Khóa luận: Thực trạng môi trường marketing của các doanh nghiệp

Rate this post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Thực trạng môi trường marketing của các doanh nghiệp hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Khóa luận: Thực trạng môi trường trong vấn đề marketing của một số công ty tại Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

Nội dung chính

I: MỘT SỐ CÔNG CỤ MARKETING CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM HAY SỬ DỤNG

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, việc xây dựng chiến lược marketing ngày càng giữ vai trò quan trọng trong kế hoạch phát triển của mỗi doanh nghiệp. Tùy theo đặc điểm của lĩnh vực hoạt động cũng như đặc tính của sản phẩm, mỗi doanh nghiệp lựa chọn cho mình một hình thức marketing phù hợp. Có thể thấy trong những năm gần đây, các doanh nghiệp Việt Nam thường áp dụng ba hình thức marketing chủ yếu là: quảng cáo, quan hệ công chúng và hội chợ triển lãm.

1. Quảng cáo

Quảng cáo mới xuất hiện ở thị trường Việt Nam từ đầu những năm 2008 vì vậy chưa có tình trạng bão hòa quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng. Ở các nước phát triển thì có sự tách bạch riêng của kênh quảng cáo nên người tiêu dùng được lựa chọn có xem quảng cáo hay không và thông thường ở các nước phát triển quảng cáo không còn hiệu quả nữa.

Tại Việt Nam hiện vẫn chưa có một kênh riêng nào dành cho quảng cáo và chương trình quảng cáo được cài xen kẽ vào các chương trình truyền hình khác. Vô hình chung dù muốn hay không người xem vẫn phải xem quảng cáo.

Hơn nữa đa số các doanh nghiệp Việt Nam là doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng như bánh kẹo, xà phòng, đồ dùng bằng nhựa… Các doanh nghiệp sản xuất hàng hóa tư liệu sản xuất chiếm tỉ lệ rất nhỏ so với sản xuất hàng tiêu dùng và thường sản xuất nguyên liệu hay những phụ tùng chi tiết đã được nội địa hóa hoặc lắp ráp từ phụ tùng nhập ngoại. Với các mặt hàng tiêu dùng như vậy, việc thực hiện marketing đại chúng qua quảng cáo, khuyến mãi… để xây dựng hình ảnh nhãn hiệu sản phẩm và thuyết phục người tiêu dùng sử dụng sản phẩm vẫn tỏ ra rất hiệu quả.

Quảng cáo qua các phương tiện truyền thông đại chúng, đặc biệt là quảng cáo trên truyền hình thu hút được lượng người xem khá lớn và đó cũng chính là kênh truyền tin hữu hiệu từ nhà sản xuất tới người tiêu dùng. Hiện nay, phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam đều sử dụng quảng cáo như một hình thức marketing phổ biến nhất và cũng hiệu quả nhất. Có rất nhiều những chương trình quảng cáo được thiết kế công phu, đặc sắc như quảng cáo của bột giặt Omo, bia Heneiken… đã gây tác động sâu sắc tới công chúng và ảnh hưởng lớn đến quyết định mua hàng của họ.

Như vậy, quảng cáo đã đi vào cuộc sống của người dân và vì thế nên mặc dù chi phí quảng cáo trên truyền hình là đắt đỏ nhưng các doanh nghiệp, kể cả doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn đua chen để tiến hành các show quảng cáo trên truyền hình.

2. Quan hệ công chúng Khóa luận: Thực trạng môi trường marketing của các doanh nghiệp.

Khái niệm quan hệ công chúng (PR) xuất hiện tại Việt Nam sau quảng cáo khá lâu. Trong khoảng năm năm trở lại đây, các doanh nghiệp trong nước bắt đầu chú ý nhiều hơn tới công cụ marketing này. Khi cạnh tranh không phải chỉ dựa vào chất lượng sản phẩm và người tiêu dùng ngày càng có nhiều sự lựa chọn hơn, các doanh nghiệp bắt đầu chuyển sự chú ý sang việc tạo dựng hình ảnh trong mắt công chúng cũng như thiết lập và duy trì mối quan hệ với khách hàng.

Ngày nay, hầu hết các doanh nghiệp đều có phòng quan hệ công chúng, tuy nhiên các doanh nghiệp mới chỉ chú ý PR trong việc xây dựng hình ảnh doanh nghiệp trong mắt người tiêu dùng, khách hàng; hỗ trợ cho việc kinh doanh sản phẩm/dịch vụ, mà theo phân loại của ngành PR là PR trong tiếp thị (marketing PR). Có thể thấy rõ tác dụng của PR qua việc tạo dựng các thương hiệu tên tuổi như sữa cô gái Hà Lan, bột giặt Omo, dầu gội Clear… Nhờ một số hoạt động xã hội như chương trình học bổng “Đèn đom đóm”, chương trình “áo trắng ngời sáng tương lai”, cuộc thi tìm kiếm thần tượng âm nhạc “Việt Nam Idol”,… tên tuổi của các nhãn hiệu sản phẩm này đã chiếm nhiều cảm tình và lưu lại lâu hơn trong lòng công chúng.

3. Hội chợ triển lãm

Việc tham gia hội chợ triển lãm ngày càng trở nên quen thuộc với các doanh nghiệp Việt Nam. Tham gia hội chợ mang lại cho doanh nghiệp cơ hội được giới thiệu trực tiếp tới các đối tác và người tiêu dùng về sản phẩm của mình. Đây thực sự là một công cụ marketing mà các doanh nghiệp cần chú ý. Thông qua việc trao đổi trực tiếp với khách hàng, doanh nghiệp có thể kết hợp luôn việc thăm dò ý kiến của khách hàng về sản phẩm và chất lượng các dịch vụ của doanh nghiệp.

Trong thời gian qua, các hội chợ được tổ chức tại Hà Nội thường diễn ra theo từng chủ đề cụ thể: Hội chợ hàng tiêu dùng, hội chợ hàng xuất khẩu, hội chợ hàng Việt Nam chất lượng cao… đã thu hút rất đông người tham dự. Các thành phần tham gia hội chợ không chỉ có các doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội mà còn có rất nhiều doanh nghiệp ở các tỉnh, thành phố khác, kể cả các tỉnh phía Nam.

II: MÔI TRƯỜNG TRONG VẤN ĐỀ MARKETING TẠI MỘT SỐ DOANH NGHIỆP VIỆT NAM Khóa luận: Thực trạng môi trường marketing của các doanh nghiệp.

1. Môi trường trong vấn đề marketing của Tập đoàn Dệt – May Việt Nam

1.1. Giới thiệu chung về Tập đoàn Dệt – May Việt Nam

  • Giới thiệu chung

Ngày 8 tháng 12 năm 2023, Tổng công ty Dệt – May Việt Nam chính thức công bố thành lập Tập đoàn Dệt – May Việt Nam. Tập đoàn Dệt – May Việt Nam (VINATEX) có trụ sở tại 25 Bà Triệu, Hoàn Kiếm, Hà Nội. Tập đoàn được thành lập là một khối liên kết giữa các xí nghiệp trung ương của Nhà nước trong lĩnh vực dệt may. Vinatex đóng nhiều vai trò khác nhau như: sản xuất, xuất nhập khẩu và là một mạng lưới tiêu thụ bán buôn hay bán lẻ hàng dệt may. Các hoạt động của Vinatex được đa dạng hóa từ: đầu tư, sản xuất, cung cấp nguyên phụ liệu đến việc kinh doanh tiêu thụ sản phẩm.

  • Thị trường và mục tiêu của Vinatex

Biểu đồ 1: Các thị trường chính của Vinatex

Vinatex mở rộng quan hệ thương mại với hơn 400 công ty tại 65 nước và khu vực khác nhau. Hiện tại Vinatex có kế hoạch tăng trưởng đầu tư nhằm mục đích đạt sản lượng 455 đên 555 triệu mét vải các loại và 100 triệu sản phẩm dệt kim, từ 190 đến 250 sản phẩm may khác nhau vào năm 2028. [14]

  • Các thành viên của Vinatex

Thành viên của Vinatex bao gồm:

  • Các thành viên thuộc khối sự nghiệp
  • Các thành viên hạch toán phụ thuộc
  • Các thành viên hạch toán độc lập
  • Các thành viên thuộc khối doanh nghiệp cổ phần
  • Các thành viên do tổng công ty góp vốn liên kết, liên

Có thể thấy thành viên của Vinatex bao gồm các các trường đào tạo nghề may, các viện mẫu và các doanh nghiệp dệt may trên toàn quốc.

1.2. Những đầu tư về môi trường của Tập đoàn Dệt – May Khóa luận: Thực trạng môi trường marketing của các doanh nghiệp.

  • Những tác động của ngành dệt may tới môi trường

Quá trình sản xuất của ngành dệt may nói chung có tác động rất lớn tới môi trường. Các vật liệu chính sử dụng cho sản xuất các sản phẩm may mặc thông thường là bông và sợi nhân tạo. Trong quá trình sản xuất nhiều chất độc hại được thải ra. Quá trình sản xuất có nhiều ảnh hưởng đến môi trường:

Chế biến, sản xuất: Ảnh hưởng lớn nhất chủ yếu trong giai đoạn trồng nguyên liệu thô và giai đoạn sản xuất vải. Các quá trình này tiêu thụ nguồn nước rất lớn và nhiều hóa chất được sử dụng trong quá trình xử lý ướt và tạo ra rất nhiều chất thải. Rất nhiều nước được sử dụng trong quá trình chế biến tinh lọc vải. Sau đó nước được bỏ đi dưới dạng nước thải sau khi đã qua nhiều tiến trình xử lý nhiều chất khác nhau. Một lượng lớn các chất có oxygen được thải ra trong nước thải khi tạo khổ và làm sạch sợi vải. Trong vài trường hợp, có một lượng nhỏ chất biocide được tìm thấy trong các nguyên liệu cotton thô. Nhiều chất độc không thể hủy bằng phương pháp vi khuẩn cũng có thể được tìm thấy trong quá trình giặt tẩy phi i_on. Các chất tẩy rửa này có thể là nguyên nhân gây nên các vấn đề trên bề mặt nước. Chất ảnh hưởng đến môi trường quan trọng nhất là hypochloride thải ra trong quá trình sản xuất.

Ngoài ra trong quá trình sản xuất nếu các doanh nghiệp sử dụng các loại máy móc công nghệ lạc hậu, không có biện pháp xử lý hợp lý sẽ thải ra một khối lượng lớn bụi gây ra ô nhiễm không khí, trước mắt ảnh hưởng tới cuộc sống của người dân xung quanh và lâu dài là ảnh hưởng tới môi trường. Khóa luận: Thực trạng môi trường marketing của các doanh nghiệp.

