Khóa luận: Phát triển hệ thống phân phối xăng dầu ở Hóc Môn

Rate this post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Phát triển hệ thống phân phối xăng dầu ở Hóc Môn hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Khóa luận: Phát triển hệ thống phân phối xăng dầu của Công ty Cổ Phần Thương Mại Hóc Môn dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

LỜI MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Trong xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới ngày càng mạnh mẽ, nền kinh kinh tế Việt Nam đang từng bước hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới thì Marketing là lĩnh vực được các doanh nghiệp nước ta quan tâm nghiên cứu và vận dụng để đưa sản phẩm thâm nhập vào thị trường trong nước và thế giới. Trong đó, xăng dầu là sản phẩm thiết yếu của Quốc gia. Nếu không có nó, mọi nhu cầu đi lại và các hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ  bị trì trệ.

Để giữ được khách hàng và nâng cao thị phần của mình, doanh nghiệp phải nhanh chóng thay đổi những suy nghĩ của mình về công việc kinh doanh và chiến lược marketing. Thực hiện tốt các hoạt động Marketing sẽ giúp doanh nghiệp nâng cao uy thế cạnh tranh trên thị trường. Đồng thời, tạo điều kiện cho doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn, tận dụng tốt khả năng nguồn tài, lực sẵn có, từng bước nang cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Với họ, Marketing là chìa khóa màu nhiệm mang lại sự thành công của tổ chức.

Trong bất kỳ một doanh nghiệp nào, vấn đề tiêu thụ sản phẩm cũng giữ một vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp không chỉ quan tâm đến việc đưa ra thị trường sản phẩm là gì? Giá bao nhiêu? Mà còn đưa sản phẩm đó ra thị trường như thế nào? – Đó chính là phân phối.

Nhận thấy tầm quan trọng của hoạt động phân phối và nắm bắt như cầu của thị trường hiện này, qua quá trình tìm hiểu, có cơ hội tiếp xúc thực tế tại Công ty và vận dụng những kiến thức đã học tại trường Đại học Quốc Tế Sài Gòn, tôi chọn đề tài: “Phát triển hệ thống phân phối xăng dầu của Công ty Cổ Phần Thương Mại Hóc Môn”.

Có thể bạn quan tâm đến dịch vụ:

===>>> Hỗ Trợ Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Marketing

2. Mục đích Khóa luận: Phát triển hệ thống phân phối xăng dầu ở Hóc Môn.

Đề tài được thực hiện nhằm đưa ra một số giải pháp góp phần hoàn thiệt hoạt động Marketing tại Công ty Cổ phần Thương mại Hóc Môn. Ngoài ra, khóa luận này còn nhằm mục đích đem những kiến thức đã học áp dụng vào thực tế, và từ thực tế tại Công ty thực tập để kiểm nghiệm lại những gì đã được học.

3. Phạm vị nghiên cứu

Trong khóa luận tốt nghiệp này, người viết xin giới hạn như sau:

  • Giới hạn về đề tài: Phát triển hệ thống phân phối xăng dầu.
  • Giới hạn về không gian: Tại Công ty Cổ phần Thương mại Hóc Môn (Công ty mẹ)
  • Giới hạn về thời gian: Gian đoạn 2022-2024

4. Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện khóa luận này, người viết sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:

  • Nghiên cứu tư liệu: Sử dụng sách giáo khoa. Báo, tạp chí, internet có liên quan đến đề tài.
  • Nghiên cứu thực địa: Đi thực tập tại Công ty Cổ phần Thương mại Hóc môn.
  • Phỏng vấn sâu: trực tiếp phỏng vấn các nhân vật có trách nhiệm liên quan đến khóa luận, cụ thể như sau:
  • Ông Kiều Công Tâm: Phó Giám Đốc
  • Bà Nguyễn Thị Thúy Hồng: Trưởng phòng Kinh doanh

5. Nội dung khóa luận tốt nghiệp

Ngoài phần dẫn nhập và kết luận, nội dung chính của khóa luận gồm các phần sau đây:

  • Chương 1: Cơ sở lý luận Khóa luận: Phát triển hệ thống phân phối xăng dầu ở Hóc Môn.
  • Chương 2: Thực trạng hoạt động phân phối xăng dầu tại công ty Cổ Phần Thương Mại Hóc Môn.
  • Chương 3: Giải pháp phát triển hệ thống hệ thống phân phối của công ty Cổ Phần Thương Mại Hóc Môn.

