Khóa luận: Thực trạng Marketing Du lịch tại Cao Bằng

Rate this post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Thực trạng Marketing Du lịch tại Cao Bằng hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Khóa luận: Thực trạng Marketing Du lịch tại Cao Bằng dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

3.1. Tổng quan về hoạt động Marketing Du lịch tại Cao Bằng

Hoạt động Marketing trong du lịch Cao Bằng với mục đích cung cấp những thông tin chính xác và cập nhật về tiềm năng và hoạt động của ngành du lịch, thu hút cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho việc du lịch của du khách, đồng thời giới thiệu và khơi dậy lòng tự hào về những giá trị lịch sử truyền thống, văn hóa dân tộc, giáo dục ý thức bảo vệ môi trường và nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp các ngành đối với sự phát triển du lịch của tỉnh.

Dựa trên Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Cao Bằng giai đoạn 2023- 2026 và Quyết định thành lập Ban chỉ đạo Nhà nước cấp tỉnh về Du lịch, phối hợp với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch cùng hoạt động đã tạo điều kiện cho việc phát triển du lịch, tạo sự liên kết, liên ngành trong việc chỉ đạo và hoạch định quy hoạch xây dựng các ngành, các cấp, thống nhất chủ trương chính sách phát triển. Ban chỉ đạo Nhà nước cấp tỉnh về Du lịch đã quan tâm đến công tác đầu tư cho các điểm du lịch, chương trình xúc tiến quảng cáo, … và đã có những hiệu quả nhất định. Khóa luận: Thực trạng Marketing Du lịch tại Cao Bằng.

3.2. Nghiên cứu Marketing du lịch

Trong nghiên cứu Marketing , vịêc t̀im hiểu và phân tích thái đ̣ô của khách hàng về dịch vụ là rất quan trọng . Vì thế, người viết tḥưc hịên điều tra để nắm bắt đựơc rõ hơn những phản hồi của khách du ḷich sau khi tham quan du ḷich ṭai Cao Bằng nhằm tìm hiểu nhu cầu và thái đ̣ô của khách du ḷich về cảnh quan , dịch vụ du lịch tại Cao Bằng , thái độ và hiểu biết của khách du ḷich với chiến Marketing du lịch Cao Bằng , so sánh với chiến lược của một số t̉inh có cùng điều kịên và đối tượng kinh doanh để phân tích hiệu quả của chiến lược Marketing và có những nhận định về sản phẩm, chiến lược Marketing và thị trường (Xem Pḥu ḷuc 2).

3.2.1. Nghiên cứu khách hàng

Theo kết quả điều tra nghiên cứu khách hàng cho thấy , có 25% số người đựơc hỏi thụôc đối tựơng khách cao tuổi , 44% thụôc đối tựơng khách trung niên và 31% thụôc đối tựơng khách trong độ tuổi thanh niên . Khách cao tuổi chủ yếu là đối tựơng khách du lịch và khách tham quan , khách thanh niên thuộc đối tượng khách lữ hành. Như vậy về tuổi tác, quá 50% đối tượng khách có độ tuổi từ 35 tuổi trở lên.

  • Phân loại theo mục đích chuyến du lịch, khách nội địa du lịch tại Cao Bằng thường là các đối tượng khách sau:

Khách du lịch thuần túy, đến Cao Bằng du lịch theo chương trình tour trọn gói, tham quan các danh lam thắng cảnh và di tích lịch sử, mua sắm; Trong đó bao gồm cả đối tượng khách cao tuổi đến thăm quan các cụm di tích lịch sử, giao lưu như Hội Cựu chiến binh, Hội người cao tuổi các tỉnh, tập trung tham quan và giao lưu văn hóa, kiến thức;

Khách đi du ḷich kết hợp với công tác , thăm hỏi người thân ; Đây không phải dạng khách du lịch thuần túy, chỉ đến tham quan du lịch, không có nhu cầu về ăn ngủ, nghĩ dưỡng tại khách sạn và khu du lịch;

Khách du lịch trẻ tự tổ chức chương trình, đối tượng khách này đi theo lộ trình và chương trình đã lên sẵn, thường là bạn bè thân thiết hoặc gặp gỡ nhau tại các diễn đàn và mạng xã hội trên internet, có cùng sở thích du lịch “bụi”, đi du lịch nhằm mở mang kiến thức, thỏa mãn sở thích và đam mê của tuổi trẻ; Khóa luận: Thực trạng Marketing Du lịch tại Cao Bằng.

Khách du lịch nội địa đến Cao Bằng chủ yếu đến từ các tỉ nh lân c̣ân (Lạng Sơn, Thái Nguyên, Quảng Ninh .. ) và thủ đô Hà Nội ; Các thị trường khách du lịch khác vẫn đang ở dạng tiềm năng. Do dịch vụ du lịch chưa thực sự thỏa mãn khách du lịch, do điều kiện giao thông không thuận lợi, khách du lịch nội địa đến Cao Bằng ít khi trở lại du lịch nhiều lần.

Khách quốc tế đến Cao Bằng qua điều tra gồm các đối tượng khách:

  • Khách Quảng Tây sang tham quan, du lịch, mua sắm tại Cao Bằng;
  • Khách Trung Quốc du lịch Việt Nam qua cửa khẩu Cao Bằng;
  • Khách châu Âu, châu Mỹ theo chương trình du lịch xuyên Việt;
  • Các đối tượng khách khác theo chương trình công tác, khảo sát, nghiên cứu, từ thiện;

Như vậy có thể thấy, đối tượng khách từ các nước châu Á – Thái Bình Dương chủ yếu là khách Trung Quốc. Đặc điểm của khách du lịch từ khu vực này là du lịch theo đoàn với số lượng đông, ăn và nghỉ trong một khu, ưa thích ăn nghỉ tại các nhà hàng có thực đơn viết bằng tiếng mẹ đẻ của họ hoặc tiếng Anh, và lưu trú trong các khách sạn có nhân viên nói được hoặc biết ngôn ngữ của họ. Tuy nhiên tại Cao Bằng, hiện nay năng lực ngoại ngữ (tiếng Anh, tiếng Trung) của nhân viên phục vụ chỉ đáp ứng được 60% so với yêu cầu, các ngoại ngữ khác đều không có nhân lực, do đó nhằm nỗ lực thu hút các nhóm khách nước ngoài mục tiêu từ các nước Châu Á – Thái Bình Dương thì du lịch Cao Bằng cần cải thiện kỹ năng ngôn ngữ, không chỉ cho nhân viên tiếp đón khách mà còn những lãnh đạo có vai trò quan trọng khác. Ý kiến phản hồi từ đối tượng khách du lịch Quảng Tây, do một số nét trong ẩm thực, văn hoá – văn nghệ, cảnh quan khá tương đồng giữa Cao Bằng – Quảng Tây, ví dụ có món rau rừng mà bà con Cao Bằng phải lên núi lấy thì nhân dân Quảng Tây lại trồng ngay trong vườn nhà, do đó đối tượng khách này ưa chuộng và đánh giá cao sự khác biệt của Cao Bằng và văn hoá riêng của Việt Nam , như các món bánh cổ truyền, trang phục áo dài, …

Khách du lịch đến từ Mỹ và các nước châu Âu vốn có xu hướng ưa thích mạo hiểm, phiêu lưu, khám phá. Đối tượng khách này ưa thích nghỉ tại cơ sở lưu trú sang trọng, tiện nghi, giá thành cao; nhưng bên cạnh đó họ cũng ưa thích nghỉ tại những địa điểm ngoài trời và mang bản sắc dân tộc, như nghỉ lại trong nhà sàn và sinh hoạt cùng người dân tộc; Hiện nay ở Cao Bằng đã hình thành các tuyến du lịch thám hiểm rừng núi và khu vực biên giới trong thời gian 4-5 ngày, ăn nghỉ tại bản làng người dân tộc, mỗi vị khách nước ngoài kèm theo một hướng dẫn viên du lịch địa phương đi kèm để hướng dẫn và phục vụ. Chương trình này đã thu hút được lượng lớn khách du lịch quốc tế, nhưng hiện nay do công tác quảng cáo chưa tốt nên độ phổ biến chưa rộng rãi, bên cạnh đó là nguy cơ thiếu hướng dẫn viên và cộng tác viên khi mùa khách cao điểm.

