốc độ phát triển chóng mặt của công nghệ thông tin, vấn đề quản lý hoạt động này khá khó khăn và phức tạp.
Các văn bản pháp quy hiện hành của Việt Nam về quảng cáo mới chỉ đề cập đến vấn đề quảng cáo trên mạng thông tin máy tính, mà những quy định này cũng còn hết sức chung chung. Cụ thể, Điều 11 Pháp lệnh Quảng cáo, Điều 19 Nghị định số 24/2003/NĐ-CP và Thông tư số 43/2003/TT-BVHTT quy định: cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp sau khi có Giấy phép chứng nhận đăng ký kinh doanh dịch vụ quảng cáo theo quy định của pháp luật, được phép kinh doanh dịch vụ quảng cáo trên mạng Internet. Đối với các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp khi lập trang điện tử (website) trên mạng Internet, chỉ được giới thiệu về hoạt động sản xuất, kinh doanh, hàng hóa, dịch vụ của mình, không được giới thiệu doanh nghiệp khác và hàng hóa, dịch vụ mà mình không sản xuất, kinh doanh. Đối với sản phẩm quảng cáo thực hiện trên mạng thông tin máy tính thì do người đứng đầu cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp được phép cung cấp dịch vụ Internet chịu trách nhiệm. Những quy định này quá khắt khe và hầu như không có tính khả thi; chính điều đó đã làm mất đi vai trò điều chỉnh của các văn bản pháp luật này.
Để đáp ứng nhu cầu đòi hỏi của thực tiễn, Bộ Thương mại đang tiến hành soạn thảo một thông tư hướng dẫn về quảng cáo thương mại trên các phương tiện điện tử với hy vọng sẽ hỗ trợ doanh nghiệp sử dụng hiệu quả hình thức quảng cáo này, đồng thời hạn chế tối đa các ảnh hưởng tiêu cực của nó. Tuy nhiên, hiện nay dự thảo Thông tư mới chỉ chủ yếu đề cập đến vấn đề gửi thư điện tử và tin nhắn quảng cáo qua điện thoại di động chứ chưa điều chỉnh nhiều vấn đề khác liên quan đến hoạt động quảng cáo trên phương tiện điện tử. Ngoài ra, đây là vấn đề liên quan đến nhiều bộ, ngành khác như Bộ Văn hóa – Thông tin, Bộ Bưu chính Viễn thông, vì thế có nhiều ý kiến cho rằng nên đổi thành thông tư liên bộ hoặc nghị định để tăng hiệu lực thi hành của văn bản này [48]. 5. Những hành vi bị nghiêm cấm và xử lý vi phạm trong quảng cáo Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường thì quảng cáo ngày càng đóng một vai trò quan trọng, không chỉ đối với người sản xuất kinh doanh mà đối với cả người tiêu dùng và xã hội. Chính vì tầm ảnh hưởng rộng của quảng cáo đến công chúng nên nếu quảng cáo không được sử dụng đúng đắn thì sẽ mang lại những kết quả tiêu cực. Để ngăn chặn những tác hại mà quảng cáo có thể gây ra cũng như những hành vi lợi dụng quảng cáo để xâm phạm quyền lợi chính đáng của chủ thể khác trong xã hội, Pháp lệnh Quảng cáo, Luật Thương mại và các văn bản hướng dẫn thi hành đã nghiêm cấm một số hành vi trong hoạt động quảng cáo, ví dụ như quảng cáo làm tiết lộ bí mật Nhà nước, phương hại đến độc lập, chủ quyền quốc gia, quốc phòng, an ninh và an toàn xã hội; quảng cáo trái với các nguyên tắc đạo đức, thuần phong mỹ tục của Việt Nam; quảng cáo một số loại hàng hóa, dịch vụ bị cấm hoặc hạn chế kinh doanh; quảng cáo gây tổn hại đến quyền lợi của người tiêu dùng hay nhằm cạnh tranh không lành mạnh… Khóa luận: Thực trạng về pháp luật quảng cáo của Việt Nam.