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KÊNH PHAN PHỐI

1.1 Khái niệm và vai trò của kênh phân phối

1.1.1 Khái niệm

Để đưa hàng hóa, sản phẩm hoặc dịch vự đến người tiêu dùng, doanh nghiệp phải sử dụng những con đường khác nhau hay nói cách khác là đưa hàng hóa đi theo những luồng khác nhau. Những con đường hay những nguồn hàng khác nhau đó trong Marketing gọi là những kênh phân phối.

Vậy kênh phân phối hàng hóa là một tập hợp các tổ chức hay cá nhân cùng làm nhiệm vụ chuyển đưa hàng hóa, sản phẩm hoặc dịch vụ từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng.

Kênh phân phối tạo nên dòng chảy của hàng hóa từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng. Ta có thể dễ dàng hiểu được kênh phân phối hàng hóa thông qua hình ảnh của kênh dẫn nước, kênh truyền hình, kênh điện thoại…

1.1.2 Vai trò

Vấn đề tiêu thụ giữ vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh của mỗi doanh nghiệp. Doanh nghiệp không chỉ quan tâm đến việc đưa ra thị trường sản phẩm là gì, với giá bao nhiêu mà còn đưa sản phẩm ra thị trường như thế nào? Đây là chức năng phân phối của Marketing. Chức năng này được thực hiện thông qua mạng lưới kênh tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp.

Các kênh Marketing làm nên sự khác nhau giữa các doanh nghiệp. Phát triển các chiến lược Marketing thành công trong môi trường cạnh tranh khốc liệt ngày nay là một công việc khó khăn, phức tạp. Việc đạt được lợi thế về tính ưu việt của sản phẩm ngày càng trở nên khó khăn. Các chiến lược về cắt giảm giá không chỉ nhanh chóng và dễ dàng bị copy bởi các đối thủ cạnh tranh mà còn dẫn đến sự giảm sút hoặc bị mất khả năng có lợi nhuận. Các chiến lược quảng cáo và xúc tiến sáng tạo thường chỉ có kết quả trong ngắn hạn và bị mất tác dụng trong dài hạn. Vì vậy dễ hiểu là các nhà quản lý Marketing ở mọi loại doanh nghiệp kể cả lớn lẫn nhỏ đều đang dồn tâm trí của họ để tìm ra cái mà các chiến lược Marketing phải dựa vào để cạnh tranh. Có thể đã đến lúc họ phải tập trung sự chú ý nhiều hơn vào các kênh Marketing của họ như là cơ sở cho sự cạnh tranh có hiệu quả trên thị trường. Hàng ngàn công ty đang thấy rằng, để cạnh tranh thành công họ không phải chỉ cung cấp sản phẩm và dịch vụ tốt hơn người cạnh tranh mà con phải làm tốt hơn khả năng sãn sàng của chúng ở những địa điểm xác định, khi nào và như thế nào mà người tiêu dùng muốn. Chỉ có qua các kênh Marketing, những khả năng này mới được thực hiện. Có ba vấn đề lớn trong nền kinh tế tác động trực tiếp tới hệ thống phân phối của doanh nghiệp. Thứ nhất là phải làm phù hợp giữa sản xuất chuyên môn hóa theo khối lượng lớn với nhu cầu đặc biết đa dạng. Quá trình làm phù hợp này giải quyết sự không thống nhất về số lượng phân loại và nghiên cứu trong suốt quá trình phân phối. Vấn đề thứ hai là sự khác nhau về không gian, liên quan đến việc vận tải sản phẩm từ địa điểm sản xuất tới địa điểm tiêu dùng. Vấn đề thứ ba là phải tạo ra sự ăn khớp cung cấp với nhu cầu khi chúng tập trung vào những thời điểm khác nhau. Mỗi doanh nghiệp đều phải đối mặt và giải quyết tốt những vấn đề này trong hệ thống phân phối của mình. Khóa luận: Phát triển hệ thống phân phối xăng dầu ở Hóc Môn.