In và nhuộm: Nhuộm là một giai đoạn chính làm ô nhiễm nước thải trong quá trình in và nhuộm. Tỉ lệ phần trăm nhuộm không cố định trên vải, thay đổi từ 1 – 2% đối với thuốc nhuộm màu và crom và từ 30 – 40% đối với thuốc nhuộm phản ứng và phosphorus. Trong một nghiên cứu trên 300 loại thuốc nhuộm, kết quả cho thấy 2% chất nhuộm vải rất độc khi kết hợp với nước. Đa số các loại thuốc nhuộm có tính bền vững và có thể được coi là không mang tính sinh thái hoặc khá nguy hiểm với môi trường. Nhiều loại thuốc nhuộm trong cấu trúc hóa học có một số chất gây ung thư như chất di, tri và poly – azo. Một số loại thuốc nhuộm còn chứa các kim loại nặng như đồng, cobalt hoặc crom. Các loại thuốc nhuộm phản ứng mầu và thuốc nhuộm trực tiếp thường không độc. Các chất mang độc tố thường được tìm thấy trong phần dư của bồn nhuộm và trong nước thải; tuy nhiên các chất này được coi là ít độc với các tổ chức nước tuy nhiên vẫn có tính bền vững. Do đó, về lâu dài sẽ chứa đựng những nguy hiểm đối với môi trường. Tình trạng các xí nghiệp, doanh nghiệp trong dây chuyền nhuộm hoàn tất vẫn còn sử dụng một số hóa chất, chất phụ trợ, thuốc nhuộm gây ảnh hưởng đến môi trường sinh thái, sức khỏe người lao động và thậm chí đến cả người sử dụng sản phẩm. Điển hình nhất là trong quá trình hồ sợi, do sử dụng quá nhiều hóa chất độc hại nên ảnh hưởng nghiêm trọng đến nguồn nước, làm tăng lượng COD (nhu cầu oxy hóa học) trong nước thải khó xử lý vi sinh. Nước thải rũ hồ thông thường chứa 4000 đến 8000 mg/l COD. Kỹ thuật giảm trọng polieste bông kiềm được áp dụng phổ biến làm sản sinh một lượng lớn terephtalat và glycol trong nước thải sử dụng 5 – 6 lần, đưa COD có thể lên tới 80000mg/l. Trong thành phần nước thải của các công ty, nhà máy dệt nhuộm hiện nay, có khoảng 300 – 400 mg/l COD (đã vượt tiêu chuẩn nước thải loại B 3 – 4 lần) dự đoán sẽ tăng lên mức 700 – 800 mg/l và có thể còn tăng hơn trong tương lai. Điều này sẽ dẫn đến tình trạng ô nhiễm nguồn nước và ô nhiễm đất nghiêm trọng tại những khu vực có nhà máy in nhuộm. [25]

  • Sản phẩm dệt may Việt Nam trước thách thức về tiêu chuẩn xanh sạch

Trong xu hướng cạnh tranh gay gắt khi đưa hàng ra các thị trường lớn, dệt may Việt Nam cũng gặp phải không ít khó khăn trước những rào cản thương mại, những tiêu chuẩn mà đối tác đặt ra. Trong số hàng loạt các tiêu chuẩn bắt buộc đặt ra đối với hàng dệt may, các nhà nhập khẩu hiện quan tâm nhiều đến tiêu chuẩn xanh, sạch đối với các sản phẩm ngay từ khẩu nguyên liệu đến thành phẩm… Thực chất, tiêu chuẩn Greentrade Barrier – tiêu chuẩn thương mại “xanh”, cũng chính là một rào cản xanh. Rào cản xanh được áp dụng đối với hàng may mặc là đòi hỏi các sản phẩm phải đáp ứng được các tiêu chuẩn sinh thái quy định, an toàn về sức khỏe đối với người sử dụng, không gây ô nhiễm môi trường trong sản xuất, bắt buộc các nhà xuất khẩu Việt Nam phải tuân thủ. Như vậy là, trong cuộc cạnh tranh quyết liệt sau khi hạn ngạch dệt may được dỡ bỏ và một số tiêu chuẩn được thị trường EU, Mỹ, Nhật… áp dụng, thì rào cản thương mại “xanh” là một thách thức, trở ngại lớn đối với tất cả các nước xuất khẩu hàng dệt may nói chung và Việt Nam nói riêng vào các thị trường nói trên.

Quy định của EU đối với sản phẩm dệt may: EU là một trong những thị trường xuất khẩu sản phẩm dệt may lớn nhất của Tập đoàn Dệt – May Việt Nam. Để thâm nhập và thị trường rộng lớn này các sản phẩm dệt may của tập đoàn phải đáp ứng các điều kiện đối với chất lượng sản phẩm nói chung và các quy định về chất lượng môi trường của sản phẩm nói riêng. Bốn nhãn hiệu quan trọng tại EU được áp dụng cho các sản phẩm may mặc thông thường là EU Ecolabel, nhãn Oko – Tex, Skal eko và nhãn SG. [25] Khóa luận: Thực trạng môi trường marketing của các doanh nghiệp.

EU Ecolabel: Nhãn EU Ecolabel được áp dụng cho drap trải giường và áo thun (theo quyết định 96/304/EC). EU Ecolabel được áp dụng cho áo thun dệt kim, áo thun trơn, cổ tròn, áo tay ngắn hoặc tay dài, được thiết kế để mặc ngoài trời. Hàng thêu và hàng in, ngoại trừ hàng in nền nhựa. Chỉ sử dụng cho hàng thêu. Áo thun để bán không được chỉnh sửa Oko – Tex: Nhãn tiêu chuẩn Oko – Tex 100 (theo các tiêu chuẩn Châu Âu điều hòa EN45014) không kiểm tra toàn bộ quá trình chế biến sản phẩm, chỉ tập trung vào sản phẩm cuối cùng.

Skal: Skal là một cơ quan kiểm định quốc tế độc lập đối với các phương pháp sản xuất hữu cơ và cơ quan này sở hữu dấu xác nhận đăng ký chính thức EKO. Hệ thống kiểm định của Skal áp dụng trên toàn bộ dây chuyền sản xuất từ thu hoạch bông cho đến sản xuất ra sợi. Hệ thống tập trung vào các giai đoạn sản xuất và kiểm tra giai đoạn nào được cho phép, giai đoạn nào không. Và hệ thống cũng có những tiêu chuẩn cho các tiến trình hoàn tất được cho phép như xử lý không thấm nước, xử lý không co, phủ bên ngoài, tạo độ bền, thấm nước hoặc không thấm nước. .. Skal cũng định rõ những yêu cầu đối với sản phẩm cuối cùng và đóng gói cho hàng dệt.

Nhãn SG: Nhãn SG (Schadstoffgepruft – Zeichen) viết tắt từ nghĩa “kiểm tra các chất nguy hiểm”, không chỉ áp dụng cho ngành dệt may mà còn áp dụng cho các chất nguy hiểm như formaldehyde, pentachlorophenol (PC), chlorified phenols (non – PCP), thuốc trừ sâu, arsen, chì, cadmium, thủy ngân, nickel, chromium…

Các thị trường Hoa Kỳ và Nhật Bản cũng như một số thị trường khác cũng có rất nhiều quy định đối với sản phẩm dệt may Việt Nam. Vì vậy để mở rộng xuất khẩu sang các thị trường này, các doanh nghiệp dệt may Việt Nam cần tìm hiểu kĩ các quy định của từng thị trường để cung cấp những sản phẩm đáp ứng nhu cầu thị trường.

  • Giải pháp của Tập đoàn Dệt – May Việt Nam và kết quả đạt được

Là doanh nghiệp hàng đầu của ngành dệt – may, Tập đoàn Dệt – May Việt Nam đã có nhiều cố gắng để khắc phục khó khăn và nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế, tìm mọi biện pháp đẩy mạnh xuất khẩu, tiết kiệm giảm chi phí. Trong những năm gần đây các thành viên của Tập đoàn đã chú trọng đáng kể đầu tư vào khâu nhuộm hoàn tất – là khâu thường gây nhiều ảnh hưởng xấu tới môi trường, đặc biệt là tới nguồn nước. Nhiều loại máy móc, thiết bị tốt, mới, hiện đại đã được đầu tư có chiều sâu, như các máy văng sấy Monforts, máy nhuộm liên tục Monforts ở công ty Dệt Việt Thắng; các máy in lưới quay Stock, máy in lưới phẳng Buser ở hai công ty Dệt may Thắng Lợi và Dệt 8/3; các máy nhuộm khí động lực (Air-Jet) ở Dệt kim Đông Xuân và Dệt 8/3; máy làm bóng trục mới của công ty Dệt Nam Định; hệ thống máy xử lý trước và xử lý hoàn tất vải pha len của công ty Dệt lụa Nam Định. [20] Khóa luận: Thực trạng môi trường marketing của các doanh nghiệp.

Đặc biệt là Tập đoàn đã có sự chỉ đạo chặt chẽ và khuyến khích các doanh nghiệp thành viên tăng cường áp dụng các Hệ thống quản lý theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 9000, ISO 14000 và SA 8000. Song song với việc chú trọng đầu tư mở rộng sản xuất, phát triển mạng lưới tiêu thụ cả trong và ngoài nước, Tập đoàn Dệt – May Việt Nam đặc biệt quan tâm tới các giải pháp tăng cường chất lượng trong đó nổi trội là việc xây dựng và áp dụng các hệ thống quản lý tiên tiến. Trong số 74 đơn vị thành viên của Tập đoàn, hiện có 29 doanh nghiệp được cấp chứng chỉ ISO 9000, 3 doanh nghiệp được cấp chứng chỉ ISO 14000, 4 doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn SA 8000. Ngoài ra, còn 4 doanh nghiệp còn đang xây dựng và áp dụng Hệ thống quản lý môi trường theo ISO 14000. Trong phong trào năng suất – chất lượng của Tổng công ty, đã nổi lên nhiều gương mặt sáng như: dệt Phong Phú, Việt Thắng, liên doanh Coastotal, May 10, May Hưng Yên, dệt may Hòa Thọ…

Định hướng của Tập đoàn trong giai đoạn tới là tiếp tục triển khai việc xây dựng và áp dụng Hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 9000, Hệ thống quản lý môi trường theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 14000 để các doanh nghiệp có thêm điều kiện thuận lợi trong việc xuất khẩu vào các thị trường lớn như EU, Mỹ. Ngoài ra, Tập đoàn cũng đang xây dựng chiến lược lồng ghép giữa sản xuất sạch và sản xuất kinh doanh; thực hiện chương trình thu hồi rác thải CFC (khí ga thoát ra trong quá trình làm sạch); tích cực triển khai các dự án xử lý nước thải, trên cơ sở đó đẩy nhanh tiến độ áp dụng ISO 14000 tại các doanh nghiệp thành viên.

Một trong những doanh nghiệp có những đóng góp lớn lao cho sự phát triển của Tập đoàn Dệt – May Việt Nam, đặc biệt trong các hoạt động về môi trường phải kể đến Công ty Dệt Phong Phú. Được thành lập từ năm 1965, đến nay Tổng công ty Phong Phú (tiền thân là Dệt Phong Phú) là một trong những doanh nghiệp hàng đầu của ngành dệt may Việt Nam với doanh số bán ra hàng năm đạt xấp xỉ 80 triệu USD. Là một nhà máy sản xuất theo dây chuyền khép kín, các sản phẩm gồm sợi – chỉ may, khăn bông, vải Denim và sản phẩm may mặc…Hiện nay, khách hàng của công ty được mở rộng từ nội địa sang thị trường quốc tế như Mỹ, Nhật, Eu… Khóa luận: Thực trạng môi trường marketing của các doanh nghiệp.

Sáu tháng đầu năm nay, Công ty Dệt Phong Phú (Dệt Phong Phú) đã vượt lên mọi thách thức trong cạnh tranh hết sức gay gắt và quyết liệt, không ngừng sáng tạo nhiều mẫu mã mới, nâng cao chất lượng sản phẩm; kiểm soát chặt chẽ mọi chi phí sản xuất, phát huy hiệu quả thiết bị, tăng khả năng cạnh tranh cả trên thị trường trong nước và quốc tế. Nhờ đó, công ty đã tăng doanh thu 6 tháng đầu năm gần 22% và lợi nhuận tăng 32% so với cùng kỳ năm ngoái, nộp ngân sách Nhà nước đạt gần 50% kế hoạch cả năm, thu nhập bình quân của người lao động đạt 1,92 triệu đồng/tháng. Với kết quả này và cùng với các hợp đồng đang thực hiện, công ty chắc chắn sẽ hoàn thành vượt mức kế hoạch năm nay trước thời hạn với giá trị tổng sản lượng sản xuất công nghiệp trên 1.450 tỷ đồng, đạt doanh thu hơn 1.650 tỷ đồng, trong đó có 31,2 triệu đô thu từ xuất khẩu, nộp ngân sách Nhà nước gần 35 tỷ đồng, lãi hơn 26 tỷ đồng. Đây là mức Dệt Phong Phú đạt được cao nhất từ trước đến nay, tiếp tục dẫn đầu các doanh nghiệp dệt ở Việt Nam. Công ty được bình chọn “Doanh nghiệp tiêu biểu ngành dệt may Việt Nam” và các danh hiệu “Doanh nghiệp Nhà nước tiêu biểu”, “Doanh nghiệp chiếm thị phần nội địa tốt”.

