Khóa luận: Thực trạng Marketing dịch vụ du lịch vịnh Hạ Long

Rate this post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Thực trạng Marketing dịch vụ du lịch vịnh Hạ Long hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Khóa luận: Thực trạng hoạt động Marketing dịch vụ du lịch của vịnh Hạ Long giai đoạn 2018-2024 dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

I: Tổng quan về du lịch vịnh Hạ Long

1. Giới thiệu về vịnh Hạ Long

1.1 Vị trí địa lí

Vịnh Hạ Long là vùng biển đảo nằm ở phía Đông Bắc Việt Nam, thuộc địa phận tỉnh Quảng Ninh có tọa độ từ 106056’ đến 107037’ kinh độ đông và 200 43’ đến 21009’ vĩ độ Bắc. Phía Tây và Tây Bắc Vịnh Hạ Long kéo dài từ huyện Yên Hưng, qua thành phố Hạ Long, thị xã Cẩm Phả đến hết phần huyện đảo Vân Đồn; phía Đông Nam và phía Nam giáp vịnh Bắc Bộ; phía Tây Nam và tây giáp đảo Cát Bà (TP. Hải Phòng). Trên bản đồ thế giới, phía bắc Vịnh Hạ Long tiếp giáp với Trung Quốc; phía đông Vịnh Hạ Long tiếp giáp với Biển Đông

Năm 1962, Vịnh Hạ Long được Bộ Văn hóa – Thông tin xếp hạng di tích danh thắng cấp quốc gia với diện tích 1553 km2 với 1969 hòn đảo. Khu trung tâm Vịnh Hạ Long với diện tích 434 km2 và 775 hòn đảo có giá trị ngoại hạng về cảnh quan và địa chất địa mạo được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc (chữ viết tắt tiếng Anh là UNESCO) 2 lần công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới (năm 1994 và năm 2017).

1.2 Khí hậu Khóa luận: Thực trạng Marketing dịch vụ du lịch vịnh Hạ Long.

Mang tính chất nhiệt đới âm với hai mùa rõ rệt: mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều; mùa đông khô, lạnh. Nhiệt độ trung bình từ 15 đến 250C. Lượng mưa hàng năm đạt 2017 – 2200mm/năm. Vịnh Hạ Long có chế độ nhật triều thuần nhất điển hình (biên độ triều từ 3,5 đến 4,0 m.

1.3 Cư dân trên vịnh

Dân số trên vịnh Hạ Long hiện nay khoảng 1.600 người, tập trung chủ yếu ở các làng đánh cá Cửa Vạn, Ba Hang, Cống Tàu và Vung Viêng (thuộc phường Hùng Thắng, thành phố Hạ Long). Cư dân vùng Vịnh phần lớn sống trên thuyền, trên nhà bè để thuận tiện cho việc đánh bắt, nuôi trồng và lai tạo các giống thủy sản, hải sản. Ở khu vực ven bờ Vịnh Hạ Long là nơi cư trú sinh sống của một bộ phận cư dân thành phố Hạ Long, thị xã Cẩm Phả, huyện đảo Vân Đồn và huyện đảo Cát Bà (Hải Phòng).

1.4 Hệ thống đảo và hang động

Các đảo trên vịnh Hạ Long có những hình thù riêng, không giống bất kỳ hòn đảo nào ven biển Việt Nam và không đảo nào giống đảo nào. Dưới đây là một vài hòn đảo nổi tiếng:

Hòn Trống Mái: Là một trong những hòn đảo nổi tiếng trên vịnh Hạ Long, hòn Trống Mái nằm gần hòn Đỉnh Hương ở phía Tây Nam của Vịnh, cách cảng tàu du lịch Bãi Cháy khoảng 5km. Là biểu tượng trên logo của vịnh Hạ Long, hòn Trống Mái cũng là biểu tượng trong sách hướng dẫn du lịch Việt Nam nói chung. 

Đảo Ti Tốp: Đảo Ti Tốp, thời Pháp thuộc mang tên hòn Cát Nàng, nằm trên khu vực vịnh Hạ Long cách Bãi Cháy chừng 14km về phía Đông. Đảo Ti Tốp có bờ dốc đứng và bãi cát trắng phẳng hình vầng trăng nằm dưới chân. Các tour du lịch thường ghé tàu vào đảo để du khách lên bờ leo núi ngắm toàn cảnh vùng Vịnh, tắm biển, chèo thuyền kay-ắc, kéo phao và kéo dù.

Đảo Tuần Châu: Nằm cách cảng tàu du lịch Bãi Cháy khoảng 4km về phía Tây Nam trên vùng vịnh Hạ Long, Đảo Tuần Châu là một đảo đất rộng khoảng 3km², gần bờ, có làng mạc và dân cư thưa thớt. Từ năm 2018, một tổ hợp dịch vụ vui chơi, giải trí, quần thể khách sạn, nhà hàng và bãi tắm sang trọng được xây dựng, đưa vào phục vụ góp phần làm thay đổi bộ mặt của khu du lịch.

  • Hang động Khóa luận: Thực trạng Marketing dịch vụ du lịch vịnh Hạ Long.

Những hang động tại Hạ Long, theo các nhà thám hiểm địa chất người Pháp, khi nghiên cứu về vịnh Hạ Long đầu thế kỷ 20, khẳng định rằng hầu hết trong số chúng đều được kiến tạo trong thế Pleistocen kéo dài từ 2 triệu đến 11 ngàn năm trước, nằm trong 3 nhóm hang ngầm cổ, hang nền carxtơ và các hàm ếch biển.

Hang Sửng Sốt: Hang Sửng Sốt, hay động Sửng Sốt nằm trên đảo Bồ Hòn ở trung tâm vịnh Hạ Long, được người Pháp đặt tên “Grotte des suprises” (động của những sửng sốt). Ðây là một hang động rộng và đẹp vào bậc nhất của vịnh Hạ Long.

Động Thiên Cung:. Động Thiên Cung nằm ở lưng chừng đảo Canh Độc, ở độ cao 25m so với mực nước biển. Du khách vừa bước vào cửa động Thiên Cung, lòng động đột ngột mở ra không gian có tiết diện hình tứ giác với chiều dài hơn 130 mét, với những măng đá như một đền đài mỹ lệ. Vách động cao và thẳng đứng được bao bọc bởi những nhũ đá và trên mỗi vách động ấy thiên nhiên đã khảm nhiều hình thù kỳ lạ, hấp dẫn người xem..

Hang Đầu Gỗ: Đi hết động Thiên Cung cũng là lúc du khách bước chân sang hang Đầu Gỗ, còn gọi là hang Giấu Gỗ, một hang động với những nhũ đá tráng lệ.. Chính giữa lòng hang là một cột trụ đá khổng lồ hàng chục người ôm, từ phía dưới chân cột lên trên là những hình mây bay, long phi phượng vũ, hoa lá, dây leo.

Ngoài các hang động trên, du khách còn tham quan hàng chục hang động đẹp và quyến rũ khác như hang Bồ Nâu, hang Trinh Nữ, hang Trống, hang Tiên Long…Báo cáo của ban quản lý vịnh Hạ Long cho biết hiện nay vẫn chưa thể thống kê hết được tất cả hang động trên 1.969 đảo.

Có thể bạn quan tâm đến dịch vụ:

===>>> Nhận Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Marketing

2. Những giá trị cơ bản của vịnh Hạ Long

2.1. Giá trị thẩm mỹ

Vẻ đẹp của Hạ Long được tạo nên từ 3 yếu tố: Đá, nước và bầu trời. Hệ thống đảo đá Hạ Long muôn hình vạn trạng. Đường nét, họa tiết, màu sắc của đảo núi, hòa quyện với trời biển tạo ra một bức tranh thủy mặc. Hòn Đỉnh Hương toát lên ý nghĩa tâm linh. Hòn Gà Chọi có một chiều sâu triết học. Hòn Con Cóc ngàn năm vẫn đứng đó kiện trời. Phía trong những đảo đá lớn lại hấp dẫn bởi những hang động đẹp đẽ, kì lạ. Hang Đầu Gỗ gợi cảm giác choáng ngợp với những nhũ đá muôn hình dáng vẻ. Động Thiên Cung như một đền đài hoành tráng, mỹ lệ. Những hang động như Tam Cung, Trinh Nữ, Ba Hang, Tiên Long… mỗi hang có những vẻ đẹp độc đáo riêng làm mê mải lòng người.

2.2. Giá trị lịch sử Khóa luận: Thực trạng Marketing dịch vụ du lịch vịnh Hạ Long.

Vịnh Hạ Long là một trong những cái nôi cư trú của người Việt Cổ, đó là:

  • Văn hóa Soi Nhụ: (cách ngày nay 18000 – 7000 năm), phân bố trong khu vực Vịnh Hạ Long và Bái Tử Long. Các di chỉ tiêu biểu: Mê Cung, Tiên Ông, Thiên Long… Tích tụ cấu tạo tầng văn hóa chủ yếu là ốc núi (Cyclophorus) và ốc suối (Melania) cùng một số loài nhuyễn thể nước ngọt khác.
  • Văn hóa Cái Bèo:(Cách ngày nay 7000 – 5000 năm). Là giai đoạn gạch nối giữa văn hóa Soi Nhụ và Hạ Long. Di chỉ Cái Bèo là điểm hội tụ của nhiều yếu tố, sắc thái khác biệt vào một dòng văn hóa truyền thống rất lâu đời trong khu vực Việt Nam và Đông Nam Á.

2.3. Giá trị địa chất

Giá trị lịch sử địa chất Vịnh Hạ Long được đánh giá bởi 2 yếu tố, đó là: Lịch sử kiến tạo và địa chất địa mạo (Karst)

Giá trị lịch sử kiến tạo: Lịch sử địa chất địa mạo của Vịnh Hạ Long được các nhà khoa học nhận định trải qua ít nhất trên 500 triệu năm với những hoàn cảnh cổ địa lý rất khác nhau, nhiều lần tạo sơn, biển thoái; sụt chìm, biển tiến. Vịnh Hạ Long còn giữ lại được những dấu ấn của quá trình tạo sơn, địa máng vĩ đại của trái đất, có cấu tạo địa lũy, địa hào cổ.

Giá trị địa mạo Karst: Vịnh Hạ Long có một quá trình tiến hóa Karst đầy đủ trải qua 20 triệu năm nhờ sự kết hợp đồng thời giữa các yếu tố như tầng đá vôi rất dày, khí hậu nóng ẩm và quá trình nâng kiến tạo chậm chạp trên tổng thể.

Vịnh Hạ Long chứa đựng nhiều dạng địa hình Karst kiểu Phong Tùng, Phong Linh.

2.4 Giá trị đa dạng sinh học

Đa dạng sinh học Vịnh Hạ Long có thể chia làm hai hệ sinh thái lớn, đó là: Hệ sinh thái rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới và Hệ sinh thái biển và ven bờ. Hệ sinh thái rừng có tổng số loài thực vật sống khoảng trên một nghìn loài. Theo thống kê, hệ sinh thái rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới ở Hạ Long, Bái Tử Long có: 477 loài mộc lan, 12 loài dương xỉ và 20 loài thực vật ngập mặn; đối với động vật người ta cũng thống kê được 4 loài lưỡng cư, 10 loài bò sát, 40 loài chim và 14 loài thú. Ngoài ra, hệ sinh thái biển còn có hơn 185 loài thực vật phù du, 140 loài động vật phù du, 500 loài động vật đáy, và gần 330 loài động vật tư da. Khóa luận: Thực trạng Marketing dịch vụ du lịch vịnh Hạ Long.