Về phản hồi của khách du lịch, theo kết quả điều tra, 100% khách du lịch quốc tế và 87% khách du lịch nội địa cho rằng cảnh quan du lịch Cao Bằng đẹp và có sức thu hút cao (5/5 điểm), chỉ có 13% khách nội địa cho rằng phong cảnh Cao Bằng chưa có đặc trưng riêng và nổi bật hơn so với nhiều địa phương khác. Các hình thức du lịch đã và đang được phát triển tại Cao Bằng, như du lịch nghỉ dưỡng, du lịch thám hiểm, du lịch sinh thái, du lịch hội thảo, du lịch tìm hiểu khám phá, du lịch mua sắm đều là những loại hình du lịch được ưa thích, việc kết hợp các loại hình du lịch trên hợp lý và linh hoạt sẽ làm hài lòng du khách cao hơn.

3.2.2. Nghiên cứu đối thủ cạnh tranh Khóa luận: Thực trạng Marketing Du lịch tại Cao Bằng.

  • Đối thủ cạnh tranh của ngành

Đối thủ cạnh tranh của ngành du lịch Cao Bằng là các tỉnh lân cận, có đặc điểm văn hóa, cảnh quan tương đối giống với Cao Bằng, được du khách đưa ra thành các phương án khi lựa chọn địa điểm du lịch. Theo điều tra, các tỉnh được cho là có điều kiện tương đối giống với Cao Bằng, đó là Hà Giang (23%), Lạng Sơn (45%), Tuyên Quang (14%), các tỉnh khác (Ninh Bình, Thái Nguyên, ..).

Bảng 3.1. So sánh tổng doanh thu, lượng khách du lịch năm 2024 của Cao Bằng và các tỉnh lân cận

STT Tỉnh Tổng doanh thu (tỷ đồng) Lượng khách (người)
Khách nội địa Khách quốc tế
1 Cao Bằng 31,5 241.724 9.740
2 Hà Giang 115,3 137.555 49.445
3 Tuyên Quang 450 458.348 6.652
4 Lạng Sơn 347,8 810.000 80.567

Nguồn: Tác giả tổng hợp từ Internet Khóa luận: Thực trạng Marketing Du lịch tại Cao Bằng.

Từ bảng số liệu trên, ta có thể thấy, các tỉnh lân cận Cao Bằng đều phát triển du lịch tương đối tốt, có doanh thu và lượng khách du lịch cao hơn ở Cao Bằng rất nhiều lần. Tổng doanh thu du lịch của Hà Giang đạt 115 tỷ đồng trong năm 2024, cao gấp 3,7 lần so với tổng doanh thu du lịch Cao Bằng, do Hà Giang thực hiện tốt công tác Marketing du lịch, định hướng phát triển toàn diện ngành du lịch, trong năm 2024 Hà Giang đón lượng khách du lịch quốc tế cao.

Trong du ḷich, đ̣ia phương nào càng làm tốt công tác dịch vụ và nắm bắt, tận dụng được cơ cấu chi tiêu trên của du khách, sẽ tận thu được chi tiêu của du khách và đạt doanh thu cao. Qua bảng so sánh, ta có thể thấy: các tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang, Lạng Sơn có nhiều nét tương đối giống Cao Bằng, trước hết là về vấn đề văn hóa, do Cao Bằng chủ yếu có cộng đồng người Tày sinh sống, nên có sự tương đồng về văn hóa với Tuyên Quang và Lạng Sơn – hai tỉnh cũng có đông đồng bào Tày, Nùng, Dao định cư lâu đời. Xét về yếu tố di tích lịch sử, Tuyên Quang cũng là địa danh để lại dấu ấn lãnh tụ và mốc son lịch sử vẻ vang của dân tộc. Về du lịch mua sắm, Hà Giang và Lạng Sơn đều có cửa khẩu thông thương với Trung Quốc (Bảng 3.2).

Hà Giang có cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ mang đậm nét hoang sơ và nhiều vùng du lịch còn giữ nguyên bản sắc văn hóa dân tộc độc đáo, chưa bị thương mại hóa, môi trường du lịch trong lành… là sức hút đối với du khách. Thế mạnh của du lịch Hà Giang là du lịch khám phá, du lịch văn hóa, du lịch nghỉ dưỡng chữa bệnh… Ðể tạo sức hấp dẫn với du khách, Hà Giang tổ chức lại hệ thống mạng lưới du lịch từ tỉnh đến cơ sở nhằm phục vụ tốt nhất cho du khách, xây dựng được 29 điểm du lịch văn hóa dân tộc và các làng bản văn hóa du lịch cộng đồng, phát triển và đa dạng hóa các loại sản phẩm du lịch thế mạnh, đồng thời tăng cường hợp tác phát triển trong và ngoài nước, liên kết quảng bá; thực hiện đào tạo nguồn nhân lực theo hướng chuẩn hóa đội ngũ, nỗ lực xây dựng môi trường du lịch ngày càng văn minh, thân thiện… làm cho hình ảnh Hà Giang ngày một rõ nét hơn.

Lạng Sơn – có điều kiện văn hóa tương đồng với Cao Bằng, do điều kiện giao thông thuận lợi (đường bộ và đường sắt liên vận quốc tế, là đầu mối giao thông của khu vực Trung Quốc – ASEAN), và đặc biệt chú trọng phát triển thế mạnh du lịch mua sắm, theo thống kê của Tổng cục Thống kê, Lạng Sơn luôn là địa phương có chi tiêu/khách/ngày cao nhất cả nước. Năm 2024, Lạng Sơn có những hoạt động xúc tiến cụ thể như: Thiết kế, in ấn 10.000 tờ rơi quảng bá du lịch thành phố; triển khai sử dụng tờ rơi, sách hướng dẫn du lịch đến các cơ sở kinh doanh du lịch, dịch vụ, điểm du lịch, các đơn vị vận chuyển hành khách trong và ngoài tỉnh; hoàn thành kế hoạch thông tin du lịch tại Bến xe khách Lạng Sơn; xây dựng 03 biển chỉ dẫn du lịch trên địa bàn thành phố… Thời gian tới, Lạng Sơn tiếp tục chú trọng đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến, quảng bá tiềm năng du lịch, nhằm thu hút du khách đến tham quan, du lịch. Khóa luận: Thực trạng Marketing Du lịch tại Cao Bằng.

Có thể thấy, các tỉnh lân cận Cao Bằng dù có nhiều nét tương đồng nhưng đã khéo léo khai thác tốt các đặc trưng và ưu thế riêng của từng tỉnh để tạo ra hình ảnh riêng cho m̀inh, cùng các chính sách Marketing phù hợp với tình hình từng tỉnh , đã đem ḷai hịêu quả du ḷich cao. Trong nghiên cứu chiến lược Marketing và phát triển du lịch, Cao Bằng có thể học được từ các tỉnh nhiều bài học quý báu.

Cao Bằng Hà Giang Lạng Sơn Tuyên Quang
Dân tộc – Văn hóa Tày, Nùng, Dao, H’Mông, Việt, Hoa, Sán Chay. Việt, Tày, H’Mông, Dao, Sán Dìu. Việt, Tày, Dao, Nùng. Việt, Tày, Dao, Sán Chay.
Cửa khẩu Cửa khẩu quốc tế Tà Lùng. Cửa khẩu quốc gia Thanh Thuỷ. Cửa khẩu quốc tế: Đồng Đăng, Hữu Nghị; cửa khẩu quốc gia: Chi Ma, Bình Nghi, Tân Thanh, Cốc Nam. Không có cửa khẩu.
Thắng cảnh- di tích lịch sử thế mạnh Thác Bản Giốc, Khu Di tích Pác Bó, hồ núi Thang Hen. Đồng Văn, Quản Bạ, Mèo Vạc, Suối Tiên, Động Én, hang Chui, hang Phương Thiện; dinh họ Vương. Núi Mẫu Sơn, đền Mẫu, động Tam Thanh, hòn Vọng Phu, chợ Kỳ Lừa. Di tích lịch sử Tân Trào; Thác Mơ – Nà Hang; Suối nước khoáng Mỹ Lâm.
Giao thông ṿân tải Cách Hà Nội 285km, đường quốc lộ 3 và quốc lộ 4. Cách Hà Nội 320km, Hà Giang có Quốc lộ 2, quốc lộ 34, quốc lộ 279. Cách Hà Nội 154 km; Quốc lộ 1A, 1B, 4A, 4B, 31, 279; tuyến đường sắt liên vận quốc tế. Cách Hà Nội 165km; Các tuyến Quốc lộ: 2, 37, 2C, 379; ngoài ra còn có đường thủy.