Công ty đã đưa vào sản xuất kịp thời hai hệ thống máy nhuộm cao áp MCS mới với năng suất 600kg/mẻ khăn/ máy đạt hiệu quả kinh tế – kỹ thuật cao, đã cắt giảm chi phí sản xuất nhờ rút ngắn thời gian nhuộm, giảm chi phí hơi và hóa chất thuốc nhuộm, nhân công và thời gian lao động giảm khá nhiều. [14] Công ty đã nghiên cứu chuyển đổi công nghệ hai lò hơi từ đốt dầu

F.O sang đốt than sẵn có trong nước, đồng thời thực hiện tốt chương trình tiết kiệm điện, nên đã giảm đáng kể chi phí sản xuất và tăng lợi nhuận. Dự án đầu tư thêm 14 máy dệt khí chăn bông đang được khẩn trương thực hiện để đưa vào hoạt động đúng tiến độ trong năm nay nhằm tăng sản lượng khăn bông xuất khẩu đang có nhu cầu lớn. Công ty Dệt Phong Phú vừa ký hợp đồng liên doanh với Tập đoàn ITG của Mỹ để xây dựng cụm công nghiệp dệt may hiện đại tại khu công nghiệp Khánh Hòa, thành phố Đà Nẵng với tổng số vốn đầu tư trên 80 triệu USD. Khóa luận: Thực trạng môi trường marketing của các doanh nghiệp.

Dệt Phong Phú đã xây dựng và thực hiện nghiêm chỉnh các hệ thống quản lý theo tiêu chuẩn ISO 9001 – 2018, ISO 14.000 và tiêu chuẩn SA 8000, đáp ứng yêu cầu của các nhà nhập khẩu và phân phối dệt may lớn trên thế giới. Đi đôi với giữ vững mối quan hệ bền chặt với các khách hàng cũ truyền thống có nhu cầu lớn như Đức, Pháp, Hà Lan, Bỉ, Nhật Bản, các nước và vùng lãnh thổ Châu Á, công ty đã tìm hiểu nắm chắc nhu cầu, thị hiếu để tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu vào các nước thành viên mới của Liên minh Châu Âu (EU), Mỹ, Canada và các thị trường có nhiều tiềm năng khác. Một Tập đoàn lớn của Mỹ là Target đã bình chọn Dệt Phong Phú là một trong 20 nhà cung cấp xuất sắc nhất trên thế giới để ký hợp đồng mua khăn bông các loại có năm đạt giá trị trên 4 triệu USD. Hiện nay, Dệt Phong Phú là “doanh nghiệp chiếm lĩnh thị trường nội địa tốt” với thị phần cao, đồng thời mở rộng thị trường tiêu thụ trong nước thông qua hệ thống siêu thị, cửa hàng của các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Dệt – May Việt Nam. Công ty phát triển thêm mạng lưới tiêu thụ các loại khăn bông cao cấp, đa dạng mẫu mã vải jean. Do đó, doanh thu bán hàng trong nước của công ty trong 6 tháng đầu năm nay đã tăng gần 38% so với cùng kỳ năm ngoái. [14]

Thông qua thành công của các doanh nghiệp thành viên của Tập đoàn dệt – may Việt Nam trong những năm qua có thể thấy được những nỗ lực và kết quả Tập đoàn đạt được trong việc tích cực thực hiện các biện pháp môi trường trong quá trình sản xuất kinh doanh của mình. Với sự tích cực, chủ động, Tập đoàn dệt – may Việt Nam đang tiến dần tới các mục tiêu đã đặt ra cho giai đoạn phát triển đến 2023 và 2028. Có thể tin rằng, thương hiệu VINATEX đã được khẳng định, sẽ ngày càng chiếm ưu thế hơn trên mọi thị trường.

2. Môi trường trong vấn đề marketing của công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủy sản An Giang (Agifish)

2.1. Giới thiệu chung về công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủy sản An Giang

  • Giới thiệu chung

Công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủy sản An Giang (Agifish) là một trong những nhà chế biến thực phẩm thủy sản hàng đầu của Việt Nam góp phần đáng kể cho sự phát triển kinh tế xã hội trong nước từ năm 2015 và là một trong mười công ty xuất khẩu thủy sản về lĩnh vực các tra, cá basa hàng đầu của Việt Nam sang các thị trường trên thế giới.

Văn phòng chính của công ty đặt tại thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang, có văn phòng đại diện tại thành phố Hồ Chí Minh và các xí nghiệp trực thuộc bao gồm:

Xí nghiệp đông lạnh AGF 7 Xí nghiệp đông lạnh AGF 8 Xí nghiệp đông lạnh AGF 9 Xí nghiệp chế biến thực phẩm Xí nghiệp dịch vụ thủy sản Khóa luận: Thực trạng môi trường marketing của các doanh nghiệp.

Xí nghiệp dịch vụ kỹ thuật Xí nghiệp Basa Biodiesel

Là doanh nghiệp đi tiên phong trong lĩnh vực chế biến cá tra, cá basa, Agifish có tiềm năng phát triển lớn do nhu cầu đối với sản phẩm này trong nước và ngoài nước. Ngành sản xuất cá tra, cá basa Việt Nam còn mới mẻ và có tốc độ phát triển rất nhanh.

  • Thị trường tiêu thụ chính

Thị trường xuất khẩu: Agifish là một trong mười doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản hàng đầu năm 2024.

  • Bảng 1: Mười doanh nghiệp xuất khẩu cá tra, cá basa hàng đầu năm 2024
  • Biểu đồ 2: Các thị trường xuất khẩu chính của Agifish

Công ty phân chia thị trường xuất khẩu của mình thành 8 khu vực theo thứ tự quan tâm:

Biểu đồ 1: Cơ cấu thị trường xuất khẩu năm 2024

Thị trường nội địa: Hệ thống phân phối rộng khắp cả nước từ Bắc đến Nam, bao gồm hệ thống các siêu thị Co-op mart, Metro, Big C, các cửa hàng Vissan… và các đại lý ở các tỉnh. [16]

2.2. Quy định đối với mặt hàng thủy sản của một số thị trường xuất khẩu chính Khóa luận: Thực trạng môi trường marketing của các doanh nghiệp.

2.2.1 Quy định của Nhật Bản

Nhật Bản là một trong những thị trường xuất khẩu chính của các doanh nghiệp thủy sản Việt Nam. Tuy nhiên, thị trường này có rất nhiều quy định khắt khe đối với các sản phẩm thủy sản vì vậy việc nghiên cứu kĩ các quy định này là hết sức cần thiết để các doanh nghiệp thủy sản Việt Nam chiếm lĩnh thị trường tiềm năng này.

Luật kiểm dịch: Quy định tôm, cua nhập khẩu từ những nước có nguy cơ nạn dịch tả sẽ phải kiểm dịch. Nếu phát hiện thấy có vi khuẩn, hàng sẽ bị hủy hoặc trả lại.

Luật vệ sinh thực phẩm: Áp dụng cho cả hàng sản xuất trong nước và hàng ngoại nhập nhằm phòng chống tất cả các nguy hại cho sức khỏe gây ra bởi việc dùng thực phẩm và đồ uống.

Hệ thống phân tích mối nguy và điểm kiểm soát tới hạn (HACCP): Cuối những năm 1980, nhiều quốc gia đã thống nhất là kiểm tra thủy sản căn cứ vào phân tích mẫu sản phẩm cuối cùng và áp dụng phương pháp vệ sinh gen không đủ cơ sở đảm bảo an toàn cho người tiêu dùng. HACCP được các nước, trong đó có Nhật Bản chấp nhận và bắt đầu áp dụng trong việc kiểm tra chất lượng thành phẩm. Theo quy định của HACCP, các nhà máy chế biến thủy sản phải tuân thủ một quy trình sản xuất đã được định sẵn, chứng tỏ họ đã thực hiện biện pháp ngăn ngừa sự nhiễm bẩn của thủy sản tại điểm dừng của quy trình, bắt đầu từ tàu đánh cá cho đến tay người tiêu dùng.

Dấu tiêu chuẩn môi trường “Ecomark”: Cục môi trường Nhật Bản khuyến khích người tiêu dùng sử dụng sản phẩm không làm hại sinh thái (kể cả sản phẩm trong nước cũng như sản phẩm nhập khẩu). Các sản phẩm này được đóng dấu Tiêu chuẩn môi trường “Ecomark”. Để được đóng dấu Ecomark, sản phẩm phải đạt được ít nhất một trong các tiêu chuẩn sau:

  • Việc sử dụng sản phẩm đó không gây ô nhiễm môi trường hoặc có nhưng ít.
  • Việc sử dụng sản phẩm đó mang lại nhiều lợi ích cho môi trường.
  • Chất thải sau khi sử dụng không gây hại cho môi trường hoặc gây hại nhưng rất ít.
  • Sản phẩm đóng góp đáng kể vào việc bảo vệ môi trường ngoài các cách kể trên.

Hệ thống truy xuất sản phẩm: Nhà sản xuất thành phẩm phải lưu trữ hồ sơ chi tiết đề phòng trường hợp các cơ quan có thẩm quyền cần truy xuất nguồn gốc bất kỳ sản phẩm nào bị nghi là đe dọa đến sức khỏe người tiêu dùng và động vật.

2.2.2 Quy định của EU Khóa luận: Thực trạng môi trường marketing của các doanh nghiệp.

Thị trường Châu Âu là một thị trường rộng lớn, đầy tiềm năng nhưng lại có những quy định hết sức phức tạp đối với các sản phẩm thủy sản nhập khẩu vào EU để bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng.

Quy định về vệ sinh, an toàn thực phẩm: Bao gồm các quy định về kiểm tra chất lượng và kiểm tra an toàn thực phẩm và quy định về các chất lây nhiễm bao gồm dioxin và kim loại nặng, thuốc trừ sâu.

Quy định về dư lượng: Hiện EU đang thực hiện chính sách “dư lượng bằng không”, đối với chất kháng sinh bị cấm hoàn toàn.

Quy định về bao gói, ghi nhãn sản phẩm: Bao gồm quy định về nhãn hiệu cho sản phẩm có nguồn gốc hữu cơ; các yêu cầu đối với quy trình sản xuất bao bì, thành phần bao bì; yêu cầu về thu hồi và tái chế bao bì; yêu cầu về đóng gói, kỹ mã hiệu và dán nhãn.

Quy định về hóa chất, phụ gia: Phụ gia thực phẩm là đối tượng điều chỉnh của luật pháp EU, các phụ gia thực phẩm được chấp nhận đều mang số hiệu nhận biết: trước số hiệu là chữ E.

Hệ thống phân tích môi nguy và điểm kiểm soát tới hạn (Hazard Analysis Critical Control Point – HACCP): Hệ thống HACCP được áp dụng đối với các công ty tham gia chế biến, xử lý, đóng gói, vận chuyển, phân phối hoặc kinh doanh thực phẩm. Đây là yêu cầu tối thiểu và bắt buộc của các cơ sở sản xuất, kinh doanh thủy sản phải đạt được để được cấp phép nhập khẩu thủy sản vào EU.

Quy định về truy xuất nguồn gốc sản phẩm: Bao gồm quy định về xuất xứ hàng hóa và quy định về khả năng truy xuất sản phẩm.

Quy định về tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm và môi trường: Áp dụng bộ tiêu chuẩn của Tổ chức quốc tế và tiêu chuẩn hóa (International Standardisation Organization – ISO).

Quy định riêng đối với Việt Nam: Theo quyết định 2020/863/EC ngày 29/10/2020 sửa đổi quyết định 97/296/EEC, EU ban hành danh sách những nước thứ ba được phép xuất khẩu thủy sản dùng làm thực phẩm vào cộng đồng Châu Âu. Danh sách chia làm hai nhóm nước: Khóa luận: Thực trạng môi trường marketing của các doanh nghiệp.

