Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh mặt hàng lụa tơ tằm hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của mặt hàng lụa tơ tằm Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
Nội dung chính
I. Tình hình sản xuất mặt hàng lụa tơ tằm.
1. Khái quát về nghề tơ lụa truyền thống.
Nghề trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải ở nước ta ra đời từ rất sớm, khoảng 3.000 năm trước. Sử sách ghi lại, dấu vải đã từng in trên nhiều đồ gốm, đồ đồng, những hình dáng y phục của tượng người khắc trên trống, thạp vô cùng phong phú như: áo chui đầu, áo cài khuy bên trái, khăn khố, váy áo thêu… đã minh chứng cho sự tồn tại của nghề dệt vải từ ngàn xưa.
Theo truyền thuyết kể lại, vào đời vua Hùng thứ VI, một nàng công chúa có tên là Hoàng Phủ Thiếu Hoa đã là người đầu tiên phát hiện ra một tổ bướm với đầy trứng. Từ những quả trứng này đã nở ra ấu trùng, những con ấu trùng ăn lá dâu và nhả ra kén. Và từ ổ kén đó, các con ấu trùng được phát triển thành các con tằm. Công chúa Hoàng Phủ Thiếu Hoa đã đem kiến thức của nàng về nuôi tằm, dệt vải tại Cố Đô và làng Van San thuộc huyện Ba Vì, Tỉnh Hà Tây. Những sợi tơ tằm đã có mặt tại 60 làng xung quanh và dần dần đã lan sang các tỉnh Hà Tây, Hà Nam, Thái Bình, và cuối cùng là trên toàn quốc.
Về mặt lịch sử thì các sản phẩm lụa, sa, cát, liễu, sa đinh, láng, giầy dép dệt bằng lụa đã xuất hiện ở nước ta từ thế kỷ VII,VIII. Theo lịch sử Việt Nam thì từ đời Lý, những người thợ đã dệt đủ các loại vải đến các loại gấm, đoạn với những màu sắc và họa tiết trang trí đặc sắc. Thời kỳ này, gấm vóc đã được dùng để may lễ phục cho vua quan. Cửa hàng tơ tằm đầu tiên do Hoàng hậu Nguyên Phi ỷ Lan lập tại kinh đô Thăng Long vào đời vua Lý Thánh Tông thế kỷ thứ XI. Hoàng hậu là một người nuôi tằm và dệt tơ nổi tiếng tại vùng Thuận Thành, nay thuộc tỉnh Bắc Ninh. Ngày nay, người dân miền Bắc vẫn thờ cúng những người sáng lập ra nghề dệt lụa. Vào thế kỷ XVI- XVII, hàng tơ lụa Việt Nam đã được tiêu thụ khá rộng rãi và xuất khẩu đi một số nước trên thế giới với số lượng hàng nghìn tạ. Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh mặt hàng lụa tơ tằm.
Trước đây, đa số người thợ dệt vải bằng những khung cửi rất nhỏ bé và đơn giản được đóng từ vài cây tre hoặc mấy thanh gỗ lắp vào bàn dậm, tay giật, thoi rò, go dệt. Có những khung cửi có bộ phận cấu tạo giống như những con cò. Khi người thợ dệt dậm chân, thì mỏ cò há to ra để điều khiển mối dệt. Tất cả thợ dệt đều phải bật tay và dậm chân, hai động tác ấy phải phối hợp nhịp nhàng trong khi dệt. Muốn dệt được lụa hoa, gấm thì phải có người ngồi trên nóc khung cửi mà giật giây, điều khiển go dệt. Thế nhưng, từ những khung cửi đó, biết bao sản phẩm đã được ra đời như: gấm, vóc, sa, the, nhiễu vân, hồng, lượt, sồi, đũi, lụa tơ tằm, vải tấm, vải sô… Mỗi loại có nhiều màu sắc khác nhau. Hoa trên lụa cũng có nhiều loại như: lụa vân tứ quý, hoa hồng, điệp, cúc, mai, chanh, thọ đỉnh (lư hương và chữ thọ), long vân (rồng mây)… Muốn có các loại lụa này phải có mẫu hoa đẹp để phóng hình ra bản bìa cứng đục lỗ từ đó các mũi kim dệt tạo thành các loại hoa lá như ý muốn.
Nghệ thuật trang trí và hoa văn trên lụa được coi là sự mẫu mực của phong cách tạo hình trên chất liệu mỏng, bằng sợi của các nghệ nhân. Để tạo ra được những loại sản phẩm tơ lụa tuyệt mỹ ấy, người thợ dệt phải trải qua một quy trình kỹ thuật phức tạp, công phu, kiên trì và phải có công sức của nhiều người như quay tơ, làm hồ, dệt và nhuộm. Khâu làm hồ phải chuẩn bị các bước như mắc cửi, kéo cửi, sâu khổ, làm hồ và nối cửi. Người phụ dệt phải đẽo tơ và tuốt tơ. Một khung dệt trơn cần có 5 nguời, dệt the, dệt lụa hoa thì 6 người. Với phương pháp thủ công này, mỗi ngày đạt công suất từ 4-5 mét. Ngày nay, khung cửi dệt đã được cải tiến bằng khoa học. Trên một khung cửi thường có khoảng 400-600 kim dệt. Nhờ có sự hỗ trợ của máy móc, mỗi khung cửi chỉ cần một người làm cho công suất khoảng 10-15 mét/ngày. Muốn dệt được tấm lụa đẹp thì quan trọng nhất là phải có tơ đẹp, đều và mềm, óng mượt. Tơ đẹp dệt ra sờ vào mát, mịn thì được coi là lụa tốt. Nghề dệt lụa ở nước ta gắn bó với các tên làng như: Từ Sơn, Lim, Yên Phong, Thuận Thành (Bắc Ninh), Vạn Phúc (Hà Đông, Hà Tây), Tân Châu, Châu Đốc (An Giang), Nam Định,Thái Bình, Thanh Hoá… ở Tương Giang (Từ Sơn) người ta thường dệt vải vuông, vải mộc, dệt lụa vuông, dệt sồi và quai thao; Còn ở Vạn Phúc (Hà Đông, Hà Tây) lại nổi tiếng với nghề dệt lụa hoa vân tơ tằm. Vẫn là một màu lụa trắng ngà, qua cách cải tiến, người thợ đã dệt ra hoa phù dung, hoa cúc, hoa lan, hoa dây, hoa triện rải đều trên tấm lụa. Có một thời kỳ, nghề dệt cũng như một số nghề thủ công truyền thống khác đã bị mai một do chiến tranh, thiếu nguyên liệu sản xuất, thiếu thị trường tiêu thụ, nhiều thợ dệt đã chuyển sang nghề khác. Thế nhưng, khi đất nước ổn định, người dân đẩy mạnh sản xuất hàng hóa tiểu thủ công nghiệp, đời sống xã hội nâng lên, nhu cầu may mặc ngày càng tăng, hàng tơ lụa không chỉ có chỗ đứng trên thị trường trong nước mà hướng đến nhiều thị trường quốc tế.
Như vậy nghề trồng dâu, nuôi tằm, ươm tơ, dệt vải của nước ta đã có từ rất lâu đời. Nó đã tồn tại và phát triển cho đến tận ngày nay và trở thành một nghề truyền thống của nhân dân ta, mang đậm bản sắc văn hoá của dân tộc Việt Nam. [24],[27.1],[35.2]
2. Vai trò của nghề tơ lụa đối với Việt Nam. Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh mặt hàng lụa tơ tằm.
Nghề trồng dâu, nuôi tằm, ươm tơ, dệt lụa vốn là một nghề truyền thống từ ngàn xưa của nhân dân ta. Nó không chỉ có giá trị về mặt văn hóa, tinh thần mà còn có vai trò rất to lớn đối với nền kinh tế -xã hội nước ta.