Bảng 3.2. So sánh điểm tương đồng giữa Cao Bằng và các tỉnh lân cận

  • Đối thủ cạnh tranh của đơn vị kinh doanh du lịch tại Cao Bằng

Trên địa bàn tỉnh Cao Bằng, công ty cổ phần du lịch Cao Bằng trực thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Cao Bằng và công ty Khách sạn Bằng Giang là hai đơn vị được cấp phép kinh doanh lữ hành quốc tế, nội địa với các chức năng phục vụ dịch vụ du lịch khác như kinh doanh nhà hàng, khách sạn, kinh doanh vận tải hành khách liên tỉnh và quốc tế. Do môi trường kinh doanh còn nhiều hạn chế, nên dịch vụ của các đơn vị trên chưa mang tính cạnh tranh cao, chưa có chiến lược khai thác và chiếm lĩnh thị trường nội địa. Đối thủ cạnh tranh của các đơn vị trên chính là những công ty kinh doanh lữ hành và dịch vụ du lịch nội địa và quốc tế, khai thác cùng đối tượng khách đi du lịch tại Cao Bằng và đưa khách Cao Bằng đi du lịch tại các địa phương khác.

3.2.3. Đánh giá hoạt động kinh doanh và thị trường du lịch của Cao Bằng Khóa luận: Thực trạng Marketing Du lịch tại Cao Bằng.

  • Điểm mạnh

Du lịch là ngành kinh tế hoạt động chủ yếu trên tài nguyên du lịch, mà du lịch tỉnh Cao Bằng có tiềm năng to lớn để phát triển với nhiều di tích và thắng cảnh nổi tiếng, hấp dẫn du khách trong và ngoài nước. Tài nguyên du lịch tỉnh Cao Bằng đa dạng và phong phú, cả về tài nguyên du lịch địa phương và tài nguyên du lịch nhân văn. Tài nguyên trong tỉnh cũng phân bố tương đối tập trung, hình thành các cụm, khu du lịch có sức thu hút cao.

Ngành du lịch Cao Bằng đã và đang nhận được rất nhiều sự quan tâm của các ban ngành, cấp lãnh đạo trong tỉnh, bằng các hình thức ưu đãi, ưu tiên phát triển. Công tác quản lý Nhà nước về du lịch trên địa bàn tỉnh ngày càng được tăng cường, hoàn chỉnh. Các nghị định, quyết định về quy hoạch du lịch trên địa bàn tỉnh tương đối sát hợp với điều kiện du lịch và kinh tế của tỉnh.

Điều kiện giao thông vận tải, bưu chính viễn thông, điện nước và các mạng lưới cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật trong ngành du lịch phát triển trong một chừng mực, là biển hiện đáng mừng của ngành du lịch tỉnh Cao Bằng.

  • Điểm yếu

Doanh thu từ các dịch vụ du lịch không cao do thời gian lưu lại ngắn và các dịch vụ du lịch còn nhiều hạn chế, không đồng bộ. Việc nghiên cứu sản phẩm phù hợp với từng thị trường chưa được quan tâm đầy đủ, chất lượng sản phẩm du lịch chưa cao và không thể hiện được rõ nét bản sắc của địa phương;

Phối hợp giữa các cơ quan chức năng với cơ quan quản lý chuyên ngành còn thiếu chặt chẽ nên trong tổ chức hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện các chính sách, chế độ đối với các đơn vị tham gia hoạt động phục vụ du lịch trên địa bàn còn gặp nhiều khó khăn. Khóa luận: Thực trạng Marketing Du lịch tại Cao Bằng.

Các cơ sở, tụ điểm vui chơi giải trí chưa được hình thành. Các cụm du lịch đều chưa hoàn chỉnh, hầu hết đều đang khai thác ở dạng tự nhiên, chương trình du lịch còn nghèo nàn và trùng lặp; các mặt hàng lưu niệm chưa đáp ứng được thị hiếu, việc mở các tour và tuyến du lịch mới còn hạn chế;

Công tác xúc tiến và quảng bá cho hoạt động du lịch chưa thực sự sâu rộng, do vốn đầu tư cho hoạt động Marketing còn thấp, việc tiếp cận thị trường trong tình trạng bị động, nhận thức về vai trò quan trọng của Marketing du lịch còn kém;

Vốn đầu tư cho du lịch địa phương còn rất hạn chế. Để ngành du lịch Cao Bằng thực sự phát triển cần phải có một số vốn lớn để xây dựng cơ sở hạ tầng trong khi các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Cao Bằng hiện nay không đủ sức thực hiện. Các nhà kinh doanh nước ngoài tuy có sang khảo sát nhưng cũng chưa dám mạnh dạn đầu tư do giao thông đi lại còn quá khó khăn (Để đến được Cao Bằng, du khách chỉ có thể di chuyển bằng đường bộ mất rất nhiều thời gian và công sức). Vốn đầu tư hạn chế cũng kéo theo tình trạng các dịch vụ phục vụ du khách: chỗ ăn nghỉ, lưu niệm, các loại hình vui chơi giải trí… vẫn chưa được xây dựng đồng bộ.

Đội ngũ nhân viên hoạt động trong ngành du lịch của Cao Bằng còn thiếu cả về số lượng lẫn tính chuyên nghiệp trong phục vụ. Sự gia tăng về số lượng, chất lượng, năng lực nghiệp vụ, trình độ quản lý của đội ngũ lao động và cán bộ quản lý trong ngành vẫn còn yếu và thiếu trước nhu cầu phát triển du lịch, trong khi vấn đề con người là một nhân tố hết sức quan trọng với sự phát triển ngành. Việc đầu tư cho đào tạo và tái đào tạo nhân viên chưa được các doanh nghiệp quan tâm.

  • Cơ hội

Thị trường khách du lịch tiềm năng từ những địa phương trong nước, có điều kiện đẩy mạnh khai thác nếu làm tốt công tác Marketing, quảng bá du lịch; bên cạnh đó là thị trường Quảng Tây, Trung Quốc với dân số hơn 50 triệu dân với những thủ tục quá cảnh thuận lợi cũng là thị trường khách du lịch tiềm năng;

Cơ hội đầu tư từ các nhà đầu tư nước ngoài và liên doanh vào các khu du lịch trong tỉnh; Cùng với các ngành công nghiệp nặng, nhẹ và thủ công nghiệp đang trên đà phát triển trong tỉnh, sẽ là một động lực lớn cho ngành du lịch tỉnh Cao Bằng;

Điều kiện phát triển và hội nhập kinh tế theo xu hướng quốc tế hóa, đem lại nhiều cơ hội và nhiều cạnh tranh đến các doanh nghiệp, đơn vị kinh doanh du lịch trên địa bàn tỉnh Cao Bằng, đưa ra những khó khăn, thách thức mới, đòi hỏi các đơn vị phải chuyên nghiệp hơn, dịch vụ phong phú và độc đáo hơn, mang tính cá biệt hóa cao; Xu hướng toàn cầu hóa cũng sẽ kéo theo kinh tế và du lịch các tỉnh vùng biên phát triển mạnh. Khóa luận: Thực trạng Marketing Du lịch tại Cao Bằng.

  • Nguy cơ

Việc xây dựng tràn lan thiếu quy hoạch các khu giải trí, cơ sở lưu trú sẽ phá vỡ cảnh quan thiên nhiên và cân bằng sinh thái; yếu tố môi trường cần được đặt lên hàng đầu, nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững;

Sự phát triển du lịch chưa đảm bảo sự phát triển bền vững, khi môi trường sinh thái tại các điểm du lịch đang bị suy giảm ở những mức độ khác nhau. Việc xây dựng các cơ sở hạ tầng thiếu quy hoạch cũng làm phá vỡ cảnh quan của khu du lịch;

Phát triển du lịch cần chú ý đến các nguy cơ tiềm ẩn về chính trị, văn hóa, kinh tế và an ninh quốc phòng.

3.3. Công tác định vị sản phẩm, phân đoạn thị trường, ḷưa cḥon tḥi trường ṃuc tiêu

Định vị sản phẩm là chỉ rõ đặc trưng của chính du lịch Cao Bằng, phân biệt với những thị trường và đối thủ cạnh tranh khác, để khách hàng có thể nhận ra được sự khác biệt và nét độc đáo. Việc định vị sản phẩm có ảnh hưởng lớn đến toàn bộ kế hoạch Marketing. Cao Bằng có nhiều tiềm năng du lịch, du khách khi đến với Cao Bằng sẽ được nghe và cảm nhận “mảnh đất nhiều huyền thoại”, “cái nôi của cách mạng”, “phên dậu của Tổ quốc”, với hình ảnh đặc trưng là thác Bản Giốc, núi Các Mác – suối Lê nin, cô gái Tày bên cây đàn tính. Việc định vị sản phẩm của du lịch Cao Bằng mới thể hiện qua những h̀inh ảnh tài nguyên du ḷich, không thể hịên đựơc tịên ích và đ̣ăc trưng của ḍich ṿu ; chưa ṿân ḍung đựơc giá trị sâu sắc của các slogan trên qua sản phẩm, dịch vụ du lịch trong hoạt động xúc tiến , quảng bá du lịch. Các đơn ṿi kinh doanh du ḷich và lữ hành trên đ̣ia bàn t̉inh chưa áp  dụng công tác định vị cho sản phẩm, phân đọan tḥi trường và ḷưa cḥon tḥi trường ṃuc tiêu.