Phân phối là một trong 4 yếu tố trong mô hình chiến lược Marketing-Mix. Mô hình chiến lược nổi tiếng này cung cấp mô hình cơ bản để xem xét kênh Marketing. Mô hình Marketing-Mix dùng trong quá trình quản lý Marketing là một hôn hợp các chiến lược gồm 4 biến số Marketing có thể điều chỉnh cơ bản đáp ứng nhu cầu thị trường mà doanh nghiệp hoạt động, trong đó có các nhân tố môi trường không thể điều khiển bao gồm các lực lượng môi trường chính như kinh tế – văn hóa – xã hội, cạnh tranh, luật pháp, kỹ thuật. Vai trò chính của quản lý Marketing là điều khiển các mục tiêu tiềm năng và phát triển cho phù hợp, phối hợp các chiến lược sản phẩm, giá cả, xúc tiến và phân phối để thõa mãn những thị trường này trong môi trường cạnh tranh gay gắt.

1.2 Cấu trúc kênh phân phối

1.2.1 Khái niệm

Cấu trúc kênh là một tập hợp các tổ chức mà công việc phân phối được phân chia cho họ theo những cách thức thích hợp – Các biến số của cấu trúc kênh:

  • Chiều dài kênh: được phản ảnh bởi cấp độ trung gian tham gia vào kênh phân phối đó.
  • Chiều rộng của kênh: là số lượng các trung gian ở mỗi cấp của kênh.
  • Các dạng trung gian tham gia vào kênh phân phối.
  • Các biến số trên tạo nên sự khác nhau của từng hệ thống kênh phân phối.

1.2.1.1 Phân loại kênh phân phối

Kênh phân phối được phân loại theo nhiều tiêu thức: theo mức độ trung gian, theo sự độc lập hay phụ thuộc giữa các thành viên kênh.

Hình 1.1: Phân loại kênh phân phối theo mức độ trung gian

Kênh 1: Đây là loại kênh phân phối trực tiếp từ người sản xuất đến  người tiêu dùng cuối cùng không thông qua các trung gian phân phối. Cấu trúc kênh này được áp dụng cho các loại hàng hoá dễ hỏng, dễ vỡ và những loại hàng hoá đòi hỏi kỹ thuật cao, phải có sự hướng dẫn sử dụng một cách tỷ mỷ hoặc cũng có thể sử dụng với những hàng hoá mà người sản xuất độc quyền phân  phối. Khóa luận: Phát triển hệ thống phân phối xăng dầu ở Hóc Môn.

Với loại kênh này, nó đảm bảo sự giao tiếp chặt chẽ của nhà sản xuất, tăng cường trách nhiệm trên thị trường, đảm bảo tính chủ đạo của nhà sản xuất trong phân phối. Thông tin mà nhà sản xuất thu được sẽ thực hơn và hữu ích hơn, nhà sản xuất được tiếp xúc trực tiếp với khách hàng, nắm bắt được nhu cầu của họ một cách dễ dàng hơn là thông qua các trung gian phân phối.

Bên cạnh những ưu điểm trên thì kênh phân phối trực tiếp có hạn chế là trình độ chuyên môn hoá thấp, tổ chức và quản lý kênh sẽ phức tạp hơn, vốn của công ty chu chuyển chậm, nguồn nhân lực bị phân tán.

Nhìn chung, trong điều kiện hiện nay, khi nền kinh tế phát triển nhanh,  quy mô mở rộng thì cấu trúc kênh này rất hiếm, nó chiếm tỷ trọng nhỏ trong toàn bộ hệ thống kênh phân phối bởi nó chỉ phù hợp với nền sản xuất có quy mô nhỏ, quan hệ thị trường hẹp.

Kênh 2: Được gọi là kênh một cấp. Ở đây, để hàng hoá đến tay người tiêu dùng, nhà sản xuất thông qua người bán lẻ. Với loại kênh này, một mặt nó vẫn phát huy được lợi thế của kênh phân phối trực tiếp, mặt khác nó làm tăng chức năng chuyên môn hoá, phát triển năng lực sản xuất. Tuy nhiên, trong điều kiện cạnh tranh gay gắt của nền kinh tế thị trường, sự đòi hỏi khắt khe của khách hàng là đảm bảo hàng hoá phải có mặt ở khắp nơi, tạo điều kiện cho việc mua bán được dễ dàng thì cấu trúc kênh phân phối này vẫn chưa phải là tối ưu.

Kênh 3: Đây là loại kênh 2 cấp. Trong kênh, ngoài người bán lẻ còn có thêm người bán buôn, cấu trúc này thường được sử dụng phổ biến cho những  loại hàng hoá có giá trị thấp, được mua thường xuyên.