2.1. Về mặt kinh tế
Trước hết, nghề tơ đã tạo việc làm và góp phần làm tăng thu nhập của người nông dân trồng dâu, nuôi tằm. Theo số liệu ước tính, ở Nha Xá, một sào dâu có thể thu lãi từ hai đến bốn triệu đồng, gấp 7-8 lần so với canh tác một sào lúa. Thậm chí sau khi hết vụ thu hoạch, cây dâu có thể chặt bán làm chất đốt, tạo thêm một nguồn thu nhập nữa cho người dân [25.1]. Lấy ví dụ như ở làng lụa Vạn Phúc hiện nay, thu nhập của người dân đang ngày một tăng với mức bình quân trên dưới 1 triệu đồng/người/tháng [39.6]
Thứ hai, đối với các làng nghề chuyên ươm tơ, dệt lụa thì nghề tơ lụa đã góp một phần không nhỏ vào nguồn thu của địa phương. Chẳng hạn doanh thu từ trồng dâu, nuôi tằm ở xã Ngọc Lũ mỗi năm đạt 1,8 tỷ đồng, xã Tiên Phong đạt 1,5 tỷ đồng [25.1]. Hay như ở Vạn Phúc, doanh thu thương mại – dịch vụ năm 2025 là 53,2 tỷ đồng ( Phụ lục 1). Doanh thu từ lụa ở Vạn Phúc thường xuyên chiếm 63% – 65% tổng doanh thu của xã.
Thứ ba, tơ lụa là một nguồn thu ngoại tệ rất có giá trị. Kim ngạch xuất khẩu toàn ngành năm 2024 đạt hơn 70 triệu USD [38.2]. Sản phẩm tơ, lụa Việt Nam được xuất sang nhiều nước như Nhật Bản, Mỹ, Hàn Quốc, Thái Lan, Ấn Độ, Bangladesh… Thị trường tơ lụa đang dần phục hồi, có nhu cầu rất lớn. Tơ lụa cấp thấp, nhu cầu của các thị trường Thái Lan, Ấn Độ, Bangladesh… cũng còn rất lớn [12.1] Tuy nhiên, mức kim ngạch xuất khẩu từ tơ lụa của chúng ta như vậy là còn quá ít so với tiềm năng. Ngoài ra, do chúng ta còn yếu trong khâu giống, lượng nguyên liêu chưa đủ cung cấp cho ngành dệt do đó còn phải nhập tơ sống từ nước ngoài với giá cao, trong đó nhiều nhất là từ Trung Quốc (200tấn/năm) làm cho giá lụa cũng tăng lên, từ đó làm giảm tính cạnh tranh của sản phẩm. Tuy nhiên, trong thời gian tới, nếu chúng ta đảm bảo được nguồn tơ, kỹ thuật nhuộm và dệt tốt, đảm bảo chất lượng hàng xuất khẩu thì đây sẽ là một nguồn thu ngoại tệ đáng kể của Việt Nam.
Thứ tư, nghề tơ lụa góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, theo đó giảm dần tỷ trọng nông nghiệp, nâng cao dần tỷ trọng dịch vụ và tiểu thủ công nghiệp.
Rõ ràng, với những giá trị to lớn của mình, nghề tơ lụa sẽ góp phần không nhỏ vào tiến trình Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá nền kinh tế của nước ta. Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh mặt hàng lụa tơ tằm.
- Hàng tơ lụa có vai trò to lớn đối với nền kinh tế Việt Nam chính là do xuất phát từ những nguyên nhân sau:
Nguyên nhân thứ nhất, đó là vì lụa tơ tằm là một mặt hàng rất được ưa chuộng không chỉ ở Việt Nam mà còn trên cả thế giới. Sử dụng lụa tơ tằm để may trang phục, đồ trang trí, ga đệm đang trở thành một xu hướng thời trang trên toàn thế giới . Lụa tơ tằm không chỉ phù hợp để may những trang phục truyền thống như áo dài của Việt Nam hay Kimono của Nhật Bản…mà còn thích hợp để may đồ Tây như áo vetse, váy dạ hội và các trang phục hiện đại khác. Lụa tơ tằm có được những ích lợi trên chính là vì những ưu điểm của vải lụa tơ tằm. Lụa tơ tằm là một loại vải được làm từ chất liệu sợi tự nhiên do đó mát về mùa hè nhưng lại ấm về mùa đông, có tác dụng thấm mồ hôi rất tốt, lại thoáng, vì vậy rất tốt cho sức khoẻ . Nếu là người đến từ xứ nóng như Singapore hay Nhật Bản thì có thể chọn loại vải lụa mỏng; còn nếu là người đến từ xứ lạnh như Pháp, Mỹ thì có thể chọn mua những loại lụa dày phù hợp với khí hậu nước mình. Không chỉ có vậy, lụa tơ tằm còn là một mặt hàng rất có giá trị thời trang do vải mềm, nhẹ, lại có độ bóng mịn, có màu sắc tự nhiên làm tăng thêm nét nữ tính, vẻ duyên dáng, sang trọng và thanh lịch của người phụ nữ.
Nguyên nhân thứ hai khiến mặt hàng tơ lụa rất có giá trị kinh tế với Việt Nam đó là nhờ những ưu đãi về tự nhiên và những thế mạnh về con người.
Về sự ưu đãi của thiên nhiên: Nước ta có một nền khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm rất phù hợp với việc trồng dâu, nuôi tằm. Đặc biệt, so với Trung Quốc hay một số nước Trung Á, điều kiện trồng dâu nuôi tằm của Việt Nam tốt hơn rất nhiều. ở các nước này, nông dân chỉ trồng dâu nuôi tằm được 5 tháng/năm, còn lại phải nghỉ đông do thời tiết khắc nghiệt. Trong khi ở Việt Nam, có thể trồng dâu nuôi tằm quanh năm, đất đai lại phù hợp cho cây dâu phát triển, nhất là ở Lâm Đồng [5]. Như vậy, rõ ràng Việt Nam rất có lợi thế về thiên nhiên để phát triển ngành tơ lụa truyền thống này.
Về yếu tố con người: Nghề tơ lụa từ lâu đã trở thành một nghề truyền thống của nhân dân ta. Theo tài liệu ghi lại thì nghề tơ lụa đã ra đời ở nước ta cách đây 3000 năm. Chính nhờ yếu tố truyền thống đó đã giúp chúng ta có được một bề dày kinh nghiệm trong việc trồng dâu, nuôi tằm, ươm tơ, dệt vải. Với một đội ngũ lao động hùng hậu và những người nghệ nhân tài hoa, chúng ta sẽ có thể tạo ra những thước lụa mềm mại, óng ả, độc đáo của riêng Việt Nam, đủ sức để cạnh tranh trên thị trường tơ lụa thế giới. Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh mặt hàng lụa tơ tằm.
2.2. Về mặt Xã hội
Với những giá trị như đã đề cập ở trên, nghề tơ lụa sẽ góp phần tạo thêm công ăn việc làm, giải quyết nạn thất nghiệp, cải thiện đời sống cho người nông dân làng nghề, từ đó góp phần xoá đói giảm nghèo ở nông thôn Việt Nam. Điển hình như ở Vạn Phúc nghề lụa đã tạo việc làm cho gần 2.000 lao động chính kéo theo gần 3.000 lao động phụ. Không những thế, nghề dệt lụa còn giải quyết đầu ra cho những người trồng dâu nuôi tằm, tạo thêm công ăn việc làm cho phụ nữ và người già. Mức thu nhập trung bình của người dân ở Nha Xá là 300.000 đồng/người/tháng [25.1]; còn ở Vạn Phúc là trên dưới 1 triệu đồng/người/tháng [39.6]. Chính nhờ con dâu, cây tằm mà con em Nha Xá được học hành đến nơi đến chốn.
Như vậy, phát triển nghề dâu tằm là thực sự cần thiết ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay vì cùng với việc phát triển mặt hàng này, chúng ta không những cải thiện được cuộc sống của người dân trồng dâu, nuôi tằm mà còn đem lại hiệu quả kinh tế lớn cho đất nước. Hơn nữa, đầu tư cho dâu tằm thấp, cần ít ngoại tệ nhưng thu hồi vốn nhanh và tạo ra sản phẩm xuất khẩu có giá trị cao.
