Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Giải pháp năng lực cạnh tranh của mặt hàng lụa tơ tằm hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Khóa luận: Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của mặt hàng lụa tơ tằm Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
Nội dung chính
I. Định hướng phát triển mặt hàng mặt hàng lụa tơ tằm Việt Nam
1. Quan điểm của Đảng về phát triển làng nghề truyền thống.
Trong quá trình Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế, Đảng ta luôn chăm lo và quan tâm đến tiến trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn. Và một trong những chủ trương của Đảng để tiến hành quá trình đó thành công là khôi phục và phát triển các làng nghề truyền thống. Trong Văn kiện Hội nghị Đại hội Đảng IX, Đảng ta đã nêu rõ quan điểm của mình về phát triển làng nghề truyền thống như sau:
Trong đường lối và chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 10 năm 2021 – 2030, Đảng ta đã khẳng định “Phát triển công nghiệp, dịch vụ, các ngành nghề đa dạng, chú trọng công nghiệp chế biến, cơ khí phục vụ nông nghiệp, các làng nghề, chuyển một bộ phận quan trọng lao động nông nghiệp sang khu vực công nghiệp và dịch vụ, tạo nhiều việc làm mới, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, cải thiện đời sống nông dân và dân cư ở nông thôn” [8,tr93].
Hay như trong định hướng phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn trong kế hoạch 5 năm 2021- 2025, Đảng ta cũng chỉ rõ: “Mở mang các làng nghề, phát triển các điểm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ, đưa công nghiệp sơ chế và chế biến về nông thôn và vùng nguyên liệu” [8,tr279].
Như vậy, rõ ràng, trong những năm trở lại đây, Đảng ta luôn quan tâm đến việc cơ khí hoá và công nghiệp hoá các làng nghề truyền thống của nhân dân ta, từng bước khôi phục, mở rộng và phát triển các làng nghề và các nghề thủ công truyền thống để tạo nên vị thế cạnh tranh mới trong quá trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới.
2. Kế hoạch phát triển ngành hàng đến năm 2030. Khóa luận: Giải pháp năng lực cạnh tranh của mặt hàng lụa tơ tằm.
2.1. Về sản xuất dâu tằm:
Trước mắt cần ổn định diện tích dâu hiện có là 25.000 ha dâu, lấy các tiêu chí tăng năng suất lá dâu, kén tằm, tơ, giá trị thu nhập và lợi nhuận trên ha dâu tằm làm mục đích để đảm bảo tính ổn định hiệu quả và bền vững trong sản xuất dâu tằm. Coi đó là nền móng cho sự phát triển của ngành Dâu tằm tơ lụa Việt Nam.
Mục tiêu đến năm 2030 bình quân năng suất dâu, kén, tơ và giá trị thu nhập/ha của cả nước tăng 3 lần so với hiện nay và đạt 000 kg kén/ha, 250 kg tơ/ha. Giá trị thu nhập 3.500 USD/ha, lợi nhuận ròng 1.000 USD/ha trở lên.
Cả nước phấn đấu đến 2030 sẽ trồng được 40.000 ha dâu, đạt sản lượng 10 triệu mét lụa/năm tương đương với 300 tỉ đồng (10 triệu mét x 30.000 đồng/mét), trong đó riêng tỉnh Lâm Đồng chiếm 30% sản lượng toàn quốc, tương đương 2,5-3,0 triệu mét/năm với giá trị sản lượng đạt 75- 90 tỉ đồng (2,3 – 3,0 triệu mét x 30.000 đồng/mét)
Mục tiêu xuất khẩu các sản phẩm tơ lụa của toàn ngành đến năm 2030 sẽ đạt 400 – 450 triệu USD/năm.
2.2. Về chế biến tơ:
Nếu việc chuyển đổi giống dâu mới và sử dụng giống tằm mới chất lượng cao được thực hiện thì 25.000 ha dâu tằm hiện có đến năm 2030 sẽ thu được 60.000 tấn kén, khoảng 8.000 tấn tơ các loại. Như vậy sản lượng kén không những thỏa mãn cho nhu cầu chế biến tơ của các thành phần kinh tế hiện có mà còn phải mở thêm các Nhà máy chế biến, lúc đó chúng ta phải mở rộng và đầu tư thêm cơ sở ươm tơ tự động và khuyến khích các thành phần kinh tế khác đầu tư ươm tơ tự động và tơ cơ khí.
Mục tiêu đặt ra với chế biến tơ là đến năm 2030 có 30% tơ cấp cao (3A-5A) do các đơn vị sản xuất bằng ươm tơ tự động (khoảng 2.500 tấn/năm), 30% tơ cấp trung bình (A-2A) do các thành phần kinh tế khác sản xuất bằng ươm cơ khí (khoảng 2.500 tấn/năm). Số còn lại tơ cấp thấp do các hộ nông dân và các làng nghề sản xuất.
Xác định các vùng sản xuất Dâu tằm tơ tập trung gắn với Nhà máy và công nghệ chế biến tơ
2.3. Về công nghệ sau tơ:
Trên cơ sở các Nhà máy xe tơ, dệt lụa hiện có, chúng ta phải chủ động tiếp thu được công nghệ tiên tiến của Nhật Bản và Hàn Quốc. Khi giải quyết được vấn đề sản lượng, chất lượng và giá thành tơ thì phải khuyến khích các thành phần kinh tế khác tăng cường đầu tư vào công nghệ sau tơ nhằm tăng nhanh hiệu quả và doanh thu vì sản phẩm chế biến sau tơ sẽ đem lại tỉ suất lợi nhuận cao và giá trị gia tăng nhanh. Phấn đấu đến 2030 phải đưa 50% sản lượng tơ sản xuất ra vào dệt lụa.
(Kế hoạch này được lập dựa trên “Định hướng phát triển ngành dâu tằm tơ Việt Nam đến năm 2030 với mục tiêu ổn định, hiệu quả, bền vững” – và dự thảo “Đề án phát triển ngành dâu tằm tơ tại Lâm Đồng đến năm 2027”)
II. Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của mặt hàng lụa tơ tằm Việt Nam. Khóa luận: Giải pháp năng lực cạnh tranh của mặt hàng lụa tơ tằm.