Hiện nay ngành du lịch Cao Bằng chưa làm tốt chiến lược Marketing mảng phân đoạn thị trường và lựa chọn thị trường mục tiêu. Đối tượng khách đến Cao Bằng đều sử dụng chung một loại dịch vụ, không có sự phân cấp phân tầng, các chính sách cho riêng đối tượng nào. Chính sách Marketing của Cao Bằng còn mang tính chung chung. Có thể nói, du ḷich Cao Bằng coi toàn bộ khách du lịch trên thị trường là đối tượng để đáp ứng nhu cầu, coi toàn bộ thị trường là thị trường mục tiêu, không chú ý đến việc phân đoạn thị trường. Tỉnh và ngành thường xuyên cử các cán bộ lãnh đạo khảo sát và nghiên cứu thị trường Quảng Tây và các tỉnh khác trong nước, tuy nhiên hiệu quả từ các hoạt động này vẫn chưa rõ ràng và nổi bật. Với nguồn vốn đầu tư và năng lực còn hạn chế, việc không không phân đoạn thị trường và lựa chọn thị trường mục tiêu của ngành du lịch Cao Bằng sẽ không mang lại hiệu quả cao và gây lãng phí nguồn lực.

3.4. Chính sách Marketing Mix Khóa luận: Thực trạng Marketing Du lịch tại Cao Bằng.

3.4.1. Chính sách sản phẩm

Về dịch vụ du lịch, các tuyến du lịch mà hiện tại Cao Bằng đang tổ chức và khai thác gồm có:

  • Tuyến du lịch liên tỉnh: Chủ yếu là liên doanh, liên kết theo hình thức nối tour và hợp tác lữ hành:
  • Tuyến: Hà Nội – Thái Nguyên – Bắc Cạn – Cao Bằng:

Các điểm du lịch liên tuyến là: Thủ đô Hà Nội, hồ Núi Cốc, hồ Ba Bể, thác Bản Giốc; tổng chiều dài khoảng 350km theo đường quốc lộ 3; tuyến du lịch này thu hút khách bởi các sản phẩm du lịch như: du lịch tham quan các di tích, thắng cảnh, du lịch đô thị, shopping, du lịch sinh thái, du lịch văn hóa… với thời gian lưu trú trên tuyến từ 5-7 ngày hoặc tùy theo nhu cầu của khách du lịch.

  • Tuyến Cao Bằng – Lạng Sơn – Quảng Ninh:

Các điểm du lịch liên tuyến là: thác Bản Giốc, Pác Bó, di tích chiến thắng Đông Khê (Cao Bằng), các di tích ở Lạng Sơn (chợ Đông Kinh, Kỳ Lừa, chùa Tam Thanh…), vịnh Hạ Long (Quảng Ninh), tổng chiều dài tuyến khoảng 400km theo đường quốc lộ 4, thời gian lưu trú từ 3-5 ngày, thu hút khách bởi các sản phẩm du lịch như tham quan danh thắng, du lịch văn hóa, du lịch đô thị, mua sắm, sinh thái, nghỉ dưỡng và tắm biển.

Tuyến du lịch quốc tế: Do đặc thù tỉnh có đường biên giới với Trung Quốc và điều kiện giao thông đi lại, điều kiện xuất nhập cảnh ngày càng được thuận lợi nên việc đưa khách sang Trung Quốc du lịch và đưa khách Trung Quốc vào Việt Nam mang nhiều tiềm năng và là hướng khai thác chủ yếu với du lịch quốc tế của Cao Bằng.

  • Tuyến du lịch thị xã Cao Bằng – Trịnh Tây
  • Tuyến du lịch thị xã Cao Bằng – Long Châu
  • Tuyến du lịch thị xã Cao Bằng – Nam Ninh
  • Tuyến du lịch thị xã Cao Bằng – Bắc Kinh – Thượng Hải

Các tuyến du lịch nội tỉnh theo sự phân bố các điểm di tích và thắng cảnh trên địa bàn:

  • Thị xã Cao Bằng – Trùng Khánh: Sản phẩm du lịch chủ yếu là tham quan các thắng cảnh (thác Bản Giốc, động Ngườm Ngao, du lịch leo núi kết hợp tham quan các bản làng dân tộc);
  • Thị xã Cao Bằng – Quảng Uyên – Phục Hòa: Tham quan di tích đền, chùa, cửa khẩu, du lịch quá cảnh và mua sắm;
  • Thị xã Cao Bằng – Thạch An: Sản phẩm du lịch chủ yếu là tham quan các di tích tại cụm di tích chiến thắng Đông Khê và thăm các bản làng dân tộc Tày; Khóa luận: Thực trạng Marketing Du lịch tại Cao Bằng.
  • Thị xã Cao Bằng – Hòa An: Tham quan các điểm di tích lịch sử cách mạng và văn hóa, tham quan làng nghề dệt thổ cẩm tại thị trấn Nước Hai;
  • Thị xã Cao Bằng – Hà Quảng: Sản phẩm du lịch chủ yếu là tham quan các di tích cách mạng tại cụm di tích Pác Bó, mộ Kim Đồng, tham quan các bản làng dân tộc Tày và tham quan, mua sắm tại cửa khẩu Sóc Hà;
  • Thị xã Cao Bằng – Nguyên Bình: Sản phẩm du lịch chủ yếu là tham quan các di tích tại khu di tích rừng Trần Hưng Đạo, Phai Khắt và Nà Ngần, du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng và hội thảo.

Đây là những tuyến du lịch chủ đạo trong tổng thể lãnh thổ du lịch Cao Bằng, nơi tập trung các nguồn tài nguyên du lịch và hệ thống cơ sở vật chất tương đối tốt cho hoạt động du lịch và là tâm điểm đầu tư xây dựng, tôn tạo cho các chương trình du lịch của tỉnh Cao Bằng hiện tại và tương lai.

Thái độ phục vụ của các nhân viên phục vụ trong ngành du lịch Cao Bằng được đánh giá là nhã nhặn, lịch sự, hầu hết nhân viên đều là người dân tộc thiểu số có tấm lòng hiếu khách và nhiệt tình. Tuy nhiên do trình độ còn hạn chế nên tác phong phục vụ chưa chuyên nghiệp.

  • Về sản phẩm du lịch hữu hình, có thể có những nhận xét như sau:

Cơ sở lưu trú và phòng nghỉ không ngừng được nâng cấp, cải tạo, tuy nhiên hiện nay chất lượng và số lượng của các cơ sở lưu trú chưa đáp ứng được nhu cầu và yêu cầu của sự phát triển ngành du lịch;

Thực đơn trong các nhà hàng chưa phong phú. Số lượng món ăn còn hạn chế và không thể hiện được nét tinh tế trong ẩm thực của Cao Bằng;

Các dịch vụ hoạt động vui chơi giải trí vẫn còn nghèo nàn. Không có sức hấp dẫn đối với du khách;

Các sản phẩm lưu niệm mang bản sắc của Cao Bằng đang ngày càng bị mai một do hàng Trung Quốc tràn sang thị trường Cao Bằng, mặt khác do quá trình thương mại hóa không có quản lý, người dân bản địa chưa ý thức được tầm quan trọng của các sản phẩm này trong việc phát triển du lịch địa phương.

Về chất lựơng ḍich ṿu nói chung , theo điều tra của tác giả , chỉ có 20% số người đựơc hỏi cho rằng chất lựơng pḥuc ṿu du ḷich ở Cao Bằng tốt , 70% số người đựơc hỏi cho rằng ḍich ṿu ở Cao Bằng khá và chấp nḥân đựơc. Như ṿây tăng cường chất lựơng ḍich ṿu là điều rất quan tṛong trong phát triển du ḷich Cao Bằng.