3. Quy trình sản xuất và cơ cấu mặt hàng. Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh mặt hàng lụa tơ tằm.
3.1. Quy trình sản xuất.
Để sản xuất ra một tấm lụa đẹp, người thợ dệt phải trải qua nhiều giai đoạn phức tạp. Quy trình dệt một tấm lụa được bắt đầu từ khâu trồng dâu, nuôi tằm, đến ươm tơ, xe tơ, làm hồ, nhuộm và dệt. Sau đây là quy trình sản xuất cụ thể để có được một tấm vải lụa:
- Sơ đồ : Quy trình sản xuất các loại vải từ tơ tằm
3.2. Chủng loại mặt hàng lụa tơ tằm.
Mặt hàng vải thủ công Việt Nam có tới hàng trăm loại khác nhau được dệt từ tơ tằm, gọi chung là hàng tơ lụa. Đó là các loại lụa là, gấm vóc, vân, the, lĩnh, băng, quế, đoạn, sa, đũi, kỳ cầu, taffeta. Mỗi loại có một nét đẹp và duyên dáng riêng, góp phần phục vụ sự đa dạng trong tính cách của mỗi con người.
Lụa: Lụa gồm có các loại lụa trơn, lụa hoa, là mặt hàng dệt theo kiểu đan vân đoạn nhưng mặt lụa rất mịn màng, óng ả. Vẫn là loại lụa mỏng có hoa nổi, hoa chìm. Hoa nổi trên mặt lụa thì bóng mịn, còn hoa chìm thì phải soi lên ánh sáng mới thấy được. Đây là loại lụa nổi tiếng chỉ có làng Vạn Phúc mới dệt được. Hoa văn cũng có rất nhiều loại, chẳng hạn như lụa Vạn Phúc rất nổi tiếng với những mẫu hoa văn cung đình Huế, hoa văn thổ cẩm truyền thống, chim lạc, trống đồng Đông Sơn, Triệu thọ, Long phượng mây bay, Tứ quý, chữ Triện… Hiện nay sản phẩm lụa tơ tằm cũng có rất nhiều màu như xanh lá cây, xanh nõn chuối, đỏ đun, đỏ tươi, vàng da cam, hồng, bạc, ghi…, phù hợp với mọi lứa tuổi.
Gấm: Gấm là loại hàng dệt dày (nền dày) có màu sắc khác nhau. Gấm có nhiều loại như gấm lam, gấm hồng cánh chấu, gấm đỏ, gấm vàng. Hoa trên gấm thường có màu tươi rực rỡ, dệt cài nổi tựa như thêu chỉ màu rất khéo trên nền sa tanh. Một tấm gấm có nhiều màu, phổ biến là 5 hay 7 màu gọi là gấm ngũ hay gấm thất thế. Đây là loại hàng quý nhất, khó làm nhất trong tất cả các mặt hàng tơ lụa. Người ta coi gấm là bà chúa của các mặt hàng dệt tơ lụa. Phải có tay nghề cao, kỹ thuật điêu luyện tinh xảo và đầu óc thẩm mỹ mới có thể dệt được gấm.
The, sa, xuyến, băng, quế: Đây là các loại sản phẩm có chung đặc điểm là dệt thủng, nghĩa là trên mặt tấm the, sa, xuyến hay băng, quế đều có những lỗ thủng nhỏ rất đẹp nhưng cách bố cục sợi dọc, sợi ngang không giống nhau. Lỗ dệt thủng giữa các loại này khác nhau về kích thước và độ thưa, dày. Kỹ thuật dệt này vừa tạo ra các loại hàng dệt khác nhau, vừa tăng thêm thẩm mỹ của từng mặt hàng tơ lụa. Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh mặt hàng lụa tơ tằm.
Lĩnh, đoạn, vóc, sa tanh: Đây là các loại hàng dệt dày, số lượng sợi dọc của hàng này nhiều hơn lụa. Mỗi tấm lĩnh, đoạn, vóc, sa tanh có số sợi dọc khoảng 8.000 sợi. Trong khi đó, mỗi tấm lụa chỉ có khoảng 3.000 sợi dọc. [27.2]
Đũi: Để dệt đũi người thợ dệt phải dùng sợi tơ thô (hay còn gọi là sợi tơ thủ công) còn lại cuối cùng của con kén sau khi đã lấy phần tơ nõn để dệt. Những sợi tơ này sau khi se sẽ được dệt theo kiểu lóng mốt hay vân điểm. Do dệt bằng sợi thô nên hàng đũi thường dày hơn hàng lụa và có bề mặt thô ráp, hơi sần.
Taffeta: Taffeta có công nghệ dệt giống lụa trơn nhưng điểm khác giữa dệt taffeta và dệt lụa đó là khi dệt taffeta, người thợ phải sử dụng nhiều sợi tơ tốt chập lại và xe nhiều lần cho sợi tơ to theo yêu cầu dày, mỏng của mặt hàng. Một điểm đáng lưu ý nữa đối với hàng taffeta là nhất thiết phải nhuộm sợi tơ xe trước khi dệt.
4. Tình hình sản xuất.
Mặt hàng lụa tơ tằm ở nước ta được sản xuất ở rất nhiều nơi với những tên tuổi làng nghề truyền thống nổi tiếng như Vạn Phúc – hiện nay đang được người tiêu dùng biết đến dưới thương hiệu “Lụa Hà Đông”, Nam Định, Thái Bình, Thanh Hoá, Đà Nẵng, Bảo Lộc, Tân Châu. Trong những năm trở lại đây trên thị trường nội địa còn nổi lên một số thương hiệu của các công ty như Công ty cổ phần tơ tằm Á Châu (ASC) – tiền thân là công ty TNHH sản xuất gia công hàng xuất khẩu thương mại Hiệp Sang, Công ty TNHH Châu Á (AQSilk), Công ty cổ phần dệt lụa Việt Nam (Vinasilk), Toàn Thịnh, Công ty cổ phần tơ lụa và dịch vụ nông nghiệp Đà Nẵng (Danasi). Trong đó ASC đã sản xuất theo dây chuyền khép kín từ khâu nguyên liệu. Sản phẩm của ASC đã được cấp chứng nhận quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 9001:2020.
Về diện tích trồng dâu, nuôi tằm, cả nước hiện nay có 25 nghìn ha trồng dâu nuôi tằm, lấy kén, sản xuất tơ, hàng năm chế biến khoảng 1.800 tấn tơ các loại. Tuy nhiên ngành cũng phải đối mặt với những khó khăn do chính việc trồng dâu nuôi tằm tràn lan của các địa phương gây ra. Hiện nay, nghề trồng dâu nuôi tằm đã lan ra hầu hết 61 tỉnh thành trong cả nước, giải quyết việc làm cho gần 40 vạn lao động, trong đó hầu hết là những lao động nông thôn làm ăn cá thể. Do nhận thấy nghề trồng dâu nuôi tằm có lợi nhuận cao nên các hộ dân đã phát triển một cách ồ ạt. Diện tích trồng dâu nuôi tằm và số lượng máy xe tơ tăng đột biến mà không tính đến sức tiêu thụ của thị trường đã gây nên tình trạng khủng hoảng thừa. Chẳng hạn, ở Vĩnh Phúc, theo kế hoạch của Uỷ ban Nhân dân tỉnh, đến năm 2025 mới có 1.500 ha dâu. Thế nhưng, tại thời điểm năm 2022 diện tích trồng dâu của tỉnh này đã lên tới 3.400 ha. Theo nhận định cuả Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Vĩnh Phúc, do diện tích nuôi kén tăng nhanh nên tình trạng thừa kén tằm là điều không thể tránh khỏi. Đây chỉ là một minh chứng cho sự phát triển tự phát không có quy hoạch của ngành dâu tằm tơ Việt Nam hiện nay. Ngoài Vĩnh Phúc, các địa phương khác như Thiệu Hoá (Thanh Hoá), Yên Lạc (Thái Bình) cũng rơi vào tình cảnh tương tự. Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh mặt hàng lụa tơ tằm.