Nhóm Điều kiện Chế độ kiểm tra
I Các nước và cùng lãnh thổ được nói đến trong một quyết định đặc biệt của hội đồng trên cơ sở chỉ thị 91/493/EEC (72 nước và vùng lãnh thổ ở Châu á, trong đó có Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Indonexia, ấn Độ, Malaixia, Thái Lan, Việt Nam) Kiểm tra thông thường (5%) lô hàng xuất khẩu)
II Các nước và cùng lãnh thổ đáp ứng yêu cầu của điều 2 trong quyết định của Hội đồng số 95/408/EEC, 35 nước và vùng lãnh thổ ở Châu á có Hong Kong, Mianma Kiểm tra 100% lô hàng

Có thể thấy hệ thống các quy định của EU về sản phẩm thủy sản là thách thức lớn đối với các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt trong điều kiện người tiêu dùng Châu Âu đặc biệt chú ý đến chất lượng nói chung và chất lượng môi trường nói riêng của các sản phẩm thủy sản nhập khẩu.

2.3. Quy trình sản xuất đảm bảo chất lượng môi trường của AGIFISH

Agifish đã áp dụng chương trình quản lý chất lượng HACCP, ISO 9001:2018, SQF 1000, Halal, BRC vào sản xuất để đảm bảo chất lượng tốt nhất cho sản phẩm, đáp ứng yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trường. Hai nhà máy chế biến chính đã được trang bị với các thiết bị tiên tiến, dây chuyền chế biến hiện đại để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng. Bên cạnh đó, công ty cũng thường xuyên tổ chức các khóa huấn luyện để nâng cao tay nghề của công nhân.

Các thiết bị quản lý chất lượng mới nhất cũng được lắp đặt để có thể phát hiện dư lượng kháng sinh ở mức thấp ngay từ khâu thu mua nguyên liệu. Công ty cũng có chương trình hỗ trợ các ngư dân về phương pháp nuôi trồng là để loại trừ việc sử dụng các chất độc hại và luôn đặt việc sản xuất sạch lên hàng đầu. Để đảm bảo điều này, Agifish kết hợp ứng dụng các thiết bị hiện đại phát hiện dư lượng kháng sinh cùng với các chương trình huấn luyện và khuyến khích ngư dân có giải pháp xử lý môi trường tốt nhất cho phương pháp nuôi của họ. Agifish đã áp dụng qui trình quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2018 và được chứng nhận với SGS, đồng thời đã đưa ra chương trình quản lý chất lượng SQF 1000 áp dụng cho người nuôi. Điều này chứng minh rằng công ty đã có hướng đi đúng về chất lượng và an toàn thực phẩm.

Đặc biệt, công ty đã thực hiện hệ thống quản lý truy xuất nguồn gốc lô hàng, đó là sự khởi đầu cho quá trình đảm bảo chất lượng đến tận tay người tiêu dùng, thực hiện phương châm “Đảm bảo an toàn chất lượng từ vùng nuôi đến bàn ăn”.

Nguồn nguyên liệu: Agifish – một trong những công ty hàng đầu có mô hình sản xuất khép kín gắn kết giữa nguyên liệu và chế biến xuất khẩu thông qua câu lạc bộ Agifish. Khóa luận: Thực trạng môi trường marketing của các doanh nghiệp.

Triển khai các bộ phận có liên quan nắm bắt kịp thời tình hình biến động nguồn nguyên liệu: số lượng, cơ cấu, giá cả, chất lượng… trên cơ sở đánh giá thông qua sự biến động giá cả của thị trường xuất khẩu và thị trường nguyên liệu để có chính sách thu mua hợp lý phù hợp với tình hình cụ thể nhằm đảm bảo hoàn thành được kế hoạch sản xuất kinh doanh và có lãi. Đặc biệt với phương thức thu mua theo chất lượng thực tế của lô nguyên liệu sau chế biến đã kích thích người nuôi không ngừng cải tiến kỹ thuật, gắn chất lượng cá nuôi với sản xuất chế biến và xuất khẩu.

Thực hiện đầu tư nguyên liệu cho các thành viên câu lạc bộ thông qua việc cung cấp các dịch vụ: cám, bột cá, đậu nành làm thức ăn cho cá; thuốc thú y thủy sản phòng và điều trị bệnh cá, một mặt để ổn định nguồn nguyên liệu mặt khác để kiểm soát chặt chẽ hơn các nguồn cung cấp dinh dưỡng, tình hình sử dụng kháng sinh có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cá nuôi sau thu hoạch, ngăn ngừa các mối nguy về vi sinh, kháng sinh đối với các sản phẩm chế biến ngay từ nguyên liệu đầu vào. Đầu tư hợp lý sản lượng cá basa nguyên liệu để duy trì và khôi phục lại thị trường cho mặt hàng này vốn có nhiều tiềm năng phát triển.

Đến nay, sau một năm thành lập Liên hợp sản xuất cá sạch với 32 thành viên chính thức và 18 thành viên dự bị, diện tích ao nuôi trên 800.000 m2 đã có những thành công bước đầu trong việc tổ chức lại sản xuất, thực hiện cam kết cung cấp cá sạch, an toàn chất lượng cho công ty. Năm 2024, các thành viên Liên hợp cung cấp cho các nhà máy đông lạnh của công ty bình quân 180 tấn cá nguyên liệu/ngày. Mặc dù giá cả và sản lượng bên ngoài có biến động lớn nhưng công ty vẫn có được nguồn cung cấp nguyên liệu ổn định, đem lại niềm tin cho khách hàng.

  • Công nghệ chế biến:
  • Quản lý chất lượng:

Chú trọng cải tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm. Quản lý tốt các định mức tiêu hao nguyên liệu, vật tư, bao bì, nâng cao năng suất hiệu quả.

Tiếp tục áp dụng cơ chế giao quyền, cơ chế khoán cho các đơn vị cơ sở nhằm phát huy tính chủ động của cán bộ lãnh đạo các cấp.

Thường xuyên tổ chức “tháng an toàn chất lượng” xem xét đánh giá việc quản lý chất lượng tại các xí nghiệp, khắc phục các mối nguy có thể có ảnh hưởng đến an toàn vệ sinh thực phẩm. Doanh nghiệp đạt được nhiều giải thưởng về chất lượng của các Bộ, ngành TW và địa phương.

Agifish đã nhanh chóng nắm bắt được nhu cầu của thị trường trong nước cũng như thị trường nước ngoài về chất lượng của sản phẩm, doanh nghiệp đã đưa ra một chiến lược sản xuất kinh doanh đảm bảo chất lượng từ khâu thu mua nguyên vật liệu tới khâu phân phối sản phẩm. Nhờ đó trong nhiều năm liên tiếp Agifish được đánh giá là một trong những doanh nghiệp hàng đầu của ngành thủy sản xuất khẩu Việt Nam.

3. Môi trường trong chiến lược kinh doanh của công ty Toyota Việt Nam Khóa luận: Thực trạng môi trường marketing của các doanh nghiệp.

3.1. Giới thiệu chung về Toyota Việt Nam

Công Ty Toyota Việt Nam (TMV) được thành lập ngày 5 tháng 9 năm 2013, là lien doanh giữa công ty Toyota Nhật Bản (TMC), Tổng công ty máy động lực và máy nông nghiệp Việt Nam (VEAM) và công ty KUO (Châu Á). Tháng 10 năm 2014 công ty chính thức đi vào hoạt động.

Ngay từ khi mới thành lập, Toyota Việt Nam đã luôn chú trọng tới việc phát triển một cách toàn diện trên các mục tiêu: Thành công trong kinh doanh, Bảo vệ môi trường và Phát triển cộng đồng. Trên các phương diện đó, Toyota Việt Nam đã đạt được nhiều thành công đáng kể. TMV đã luôn giữ vững vị trí dẫn đầu trên thị trường ô tô Việt Nam kể từ ngày thành lập và đã có nhiều đóng góp lớn cho sự phát triển của ngành công nghiệp ô tô Việt Nam. Về phương diện bảo vệ môi trường, TMV là nhà sản xuất ô tô đầu tiên tại Việt Nam thực hiện và được nhận chứng chỉ ISO 14001. Trên phương diện đóng góp xã hội, TMV đã rất nỗ lực thực hiện các hoạt động đóng góp xã hội trong các lĩnh vực đào tạo phát triển nguồn nhân lực, kinh tế xã hội, văn hóa và thể thao. [18]

3.2. Toyota Việt Nam với chương trình sản xuất sạch

Đối với một nhà sản xuất ô tô, bảo vệ môi trường là một trong những hoạt động ưu tiên hàng đầu. Ý thức được điều này, năm 2014, công ty Toyota Nhật Bản đã công bố “Kế hoạch hành động về môi trường” với nội dung chính là tất cả các cơ sở sản xuất chính của Toyota trên toàn thế giới thực hiện những chuẩn mực của hệ thống quản lý môi trường 14001.

Về phía Toyota Việt Nam, bên cạnh những kế hoạch hành động cụ thể, TMV cũng tiến hành xây dựng, lắp đặt các thiết bị, cơ sở hạ tầng nhằm thu gom, phân loại, kiểm soát và xử lý các loại chất thải. Năm 2015, TMV đã thiết kế, lắp đặt hệ thống xử lý nước thải và hệ thống phòng thí nghiệm quan trắc với tổng số vốn đầu tư hàng triệu USD. Nước thải sau xử lý của TMV luôn luôn được đảm bảo thấp hơn tiêu chuẩn quy định TCVN 5945 (cột B). Ngay sau khi đi vào hoạt động ổn định, ngày 25/9/2017, Công ty Toyota Việt Nam đã được nhận chứng chỉ Hệ thống quản lý môi trường, phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế ISO 14001. Từ đó đến nay TMV vẫn duy trì được chứng chỉ này và không ngừng theo đuổi các công nghệ môi trường, nâng cao nhận thức cho tất cả nhân viên, đặt ra và hoàn thành các mục tiêu cũng như chỉ tiêu để bảo vệ môi trường. Không chỉ dừng lại ở hoạt động của chính mình, TMV luôn hướng dẫn và hỗ trợ các đại lý và trạm dịch vụ ủy quyền của mình bảo vệ môi trường trong hoạt động thường ngày. Đồng thời cũng phát triển, củng cố và hợp tác với các tổ chức, công ty thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải, hợp tác với Bộ tài nguyên và Môi trường và các tổ chức công nghiệp. [18] Khóa luận: Thực trạng môi trường marketing của các doanh nghiệp.

  • Phát triển hệ thống quản lý môi trường ở TMV

Ngày 25 tháng 9 năm 2017, công ty Toyota Việt Nam (TMV) đã nhận được chứng chỉ ISO 14001 phiên bản 2014 sau một năm tiến hành chuẩn bị thiết lập. Tháng 9 năm 2023, hệ thống quản lý môi trường của TMV đã được tái chứng nhận phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế ISO 14001 phiên bản mới nhất (phiên bản 2022) của TUV Rheinland (TUV Rheinland là thành viên của Hiệp hội giám định kỹ thuật TUV, một tổ chức đánh giá chuyên về các hoạt động giám định và cấp chứng chỉ tiêu chuẩn quốc tế về quản lý môi trường, chất lượng, an toàn…)

Việc cấp nhật thành công phiên bản mới ISO 14001 – 2022, nâng cấp hệ thống quản lý môi trường theo định hướng của Toyota Nhật Bản là những nỗ lực của TMV nhằm mục tiêu tăng cường hình ảnh của TMV cũng như phát triển kinh doanh bền vững, kiểm soát rủi ro.

ISO 14001 là hệ thống quản lý môi trường được phát triển bởi tổ chức Tiêu chuẩn quốc tế ISO. Đây là một chuẩn mực hoàn toàn dựa trên các hoạt động tự nguyện nhằm phát triển hệ thống quản lý về môi trường của một công ty. Kết quả của hệ thống quản lý môi trường sẽ giảm thiểu được tác động của các hoạt động kinh doanh sản xuất đến môi trường, thể hiện trách nhiệm của công ty đến cộng đồng cư dân, xã hội của doanh nghiệp. Việc áp dụng hệ thống quản lý môi trường cùng với các công việc quản lý khác có tác dụng hỗ trợ lẫn nhau thúc đẩy các hoạt động giảm giá thành, tăng chất lượng, tăng cường và liên tục cải tiến mọi công việc, công đoạn, đảm bảo phát triển sản xuất bền vững.