Kênh 4: Là kênh 3 cấp. Nó được sử dụng khi có nhiều nhà sản xuất nhỏ và nhiều người bán lẻ. Một đại lý được sử dụng để giúp phối hợp cung cấp sản phẩm với khối lượng lớn đến thị trường mục tiêu.

Loại kênh 3 và 4 là loại kênh dài và đầy đủ nhất. Đây là loại kênh phổ  biến trong phân phối hàng hoá. Nó giải quyết được mâu thuẫn: sản xuất tập trung, tiêu dùng rộng khắp. Tuy nhiên với việc sử dụng kênh dài thì chi phí cho việc thiết lập kênh là lớn, việc điều hành và quản lý kênh phân phối gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, nhà quản lý cần phải đầu tư và quản lý một cách thích hợp để tránh trùng lặp và giảm chi phí xuống.

1.2.1.2 Phân loại kênh phân phối theo mức độ liên kết Khóa luận: Phát triển hệ thống phân phối xăng dầu ở Hóc Môn.

Kênh thông thường: Kênh liên kết thông thường là một hệ thống kênh bao gồm một mạng lưới các nhà sản xuất, nhà bán buôn và nhà bán lẻ, hoạt động tương đối độc lập. những thương vụ buôn bán được hình thành một cách đơn lẻ hoặc ngẫu nhiên giữa các bên mà không có ràng buộc lâu dài lẫn nhau. Vì vậy họ luôn tìm cách tối đa hoá lợi ích của mình cho dù có làm giảm lợi ích của toàn bộ hệ thống kênh phân phối.

Không một thành viên nào trong kênh có sức mạnh kiểm soát đối với các thành viên còn lại. Trong kênh không có sự thống nhất dẫn đến có sự cạnh tranh về giá cả giữa các thành viên trong kênh. Các thành viên tham gia vào hệ thống kênh này rất đơn giản bởi nó đảm bảo sự tự do cho các bên tham gia. Tuy nhiên do tính không bền vững

Hệ thống kênh liên kết dọc: Đây là những kênh đã được tổ chức, thiết kế theo những tính toán từ trước để đảm bảo sự ràng buộc về quyền lợi và trách nhiệm giữa các thành viên trong kênh với nhau. Mục tiêu của từng thành viên được đặt trong mục tiêu chung của cả hệ thống. Nhà sản xuất, nhà bán buôn, nhà bán lẻ hoạt động như một thể thống nhất. Một thành viên có kênh có thể được hưởng ưu đãi trong buôn bán, vì vậy giữa các thành viên trong kênh được phân chia công việc một cách phù hợp, đảm bảo đem lại hiệu quả cao nhất cho cả hệ thống. Với kênh liên kết dọc, quá trình đàm phán diễn ra một cách dễ dàng bởi lợi ích của từng thành viên được đặt trong lợi ích của toàn hệ thống.

  • Có 3 loại kênh VMS:

Kênh VMS được quản lý: đây là kênh liên kết dọc mà ở đó một thành viên có những cơ sở sức mạnh tự nhiên vốn có của họ. Và vì vậy họ trở thành người lãnh đạo trong kênh, các thành viên khác tự nguyện đi theo chấp nhận những yêu cầu và chiến lược mà họ đưa ra.

Kênh VMS tập đoàn: đây là những kênh liên kết dọc mà mỗi thành viên trong kênh đều thuộc quyền sở hữu của mỗi tổ chức, mỗi cá nhân. Thực chất quan hệ giữa các thành viên trong kênh giờ trở thành quan hệ của một tổ chức. Đây là kiểu kênh có mức khả năng điều khiển giữa các thành viên là cao nhất vì kiểu kênh này có thể điều khiển bằng các biện pháp hành chính mệnh lệnh.

Với hệ thống VMS tập đoàn, nó sẽ phát huy được hiệu quả kinh tế theo quy mô trong phân phối. Nó cho phép chủ động phân chia các công việc phân phối một cách tốt nhất. Đồng thời VMS tập đoàn có khả năng điều hoà cung cầu thị trường một cách chủ động. Tuy nhiên cái gì cũng có hai mặt của nó. Kênh VMS tập đoàn dễ dẫn đến độc quyền trong sản xuất và phân phối, như thế lợi ích của xã hội sẽ không được tối đa hoá. Khóa luận: Phát triển hệ thống phân phối xăng dầu ở Hóc Môn.