Về nguyên liệu tơ có tơ cấp thấp và tơ cấp cao. Trong đó, tơ cấp cao được đưa vào xe, dệt còn tơ cấp thấp , một phần được đưa làm sợi ngang và tiêu thụ. Thế nhưng hiện nay chúng ta đang phải nhập tơ sống từ Trung Quốc để se tơ và dệt lụa với số lượng lên đến 200 tấn/năm. Như vậy nếu cộng với nguồn tơ không cấp (chất lượng thấp), nhập khẩu chính thức hoặc trôi nổi ở Hà Nội và một số tỉnh phía Nam có nguồn gốc từ Uzbekistan thì mỗi năm có ít nhất 500 tấn tơ nước ngoài đã vào Việt Nam. Đây lại là một nghịch lý nữa trong vấn đề cho ngành dệt. Bởi nghề trồng dâu nuôi tằm từ xưa đến nay vẫn là một nghề truyền thống của dân tộc ta. Nó không chỉ cung cấp nguyên liệu để sản xuất các mặt hàng cao cấp như lụa, tơ tằm, đũi, mà còn đem lại lợi nhuận cao cho người nông dân. Nghịch lý này là do kén tằm trong nước sản xuất phẩm cấp quá thấp, chỉ không tới 30% có thể sản xuất được tơ tiêu chuẩn cấp A, còn hơn 70% còn lại chỉ có thể làm tơ thường, không thể xếp cấp hạng gì. Trong khi đó, các doanh nghiệp sản xuất lụa trong nước cũng như các bạn hàng nước ngoài khi đến Việt Nam mua tơ đều đòi hỏi phải có chất lượng từ 2A đến 5A. Thực tế kiểm tra cho thấy, kén tằm trong nước phần lớn chỉ có độ dài chưa đến 700m nên không đảm bảo tiêu chuẩn để sản xuất tơ chất lượng cao xuất khẩu, trong khi đó kén tằm của Trung Quốc đạt độ dài đến 1000-1200m [39.4], (Dệt may Việt Nam, cơ hội và thách thức).
Điểm yếu nhất trong quá trình sản xuất của ta vẫn là khâu nguyên liệu đầu vào. Năng suất, chất lượng của khâu trồng dâu, nuôi tằm của ta còn rất thấp, giá thành cao lại không đủ đáp ứng nguyên liệu cho sản xuất lụa. Nguyên nhân chính cho thực trạng này là do trình độ thâm canh trồng dâu, nuôi tằm còn rất thấp.Việc đổi mới giống dâu, giống tằm, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trồng dâu còn hạn chế. Quản lý nhà nước về sản xuất, cung ứng giống tằm không chặt chẽ, thiếu mô hình thâm canh dâu tằm đạt hiệu quả cao. Phát triển dâu tằm còn mang tính tự phát, phong trào, thiếu đồng bộ, thiếu sự chỉ đạo đúng đắn mang tính khoa học. Chẳng hạn như giống dâu lai Sa Nhị Luân đã trồng đại trà ở Trung Quốc cách đây hàng chục năm, hiện nay nước này đã chuyển sang trồng giống dâu có năng suất cao hơn, trong khi nước ta mới đưa giống dâu Sa Nhị Luân vào sản xuất trong mấy năm gần đây [12.1]. Thậm chí giống dâu Bầu Đen có từ thời Nguyên Phi ỷ Lan dạy dân trồng dâu, nuôi tằm, dệt lụa hàng mấy trăm năm trước nhưng có nơi nông dân vẫn chưa chịu từ bỏ để trồng giống mới[5]. Chỉ tính riêng ở tỉnh Lâm Đồng thì giống dâu cũ vẫn chiếm tới 85% tổng diện tích dâu 6.840ha của tỉnh (tính đến 1/6/2024). Con tằm cũng vậy. Các ngành và địa phương đã đứng ngoài cuộc, chưa có sự quan tâm đến việc quản lý trứng tằm giống, để mặc cho thị trường trôi nổi cạnh tranh, chiếm lĩnh trên 70% thị phần. Người nuôi tằm chịu quá nhiều rủi ro, đạt hiệu quả thấp. Các nhà máy, các cơ sở ươm tơ chưa gắn với vùng nguyên liệu ổn định…Do đó nguyên liệu thiếu, chất lượng kén tơ thấp, giá thành cao, sức cạnh tranh kém, các đơn vị chế biến tơ lâm vào cảnh khó khăn, thua lỗ cũng là lẽ thường tình. [12.1],[17]. Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh mặt hàng lụa tơ tằm.
Về năng lực, công nghệ chế biến tơ và sau tơ thì riêng tỉnh Lâm Đồng đã chiếm 70% năng lực của cả nước. Lâm Đồng thực sự là đặc khu dâu tằm tơ. Đặc biệt đã tiếp thu được công nghệ tiên tiến của thế giới trong chế biến. Về công nghệ dệt có dệt thoi, dệt kiếm, dệt nước. Nhiều nơi đã sử dụng dây chuyền sản xuất tự động như Viseri và ASC. Số vải lụa dệt do Tổng công ty dâu tằm tơ Việt Nam cung cấp chiếm khoảng 10% sản lượng cả nước (khoảng 500.000 mét) và chủ yếu được thực hiện trên công nghệ trung bình. 90% còn lại trong cả nước phần lớn mới chỉ dùng máy dệt cơ khí hoặc dệt bằng phương pháp thủ công thô sơ tại các làng dệt lụa truyền thống như Đà Nẵng, Nha Xá (Hà Nam), Vạn Phúc (Hà Tây), Bảy Hiền (Thành phố Hồ Chí Minh) (DMVN, CH TT – 67) . Trên cả nước hiện nay chỉ có 14 nhà máy chế biến tơ và khoảng hơn 200 cơ sở ươm tơ tư nhân. Tổng công suất khoảng 2.200 tấn/năm, trong đó lượng ươm tơ tự động mới là 558 tấn/năm. Thực trạng này đã hạn chế đáng kể việc nâng cao chất lượng ươm tơ. Thêm nữa, mặt hàng lụa của chúng ta còn đơn điệu do chưa có công nghệ in chuội. Vì vậy, khả năng cạnh tranh so với lụa của một số nước trong khu vực, điển hình như Trung Quốc, còn kém, khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế chưa cao. Thêm vào đó, hiện nay, tổng sản lượng tơ của Việt Nam khoảng
2.200 tấn nhưng số tơ dệt ra lụa chỉ khoảng 20% (400 tấn), số còn lại là xuất khẩu dưới dạng nguyên liệu thô. Đây là nguyên nhân khiến thị trường tơ sống không ổn định, ảnh hưởng đến sản xuất trong nước. Một yếu tố khác làm giảm chất lượng tơ là do công tác quản lý kỹ thuật yếu kém, cộng thêm sự tranh mua tranh bán của các doanh nghiệp và tư thương hoạt động trong lĩnh vực sản xuất và kinh doanh tơ khiến nông dân không tuân thủ quy trình kỹ thuật. Phổ biến hiện nay là nuôi tằm không trợ lửa, dùng thuốc kích thích tằm chín sớm để giảm tiêu hao lá dâu, tằm chưa hoá nhộng đã tranh thủ gỡ kén. Mặt khác, do giống tằm không đảm bảo , 70% giống chủ yếu do tư thương cung cấp nên khó quản lý xuất xứ và chất lượng.( Dệt may VN – cơ hội và thách thức -T.60)
Đây là thực trạng diễn ra trong nhiều thập kỷ làm cho ngành sản xuất tơ lụa Việt Nam phát triển không ổn định, kém hiệu quả và thiếu bền vững Trên thị trường Việt Nam hiện chỉ có vài nhà sản xuất lụa lớn có quy trình gần như khép kín như Á Châu và mới đây nhất là Toàn Thịnh. Trước nhu cầu lớn của thị trường nội địa, các nhà sản xuất đã và đang cùng các phân viện dệt may, các phòng nghiên cứu khắc phục những nhược điểm của mặt hàng lụa truyền thống cho ra đời những sản phẩm mới có chất lượng cao. Việt Nam hiện đã sản xuất được 34 loại vải dệt từ sợi tơ tằm.Tuy vậy, việc nghiên cứu, phát triển này vẫn chỉ được tiến hành nhỏ lẻ, mạnh ai nấy làm mà thiếu đi vai trò của hiệp hội. Hơn nữa, việc Tổng công ty dâu tằm tơ Việt Nam vừa phá sản trong thời gian gần đây cũng gây một số khó khăn cho ngành lụa tơ tằm vì ngành mất đi sự hỗ trợ về con giống, công nghệ sản xuất dâu, tằm, sản xuất trứng giống tằm, ươm tơ cấp cao…
Như vậy, có thể nhận thấy rằng hiện nay, hiệu quả của ngành dâu, tằm, tơ, lụa thực sự vẫn còn ở mức thấp, hoàn toàn chưa tương xứng với tiềm năng. Đây là thách thức lớn trước xu thế cạnh tranh và hội nhập quốc tế của nước ta.