2.5 Giá trị du lịch

Với các giá trị ngoại hạng về cảnh quan và địa chất, địa mạo, lại là trung tâm của khu vực có nhiều yếu tố đồng dạng bao gồm vịnh Bái Tử Long phía Đông Bắc, quần đảo Cát Bà với vịnh Cát Bà và vịnh Lan Hạ phía Tây Nam, vịnh Hạ Long hội tụ những điều kiện thuận lợi để phát triển ngành kinh tế du lịch với loại hình đa dạng. Đến vịnh Hạ Long, du khách có thể tham gia các hoạt động nghiên cứu khoa học, tham quan ngắm cảnh, tắm biển, bơi thuyền, thả dù, lặn khám phá rặng san hô, câu cá giải trí. Các loại hình du lịch du thuyền tại vịnh Hạ Long hiện nay bao gồm tham quan Vịnh ban ngày, đi tour buổi chiều ngắm hoàng hôn trên Vịnh, du thuyền đêm để ngắm cảnh Vịnh về đêm kết hợp với câu cá mực, thậm chí có thể tự chèo thuyền để khám phá Vịnh. Trong những năm tới, ngành du lịch sẽ mở thêm nhiều tuyến điểm tham quan và tăng thêm nhiều loại hình du lịch khác. Bên cạnh đó, vịnh Hạ Long còn là một trong 2 vịnh biển đẹp nhất Việt Nam bên cạnh vịnh Nha Trang, là nơi thường xuyên đón tiếp các tàu du lịch quốc tế chọn làm điểm dừng tham quan. Dự kiến đến năm 2027, Quảng Ninh và vịnh Hạ Long sẽ là một trong những điểm du lịch lớn nhất cả nước.

3. Thực trạng hoạt động du lịch của vịnh Hạ Long trong giai đoạn 2018-2024 Khóa luận: Thực trạng Marketing dịch vụ du lịch vịnh Hạ Long.

Ngày 30/11/2018, Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành Nghị quyết 08/NQ-TƯ về đổi mới và phát triển du lịch vịnh Hạ Long giai đoạn 2018-2027 nhằm khai thác và phát huy những tiềm năng to lớn về du lịch, đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của Tỉnh.

Nghị quyết 08/NQ-TƯ đã nhanh chóng đi vào cuộc sống, trở thành động lực và tạo ra bước ngoặt quan trọng cho ngành du lịch Quảng Ninh nói chung và du lịch vịnh Hạ Long nói riêng, đổi mới và phát triển. Nhận thức của cộng đồng về phát triển du lịch được nâng lên một bước, các hoạt động du lịch đã được các cấp, các ngành, các địa phương và nhân dân tham gia tích cực hơn, môi trường du lịch được quan tâm, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch được tăng cường, tốc độ tăng trưởng được duy trì ở mức khá cao và ổn định. Các Quy chế về quản lý vịnh Hạ Long, quản lý bãi tắm, quản lý hoạt động của các tàu du lịch trên vịnh Hạ Long, quản lý hoạt động nhà bè…đã được đi vào thực hiện. Chính điều này đã giúp cho du lịch vịnh Hạ Long tăng trưởng cả về số lượng và chất lượng trong thời gian qua.

3.1 Số lượng khách du lịch, cơ cấu khách và cơ cấu chi tiêu của khách

3.1.1. Số lượng khách du lịch

Giai đoạn 2018-2024, đặc biệt là vào các năm 2020-2022, du lịch vịnh Hạ Long gặp rất nhiều khó khăn khách quan như: dịch bệnh SARS, dịch cúm gia cầm, phía Trung Quốc thay đổi chính sách cấp giấy thông hành cho công dân đi du lịch Việt Nam…làm giảm đáng kể lượng khách du lịch đến vịnh Hạ Long. Tuy nhiên, đến năm 2023, 2024 tình hình đã được cải thiện đáng kể. Năm 2024, tổng số khách du lịch đến vịnh Hạ Long là 2,013,266 lượt khách, tăng 29% so với năm 2023, trong đó khách quốc tế chiếm gần 1,6 triệu lượt khách, tăng 47% so với năm 2023. So với chỉ tiêu của năm 2017 là 832,432 lượt khách, thì lượng khách đến vịnh Hạ Long năm 2024 đạt hơn 230%. Số lượng khách tăng lên qua các năm được thể hiện qua bảng 1.1

Bảng 1.1. Số lượng khách du lịch đến vịnh Hạ Long từ 2018-2024

Đơn vị: triệu lượt khách

Danh mục 2018 2019 2020 2021 2022 2023 2024
Khách đến Quảng Ninh 1,97 2,34 2,50 2,67 2,45 3,11 4,11
Khách đến vịnh Hạ Long 1,06 1,27 1,31 1,57 1,47 1,48 2,01
Trong đó khách quốc tế 0,53 0,70 0,71 0,82 0,90 0,82 1,57

Nguồn: Ban quản lý vịnh Hạ Long Khóa luận: Thực trạng Marketing dịch vụ du lịch vịnh Hạ Long.

Lượng khách du lịch đến vịnh Hạ Long chiếm khoảng 50% tổng lượng khách du lịch đến Quảng Ninh, chứng tỏ đây thực sự là một mũi nhọn trong chiến lược phát triển du lịch Quảng Ninh nói chung. Năm 2024 cũng là năm cho thấy những tín hiệu đáng mừng từ du lịch vịnh Hạ Long, đặc biệt với sự tăng nhanh của du khách quốc tế. Sở dĩ như vậy là do ngành du lịch Quảng Ninh đã có những chính sách tổng hợp nhằm thu hút khách. Chẳng hạn, khách du lịch đường biển đến Hạ Long tăng mạnh do việc khai thông các tuyến đường biển như tuyến Bắc Hải – Hạ Long 1 ngày/1 chuyến, tuyến Hải Nam – Hạ Long 2 ngày/1 chuyến, tuyến HongKong – Hạ Long 5 ngày/1 chuyến…góp phần thu hút khách du lịch quốc tế ngày càng tăng (mỗi tháng trung bình từ 10,000 đến 14,000 lượt khách) đóng góp đáng kể cho mức tăng trưởng của du lịch vịnh.

3.1.2. Cơ cấu khách du lịch

Theo kết quả thống kê từ cục thống kê Quảng Ninh, thị phần khách du lịch quốc tế đến Quảng Ninh được chia ra gồm: Trung Quốc, Nhật, Hàn Quốc, Asean, Châu Âu, Bắc Mỹ, và các nước khác theo bảng 1.2 sau:

Bảng 1.2. T ỷ trọng khách du lịch quốc tế đến vịnh Hạ Long từ 2018-2023

Danh mục

2018 2019 2020 2021 2022 2023
Tổng số du khách 0,53 triệu (100%) 0,70 triệu

(100%)

0,71 triệu

(100%)

0,82 triệu

(100%)

0,90 triệu

(100%)

0,82 triệu

(100%)

Trung Quốc 50% 54% 52,3% 51,7% 33,5% 24,6%
Nhật 1,7% 2,5% 2,3% 1,3% 1,5% 1,6%
Asean 1,3% 2,2% 3,4% 1,6% 4,7% 7,1%
Hàn Quốc 1,1% 1,8% 4,5% 9,6% 19% 21%
Châu Âu 11,5% 9,7% 12,8% 9,9% 17% 16,7%
Bắc Mỹ 2,4% 1,8% 2,4% 1,7% 3,7% 4,7%
Các nước khác 28,1% 27,9% 22% 25,1% 22% 25,8%

Nguồn: Ban quản lý vịnh Hạ Long Khóa luận: Thực trạng Marketing dịch vụ du lịch vịnh Hạ Long.

Qua sự biến động tăng giảm về tỷ trọng khách quốc tế đến vịnh Hạ Long đã nói lên rằng, lượng du khách quốc tế đến vịnh Hạ Long chủ yếu từ  thị trường châu Á và châu Âu, đặc biệt thị trường Trung Quốc chiếm hơn 50% trong các năm 2018-2021. Tuy nhiên, những năm gần đây cơ cấu du khách có phần đa dạng hơn, năm 2023 lượng khách đến từ Trung Quốc chỉ chiếm hơn 24%, thay vào đó lượng khách đến từ các thị trường Hàn Quốc, Asean, Châu Âu có xu hướng tăng cao.

Ngoài ra xét theo cơ cấu nghề nghiệp của du khách, kết quả điều tra cho thấy, khách thuộc tầng lớp thương gia chiếm đông nhất với khoảng 22% tổng số khách (2022), tiếp theo là nhóm các kiến trúc sư, bác sỹ, giảng viên… Nhóm khách là những người nghỉ hưu chiếm tỉ lệ khá cao gần 8%, tương đương với cơ cấu của nhóm học sinh, sinh viên.Nhân viên của các tổ chức quốc tế, cơ quan chính phủ chiếm khoảng 7%, và các thành phần khác chiếm 25%.

Về độ tuổi, cơ cấu độ tuổi của khách đang có xu hướng trẻ hóa, với gần 32% số khách du lịch trong độ tuổi từ 25-34 tuổi (2022), chiếm tỷ trọng lớn nhất. Du khách có độ tuổi từ 35-44 tuổi và 45-54 tuổi tương ứng chiếm từ 22,6% và 19%. Trên 54 tuổi, lượng du khách đạt khoảng 13%

3.1.3. Cơ cấu chi tiêu của khách du lịch 

Theo thống kê, vịnh Hạ Long thuộc khu vực có mức chi tiêu của du khách nội địa cao nhất, từ 500,000 đến 638,000 VNĐ (2022), và từ 580,000 đến 740,000 VNĐ (2024), so với mức chi tiêu bình quân của cả nước là 400,000500,000VNĐ (2022) và 470,000-580,000VNĐ (2024).

Kết quả điều tra cũng cho thấy mức chi tiêu bình quân chung của một lượt – khách du lịch trong nước (đối với khách tự sắp xếp đi) năm 2022 là hơn 1,771 triệu đồng, điều tra năm 2020 là 1,522 triệu đồng. Theo kết quả trên, mức chi tiêu bình quân chung một lượt khách năm 2022 đã cao hơn 16,4% so với năm 2020. Nhưng đáng chú ý là nguyên nhân làm mức chi tiêu của khách năm 2022 tăng cao hơn năm 2020 không phải từ nhu cầu mà chủ yếu là do yếu tố trượt giá tác động. Tốc độ trượt giá tiêu dùng hai năm 2021 và 2022 cũng tương đương với con số tăng 16,4%. Đến năm 2024, mức chi tiêu vẫn tăng ở mức xấp xỉ 17%, tức là 1 lượt khách trung bình chi tiêu khoảng 2,072,000 VNĐ.

Bảng 1.3. Cơ cấu chi tiêu của khách du lịch nội địa

Khoản chi tiêu Mức chi tiêu BQ/lượt khách (1000đ) Tỷ trọng khoản chi tiêu (%)
2020 2022 2024 2020 2022 2024
Tổng số Trong đó: 1522,3 1771,8 2,072 100 100 100
Chi cho thuê phòng 361,2 386,1 476,56 23 21,8 23
Chi cho ăn uống 237,3 310 372,96 15,6 17,5 18
Chi cho đi lại 433,1 567,1 683,76 28,5 32 33
Thăm quan 71,7 69,0 111,88 4,7 3,9 5,4
Chi cho mua hàng hóa , quà lưu niệm 230,6 265,1 207,20 15,1 15 10
Nhu cầu giải trí 52,9 52,5 89,09 3,5 3,0 4,3
Dịch vụ sức khỏe 8,2 16 47,65 0.5 0.9 2,3
Các khoản khác 127,7 105,9 103,6 8,4 6,0 5

Trong cơ cấu chi tiêu của du khách, khoản chi cho phương tiện đi lại chiếm lớn nhất, gần một phần ba (năm 2024 là 33%, năm 2022 là 23%); tiếp đến là chi cho cơ sở lưu trú để nghỉ ngơi, gần một phần tư (năm 2024 là 23%, 2022 là 21,8%); thứ ba là chi cho ăn uống và mua sắm hàng hoá, quà tặng, quà lưu niệm, cả hai lần điều tra 2020 và 2022 đều gần bằng nhau và mỗi khoản chiếm khoảng 15%, riêng năm 2024 mức này giảm xuống 10%.