Do mặt hàng lụa tơ tằm vẫn chỉ là một mặt hàng rất nhỏ bé nếu so với các mặt hàng xuất khẩu khác, do đó, cho đến nay nó thậm chí vẫn chưa được xem như một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực. Chính vì thế mà ngay cả lộ trình để phát triển mặt hàng này cũng phần lớn chỉ do các công ty kinh doanh và các làng nghề tự đặt ra cho mình; còn Hiệp hội Dâu tằm tơ và Tổng công ty Dâu tằm tơ Việt Nam thì vẫn chưa phát huy được vai trò của cơ quan chủ quản. Phần lớn các công ty, cửa hàng vẫn hoạt động hết sức manh mún, chưa có một sự quản lý thống nhất nào cho toàn ngành. Chính vì xuất phát từ thực tế đó nên đề tài xin đưa ra ý kiến của mình về lộ trình nâng cao năng lực cạnh tranh cho lụa tơ tằm Việt Nam, cụ thể như sau:
1. Đối với Nhà nước.
Để có thể tạo dựng và phát triển thành công thương hiệu chung cho lụa tơ tằm Việt Nam cũng như nâng cao năng lực cạnh tranh của mặt hàng này, trước hết Chính phủ cần phải hoàn thiện hệ thống chính sách về phát triển tơ lụa thành một mặt hàng xuất khẩu tiềm năng, trong đó sẽ bao quát đến tất cả những vấn đề như sau:
1.1. Giải pháp về nguyên liệu.
Theo định hướng phát triển ngành dâu tằm tơ Việt Nam đến 2030 thì để có thể xây dựng được thương hiệu lụa tơ tằm Việt Nam, vấn đề cần phải quan tâm hàng đầu là khâu nguyên liệu: “Muốn mở rộng được thị trường xuất khẩu thì nhất thiết phải nâng cao chất lượng sản phẩm và hạ giá thành sản phẩm mà giải pháp đột phá là giống dâu, giống tằm và công nghệ mới”. Cụ thể như sau:
Thứ nhất, Nhà nước cần có chính sách xây dựng vùng nguyên liệu tập trung gắn với nhà máy và công nghệ chế biến tơ cho năng suất cao.
- Để có thể phát triển vùng nguyên liệu tập trung, cần thực hiện những công việc sau:
Quy hoạch phát triển diện tích dâu tằm đến 2030 theo quyết định 161/2018/QĐ-TTg ngày 4/9/2018 của Chính phủ phê duyệt qui hoạch tổng thể phát triển ngành công nghiệp dệt may đến năm 2030, trong đó có qui hoạch đến năm 2030, diện tích dâu cả nước là 40.000 ha và 4.000 tấn tơ. Khóa luận: Giải pháp năng lực cạnh tranh của mặt hàng lụa tơ tằm.
Chuyển đổi cơ cấu giống dâu cũ bằng giống dâu mới có năng suất cao được lai tạo tại Việt Nam và nhập khẩu từ Trung Quốc. Trên diện tích dâu cũ của các địa phương mỗi năm cải tạo 20% (để không ảnh hưởng đến nuôi tằm và sản lượng kén của năm đầu) thì sau 5 năm ít nhất sẽ có 80% diện tích dâu cũ được cải tạo, khi đó năng suất bình quân đạt 35 tấn/ha trở lên. Trong đó, từ nay đến năm 2030 sẽ thực hiện theo hai giai đoạn:
- Từ 2024 – 2027: thời kỳ chuyển đổi diện tích từ giống dâu cũ năng suất thấp sang giống dâu mới có năng suất, chất lượng cao.
- Từ 2028 – 2030: Thời kỳ phát triển tăng thêm diện tích dâu.
Chủ động hợp tác với đối tác Trung Quốc, tiếp thu các tiến bộ công nghệ mới, mua công nghệ, mua giống mới chất lượng cao để sản xuất trứng giống tằm tại Việt Nam mang thương hiệu Việt Nam thay thế giống cấp II phải nhập từ Trung Quốc. Đồng thời phải chuyển giao công nghệ mới vào nuôi tằm từ việc tiêu độc triệt để môi trường, chủ động cung cấp thức ăn cho tằm đủ về lượng đảm bảo về chất, tổ chức nuôi tằm con tập trung đến việc ứng dụng phương pháp nuôi tằm kinh tế đối với tằm lớn để giảm giá thành kén và bảo hành trứng giống tằm đến hộ nông dân.
Lấy thâm canh, hiệu quả làm mục tiêu. Kết hợp với việc tiếp thu có chọn lọc các công nghệ trong thâm canh dâu, nuôi tằm năng suất cao, từng bước chuyển giao các tiến bộ này đến tận hộ nông dân trồng dâu, nuôi tằm.
Đa dạng các thành phần kinh tế tham gia sản xuất và chế biến tơ. Nhưng các thành phần này đều phải có vùng nguyên liệu đáp ứng đủ kén cho công suất chế biến của mình, đồng thời gắn liền với việc thu mua kén tằm cho nông dân ổn định lâu dài theo tinh thần quyết định 80/2022/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.
Các vùng sản xuất dâu tằm tơ tập trung gắn với nhà máy và công nghệ chế biến tơ tập trung ở các vùng:
- Vùng Lâm Đồng và cao nguyên (Mộc Châu, Sơn La, Đắc Lắc) tập trung xây dựng vùng nguyên liệu chất lượng cao gắn với công nghệ cao để sản xuất tơ cao cấp.
- Vùng các tỉnh phía Bắc chủ yếu sản xuất tơ cấp trung bình và thấp (như Hà Tây, Nam Định, Thái Bình …)
- Vùng các tỉnh miền Trung chủ yếu sản xuất tơ cấp trung bình và một phần tơ cấp cao.
Thứ hai, Nhà nước cần phải quản lý chặt chẽ nguồn nguyên liệu nhập khẩu
Điều này là hoàn toàn dễ hiểu, bởi hiện nay, nguồn nguyên liệu được nhập khẩu vào nước ta phần lớn là bằng con đường tiểu ngạch, khó kiểm soát, chất lượng của những nguyên liệu nhập khẩu này lại không tốt, dẫn đến tình trạng “vàng thau lẫn lộn”, gây mất uy tín cho thương hiệu lụa tơ tằm Việt Nam. Nhiều nguồn tằm tơ không đủ tiêu chuẩn chất lượng vẫn được đưa vào sản xuất, chế biến một cách bừa bãi (thậm chí là nhập lậu) khiến cho uy tín của làng nghề tơ lụa Việt Nam đang bị mất dần. Do đó, một việc làm cũng hết sức cần thiết bên cạnh việc vực lại vùng nguyên liệu cho ngành dâu tằm tơ lụa Việt Nam là phải quản lý chặt chẽ nguồn nguyên liệu nhập khẩu để từ đó đảm bảo chất lượng và uy tín của sản phẩm tơ lụa Việt Nam cả trong và ngoài nước.