Đối với những hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực quảng cáo thì tùy theo tính chất, mức độ mà người vi phạm có thể phải gánh chịu những hậu quả pháp lý bất lợi. Theo quy định tại khoản 1 Điều 33 Pháp lệnh Quảng cáo, “người nào có hành vi vi phạm pháp luật về quảng cáo thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật”. Điều 168 của Bộ luật Hình sự Việt Nam cũng có quy định về chế tài hình sự đối với hành vi quảng cáo gian dối, theo đó “người nào quảng cáo gian dối về hàng hóa, dịch vụ gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 100 triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc bị phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm”.
Nghiên cứu các quy định của pháp luật thấy còn một số điểm chưa hợp lý như sau: Thứ nhất, đối với quảng cáo rượu, luật pháp không cấm hoàn toàn mà chỉ giới hạn việc quảng cáo trong những điều kiện nhất định phụ thuộc vào nồng độ cồn của rượu. Theo đó, các loại rượu có nồng độ cồn từ 15 độ trở lên bị hạn chế chỉ được quảng cáo “trong phạm vi địa giới doanh nghiệp sản xuất rượu, bên trong các cửa hàng, đại lý tiêu thụ rượu nhưng phải đảm bảo người ở bên ngoài địa giới doanh nghiệp, cửa hàng, đại lý không đọc được, không nghe được, không thấy được” (điểm 3b Mục II Thông tư số 43/2003/TT-BVHTT). Quy định này khá trừu tượng, vì thế để đánh giá một hành vi có được coi là vi phạm hay không rất khó. Mặt khác khó có thể đảm bảo một quảng cáo mà người ở ngoài hoàn toàn không đọc, không nghe, không thấy được. Do đó mặc dù đã có những quy định của pháp luật nhưng những hành vi vi phạm vẫn thường xuyên xảy ra, ví dụ như tình trạng các cửa hàng rượu bày rượu tràn lan tại nơi kinh doanh để lợi dụng việc kinh doanh vào mục đích quảng cáo. Thứ hai, các quy định về xử lý các hành vi vi phạm trong pháp luật quảng cáo còn khá chung chung, chưa cụ thể. Theo quy định tại Điều 168 Bộ luật Hình sự, rất khó để xác định thế nào là quảng cáo gian dối “gây hậu quả nghiêm trọng”. Chính sự không rõ ràng, cụ thể của pháp luật đã dẫn đến việc lúng túng trong quản lý hoạt động quảng cáo của Nhà nước cũng như việc áp dụng các quy định pháp luật của người tiêu dùng và doanh nghiệp. Thứ ba, mức xử phạt hành chính đối với các vi phạm trong lĩnh vực quảng cáo hiện nay còn nhẹ, không đáng kể so với mức chi phí khổng lồ mà các doanh nghiệp bỏ ra để quảng cáo. Thậm chí có doanh nghiệp dù biết là vi phạm nhưng vẫn sẵn sàng nộp phạt. Do đó, với mức xử phạt như thế, dù đã được đặt ra nhưng đôi khi không có tác dụng trong thực tế.
5. Quản lý Nhà nước về hoạt động quảng cáo Khóa luận: Thực trạng về pháp luật quảng cáo của Việt Nam.
5.1. Nội dung quản lý Nhà nước về quảng cáo
Bản chất của quảng cáo là vì mục tiêu lợi nhuận, vì thế, quảng cáo có tác động hai mặt tới xã hội: tốt và xấu. Bên cạnh đó, do nước ta đang trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường nên sự phát triển của hoạt động quảng cáo đòi hỏi phải có một hành lang pháp lý thống nhất, đồng bộ, đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh. Điều đó cho thấy sự quản lý của Nhà nước đối với hoạt động quảng cáo là hết sức cần thiết.
Theo quy định tại Điều 28 Pháp lệnh Quảng cáo, nội dung quản lý Nhà nước về quảng cáo bao gồm: xây dựng, chỉ đạo thực hiện quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển quảng cáo; ban hành, tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về quảng cáo; cấp, thu hồi giấy phép thực hiện quảng cáo, giấy phép đặt văn phòng đại diện quảng cáo, chi nhánh quảng cáo của tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ quảng cáo nước ngoài tại Việt Nam; tổ chức, quản lý công tác đào tạo, nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ trong lĩnh vực quảng cáo; thực hiện hợp tác quốc tế về quảng cáo; kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về quảng cáo.