II. Tình hình tiêu thụ Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh mặt hàng lụa tơ tằm.
1. Tình hình tiêu thụ ở thị trường trong nước.
Hiện nay, thị trường tơ lụa trong nước đang hết sức sôi động. Trong thời gian qua, các đại gia kinh doanh tơ lụa cùng với những nhà kinh doanh thời trang lớn liên tục khuấy động thị trường thời trang bằng các hoạt động mở chi nhánh, khai trương showroom, tung ra các bộ sưu tập mẫu với chất liệu vải tơ lụa thiên nhiên… Không phải ngẫu nhiên mà hoạt động này liên tục tiếp diễn. Chính thị trường sôi động, thị hiếu mua sắm của người dân ngày càng cao đã đem lại cơ hội lớn cho các nhà sản xuất tơ lụa, các làng nghề trên thị trường nội địa. Sản phẩm lụa tơ tằm trong thời gian gần đây được bày bán ở rất nhiều nơi như chợ Hôm, chợ Đồng Xuân, Hàng Gai. Chỉ tính riêng làng lụa Vạn Phúc, nếu như trước đây mới chỉ có vài ba cửa hàng bán và giới thiệu sản phẩm của làng nghề thì đến nay đã hình thành 3 dãy phố lụa xung quanh làng nghề với gần 100 hộ kinh doanh.
Sản phẩm lụa Việt Nam cũng rất đa dạng về chủng loại, mẫu mã . Hiện trên thị trường có lụa sa tanh, lụa hoa, lụa in, đũi, taffeta, voan, lụa gấm, vân, the với nhiều màu sắc và hoa văn, hoạ tiết khác nhau. Đặc biệt, trong năm nay (2026) nhiều doanh nghiệp sử dụng công nghệ dệt kiểu se đã dệt nên gần 40 loại vải tơ tằm với đủ vẻ rũ mềm, mỏng nhẹ, dầy mình, óng ả sắc ngọc trai. Không chỉ may được áo dài, áo bà ba, đầm dạ hội với những tấm lụa tơ voan rũ mềm mại, nay đã có loại vải tơ tằm như damask silk dành may bộ veste, quần tây. Một số công ty chuyên dệt tơ tằm như Toàn Thịnh, Á Châu cũng đưa ra thị trường loạt sản phẩm vải mới với nguyên liệu tơ tằm được sản xuất ở Lâm Đồng, Đà Nẵng. Hàng mới dệt từ 100% tơ tằm của Á Châu có nhiều loại vải như crep nhún, taffeta có sọc ngang đen và trắng, đũi santung với sọc dọc đen trắng và xanh lá, voan in bông, vải lụa gấm, silk fabric dệt sọc nhiều màu,… Còn Toàn Thịnh mới ra loại lụa sa tanh thun, dệt theo công nghệ Hàn Quốc, kết hợp 2% sợi co giãn với 98% sợi tơ tằm cho ra tấm vải sa tanh mềm mại, không nhăn, không bị rạn, óng ả mà lại có độ co giãn nhẹ tạo sự dễ chịu môi trường làm việc năng động. Nhiều công ty cũng đưa ra những bộ sưu tập riêng để thu hút khách hàng như bộ sưu tập “Màu thời gian” của nhà thiết kế Minh Hạnh do công ty Toàn Thịnh sản xuất hay loạt sản phẩm “Lụa nữ sinh” bao gồm những thiết kế dành riêng cho lứa tuổi học sinh. Khác với tơ lụa ngày xưa chỉ dành để may những kiểu dáng mềm mại, cổ điển như áo dài, áo bà ba, nay vải lụa có thể lên đủ kiểu dáng, phong cách từ đồ tây đến đồ đầm, từ trang phục mặc nhà nhẹ nhàng đến thời trang công sở chỉn chu. Sản phẩm làm từ lụa tơ tằm ngày càng phong phú, đa dạng, không chỉ bó hẹp ở áo dài, áo bà ba mà còn mở rộng ra với các loại đầm công sở, túi xách, khăn choàng, ví đầm. Thậm chí còn có cả sản phẩm dành riêng cho nam giới như cà vạt, áo sơ mi, veston dựng từ lụa damasilk và taffeta jacka… Các nhà sản xuất cũng cố gắng khai thác những công dụng khác của lụa tơ tằm để cho ra những sản phẩm ngày càng mới lạ như chăn, gối, đệm, vải bọc salon, rèm cửa…
Chất lượng và giá cả của mặt hàng cũng rất phong phú và đa dạng tuỳ từng loại. Lụa trung bình thường là lụa dệt bằng sợi tơ chưa se, bao gồm các loại lụa 50% tơ tằm-50% viscose, lụa 70% tơ tằm-30% viscose, và 100% tơ tằm, với mức giá dao động từ 20.000-80.000đồng/m. Tuy nhiên những loại lụa này thường nhàu và dễ phai màu. Trên thị trường cũng có những loại vải lụa cao cấp, được sản xuất rất công phu, bằng phương pháp thủ công kết hợp với máy móc thiết bị của các công ty với giá rất cao chỉ đáp ứng được yêu cầu của một bộ phận nhỏ người tiêu dùng có thu nhập cao. Giá trị của lụa có chất lượng cao đắt gấp 5-10 lần so với lụa dệt thông thường, lụa ít nhàu, không phai, khổ 1,6m khoảng từ 100 nghìn đồng/m đến 250 nghìn đồng/m tuỳ từng loại [35.1]. Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh mặt hàng lụa tơ tằm.
Hiện nay, những “nhãn hiệu” của các làng nghề tơ lụa Việt Nam nổi tiếng như Vạn Phúc (Hà Tây), Bảo Lộc, Đà nẵng, Tân Châu vẫn sản xuất theo quy mô nhỏ của từng hộ gia đình. Dù mẫu mã đẹp, màu sắc phong phú, chất lượng vải ngày càng tốt hơn nhưng vẫn chưa thoát khỏi tình trạng chất lượng không đồng đều giữa các lô hàng hay giữa các cơ sở sản xuất khác nhau. Bởi vậy, đây mới là lúc bắt đầu cuộc chạy đua khẳng định thương hiệu của các đại gia trên thị trường nội địa. “Các nhà sản xuất cho biết, họ dự kiến chỉ trong vòng hai năm, tơ lụa Việt Nam sẽ phát triển mạnh và trở thành sản phẩm đủ sức cạnh tranh với các nước trong khu vực trên cả hai phương diện xuất khẩu và bán cho người tiêu dùng trong nước” [28.4]. Hy vọng rằng các nhà sản xuất lụa Việt Nam sẽ đạt được mục tiêu này trong thời gian tới để bảo vệ thị trường trong nước trước sản phẩm lụa tơ tằm của các nước khác. (Tham khảo bảng giá và tình hình sản xuất kinh doanh lụa tơ tằm của làng lụa Van Phúc ở phụ lục 4 và 5)
2. Tình hình xuất khẩu.
Theo tổ chức Dâu Tằm Tơ Thế Giới, tổng cầu về tơ lụa của thế giới là 80-100 ngàn tấn tơ/năm. Trong những năm gần đây, thị trường tơ lụa thế giới đã giảm xuống còn khoảng 60 ngàn tấn/năm. Điều này một phần do giá lụa cao, một phần do thị hiếu người tiêu dùng ưa chuộng những loại lụa tơ tằm pha với sợi hoá học cao cấp vừa đẹp vừa rẻ. Dù chỉ với 60 ngàn tấn tơ tằm/năm thì Trung Quốc đã đáp ứng được khoảng 40 ngàn tấn/năm [20.1] .Theo số liệu thống kê về các nước có kim ngạch xuất khẩu tơ lụa lớn nhất thế giới năm 2021 thì Trung Quốc đứng thứ nhất, đạt tới hơn 7 tỷ USD trong đó riêng hàng dệt tơ lụa đã chiếm 54,3% tương đương với 3,8 tỷ USD, tiếp đến là Mỹ ( 618 triệu USD), Hồng Kông Trung Quốc ( 402 triệu USD), Nhật Bản ( 263 triệuUSD), Italia (225 triệu USD), Ấn Độ (190 triệu USD), Hàn Quốc (161 triệu USD), Các tiểu vương quốc Ả-rập thống nhất (146 triệu USD), Đức (121 triệu USD), Anh (65 triệu USD), Pháp ( 65 triệu USD) [21.4].