Các khoản chi tham quan, chi cho nhu cầu văn hoá, thể thao, vui chơi, giải trí; chi cho y tế, săm sóc sức khoẻ đều chiếm rất nhỏ trong tổng các khoản chi. Khóa luận: Thực trạng Marketing dịch vụ du lịch vịnh Hạ Long.

Các khoản chi đi lại, ăn uống và dịch vụ y tế chăm sóc sức khoẻ tăng mạnh nhất; điều này cũng phù hợp với chỉ số tăng giá của các nhóm hàng hoá và dịch vụ này trong thời gian này. “Điều đó cũng có nghĩa là nguyên nhân làm tăng các khoản chi tiêu này chủ yếu vẫn là do yếu tố giá cả tác động”.

Đối với du khách quốc tế, du khách đến từ thị trường châu Âu và Mỹ đỏi hỏi dịch vụ cao hơn và thường hơn 40% so với mức chi tiêu bình quân của khách du lịch quốc tế khác đến vịnh Hạ Long. Theo ước tính, bình quân mỗi khách du lịch quốc tế chi tiêu bình quân ở vịnh Hạ Long khoảng 850$, cao hơn so với mức trung bình của cả nước là 800$. Tuy nhiên, nếu mang ra so sánh với mức chi tiêu bình quân của khách du lịch khi đến Thái Lan là 1,200$…thì đây vẫn là mức thấp. Chính vì vậy, muốn nâng cao doanh thu từ hoạt động du lịch vịnh Hạ Long, ngoài việc cơ cấu lại thị trường, ngành du lịch cũng cần phải có các sản phẩm du lịch chất lượng cao hơn, đa dạng hơn để khuyến khích khách chi trả nhiều hơn.

3.1.4. Số lượng và đặc điểm cơ sở vật chất kỹ thuật và các dịch vụ du lịch

  • Các cơ sở lưu trú

Năm 2018, toàn thành phố Hạ Long có 166 cơ sở lưu trú, với tổng số 2358 phòng nghỉ, trong đó có 19 khách sạn được xếp hạng từ 1 đến 4 sao với 877 phòng. Đến cuối năm 2023, thành phố đã có  hơn 600 cơ sỏ lưu trú, với tổng số 7665 phòng, trong đó có 47 khách sạn được xếp từ 1 đến 4 sao, 4360 phòng.

Tính đến năm 2024, thành phố Hạ Long có khoảng 300 khách sạn từ 1 sao đến 4 sao (hiện thành phố vẫn chưa có khách sạn 5 sao) với 4500 phòng nghỉ và nhiều khách sạn mini cơ bản đáp ứng được nhu cầu của khách du lịch. Sự tăng trưởng về số lượng khách sạn, nhà nghỉ ở Hạ Long được đánh giá là nhanh nhất ở Việt Nam trong những năm gần đây. Bên cạnh đó, chất lượng của các khách sạn và nhà nghỉ cũng đang được củng cố, đáp ứng được yêu cầu về cơ sở, trang thiết bị hiện đại, quy trình phục vụ. Một số khách sạn có uy tín trên địa bàn có thể kể đến như: Khách sạn Hạ Long Dream, khách sạn Heritage, khách sạn Công Đoàn… Khóa luận: Thực trạng Marketing dịch vụ du lịch vịnh Hạ Long.

Ngoài ra, dịch vụ lưu trú tàu nghỉ đêm trên vịnh cũng phát triển khá nhanh, năm 2019 có 16 tàu với 134 phòng, đến đầu năm 2024 đã có 90 tàu với 680 phòng tương đương 3 đến 4 sao. Đa số cơ sơ lưu trú được đầu tư mới trong những năm gần đây đều có qui mô lớn hơn, chất lượng dịch vụ và cống suất sử dụng buồng phòng cao hơn. Xu thế này góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ, chất lượng tăng trưởng. Khóa luận: Thực trạng Marketing dịch vụ du lịch vịnh Hạ Long.

  • Các dịch vụ vận chuyển khách du lịch

Năm 2018, toàn tỉnh có 251 tàu vận chuyển khách tham quan vịnh Hạ Long với 8,084 chỗ, đến 2024 có 370 tàu với 14,352 chỗ. Hiện có 334 tàu được xếp hạng gồm: 61 tàu 3 sao, 62 tàu 2 sao, 102 tàu 1 sao và 109 tàu đạt tiêu chuẩn. Tốc độ đầu tư tàu thuyền vận chuyển khách tham quan vịnh Hạ Long tăng bình quân 9%/năm, vốn đầu tư trong 7 năm qua đạt khoảng 900 tỷ đồng. Chất lượng tàu thuyền được cải thiện đáng kể, loại hình dịch vụ này đạt hiệu quả kinh doanh cao và có xu hướng phát triển tốt trở thành một trong những sản phẩm du lịch đặc trưng của vịnh.

Các phương tiện vận chuyển đường bộ cũng phát triển khá nhanh, chất lượng tốt. Hiện nay, tại Quảng Ninh có trên 200 đầu xe ô tô vận chuyển khách du lịch sang trọng hoạt động theo tuyến Hà Nội- Hạ Long, Hạ Long- Móng Cái. Một số loại hình khác như xích lô du lịch, xe ngựa…cũng bắt đầu xuất hiện tại khu du lịch Bãi Cháy tạo ra sự phong phú cho khách du lịch lựa chọn.

  • Các dịch vụ khác

Cùng với sự phát triển của ngành du lịch và đáp ứng yêu cầu phục vụ du lịch, hệ thống các dịch vụ xã hội khác như: thông tin bưu điện, ngân hàng, bảo hiểm, vận tải lưu thông hàng hóa, dịch vụ thương mại, cung ứng tầu biển và các dịch vụ khác cũng phát triển với tốc độ nhanh tạo ra sự đồng bộ về cơ sở vật chất phục vụ du lịch phát triển.

3.2. Doanh thu từ hoạt động du lịch

Doanh thu từ du lịch vịnh Hạ Long chiếm gần 65 % doanh thu về du lịch của toàn tỉnh Quảng Ninh. Tổng doanh thu du lịch của tỉnh năm 2018 đạt 468 tỷ đồng, thì doanh thu từ du lịch vịnh Hạ Long là 304.5 tỷ đồng. Năm 2023, doanh thu du lịch vịnh Hạ Long đạt 822,250 tỷ, tốc độ tăng trưởng bình quân trong 6 năm (2018-2023) là 27%. Riêng năm 2024, doanh thu đạt 1,485,695 tỷ, tăng gần 55% so với năm 2023. Khóa luận: Thực trạng Marketing dịch vụ du lịch vịnh Hạ Long.

Bảng 2.3. Doanh thu từ hoạt động du lịch vịnh Hạ Long (2018-2024)

Đơn vị: nghìn đồng

Năm 2018 2019 2020 2021 2022 2023 2024
Tổng doanh thu 304,500 485,020 568,278 689,000 672,000 822,250 1,485,695
Doanh thu du lịch 259,717 425,063 504,563 654,120 540,560 608840 1,167,475
Vé thăm vịnh 22,697 29,670 28,106 34,800 41,700 42,070 62,100
Vận chuyển khách thăm vịnh 21,586 30,287 35,609 79,978 90,040 171,340 256,120

Nguồn: Ban quản lý vịnh Hạ Long

Các chỉ số trên cho thấy tốc độ tăng trưởng nhanh của doanh thu từ du lịch vịnh chứng tỏ sự tăng trưởng và chyển biến về chất lượng. Đặc biệt, các sản phẩm về du lịch như: Dịch vụ vui chơi giải trí tại các khu du lịch Tuần Châu, Hoàng Gia, Lợi Lai; các cơ sở lưu trú có chất lượng cao, tàu thuyền phục vụ khách nghỉ đêm trên vịnh…ngày càng thu hút được nhiều khách du lịch có khả năng chi tiêu cao, tạo ra nguồn thu lớn. Cùng với sự tăng lên về doanh thu, các khoản thu nộp ngân sách từ các hoạt động du lịch như thuế, phí xuất lệ phí tham quan vịnh Hạ Long …hàng năm đều tăng trưởng khá, bước đầu có đóng góp quan trọng trong cơ cấu thu ngân sách của tỉnh. Hoạt động du lịch đã tác động mạnh đến các ngành kinh tế khác, trở thành động lực phát triển ngành kinh tế vệ tinh.

3.3. Số vốn và các dự án đầu tư

Từ sau khi Vịnh Hạ Long được công nhận là Di sản thế giới đến nay, mặc dù nằm trong khu vực kinh tế – xã hội đang trên đà phát triển mạnh mẽ, việc quản lý khu Di sản Vịnh Hạ Long còn gặp nhiều khó khăn thách thức, đặc biệt là vấn đề bảo vệ môi trường. Nhưng với quan điểm, mục tiêu: vừa quản lý, bảo tồn nguyên vẹn giá trị Di sản Vịnh Hạ Long cho muôn đời sau, vừa khai thác phát huy tốt giá trị tiềm năng Di sản, Ban quản lý Vịnh Hạ Long đã nỗ lực cố gắng tổ chức thực hiện các hoạt động quản lý – phát huy Di sản, đạt được những kết quả bước đầu rất quan trọng. Đó là việc quản lý – khai thác Vịnh đã dần đi vào nề nếp ổn định; sự phối kết hợp quản lý giữa Ban quản lý Vịnh Hạ Long với các ngành, địa phương có liên quan trong tỉnh Quảng Ninh đã có bước chuyển biến tích cực; cơ sở vật chất phục vụ khách tham quan du lịch trên Vịnh được quan tâm đầu tư. Theo thống kê, hoạt động du lịch vịnh Hạ Long đã thu hút nguồn đầu tư lớn, đạt và vượt chỉ tiêu. Từ năm 2018, vịnh đã thu hút trên 30 dự án phát triển du lịch và dịch vụ, tổng vốn đăng ký đạt 5,500 tỷ đồng. Trong đó có 14 dự án đầu tư cơ sở hạ tầng các khu du lịch với tổng mức đầu tư được duyệt bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước khoảng 443 tỷ đồng, đến năm 2024 đã thực hiện 230 tỷ đồng; 16 dự án đầu tư nước ngoài với tổng vốn đăng ký khoảng 1904 tỷ đồng; các doanh nghiệp và cơ sở kinh doanh dịch vụ lưu trú và các dự án vui chơi khoảng 2,568 tỷ đồng. Danh mục các dự án đã thực hiện:

Bảng 2.4: Danh mục các dự án đã thực hiện giai đoạn 2018-2024 Khóa luận: Thực trạng Marketing dịch vụ du lịch vịnh Hạ Long.

1 Dự án tôn tạo khu vui chơi giải trí trên đảo Soi Sim giai đoạn I Xây kè bến cập tàu lên đảo.

Xây kè đổ cát bãi tắm.

Một số công trình dịch vụ, vệ sinh.

Năm 2018 4.038.000.000
2 Tàu công tác cao tốc Đưa đón nhân viên đi làm việc trên Vịnh. Năm 2020 3.500.000.000
3 Tàu cứu nạn Phục vụ công tác tìm kiếm cứu nạn trên Vịnh. Năm 2022 – 2024 1.147.000.0

Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Quảng Ninh

Ngoài ra còn có các dự án đang và tiếp tục thực hiện gồm: Dự án ngoài động Thiên Cung (giai đoạn II), dự án hạ tầng đảo Soi Sim (giai đoạn II) , dự án ngoài hang Sửng Sốt (giai đoạn II),  dự án trang bị 2 tàu thu gom rác thải, dự án nâng cấp cầu tàu Đầu Gỗ, dự án xây dựng các điểm neo đậu tàu nghỉ đêm trên Vịnh,  dự án xây dựng bến tàu công tác tại Bến Đoan.