Tính đến cuối năm 2023, toàn bộ 8 nhà cung cấp chính đã nhận được chứng chỉ ISO 14001 về quản lý môi trường, hoàn thành việc xây dựng, loại bỏ các loại hóa chất cấm. Ngoài ra, công ty đang tiến hành xây dựng hệ thống chia sẻ thông tin về các cải tiến, kinh nghiệm quản lý về môi trường với tất cả các nhà cung cấp phụ tùng trong và ngoài nước. [18]

  • Các hoạt động bảo vệ môi trường Khóa luận: Thực trạng môi trường marketing của các doanh nghiệp.

Xử lý chất thải rắn: Chất thải rắn được tạo ra từ quá trình sản xuất, từ xử lý nước thải… được thu gom lại và bảo quản theo đúng yêu cầu của quy định về môi trường. Một vấn đề không chỉ riêng TMV mà hầu hết các doanh nghiệp khác đếu gặp phải là không có đơn vị chuyên trách về xử lý chất thải nguy hại, do vậy tất cả các chất thải rắn sinh ra trong quá trình sản xuất phải lưu kho với số lượng ngày càng lớn làm tăng chi phí và các nguy cơ rủi ro.

Từ các lý do nêu trên, TMV đã không ngừng tìm kiếm các doanh nghiệp chuyên về xử lý chất thải nguy hại. Đến năm 2023, TMV đã lựa chọn được hai đơn vị là Urenco và Holcim cho việc thực hiện xử lý và tiêu hủy chất thải. Nhờ có các công ty này, TMV đã đạt được mục đích tiêu “Zero landfill” (Không cần chôn lấp) – hoàn toàn không gây hại môi trường.

Đây là phương pháp xử lý chất thải mà tất cả các nước tiên tiến trên thế giới đang áp dụng.

Chương trình thu gom dầu thải: Dầu thải phát sinh chủ yếu từ các họat động bảo dưỡng xe ô tô của các xưởng sửa chữa. Có hai loại dầu thải: dầu động cơ thải là dầu đã hoặc đang sử dụng cho bôi trơn động cơ hoặc các mục đích tương tự; chất lưu là chất lưu đã hoặc đang được sử dụng cho truyền động bánh răng như hộp số, hệ thống trợ lực lái hoặc truyền lực chính… Dầu thải hoàn toàn 100% có khả năng tái chế nhưng vì dầu thải là chất làm ô nhiễm môi trường nên chú ý không nên để thấm vào đất, vào nguồn nước và hệ thống cống rãnh, mương. Chỉ với một lít dầu có thể phát tán vào môi trường và làm ô nhiễm một triệu lít nước.

Dầu thải là một loại chất thải độc hại đã được liệt kê trong danh sách chất thải nguy hại của Quyết định 155/2017/QĐ-TTg, phù hợp với luật Bảo vệ môi trường Việt Nam mà nguồn thải chất thải này phải có trách nhiệm thu gom/xử lý hoặc thuê công ty có chức năng xử lý. Công ty đã thông qua ủy quyền của Caltex Việt Nam – công ty Văn Đạo, một công ty có giấy phép tại Hà Nội có mạng lưới thu gom tái chế dầu thải thực hiện “Chương trình thu gom dầu thải” bắt đầu từ tháng 2 năm 2020. Chương trình này gồm các công đoạn thu gom, lưu giữ và chuyển giao dầu thải của tất cả các đại lý Toyota tại Việt Nam cho công ty Văn Đạo.

Để thúc đẩy và giáo dục ý thức trong bảo vệ môi trường cho tất cả mọi người bao gồm cả thành viên công ty và khách hàng, mỗi đại lý của Toyota đã dán những biển hiệu trên phương tiện thu gom và khu vực để dầu thải. Công ty cũng thường xuyên ghi chép lại số lượng dầu thải đã thu gom và chuyển giao và thông báo cho người có chức năng.

Chương trình thu gom, xử lý lọc dầu thải và lọc nhiên liệu Diesel: Lọc dầu thải được liệt kê là chất độc hại theo luật Bảo vệ môi trường Việt Nam 2023 và để làm tốt hơn vấn đề này, Toyota Việt Nam đã chủ động phát triển một mạng lưới thu gom, xử lý lọc dầu thải và lọc nhiên liêu diesel (lọc thải) để bảo vệ môi trường. Khóa luận: Thực trạng môi trường marketing của các doanh nghiệp.

Hệ thống thu gom lọc thải này là một hệ thống đặc biệt và rất hữu ích trong việc xử lý phân tách lọc thải giúp bảo vệ môi trường, đồng thời có thể tận thu khối lượng không nhỏ kim loại và dầu phế thải để tái sinh.

Mạng lưới xử lý lọc thải hiện tại đang hoạt động tại tất cả các đại lý của Toyota, tất cả vật chất thu được từ việc xử lý đều được tái chế hoặc tái sử dụng bởi các công ty địa phương.

Toyota Việt Nam đã giúp các đại lý của mình thiết bị cắt lọc dầu từ năm 2020 và các đại lý thường xuyên sử dụng thiết bị này để xử lý lọc thải bằng cách cắt và phân tích lõi lọc và vỏ lọc.

Kết quả thu được là hàng trăm lít dầu thải và hàng trăm kilogam kim loại, và chúng đều có thể làm nguyên liệu để tái chế thay vì vất bỏ làm ô nhiễm môi trường. Cùng với việc tái chế dầu thải, việc thu gom và xử lý lọc thải là một hoạt động góp phần bảo vệ môi trường, đồng thời tạo điều kiện cho công ty thu gom, tái chế tận thu nguồn nguyên liệu.

Chương trình thu hồi, tái chế để tái sử dụng dung môi hữu cơ: Dung môi hữu cơ trong xưởng sửa chữa chủ yếu là từ dung môi pha sơn, chất tẩy rửa khi chuẩn bị bề mặt sơn và cặn sơn. Chúng có thể chứa acetone, toluene, methylene chloride, xylene hoặc hóa chất hữu cơ. Hầu hết dung môi hữu cơ có thể bay hơi tốt, có khả năng cháy và độc. Ở dạng khí chúng có khả năng tác động lại ánh sáng mặt trời làm xuy yếu tầng ôzôn và làm ung thư phổi. Dung môi hữu cơ cũng có thể làm ô nhiễm một khối lượng lớn nước.

Tất cả các loại dung môi thải kể trên đều nằm trong danh sách chất thải nguy hại theo luật Bảo vệ Môi trường Việt Nam 2023. Từ tháng 11 năm 2022, Toyota Việt Nam đã phát triển một mạng lưới thu gom dung môi hữu cơ thải tại tất cả các đại lý trên toàn quốc và tái chế bởi các máy tinh lọc dung môi. Tinh chế dung môi hữu cơ thải có thể làm giảm khối lượng dung môi mới phải mua, đồng thời cũng là cách xử lý phù hợp đối với chất thải nguy hại góp phần bảo vệ môi trường.

Chương trình thu hồi và tái chế ga điều hòa HFC/CFC: Tất cả các phương tiện sản xuất trước năm 2009 đều sử dụng loại ga làm lạnh CFC-12 trong hệ thống điều hòa và từ sau năm 2013 hầu hết các phương tiện sản xuất và ra sử dụng ga làm lạnh HFC-134a thay thế. Các loại ga làm lạnh CFC làm suy yếu tầng ôzôn và chúng cũng là nguyên nhân gây ra hiệu ứng nhà kính. Việc dùng loại ga làm lạnh HFC-134a là an toàn cho tầng ôzôn nhưng chúng cũng gây ra hiệu ứng nhà kính.

Là những loại ga làm lạnh có hại đến môi trường như vậy nên cần giảm thiểu lượng sử dụng và tìm hiểu kĩ những khả năng ảnh hưởng đến môi trường của mỗi loại ga làm lạnh trước khi sử dụng chúng. Đồng thời việc thu hồi và tái chế ga làm lạnh trong thời gian bảo dưỡng, sửa chữa hệ thống điều hòa là yêu cầu bắt buộc bởi luật Bảo vệ môi trường Việt Nam, Nhật Bản và hầu hết các quốc gia khác trên thế giới. Toyota Việt Nam đã thúc đẩy thu gom và tái chế ga làm lạnh bởi các khóa đào tạo kỹ thuật viên cho các đại lý của Toyota trong bảo dưỡng, sửa chữa thay thế phụ tùng trong hệ thống điều hòa. Đồng thời công ty cũng giúp đỡ thiết bị thu hồi và tái chế ga lạnh cho tất cả các đại lý Toyota Việt Nam từ năm 2017. Đến thời điểm này có nhiều đại lý tự mua thêm những thiết bị có chức năng tương tự do việc mở rộng kinh doanh, nhu cầu khách hàng nhưng đặc biệt là vì mục đích bảo vệ môi trường. Khóa luận: Thực trạng môi trường marketing của các doanh nghiệp.

Chương trình thu hồi chai, can nhựa đã qua sử dụng: Chai, can nhựa đã qua sử dụng trong xưởng sửa chữa thường là can chứa dầu hộp số, nước làm mát hoặc là chai dầu phanh, chai dầu hộp số tự động… nhưng số lượng lớn nhất vẫn là can nhựa chứa dầu động cơ đã sử dụng. Việc thu hồi và tái sử dụng hoặc tái chế can chai, can nhựa đã qua sử dụng là góp phần bảo vệ môi trường và tiết kiệm nguồn tài nguyên.

Từ năm 2020 đến thời điểm hiện nay, tại đại lý của Toyota Việt Nam, hàng ngàn kilogam can, chai nhựa đã được thu gom và tái chế bởi sự hợp tác với các công ty có giấy phép thu gom: cho mạng lưới của Toyota Việt Nam phía Nam, can và chai nhựa được thu gom và tái chế bởi công ty nhựa Đạt Hòa; cho mạng lưới của đại lý Toyota Việt Nam phía Bắc, được thu gom và tái chế bởi công ty nhựa Ngôi Sao, một công ty có chức năng thu gom nhựa thải, mà Toyota Việt Nam hợp tác và ủy nhiệm.

Hơn thế nữa, để giảm thiểu khối lượng can nhựa chứa dầu động cơ, chúng tôi cũng khuyến khích các đại lý của mình trong việc sử dụng dầu động cơ chứa trong thùng phi thay cho thói quen sử dụng dầu động cơ chứa trong can. Kết quả là hiện nay, hầu hết các đại lý đang sử dụng dầu động cơ chứa trong thùng phi khi thay dầu cho khách hàng.

Những nỗ lực và thành công của Toyota Việt Nam đã nhận được nhiều giải thưởng và bằng khen của chính phủ cũng như nhiều tổ chức khác. Tháng 8 năm 2024, TMV vinh dự được trao giải thưởng “Doanh nghiệp xuất khẩu xuất sắc” do Ủy ban Quốc gia về Hợp tác kinh tế quốc tế phối hợp với 53 thương vụ Việt Nam tại nước ngoài trao tặng. Tháng 1 năm 2024, TMV vinh dự nhận được giải thưởng Rồng vàng (giải thưởng của báo Thời báo kinh tế Việt Nam) cho sản phẩm có chất lượng cao được nhiều người tiêu dùng ưa chuộng lần thứ năm liên tiếp (2019 – 2023). Tháng 9 năm 2023, Chủ tịch nước đã trao tặng TMV Huân chương Lao động hạng ba do những đóng góp tích cực đối với ngành công nghiệp ô tô Việt Nam và các hoạt động văn hóa khác nhân dịp TMV kỉ niệm 10 năm thành lập và hoạt động tại Việt Nam và nhiều giải thưởng khác.

4. Môi trường trong vấn đề marketing tại một số doanh nghiệp khác Khóa luận: Thực trạng môi trường marketing của các doanh nghiệp.

4.1. Tổng công ty xăng dầu Việt Nam

Tổng công ty xăng dầu Việt Nam (Petrolimex) được Bộ thương mại tặng bằng khen cho những hoạt động bảo vệ môi trường “xanh – sạch – đẹp”. Đây không chỉ là thành tích nhất thời của Petrolimex trong lĩnh vực này mà là kết quả của cả một quá trình xây dựng hệ thống quản lý môi trường trong toàn công ty.