Việc tổ chức thực hiện tất cả các nội dung quản lý Nhà nước về quảng cáo như trên sẽ góp phần đẩy mạnh ngành quảng cáo non trẻ của Việt Nam, hướng các tổ chức, cá nhân hoạt động quảng cáo đi đúng hành lang pháp lý. Công tác quản lý Nhà nước về quảng cáo chỉ đạt được hiệu quả khi tiến hành đồng bộ các biện pháp, cách thức, trong đó vai trò của cơ quan quản lý có ý nghĩa quan trọng. Tuy nhiên trên thực tế, sự thiếu đồng bộ trong việc phối hợp thực hiện các nội dung quản lý Nhà nước về quảng cáo giữa các cơ quan ở Trung ương với nhau, giữa cơ quan Trung ương và địa phương đã hạn chế đáng kể đến hiệu quả của việc quản lý.
5.2. Thẩm quyền quản lý Nhà nước về quảng cáo
Thẩm quyền quản lý Nhà nước về quảng cáo chính là nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan Nhà nước các cấp từ Trung ương đến địa phương trong lĩnh vực quảng cáo. Khóa luận: Thực trạng về pháp luật quảng cáo của Việt Nam.
Tại Điều 29 Pháp lệnh Quảng cáo quy định: “Chính phủ thống nhất quản lý Nhà nước về quảng cáo; Bộ Văn hóa – Thông tin chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý Nhà nước về quảng cáo; Bộ Thương mại, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Văn hóa – Thông tin thực hiện quản lý Nhà nước về quảng cáo; UBND các cấp trong phạm vi quyền hạn của mình thực hiện quản lý Nhà nước về quảng cáo tại địa phương theo phân cấp của Chính phủ”. Như vậy, Bộ Văn hoá – Thông tin là cơ quan được giao trọng trách quản lý hoạt động này và trong thời gian qua cũng đã đạt được những kết quả nhất định. Tuy nhiên phải thấy rằng hoạt động quảng cáo về bản chất của nó là hành vi thương mại, vì thế có những nội dung quản lý sẽ vượt quá chức năng của Bộ Văn hóa – Thông tin. Những bất cập trong hoạt động quảng cáo thời gian qua có liên quan đến công tác quản lý Nhà nước về hoạt động quảng cáo không phải là ít và thậm chí trở ngại ở khâu quản lý rất nhiều. Chẳng hạn như liên quan đến vấn đề quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển quảng cáo có nhiều điều phải bàn. Do không có quy hoạch đặt bảng, biển quảng cáo tại đâu và không dự báo được nhu cầu phát triển của hoạt động này đã xảy ra tình trạng bị động cho cả những người làm công tác quản lý và các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động quảng cáo.
Bên cạnh đó, theo tinh thần của Luật Thương mại 2005 thì Bộ Thương mại sẽ là cơ quan quản lý hoạt động quảng cáo thương mại. Như vậy hiện nay đang có một sự chồng chéo về cơ quan quản lý hoạt động quảng cáo. Ngoài ra, những quy định riêng của UBND các tỉnh, thành phố đối với quảng cáo cũng đang tồn tại nhiều mâu thuẫn với chính bản thân Pháp lệnh Quảng cáo đã làm cản trở sự phát triển của ngành này, mà Quyết định 108/2002/QĐ-UB của UBND Thành phố Hồ Chí Minh là một ví dụ.
5.3. Giấy phép thực hiện quảng cáo
Đối với việc cấp giấy phép thực hiện quảng cáo, hiện nay đa số ý kiến cho rằng cần kiểm soát nội dung thông tin trong hoạt động quảng cáo. Tuy nhiên, để tạo điều kiện cho doanh nghiệp thì cần có cơ chế quản lý phù hợp, hạn chế đến mức thấp nhất các hoạt động quảng cáo phải có giấy phép.