3.4.2. Chính sách giá Khóa luận: Thực trạng Marketing Du lịch tại Cao Bằng.

Như đã đề cập đến trong chương I, chính sách giá do nhiều nhân tố bên ngoài và bên trong tạo thành. Các yếu tố bên ngoài có thể kể đến như tính thời vụ, thường trong mùa du lịch, lượng khách nhiều mà số lượng cung ứng hạn chế, giá phòng và các dịch vụ khác sẽ tăng giá. Các yếu tố bên trong cấu thành nên giá có thể kể đến như: giá tour định sẵn, biến phí tour (giá phòng khách sạn, thuế và dịch vụ phí, ăn uống, tiền tip/ boa cho người phục vụ, dịch vụ tham gia, chi phí vận chuyển), định phí tour (chi phí quảng cáo, lương và chi phí cho người điều hành tour, chi phí cho nhà tổ chức, … ). Tương tự, giá tour du lịch Cao Bằng ảnh hưởng lớn bởi chi phí đi lại do điều kiện giao thông còn hạn chế, giao thông liên tỉnh chỉ có đường bộ, tuyến đường tương đối xa do vậy du lịch liên tỉnh, quốc gia thường mất nhiều chi phí và thời gian cho việc đi lại. Giá lưu trú ở Cao Bằng không chênh lệch nhau nhiều, với phòng nghỉ đạt tiêu chuẩn giá phòng từ 150.000 – 250.000 đồng đối với phòng quốc tế và 100.000 – 150.000 đồng với phòng nội địa trong một đêm, đựơc đánh giá là thấp so với ṃăt bằng giá lưu trú.

Xét theo mức cảm nhận về giá của khách thì khách du lịch Cao Bằng có thể chia làm hai nhóm sau:

Hình 3.1. Đường cầu nhóm khách 1, cầu ít co giãn khi giá tăng

Nhóm 1 là những du khách quốc tế từ châu Mỹ, châu Âu đến Cao Bằng du lịch, do tâm lý và thu nhập họ không băn khoăn đến các chi phí du lịch, chỉ cần thỏa mãn được yêu cầu của họ về chất lượng và tâm lý. Tương tự với đối tượng khách thương gia, hoặc khách đi du lịch kết hợp nghiên cứu, hội thảo, khi giá tăng trong phạm vi hợp lý sẽ không ảnh hưởng lớn đến lượng cầu (Hình 3.1). Do đó với riêng các đối tượng khách có thu nhập cao và sẵn sàng có mức chi trả tốt hơn cho việc sử dụng dịch vụ, thì cần phân cấp các phòng nghỉ chất lượng cao, các chương trình du lịch với dịch vụ tốt hơn, sao cho vừa làm hài lòng khách du lịch, vừa tạo nguồn thu hợp lý cho đơn vị kinh doanh.

Nhóm 2 là đối tượng khách nội địa, mục đích du lịch tham quan thuần tuý, với tâm lý muốn sử dụng càng nhiều dịch vụ trên một đồng chi phí bỏ ra, do đó việc tăng 1% về giá sẽ làm ảnh hưởng đến lượng cầu vì khi đó khách hàng sẽ cân nhắc lựa chọn đến những địa điểm và địa phương du lịch có tính cạnh tranh khác. Tuy nhiên đối tượng này rất nhạy cảm về giá nên các chương trình khuyến mãi, giảm giá sẽ phát huy tác dụng trong việc thu hút lượng khách hàng để tăng tổng doanh thu.

Hình 3.2. Đường cầu nhóm khách 2, cầu co giãn khi giá tăng

Chính sách Marketing của Cao Bằng chưa thể hiện rõ được định hướng tập trung vào doanh thu hay lượng khách. Đối tượng khách du lịch không thuần túy (đi kết hợp nhiều mục đích ngoài du lịch như thăm hỏi người thân, hội thảo, thương mại…) có tỷ trọng lớn trong khách du lịch Cao Bằng, do vậy việc tính toán sao cho tận thu chi tiêu của khách du lịch là hết sức quan trọng.

3.4.3. Chính sách phân phối Khóa luận: Thực trạng Marketing Du lịch tại Cao Bằng.

Ngành du lịch Cao Bằng không có văn phòng đại diện hay đại lý du lịch tại các địa phương trong nước hay nước ngoài, tuy nhiên có các hình thức liên kết, liên doanh phối hợp đưa khách đi tham quan, du lịch từ các tỉnh khác và Trung quốc đến Cao Bằng. Các kênh phân phối này còn đơn giản, chủ yếu ở kênh cấp không và kênh cấp một.

Hình 3.3. Kênh phân phối cấp không

Theo sơ đồ trên, người cung ứng du lịch tại Cao Bằng tổ chức thực hiện chào bán tour khai thác được thị trường khách hoặc nhận đặt tour từ khách du lịch, sau đó phục vụ dịch vụ, tour đến khách du lịch, đây là kênh phân phối đơn giản nhất, tiết kiệm chi phí nhất, người cung ứng du lịch sẽ tiếp xúc trực tiếp với khách du lịch.

Sơ đồ 3.4. Kênh phân phối cấp một

Tại sơ đồ kênh phân phối cấp một này, khách du lịch theo tour được tổ chức sẵn đến Cao Bằng thông qua một đại lý du lịch từ các tỉnh hoặc từ Trung Quốc, lúc này các đơn vị du lịch tại Cao Bằng ký hợp đồng đại lý hoặc hợp đồng liên kết, liên doanh. Hình thức kênh phân phối cấp một này chủ yếu được áp dụng trong trường hợp đưa khách Trung Quốc vào du lịch Cao Bằng.

Các kênh phân phối du lịch tại Cao Bằng tương đối giản đơn và chưa chuyên nghiệp, chưa có sự phối hợp các kênh phân phối hỗn hợp với các nhà bao gói du lịch, văn phòng du lịch, kênh chuyên biệt … để phân phối và hoạt động du lịch. Có thể thấy chính sách phân phối chưa được vận dụng linh hoạt và chưa thực sự phát huy tác dụng trong hoạt động du lịch Cao Bằng, thông tin không đến được với khách hàng qua các kênh phân phối đã có, các kênh phân phối đưa khách hàng đến với sản phẩm hiệu quả chưa cao. Điển hình khi mùa du lịch đến, việc điều tiết phương tiện vận tải, phòng nghỉ khách sạn khó thực hiện và kiểm soát bởi tình hình phát triển tự phát và không theo kế hoạch của các cơ sở kinh doanh, dẫn đến tình trạng thừa thiếu phòng nghỉ, phương tiện vận tải thường xuyên xảy ra. Khóa luận: Thực trạng Marketing Du lịch tại Cao Bằng.

3.4.4. Chính sách xúc tiến và quảng bá

Một trong những hạn chế của hoạt động du lịch tại Cao Bằng là công tác xúc tiến tuyên truyền quảng cáo. Điều này đã hạn chế đáng kể hiệu quả kinh doanh, sụ phát triển du lịch của tỉnh Cao Bằng.

Trong thời gian từ 2020 – 2024, ngành du lịch Cao Bằng tập trung xúc tiến quảng bá du lịch dưới nhiều hình thức. Các hoạt động Marketing nhằm tuyên truyền, quảng bá mà ngành du lịch tỉnh Cao Bằng tập trung thực hiện:

  • Xây dựng được các tấm biển quảng cáo cỡ lớn đặt tại các khu du lịch trọng điểm…
  • Xuất bản các ấn phẩm, sách hướng dẫn du lịch Cao Bằng, tờ rơi, bản đồ du lịch, sách giới thiệu chương trình du lịch.
  • Thực hiện và xuất bản các đĩa VCD ca nhạc, phim tài liệu về đời sống đồng bào dân tộc thiểu số trong tỉnh, các bài hát dân ca.
  • Tổ chức định kỳ Hội thi chế biến các món ăn dân tộc tỉnh, tham gia các hội thi toàn quốc.
  • Tổ chức khảo sát thị trường và bàn việc phối hợp hoạt động du lịch với các tỉnh, thành phố như Hà Nội, Thái Nguyên, Hà Tây, Ninh Bình..
  • Khảo sát thị trường du lịch và gặp gỡ lãnh đạo ngành du lịch Quảng Tây – Trung Quốc để bàn việc phát triển du lịch giữa hai bên.

Bảng 3.3. Tình hình đầu tư cho công tác tuyên truyền và quảng bá du lịch

Đơn vị: Triệu đồng

Năm 2020 2021 2022 2023 2024
Tổng đầu tư 198,2 113,2 106,4 222,5 183,5
1. SX tài liệu 98,3 28,5 93,9 185,1 152,3
2. XD biển quảng cáo 99,9 84,7 12,5 16,8 18,9
3.  Tuyên truyền qua báo, internet 0 0 0 20,6 12,3

Nguồn: – Sở Văn hóa – Thể thao – Du lịch tỉnh Cao Bằng Khóa luận: Thực trạng Marketing Du lịch tại Cao Bằng.