1.2. Giải pháp về khâu sản xuất. Khóa luận: Giải pháp năng lực cạnh tranh của mặt hàng lụa tơ tằm.
1.2.1- Đưa ra tiêu chuẩn chất lượng cho sản phẩm lụa tơ tằm Việt Nam.
Việc có một tiêu chuẩn chung thống nhất để đánh giá chất lượng của sản phẩm tơ tằm là vô cùng cần thiết cho cả phía doanh nghiệp và người tiêu dùng. Đối với doanh nghiệp, điều này giúp họ khẳng định chất lượng sản phẩm của mình, nâng cao vị thế, bảo vệ thương hiệu và tất nhiên cũng nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp mình. Còn về phía người tiêu dùng, tiêu chuẩn chất lượng chung sẽ giúp họ lựa chọn được những sản phẩm phù hợp, tránh mua phải hàng giả, hàng không có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng. Từ đó xây dựng và củng cố niềm tin của họ đối với doanh nghiệp của chúng ta. Để có được hệ thống tiêu chuẩn chung này, Nhà nước cần phải phối hợp chặt chẽ với các ban ngành có liên quan như Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Hiệp hội dâu tằm tơ để có thể đi đến thống nhất và mang tính chuyên môn cao. Cần lưu ý là phải đảm bảo tính độc đáo, riêng biệt của từng làng nghề, từng cơ sở sản xuất trong khi vẫn đảm bảo sự nhất quán về thương hiệu quốc gia;
1.2.2- Hỗ trợ các doanh nghiệp về kỹ thuật và công nghệ hiện đại.
Hiện nay, phần lớn các cơ sở sản xuất lụa trong cả nước vẫn chỉ có công nghệ ở mức trung bình và thấp, rất ít cơ sở có công nghệ hiện đại. Điều này đã làm giảm cạnh tranh của sản phẩm lụa Việt Nam, làm cho sản phẩm không có chất lượng đồng đều và khó có thể sản xuất với khối lượng lớn. Do đó, một trong những khâu đột phá của ngành tơ lụa Việt Nam chính là ở khâu công nghệ như đã trình bày ở trên. Nhà nước cùng với Hiệp hội dâu tằm tơ phải phối hợp cùng nhau hỗ trợ doanh nghiệp về kỹ thuật và công nghệ hiện đại, trong đó, phảI có một cơ quan đầu não làm nòng cốt áp dụng tiến bộ kỹ thuật và công nghệ cao vào công nghiệp chế biến tơ, lụa thông qua các chương trình nghiên cứu, hợp tác trong và ngoài nước…
1.2.3- Hỗ trợ các doanh nghiệp về vốn.
Không chỉ thiếu kỹ thuật và công nghệ hiện đại, các doanh nghiệp tơ tằm Việt Nam còn thiếu vốn, một trong những yếu tố quan trọng để phát triển ngành dâu tằm tơ. Tuy nhiên, vốn không chỉ thiếu đối với riêng ngành dâu tằm mà còn thiếu đối với cả nền kinh tế, do đó việc Nhà nước hỗ trợ vốn ngay cho người sản xuất là hết sức khó khăn. Trong thời gian trước mắt có thể huy động vốn bằng các hình thức sau: Khóa luận: Giải pháp năng lực cạnh tranh của mặt hàng lụa tơ tằm.
- Huy động các nguồn lực trong nước cho nhu cầu phát triển bằng nhiều hình thức: hình thành các công ty cổ phần cho các dự án đầu tư mới; Huy động vốn tự có của các thành phần; vốn vay từ các nguồn tín dụng trong nước; xin cấp Ngân sách cho các hoạt động khuyến nông, trợ giá giống mới, chọn tạo giống, tín dụng cho chuyển đổi cây trồng.
- Nhà nước cấp tín dụng dài hạn để các thành phần kinh tế mở rộng sản xuất và đổi mới thiết bị nhằm tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm, đủ sức cạnh tranh trong tình hình đổi mới sau khi đất nước hội nhập vào thị trường tự do của Thế giới theo lộ trình của Chính Phủ Việt Nam.
1.3. Hỗ trợ về thị trường.
Để có thể tiêu thụ trong nước, doanh nghiệp rất cần có sự hỗ trợ của Nhà nước trong việc phát triển thị trường trong nước và kích thích tiêu dùng. Nhà nước có thể kích thích tiêu dùng của người dân đối với sản phẩm lụa tơ tằm Việt Nam thông qua những chương trình vận động quốc gia như “Tháng người Việt Nam dùng hàng Việt Nam”, “Tháng tôn vinh nghề dệt truyền thống” thông qua những triển lãm, hội chợ hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam để thu hút sự chú ý của người tiêu dùng trong và ngoài nước. Nhưng yêu cầu đặt ra đối với các sản phẩm được tham gia chương trình là phải đảm bảo những yêu cầu về mặt chất lượng và không nên có sự phân biệt giữa chất lượng hàng xuất khẩu và hàng tiêu thụ trong nước( nên có chính sách giống Nhật Bản, đó là mọi sản phẩm đều đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng xuất khẩu) để người tiêu dùng tin vào sản phẩm của Việt Nam sau khi đã dùng thử, từ đó có thói quen dùng hàng Việt Nam. Tuy nhiên do người Việt Nam vẫn còn có thu nhập thấp, do đó sản phẩm nên đa dạng cả về giá thành, “tiền nào của nấy”, nhưng vẫn phải đảm bảo một số yêu cầu chất lượng nhất định nào đó, chứ không nên như trung Quốc có sản phẩm thì quá tốt, sản phẩm thì quá tồi, chưa dùng đã phai hết màu, đã sần mặt vải, lụa tơ tằm mà mặc nóng như mặc vải nilon….
1.4. Hỗ trợ doanh nghiệp quảng bá thương hiệu quốc gia.
Thông thường, việc tạo dựng một thương hiệu bao gồm hai công việc: xây dựng và phát triển thương hiệu. Xây dựng luôn đi trước và không có xây dựng thì không có phát triển. Trong xây dựng thương hiệu không thể thiếu một khâu quan trọng, đó là quảng bá cho thương hiệu. Quảng bá thương hiệu chính là một công cụ quan trọng nhất để tăng sự nhận biết của khách hàng đối với thương hiệu. Để thương hiệu chung cho lụa tơ tằm Việt Nam phát triển mạnh, giúp cho các doanh nghiệp tăng sức cạnh tranh trên thị trường, hội nhập thành công vào nền kinh tế thế giới, cần có một kế hoạch quảng bá thương hiệu được đầu tư chu đáo và một lộ trình hợp lý để có thể thu được hiệu quả cao nhất.