Theo quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam thì chỉ có quảng cáo trên mạng thông tin máy tính; kênh, chương trình phát thanh, truyền hình, phụ trang, phụ bản chuyên quảng cáo (do Bộ Văn hóa – Thông tin cấp) và quảng cáo trên các phương tiện quảng cáo ngoài trời (do Sở Văn hóa – Thông tin cấp) là phải xin giấy phép thực hiện quảng cáo. Về thủ tục cấp giấy phép quảng cáo, tại Điều 19, 20 Nghị định số 24/2003/NĐ-CP và Mục III Thông tư 43/2003/TT-BVHTT đã có những quy định khá cụ thể. Theo đó, tối đa không quá 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Bộ Văn hóa – Thông tin hoặc Sở Văn hóa – Thông tin phải cấp giấy phép thực hiện, nếu không cấp giấy phép thì phải trả lời bằng văn bản nêu rõ lý do. Nhằm giảm bớt những thủ tục rườm rà và hạn chế tiêu cực trong hoạt động cấp giấy phép quảng cáo, Thông tư số 79/2005/TT-BVHTT sửa đổi, bổ sung một số quy định của Thông tư số 43/2003/TT-BVHTT đã bãi bỏ một số giấy tờ không phù hợp, cần thiết trong hồ sơ xin phép quảng cáo như văn bản thẩm định của cơ quan có thẩm quyền về xây dựng đối với các phương tiện quảng cáo ngoài trời mà pháp luật về xây dựng quy định phải thẩm định về kết cấu xây dựng.
Như vậy theo quy định của pháp luật, để xin giấy phép quảng cáo, doanh nghiệp chỉ phải qua một cửa duy nhất là Bộ hoặc Sở Văn hóa – Thông tin. Tuy nhiên, việc xin giấy phép, đặc biệt đối với quảng cáo ngoài trời, đang gây rất nhiều khó khăn cho doanh nghiệp, mà phần lớn do quy định không thống nhất ở mỗi địa phương. Ví dụ ở Thành phố Hồ Chí Minh, việc xin giấy phép phải qua rất nhiều nơi như phường, quận, sở, thậm chí có khi phải lên tới cấp thành phố. Còn ở Bình Thuận, doanh nghiệp phải xin giấy phép cả Sở Giao thông Công chính và cơ quan điện lực [39]. Chính những quy định không rõ ràng, thống nhất, thiếu những quy chuẩn như thế đã dẫn tới kết quả là tiêu cực, là tỷ lệ cao các trường hợp “vi phạm quy định của pháp luật”.
III. ĐÁNH GIÁ NGUYÊN NHÂN CỦA NHỮNG BẤT CẬP Khóa luận: Thực trạng về pháp luật quảng cáo của Việt Nam.
1. Quảng cáo là một hoạt động mang tính linh hoạt cao
Quảng cáo là một yếu tố có tính linh động rất cao trong marketing. Nó được sử dụng bởi những nhà kinh doanh nhỏ lẻ cho đến những tập đoàn xuyên quốc gia. Chính vì thế, hình thức của quảng cáo rất đa dạng, có thể là cả một đoạn phim kéo dài 10 phút trên truyền hình đến một rao vặt, thông báo nhỏ được đăng trên báo, thậm chí là được dán, vẽ khắp các đường phố Việt Nam như chúng ta vẫn thấy. Đặc biệt, đối với quảng cáo trên các phương tiện điện tử thì vô cùng đa dạng và thay đổi từng ngày cùng với sự thay đổi của công nghệ. Do đó, sẽ vô cùng khó khăn cho cơ quan quản lý Nhà nước có thể kiểm soát toàn bộ những hoạt động đó.