  • Tổng kết chương trình hành động quốc gia về du lịch Cao Bằng (2016-2021)

Qua bảng báo cáo tình hình đầu tư cho công tác tuyên truyền và quảng bá du lịch tỉnh Cao Bằng trong 5 năm từ 2020-2024, có thể thấy, khâu quảng cáo tuyên truyền cho tỉnh Cao Bằng được sự đầu tư từ ngân sách tỉnh, tuy nhiên mới chỉ tập trung qua các mảng tuyên truyền qua tài liệu, biển quảng cáo. Tài liệu về du lịch tỉnh Cao Bằng được xuất bản dưới dạng sách, catalogue, đĩa VCD, một phần dành cho lưu trữ và nội bộ, phần còn lại được trưng bày và bán cho khách du lịch. Các tài liệu này đã thể hiện được bản sắc và nét phong phú trong văn hóa dân gian, dân tộc của tỉnh Cao Bằng, đặc biệt là ấn phẩm “Chào mừng quý khách đến Cao Bằng” và VCD ca nhạc “Non nước Cao Bằng” được phản hồi rất tốt từ quần chúng. Tuy nhiên việc phát hành không được định kỳ, tài liệu chưa được quảng bá rộng rãi, chỉ bày bán chủ yếu tại Cao Bằng. Các tờ rơi về du lịch chỉ để phát tại các khu du lịch, mẫu mã chưa được phong phú và chưa thể hiện được hết cái đẹp, cái tổng thể của khu vực, cảnh quan.

Về xây dựng biển quảng cáo, Cao Bằng tập trung xây dựng các biển trong các năm đến năm 2021, các năm sau ngân sách phục vụ việc bảo vệ và tôn tạo các biển quảng cáo. Các biển quảng cáo được xây dựng ngoài trời, cỡ lớn, chủ yếu tại các khu du lịch trọng điểm, khu vực thị xã Cao Bằng, đường quốc lộ 3 (Cao Bằng – Bắc Kạn – Thái Nguyên – Hà Nội) trong địa phận Cao Bằng, vì thế các biển quảng cáo này mang tính chất quảng cáo tĩnh, chỉ có thể đem đến cảm giác chào mừng, quảng cáo chỉ khi du khách đến thăm Cao Bằng mới trông thấy các biển quảng cáo trên, không có tác đ̣ông đến nhóm khách hàng tiềm năng . Về hình thức, các biển quảng cáo ở dưới dạng pa-nô, biển tôn, chưa áp dụng các hình thức mới như đèn rọi, đèn màu, biển quảng cáo điện tử, .. Về nội dung, hình ảnh trên biển quảng cáo sống động, màu sắc tương đối hài hòa và nhịp nhàng, tuy nhiên Cao Bằng chưa có được các khẩu hiệu thể hiện thương hiệu về du lịch riêng cho mình, vì thế các khẩu hiệu trên biển quảng cáo còn rất chung chung, chưa có bản sắc riêng. Một nhược điểm khác, quảng cáo trên pa-nô và biển tôn màu sắc không nổi bật, thường dễ bị hỏng do tác động của thời tiết, do đó thường tốn các chi phí bảo dưỡng, sơn lại, dựng mới.

Quảng cáo qua các phương tiện truyền thông như báo chí, truyền hình, internet, ngành du lịch tỉnh Cao Bằng chưa thực sự chú trọng. Ngân sách chi cho hạng mục này còn rất ít ỏi. Hiện nay các khu du lịch, cơ sở lưu trú, đơn vị kinh doanh du lịch trên địa bàn tỉnh Cao Bằng chưa có website riêng; Về du lịch Cao Bằng chỉ có một vài website tư nhân do một vài cá nhân lập ra, và các trang du lịch, giới thiệu của một số đơn vị Nhà nước (như website của Ủy ban nhân dân tỉnh Cao Bằng, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Cao Bằng, … ). Hoạt động quảng cáo trên báo chí hầu như không có, trong những năm gần đây chủ yếu quảng cáo chỉ trên địa bàn tỉnh Cao Bằng hoặc các khu vực lân cận (Hà Nội, Lạng Sơn, Hà Giang, .. ), quảng cáo tại các trang màu trong báo Cao Bằng – vốn chỉ lưu hành nội bộ các cơ quan hành chính sự nghiệp trong tỉnh chứ không đến được tay các khách hàng hay đối tượng nhận tin mục tiêu. Khóa luận: Thực trạng Marketing Du lịch tại Cao Bằng.

Về giao lưu văn hóa để quảng bá cho hình ảnh Cao Bằng, trong các năm qua, tỉnh Cao Bằng luôn đại biểu tham gia tại các hội chợ giao lưu văn hóa (ca nhạc dân tộc, ẩm thực), triển lãm, hội thảo, … Trong các dịp giao lưu, biểu diễn văn hóa văn nghệ, tỉnh Cao Bằng luôn giành được thứ hạng cao, như huy chương vàng hội thi chế biến các món ăn dân tộc toàn quốc 2018, 2021, các giải vàng thi Tiếng hát cổ truyền với bài hát then và cây đàn tính; đồng thời để lại ấn tượng tốt trong lòng người xem về một mảnh đất Cao Bằng nhiều huyền thoại.

Các hoạt động xúc tiến và bán hàng , các công ty du lịch tại Cao Bằng tiến hành khai thác thị trường trong tỉnh và các tỉnh khác , nhưng hịêu quả chưa nổi ḅât , không có các h̀inh thức xúc tiến về khuyến ṃai, ṭăng quà…

3.4.5. Chính sách con người

Theo số liệu điều tra về nhân lực trong ngành nói chung và trong hoạt động Marketing Du lịch nói riêng, trình độ cán bộ còn nhiều hạn chế, đặc biệt là cán bộ có trình độ đại học về quản lý.

Bảng 3.4 về thực trạng nguồn nhân lực du lịch trên địa bàn tỉnh, thống kê tại tất cả các doanh nghiệp kinh doanh du lịch không phân biệt loại hình và thành phần kinh tế), qua bảng trên ta có thể thấy, lượng nhân lực hoạt động trong ngành du lịch Cao Bằng tăng gấp đôi từ 2020 đến 2024 (100% từ 230 người lên 460 người), số lượng người được đào tạo và hoạt động trong từng hoạt động cũng tăng lên theo xu hướng phát triển, tuy nhiên lao động có trình độ Cao đẳng trở lên chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ trong lực lượng lao động (khoảng 10%), còn lại lao động có trình độ thấp hoặc không qua đào tạo; Số liệu năm 2024 cho thấy, cán bộ quản lý (trưởng phó phòng trở lên) chiếm 73 người nhưng chỉ có 42 người có trình độ Đại học, Cao đẳng; Lượng hướng dẫn viên được cấp thẻ chỉ có 15 người (2024) là quá ít ỏi và không đủ phục vụ khi lượng khách gia tăng.

Bảng 3.4. Thực trạng nguồn nhân lực du lịch trên địa bàn tỉnh Cao Bằng

Đơn vị: Người

STT Chỉ tiêu 2020 2024
1 Tổng số lao động du lịch 230 460
Phân theo trình độ đào tạo Khóa luận: Thực trạng Marketing Du lịch tại Cao Bằng.
2 Trình độ trên Đại học 0 0
3 Trình độ Đại học, Cao đẳng 18 42
4 Trình độ trung cấp 23 49
5 Trình độ sơ cấp 32 63
6 Trình độ khác (qua đào tạo tại chỗ hoặc huấn luyện nghiệp vụ ngắn hạn) 157 306
Phân theo loại lao động
7 Đội ngũ quản lý của cơ quan quản lý Nhà nước 5 6
8 Lao động quản lý tại các doanh nghiệp (cấp trưởng phó phòng trở lên) 35 67
 

 

 

 

 

9

Lao động nghiệp vụ 160 387
1. Lễ tân 28 75
2. Phục vụ buồn 40 80
3. Phục vụ Bàn, bar 20 80
4. Nhân viên nấu ăn 17 50
5. Hướng dẫn viên (đã được cấp thẻ) 7 15
6. Nhân viên lữ hành 4 10
7. Nhân viên khác 44 77
Phân theo ngành nghề kinh doanh Khóa luận: Thực trạng Marketing Du lịch tại Cao Bằng.
10 Khách sạn, nhà hàng 105 285
11 Lữ hành, vận chuyển khách du lịch 11 25
12 Dịch vụ khác 44 77

Nguồn: Sở Văn hóa, thể thao và Du lịch tỉnh Cao Bằng.