Các dự án kêu gọi đầu tư: dự án khu du lịch sinh thái, văn hóa động Mê Cung trên đảo Lờm Bò, dự án Bảo tàng Sinh thái Hạ Long, dự án bảo tồn và nâng cấp chất lượng môi trường Vịnh Hạ Long,  dự án nghiên cứu, điều tra giá trị đa dạng sinh học Vịnh Hạ Long.

Kết quả trên cho thấy công tác đầu tư mới và tiếp tục bảo tồn, phát huy những giá trị di sản văn hóa, cũng như đầu tư cho cơ sở vật chất ở vịnh Hạ Long đã được quan tâm đúng mức, góp phần cải thiện môi trường cảnh quan trên vịnh, đa dạng hóa hơn nữa các sản phẩm du lịch vịnh Hạ Long. Đây là một tín hiệu đáng mừng cho phát triển du lịch vịnh trong những năm tiếp theo.

II: Thực trạng hoạt động Marketing dịch vụ du lịch vịnh Hạ Long trong giai đoạn 2017-2024 Khóa luận: Thực trạng Marketing dịch vụ du lịch vịnh Hạ Long.

1 Phân tích môi trường Marketing dịch vụ du lịch

  • Môi trường vĩ mô

Trong giai đoạn 2018-2024, các tác động của môi trường vĩ mô đến vịnh Hạ Long bao gồm cả chiều hướng tích cực và tiêu cực.

Môi trường tự nhiên: Thời gian gần đây, để đảm bảo sự phát triển bền vững của du lịch, tỉnh đã thường xuyên chỉ đạo các ngành, các địa phương tăng cường công tác bảo vệ môi trường, quan tâm đến giáo dục nâng cao nhận thức của cộng đồng về bảo vệ môi trường và tài nguyên du lịch vịnh. Các chương trình như xử lý rác thải trên vịnh, tạo môi trường trong sạch trong khu dân cư trên vịnh… đã đi vào thực hiện và có kết quả bước đầu. Tuy nhiên, công tác bảo vệ môi trường vịnh vẫn còn bộc lộ nhiều bất cập. Thực tế cho thấy, năm 2024 vịnh Hạ Long dễ dàng đạt được lượng khách chỉ tiêu, nhưng chất lượng môi trường suy giảm lại ở mức báo động, các hoạt động khai thác than, lấn biển, nuôi trồng thủy hải sản đang đe dọa đến môi trường của vịnh. Ý thức bảo vệ môi trường của một số doanh nghiệp kinh doanh, và các hộ dân sông gần vịnh chưa cao, hiện tượng xả rác, xác chết của các loài hải sản vẫn tiếp diễn. Nhận thức trách nhiệm của cộng đồng đối với việc bảo vệ môi trường nói chung và môi trường du lịch nói riêng chưa cao.

Môi trường kinh tế:Trong giai đoạn 2018-2024, kinh tế Việt Nam có những bước phát triển mạnh, đời sống người dân được cải thiện, nhu cầu du lịch ngày càng cao. Bản thân trên địa bàn tỉnh, kinh tế phát triển mạnh kéo theo việc các cá nhân có vốn tự mở các dịch vụ kinh doanh dịch vụ du lịch, góp phần đáp ứng nhu cầu của khách tham quan. Ngoài ra, tình trạng lạm phát trong 5 năm gần đây, dẫn đến việc đẩy giá tiêu dùng cũng như giá các mặt hàng dịch vụ du lịch tại vịnh tăng cao, ảnh hưởng đến  hoạt động kinh doanh trên vịnh. Một số cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch lợi dụng sự tăng giá này để nâng mức giá dịch vụ lên quá cao, tạo tâm lý không tin tưởng vào giá cả dịch vụ du lịch trên địa bàn cho đại bộ phận khách hàng.

Môi trường công nghệ: Nắm bắt được xu thế phát triển của du lịch thế giới, cũng như nhu cầu của khách hàng về các loại hình giải trí có tính công nghệ cao, hầu hết các nhà nghỉ, khách sạn tại Hạ Long được trang bị trang thiết bị hiện đại, có truyền hình Cap, nối mạng…Các dịch vụ internet, cafe wifi cũng được mở nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch.

Môi trường xã hội, văn hóa: Ban quản lý vịnh đã phối hợp cùng sở du lịch và các ngành liên quan tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý các vi phạm như: tình trạng ăn xin, cò mồi, chèo kéo, đeo bám, bán hàng rong, kiểm tra việc niêm yết giá và bán theo giá niêm yết tại các trung tâm giao dịch. Tuy nhiên, trên thực tế tình trạng này vẫn chưa được giải quyết triệt để, gây phiền hà cho khách du lịch. Đẩy mạnh phong trào giáo dục, nâng cao ý thức cộng đồng về văn minh du lịch. Công tác đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội thường xuyên được quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của du lịch. Trong các năm qua, vịnh Hạ Long luôn được coi là điểm đến an toàn cho khách du lịch.

Môi trường chính trị: Trong giai đoạn 2018-2024, môi trường chính trị có nhiều biến động ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh du lịch của vịnh. Chẳng hạn, việc phía Trung Quốc thay đổi chính sách cấp giấy thông hành cho công dân đi Việt Nam …làm giảm đáng kể lượng khách du lịch đến vịnh. Cùng với đó, đây cũng là giai đoạn Việt Nam gia nhập WTO, các thỏa thuận nội dung liên quan đến dịch vụ du lịch, cũng như thông tin về việc mở cửa 12 ngành du lịch và các lộ trình cam kết cũng có tác động đến hoạt động kinh doanh tại vịnh Hạ Long. Khóa luận: Thực trạng Marketing dịch vụ du lịch vịnh Hạ Long.

Ngoài ra, nhờ các nguồn đầu tư của nhà nước, cùng với việc áp dụng các cơ chế chính sách đầu tư của tỉnh, từ năm 2018 đến nay, cơ  sở hạ tầng cho phát triển du lịch được cải thiện đáng kể: Hoàn thành nâng cấp tuyến đường từ sân bay Nội Bài về Hạ Long, đường 18A từ Hạ Long đi Cửa Ông, cải tạo nâng cấp cảng tàu du lịch… tạo thuận lợi và mở ra triển vọng phát triển du lịch.

Môi trường pháp luật: Nhà nước và bản thân địa phương đã có nhiều chính sách và cơ chế thông thoáng hơn trong việc cấp thị thực cho khách du lịch, cũng như tạo điều kiện cho các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch có điều kiện phát triển. Tuy nhiên, hệ thống văn bản pháp quy đối với các hoạt động du lịch nói chung và du lịch trên vịnh nói riêng còn thiếu và có nhiều bất cập so với thực tiễn.

Nhìn chung, hiện nay các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hạ Long, cũng như ban quản lý vịnh đã từng bước tiến hành nghiên cứu môi trường tự nhiên, môi trường văn hóa, môi trường chính trị…để từ đó đưa ra các sản phẩm du lịch phù hợp. Tuy nhiên, tình hình nghiên cứu môi trường Marketing dịch vụ du lịch vẫn chưa được quan tâm đúng mức, thiếu sự phối hợp đồng bộ của ngành cùng các doanh nghiệp từ nhận thức đến việc đưa ra những chiến lược nghiên cứu cụ thể.

2. Thực trạng nghiên cứu thị trường, xác định thị trường mục tiêu, định vị dịch vụ du lịch Khóa luận: Thực trạng Marketing dịch vụ du lịch vịnh Hạ Long.

2.1.Thực trạng hoạt động nghiên cứu thị trường

Công tác nghiên cứu thị trường khách du lịch vịnh Hạ Long được quan tâm nhiều hơn trong những năm gần đây. Theo kết quả thống kê từ cục thống kê Quảng Ninh, thị phần khách du lịch quốc tế đến vịnh Hạ Long  được chia ra gồm: Trung Quốc, Nhật, Hàn Quốc, Asean, Châu Âu, Bắc Mỹ, và các nước khác. Qua sự biến động tăng giảm về tỷ trọng khách quốc tế đến vịnh Hạ Long đã nói lên rằng, lượng du khách quốc tế đến vịnh Hạ Long chủ yếu từ  thị trường châu Á và châu Âu, đặc biệt thị trường Trung Quốc chiếm hơn 50% trong các năm 2018-2021. Tuy nhiên, những năm gần đây cơ cấu du khách có phần đa dạng hơn, năm 2023 lượng khách đến từ Trung Quốc chỉ chiếm hơn 24%, thay vào đó lượng khách đến từ các thị trường Hàn Quốc, Asean, Châu Âu có xu hướng tăng cao. Trong các năm tới, vịnh Hạ Long tiếp tục tập trung vào các thị trường chính như: Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Anh, Pháp và Bắc Mỹ.

Việc nghiên cứu thị trường khách du lịch vịnh cũng đã được bản thân các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch quan tâm nhiều hơn. Với mục đích thu thập thông tin, đánh giá và nâng cao chất lượng dịch vụ, phục vụ cho công tác nghiên cứu, xác định thị trường mục tiêu của doanh nghiệp, các doanh nghiệp đã tiến hành thu thập thông tin phản hồi của khách du lịch. Chẳng hạn, tại khách sạn Hạ Long Dream, khách du lịch có thể thấy hòm thư góp ý kiến và tờ thông tin phản hồi của khách hàng ngay tại khu vực lễ tân…Ngoài ra, các doanh nghiệp này có thể thuê các công ty chuyên về nghiên cứu thị trường, hợp tác với các công ty lữ hành lớn đã có văn phòng đại diện tại các quốc gia được coi là thị trường trọng điểm  như Saigontourist, Ben Thanh Tourist, công ty khách sạn du lịch Kim Liên…để tiện cho việc nghiên cứu thị trường và thu hút du khách hơn nữa.

  • Hoạt động xác định thị trường mục tiêu Khóa luận: Thực trạng Marketing dịch vụ du lịch vịnh Hạ Long.

Về việc xác định thị trường mục tiêu, ngoài việc tập trung vào một số thị trường chính như: Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Anh, Pháp và Bắc Mỹ, du lịch vịnh Hạ Long đang tìm kiếm thêm những thị trường mới như Bắc Âu, Nga, Mỹ…Đặc biệt, trong những năm gần đây, nhóm khách du lịch có mức chi tiêu cao tăng đột biến, điều này cũng đang gợi mở cho ngành du lịch ở đây những phân đoạn thị trường mới cần đáp ứng. Đặc biệt, khi mà vịnh Hạ Long đang có cơ hội để trở thành một trong bảy kỳ quan thiên nhiên mới của thế giới, cũng như được quảng bá trên các kênh truyền hình quốc tế như CNN, thì việc tăng lượng khách ở những phân đoạn thị trường có nhu cầu cao là điều tất yêu. Ngoài ra, phân đoạn thị trường khách du lịch công vụ và khách du lịch tham dự hội nghị, triển lãm kết hợp tham quan du lịch để phục vụ để phục vụ cho các sản phẩm du lịch mới như loại sản phẩm du lịch MICE (du lịch kết hợp hội nghị, hội thảo, khen thưởng và triển lãm hội chợ). Vịnh Hạ Long được coi là điểm đến lý tưởng cho việc tổ chức các sự kiện, mà có thể kể đến như: diễn đàn APPF, các cuộc thi Sao Mai, Hoa Hậu Việt Nam…

Tuy nhiên, thực tế cho thấy rằng việc nghiên cứu thị trường khách du lịch vịnh Hạ Long mới chỉ dừng lại ở mức tập trung vào việc khai thác, cập nhập các thông tin, chưa đi sâu vào việc phân tích, đánh giá các số liệu và đưa ra giải pháp. Bên cạnh đó, phải nhấn mạnh rằng số lượng các các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch tại Hạ Long tiến hành nghiên cứu thị trường, xác định thị trường mục tiêu một cách nghiêm túc và có hệ thống vẫn còn khiêm tốn, đa số vẫn chưa xúc tiến công việc này.