Kênh VMS hợp đồng: Các thành viên trong kênh được liên kết với nhau bằng bản hợp đồng. Các thành viên trong kênh có sức mạnh ngang nhau, công việc trách nhiệm, quyền lợi của các bên được ghi trong hợp đồng.

Kênh VMS hợp đồng theo kiểu hợp tác bán lẻ: Dưới sức ép cạnh tranh gay gắt, những người bán lẻ, bán nhỏ tập hợp nhau lại thành hợp tác xã, lập kế hoạch mua hàng hoá với khối lượng lớn của các bên được ghi trong hợp đồng. Sau đó họ mới phân chia với nhau số lượng hàng hoá đó.

Chuỗi tình nguyện do người bán hàng đảm bảo. Đây là kênh VMS theo kiểu hợp đồng, có người bán buôn đứng ra ký hợp đồng để chịu trách nhiệm cung cấp hàng cho một số người bán lẻ. Họ cũng hợp đồng với nhau về hoạt động bán sản phẩm cho thị trường như quảng cáo cho cả chuỗi hội viên cùng  một mức giá. Như vậy những người bán buôn đã tổ chức trên cơ sở tự nguyện giúp đỡ nhau đứng vững trong cuộc cạnh tranh với những mạng lưới phân phối lớn.

Độc quyền kinh tiêu là hệ thống phân phối có mối liên hệ kinh doanh chặt chẽ giữa người chủ quyền, người sở hữu hàng hoá dịch vụ với người nhận quyền, người được sử dụng những thứ mà họ sở hữu trong quá trình kinh doanh. Người nhận quyền phải trả cho người chủ quyền phí độc quyền.

Nói tóm lại, tính phụ thuộc và sự liên kết chặt chẽ giữa các thành viên kênh là những đặc điểm chính của hệ thống kênh phân phối theo chiều dọc. Có thể nói trên thị trường hiện nay, sự cạnh tranh dần dần không phải xảy ra giữa  các doanh nghiệp độc lập mà xảy ra giữa hệ thống kênh phân phối theo chiều  dọc hoàn chỉnh có trương trình trung tâm để đạt hiệu quả kinh tế cao nhất và có ảnh hưởng đến người mua lớn nhất.

Với nhu cầu phong phú và đa dạng như hiện nay, cùng với sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường, các doanh nghiệp không chỉ xây dựng cho mình một cấu trúc kênh phân phối duy nhất mà phải có mạng lưới kênh phân phối phong phú, rộng khắp, đem lại lợi thế cạnh tranh dài hạn cho doanh nghiệp.

1.2.2 Các dòng chảy trong kênh phân phối Khóa luận: Phát triển hệ thống phân phối xăng dầu ở Hóc Môn.

Sự hoạt động của kênh phân phối được thể hiện qua các dòng chảy. Các dòng chảy này là sự kết nối các thành viên trên kênh. Có các loại dòng chảy sau đây:

  • Dòng chuyển quyền sở hữu: Quyền sở hữu sản phẩm được chuyển từ nhà sản xuất qua các thành viên đến người mua cuối cùng.
  • Dòng vận động sản phẩm: Mô tả sự vận động của sản phẩm trong không gian thông qua các phương tiện vận tải.
  • Dòng thanh toán: Mô tả sự vận động của tiền tệ và các chứng từ thanh toán ngược từ người tiêu dùng qua trung gian đến sản xuất.
  • Dòng thông tin: Là dòng trao đổi thông tin về số lượng, chất lượng sản phẩm, giá cả, thời gian, địa điểm giao nhận, khách hàng…giữa các thành viên kế cận hay không kế cận.
  • Dòng xúc tiến: Mô tả những hoạt động xúc tiến hỗ trợ nhau giữa các thành viên trong kênh. Ví dụ: nhà sản xuất thực hiện quảng cáo, khuyến mãi cho uy tín của mình và các thành viên kênh như mua bán, bán lẻ…

Các dòng chảy trong kênh cùng vận động theo những hướng và cường độ khác nhau, cho thấy tính phức tạp của kênh phân phối.

1.2.3 Các thành viên của kênh

1.2.3.1 Người sản xuất

Người sản xuất thường được coi là người bán thứ nhất, họ bán cái mà họ sản xuất ra. Điểm xuất phát của quá trình vận động của hàng hóa từ nơi sản xuất, từ chính nơi mà nó được tạo ra. Đây cũng là chính người giữ vai trò điều khiển kênh, trong nhiều trường hợp họ là người đưa ra các quyết định về tổ chức kênh.