Bên cạnh đó, khả năng ngoại ngữ của các hướng dẫn viên và nhân viên phục vụ trong ngành còn kém, mới chỉ có nhân lực về mảng tiếng Anh và tiếng Trung, đáp ứng được 60% nhu cầu hiện tại (Bảng 3.4.5.2), các ngoại ngữ khác như tiếng Pháp, tiếng Nhật và các thứ tiếng khác cũng đang được chú trọng ưu tiên vì nhân lực không có. Việc yếu và thiếu nhân lực trong ngành du lịch thông thạo ngoại ngữ cũng là tình trạng chung của ngành du lịch Việt Nam, trong hình 3.5 theo điều tra của TOEIC Việt Nam thì tỷ lệ nhân viên không thông thạo ngoại ngữ phổ thông là tiếng Anh vẫn rất cao.

Hình 3.5. Tỷ lệ nhân viên chưa đạt chuẩn tiếng Anh theo kết quả khảo sát của TOEIC Việt Nam

Hàng năm, tỉnh Cao Bằng đều dành ngân sách cử học sinh, con em người dân tộc thiểu số đi học chuyên nghiệp tại các trường đại học, cao đẳng, tuy nhiên, theo thống kê của Sở Du lịch Cao Bằng, đến 2022, chỉ có 30% số sinh viên tốt nghiệp các khoá học đào tạo được nhận vào phục vụ trong ngành. Như vậy có thể thấy, công tác quản lý đầu vào và đầu ra cho nhân viên trong ngành du lịch Cao Bằng chưa được thực hiện triệt để, vừa gây lãng phí nguồn lực, sử dụng không hiệu quả ngân sách nhà nước. Khóa luận: Thực trạng Marketing Du lịch tại Cao Bằng.

Đối tượng đánh giá theo bảng 3.5 là cán bộ quản lý Nhà nước và du lịch đang làm việc tại Sở, Phòng quản lý du lịch, Ban quản lý du lịch và liên quan. Nhân lực hoạt động trong mảng quản lý, nghiên cứu, hoạch định chính sách chỉ đạt 60% yêu cầu, có thể thấy nhân lực trong hoạt động du lịch còn thiếu và yếu. Điều này có ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả kinh doanh du lịch. Hiện tỉnh Cao Bằng đã và đang đưa ra nhiều chính sách ưu đãi cán bộ, sinh viên nhằm thu hút người có trình độ về tỉnh công tác.

Bảng 3.5. Đánh giá chất lượng và nhu cầu đào tạo năng lực du lịch chuyên sâu trên địa bàn tỉnh Cao Bằng

Stt Nhu cầu đào tạo về các lĩnh vực chuyên sâu SL cần đào tạo (Người) Mức độ đáp ứng yêu cầu hiện tại (/5) Mức độ ưu tiên (/5)
1 Năng lực cơ bản
1.1. Kỹ năng giao tiếp, chủ toạ, đàm phán 10 4 4
1.2 Kỹ năng quản lý, lãnh đạo 10 4 4
1.3 Ngoại ngữ 4
Tiếng Anh 25 3 3
Tiếng Pháp 4
Tiếng Trung 25 3 3
Tiếng Nhật
Khác
1.4 Tin học 4 4
2 Năng lực chuyên sâu
2.1 Hoạch định chính sách 10 3 4
2.2 Quy hoạch, kế hoạch PT du lịch 5 3 4
2.3 Thống kê du lịch 10 4 4
2.4 Quản trị thông tin du lịch 5 3 4
2.5 Nghiên cứu thị trường, Marketing, xúc tiến, quảng bá du lịch 10 3 4
2.6 Quản lý phát triển các loại hình DL 10 3 4
2.7 Quản lý nguồn nhân lực 5 4 4
2.8 Quản lý khu du lịch, điểm du lịch 10 3 4
2.9 Khai thác, phát triển sản phẩm du lịch 10 3 4
2.10 Quản lý, bảo vệ môi trường du lịch và phát triển du lịch bền vững 10 3 4
2.11 Quản lý kinh doanh du lịch 25 4 4
Tổng số 110

Nguồn: Sở Văn hóa, thể thao và Du lịch tỉnh Cao Bằng.

3.4.6. Chính sách Cơ sở vật chất và Quy trình phục vụ Khóa luận: Thực trạng Marketing Du lịch tại Cao Bằng.

Số lượng và chất lượng các cơ sở lưu trú trên địa bàn tỉnh Cao Bằng trong các năm có bước tăng trưởng khá. Số phòng nghỉ khách sạn tăng từ 275 phòng năm 2020 lên 556 phòng năm 2024, có sự gia tăng về quy mô và chất lượng. Số phòng quốc tế có sự gia tăng, từ 88 phòng năm 2020 lên 255 phòng năm 2024, phòng nội địa tăng từ 187 phòng năm 2020 lên 301 phòng năm 2024, phấn đấu đến 2026 đạt tổng số 700 phòng nghỉ từ khách sạn 2 sao trở xuống.

Bảng 3.6. Hiện trạng cơ sở lưu trú tỉnh Cao Bằng

Năm 2020 2024
Loại hình Nhà nước nhân Nhà nước nhân
Số khách sạn 4 12 2 29
Số phòng 161 114 106 450
Phòng quốc tế 72 16 40 215
Phòng nội địa 89 98 66 235
Số giường 361 228 243 900
Giường quốc tế 143 32 87 432
Giường nội địa 218 196 156 468

Nguồn: Cục Thống kê Cao Bằng Khóa luận: Thực trạng Marketing Du lịch tại Cao Bằng.

Điều này chứng tỏ, Cao Bằng đã và đang có sự cố gắng rất lớn, khắc phục khó khăn để đáp ứng nhu cầu du khách. tuy nhiên những cơ sở lưu trú này chủ yếu tập trung ở khu vực thị xã, việc đầu tư xây dựng và kinh doanh còn mang tính chất tự phát, quy mô nhỏ do vốn và mặt bằng đầu tư còn hạn chế.

Bảng 3.7. Hiện trạng công suất sử dụng phòng trung bình năm ở Cao Bằng

Năm

2020 2021 2022 2023 2024
Công suất sử ḍung phòng (%) 21 43 43 45 48

Nguồn: Cục Thống kê Cao Bằng

Hiện thị xã Cao Bằng chỉ có hai khách sạn 2 sao và 1 khách sạn 3 sao, các khách sạn còn lại hoạt động ở quy mô nhỏ như nhà nghỉ, motel. Trong mùa du lịch, hiện tượng thiếu phòng nghỉ của khách là điều dễ xảy ra. Do đó, xét về cơ sở lưu trú, Cao Bằng chưa đủ mạnh để phục vụ du khách. Bên cạnh đó, hiệu quả kinh doanh của các khách sạn trên địa bàn tỉnh không cao, nhu cầu lưu trú của khách tăng, lượng khách du lịch tăng, song công tác phân phối chưa hợp lý và hoạt động kinh doanh chịu ảnh hưởng bởi tính thời vụ của hoạt động du lịch công suất sử dụng phòng chưa tới 50% (bảng 3.7).

Với khách sạn thuộc quyền quản lý của nhà nước, năm 2020, 2 khách sạn nhà nước đã chuyển sang lĩnh vực tư nhân theo xu hướng cổ phần hóa, hiện chỉ còn hai khách sạn trên địa bàn tỉnh là của nhà nước. Số phòng quốc tế và phòng nội địa hiện nay cũng không bằng các cơ sở tư nhân về điều kiện vật chất và số lượng. Khu vực tư nhân tăng từ 12 cơ sở trong năm 2020 lên 29 cơ sở năm 2024, chứng tỏ khu vực tư nhân đang có những đầu tư lớn vào việc xây dựng mới và nâng cấp các cơ sở lưu trú của mình, nỗ lực đáp ứng yêu cầu của phát triển du lịch.