Trước tiên, Nhà nước cần hỗ trợ các doanh nghiệp đăng ký và bảo hộ thương hiệu ở cả trong và ngoài nước, đặc biệt là các thị trường xuất khẩu trọng điểm như Mỹ, EU, Nhật Bản… Khóa luận: Giải pháp năng lực cạnh tranh của mặt hàng lụa tơ tằm.
Đồng thời, Nhà nước cũng cần xúc tiến ngay các hoạt động quảng bá cho thương hiệu chung cho lụa tơ tằm Việt Nam và các thương hiệu lớn của ngành trên các phương tiện thông tin đại chúng như tivi, đài, báo, các tạp chí kinh tế, các tạp chí thời trang, các tạp chí chuyên ngành, website một cách rộng rãi và thường xuyên.
1.5. Có chính sách bảo hộ bản quyền thiết kế, hoa văn, họa tiết trên sản phẩm lụa tơ tằm.
Một trong những bất cập hiện nay trong khâu sản xuất lụa tơ tằm là bản quyền thiết kế. Có rất nhiều nhà sản xuất đã dày công mày mò và thiết kế ra những mẫu hoa văn, họa tiết đẹp cho sản phẩm của mình, nhưng ngay sau đó không lâu, mẫu của họ bị đánh cắp và bán rộng rãi trên thị trường, khiến cho nhiều nhà sản xuất đã phải lao đao khi không bảo vệ được bản quyền của mình. Vì vậy, muốn cho các nhà sản xuất đầu tư hơn nữa vào việc thiết kế thêm những mẫu vải , hoa văn, hoạ tiết hấp dẫn và mang đậm tính truyền thống của Việt Nam thì Nhà nước cần phải hoàn thiện và thực hiện nghiêm túc và chặt chẽ luật bảo hộ bản quyền hay quyền sở hữu trí tuệ để bảo vệ những người sản xuất chân chính và hết lòng muốn khôi phục lại nghề tơ lụa truyền thống của dân tộc ta.
2. Đối với Hiệp hội. Khóa luận: Giải pháp năng lực cạnh tranh của mặt hàng lụa tơ tằm.
Hiệp hội Dâu tằm tơ Việt Nam đã ra đời cách đây 5 năm và đã mang lại nhiều hy vọng cho làng nghề dâu tằm tơ lụa. Thế nhưng, cho đến nay, hiệp hội vẫn chưa phát huy được vai trò và chức năng thực sự của mình. Anh Nguyễn Cảnh Tiên, chủ phân xưởng ươm tơ số 3 (thuộc hợp tác xã dịch vụ chế biến tơ tằm Bảo Lộc), tâm sự: “Trong làng nghề cần phải có tiếng nói chung và cần có sự hợp tác, không thể mạnh ai nấy làm. Đó là vai trò của hiệp hội. Mỗi thành viên cũng phải có trách nhiệm với tổ chức nghề nghiệp của mình” [17]. Như vậy, trong tình hình hiện nay thì vai trò của hiệp hội là hết sức quan trọng bởi ngành dâu tằm tơ lụa của Việt Nam sẽ không thể phát triển một cách bền vững nếu vẫn ở trong tình trạng sản xuất manh mún, thiếu kế hoạch, các thành phầm kinh tế phát triển một cách tự phát, không ai quản lý như hiện nay. Thực tế đã chứng minh cho điều này. Một trong những nguyên nhân chính khiến cho giá kén tằm tăng cao đột biến trong thời gian vừa qua là do các cơ sở đã không hợp tác với nhau và không có ai quản lý. Ông Lê Trọng Ánh, chủ xưởng ươm tơ số 8 ở thị trấn Liên Nghĩa (huyện Đức Trọng – Lâm Đồng) cho biết: “Trong làng nghề hiện không có sự hợp tác với nhau và do thiếu kén, mạnh ai nấy mua, lực lượng “cò” kén quá đông đã chi phối đến thị trường kén. Không ai quản lý, họ đã tự ý nâng giá kén, mua kén non (kén chưa hóa nhộng), kén kém chất lượng, từ đó làm giảm chất lượng tơ, gây mất uy tín của làng nghề” [17]. Rõ ràng, Hiệp hội có phát huy được vai trò của mình trong làng nghề thì ngành tơ lụa của Việt Nam mới có thể phát triển được.
Để phát huy vai trò của mình, Hiệp hội phải thực hiện rất nhiều việc, chẳng hạn như:
- Hướng dẫn đưa giống mới vào nuôi trồng, thay thế giống cũ để đem lại năng suất cao hơn;
- Xây dựng cho mình một uy tín trên thị trường để từ đó bảo vệ được thương hiệu và uy tín cho mặt hàng tơ lụa Việt Nam;
- Tập hợp các hộ nông dân vào vùng nguyên liệu tập trung, tập hợp các cơ sở sản xuất và công ty kinh doanh tơ lụa vào hiệp hội để quản lý thống nhất, tập hợp các làng nghề, các công ty sản xuất – kinh doanh tơ lụa vào hiệp hội để mặt hàng tơ lụa của Việt Nam có một tiếng nói chung trên thị trường Thế Giới;
- Lập kế hoạch phát triển ngành và trình Chính phủ phê duyệt;
- Tích cực tìm kiếm các cơ hội hợp tác về khoa học kỹ thuật với các đơn vị trong và ngoài nước và tìm kiếm thị trường tiêu thụ;
- Thống nhất về tiêu chuẩn chất lượng cho dâu, tằm, tơ lụa Việt Nam;
- Xây dựng tên gọi cho thương hiệu lụa tơ tằm Việt Nam;
- Xây dựng chiến lược quảng bá và mạng lưới phân phối cho thương hiệu trên cả thị trường trong và ngoài nước;
- Nghiên cứu nhu cầu của người tiêu dùng trong và ngoài nước.
Hướng dẫn và tuyên truyền đến bà con nông dân về việc phải tuân thủ hợp đồng cung cấp nguyên liệu, tránh tình trạng để bà con nông dân sau khi được cấp giống dâu và tằm mới, hỗ trợ về công nghệ cho năng suất và chất lượng cao không bán nguyên liệu cho Hiệp hội hoặc nơi bao tiêu sản phẩm mà lại bán cho các lái buôn vì cái lợi trước mắt.