Trong thực tiễn hoạt động quảng cáo ở nước ta, có những khi sự phát triển của ngành quảng cáo đã đi trước tầm quy hoạch của cơ quan chức năng. Hơn 10 năm trước, tuyến đường Bắc Thăng Long – Nội Bài chưa có một quy hoạch nào về quảng cáo ngoài trời. Tuy nhiên, các công ty quảng cáo đã thấy trước tiềm năng phát triển của khu vực này và trên dọc tuyến đường đã xuất hiện những tấm biển quảng cáo của các doanh nghiệp. Thế nhưng cơ quan quản lý hoạt động quảng cáo ngoài trời của Hà Nội, thay vì đưa ra một hành lang pháp lý và quy hoạch cho ngành này phát triển, thì lại cấm đoán và dỡ bỏ những tấm biển quảng cáo đã được hình thành [33]. Xét về khía cạnh kinh tế thì sự “đi trước” đó không hoàn toàn có lỗi. Hay như hoạt động quảng cáo trên các phương tiện điện tử, cho đến nay vẫn chưa có những quy định cụ thể nhằm quản lý hoạt động này. Mặc dù Bộ Thương mại đang soạn thảo một thông tư để điều chỉnh hoạt động trên các phương tiện điện tử, tuy nhiên những quy định trong Thông tư dự thảo mới chủ yếu đề cập đến việc gửi tin nhắn quảng cáo qua email và điện thoại di động (hay còn gọi là spam), trong khi đó, quảng cáo qua phương tiện điện tử hiện nay rất phát triển với nhiều hình thức phong phú và đa dạng.
2. Cách nhìn nhận chưa đúng về quảng cáo Khóa luận: Thực trạng về pháp luật quảng cáo của Việt Nam.
Trước đây, có thời kỳ quảng cáo được xem như một “tệ nạn” và bị hạn chế bởi những rào cản vô lý. Ngay từ năm 1995, hoạt động quảng cáo đã được đặt dưới sự kiểm soát nghiêm ngặt của Nhà nước bằng Nghị định 87/CP về tăng cường quản lý các hoạt động văn hóa và dịch vụ văn hóa, đẩy mạnh bài trừ một số tệ nạn xã hội nghiêm trọng. Tại một cuộc họp tổng kết ba năm thi hành Pháp lệnh Quảng cáo, một nhà doanh nghiệp đã phát biểu thẳng thắn: “Suốt buổi, tôi chỉ toàn nghe các vị báo cáo về thành tích này, thành tích nọ trong việc xử lý các doanh nghiệp. Còn giúp đỡ cho ngành quảng cáo phát triển thì không có lấy một bản tham luận nào cả” [39]. Với cách nhìn nhận như trên đã đã tác động không nhỏ đến việc soạn thảo các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động quảng cáo cũng như cách hành xử của các cơ quan quản lý đối với hoạt động này. Hiện nay, mặc dù cách nhìn về quảng cáo như một tệ nạn xã hội đã thay đổi nhưng người ta vẫn chưa thực sự coi quảng cáo là một ngành dịch vụ cần được hỗ trợ phát triển. Hoạt động quảng cáo bị hạn chế bởi rất nhiều văn bản, từ Trung ương đến địa phương. Ví dụ, Nghị định 24/2003/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Pháp lệnh Quảng cáo quy định: báo in không được quảng cáo quá 10% diện tích; báo hình, báo nói không được quảng cáo quá 5% thời lượng phát sóng. Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp thì quy định chi phí cho quảng cáo không được vượt quá 10% tổng chi phí hợp lý của doanh nghiệp. Tại Thành phố Hồ Chí Minh, chính quyền hạn chế quảng cáo ngoài trời và cấm quảng cáo trên một số phương tiện giao thông…
Xuất phát của cách nhìn như thế là vì ngành quảng cáo chưa được trả về đúng vị trí là một ngành thương mại dịch vụ của nền kinh tế. Điều đó cũng một phần do tính chất phức tạp của quảng cáo: nó vừa là một hành vi thương mại, vừa lại mang những yếu văn hóa và xã hội. Trong những năm qua, với quan điểm cho quảng cáo là một hoạt động mang tính xã hội, Bộ Văn hóa – Thông tin đã được giao nhiệm vụ là cơ quan chủ quản quản lý hoạt động này. Tại Nghị định 81/CP ngày 08/11/1993 của Chính phủ về chức năng, nhiệm vụ của Bộ Văn hoá – Thông tin đã quy định: Bộ Văn hoá Thông