Từ khi có chỉ thị 36/CT/TW của Bộ chính trị ngày 25/6/2016 về “tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ CNH-HĐH đất nước”, Tổng công ty đã quán triệt tinh thần của chỉ thị đến từng cán bộ công nhân viên trong Tổng công ty, biến các nội dung yêu cầu của chỉ thị thành những chương trình hành động cụ thể, tiếp tục chương trình bảo vệ môi trường đã thực hiện từ 2014-2018, đầu tư bổ sung các trang thiết bị hiện đại nhằm nâng cao khả năng ứng cứu sự cố môi trường như: tự động hóa các khâu, đo bể lắp mái phao cho các bể chứa, đồng thời nâng cấp hệ thống kho dầu, tuyến ống dẫn chính, hệ thống cầu cảng, phao neo. Tổng công ty còn trang bị 7870 m phao quây dầu, 14 bộ bơm hút dầu tràn (Skimmer), 480 hộp giấy thấm dầu, 9000 lít chất phân tán dầu… để ứng cứu sự cố dầu tràn cho hầu hết các cảng trọng điểm của Tổng công ty: B12 (Quảng Ninh), Thương Lý (KV3), Nghi Hương (Nghệ Tĩnh), Thuận An (Huế), Mỹ Khê-Nại Hiên (KV5)… Ngoài ra, Petrolimex còn lắp đặt 27 thiết bị xử lý nước thải ở các kho xăng dầu đầu mối: Nhà Bè (KV2), Thuận An (Huế), tổng kho xăng dầu miền tây (Hậu Giang)…, đầu tư đóng mới tàu chở phao và ứng cứu tràn dầu, PCCC di động tại Nhà Bè, thay thế dần các phương tiện vận tải thuỷ, bộ hết niên hạn sử dụng, trang bị đầy đủ các thiết bị đạt tiêu chuẩn quốc tế về vệ sinh môi trường, triển khai áp dụng bộ Luật an toàn hàng hải (ISM code) đối với tàu biển chở dầu.

Bên cạnh đó Petrolimex còn rất chú trọng công tác nghiên cứu đào tạo trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.

  • Phối hợp với viện công nghệ sinh học thuộc Trung tâm Khoa học tự nhiên và công nghệ quốc gia nghiên cứu ứng dụng công nghệ sinh học để xử lý nước thải nhiễm dầu, tại công ty xăng dầu B12 – Quảng Ninh, đạt giải thưởng VIFOTECH 2019
  • Phối hợp với Trung tâm công nghệ môi trường ECO (Bộ quốc phòng) sản xuất thiết bị xử lý nước thải SS – OST – R15C, nước thải đạt tiêu chuẩn loại B; Phối hợp với SEEN thiết kế chế tạo thiết bị xử lý nước thải bằng phương pháp hóa cơ, nước thải đạt loại A theo tiêu chuẩn Việt Nam.
  • Phối hợp với hãng VIT (Nga) xử lý cặn bùn dầu bằng chất thấm dầu
  • Nghiên cứu áp dụng thành công sơn phản nhiệt các bể chứa xăng dầu nhằm hạn chế sự bay hơi của xăng dầu, giảm thiểu khả năng xảy ra sự cố cháy nổ.
  • Phối hợp các hãng có nhiều kinh nghiệm về bảo vệ môi trường như TRIMAR, The Mariner, BP, Texaco, Idemitsu Korerneas tổ chức các buổi hội thảo cho các cán bộ làm công tác bảo vệ môi trường trong toàn ngành; thường xuyên cử cán bộ tham gia các khóa đào tạo trong và ngoài nước do các tổ chức bảo vệ môi trường quốc tế và khu vực tổ chức.

4.2. Công ty Dệt may Hòa Thọ Khóa luận: Thực trạng môi trường marketing của các doanh nghiệp.

Công ty Dệt may Hòa Thọ đã có những biện pháp hữu hiệu để khắc phục “căn bệnh cố hữu” của ngành dệt – ô nhiễm môi trường công nghiệp. Là một doanh nghiệp dệt may có quy mô lớn nhất trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, công ty Dệt may Hòa Thọ trong những năm qua luôn được đánh giá là doanh nghiệp không chỉ ổn định, tăng trưởng trong sản xuất kinh doanh mà còn làm tốt công tác bảo vệ môi trường, cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động.

Tại khâu kéo sợi có hệ thống điều hòa không khí, trạm lạnh và phòng tách lọc bụi bông riêng biệt nhằm hạn chế sinh nhiệt và bụi bông trong không gian. Đối với nhà máy sợi, khi dự án nhà máy 11.000 cọc sợi đưa vào hoạt động từ năm 2018 đến nay, cường độ lao động của công nhân không chỉ giảm mà môi trường làm việc cũng cải thiện rất nhiều. Việc đầu tư các thiết bị hạn chế sinh nhiệt, hệ thống điều hoà không thông gió, đặc biệt khi công ty đưa vào sử dụng các thiết bị phun sương di động, trạm lạnh lọc bụi 20 lần/giờ và phòng tách lọc bông bụi riêng đã khắc phục được tình trạng ô nhiễm môi trường công nghiệp – vốn là căn bệnh cố hữu của ngành dệt may lâu nay.

Quan trọng nhất là công tác tuân thủ, tự quan trắc và lập báo cáo định kỳ, công ty đã chắp hàng tốt và đúng thời hạn. Mặc dù là đơn vị hoạt động xen lẫn trong khu dân cư nhưng hệ thống sản xuất kín, đảm bảo an toàn, chưa xảy ra sự cố nào về môi trường, không ảnh hưởng đến môi trường xung quanh vì thế đến nay vẫn chưa có khiếu kiện nào của người dân khu vực.

Theo lãnh đạo công ty dệt may Hòa Thọ, chính những cố gắng trong việc đầu tư cho công tác giảm thiểu ô nhiễm môi trường đã góp phần quan trọng trong chiến lược nâng cao sức cạnh tranh chất lượng sản phẩm của công ty. [26]

4.3. Công ty TNHH Luks xi măng Thừa Thiên Huế (LUKVAXI)

Công ty TNHH Luks xi măng Thừa Thiên Huế (LUKVAXI) ra đời năm 2010 trên cơ sở liên doanh giữa công ty sản xuất vật liệu xây dựng tỉnh Thừa Thiên Huế với tập đoàn Luks Industrial HongKong.

Xác định chất lượng là sự sống còn của công ty, nhất là trong điều kiện nước ta đang chuẩn bị hội nhập nền kinh tế khu vực và thế giới, toàn công ty đã tập trung vào việc xây dựng và từng bước thực hiện chính sách chất lượng. Nhờ phát huy nội lực cùng với sự giúp đỡ của các ngành hữu quan như Khóa luận: Thực trạng môi trường marketing của các doanh nghiệp.

Sở Khoa học và công nghệ, trung tâm chứng nhận phù hợp tiêu chuẩn QUACERT và các ngành chức năng nên chỉ sau hai năm thực hiện, đầu tháng 4 năm 2018, công ty đã nhận được giấy chứng nhận Hệ thống quản lý chất lượng cho lĩnh vực sản xuất và cung ứng xi măng phù hợp với các yêu cầu của tiêu chuẩn ISO 9002 : 2012 do tổ chức PSB (Singapore) và QUACERT cấp. Công ty trở thành doanh nghiệp đầu tiên ở tỉnh Thừa Thiên Huế nhận được chứng chỉ phù hợp tiêu chuẩn quốc tế.

Không dừng lại ở việc nhận được giấy chứng nhận Hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 9000, càng không coi việc xây dựng, áp dụng tiêu chuẩn ISO 9000 là cái mốt nên công ty đã tích cực thúc đẩy các hoạt động duy trì thực hiện Hệ thống quản lý chất lượng. Hội đồng ISO của công ty vẫn thường xuyên kiểm tra, giám sát cùng với bộ phận QA (đảm bảo chất lượng) thường xuyên theo dõi nghiêm ngặt, kiểm soát toàn bộ quá trình sản xuất từ nguyên liệu, bán thành phẩm đến thành phẩm, đảm bảo chất lượng từng lô xi măng do công ty sản xuất, cung ứng cho khách hàng. Để công tác kiểm tra chất lượng có hiệu quả, công ty đã đầu tư xây dựng phòng thí nghiệm chất lượng sản phẩm. Đến nay, phòng thí nghiệm của công ty đã được chứng nhận là phòng thí nghiệm đạt tiêu chuẩn ISO/IEC 17025, trở thành một trong một số phòng thí nghiệm hiếm hoi được VILAS công nhận trên địa bàn Thừa Thiên Huế.

Những ngày đầu hoạt động công ty đã gặp phải một số vấn đề nổi cộm về môi trường. Để khắc phục và đạt được các mục tiêu trên, công ty đang thực hiện áp dụng Hệ thống quản lý môi trường theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 14000. Giải pháp cụ thể đã và đang được thực hiện bao gồm: Giáo dục, nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường cho cán bộ công nhân viên, trên cơ sở đó tự giác thực hiện nghiêm chỉnh nội quy, quy trình, phương tiện xử lý môi trường và vệ sinh công nghiệp; Cung cấp đầy đủ thiết bị, phương tiện xử lý môi trường; Trồng, chăm sóc và bảo vệ cây xanh trong và ngoài nhà máy; Thường xuyên giám sát các chỉ tiêu môi trường, đặc biệt là nồng độ bụi, tiếng ồn và nước thải; Dành một nguồn lực thích hợp để thực hiện chương trình bảo vệ môi trường.

Bên cạnh việc hợp đồng định kỳ hàng năm với bên ngoài để quan trắc các thông số về môi trường lao động, công ty đã mua sắm các thiết bị đo đạc tiếng ồn, bụi… để chủ động trong việc kiểm soát ô nhiễm môi trường. Đáp lại nỗ lực của công ty, ngày 18 tháng 12 năm 2019, công ty được cấp chứng nhận ISO 14000. [10]

Tuy nhiên, đến năm 2024, công ty phải đối mặt với tình trạng ô nhiễm môi trường do hoạt động sản xuất của công ty gây ra ở địa phương. Việc sản xuất xi măng của nhà máy gây ra ô nhiễm tiếng ồn, ô nhiễm bụi và ô nhiễm nguồn nước cho người dân sống ở khu vực quanh nhà máy. Mặc dù nhà máy có hệ thống lọc bụi tĩnh điện nhưng không hiểu sao hàng ngày vẫn thải ra một lượng bụi khá lớn làm ô nhiễm môi trường. Trong năm 2022, Sở Khoa học – Công nghệ và Môi trường tỉnh Thừa Thiên – Huế cũng đã tiến hành làm việc với nhà máy để giải quyết chuyện này và công ty cũng đã cam kết khắc phục. Theo đó, nhà máy đã khắc phục ô nhiễm nguồn nước nhưng bụi thì vẫn còn. Hơn nữa, từ cuối năm 2023, tỉnh Thừa Thiên – Huế không liên doanh nữa, giao lại toàn bộ nhà máy xi măng này cho phía Hồng Kông thì nhà máy này nâng công suất từ 750 nghìn tấn/năm lên 1,2 triệu tấn/năm nên lượng bụi thải ra càng lớn làm ô nhiễm môi trường trầm trọng. [12]

Thông qua trường hợp của LUKSVAXI có thể thấy được vai trò quan trọng của chiến lược marketing đối với hoạt động của doanh nghiệp. Dù doanh nghiệp hoạt động trong bất kỳ lĩnh vực nào cũng đòi hỏi phải xây dựng một chiến lược kinh doanh cụ thể có tính đến tác động của yếu tố môi trường. Và vấn đề môi trường phải được doanh nghiệp quán triệt thấu đáo trong suốt quá trình hoạt động chứ không chỉ coi đó như tiền đề để có được chứng nhận quốc tế về môi trường nhằm quảng bá cho hình ảnh của doanh nghiệp. Bảo vệ môi trường là nghĩa vụ và trách nhiệm của chính doanh nghiệp nhằm bảo vệ lợi ích lâu dài của chính mình chứ không thể coi đó là một giải pháp tình thế nhằm đối phó với cơ quan chức năng và là một công cụ marketing để đối phó với thị trường. Khóa luận: Thực trạng môi trường marketing của các doanh nghiệp.