Tuy nhiên, trong thời gian trước mắt, hiệp hội cần phải phối hợp với các công ty đầu ngành nghiên cứu, lai tạo và nhập khẩu giống dâu tằm mới cho năng suất cao, phổ cập kiến thức trồng dâu, nuôi tằm đúng kỹ thuật, truyền bá kỹ thuật thâm canh cho bà con nông dân để phát triển vùng nguyên liệu ra diện rộng: Triển khai nhanh việc đưa các giống dâu lai Sa-109 của Trung Quốc vào thâm canh; cố gắng cung ứng đầy đủ các giống tằm chất lượng cao cho sản xuất, có tem và bảo đảm chất lượng tới nông dân. Bảo đảm dịch vụ vật tư chuyên dùng đề phòng chống bệnh tằm. Đối với công nghiệp chế biến tơ, phối hợp với các cơ quan trong ngành thực hiện chủ trương liên kết đầu tư thu mua sản phẩm kén của nông dân bằng hợp đồng, đúng với tinh thần quyết định 80 của Thủ tướng Chính phủ. Kiên quyết khắc phục việc cung ứng tằm tùy tiện, nuôi tằm không đúng quy trình kỹ thuật, cạnh tranh không lành mạnh, tranh giành địa bàn giữa các thành phần kinh tế.
3. Đối với doanh nghiệp.
3.1. Nâng cao chất lượng sản phẩm. Khóa luận: Giải pháp năng lực cạnh tranh của mặt hàng lụa tơ tằm.
Đối với các doanh nghiệp Việt Nam, muốn nâng cao năng lực cạnh tranh cho sản phẩm của mình thì điều cần làm trước tiên là phải củng cố và nâng cao chất lượng của sản phẩm đó. Nhìn chung, chất lượng lụa của Việt Nam vẫn chỉ được đánh giá ở mức thấp. Hơn nữa, cũng không thể phủ nhận một thực tế là với khả năng hiện nay của chúng ta (về đầu vào cho sản phẩm, về công nghệ sản xuất,) thì việc có được những thước vải lụa cao cấp, chất lượng tốt là điều không dễ thực hiện. Nhưng điều đó không có nghĩa là Việt Nam ta không thể sản xuất được những sản phẩm ấy. Hãy lấy ví dụ về bàI học thành công của công ty trách nhiệm hữu hạn tơ lụa Châu Á – AQSilk để minh chứng cho điều này. Giám đốc công ty, anh Nguyễn Mạnh Quỳnh, cho biết : “Có những hợp đồng mà AQ Silk đã phải chấp nhận bảo hành 12 tháng cho sản phẩm thời trang. Sẽ là rất khó cho các doanh nghiệp dệt may Việt Nam, đặc biệt cho mặt hàng lụa tơ tằm. Nhưng đó là điều kiện tiên quyết giúp doanh nghiệp khẳng định uy tín của mình, cũng như thương hiệu sản phẩm Việt Nam nói chung”. Như vậy, mặc dù còn rất nhiều khó khăn và tồn tại song chúng ta cũng có những tiềm lực mạnh mẽ cho sự thành công.
- Cải tiến sản phẩm theo hướng không phai màu:
Một trong những điểm yếucủa hàng lụa tơ tằm Việt Nam bị người tiêu dùng đánh giá, đó là dễ phai màu. Tuy nhiên điều này không phải là không khắc phục được và cũng không phải tất cả sản phẩm lụa của Việt Nam đều dễ phai màu, mà chủ yếu là do người tiêu dùng chưa tiếp cận được với những sản phẩm lụa chất lượng cao, không phai màu. Đơn cử như sản phẩm của Vinasilk hay AQSilk đều là những sản phẩm lụa không phai. Những sản phẩm này có thể giặt một cách thoải mái mà vẫn không ảnh hưởng gì đến màu sắc của vải. Để có được những thước lụa như vậy, ngoài kỹ thuật nhuộm cơ bản, người thợ nhuộm phải dùng nguyên liệu chiết xuất từ thảo mộc, kết hợp với hoá chất đặc biệt và nhuộm bằng phương pháp thủ công tạo cho vải có độ bền màu cao.Điều cần chú ý khi nhuộm để lụa không phai màu là nhất thiết phải nhuộm từ sợi tơ xe, bởi có như thế màu mới bền, còn nếu nhuộm vải thì sẽ dễ bị phai màu hơn. Khóa luận: Giải pháp năng lực cạnh tranh của mặt hàng lụa tơ tằm.
Công đoạn nhuộm của chúng ta được coi là một thế mạnh để tạo nên tính độc đáo của sản phẩm nhưng đồng thời nó cũng là một điểm yếu trong khâu sản xuất của chúng ta. Bởi lẽ chúng ta vẫn chủ yếu sử dụng phương pháp nhuộm thủ công, do đó chất lượng nhuộm tuy đẹp, lại nhuộm bằng thảo mộc nên có màu sắc rất tự nhiên, nhưng đồng thời sản phẩm nhuộm ra màu lại không đều giữa các lần nhuộm, và giá thành cũng cao, từ đó làm giảm tính cạnh tranh của sản phẩm đặc biệt là khi phải xuất khẩu với số lượng lớn. Do đó, nếu chúng ta có thể kết hợp kỹ thuật nhuộm như trên với máy móc, công nghệ hiện đại thì năng suất nhuộm sẽ tăng lên đáng kể, và từ đó sẽ giúp chúng ta có nhiều thuận lợi hơn trong cạnh tranh cả trên thị trường trong và ngoài nước. Tuy nhiên để có ngay một công nghệ nhuộm hiện đại là rất khó và phải tốn nhiều thời gian, tiền bạc để nghiên cứu hoặc nhập khẩu từ nước ngoài. Vì vậy, chúng ta sẽ chuyển dần từng giai đoạn. Trước tiên, chúng ta sẽ kết hợp kỹ thuật nhuộm bền màu bằng thảo mộc với công nghệ nhuộm bán cơ khí. Công trình này đã được nghiên cứu và hoàn thành vào tháng 3/2022 do kỹ sư Hoàng Trực làm chủ nhiệm đề tài và công ty cổ phần tơ lụa và dịch vụ nông nghiệp Đà Nẵng – Danasi làm cơ quan chủ quản. Công trình đã thiết kế và chế tạo thành công hệ thống nhuộm tơ sợi và lụa tơ tằm bán cơ khí với các thông số kỹ thuật: thể tích thùng chứa dung dịch hoá chất phụ trợ-19 lít, tốc độ dao động bộ gàn-4-250 vòng/phút, khoảng cách dao dộng – 10cm, thùng chứa dung dịch thuốc nhuộm – 900x800mm… Ngoài ra, công trình cũng xây dựng quy trình nhuộm tơ sợi và lụa tơ tằm từ khâu chuẩn bị nguyên liệu, hóa chất, pha chế, các thao tác đưa nguyên liệu vào các bộ gàn, điều chỉnh nhiệt độ,… nhuộm, cho đến khâu phơi sấy, kiểm tra và nhập kho thành phẩm, thiết kế và chế tạo hệ thống xử lý nước cấp cho quá trình nhuộm theo phương pháp trao đổi ion. Với việc ứng dụng công nghệ này độ rối sượt và độ sượt trắng của sản phẩm được cải thiện rõ rệt, lượng thành phẩm tăng từ 92% đến xấp xỉ 99%, năng suất lao động tăng lên 1,5 lần [13]. Khi đưa được công nghệ nhuộm này vào sử dụng một cách phổ biến trong cả nước, chắc chắn sản phẩm lụa tơ tằm của Việt Nam sẽ đủ sức cạnh tranh với các sản phẩm của nước khác cả trong và ngoài nước.