  • Hoạt động định vị dịch vụ du lịch

Do thực tế nghiên cứu thị trường, xác định thị trường mục tiêu của các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn còn chủ yếu dựa vào những đánh giá chủ quan từ lượng khách đến hàng năm mà chưa có những nghiên cứu thị trường cụ thể nên việc định vị và xác định vị thế của du lịch vịnh Hạ Long tại các thị trường mục tiêu vẫn dựa trên các dịch vụ hiện có, chưa có chiến lược cụ thể với từng phân đoạn thị trường. Thực tế cho thấy rằng, các doanh nghiệp lữ hành chủ yếu tập trung vào thị trường Trung Quốc, chưa có chiến lược phát triển thị trường, xây dựng sản phẩm đặc trưng.

Sở du lịch Quảng Ninh đã xác định sức hấp dẫn chủ yếu của du lịch Quảng Ninh chủ yếu dựa vào những lợi thế tự nhiên, sẵn có, cảnh quan môi trường vịnh, bãi biển đẹp. Du lịch sinh thái biển là một loại hình du lịch mới đang được khai thác. Về các hoạt động vui chơi giải trí có các hoạt động như biểu diễn nhạc nước, cá heo trên đảo Tuần Châu, câu mực trên vịnh…Sự ra đời và phát triển của các khu du lịch Tuần Châu, công viên Quốc tế Hoàng Gia, khu thương mại và cơ sở dịch vụ tại thành phố Hạ Long đang tạo nên diện mạo mới, làm cho sản phẩm du lịch vịnh Hạ Long đa dạng hơn. Đặc biệt, một số loại hình giải trí mới, dành cho khách có mức chi tiêu cao như: lướt sóng, đua thuyền, chạy cano…đang bát đầu được khai thác nhằm hướng tới khách du lịch từ  Bắc Âu, Mỹ, Nga, Nhật Bản (các quốc gia mà du khách có mức chi tiêu cao).

Mỗi thị trường đòi hỏi sản phẩm du lịch phù hợp, nắm bắt được quan điểm đó, du lịch vịnh Hạ Long cũng đã từng bước điều chỉnh phù hợp. Ví dụ như với thị trường Nhật Bản, ngoài cảnh quan đẹp, các dịch vụ mua sắm, chăm sóc y tế, và spa đang rất hấp dẫn phân đoạn thị trường này. Do đó, các dịch vụ đi kèm của du lịch vịnh Hạ Long như spa, mua sắm cũng đang phát triển cho phù hợp. Tua du lịch dài ngày cao cấp, kết hợp tham quan thắng cảnh với tìm hiểu văn hóa lịch sử lại rất được ưa chuộng bởi du khách đến từ thị trường Tây Ban Nha. Do đó, các doanh nghiệp cung cấp tua du lịch lữ hành trên vịnh đã tiến hành kèm các tua như: Du lịch vịnh Hạ Long, Yên Tử, Vịnh Hạ Long – Cửa Ông giúp du khách có thể tìm hiểu thêm về văn hóa, di tích lịch sử của địa phương… Khóa luận: Thực trạng Marketing dịch vụ du lịch vịnh Hạ Long.

Marketing là tổng hợp của nhiều hoạt động, sau khi tiến hành nghiên cứu thị trường, xác định thị trường mục tiêu, định vị dịch vụ du lịch, ngành du lịch cùng các danh nghiệp cần phải lập chiến lược Marketing với từng nhiệm vụ cụ thể, chi tiết.

3. Thực trạng hoạt động Marketing – mix dịch vụ du lịch

Du lịch Việt Nam nói chung và du lịch Hạ Long nói riêng, trong những năm qua đang bắt đầu quan tâm nhiều hơn tới các hoạt động Marketing, và bước đầu được tiến hành một cách có quy mô. Trong các hoạt động Marketing thì chiến lược Marketing –mix là một trong những giải pháp hữu hiệu nhất, giải quyết các vấn đề từ sản phẩm dịch vụ, định giá, quảng bá, xúc tiến…cho đến tăng cường quan hệ đối tác để đưa ra chiến lược phù hợp cho từng giai đoạn phát triển. Vậy thực trạng Marketing – mix hoạt động du lịch tại vịnh Hạ Long đã diễn ra như thế nào trong giai đoạn 2018 -2024?

 3.1. Sản phẩm dịch vụ du lịch

Trước đây, các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ trên địa bàn thành phố Hạ Long mới chỉ tập trung khai thác các loại hình du lịch đơn thuần, các sản phẩm dịch vụ truyền thống như tham quan các hang động, tắm biển…Nhưng kẻ từ năm 2018 trở lại đây, trên tinh thần của nghị quyết 08/NQ-TU về đổi mới và phát triển du lịch Quảng Ninh giai đoạn 2018-2027, sở du lịch tỉnh, ban quản lý vịnh cũng như các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vưc lữ hành đã có những đầu tư nhất định cho công tác phát triển sản phẩm du lịch vịnh nên nhìn chung sản phẩm du lịch cả vịnh Hạ Long hiện nay tương đối phong phú.

Đa dạng hóa các sản phẩm du lịch: ngoài các loại hình du lịch như tham quan, tìm hiểu thiên nhiên vịnh, tỉnh đã phát triển các loại hình du lịch mua sắm (thông qua các trung tâm thương mại như chợ Hạ Long I, II, siêu thị Hạ Long, chợ đêm Bãi Cháy…), các loại hình dịch vụ chữa bệnh (tắm nước khoáng Quang Hanh, chăm sóc sức khỏe, thẩm mỹ viện…). Các loại hình du lịch mạo hiểm mới cũng đã bắt đầu xuất hiện như: lặn biển, leo núi Bài Thơ, khám phá hang động, đua thuyền, lướt sóng, du lịch sinh thái biển… Khóa luận: Thực trạng Marketing dịch vụ du lịch vịnh Hạ Long.

Nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch: cùng với việc tăng về số lượng các loại hình du lịch trên vịnh, ban quản lý vịnh cũng đã tập trung vào nâng cao chất lượng các sản phẩm du lịch nhằm thu hút khách theo hướng tiêu chuẩn hóa từng dịch vụ cấu thành dịch vụ du lịch như vận chuyển, lưu trú, ăn uống, tuyến điểm, hướng dẫn viên…Hàng năm, căn cứ vào tiêu chuẩn đã thống nhất, tiến hành phân loại và bình chọn doanh nghiệp đạt chất lượng tốt để thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng và giới thiệu với khách hàng.

Như vậy, những chính sách đầu tư phát triển sản phẩm du lịch vịnh Hạ Long của ngành du lịch tỉnh, cũng như sự tham gia nhiệt tình của các doanh nghiệp trong việc vận dụng chính sách sản phẩm Marketing – mix đã mang lại những kết quả đáng khích lệ trong thời gian qua. Các sản phẩm dịch vụ du lịch của vịnh đáp ứng được ba cấp độ là: cấp lợi ích là mang lại sự nghỉ ngơi, thư giãn cho du khách tại địa điểm tham quan…, cấp độ vật chất là hệ thống các phòng ốc, hàng lưu niệm, phương tiện vận chuyển khách, điểm vui chơi giải trí… và cấp bổ sung bao gồm các hoạt động hỗ trợ như an ninh, thu đổi ngoại tệ, khám chữa bệnh, hướng dẫn viên…

Tuy nhiên, phần lớn các sản phẩm du lịch tại vịnh Hạ Long mới chỉ được xây dựng một cách tự phát, không dựa trên một chiến lược phát triển đồng bộ nên thường phát triển manh mún, hay bị trùng lặp, chưa thể hiện được nét đặc trưng, độc đáo của vịnh. Các sản phẩm bổ trợ đã có và khá đa dạng, tuy nhiên chất lượng, cũng như tính hấp dẫn chưa cao. Ngoài ra, các sản phẩm du lịch bổ trợ vẫn ở mức độ chung chung, chưa tạo ra được những hạt nhân để thật sự làm điểm nhấn nhằm thu hút khách du lịch hơn nữa.

3.2. Định giá dịch vụ du lịch Khóa luận: Thực trạng Marketing dịch vụ du lịch vịnh Hạ Long.

Thực hiện Quyết định số 3719/2024/QĐ-UBND ngày 10/10/2024 của UBND tỉnh Quảng Ninh về việc quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí tham quan danh lam thắng cảnh trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, Ban Quản lý Vịnh Hạ Long đã thông báo về việc ban hành, sử dụng và kiểm soát vé tham quan Vịnh Hạ Long, cụ thể với các mức giá thăm quan cho từng tuyến du lịch trên trang web chính thức của vịnh Hạ Long. Chính việc công khai mức giá và đăng tải thông tin trên các phương tiện truyền thông đã giúp khách du lịch, đặc biệt là khách quốc tế cảm thấy yên tâm và tin tưởng khi lựa chọn Hạ Long làm điểm đến. Điều này cũng giúp làm giảm tình trạng “cò mồi”, “chặt chém” khi du khách lần đầu đến tham quan vịnh, giúp ban quản lý vịnh kiểm sát được lượng khách lưu thông.

Tuy nhiên, đối với các loại hình dịch vụ du lịch kèm theo như khách sạn, nhà nghỉ, hoạt động vui chơi, giải trí, hàng lưu niệm…thì việc định giá gần như không được kiểm soát. Đối với Marketing – mix, việc định giá phải dựa trên các tiêu chí về chi phí của doanh nghiệp, khả năng cạnh tranh và nhận thức khách hàng. Trên thực tế, hầu hết các doanh nghiệp trên địa bàn vịnh tự đặt mức giá, và ít chú ý đến khả năng cạnh tranh và vấn đề nhận thức của du khách, dẫn đến giá dịch vụ thường cao hơn so với chất lượng dịch vụ, và không có tính đồng bộ. Hiện nay, giá các dịch vụ trên địa bàn vịnh về các hoạt động giải trí, ăn uống…được đánh giá là cao hơn từ 20-30% mức giá trên thị trường. Đặc biệt, khi vào mùa cao điểm, mức giá này có thể tăng đến 150% mức giá thông thường. Tình trạng “nói thách”, nâng giá vô tội vạ của các mặt hàng tiêu dùng, quà lưu niệm…làm mất lòng tin của khách, cũng như giảm giá trị dịch vụ.

Một vấn đề cần lưu ý đó là tình trạng lộn xộn về giá thuê phòng lưu trú tại khách sạn, nhà nghỉ, nhất là vào mùa du lịch. Hiện tượng này đặc biệt diễn ra tại các khách sạn, nhà nghỉ tư nhân, còn các khách sạn thuộc nhà nước quản lý hoặc các khách sạn 3-4 sao vẫn thường vẫn giữ giá ở mức ổn định, chỉ tăng trong khuôn khổ cho phép. Ngoài ra, việc định giá các sản phẩm du lịch tai vịnh Hạ Long cũng bị ảnh hưởng từ thị trường gửi khách. Do các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ tai điểm đến, không chủ động về nguồn khách, nên đôi khi việc định giá cao do sức ép từ phía các doanh nghiệp gửi khách.

Nhìn chung, việc định giá sản phẩm dịch vụ du lịch vịnh Hạ Long vẫn còn thiếu đồng bộ, định giá ở mức cao, thiếu tính cạnh tranh trên thị trường. Việc định giá mới chỉ dừng ở mức độ của doanh nghiệp, chưa có sự kiểm soát, phối hợp của các bộ ngành có liên quan nhằm bình ổn mức giá. Đây chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng chán nản, mất niềm tin với du khách. Khóa luận: Thực trạng Marketing dịch vụ du lịch vịnh Hạ Long.