Người sản xuất thường phải giải quyết các vấn đề:

Kết hợp hai giai đoạn sản xuất và phân phối trong chiến lược kinh doanh như thế nào để đạt hiệu quả cao nhất.

Khi hệ thống phân phối phát triển đòi hỏi người sản xuất sẽ phải áp dụng các biện pháp để tối ưu hóa các hoạt động. Khi doanh nghiệp muốn xâm nhập một trị trường mới thì họ sẽ phải đưa ra các quyết định về tổ chức kênh có hiệu quả.

1.2.3.2 Người bán buôn Khóa luận: Phát triển hệ thống phân phối xăng dầu ở Hóc Môn.

Đây là những người thực hiện hoạt động thương mại thuần túy, mua để bán. Đặc trưng cơ bản của loại trung gian này là mua bán với một khối lượng lớn một loại hàng hóa nào đó. Những người bán buôn có thể là cầu nối giữa những người sản xuất với người tiêu dùng cuối cùng trong lĩnh vực tiêu dùng công nghiệp, có thể là cầu nối giữa người sản xuất và các trung gian khác trong kênh tiêu dùng cá nhân.

Những người bán buôn thường có thể lực kinh tế lớn, trong nhiều trường hợp họ có khả năng chống chế thị trường chi phối cả người sản xuất và người bán lẻ. Hiện nay, nhờ sự phát triển của khoa học công nghệ người bán buôn có thể mở rộng phạm vi kinh doanh của mình mà không nhất thiết phải phát triển một mạng lưới các đại lý hoặc chi nhánh đại diện ở những khu vực cụ thể.

1.2.3.3 Người đại lý

Là người không có sở hữu hàng hóa, được nhân danh nhà sản xuất làm nhiệm vụ bán hàng cho nhà sản xuất để hưởng một khoản thù lao gọi là hoa hồng.

Đại lý là một trung gian rất cần thiết vì nó làm tăng thêm năng lực tiêu thụ hàng hóa cho nhà sản xuất. Nhà đại lý thường là những cá nhân hoặc là doanh nghiệp có vị trí kinh doanh thuận lợi, có năng lực bán hàng nhưng không có nhiều vốn để kinh doanh. Đại lý có thể đại diện cho một hãng hay nhiều công ty khác nhau. Muốn làm đại lý phải ký kết những văn bản thỏa thuận

Hợp đồng đại lý phải ghi những nội dung chủ yếu sau đây:

  • + Tên, đại chỉ của các bên
  • + Hàng hóa đại lý
  • + Hình thức đại lý, thù lao đại lý
  • + Thời hạn hiệu lực của hợp đồng đại lý
  • + Giá cả, địa bàn hoạt động, thủ tục đặt hàng, dịch vụ vận chuyển, dịch vụ vận chuyển, trách nhiệm và quyền lợi các bên…

1.2.3.4 Người tiêu dùng

Đây là người sử dụng sản phẩm mua được vào việc thỏa mãn nhu cầu của họ.

Người tiêu dùng là mục tiêu và cũng là đích mà người sản xuất phải hướng tới. Việc năm bắt chính xác nhu cầu của người tiêu dùng cũng như dự báo chính xác nhu cầu trong tương lai là điều kiện quản trọng quyết định sự tồn tại của doanh nghiệp.

1.3 Tổ chức và hoạt động của kênh phân phối Khóa luận: Phát triển hệ thống phân phối xăng dầu ở Hóc Môn.

Những kênh phân phối không chỉ là tập hợp thụ động các cá nhân và tổ chức có liên quan với nhau bằng những lưu chuyển khác nhau, mà chúng là những hệ thống phức tạp, trong đó những cá nhân và tổ chức tác động lẫn nhau để hoàn thành mực tiêu riêng của mình. Một số hệ thống kênh phân phối chỉ có những quan hệ tác động không chính thức giữa các cơ sở kinh doanh kết nối với nhau một cách lỏng lẻo, hệ thống kênh phân phối khác thì lại có những quan hệ chính thức giữa các tổ chức được chuyên môn hóa rất cao. Và các hệ thống kênh phân phối cũng không cố định: những cơ sở, bộ phận mới sẽ xuất hiện và cả những hệ thống phân phối mới được hình thành theo.

1.3.1 Tổ chức kênh

Thiết kế kênh là đưa ra những quyết định liên quan đến việc phát triển kênh phân phối mới ở những nơi chưa tồn tại hoặc để cái tiến những kênh phân phối hiện tại.