- Cải tiến mẫu mã theo hướng đa dạng và phong phú hơn:
Mẫu mã cũng là một điểm yếu của lụa tơ tằm Việt Nam. Trong định hướng phát triển ngành dâu tằm tơ Việt Nam đến 2030 đã chỉ rõ: “Cơ cấu mẫu mã sản phẩm dệt còn chưa phong phú”. Hay như nhận xét của ông Nguyễn Mạnh Quỳnh – Giám đốc công ty AQSilk: “ Điểm yếu của lụa tơ tằm Việt Nam là ở khâu thiết kế. Sản phẩm mới chỉ hấp dẫn về chất liệu chứ chưa thoả mãn về mẫu mã” [6]. Ngoài ra, như đã phân tích ở trên, sản phẩm lụa tơ tằm của Việt Nam được người tiêu dùng đánh giá là mẫu mã phù hợp nhiều lứa tuổi nhưng vẫn chưa có nhiều sản phẩm độc đáo, mới lạ. Như vậy, muốn cho sản phẩm thoả mãn được nhu cầu của người tiêu dùng thì các công ty cần phải đầu tư hơn nữa về khâu thiết kế. Để làm được điều này các công ty cần phải thuê một đội ngũ thiết kế viên được đào tạo chuyên thiết kế mẫu vải (ở phần trên tôi đã trình bày về thực trạng của ngành thời trang Việt Nam). Rõ ràng là hiện nay chúng ta mới chỉ biết thêu, may và thiết kế theo ý tưởng của người khác chứ chưa phải là ý tưởng của riêng mình. Khác với những mặt hàng dệt vải thông thường, việc thiết kế, tạo mẫu trên nền lụa tơ tằm đòi hỏi tính thẩm mỹ cao, sự tỉ mỉ và công phu trong từng nét vẽ hoạ tiết. Song nhìn chung đây vẫn sẽ là thách thức rất lớn đối với ngành thiết kế thời trang của Việt Nam trong những năm tới nếu Lụa tơ tằm Việt Nam muốn đẩy mạnh xuất khẩu và quảng bá thương hiệu sản phẩm trên trường quốc tế. Do lụa tơ tằm là một mặt hàng khá đặc thù nên để có thể tạo nên những mẫu mã mới lạ, độc đáo của riêng Việt Nam và mang đậm phong cách truyền thống của Việt Nam, chúng ta có thể dựa vào chính những hoa văn, hoạ tiết từ các kiến trúc cũ của đền, chùa, các sản phẩm gốm, sứ…vừa mang nặng nét rêu phong cổ kính, vừa hồn hậu, mộc mạc như tâm hồn Việt. Hơn nữa, khi chúng ta đã phát hiện được những nhà thiết kế có khả năng thì việc tạo điều kiện cho họ phát huy sở trường ấy, áp dụng những mẫu thiết kế của mình vào sản phẩm cũng là một việc làm không kém phần quan trọng. Việc định hướng cho ngành thời trang hướng vào thực tế cuộc sống là một điều cần phải làm ngay lúc này. Bà Francine Pairon – Giám đốc viện mẫu thời trang Pháp, giám khảo cuộc thi Việt Nam Collection Grand Prix đã nhận xét rất đúng về ngành thời trang Việt Nam : “Môi trường làm nghề là điều quyết định. Chính phủ Việt Nam cần quan tâm đến ngành dệt may với các thế mạnh vốn có của nó và các nhà sản xuất phải thật sự nhạy bén với việc sử dụng nhân tài thiết kế. Cuộc thi thiết kế của các bạn đã rất thành công về mặt tổ chức, nhưng nếu chỉ để phát hiện ra những gương mặt xuất sắc, cho họ cái tên nhà thiết kế, để rồi các nhà sản xuất vẫn thờ ơ với những mẫu mốt đó thì những cố gắng của các bạn hôm nay cũng chẳng có ý nghĩa gì.”
Thời trang Việt Nam hôm nay không thể chỉ có sự cố gắng của riêng các nhà thiết kế mà còn phải là sự quan tâm của chính các nhà sản xuất, các cơ quan chức năng có liên quan. Chỉ như vậy chúng ta mới có được sự phát triển toàn diện, chủ động hội nhập cùng thời trang thế giới. Thời trang cũng là một lĩnh vực văn hoá, và sự phát triển của thời trang cũng là sự khẳng định bản sắc văn hoá riêng của người Việt Nam trong thế giới hôm nay Khóa luận: Giải pháp năng lực cạnh tranh của mặt hàng lụa tơ tằm.
Đã đến lúc chúng ta cần phải chuyên nghiệp hoá việc thiết kế thời trang trên mặt hàng lụa tơ tằm và coi đây như là một mắt xích thực sự trong quy trình đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng cũng như trên con đường vươn ra thị trường thế giới.