3.3. Phân phối dịch vụ du lịch

Các sản phẩm du lịch vịnh Hạ Long đến với du khách thông qua nhiều kênh phân phối khác nhau, trong đó có 2 kênh phân phối chính:

Thứ nhất là kênh phân phối trực tiếp: các khách du lịch nội địa, hoặc khách du lịch tự do thường có kênh lựa chọn thông qua việc mua bán trực tiếp với các công ty, đại lý kinh doanh du lịch của vịnh. Thông thường, khách hàng qua kênh phân phối trên sẽ tự tổ chức tua, tự liện hệ và quyết định các sản phẩm dịch vụ du lịch trên vịnh. Ngoài ra, nhờ có sự hỗ trợ của khoa học công nghệ, hầu hết các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch có quy mô vừa và lớn đều có website riêng, hoặc có link trong các trang website chính thức cuả vịnh Long. Điều này giúp các doanh nghiệp địa phương tiếp cận trực tiếp với khách hàng hiện tại và tiềm năng thông qua giao dịch điện tử trên internet, tạo ra một kênh phân phối trực tuyến.

Kênh phân phối thứ hai là kênh phân phối gián tiếp: đó là các doanh nghiệp lữ hành gửi khách tại các thị trường gửi khách. Trên thực tế, các doanh nghiệp tại Hạ Long không thể bán trực tiếp sản phẩm của mình tới các khách du lịch tại các thị trường mục tiêu như Trung Quốc, Châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc…do chi phí yêu cầu cao và cần phải tập trung nhiều công đoạn. Do đó, các doanh nghiệp này thông qua kênh phân phối của các hãng lữ hành gửi khách tại các thị trường này. Các hãng lữ hành gửi khách tại các thị trường nguồn có thể là các hãng bán buôn, các hãng lữ hành chuyên sâu về từng thị trường nhưng hầu hết đều có các đại lý bán lẻ để trực tiếp bán các sản phẩm dịch vụ du lịch tới khách. Các sản phẩm được bán ra này phải tuân thủ luật pháp nước sở tại, bảo vệ quyền lợi tối đa của du khách.

Ngoài ra, các đại lý phân phối dịch vụ du lịch của Hạ Long cũng đã bắt đầu phối hợp với các đại lý vé máy bay và được phân phối thông qua kênh bán hàng của hãng hàng không, hay tổ chức các tua du lịch trọn gói mà vịnh Hạ Long là 1 trong nhiều điểm đến của du khách (như Sapa_Hạ Long 5 ngày 4 đêm, Cát Bà_Hạ Long…).

3.4. Xúc tiến dịch vụ du lịch Khóa luận: Thực trạng Marketing dịch vụ du lịch vịnh Hạ Long.

Công tác xúc tiến dịch vụ du lịch đã được đặc biệt quan tâm trong những năm gần đây. Từ năm 2018, tỉnh Quảng Ninh đã tổ chức nhiều sự kiện lớn như: Kỉ niệm khánh thành cầu Bãi Cháy, các  hội nghị quốc tế như diễn đàn APPF, các cuộc thi Sao Mai, Hoa hậu Việt Nam… Đặc biệt, lễ hội du lịch Hạ Long được tổ chức thường niên với cách tổ chức ngày càng mới lạ và hấp dẫn hơn. Tỉnh cũng đã tổ chức thành công Năm du lịch Hạ Long 2020 tạo hiệu ứng trong công tác tổ chức lễ hội du lịch quốc gia, tổ chức thành công lễ hội Carnava Hạ Long năm 2024 với quy mô lớn và hình thức mới lạ được dư luận đánh giá cao…Ngoài việc tổ chức các sự kiện du lịch, vịnh hạ Long cũng đã xây dựng website riêng, với mục đích khuếch trương hình ảnh, giúp du khách trong nước và ngoài nước thuận tiện trong việc tra cứu, tìm hiểu thông tin.

Quỹ quảng bá xúc tiến du lịch được hình thành từ năm 2020, bình quân mỗi năm nguồn chi từ ngân sách là 1,2 tỷ đã tạo ra nguồn lực quan trọng góp phần đổi mới hoạt động xúc tiến, quảng bá theo hướng chuyên nghiệp, thông tin về du lịch vịnh Hạ Long đến với du khách bằng nhiều hình thức sinh động, hấp dẫn; hình ảnh du lịch vịnh Hạ Long đang ngày càng thu hút sự quan tâm của du khách.

Hợp tác quốc tế về phát triển du lịch trong những năm qua đạt được nhiều kết quả, Du lịch Hạ Long đã thiết lập và mở rộng nhiều quan hệ hợp tác với nhiều trung tâm du lịch của các quốc gia như: Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Pháp, tham gia câu lạc bộ những vịnh đẹp nhất thế giới, chính thức trở thành thành viên của diễn đàn du lịch Đông Á (Eatof). Đặc biệt, mối quan hệ hợp tác giữa các tỉnh Quảng Tây, Hải Nam (Trung Quốc) đã đi vào thực chất hơn, góp phần thiết thực vào sự phát triển các hoạt động du lịch hai nước, đặc biệt là tuyến du lịch Bắc Hải – Hạ Long được bạn đánh giá cao.

Tuy nhiên, hoạt động xúc tiến dịch vụ du lịch còn ở mức đơn giản, chưa đủ thu hút sự quan tâm của số đông du khách. Bên cạnh đó, các hoạt động diễn ra vẫn còn một số tồn tại và thiếu sót. Thứ hai, các hoạt động quảng bá vẫn chủ yếu là của nhà nước, tỉnh và các cơ quan hữu quan, thiếu sự tham gia đóng góp của các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch trên địa bàn. Bản thân các doanh nghiệp cũng tổ chức, xúc tiến nhiều hoạt động quảng bá, đa số vẫn ở thế bị động. Chính vì những lí do đó, công tác xúc tiến dịch vụ du lịch vịnh Hạ Long vẫn chưa mang lại kết quả cao.

3.5. Con người Khóa luận: Thực trạng Marketing dịch vụ du lịch vịnh Hạ Long.

Năm 2018 số lao động trực tiếp tham gia các hoạt động du lịch khoảng 9,500 và khoảng 19,000 lao động gián tiếp. Đến năm 2024, du lịch vịnh Hạ long tiếp nhận khoảng 18,000 lao động trực tiếp và 35,000 lao động gián tiếp. Như vậy, trong vòng 7 năm du lịch vịnh Hạ Long đã góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, tăng thu nhập, nâng cao mức sống cho người dân. Tuy nhiên, theo thống kê, chất lượng lao động còn thấp, số lượng lao động được đào tạo chuyên ngành du lịch chỉ chiếm khoảng 50%, trình độ ngoại ngữ hạn chế. Ngoài ra, các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch trên địa bàn cũng cần phải quan tâm đến thái độ phục vụ của nhân viên đối với khách hàng. Du lịch vốn được coi là ngành lao động sống, con người chính là nhân tố tạo nên sản phẩm du lịch hoàn hảo. Thực tế cho thấy, nhiều nhân viên ở các cửa hàng, quầy lễ tân đối xử với khách một cách uể oải, hời hợt. Nhân viên trong các nhà hàng, khách sạn chưa thật sự tận tình, chu đáo với khách, phong cách phục vụ chưa chuyên nghiệp. Số lượng hướng dẫn viên du lịch thông thạo ngoại ngữ là rất nhỏ. Nhận thức được điều đó, trong giai đoạn vừa qua, tỉnh đã chỉ đạo và hỗ trợ ngành du lịch phối hợp với các trường đại học, cao đẳng du lịch mở nhiều lớp đào tạo hướng dẫn viên cho hơn 300 học viên, đào tạo nâng cao cho 150 nhân viên buồng bàn, 4 lớp tiếng Nhật, 2 lớp tiếng Hàn cho hơn 100 học viên và liên tục mở lớp bồi dưỡng kiến thức du lịch cho trên 3000 thủy thủ, thuyền viên phục vụ trên các tàu chở khách tham quan vịnh Hạ Long.

Ngoài ra, tỉnh cũng đã có kế hoạch sắp xếp các cơ sở dạy nghề du lịch, nâng cấp trường trung cấp Văn hóa Nghệ thuật và Du lịch tỉnh Quảng Ninh thành Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật và Du lịch Hạ Long nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đào tạo nguồn nhân lực. Có thể nói, trong giai đoạn này sở du lịch cũng như tỉnh Quảng Ninh đã đầu tư nhiều hơn vào công tác đào tạo nguồn nhân lực. Đây là một trong những chiến lược quan trọng trong công tác Marketing dịch vụ du lịch vịnh Hạ Long.

3.6. Quy trình phục vụ Khóa luận: Thực trạng Marketing dịch vụ du lịch vịnh Hạ Long.

Du lịch vịnh Hạ Long hiện nay đã quan tâm nhiều hơn tới vấn đề chuyên nghiệp hóa quy trình phục vụ, đặc biệt là tại các công ty lữ hành. Hiện nay đã có một số doanh nghiệp trên địa bàn thành phố như HaLong tourism và các doanh nghiệp đặt tại các thị trường mục tiêu tổ chức các chương trình sản phẩm du lịch vịnh trọn gói. Nhiều sản phẩm du lịch trọn gói hấp dẫn, phù hợp với thị hiếu và cơ cấu chi tiêu của khách du lịch, chẳng hạn các sản phẩm trọn gói giữa vé máy bay, xe đưa đón và khách sạn…Ngoài ra, hiện nay còn có sự tham gia phối kết hợp của của các công ty lữ hành, dịch vụ vận chuyển, ngân hàng, mua sắm…càng làm tăng tính đồng bộ của quy trình sản phẩm du lịch trọn gói vịnh Hạ Long.

Tuy nhiên, do hạn chế về chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ ngành du lịch nên quy trình phục vụ trong kinh doanh dịch vụ du lịch vịnh Hạ Long vẫn chưa được đánh giá cao, chưa tương xứng với tầm vóc khi vịnh Hạ Long đang đứng trước cơ hội trở thành 1 trong 7 kỳ quan thiên nhiên mới của thế giới. Nhiều du khách phàn nàn về các dịch vụ, đặc biệt trong lĩnh vực khách sạn, nhà hàng. Những nhân viên trong ngành chưa được đào tạo bài bản, như nhân viên phục vụ bàn, quầy bar. Ví dụ như nhân viên phục vụ bàn, họ phải chắp tay sau chứ không được để trước mặt, rót rượu cho khách từ đằng sau chứ không phải xuất hiện từ đằng trước…Tuy nhiên, chỉ một số ít nhà hàng, khách sạn đạt được tiêu chuẩn này.

Nhìn chung, các cơ quan và đơn vị kinh doanh dịch vụ du lịch vịnh Hạ Long đã có nhiều đầu tư và quan tâm hơn tới chất lượng phục vụ tại các nhà hàng, khách sạn, đồng thời tổ chức đào tạo và nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ nhân viên thực hiện. Tuy nhiên, chất lượng của quy trình phục vụ  tại đa số các cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch trên vịnh vẫn chưa thực sự hoàn thiện, thiếu tính chuyên nghiệp.

3.7. Cơ sở vật chất Khóa luận: Thực trạng Marketing dịch vụ du lịch vịnh Hạ Long.

Cơ sở vật chất phục vụ khách tham quan du lịch trên Vịnh được quan tâm đầu tư. Theo thống kê, hoạt động du lịch vịnh Hạ Long đã thu hút nguồn đầu tư lớn, đạt và vượt chỉ tiêu. Từ năm 2018, vịnh đã thu hút trên 30 dự án phát triển du lịch và dịch vụ, tổng vốn đăng ký đạt 5,500 tỷ đồng. Trong đó có 14 dự án đầu tư cơ sở hạ tầng các khu du lịch với tổng mức đầu tư được duyệt bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước khoảng 443 tỷ đồng, đến năm 2024 đã thực hiện 230 tỷ đồng; 16 dự án đầu tư nước ngoài với tổng vốn đăng ký khoảng 1904 tỷ đồng; các doanh nghiệp và cơ sở kinh doanh dịch vụ lưu trú và các dự án vui chơi khoảng 2,568 tỷ đồng.