Riêng Việt Nam, đến nay chỉ mới sản xuất được khoảng 1.800 tấn tơ các loại. Như vậy Việt Nam chỉ mới tham gia được khoảng 1,5-2% nhu cầu tơ lụa thế giới. Ngoài ra, số nước có nhu cầu tiêu dùng về các sản phẩm tơ lụa luôn luôn nhiều hơn số nước sản xuất dâu tằm (hiện có khoảng 20 nước có sản xuất dâu tằm trong khi có gần 200 nước có nhu cầu tiêu dùng). Mức cung của cả thế giới mới chỉ đạt 70-75.000 tấn/năm, khiến cho quan hệ cung cầu tơ lụa trên thế giới thường xuyên mất cân đối. Điều này khẳng định thị trường tơ lụa thế giới đối với Việt Nam là hết sức rộng lớn. Đây cũng là thời cơ để phát triển ngành tơ tằm Việt Nam. Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh mặt hàng lụa tơ tằm.
Mặt hàng tơ lụa chất lượng tốt có nhu cầu rộng lớn từ các nước phát triển như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc và các nước Châu Á. Tuy vậy, sản phẩm tơ lụa của Việt Nam vẫn chưa vào được các thị trường này một cách trực tiếp mà phải thông qua trung gian. Ngay như khi đã có văn phòng đại diện ở những nước này (cụ thể AQsilk có văn phòng ở bang Michigan – Mỹ) thì công ty cũng vẫn phải chuyển nhượng thương hiệu cho đối tác nước ngoài. Điển hình là việc “xuất khẩu” thương hiệu “AQsilk” của Công ty lụa tơ tằm Châu Á do “tuy mạnh trong khâu sản xuất nhưng khả năng tiếp thị và quản lý còn yếu kém” [28.6]. Ngoài ra, một số chủng loại khác được nhập khẩu sang các thị trường: Thái Lan (qua Lào và Campuchia), Ấn Độ, Bangladesh và Trung Phi. Đây là những thị trường tương đối “dễ tính” , không đòi hỏi quá khắt khe về chất lượng và năng lực tiêu dùng của người dân cũng kém hơn nên chưa thể tiêu thụ được những sản phẩm cao cấp như ở các thị trường trên.
Sản phẩm của các làng nghề chủ yếu được xuất khẩu sang Lào và Thái Lan. Một số làng nghề khác thì chỉ phục vụ nhu cầu may mặc trong nước như làng lụa Vạn Phúc-Hà Tây (90% khách đến với Vạn Phúc là khách trong nước còn lại 10% là khách du lịch). Còn đối với các công ty, thị trường xuất khẩu đa dạng hơn: thị trường Mỹ có các Công ty AQsilk, Hương Quỳnh; thị trường Châu Âu như Vinasilk (Thuỵ Điển), Hương Quỳnh (Pháp, ý, Tây Ban Nha), AQsilk (Anh, Pháp, …); thị trường Châu Á như ASC (Đông Nam Á, Nhật Bản), AQsilk (Nhật Bản…). Đây là các công ty đều hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, xuất nhập khẩu, đều tự tìm đầu ra cho sản phẩm và xuất khẩu với khối lượng lớn. Cụ thể như ASC có sản phẩm XK luôn đạt trên 95% doanh thu của công ty (năm 2024 xuất khẩu là 130 tỷ đồng chiếm 98% giá trị/doanh thu) [30]; AQSilk – 75% sản phẩm sản xuất ra phục vụ xuất khẩu [2], riêng năm 2021(là năm sản lượng xuất khẩu lớn nhất), sản phẩm xuất khẩu cũng chiếm tới 90% doanh thu và 6 tháng đầu năm là 99%…[6].
III. Đánh giá năng lực cạnh tranh của mặt hàng lụa tơ tằm Việt Nam. Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh mặt hàng lụa tơ tằm.
1. Chất lượng.
Đánh giá chất lượng của lụa tơ tằm có thể dựa vào các tiêu chí như: độ nhăn, độ bền, độ phai màu, chất liệu tự nhiên của sản phẩm. Về độ bền, có tới 65,22% người tiêu dùng cho rằng sản phẩm của Việt Nam không bền bằng hàng của nước ngoài. Chỉ 8,70% cho rằng lụa tơ tằm của Việt Nam bền hơn. Số còn lại cho rằng về độ bền thì sản phẩm của Việt Nam cũng có chất lượng như sản phẩm của nước khác. Về độ nhăn, phần đông ý kiến tập trung vào đánh giá độ nhăn ngang bằng (54,35%) hoặc nhăn nhiều hơn (45,65%). Về độ phai màu thì phần đông người tiêu dùng (76,09%) cho rằng lụa tơ tằm Việt Nam thường phai màu nhanh và nhiều hơn so với các sản phẩm của nước khác. Trong quá trình điều tra, chủ tiệm may Hương Trầm (Hà Nội) cho biết: “Lụa tơ tằm Việt Nam thường rất chóng phai màu. Khi đem ngâm những mảnh lụa khác nhau trước khi may thì màu của lụa thường phôi ra và lẫn vào nhau làm hỏng vải của khách”. Còn về chất liệu tự nhiên của sản phẩm, hầu hết ý kiến người tiêu dùng cho rằng lụa tơ tằm Việt Nam có nhiều chất liệu tự nhiên hơn so với các sản phẩm của nước khác (58,70%). Đây thực sự là một trong những thế mạnh của lụa tơ tằm Việt Nam trên thị trường khi mà những tiêu chí khác theo đánh giá của người tiêu dùng đều không bằng lụa tơ tằm nước ngoài.
2. Giá. Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh mặt hàng lụa tơ tằm.
Nhìn chung, mặt hàng lụa tơ tằm Việt Nam có giá thấp hơn so với sản phẩm cùng loại được nhập khẩu từ nước ngoài. Tuy nhiên, “thấp” không có nghĩa là “rẻ”. Vì trên thị trường hiện nay có nhiều chủng loại, giá cả mỗi chủng loại cũng khác nhau tạo nên sự phong phú và sôi động cho mặt hàng này. Thị trường trong nước chủ yếu chỉ tiêu thụ lụa cấp thấp, còn lụa có chất lượng cao được xuất khẩu ra nước ngoài do giá của sản phẩm tương đối cao so với thu nhập của người dân. Những sản phẩm cao cấp như vậy giá cả có khi gấp đến từ 5-10 lần lụa cấp thấp nên khó có thể tiêu thụ tại thị trường nội địa.
Tuy nhiên giá cả của mặt hàng này không ổn định lắm do còn phải phụ thuộc vào các yếu tố đầu vào như giá kén tằm, dâu. Ví dụ đầu năm 2024 giá kén tằm “sốt” cao (tăng từ 20.000đ/kg đến 39.000đ/kg), 2 tháng đầu năm 2026 mức giá này đạt cực điểm từ trước đến nay là 52/000đ/kg làm cho giá lụa cũng tăng vọt. Điều này gây ảnh hưởng khá lớn đến sức mua trong nước và làm thị trường mất thăng bằng, gây tâm lý tiêu dùng không tốt từ phía khách hàng.
Mặc dù vậy, giá cả vẫn đang là một trong những lợi thế lớn của mặt hàng tơ lụa Việt Nam vì hàng nhập ngoại có giá tương đối cao so với thu nhập của người dân (đặc biệt là lụa của Ý, Nhật, Hàn Quốc). Qua nghiên cứu cho thấy nhu cầu sử dụng lụa tơ tằm của dân ta đã có từ lâu nhưng mới chỉ thực sự phát triển mạnh từ một số năm gần đây khi chúng ta bắt đầu chú ý tới khôi phục các làng nghề dệt lụa truyền thống. Giờ đây, lụa tơ tằm không còn là thứ hàng xa xỉ dành riêng cho người nước ngoài hay người mẫu trên các sân khấu thời trang nữa mà đã trở nên quen thuộc với mọi người. Nhưng người tiêu dùng Việt Nam mới chỉ “tiếp xúc”, “làm quen” nhiều với lụa tơ tằm trong một vài năm gần đây nên phần đông trong số họ chưa có đòi hỏi quá cao về sản phẩm. Vì thế lụa giá rẻ vẫn đang hấp dẫn được người tiêu dùng trong nước.