- Cải tiến chất lượng sản phẩm theo hướng bền hơn:
Để có những thước lụa bền, đẹp thì các nhà sản xuất cần phải có những sợi tơ đẹp và đạt tiêu chuẩn chất lượng. Ngoài ra, tấm lụa còn phải đảm bảo đủ số lượng sợi trong một mét vải về cân, lạng, số sợi. Có như thế, tấm lụa mới đạt được độ dày tiêu chuẩn và từ đó sẽ đạt được yêu cầu về độ bền, giảm độ nhăn và việc bảo quản cũng sẽ đơn giản hơn. Từ đó đáp ứng được yêu cầu của người tiêu dùng về hướng cải tiến sản phẩm lụa tơ tằm trong tương lai. Ngoài ra, để chống và giảm nhàu (nhăn), có thể tiến hành chuội tơ ở nhiệt độ cao. Trong nhiều năm qua, nhiều sản phẩm lụa của Việt Nam đã không đáp ứng được yêu cầu này, một mặt do thiếu nguyên liệu dẫn đến phải nhập khẩu cả tơ từ nước ngoài, vừa đắt, vừa không đảm bảo chất lượng tơ; mặt khác, do các cơ sở sản xuất cắt giảm lượng nguyên liệu, chẳng hạn như giảm lượng tơ cần thiết để dệt một tấm lụa xuống chỉ còn 1/3-1/2, pha thêm sợi nhân tạo để giảm giá thành sản phẩm, từ đó tăng tính cạnh tranh của sản phẩm. Tuy nhiên mặt trái của việc làm này là phần lớn người tiêu dùng cho rằng sản phẩm của Việt Nam không có chất lượng cao bằng những sản phẩm lụa của nước ngoài. Chẳng hạn có nhiều ý kiến cho rằng lụa Việt Nam nhăn hơn, may bị hở khe, chống xùi sợi làm bề mặt vải bị sần và mất đi độ bóng đẹp. Nguyên nhân chính là do số lượng sợi để dệt không đủ so với yêu cầu kỹ thuật cần có. Tuy nhiên, muốn sản phẩm đạt yêu cầu về kỹ thuật thì chắc chắn giá thành sản phẩm sẽ tăng cao hơn so với mức giá hiện tại. Vậy, các doanh nghiệp có nên đáp ứng tiêu chí này không? Câu trả lời là có vì qua cuộc khảo sát của chúng tôi cho thấy, có 52,31% số người tiêu dùng được hỏi mong muốn sản phẩm lụa Việt Nam trong tương lai sẽ bền hơn và họ cũng sẵn sàng trả mức giá cao hơn cho chất lượng sản phẩm tốt hơn này.
Tuy nhiên để làm được điều này, các doanh nghiệp cần có sự hỗ trợ của Nhà nước và hiệp hội dâu tằm tơ Việt Nam về nguyên liệu tơ. Hiệp hội cần phải phối hợp với Tổng công ty để đưa ra những tiêu chuẩn chất lượng cho cả dâu, tằm và lụa, cùng nông dân giải quyết những bất cập đang tồn tại về vùng nguyên liệu, tiến tới quy hoạch vùng nguyên liệu tập trung, gắn vùng nguyên liệu với nhà máy, gắn nhà máy với người nông dân.
3.2. Giải pháp về kinh doanh (thị trường) Khóa luận: Giải pháp năng lực cạnh tranh của mặt hàng lụa tơ tằm.
Hiện tại các sản phẩm của ngành cung không đủ cầu. Tuy nhiên hiệu quả kinh tế chưa cao, các sản phẩm đáp ứng cho thị trường các nước có thu nhập cao bán được giá không nhiều. Bởi vậy giải pháp về thị trường cần có sự đổi mới:
- Tăng cường tiêu thụ sản phẩm với khối lượng lớn với các bạn hàng truyền thống (Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, ấn Độ và các nước Đông Nam Á), nhất là các nước trong khối ASEAN khi lộ trình áp dụng AFTA được thực hiện.
Nói về giải pháp thị trường, một số nhà kinh tế cho rằng thị trường truyền thống là địa chỉ “vàng” cho ngành dệt may Việt Nam. Điều đó nhằm khẳng định 1 phương châm là chúng ta cần phải luôn luôn chú trọng đến mảng thị trường này. Mặc dù hiện nay nhiều doanh nghiệp đã tìm được hướng đi và thâm nhập được vào những thị trường mới, song không thể phủ nhận một điều là kim ngạch mang về từ những bạn hàng truyền thống là không hề nhỏ. Hơn nữa, việc thâm nhập vào một thị trường mới cần nhiều thời gian, chi phí và công sức. Trong khi đó, các thị trường truyền thống vẫn có sức tiêu thụ lớn và nằm trong khả năng, trong tầm tay của chúng ta. “Tìm kiếm thị trường mới là một hướng đi đúng, song các doanh nghiệp khôn ngoan sẽ không “xao nhãng” những thị trường còn rất nhiều thuận lợi như thị trường truyền thống”, các nhà kinh tế kết luận.
Trong các bạn hàng truyền thống, chúng ta cần hết sức lưu ý khi làm ăn với Nhật Bản. Đây là một thị trường giàu tiềm năng nhưng không hề dễ dãi. Thị trường tiêu dùng hàng dệt may nói chung và mặt hàng lụa tơ tằm nói riêng ở Nhật Bản rất phát triển. Tỷ trọng hàng may mặc nhập khẩu chiếm khoảng 38% tổng khối lượng thị trường hàng may mặc nước này. Các nhà nhập khẩu hàng may mặc vào Nhật Bản đều phải đóng thuế và chịu trách nhiệm về nhãn hiệu hàng hoá. Yếu tố giá cả không phải là quyết định thành công của nhà xuất khẩu nước ngoài. Quan trọng nhất là họ phải tạo dựng được tên tuổi và uy tín của mình thì mới có cơ hội lâu dài. Người tiêu dùng hàng may mặc ở Nhật Bản khá khó tính, đặc biệt về mốt thời trang. Các nhà sản xuất cần nắm bắt và dự đoán được xu hướng thời trang, phải cung ứng một cách kịp thời những sản phẩm đang hợp mốt, đặc biệt là đối với khách hàng trẻ tuổi – những người có sở thích thay đổi mẫu, mốt rất nhanh. Theo kết quả một cuộc thăm dò của tổ chức Ngoại Thương Nhật Bản (JETRO), 78% người tiêu dùng Nhật Bản chọn hàng may mặc dựa theo kiểu dáng, 46% theo chất lượng, 27% theo giá cả. Họ thường chú ý đến những chi tiết nhỏ như đường chỉ, cách đơm khuy, cách gấp nếp, Nhật Bản là thị trường đòi hỏi khắt khe về tiêu chuẩn chất lượng, từ nguyên phụ liệu đến quy trình sản xuất phảI tuân thủ nghiêm ngặt theo tiêu chuẩn chất lượng JIS (Japan Industrial Standard) cũng như các điều luật, quy định áp dụng cho sản xuất và xuất nhập khẩu hàng hoá. Khi làm ăn với khách hàng Nhật Bản, các nhà doanh nghiệp cần tránh các sai phạm tối kỵ như giao hàng không chuẩn màu sắc, sai kích cỡ, không đúng số lượng hoặc giao hàng chậm. Một số doanh nghiệp nước ngoài phàn nàn rằng nhiều công ty Việt Nam rất thích nói những câu “xin lỗi”, “thông cảm”, nhưng điều đó là không thể chấp nhận được trong kinh doanh quốc tế vì nó sẽ gây tổn thất lớn cho những doanh nghiệp khác. Nhìn chung, mặt hàng lụa tơ tằm nhập khẩu vào thị trường Nhật Bản phải đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của thị trường về chất lượng sản phẩm, nguyên phụ liệu, thị hiếu tiêu dùng và tính chính xác trong việc ký kết và thực hiện các hợp đồng kinh tế. Hiện tại ta chưa thể nhập khẩu mặt hàng lụa vào thị trường này một cách chính thức (mà chủ yếu là bằng các hợp đồng gia công) nhưng tôi nghĩ trên đây là những chú ý cần thiết đối với doanh nghiệp bởi chính thức hoá việc nhập khẩu vào thị trường nước ngoài vẫn là xu hướng và là chiến lược lâu dài của ta. (Tham khảo “Các doanh nghiệp nói gì về thị trường Nhật Bản” và “Một vài gợi ý về kênh phân phối trên thị trường Nhật Bản ở phụ lục 5 và 6)
- Tìm kiếm thị trường, tăng dần thị phần, giữ uy tín về chất lượng với các bạn hàng khó tính (Mỹ, EU, vùng Trung Đông). Khóa luận: Giải pháp năng lực cạnh tranh của mặt hàng lụa tơ tằm.