Năm 2018, toàn thành phố Hạ Long có 166 cơ sở lưu trú, với tổng số 2358 phòng nghỉ, trong đó có 19 khách sạn được xếp hạng từ 1 đến 4 sao với 877 phòng. Đến cuối năm 2023, thành phố đã có ư hơn 600 cơ sỏ lưu trú, với tổng số 7665 phòng, trong đó có 47 khách sạn được xếp từ 1 đến 4 sao, 4360 phòng. Tính đến năm 2024,  thành phố Hạ Long có khoảng 300 khách sạn từ 1 sao đến 4 sao (hiện thành phố vẫn chưa có khách sạn 5 sao) với 4500 phòng nghỉ và nhều khách sạn mini cơ bản đáp ứng được nhu cầu của khách du lịch. Sự tăng trưởng về số lượng khách sạn, nhà nghỉ  ở Hạ Long được đánh giá là nhanh nhất ở Việt Nam trong những năm gần đây. Bên cạnh đó, chất lượng của các khách sạn và nhà nghỉ cũng đang được củng cố, đáp ứng được yêu cầu về cơ sở, trang thiết bị hiện đại, quy trình phục vụ. Một số khách sạn có uy tín trên địa bàn có thể kể đến như: Khách sạn Dream, Hertage, khách sạn Công Đoàn…

Ngoài ra, dịch vụ lưu trú tàu nghỉ đêm trên vịnh cũng phát triển khá nhanh, năm 2019 có 16 tàu với 134 phòng, đến đầu năm 2024 đã có 90 tàu với 680 phòng tương đương 3 đến 4 sao. Đa số cơ sơ lưu trú được đầu tư mới trong những năm gần đây đều có qui mô lớn hơn, chất lượng dịch vụ và cống suất sử dụng buồng phòng cao hơn. Xu thế này góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ, chất lượng tăng trưởng. Khóa luận: Thực trạng Marketing dịch vụ du lịch vịnh Hạ Long.

Cơ sở vật chất là yếu tố quan trọng trong kinh doanh dịch vụ du lịch. Đây chính là căn cứ hữu hình để du khách đánh giá chất lượng dịch vụ, từ đó đi đến quyết định có tiêu dùng dịch vụ đó hay không. Nhận thức được tầm quan trọng này của cơ sở vật chất, trong những năm gần đây, ngành du lịch cũng như các doanh nghiệp kinh doanh trên địa bàn thành phố đã triển khai các kế hoạch xây dựng, củng cố thêm các cơ sở lưu trú, khu vui chơi giải trí, nhà hàng ăn uống… Theo thống kê, hoạt động du lịch vịnh Hạ Long đã thu hút nguồn đầu tư lớn, đạt và vượt chỉ tiêu. Từ năm 2018, vịnh đã thu hút trên 30 dự án phát triển du lịch và dịch vụ, tổng vốn đăng ký đạt 5,500 tỷ đồng. Trong đó có 14 dự án đầu tư cơ sở hạ tầng các khu du lịch với tổng mức đầu tư được duyệt bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước khoảng 443 tỷ đồng, đến năm 2024 đã thực hiện 230 tỷ đồng; 16 dự án đầu tư nước ngoài với tổng vốn đăng ký khoảng 1904 tỷ đồng; các doanh nghiệp và cơ sở kinh doanh dịch vụ lưu trú và các dự án vui chơi khoảng 2,568 tỷ đồng.

Ngoài ra, nhờ các nguồn đầu tư của nhà nước, cùng với việc áp dụng các cơ chế chính sách đầu tư của tỉnh, từ năm 2018 đến nay, cơ  sở hạ tầng cho phát triển du lịch được cải thiện đáng kể: Hoàn thành nâng cấp tuyến đường từ sân bay Nội Bài về Hạ Long, đường 18A từ Hạ Long đi Cửa Ông, cải tạo nâng cấp cảng tàu du lịch… tạo thuận lợi và mở ra triển vọng phát triển du lịch.

Hệ thống phòng nghỉ trong các khách sạn, nhà nghỉ tăng nhanh, đến năm 2024 có khoảng khách sạn từ 1 sao đến 4 sao (hiện thành phố vẫn chưa có khách sạn 5 sao) với 4500 phòng nghỉ và nhều khách sạn mini cơ bản đáp ứng được nhu cầu của khách du lịch.  Bên cạnh đó, chất lượng của các khách sạn và nhà nghỉ cũng đang được củng cố, đáp ứng được yêu cầu về cơ sở, trang thiết bị hiện đại, quy trình phục vụ. Một số khách sạn có uy tín trên địa bàn có thể kể đến như: Khách sạn Dream, Heritage, khách sạn Công Đoàn Khóa luận: Thực trạng Marketing dịch vụ du lịch vịnh Hạ Long.

Đối với các phương tiện vận chuyển: tốc độ đầu tư tàu thuyền vận chuyển khách tham quan vịnh Hạ Long tăng bình quân 9%/năm, vốn đầu tư trong 7 năm qua đạt khoảng 900 tỷ đồng. Chất lượng tàu thuyền được cải thiện đáng kể, loại hình dịch vụ này đạt hiệu quả kinh doanh cao và có xu hướng phát triển tốt trở thành một trong những sản phẩm du lịch đặc trưng của vịnh.

Các phương tiện vận chuyển đường bộ cũng phát triển khá nhanh, chất lượng tốt. Hiện nay, tại Quảng Ninh có trên 200 đầu xe ô tô vận chuyển khách du lịch sang tọng hoạt động theo tuyến Hà Nội- Hạ Long Hạ Long- Móng Cái. Một số loại hình khác như xích lô du lịch, xe ngựa…cũng bắt đầu xuất hiện tại khu du lịch Bãi Cháy tạo ra sự phong phú cho khách du lịch.

Mặc dù vậy, nhìn chung cơ sở vật chất ngành du lịch hiện nay vẫn chưa thật sự đồng bộ, chất lượng chưa cao. Về dịch vụ lưu trú, số cơ sở lưu trú cao cấp chưa nhiều, loại hình khách sạn vẫn chiếm tỷ trọng chủ yếu. Đối với các dịch vụ ăn uống, các nhà hàng đặc sản phục vụ khách du lịch còn ít, chất lượng cơ sở vật chất tại các nhà hàng không cao. Ngoài ra, việc quản lý, xây dựng các công trình cũng còn nhiều bất cập. Kiến trúc cảnh quan không gian đô thị và khu du lịch tại thành phố Hạ Long vẫn chưa khai thác hết các  giá trị thiên nhiên và các nét văn hóa bản địa. Tình trạng xây dựng các công trình kiên cố sát bãi biển tại Bãi Cháy là một minh chứng về việc phá vỡ môi trường du lịch vịnh.

3.8. Quan hệ đối tác

Nhận thức được tầm quan trọng của quan hệ đối tác trong Marketing dịch vụ du lịch, trong những năm trở lại đây, sự phối hợp liên ngành đã được áp dụng và phát huy tác dụng. Ngay sau khi UBND tỉnh có kế hoạch về phát triển du lịch vịnh, các ngành, các địa phương đã chủ động phối hợp triển khai, xây dựng kế hoạch thưc hiện nhiệm vụ được giao, tạo nên sức mạnh tổng hợp khai thác tài nguyên, tạo môi trường kinh doanh du lịch thông thoáng. Các ngành và các địa phương như công an, bưu chính, giao thông… góp phần quan trọng vào thành công của ngành du lịch. Cùng với đó là sự hợp tác giữa bản thân các doanh nghiệp trong ngành, ví dụ như sự hợp tác giữa các doanh nghiệp lữ hành, khách sạn, dịch vụ ăn uống… tạo những tua du lịch trọn gói chất lượng cao. Phối hợp giữa các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ, các đại lý du lịch, giữa doanh nghiệp du lịch trong và ngoài nước.

Hợp tác quốc tế về phát triển du lịch trong những năm qua  cũng đạt được nhiều kết quả, Du lịch Hạ Long đã thiết lập và mở rộng nhiều quan hệ hợp tác với nhiều trung tâm du lịch của các quốc gia như: Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Pháp, tham gia câu lạc bộ những vịnh đẹp nhất thế giới, chính thức trở thành thành viên của diễn đàn du lịch Đông Á (Eatof). Đặc biệt, mối quan hệ hợp tác giữa các tỉnh Quảng Tây, Hải Nam (Trung Quốc) đã đi vào thực chất hơn, góp phần thiết thực vào sự phát triển các hoạt động du lịch hai nước, đặc biệt là tuyến du lịch Bắc Hải – Hạ Long được bạn đánh giá cao.

III. Đánh giá hoạt động Marketing dịch vụ du lịch của vịnh Hạ Long trong thời gian qua Khóa luận: Thực trạng Marketing dịch vụ du lịch vịnh Hạ Long.

Du lịch vịnh Hạ Long là một ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh Quảng Ninh trong những năm qua. Với những nỗ lực đầu tư, tăng cường cho phát triển, du lịch vịnh Hạ Long đã đạt được những bước tiến lớn. Trong số những nỗ lực đó, hoạt động Marketing dịch vụ du lịch có những đóng góp đáng kể vào sự tăng trưởng hiện nay của ngành du lịch. Marketing dịch vu du lịch đã đạt được nhứng thành tựu xuất sắc trong việc quảng bá, nâng cao hình ảnh của vịnh Hạ Long đến du khách nhưng đồng thời vẫn còn nhiều tồn tại cần giải quyết để thực sự đưa vịnh Hạ Long trở thành điểm đến số một trên thế giới, cũng như bước đầu trở thành 1 trong 7 kỳ quan thiên nhiên mới của thế giới (theo bình chọn của tổ chức Newopen World).

1. Những thành tựu đạt được Khóa luận: Thực trạng Marketing dịch vụ du lịch vịnh Hạ Long.

Nhìn tổng quan hoạt động du lịch 7 năm qua (2018-2024), công tác Marketing vịnh Hạ Long đạt được những kết quả có ý nghĩa rất quan trọng. Du lịch Hạ Long đã có những chuyển đổi căn bản cả về chất và lượng, giá trị tăng thêm từ du lịch vịnh đóng góp gần 12% vào mức tăng GDP toàn tỉnh, tạo nhiều việc làm và thu nhập cho người lao động. Phát triển du lịch vịnh cũng đã có sự gắn kết với phát triển vùng. Hoạt động nghiên cứu thị trường, xác định thị trường mục tiêu tại các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch đã được xác lập, và phát huy tác dụng. Các doanh nghiệp cũng đã xác định các tua phù hợp với khách hàng ở từng đoạn thị trường, cung cấp những dịch vụ hấp dẫn đối với khách hàng mục tiêu.  Hoạt động Marketing – mix cũng mang lại nhiều thành tựu đáng kể. Các sản phẩm dịch vụ du lịch phong phú hơn với sự xuất hiện của nhiều loại hình du lịch mới. Công tác xúc tiến dịch vụ du lịch được quan tâm và đầu tư nhiều hơn, với các hoạt động như tổ chức lễ hội, tham gia các hội chợ triển lãm, trở thành thành viên của các tổ chức quốc tế có uy tín. Cơ sở hạ tầng, cơ sở dịch vụ du lịch được nâng cấp bổ sung mới với tôc độ nhanh; một số sản phẩm du lịch mới có sức cạnh tranh được đưa vào khai thác làm tăng thêm sức hấp dẫn. Năng lực vận chuyển khách du lịch nhanh, chất lượng được nâng lên, đáp ứng nhu cầu đi lại của du khách. Hệ thống các nhà nghỉ, buồng phòng tăng cả về số và chất lượng. Quan hệ hợp tác quốc tế được tăng cường mở rộng, hình ảnh và thương hiệu du lịch Hạ Long ngày càng trở nên nổi tiếng, được biết đến rộng rãi hơn đối với bạn bè quốc tế, tạo tiền đề thuận lợi cho tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. Công tác quản lý các hoạt động Marketing trên thị trường được quan tâm, tạo nên sự phối hợp đồng bộ giữa các cấp, các ngành. Điều đáng lưu ý là các cấp, các ngành và cộng đồng dân cư đang ngày càng nắm rõ tác dụng của Marketing đối với phát triển dịch vụ du lịch. Khóa luận: Thực trạng Marketing dịch vụ du lịch vịnh Hạ Long.