II: ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ THỰC TRẠNG ÁP DỤNG MÔI TRƯỜNG TRONG VẤN ĐỀ MARKETING CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM

1. Những tồn tại và hạn chế của các doanh nghiệp Việt Nam trong việc áp dụng môi trường trong vấn đề marketing

1.1. Doanh nghiệp chưa quan tâm đúng mức tới vấn đề môi trường khi lập chiến lược

Khi thành lập các doanh nghiệp phải tiến hành nghiên cứu tác động của các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tới môi trường và phải đưa ra các chứng chỉ môi trường chứng tỏ mình có thể giải quyết tốt các vấn đề đó trong suốt quá trình hoạt động. Tuy nhiên, việc làm này đối với nhiều doanh nghiệp vẫn chỉ mang tính hình thức. Rất nhiều doanh nghiệp không đánh giá đúng vai trò của việc bảo vệ môi trường trong quá trình sản xuất kinh doanh. Có chăng chỉ dừng lại ở việc sử dụng tiết kiệm nguyên nhiên liệu đầu vào và hạn chế phần nào chất thải công nghiệp vì đây là những vấn đề ảnh hưởng trực tiếp tới chi phí và lợi nhuận trước mắt của doanh nghiệp. Với những doanh nghiệp đã hoạt động từ lâu thì việc trang bị lại máy móc thiết bị cũng như cải tiến quy trình sản xuất nhằm đáp ứng các yêu cầu và tiêu chuẩn môi trường quốc gia cũng như quốc tế là hết sức khó khăn.

Nhiều doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là các doanh nghiệp Nhà nước và các doanh nghiệp tư nhân vừa và nhỏ còn xa lạ với việc đưa ra các chiến lược kinh doanh trung và dài hạn, phần lớn chỉ là các kế hoạch ngắn hạn. Chính điều này khiến các doanh nghiệp không đánh giá hết được tác động của các yếu tố bên ngoài tới hoạt động của doanh nghiệp, nhất là các tác động chỉ thấy được sau một quá trình hoạt động khá lâu như các vấn đề về môi trường.

1.2. Phần lớn doanh nghiệp trong nước chưa áp dụng các tiêu chuẩn và quy định quốc tế về môi trường Khóa luận: Thực trạng môi trường marketing của các doanh nghiệp.

Mặc dù trong những năm vừa qua ngày càng có nhiều các doanh nghiệp quan tâm hơn tới vấn đề môi trường nhưng việc áp dụng các quy định và tiêu chuẩn quốc tế về môi trường tại các doanh nghiệp Việt Nam còn rất nhiều hạn chế. Con số các doanh nghiệp Việt Nam được cấp các chứng nhận quốc tế về môi trường hết sức nhỏ bé. Tính đến tháng 9 năm 2025, có hơn 113 doanh nghiệp và tổ chức tại Việt Nam được cấp chứng chỉ ISO 14000 trong khi trên toàn thế giới có trên 120.000 chứng chỉ ISO được cấp ở 138 quốc gia. So với mặt bằng chung của thế giới thì số doanh nghiệp Việt Nam đăng ký và được cấp chứng chỉ là rất thấp, tỷ lệ xấp xỉ 1/1000. Hơn nữa, trong số các doanh nghiệp được cấp chứng chỉ ISO 14000, có 2/3 là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Điều này cho thấy các doanh nghiệp Việt Nam chưa thực sự chú trọng tới vấn đề môi trường trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.

1.3. Ít doanh nghiệp Việt Nam biết đến khái niệm marketing xanh (green marketing)

Trong khi trên thế giới, marketing xanh đang trở thành xu hướng chung của tất cả các doanh nghiệp thì tại Việt Nam, khái niệm này còn rất mới mẻ. Trên thị trường sách Việt Nam chúng ta không tìm được một cuốn sách nào viết về đề tài này. Điều này cho thấy, ngay về mặt lý thuyết các nhà kinh tế Việt Nam cũng chưa quan tâm tới vấn đề này hay nói đúng ra là các doanh nghiệp Việt Nam đang bị bỏ lại khá xa xu hướng chung của thế giới. Khi vấn đề môi trường ngày càng trở nên nghiêm trọng và trở thành mối quan tâm hàng đầu của tất cả các chính phủ và mọi công dân trên trái đất thì hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp không thể làm ngơ trước vấn đề mang tính toàn cầu này. Nói cách khác, các doanh nghiệp Việt Nam đang không theo kịp sự thay đổi nhu cầu của người tiêu dùng. Chính vì vậy, chiến lược marketing hiện nay của các doanh nghiệp sẽ không còn phù hợp và không thể đáp ứng được nhu cầu hiện tại và tương lai của các khách hàng. Trong điều kiện mở cửa và tự do thương mại như hiện nay, việc các doanh nghiệp nước ngoài với những chiến lược marketing phù hợp sẽ chiếm lĩnh được thị trường Việt Nam không phải là khó, đặc biệt khi người tiêu dùng Việt Nam cũng ngày càng quan tâm hơn các sản phẩm sinh thái và các sản phẩm được chứng nhận quốc tế về chất lượng môi trường của sản phẩm.

1.4. Nhiều doanh nghiệp sử dụng các chứng nhận môi trường như một công cụ để marketing cho hình ảnh doanh nghiệp

Nhận thức được vai trò ngày càng quan trọng của môi trường đối với hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như chiến lược phát triển của công ty, nhiều doanh nghiệp đầu tư chi phí và thời gian cho việc đáp ứng các quy định môi trường. Tuy nhiên, có một số không nhỏ các doanh nghiệp chỉ coi các chứng nhận quốc tế như ISO 14000, HACCP… như một công cụ để quảng cáo cho hình ảnh của doanh nghiệp, sau khi được chứng nhận lại lặp lại tình trạng ban đầu. Có rất nhiều doanh nghiệp sau khi đã được cấp chứng nhận nhưng một thời gian sau bị tịch thu lại do không đảm bảo yêu cầu. Có thể thấy được rằng các doanh nghiệp Việt Nam hoàn toàn khả năng đạt được các chứng nhận môi trường ISO 14000 nếu có sự đầu tư và nỗ lực đúng mức.

2. Nguyên nhân hạn chế của các doanh nghiệp Việt Nam trong việc áp dụng môi trường trong vấn đề marketing Khóa luận: Thực trạng môi trường marketing của các doanh nghiệp.

2.1. Nhận thức của người tiêu dùng về sản phẩm môi trường chưa cao

Đa số người tiêu dùng Việt Nam chưa thực sự chú ý tới vấn đề chất lượng môi trường của sản phẩm. Trước hết là do nền kinh tế nước ta mới phát triển, đời sống của người dân nhìn chung mới được cải thiện đáng kể trong khoảng mười năm trở lại đây. Dường như mỗi người đều còn giữ tư tưởng có được sản phẩm đáp ứng được nhu cầu sinh hoạt thiết yếu là đủ. Với các mặt hàng là thực phẩm thì người tiêu dùng quan tâm tới hương vị, hàm lượng các chất, ngày sản xuất và hạn sử dụng chứ rất ít người khi chọn mua sản phẩm lại băn khoăn tới việc sản xuất sản phẩm đó có gây ô nhiễm môi trường hay không hay bao bì của sản phẩm đó có phải là chất liệu có thể tái chế được hay không. Với các sản phẩm là phương tiện đi lại, cụ thể là các loại xe máy thì người mua cũng chỉ quan tâm tới mức giá, kiểu dáng, các thông số kĩ thuật và việc chiếc xe đó có tiêu tốn nhiều xăng hay không chứ không nhiều người quan tâm tới việc sử dụng chiếc xe đó thì lượng khí thải xả vào môi trường là cao hay thấp. Cũng chính vì ý thức của người tiêu dùng về chất lượng môi trường của sản phẩm không cao nên sản phẩm Mogas95 và 98 của công ty xăng dầu chưa được thị trường chấp nhận rộng rãi mặc dù nó được công nhận là thân thiện hơn với môi trường so với Mogas92 chỉ vì giá thành của nó cao hơn.

Do người tiêu dùng không có nhu cầu về các sản phẩm môi trường nên áp lực buộc các doanh nghiệp phải quan tâm tới việc bảo vệ môi trường trong quá trình sản xuất cũng như việc thực hiện marketing không lớn. Các doanh nghiệp chỉ cần đưa ra thị trường các sản phẩm đáp ứng được yêu cầu của người tiêu dùng và thu được lợi nhuận mong muốn. Chỉ khi nào người tiêu dùng quan tâm nhiều hơn tới các sản phẩm môi trường, sẵn sàng trả giá cao hơn để được sử dụng các sản phẩm đó và dần dần loại bỏ việc sử dụng các sản phẩm gây ô nhiễm môi trường thì các doanh nghiệp mới buộc phải thực hiện triệt để môi trường trong vấn đề marketing của mình.

2.2. Nhà nước chưa có các cơ quan kiểm định chất lượng môi trường của sản phẩm Khóa luận: Thực trạng môi trường marketing của các doanh nghiệp.

Nhận thức được tầm quan trọng của môi trường trong điều kiện phát triển của đất nước cũng như đáp ứng các yêu cầu khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của WTO, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra chiến lược phát triển môi trường Việt Nam trong giai đoạn 2019 – 2028. Trong chiến lược đó có đề cập tới một số vấn đề về môi trường của doanh nghiệp. Luật Bảo vệ môi trường năm 2011 cũng đã được thay thế bằng Luật bảo vệ môi trường 2023 nhằm đưa ra các quy định cụ thể và phù hợp hơn về bảo vệ môi trường đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ (chương V). Tuy nhiên, các quy định đó vẫn mang tính chung chung và chủ yếu tập trung vào việc bảo vệ môi trường tự nhiên và xử lý nước thải cũng như chất thải của khu vực sản xuất.

Những quy định của Việt Nam về môi trường nhìn chung dựa trên các quy định quốc tế và khu vực về môi trường: Trong pháp lệnh chất lượng hàng hóa, điều 19 quy định: “Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện cho việc thừa nhận lẫn nhau trong hoạt động chứng nhận chất lượng hàng hóa, chứng nhận hệ thống quản lý chất lượng giữa Việt Nam và nước ngoài.” Thế nhưng 80% các tiêu chuẩn của Việt Nam không phù hợp với quốc tế. Việt Nam cũng đưa ra được một số các tiêu chuẩn môi trường phù hợp ISO 14000, tuy nhiên đa phần các tiêu chuẩn chưa được nghiên cứu một cách kỹ lưỡng. (Bảng tiêu chuẩn Việt Nam tương ứng với tiêu chuẩn ISO 14000 được trình bày ở phụ lục…) Có thể thấy các quy định về môi trường của Việt Nam chưa đưa ra các quy định và hướng dẫn cụ thể cho các doanh nghiệp, đặc biệt là quy định riêng cho từng lĩnh vực hoạt động. Chính điều này gây ra cho doanh nghiệp không ít khó khăn trong việc thực hiện các quy định quốc gia và quốc tế liên quan tới môi trường. Đồng thời chưa có những quy định nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc tiếp cận các quy định cũng như chế độ thưởng phạt cụ thể đối với các doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, ngoài Tổng cục đo lường chất lượng Việt Nam còn thiếu các cơ quan thẩm tra chất lượng của sản phẩm. Với các sản phẩm xuất khẩu ra nước ngoài chúng ta có tổ chức Vina Control làm công tác kiểm tra và cấp chứng nhận về chất lượng sản phẩm . Việc có quá nhiều doanh nghiệp trong khi có quá ít các cơ quan kiểm tra, chứng nhận chất lượng sản phẩm khiến cho công tác chứng nhận gặp nhiều khó khăn. Hơn nữa, các cơ quan đó mới chỉ dừng lại ở việc đánh giá chung về chất lượng sản phẩm chứ chưa kiểm tra và đánh giá cụ thể chất lượng môi trường của sản phẩm. Các nhãn sinh thái tại Việt Nam hiện giờ là do các doanh nghiệp tự công nhận dựa trên các tiêu chuẩn có sẵn. Chính điều này tạo tâm lý thiếu tin tưởng của người tiêu dùng đối với chất lượng môi trường của sản phẩm. Và các doanh nghiệp có cơ hội để chần chừ trong việc sản xuất đúng theo các tiêu chuẩn và quy định môi trường quốc gia và quốc tế. Khóa luận: Thực trạng môi trường marketing của các doanh nghiệp.