tin là cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về quảng cáo. Trên cơ sở đó, Nghị định 194/CP ngày 31/12/1994 về hoạt động quảng cáo trên lãnh thổ Việt Nam cũng khẳng định điều này. Đến năm 1997, Luật Thương mại ra đời có 12 điều quy định về quảng cáo thương mại; tiếp theo đó, Chính phủ đã ban hành Nghị định 32/1999/NĐ-CP về khuyến mại, quảng cáo thương mại và hội chợ, triển lãm thương mại. Hai văn bản này đều thống nhất quy định: giao Bộ Thương mại là cơ quan thực hiện việc quản lý Nhà nước về quảng cáo thương mại (Điều 23); còn Bộ Văn hoá – Thông tin có thẩm quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về sản phẩm quảng cáo thương mại, phương tiện quảng cáo thương mại…, bảo đảm môi trường quảng cáo lành mạnh, đúng quy định của pháp luật Việt Nam (Điều 24). Sự thay đổi về cơ quan quản lý này là phù hợp, bởi lẽ cần phải khẳng định rằng, quảng cáo trước hết và đầu tiên là vì mục tiêu lợi nhuận, đó là một hành vi thương mại. Thông tin trong quảng cáo vì mục tiêu lợi nhuận khác với những thông tin tuyên truyền, cổ động mà cơ quan văn hoá, thông tin vẫn thường làm. Cho nên, với tư cách là một hoạt động thương mại, quảng cáo cần và phải được điều chỉnh theo một luật chơi chung với các hành vi thương mại khác. Bộ Thương mại là cơ quan thực hiện quản lý Nhà nước về thương mại thì không có lý gì lại để hoạt động thương mại đó cho một cơ quan chỉ chuyên về văn hoá, thông tin quản lý. Tuy nhiên, năm 2001 khi Pháp lệnh Quảng cáo được ban hành, Điều 29 Pháp lệnh Quảng cáo lại quy định: Bộ Văn hoá – Thông tin chịu trách nhiệm trước Chính phủ quản lý Nhà nước về quảng cáo; các bộ, các ngành khác phối hợp với Bộ Văn hoá – Thông tin để quản lý Nhà nước về quảng cáo trong phạm vi trách nhiệm của mình theo sự phân cấp của Chính phủ. Khóa luận: Thực trạng về pháp luật quảng cáo của Việt Nam.
Như vậy, với việc ban hành Pháp lệnh Quảng cáo, Bộ Văn hoá Thông tin sẽ đảm nhiệm không chỉ quản lý hoạt động quảng cáo cho các dịch vụ không có mục đích sinh lời mà còn có nhiệm vụ nặng nề hơn nhiều, đó là hoạt động quảng cáo với tư cách là một hành vi thương mại. Cho đến thời điểm này, vẫn chưa có một văn bản pháp lý nào điều chỉnh riêng về hoạt động quảng cáo có hiệu lực cao hơn Pháp lệnh Quảng cáo, vì thế, thẩm quyền quản lý Nhà nước về hoạt động quảng cáo vẫn thuộc Bộ Văn hóa – Thông tin. Tuy nhiên, với sự ra đời của Luật thương mại 2005 và Nghị định 37/2006/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động xúc tiến thương mại thì sự chưa thống nhất về thẩm quyền quản lý quảng cáo giữa hai Bộ vẫn tồn tại.
3. Những khó khăn trong quá trình triển khai và thực thi pháp luật
Do sự không nhất quán về thẩm quyền quản lý hoạt động quảng cáo mà trong việc thi hành các văn bản pháp luật, cả phía doanh nghiệp cũng như cơ quan quản lý đều lúng túng. Trong một thời gian dài cho đến trước khi Pháp lệnh Quảng cáo được ban hành, doanh nghiệp quảng cáo đã gặp rất nhiều khó khăn. Điều đó đã được thể hiện trong nhiều bài báo lúc đó phản ánh những bức xúc của doanh nghiệp trước vấn đề này như: “Hai Bộ tranh tài, doanh nghiệp chịu thiệt!” (Báo Thanh niên ngày 18/10/2000), “32 hay 194?” (Báo Lao động ngày 18/09/2000), “Chờ “liên tịch”, các cơ quan nhà nước đang vi phạm luật” (Báo Pháp luật Thành phố Hồ Chí Minh ngày 31/10/2000) hay “Hệ quả của sự quản lí “nhiều cửa” ( Báo Lao động, số 62/2003)…
Thêm vào đó, hoạt động quảng cáo còn phải chịu sự quản lý của nhiều ngành khác như ngành báo chí, ngành giao thông công chính, ngành xây dựng.