Quá trình thiết kế kênh gồm 7 bước:

  • Nhận dạng nhu cầu thiết kế kênh
  • Xác định và phối hợp kênh phân phối.
  • Phân loại công việc phân phối
  • Phát triển các cấu trúc thiết kế kênh.
  • Đánh giá các biến số ảnh hưởng đến cấu trúc kênh.
  • Lựa chọn cấu trúc kênh tốt nhất
  • Tìm kiếm các thành viên kênh.

Tùy vào mục đích thiết kế kênh là để phát triển, mở rộng tại những khu vực thị trường mới hay để hoàn thiện hệ thống kênh hiện tại mà người quản lý sẽ có những quyết định quản lý kênh riêng.Ở đây chung ta xem xét việc thiết kế kênh dưới góc độ “Hoàn thiện hệ thống kênh phân phối” thông qua việc xác định các mối quan hệ giữa các biến số của công ty, tuyên truyền mục tiêu và chiến lược Marketing với việc thiết kế kênh phân phối.

1.3.2 Hoạt động của kênh Khóa luận: Phát triển hệ thống phân phối xăng dầu ở Hóc Môn.

Một kênh phân phối là sự liên kết các cơ sở khác nhau lại vì lợi ích chung. Mỗi thành viên trong đường dây đều dựa vào những thành viên khác. Mỗi thành viên giữ một vai trò riêng và chuyên thực hiên một hay nhiều chức năng.

Một cách lý tưởng, vì sự thành công của cá nhân các thành viên tùy thuộc vào thành công của cả đường dây nên mọi cơ sở trong đường dây đều phải hiểu và chấp nhận phần việc riêng của mình phối hợp mục tiêu và hoạt động của mình với mục tiêu và hoạt động của thành viên khác và phối hợp để hoàn thành mục tiêu của cả đường dây.

Mỗi cơ sở phải xem xét hoạt động của mình tác động thế nào đến sự hoạt động của cả đường dây. Các nhà sản xuất, nhà bán sỉ và bán lẻ phải bổ xung nhu cầu của nhau và phối hợp để tạo được nhiều lợi nhuận hơn sơ với khi hoạt động một mình.

Bằng sự hợp tác, họ có thể nắm bắt, cung ứng và thỏa mãn thị trường chủ đích tốt hơn.

Những cá nhân các thành viên thường không có cái nhìn toàn cục như thế. Họ thường quan tâm nhiều hơn tới những mục tiêu ngắn hạn của mình và những giao dịch đến những cơ sở kế cận trong đường dây. Trong khi việc hợp tác để đạt những mục tiêu chung đôi khi lại có nghĩa là phải tõ bá những mục tiêu cá nhân, điều này là không thể có được. Tuy rằng các thành viên phụ thuộc lẫn nhau, nhưng họ vẫn thường hoạt động độc lập vì những lợi Ých ngắn hạn tốt nhất của họ. Họ thường không đồng ý về vai trò mỗi thành viên phải làm, về vấn đề ai phải làm gì và nhận được lợi Ých gì.

Những bất đồng về vai trò và mục tiêu thế dẫn đến xung đột trong kênh.

Xung đột chiều ngang là những xung đột giữa các cơ sở cùng cấp của kênh. Việc định giá khác nhau giữa các cơ sở cùng cấp, sự khác nhau về mức độ quảng cáo còng nh việc lấn chiếm lãnh thổ đã được phân sẽ gây ra những xung đột giữa chính các cơ sở cùng cấp của một kênh. Khóa luận: Phát triển hệ thống phân phối xăng dầu ở Hóc Môn.

Xung đột chiều dọc thường thấy hơn và xẩy ra giữa các cấp khác nhau trong cùng đường dây (kênh). Những xung đột có thể xẩy ra khi công ty muốn cưỡng chế các nhà buôn về việc định giá, các dịch vụ và quảng cáo. Xung đột cũng có thể do công ty qua mặt nhà bán sỉ để giao hàng tận nơi cho những nhà bán lẻ lớn.

Để toàn đường dây hoạt động tốt, cần chuyên biệt hoá vai trò của từng thành viên, và các xung đột phải được điều giải hữu hiệu. Sự hợp tác, chuyên biệt hoá vai trò và điều giải xung đột trong đường dây chỉ thực hiện được với một cấp lãnh đạo vững mạnh. Đường dây sẽ hoạt động tốt hơn nếu có một cơ sở hay mét guồng máy điều hành có quyền lực phân chia lực lượng hợp lý trong đường dây, có quyền phân nhiệm vụ và điều giải xung đột.