2.3. Các doanh nghiệp chưa trang bị cho mình kiến thức đầy đủ về môi trường và marketing trong điều kiện cạnh tranh mới

Đối với các doanh nghiệp Việt Nam cả môi trường và marketing đều là những vấn đề còn khá mới lạ. Rất ít doanh nghiệp có thể hiểu chính xác marketing là gì và nó có vai trò như thế nào đối với hoạt động của doanh nghiệp. Nhiều doanh nghiệp đến nay vẫn quan niệm marketing đơn thuần chỉ là việc quảng bá sản phẩm và thương hiệu của doanh nghiệp cũng như một số dịch vụ chăm sóc khách hàng sau khi bán hàng. Còn môi trường chỉ được hiểu là việc đảm bảo các tiêu chuẩn môi trường trong quá trình sản xuất và môi trường trong khu vực làm việc. Do đó, việc kết hợp giữa môi trường và marketing để đưa ra một chiến lược marketing hiệu quả cho hoạt động của doanh nghiệp có thể nói hiện nay ở Việt Nam chưa một doanh nghiệp nào đạt được. Chúng ta có thể thấy rõ điều này qua việc áp dụng Nhãn sinh thái đối với sản phẩm ở Việt Nam.

Để có thể tồn tại, phát triển và cạnh tranh trong các thị trường lớn, nơi mà sức ép về các vấn đề môi trường ngày càng tăng, các nhà đầu tư và các nhà sản xuất buộc phải có hành động làm giảm nhẹ các tác động môi trường trong quá trình sản xuất, kinh doanh của mình. Tuy nhiên, để có được sự thừa nhận của xã hội và cộng đồng, để thu hút sự chú ý của khách hàng đối với các nỗ lực vì môi trường mà họ đã thực hiện, tại một số nước, ngoài việc xây dựng, áp dụng và chứng nhận hệ thống quản lý môi trường theo tiêu chuẩn ISO 14001:2022, các nhà sản xuất đã và đang tạo sự phân biệt cho các sản phẩm của mình bằng cách tham gia chương trình dán Nhãn sinh thái (Nhãn môi trường) cho sản phẩm.

Nhãn sinh thái được khởi xướng và áp dụng lần đầu tiên ở Đức vào năm 1978, từ năm 2011, Tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hóa (ISO) bắt đầu quá trình xây dựng tiêu chuẩn về nhãn sinh thái. Hiện nay có ba loại nhãn sinh thái (nhãn sinh thái loại I, II và III) trong đó nhãn loại I là phổ biến hơn cả. Tại bốn quốc gia dẫn đầu là Mỹ, Canada, Nhật Bản và Hàn Quốc, có khoảng 20 – 30% sản phẩm có hoạt động môi trường tốt được cấp giấy chứng nhận nhãn sinh thái loại I. Tại Việt Nam, khái niệm “Nhãn sinh thái” vẫn còn xa lạ với người sản xuất và người tiêu dùng. Theo kết quả điều tra của Trung tâm tư vấn công nghệ môi trường tại 526 doanh nghiệp trên địa bàn 18 tỉnh thành trong cả nước thì chỉ có 47 doanh nghiệp Nhà nước (9%), 26 doanh nghiệp liên doanh (4,5%) và 10 doanh nghiệp tư nhân (10) là quan tâm tới vấn đề nhãn sinh thái.

Nhãn sinh thái là một trong những nhân tố quan trọng của chiến lược marketing xanh. Tuy nhiên, các doanh nghiệp Việt Nam chưa quan tâm nhiều tới vấn đề này, nguyên nhân có thể là do: Khóa luận: Thực trạng môi trường marketing của các doanh nghiệp.

  • Nhận thức của xã hội nói chung về vấn đề môi trường còn ở mức thấp, nên áp lực cho việc dán nhãn từ phía Chính phủ cũng như người tiêu dùng chưa cao.
  • Kiến thức về đặc tính môi trường của sản phẩm còn rất hạn chế trong hầu hết những người làm công tác quản lý môi trường ở cấp cơ sở cũng như người sử dụng sản phẩm nên việc công bố rộng rãi các báo cáo môi trường theo nhãn loại III cũng ít có ý nghĩa (vì không hiểu hoặc ít thông tin thì nhà sản xuất có công bố rộng rãi các đặc tính môi trường cụ thể thì cũng khó thuyết phục rằng như thế là tốt, là hơn hẳn các sản phẩm cùng loại).
  • Tính tự giác và tự cam kết của người áp dụng sẽ là yêu cầu tiên quyết cho sự thành công của việc triển khai nhãn tự công bố loại II. Nếu thiếu nhận thức về tác động môi trường gây nên bởi các hoạt động của mình thì tính tự giác và tự cam kết sẽ không cao, dẫn đến việc dán nhãn tự công bố kém độ tin cậy. Việc làm này có thể khiến cho người tiêu dùng bị nhiễu, bị định hướng sai bởi những người làm chưa tốt nhưng lại làm rùm beng trong công bố hoặc quảng cáo.

Có thể thấy nguyên nhân chính khiến các doanh nghiệp chưa quan tâm nhiều tới việc đẩy mạnh môi trường trong vấn đề marketing chính là sự thiếu chuyên môn về lĩnh vực này cũng như việc các doanh nghiệp chưa nhận thấy sự thay đổi trong xu hướng chung của thế giới và không rút kinh nghiệm từ các doanh nghiệp trên thế giới.

2.4. Đầu tư cho môi trường trong vấn đề marketing là thách thức đối với các doanh nghiệp Việt Nam

Đối với một quốc gia đang phát triển và gặp nhiều khó khăn như nước ta, vấn đề về các quy định quốc tế về môi trường và làm thế nào để hàng hóa Việt Nam có thể đáp ứng được các tiêu chuẩn đó là một thách thức lớn đối với chúng ta. Bởi vì các doanh nghiệp của chúng ta hoạt động kinh doanh chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Doanh nghiệp Việt Nam phần lớn là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, hạn chế nhiều về nguồn vốn và điều kiện cơ sở vật chất, chính vì vậy các doanh nghiệp đều gặp khó khăn trong việc áp dụng các tiêu chuẩn quốc gia và quốc tế về môi trường. Hơn nữa, việc áp dụng các tiêu chuẩn về môi trường có thể làm tăng chi phí doanh nghiệp lên 20% trong khi các lợi ích chưa thể đạt được trong ngắn hạn. Do đó, trong điều kiện hiện nay các doanh nghiệp không thể ngay lập tức thay đổi cơ cấu quản lý, quy trình sản xuất, đổi mới trang thiết bị nhằm đạt được các chứng nhận về môi trường. Cần có sự phối hợp giúp đỡ của Nhà nước và các cơ quan hữu quan để các doanh nghiệp sớm đạt được chứng nhận quốc tế về môi trường.

Thứ nhất, các doanh nghiệp không có hệ thống quản lý tại chỗ có thể có những khó khăn đáng kể trong việc áp dụng các hệ thống quản lý phức tạp. Khóa luận: Thực trạng môi trường marketing của các doanh nghiệp.

Đặc biệt là khi các quy định và các tiêu chuẩn quốc tế về môi trường còn khá mới mẻ đối với các doanh nghiệp Việt Nam.

Thứ hai, trong khi ở những nước phát triển thông tin về các quy định và pháp luật áp dụng có thể nhận được thông tin về các quy định và pháp luật thông qua các kênh thông tin được sử dụng tốt, thì các doanh nghiệp của chúng ta có thể phải đối mặt với các chi phí cao hơn trong việc thu thập thông tin đầy đủ về toàn bộ các quy định và pháp luật phải áp dụng.

Thứ ba, trong khi ở các nước phát triển việc phân tích và đánh giá môi trường được yêu cầu thường xuyên thì các doanh nghiệp ở những nước đang phát triển như chúng ta có thể phải chịu chi phí đáng kể trong đánh giá tác động môi trường. Những khó khăn mà các doanh nghiệp vừa và nhỏ của chúng ta phải đối diện trong việc đẩy mạnh môi trường trong vấn đề marketing là thiếu các nguồn lực tài chính cần thiết, thiếu cán bộ có trình độ, khó tiếp cận các nguồn thông tin, khó có khả năng chịu được các chi phí có liên quan đến việc xây dựng và chứng nhận đạt các tiêu chuẩn và quy định về môi trường, đặc biệt là các tiêu chuẩn quốc tế.

Thứ tư, các doanh nghiệp vừa và nhỏ khó đạt được sự giảm bớt các chi phí cho việc đầu tư vào môi trường sinh thái. Do quy mô sản xuất của doanh nghiệp nhỏ trong khi chi phí cho việc áp dụng các quy định về môi trường lại quá cao và thường chưa thể đạt được hiệu quả trong ngắn hạn nên các doanh nghiệp sẽ khó có thể giảm bớt chi phí, do đó sẽ ảnh hưởng lớn đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Khóa luận: Thực trạng môi trường marketing của các doanh nghiệp.

Thứ năm, các doanh nghiệp nhỏ và vừa thiếu cơ sở hạ tầng, khả năng vật chất sẵn có cho các thiết bị môi trường. Vì vậy, trong thời gian đầu để áp dụng các tiêu chuẩn về môi trường, doanh nghiệp cần đầu tư khá lớn cho cơ sở vật chất. Điều đó khiến cho chi phí trong ngắn hạn của doanh nghiệp tăng. Với các doanh nghiệp không đủ tiềm lực tài chính thì đây thực sự là vấn đề nan giải cho chiến lược kinh doanh cũng như chiến lược marketing của doanh nghiệp.

Thứ sáu, các doanh nghiệp vừa và nhỏ khó đạt được đầu vào với giá cạnh tranh cũng như khó đảm bảo được các nguyên liệu thô đầu vào được sản xuất theo các chuẩn cứ môi trường. Thông thường đầu vào của các doanh nghiệp vừa và nhỏ là từ các hộ kinh doanh cá thể, các hộ gia đình. Do đặc điểm của nền sản xuất nhỏ lẻ của nước ta, phần lớn các nguồn nguyên liệu như vậy không có được một quy trình sản xuất phù hợp cũng như không có được sự chứng nhận của các cơ quan kiểm tra chất lượng. Chính điều này khiến cho sản phẩm của doanh nghiệp không thể đáp ứng được các quy định về môi trường. Trong khi các doanh nghiệp lớn có thể đầu tư để tự cung cấp đầu vào cho mình theo đúng tiêu chuẩn chất lượng thì các doanh nghiệp nhỏ và vừa không thể làm được điều này. Bởi vậy, các doanh nghiệp vừa và nhỏ thực sự gặp khó khăn trong việc đẩy mạnh môi trường trong vấn đề marketing của mình.

Thứ bảy, chi phí thử nghiệm, giám định và kiểm định đối với chất lượng môi trường của các sản phẩm là rất cao, đặc biệt trong giới đoạn đầu doanh nghiệp mới đưa các tiêu chuẩn về môi trường vào chiến lược marketing của mình.

Do đặc điểm chung của nền kinh tế Việt Nam còn nhiều khó khăn như hạn chế về tiềm lực tài chính, trình độ khoa học kỹ thuật còn lạc hậu so với các nước trong khu vực và trên thế giới nên các doanh nghiệp không tránh khỏi còn nhiều hạn chế trong việc áp dụng môi trường trong vấn đề marketing. Khóa luận: Thực trạng môi trường marketing của các doanh nghiệp.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>> Khóa luận: Giải pháp môi trường marketing của các doanh nghiệp

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest
1 Bình luận
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
trackback

[…] ===>> Khóa luận: Thực trạng môi trường marketing của các doanh nghiệp […]

1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993