3. Kiểu dáng sản phẩm. Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh mặt hàng lụa tơ tằm.
Trong thời gian gần đây, các doanh nghiệp, làng nghề sản xuất và kinh doanh mặt hàng lụa tơ tằm đều có những cố gắng trong việc cải tiến mẫu mã, kiểu dáng sản phẩm. Đó là lý do vì sao trên thị trường ngày càng xuất hiện những sản phẩm độc đáo, phong phú hơn, thoả mãn tốt hơn nhu cầu của khách hàng. Rõ ràng là giờ đây họ có nhiều sự lựa chọn hơn khi dùng hàng tơ lụa. Tuy vậy, các nhà kinh doanh vẫn còn cần phải có những nỗ lực hơn nữa để làm cho sản phẩm thực sự “tối ưu” vì lụa Việt Nam được đánh giá là còn nghèo nàn về kiểu dáng hơn một số nước xuất khẩu khác như Trung Quốc, Thái Lan.
- Có lẽ nguyên nhân căn bản nhất cho vấn đề này là ở khâu thiết kế hay là ở chính ngành thời trang của chúng ta.
Hiện nay, ở nước ta, các trường đào tạo về thiết kế không ít. ở Hà Nội có trường Đại học Mỹ thuật Công nghiệp, Đại học Bách Khoa, Viện Đại học Mở, Trường Cao đẳng Nghệ Thuật Hà Nội, ở thành phố Hồ Chí Minh có trường Đại học Mỹ thuật, Đại học Kiến Trúc. Đấy là chưa kể đến những lớp dạy thiết kế của các trung tâm thời trang trên phạm vi toàn quốc. Mặc dù những sinh viên tốt nghiệp từ các trường này tuy được đào tạo rất tốt về mặt chuyên môn (khả năng thiết kế), nhưng mảng kinh doanh thì lại rất thiếu, nếu có thì hầu như không thực tế. Hai yếu tố rất cần thiết của một nhà thiết kế là tạo mẫu và kinh doanh. Chính vì hai yếu tố này không cân bằng nên phần lớn các mẫu thiết kế của họ đều bị đánh giá là “bay bổng” quá, chưa thực tế và hầu như chỉ giành cho một số đối tượng nhất định trong xã hội. Theo lời bà Nguyễn Thị Như Mai – Giám đốc công ty dịch vụ thương mại, Thời trang Hà Nội, các mẫu mã hiện nay của chúng ta chưa có sự định hình cơ bản. Hiện nay, các sản phẩm mà doanh nghiệp Việt Nam làm ra chưa thể được coi là phục vụ cho người Việt Nam. Các mẫu hiện nay được quảng cáo rầm rộ qua các phương tiện thông tin đại chúng chủ yếu phù hợp với các sàn diễn thời trang mà thôi, không ai có thể mặc được những thể loại ấy ra đường và sinh hoạt trong đời sống hàng ngày. Chúng ta vẫn chưa có các nhà thiết kế trang phục chuyên phục vụ cho nhu cầu đời sống hàng ngày, huống hồ những người được coi là chuyên nghiệp. Và nếu có thì họ chỉ lo đi cóp nhặt, cải biên các mẫu mã, lai tạo mốt từ các kiểu dáng của Trung Quốc, Hàn Quốc, sau đó tung ra thị trường mà không hề có sự đầu tư, tìm hiểu thị hiếu của người tiêu dùng xem họ đang cần những gì. Có thể nói rằng các mẫu mã được coi là “mốt” hiện nay ở Việt Nam không đi theo một dòng, một trường phái nào cả. Và như vậy, khoảng cách giữa thời trang sàn diễn đến thời trang ứng dụng là khá lớn. Hay nói cách khác, ngành thời trang Việt Nam chưa thực hiện được chức năng “định hướng” trong việc tạo nên phong cách thời trang Việt Nam.
Nhà nghiên cứu mỹ học Lê Ngọc Trà từng viết : “Nhà thiết kế, đó là người đùa với những mảnh vải, đam mê với những gam màu và các chất liệu khác nhau, vừa phải có đủ tỉnh táo để nhận ra đâu là ranh giới cuộc chơi phóng túng của riêng mình, đâu là bộ quần áo sẽ được tung ra đường phố với những hiệu quả kinh tế, với những tác động về thị hiếu thẩm mỹ và lối sống xã hội.”
Một vấn đề khác cũng được đặt ra, đó là các nhà thiết kế thời trang Việt Nam rất thiếu thông tin về ngành thời trang trong nước cũng như thế giới. Sách báo, băng đĩa nói về thời trang quá ít, cơ hội giao lưu, học hỏi với các nhà thiết kế thời trang trong khu vực và trên thế giới không nhiều. Chính sự thiếu vắng thông tin này đã dẫn đến việc “mình ta một mốt”, thiếu tính hội nhập với xu thế thời trang thế giới. Tình trạng này dẫn đến hệ quả tất yếu là, trong khi các ngành nghề khác đang mở cửa để hội nhập thì dường như thời trang Việt Nam vẫn rất thờ ơ trước xu thế này. Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh mặt hàng lụa tơ tằm.
Có ý kiến cho rằng ngành thời trang nước ta hiện thực sự mới chỉ dừng lại ở khâu sản xuất – tức là chỉ dừng lại ở phần đuôi của cả một hệ thống công nghệ thời trang. Trong khi tại các nước phát triển, từ công đoạn thiết kế mẫu (fashion design) rồi chuyển sang thiết kế mang tính công nghiệp và thuần tuý kĩ thuật (pattern design) ra các size khác nhau và giác sơ đồ (marking), từ đó cho ra sản phẩm đều được thực hiện một cách hệ thống. Còn ở Việt Nam, có thể nhận thấy ngay phần đầu và phần đuôi của công nghệ thời trang nước ta không hề có sự gắn kết chặt chẽ. Trong khi đó, chúng ta có một đội ngũ các nhà thiết kế trẻ được phát hiện hàng năm từ các cuộc thi thiết kế thời trang trong nước như Việt Nam Collection Grand Prix do tạp chí Mốt tổ chức hay cuộc thi thiết kế mẫu thời trang do tạp chí Thời trang trẻ tiến hành. Chúng ta lại có Tuần lễ Thời trang – một hoạt động do viện mẫu thời trang Fadin thuộc Tổng công ty dệt may tổ chức nhằm giới thiệu những mẫu mới nhất của các nhà thiết kế trong nước với công chúng và dĩ nhiên là với các nhà sản xuất. Nhưng cho dù các hoạt động này có gây tiếng vang lớn và tạo nên sự chuyển biến mới cho làng thời trang Việt Nam thì dường như các công ty vẫn rất thờ ơ với những hoạt động chuyên nghiệp này. Nhà sản xuất thì ngày càng đầu tư cho chất liệu, kỹ thuật cắt may, nâng cao chất lượng sản phẩm, nhưng mẫu mã vẫn chưa hề có dấu ấn của những nhà thiết kế. Trong khi đó, kiểu dáng, mẫu mã quyết định 50% đến việc mua hay không mua của khách hàng. Và dĩ nhiên, khi các công ty vẫn chưa nắm được cơ hội khám phá và sử dụng các nhà thiết kế trong việc tạo mẫu hàng may sẵn thì ngành lụa của Việt Nam chỉ có thể có những “nhà may” và những đơn đặt hàng gia công. Có lẽ phải một thời gian nữa chúng ta mới có các đơn đặt hàng có thiết kế riêng.
4. Thương hiệu.
Tơ tằm Việt Nam vốn đã khá nổi tiếng về chất lượng nhưng lại chưa hề có một thương hiệu thống nhất cho toàn bộ ngành hàng. Hiện mới chỉ có những thương hiệu mang tính làng nghề như Vạn Phúc, Bảo Lộc. Nhưng ngay cả với những thương hiệu mang tính làng nghề ấy hiện nay cũng đang bị mất dần chỗ đứng dưới con mắt của người tiêu dùng trong và ngoài nước. Nguyên nhân chủ yếu là do người Việt Nam đã không biết bảo vệ thương hiệu cho chính sản phẩm của mình như bán lụa tơ tằm không đủ 100% tơ tự nhiên, không giữ chữ tín trong kinh doanh, hay như việc bán cả hàng Trung Quốc lẫn vào sản phẩm tơ tằm Việt Nam để thu hút khách vì giá rẻ, trong khi cái mà khách hàng muốn mua là những sản phẩm tơ tằm của Việt Nam với chất liệu truyền thống là tơ tằm tự nhiên. Thậm chí, các sản phẩm lụa trên thị trường hầu hết đều không được gắn nhãn mác và người tiêu dùng chỉ biết đến nguồn gốc của sản phẩm thông qua sự giới thiệu của người bán hàng. Mặc dù tình hình này đã được cải thiện đáng kể từ năm 2023 và khách hàng trong nước lại ưa dùng lụa tơ tằm Việt Nam, nhưng nếu đem ra thị trường quốc tế thì thương hiệu lụa tơ tằm Việt Nam vẫn kém cạnh tranh hơn so với lụa tơ tằm của các nước khác.