Chính vì chịu sự quản lý của nhiều ngành như vậy nên khi thực tế triển khai việc quản lý ở địa phương đã nảy sinh nhiều vấn đề. Đó là ở mỗi địa phương lại có những quy định khác nhau đối với hoạt động quảng cáo, trong đó chủ yếu là quảng cáo ngoài trời. Đôi khi những quy định này có mâu thuẫn với chính bản thân Pháp lệnh Quảng cáo. Nhiều khi, sự quản lý còn được phân cấp xuống quận, huyện mà do tầm nhìn hạn chế của những chính quyền địa phương, doanh nghiệp quảng cáo phải chịu nhiều nhiêu khê và tiêu cực.
Một nguyên nhân nữa dẫn đến những khó khăn trong quá trình triển khai và thực thi pháp luật mà không thể không kể đến là tình trạng không nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật còn khá phổ biến ở các doanh nghiệp, không chỉ các doanh nghiệp nhỏ mà thậm chí ở cả những doanh nghiệp lớn, có tính chuyên nghiệp. Ở Thành phố Hồ Chí Minh, người ta dễ dàng nhận thấy tình trạng treo, gắn vô tội vạ các bảng hiệu quảng cáo ngoài trời. Khoảng 80% bảng quảng cáo hiện nay không ghi tên đơn vị thực hiện, số giấy phép, thời hạn. Thực tế là phần lớn các bảng quảng cáo được thực hiện nội dung trước khi xin phép, một số biển quảng cáo không xin phép được vẫn không chịu tháo gỡ, một số bảng có giấy phép nhưng sai nội dung ma-ket được phê duyệt, hoặc lớn quá diện tích cho phép… [37]. Còn tại Hà Nội, theo thống kê 6 tháng đầu năm 2005 có gần 200 biển quảng cáo, trong đó có 65 biển có giấy phép song sai quy định như sai vị trí, sai số lượng; 133 biển không có giấy phép [38]. Như vậy, về phía doanh nghiệp vẫn thiếu một ý thức tuân thủ pháp luật khiến cho hoạt động này thêm lộn xộn và phải chịu những “định kiến”.
4. Hạn chế trong kỹ thuật lập pháp
Trong Pháp lệnh Quảng cáo cũng như trong các văn bản luật khác điều chỉnh hoạt động quảng cáo, có nhiều quy định mang tính chất là luật khung, không cụ thể, chung chung. Vì thiếu các quy định chi tiết nên trong quá trình triển khai và thực hiện đã gây ra nhiều khó khăn và lúng túng cho cả phía doanh nghiệp lẫn cơ quan quản lý. Cơ quan thi hành pháp luật đôi khi hành xử không theo một quy chuẩn chung vì thiếu những căn cứ pháp lý, còn doanh nghiệp thì lợi dụng vào tính không cụ thể, rõ ràng để tìm cách lách luật. Do đó, theo tinh thần xây dựng luật hiện nay, cần phải hạn chế tối đa các quy định như vậy, tránh tình trạng có luật nhưng vẫn không thi hành được. Nghĩa là cần quy định một cách cụ thể, chi tiết hơn các quy định như: quyền và nghĩa vụ của người kinh doanh dịch vụ quảng cáo, người phát hành quảng cáo, hình thức quảng cáo, phương tiện quảng cáo, những hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động quảng cáo… Khóa luận: Thực trạng về pháp luật quảng cáo của Việt Nam.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>> Khóa luận: Giải pháp pháp luật về quảng cáo của Việt Nam

Dịch Vụ Viết Luận Văn Thạc Sĩ 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietthuethacsi.com/ – Hoặc Gmail: dicvuluanvanthacsi@gmail.com