1.4 Nhân tố ảnh hưởng và một số tiêu chí đánh giá

1.4.1 Các nhân tố ảnh hưởng

Quá trình lựa chọn địa điểm, thiết kế, vận động và điều khiển hoạt động của hệ thống kênh phân phối chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố khác nhau. Các nhân tố ảnh hưởng tới hệ thông phân phối thường được phân loại thành các nhanh tố thuộc môi trường bên ngoài và các yêu tố thuộc môi trường bên trong của doanh nghiệp. Các yếu tố này có tác động qua lại với nhau.

Với khách hàng mục tiêu: doanh nghiệp cần tìm hiểu hành vi và mong muốn của họ, trước hết là trên thị trường mục tiêu. Cụ thể, doanh nghiệp cần phải tìm hiểu xem họ tìm kiếm điều gì, ở đâu, tại sao, khi nào và cách thực họ mua sản phẩm của doanh nghiệp như thế nào. Với đối thủ cạnh tranh: Doanh nghiệp cần nhận rõ ưu – nhược điểm của họ các nhân tố hố trợ cũng như hạn chế hoạt động của hệ thống phân phối hiện nay của họ. Đồng thời, doanh nghiệp cũng phải nhận biết được mọi biến động trong vị thế của các đối thủ cạnh tranh này trên thị trường, ứng pho kịp thời những thay đổi đó.

Doanh nghiệp còn phải sác định các yêu cầu về mặt tài chính, các chi phí cần thiết cho việc thiết lập mỗi mô hình tổ chức hệ thống phân phối và đối chiều các yêu cầu đó với tiềm lực tài chính của mình, để lựa chọn được phương án tổ chức thích hợp.

Các nhân tố thuộc môi trường kinh doanh mà doanh nghiệp phải phân tích bao gồm cả văn hóa kinh doanh, pháp luật, những đặc trưng của ngành hàng…

1.4.2 Một số chỉ tiêu đánh giá Khóa luận: Phát triển hệ thống phân phối xăng dầu ở Hóc Môn.

Các chỉ tiêu về tính kinh tế, sự kiếm soát và tính linh hoạt là các tiêu thức thường được lựa chọn trong đánh giá và lựa chọn các kênh phân phối cũng như các thành phần thuộc kênh phân phối. Việc đánh giá này mang tính thường xuyên đảm bảo hệ thống phân phối của doanh nghiệp đáp ứng được các tiêu thức này trong mọi thời điểm.

Chỉ tiêu kinh tế: chỉ tiêu kinh tế được đánh giá bằng việc so sánh giữa sản lượng bán ra qua mỗi kênh phân phối và các chi phí tương ứng của kênh này. Doanh nghiệp này thường có xu hướng chọn các kênh cung cấp được nhiều hàng với chi phí thấp.

Tuy nhiên, sự chênh lệch này cũng khác nhau qua từng giai đoạn phát triển của doanh nghiệp.

Tính kiểm soát được: Đây là một tiêu thức hết sức quan trọng và nó là tiền đề để cho việc điều hành và quản lý hệ thống phân phối của doanh nghiệp. Để có thể kiểm soát được, kênh phân phối phải được xây dựng một cách rõ ràng với hệ thống thông tin thông suốt cùng gắn với trách nhiệm của mỗi thành phần thuộc kênh trong việc tuân thủ chế độ thông tin báo cáo.

Tính linh hoạt và phù hợp của các bộ phạn thuộc kênh phân phối: thị trường với sự cạnh tranh, tính bất trắc và biến động sẽ có tác động lớn tới hoạt động của hệ thống phân phối của doanh nghiệp. Hệ thống phân phối của doanh nghiệp phải có khả năng thích ứng kịp thời với mọi thay đổi của môi trường. Tính định của môi trường càng lớn, hệ thống phân phối của doanh nghiệp càng phải linh hoạt đó phải đồng bộ trong toàn hệ thống để đảm bảo ổn định và tính bền vững của kênh phân phối. Khóa luận: Phát triển hệ thống phân phối xăng dầu ở Hóc Môn.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>> Khóa luận: Thực trạng hoạt động phân phối xăng dầu tại Hóc Môn

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Góp ý
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993