Rất nhiều công ty vẫn chưa đăng ký thương hiệu của mình dù là trên thị trường nội địa. Còn ở thị trường nước ngoài thì hiện nay mới chỉ có công ty lớn như AQ Silk là đã làm được việc này. Tuy nhiên, cũng phải nhìn nhận một thực tế là việc đưa sản phẩm của chúng ta có chỗ đứng trên thị trường nước ngoài không hề dễ dàng. Hoạt động này nếu có thì cũng mới chỉ mang tính chất là bước đầu. Như AQ Silk tuy đã đưa được thương hiệu của mình vào được đất Mỹ thì cũng ở dưới hình thức là “chuyển nhượng” thương hiệu cho một Việt Kiều với mức giá 10.000 USD/năm trong vòng 10 năm. Hiện nay, có đến 90% hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu được thực hiện thông qua các hợp đồng gia công nên tỷ lệ xuất khẩu hàng FOB còn rất hạn chế. Các thương hiệu tơ tằm lớn của Việt Nam đã bắt đầu quan tâm đến vấn đề thương hiệu và dần khẳng định chỗ đứng, vị thế của mình trên thị trường nước ngoài. Tuy nhiên số lượng này vẫn còn rất hạn chế, nếu không nói là quá ít ỏi. Ngay như một công ty xuất khẩu lụa tơ tằm với kim ngạch luôn đạt trên 95% tổng doanh thu như ASC, thậm chí còn có cả công ty con và liên doanh ở Uzebekistan và Tajikistan mà vẫn chưa đăng ký thương hiệu của mình tại nước ngoài thì rõ ràng không thể dám chắc là sản phẩm của Việt Nam sẽ không bị trôi nổi, rồi lại quay trở lại Việt Nam với thương hiệu nước ngoài và cũng không ai dám chắc rằng thương hiệu uy tín mà công ty đã dày công xây dựng sẽ không bị đánh cắp bởi các công ty nước ngoài như trường hợp của cà phê Trung Nguyên, thuốc lá Vinataba hay nước mắm Phú Quốc. Rõ ràng trong khi các nhà xuất khẩu lớn mặt hàng tơ lụa còn quá ít thì việc xuất khẩu manh mún, nhỏ lẻ của các cơ sở sản xuất kinh doanh lụa tơ tằm qua trung gian đã làm mất dần thương hiệu lụa tơ tằm Việt Nam trên thị trường thế giới. Phải thừa nhận một điều rằng các nhà sản xuất-kinh doanh và xuất khẩu tơ lụa vẫn chưa thực sự quan tâm đến việc xây dựng và phát triển cũng như bảo vệ thương hiệu cho lụa tơ tằm Việt Nam ở thị trường nước ngoài. Điều này hoàn toàn có thể thấy qua vị thế của Việt Nam trên thế giới về kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này [21.4]. Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam so với thị trường thế giới là quá nhỏ bé, chưa tương xứng với tiềm năng. Đặc biệt, thương hiệu của lụa tơ tằm Việt Nam sẽ còn bị mất dần trong tình hình hiện nay khi mà giá kén tăng cao và nguồn tơ xấu đang trôi nổi vào Việt Nam dưới nhiều con đường, không thể kiểm soát được sẽ dẫn đến tình trạng “vàng thau lẫn lộn” và từ đó chất lượng lụa dệt cũng không được đảm bảo, đặc biệt là đối với các nguồn hàng xuất khẩu đòi hỏi chất lượng cao.
5. Nhận xét chung về năng lực cạnh tranh của mặt hàng. Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh mặt hàng lụa tơ tằm.
Nhìn chung, “năng lực cạnh tranh” của lụa tơ tằm Việt Nam vẫn đang còn ở dạng tiềm năng. Chúng ta có ưu thế về đất đai, khí hậu, truyền thống văn hoá lâu đời nhưng tất cả những yếu tố đó chưa giúp chúng ta có được một vị thế rõ ràng trên thương trường. Khi so sánh lụa tơ tằm Việt Nam so với sản phẩm của các nước khác, phần đông ý kiến đánh giá của người tiêu dùng tương đối xác thực. Họ đánh giá các sản phẩm lụa tơ tằm của Việt Nam là những sản phẩm có nhiều chất liệu tự nhiên nhất so với sản phẩm của các nước. Đây thực sự là một thế mạnh, một lợi thế cạnh tranh của lụa tơ tằm Việt Nam trên thị trường. Tuy vậy chúng ta vẫn còn nhiều việc phải làm nếu muốn thành công trên con đường chinh phục khách hàng bởi lụa Việt Nam còn kém ưu thế xét trên nhiều tiêu chuẩn chất lượng khác (như độ nhăn, độ bền, độ phai màu).Về mẫu mã sản phẩm thì hiện nay chúng ta đã bước đầu có những cải tiến đáng kể với mong muốn theo sát xu hướng thời trang thế giới và bắt kịp nhu cầu đa dạng từ phía khách hàng. Những nỗ lực đó đang làm cho thị trường trong nước ngày càng phong phú, náo nhiệt hơn. Nhưng như thế chưa đủ để đẩy lùi hàng ngoại nhập. Điểm yếu của chúng ta chính là ở khâu thiết kế và điều đó đang là một trở ngại lớn trong điều kiện hiện nay. Cũng có thể coi giá cả là một yếu tố có thể cạnh tranh được, nhất là trong khi thu nhập bình quân của người Việt Nam vẫn còn tương đối hạn hẹp. Tuy nhiên, xét về lâu về dài thì đây không phải là một yếu tố chắc chắn bởi vì chỉ có cạnh tranh bằng chất lượng mới đem lại sự phát triển bền vững. Lúc này ngành lụa cũng đang phải đối mặt với một số khó khăn về thị trường đầu ra cho sản phẩm vì chúng ta mất đi sự hỗ trợ của Tổng công ty dâu tằm tơ.(Trước đây Tổng công ty vẫn có chính sách bao tiêu sản phẩm, tìm kiếm thị trường và cũng là một đầu mối lớn tiêu thụ sản phẩm cho bà con nông dân). Nhưng đó chỉ là khó khăn trước mắt. Và ngay cả khi không nhận được sự hỗ trợ ấy, các doanh nghiệp Việt Nam cũng vẫn phải tìm kiếm con đường đi riêng cho mình. Sự tự lập trong kinh doanh là một yếu tố cần thiết nếu chúng ta muốn có chỗ đứng vững chắc trên thị trường bởi doanh nghiệp có phát triển được hay không là do nội lực của chính doanh nghiệp ấy chứ không phải nhờ vào vai trò “bà đỡ” của một Tổng công ty Nhà nước. Thương hiệu cho ngành hàng cũng là một yếu tố mà các doanh nghịêp, làng nghề cần có sự đầu tư và quan tâm đúng mức để sản phẩm tăng thêm phần giá trị và sức cạnh tranh trên thị trường trong nước cũng như thị trường nước ngoài. Hiện nay chúng ta mới chỉ có thương hiệu làng nghề và một vài thương hiệu đơn lẻ của công ty. Nhưng để bạn bè quốc tế biết đến lụa Việt Nam nhiều hơn nữa thì thiết nghĩ chúng ta cần phải có chiến lược xây dung thương hiệu quốc gia phù hợp và đúng tầm. Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh mặt hàng lụa tơ tằm.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>> Khóa luận: Giải pháp năng lực cạnh tranh của mặt hàng lụa tơ tằm

Dịch Vụ Viết Luận Văn Thạc Sĩ 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietthuethacsi.com/ – Hoặc Gmail: dicvuluanvanthacsi@gmail.com
[…] ===>> Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh mặt hàng lụa tơ tằm […]