Bên cạnh những thành tựu trên, hoạt động Marketing dịch vụ du lịch vịnh Hạ Long vẫn còn nhiều điều đáng bàn.

2. Những tồn tại cần khắc phục

Hoạt động Marketing dịch vụ du lịch ở vịnh Hạ Long mới được tiến hành ở giai đoạn đầu nên còn nhiều tồn tại. Nếu xét theo các tiêu chí: giá cả, cơ sở hạ tầng, môi trường Marketing, tiến bộ công nghệ, nguồn nhân lực, thì marketing hoạt động dịch vụ du lịch vịnh vẫn chưa phát huy được hết các khả năng, dẫn đến năng lực cạnh tranh của vịnh vẫn còn ở mức thấp.

Thứ nhất, sản phẩm du lịch vịnh chủ yếu dựa vào những lợi thế tự nhiên sẵn có. Sản phẩm và dịch vụ tại các điểm đến vẫn còn nghèo nàn, đơn điệu, chưa tạo được tính đặc thù, chất lượng nhiều dịch vụ chưa được đảm bảo. Nhiều dịch vụ hỗ trợ như: dịch vụ vui chơi giải trí, dịch vụ văn hóa, dịch vụ mua sắm vẫn còn thiếu. Thêm vào đó, phần lớn các sản phẩm du lịch được xây dựng một cách tự phát, không dưạ trên chiến lược phát triển đồng bộ nên thường phát triển manh mún, hay bị trùng lặp, không thể hiện được bản sắc đặc trưng, độc đáo của Hạ Long. Công tác quy hoạch và đầu tư sản phẩm du lịch còn hạn chế.

Thứ hai, định giá sản phẩm du lịch vịnh vẫn còn ở mức cao, thiếu sự thống nhất và kiểm soát của các cơ quan chủ quản. Hiện tượng “ nói thách”, nâng giá tùy ý vẫn còn tồn tại. Mức giá phòng, giá các dịch vụ giải trí không đồng bộ, do các doanh nghiệp tự đặt ra nhằm đạt mục tiêu về lợi nhuận. Giá cả các dịch vụ tại vịnh được đánh giá là chưa tương xứng với chất lượng dịch vụ. Mức giá đặt ra vẫn chưa dựa trên các tiêu chí về chi phí, khả năng cạnh tranh và độ thỏa dụng của khách hàng.

Thứ ba, kênh phân phối chủ yếu dựa vào thị trường gửi khách, đặc biệt là với nhóm khách du lịch đến từ các thị trường mục tiêu như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Châu Âu…Bản thân các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch cũng như các cơ quan chủ quản vẫn thiếu tính chủ động trong việc tìm thị trường mới. Hoạt động phân phối dịch vụ du lịch tại các thị trường mục tiêu không được kiểm soát tốt, vẫn bị động dựa vào các công ty lữ hành trung gian tại các thị trường mục tiêu.

Thứ tư, tính chuyên nghiệp trong công tác tuyên truyền quảng bá còn hạn chế, chưa làm tốt công tác xã hội hóa các hoạt động xúc tiến. Nhiều các hoạt động quảng bá, tổ chức sự kiện được thực hiện, tuy nhiên chưa thu hút được sự quan tâm của đông đảo khách du lịch. Một số hoạt động quảng bá vẫn còn bộc lộ những sai sót, bất cập. Các doanh nghiệp du lịch chậm chuyển biến về nhận thức, thiếu sự liên kết để nâng cao năng lực cạnh tranh, quan tâm xây dựng môi trường và hình ảnh điểm đến du lịch vịnh Hạ Long. Các hình thức quảng bá vẫn chưa thực sự đa dạng và phong phú, hoạt động xúc tiến chưa diễn ra một cách thường xuyên liên tục. Khóa luận: Thực trạng Marketing dịch vụ du lịch vịnh Hạ Long.

Thứ năm, nhân lực ngành du lịch số đông chưa được đào tạo chính quy, bài bản, thiếu cán bộ chuyên môn sâu về ngoại ngữ, giỏi ở nhiều lĩnh vực như: hướng dẫn viên, quản lý khách sạn, lễ tân…chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển, việc đào tạo còn phân tán, manh mún không sát thực tế, kém chất lượng. Một số cơ sở đào tạo còn nặng về mục đích thương mại, thiếu sự gắn kết giữa cơ sở đào tạo với các doanh nghiệp.

Thứ sáu, các doanh nghiệp du lịch tại địa bàn vịnh đa phần có qui mô nhỏ phân tán, thiếu sự hợp tác, liên kết, chưa tạo thành một chuỗi cung ứng dịch vụ liên hoàn, năng lực cạnh tranh hạn chế. Các doanh nghiệp lữ hành chủ yếu tập trung vào một thị trường Trung Quốc, chưa có chiến lược phát triển thị trường.

Thứ bảy, cơ sở vật chất vẫn còn chưa tương xứng với tiềm năng phát triển của vịnh Hạ Long. Vào các đợt cao điểm, lượng phòng nghỉ vẫn chưa đáp ứng được hết nhu cầu của khách du lịch. Các dự án xây dựng cơ sở vật chất rời rạc, chắp vá, đôi khi gây lãng phí tài nguyên và cảnh quan vịnh, nên chưa thật sự thu hút được các nhà đầu tư, kinh doanh quốc tế có thương hiệu lớn. Kiến trúc cảnh quan và không gian đô thị và khu du lịch vịnh chưa khai thác được giá trị cảnh quan và các nét văn hóa trên địa bàn.

Thứ tám, quy trình phục vụ khách còn thiếu tính chuyên nghiêp, đồng bộ, chưa tuân theo những quy chuẩn quốc tế. Ngoài ra, kết quả của quy trình phục vụ còn phụ thuộc vào những yếu tố khách quan của các khâu khác như vận chuyển, bưu chính…đôi khi dẫn đến sự rườm rà, và khó kiểm soát đối với bản thân các doanh nghiệp du lịch.

Ngoài ra, môi trường Marketing đặc biệt là môi trường vĩ mô còn nhiều bất cập: công tác bảo vệ môi trường tuy đã được thường xuyên quan tâm nhưng vẫn đang bộc lộ nhiều vấn đề bức xúc, đặc biệt là áp lực đối với môi trường vịnh Hạ Long. Ý thức bảo vệ, giữ gìn vệ sinh môi trường của các doanh nghiệp chưa cao, trách nhiệm của cộng đồng nhìn chung còn hạn chế. Về môi trường pháp lý, hệ thống các văn bản pháp quy còn thiếu và còn có vấn đề bất cập so với thực tiễn. Môi trường tự nhiên, kinh tế và xã hội chưa thực sự góp phần thúc đẩy sự phát triển của các sản phẩm du lịch. Bên cạnh đó, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý các hoạt động du lịch còn ở mức thấp. Các yếu tố của môi trường văn hóa vẫn chưa được quan tâm đầy đủ trong việc định vị các sản phẩm du lịch, cũng như tạo ra các giá trị văn hóa đặc trưng của du lịch vịnh Hạ Long.

Công tác nghiên cứu thị trường mới chỉ dừng ở mức độ thu thập số liệu, chưa đi vào công tác phân tích, nghiên cứu cụ thể từng thị trường. Các thị trường mục tiêu, trọng điểm bước đầu đã được xác định nhưng lại thiếu thông tin và các hoạt động xúc tiến du lịch cụ thể tại các thị trường này. Việc tìm hiểu nhu cầu của khách du lịch tại thị trường này gần như được coi là nhiệm vụ của các đại lý du lịch lữ hành, trung gian du lịch tại địa phương đó. Ngoài ra, việc định vị sản phẩm du lịch chưa được triển khai trên từng phân đoạn thị trường, với từng đối tượng khách hàng mục tiêu. Bên cạnh đó, thị trường khách nội địa đóng góp hơn 50% tổng doanh thu của du lịch vịnh, nhưng công tác điều tra nghiên cứu thị trường gần như bị bỏ ngỏ. Đây có thể là do tâm lý chủ quan của các doanh nghiệp, đánh giá chưa đúng về mức độ cạnh tranh của các tua du lịch trong nước đang ngày càng phát triển. Khóa luận: Thực trạng Marketing dịch vụ du lịch vịnh Hạ Long.

Nguyên nhân cơ bản nhất của các hạn chế trên trước hết là do vấn đề nhận thức. Nhận thức về vai trò của các hoạt động Marketing trong việc xây dựng hình ảnh, một thương hiệu cho du lịch vịnh Hạ Long, xây dựng sản phẩm du lịch còn hạn chế ở một số đối tượng tham gia vào quá trình phát triển du lịch. Việc thiếu sự phối hợp giữa các ban ngành quản lý và các doanh nghiệp đã tạo nên sự không đồng bộ trong công tác tổ chức, xúc tiến các hoạt động Marketing dịch vụ. Bên cạnh đó, hoạt động Marketing dịch vụ du lịch vịnh Hạ Long vẫn còn tồn tại những thiếu sót trong đầu tư tổng thể cho cơ sở hạ tầng, việc quy hoạch, rà soát đầu tư còn thiếu đồng bộ, thiếu sự gắn kết giữa phát triển vùng và phát triển tổng thể. Các hệ thống, chính sách hỗ trợ từ các ban ngành Trung ương, địa phương đã có nhưng vẫn chưa thực sự đi sâu, đi sát, thiếu tính nhất quán.Chiến lược quảng bá hình ảnh của vịnh Hạ Long cần thực hiện mang tầm quốc gia.

Những tồn tại trên buộc các ban ngành quản lý du lịch vịnh Hạ Long cũng như các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch trên địa bàn phải có những kế hoạch, chiến lược Marketing cụ thể để khắc phục những thiếu sót, nhằm quảng bá hình ảnh của vịnh Hạ Long đến với du khách trong nước và quốc tế một cách tốt nhất.

Vịnh Hạ Long với lợi thế về giá trị du lịch, sinh thái, văn hóa đã thực sự mang lại cho du lịch vịnh những tiềm năng phát triển to lớn. Cùng với đó là sự quan tâm, chỉ đạo, phối kết hợp của các ban ngành đặc biệt chú trong tới hoạt động Marketing dịch vụ du lịch vịnh trong thời gian qua, đã mang lại những thành tựu đáng khích lệ đối với du lịch vịnh. Lượng khách du lịch vịnh trong giai đoạn 2018-2024 tăng nhanh, kéo theo sự tăng lên về doanh thu, đóng góp vào mức tăng trưởng kinh tế cao của toàn tỉnh Quảng Ninh, cơ sở vật chất phục vụ du lịch được đầu tư nâng cấp. Hoạt động Marketing dịch vụ du lịch từng bước được thực hiện và thực sự phát huy được hiệu quả, góp phần không nhỏ vào việc nâng cao hình ảnh vịnh Hạ Long đến với bạn bè trong nước và quốc tế. Tuy nhiên, cùng với những kết quả đã đạt được, hoạt động Marketing cũng vẫn còn bộc lộ mốt số thiếu sót và hạn chế, cần khắc phục để giúp vịnh Hạ Long có thể phát huy hết những tiềm năng du lịch vốn có. Chính vì vậy, ở chương III của khóa luận, tác giả xin trình bày một số biện pháp đề xuất góp phần tăng cường hoạt động Marketing vịnh Hạ Long, từ đó giúp quảng bá hơn nữa hình ảnh vịnh Hạ Long đến với du khách. Khóa luận: Thực trạng Marketing dịch vụ du lịch vịnh Hạ Long.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>> Khóa luận: Giải pháp Marketing quảng bá hình ảnh vịnh Hạ Long

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Góp ý
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993