Bảng 3.8. Danh mục 20 khách sạn, nhà hàng tiêu biểu tại Cao Bằng

Stt Tên Ks Địa chỉ Ghi chú
1 Bằng Giang Phố Kim Đồng, P Hợp Giang, TxCB Nhà nước
2 Huy Hoàng Km3 Thanh Sơn, P. Sông Hiến, TxCB Tư nhân
3 Hương Thơm Phố Kim Đồng, P. Hợp Giang, TxCB Tư nhân
4 Phong Lan K083 Phố Kim Đồng, P. Hợp Giang, TxCB Tư nhân
5 Thành Loan Phố Vườn Cam, P. Hợp Giang, TxCB Tư nhân
6 Hoàng Gia 26B Đường Lê Lợi, P. Sông Bằng, TxCB Tư nhân
7 Ánh Dương Phố Kim Đồng, P. Hợp Giang, TxCB Tư nhân
8 Hoàng Long Phố Kim Đồng, P. Hợp Giang, TxCB Tư nhân
9 Hoàng Anh Phố Kim Đồng, P. Hợp Giang, TxCB Tư nhân
10 Đức Trung Phố Bế Văn Đàn, TxCB Tư nhân
11 Phương Đông Km1 Đường Pắc Bó, P. Sông Bằng, TxCB Tư nhân
12 Nguyệt Nga Đầu cầu Bằng Giang, P. Sông Bằng, TxCB Tư nhân
13 Giao Tế Phố Hoàng Như, P. Hợp Giang, TxCB Nhà nước
14 NK Điện lực Phố Xuân Trường, P. Hợp Giang, TxCB Tư nhân
15 Hoa Đào Phố Kim Đồng, P. Hợp Giang, TxCB Tư nhân
16 NH Dân tộc Quán Đường 3/10 Nà Cạn, TxCB Tư nhân
17 NH Ánh Hương Đường 3/10 Nà Cạn, TxCB Tư nhân
18 NH Quyền Linh Đường Pác Bó, TxCB Tư nhân
19 NH Thanh Trung Phố Cũ, P. Hợp Giang, TxCB Tư nhân
20 NH Lẩu cá Ngã ba sông Đường Pác Bó, TxCB Tư nhân

Nguồn: Cục Thống kê Cao Bằng Khóa luận: Thực trạng Marketing Du lịch tại Cao Bằng.

Hệ thống các cơ sở lưu trú tư nhân ra đời đã góp phần giải quyết nhu cầu lưu trú của khách, tạo thêm nhiều công ăn việc làm cho người lao động địa phương. Tuy nhiên, các khách sạn tư nhân quy mô còn nhỏ, cơ sở vật chất chưa cao do đầu tư thiếu đồng bộ, thiếu quy hoạch và mang tính tự phát cao.

Qua bảng 3.8, các khách sạn tiêu biểu có chất lượng tốt đều tập trung tại thị xã cao Bằng, các cơ sở lưu trú tại các khu và cụm điểm du lịch chưa được đầu tư xây dựng, khách du lịch không thể ở lại tại khu du lịch mà phải quay trở lại thị xã, thị trấn nghỉ qua đêm. Đây là hạn chế mà ngành du lịch Cao Bằng cần chú trọng khắc pḥuc.

  • Địa điểm vui chơi giải trí

Bảng 3.9. Số nhà hàng và dịch vụ trên địa bàn tỉnh Cao Bằng ( 2020-2024)

Năm 2020 2021 2022 2023 2024
Nhà hàng 1330 1395 1425 1439 1590
C/S dịch vụ 317 387 392 470 488

Nguồn: Cục Thống kê Cao Bằng

Trong năm 2020, Cao Bằng mới chỉ có 12 phòng massage và 18 phòng karaoke phục vụ khách du lịch thì đến 2024, lượng địa điểm vui cơi giải trí và cơ sở dịch vụ đã tăng về cả số lượng và chất lượng. Đã hình thành cụm vui chơi giải trí như bể bơi, sân tennis phục vụ nhu cầu nhân dân trong tỉnh và khách du lịch tại khu vực thị xã.

Năm 2022 Ban thường vụ tỉnh Uỷ Cao Bằng đã Ban hành chương trình Phát triển các khu du lịch trọng điểm tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2022-2026, nhằm phát triển khu du lịch Pác Bó và khu du lịch thác Bản Giốc- động Ngườm Ngao trở thành khu du lịch Quốc gia, thành thương hiệu có tính cạnh tranh cao; phát triển cụm du lịch thị xã Cao Bằng và phụ cận thành trung tâm thương mại du lịch của tỉnh; khu du lịch sinh thái Phja Oắc – Phja Đén,…góp phần thúc đẩy nhanh, mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương, hình thành các tụ điểm du lịch giải trí có sức thu hút cao với khách du lịch. Hiện nay động Ngườm Ngao đang được Sở Thương mại Cao Bằng quản lý và đầu tư cơ sở hạ tầng về các hạng mục như đường ô tô, đường đi bộ vào động, bãi đỗ xe, nhà đón khách, đường đi lại và điện chiếu sáng trong động nhằm đưa vào khai thác và sử dụng. Bên cạnh đó là dự án quy hoạch khu cửa khẩu Pò Peo, huyện Trùng Khánh nhằm thông qua cửa khẩu này để tạo điều kiện nhân dân biên giới trao đổi hàng hóa, hoạt động thương mại và du lịch với quy mô ngày càng lớn. Dự án khu du lịch Pác Bó vẫn đang được hoàn thành như tôn tạo hang Pác Bó, xây dựng thêm các hạng mục mới phục vụ khách du lịch…

Bảng 3.10. Dự án Du lịch kêu gọi vốn đầu tư đầu tư đến 2026 Khóa luận: Thực trạng Marketing Du lịch tại Cao Bằng.

Stt Tên dự án Địa điểm thực hiện Thông số kỹ thuật Hình thức đầu Vốn ĐT (tr.USD)
1 Dự án Khu du lịch thác Bản Giốc – Động Ngườm Ngao Trùng Khánh 100ha Liên doanh hoặc 100% vốn đầu tư bên ngoài 8
2 Dự án Khu du lịch Pác Bó Hà Quảng 50ha Liên doanh hoặc 100% vốn đầu tư bên ngoài 6
3 Dự án Khách sạn 3-4 sao tại thị xã Cao Bằng Thị xã 80-100 phòng Liên doanh hoặc 100% vốn đầu tư bên ngoài 8
4 Dự án cụm công trình thương mại dịch vụ khu đô thị mới Thị xã 15ha Liên doanh hoặc 100% vốn đầu tư bên ngoài 46
5 Dự án khu du lịch sinh thái Phja Oắc – Phja Đén Nguyên Bình 8.000ha Liên doanh hoặc 100% vốn đầu tư bên ngoài 4

Nguồn: Uỷ ban nhân dân tỉnh Cao Bằng.

Vấn đề cấp bách đối với việc đầu tư xây dựng tại Cao Bằng, không chỉ là đầu tư xây dựng mới, mà còn cần hơn cả việc quy hoạch, tổ chức sao cho tạo ra nhiều loại hình du lịch mới, hấp dẫn nhằm kéo dài thời gian lưu trú và tận thu chi tiêu từ khách du lịch.

Về Quy tr̀inh pḥuc ṿu, có thể nói chính sách này chưa được chú trọng đúng mức trong công tác Marketing ở Cao Bằng , do nhân ḷưc thiếu về tr̀inh đ̣ô và số lựơng ở cấp quản lý cũng như nhân viên pḥuc ṿu. Do thiếu sự đầu tư, quy tr̀inh phục vụ và hoạt động du lịch chưa thực sự chuyên nghiệp Khách hàng không thể biết đựơc khi đến với các chương tr̀inh tour và ḍich ṿu du ḷich ở Cao Bằng th̀i ḥo đựơc hưởng những ưu đãi g̀i và có g̀i nổi ḅât hơn so với các ḍich ṿu khác của các đơn ṿi c̣anh tranh khác . Phục vụ làm khác biệt các doanh nghiệp, đ̣ia phương với nhau nói và lên sự thành công hay thất bại giữa các doanh nghiệp du lịch, khi quy trình phục vụ không có sự riêng biệt và nổi bật thì hiệu quả kinh doanh sẽ không thể cao đựơc.

Như vậy có thể thấy, hoạt động Marketing du lịch tại tỉnh Cao Bằng trong thời gian qua được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, ngân sách cho hoạt động này cũng tăng lên trong các năm, nhằm giới thiệu Cao Bằng như một điểm đến hấp dẫn cho du khách, tuy nhiên, công tác này cũng có nhiều hạn chế nhất định, trước nhất là nguồn nhân lực năng lực còn yếu, nguồn kinh phí đầu tư còn thấp so với yêu cầu phát triển, đầu tư dàn trải và thiếu đồng bộ. Trong Marketing du lịch tại Cao Bằng, chủ yếu tập trung vào mảng quảng cáo du lịch, trong đó, tập trung vào các công cụ quảng cáo truyền thống như bảng hiệu, báo chí, ấn bản, nhưng độ phủ không rộng rãi, vì thế hiệu quả không cao, lãng phí nguồn ngân sách.

Các chính sách Marketing trong du lịch chưa được vận dụng tại thực tế du lịch Cao Bằng, vì thế việc cân nhắc và xem xét thực hiện Marketing du lịch tại Cao Bằng có ý nghĩa rất to lớn. Khóa luận: Thực trạng Marketing Du lịch tại Cao Bằng.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>> Khóa luận: Biện pháp phát triển Marketing Du lịch tại Cao Bằng

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Contact Me on Zalo
0877682993
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x