Chúng ta phải thừa nhận rằng không có thị trường thì không có sản xuất. Chính vì vậy, càng phải tạo ra thị trường mới, đột biến thì mới có cơ hội để phát triển” – ông Nguyễn Văn Thông, Viện trưởng viện nghiên cứu Kĩ thuật Dệt may Việt Nam khẳng định. (Dệt may Việt Nam, cơ hội và thách thức – T.193). Hơn nữa, việc mở rộng thị trường sẽ giúp doanh nghiệp chủ động hơn trên thị trường cũng như không bị phụ thuộc quá vào một bạn hàng. Điều này rất nguy hiểm cho chúng ta khi thị trường bạn gặp khó khăn (ví dụ như có chiến tranh, bạo động). Về vấn đề này, chúng ta cần lấy bài học của cá tra, cá basa và tôm Việt Nam đã từng làm lao đao cả ngành thuỷ sản trong nước khi chúng ta bị kiện bán hàng phá giá trên thị trường nước ngoài. Vì thế, vấn đề đặt ra là doanh nghiệp không nên “bỏ trứng vào cùng một giỏ”. Đa dạng hoá thị trường là bước đi, một cách làm hiệu quả cần được các doanh nghiệp sản xuất, buôn bán lụa của Việt Nam lưu tâm.
Thị trường Mỹ là quả là một thị trường mới có triển vọng, đặc biệt nó mở ra rất nhiều cơ hội từ sau Hiệp định thương mại Việt – Mỹ được ký kết (năm 2020) và chính thức thông qua vào tháng 12-2021. Điều này đã được chứng minh bằng trị giá kim ngạch xuất nhập khẩu sản phẩm dệt may vào thị trường Mỹ tăng nhanh vào những năm tiếp theo (đặc biệt năm 2022 tăng 20 lần so với năm 2021). Khi thị trường Mỹ mở ra, các công ty tơ lụa của Việt Nam có nhiều cơ hội và điều kiện để mở rộng thị trường bởi Việt Nam được đánh giá là một đất nước có truyền thống về may mặc, tay nghề của nhân công khá tốt và chi phí lao động vừa phải. Nhất là trong bối cảnh quốc tế hiện nay, đặc biệt là sau vụ khủng bố 11-9, thì đây được coi là cơ hội vàng cho các doanh nghiệp Việt Nam. Theo đánh giá của Hiệp hội Dệt may và Da giầy Mỹ (AAFA), các doanh nghiệp Mỹ không muốn ký hợp đồng làm ăn với những quốc gia không ổn định về chính trị. Trong khi đó, Việt Nam luôn được cộng đồng quốc tế đánh giá là một thị trường tiềm năng, có nền chính trị ổn định và mức đầu tư liên tục tăng trưởng. Tuy nhiên, điều cần lưu ý khi làm ăn với những thị trường khó tính như Mỹ hay EU là chắc chắn chúng ta sẽ bị thách thức bởi các yêu cầu khắt khe về chất lượng, tiêu chuẩn kĩ thuật và môi trường sinh thái. Ngoài những thuận lợi cơ bản nói trên, chúng ta không thể không nói đến sự hỗ trợ đắc lực và hiệu quả của một bộ phận người Việt Nam đang định cư ở nước ngoài cũng như các tham tán thương mại, các đại sứ quán của ta ở nước bạn. Điển hình như trường hợp của Việt kiều Nguyễn Cảnh Kỳ, người đã ký hợp đồng thuê thương hiệu sản phẩm AQ Silk của Việt Nam để kinh doanh mặt hàng lụa tơ tằm trên địa phận bang Michigan trong thời gian 10 năm với trị giá hợp đồng 100.000 USD. Xét về giá trị, con số này chẳng đáng kể gì so với quy mô và năng lực kinh doanh của AQ Silk. Song đây được coi là một thành công hiếm thấy đối với các công ty sản xuất tơ lụa nói riêng và các doanh nghiệp ngành dệt may nói chung, vì tính đến thời điểm này mới chỉ có hai thương hiệu sản phẩm của Việt Nam là cà phê Trung Nguyên và AQ Silk có mặt chính thức tại thị trường Mỹ. Hơn nữa, sự kiện này còn tạo tiền đề cho mặt hàng lụa tơ tằm của Việt Nam tự tin bước vào thị trường Mỹ, một thị trường vốn được xem là khó tính, nhưng giàu tiềm năng. (Tham khảo “Những điểm cần chú ý khi kinh doanh tại thị trường Mỹ” ở phụ lục 7) Khóa luận: Giải pháp năng lực cạnh tranh của mặt hàng lụa tơ tằm.
- Chú trọng xuất khẩu song không coi nhẹ thị trường nội địa.
Đây là thị trường tiềm năng, giải quyết cơ bản sản lượng lụa cấp thấp mà hiện nay có sản lượng lớn hơn lụa cấp cao, với số dân trên 80 triệu người. Ngoài ra trong tương lai, khi thu nhập của người dân tăng lên thì chắc chắn mặt hàng tơ lụa cấp cao cũng sẽ được tiêu thụ với khối lượng đáng kể. Chính vì thế, các doanh nghiệp trong ngành cần phải làm sao nâng cao hơn nữa tỉ trọng kim ngạch hàng nội địa so với hàng xuất khẩu.
Hơn nữa, định hướng cho người tiêu dùng trong nước hiện nay đang là vấn đề cần nhận được sự quan tâm thích đáng từ phía không chỉ nhà quản lý ngành mà còn từ phía doanh nghiệp. Đó là ý kiến chung của các chuyên gia trong ngành may mặc và cũng là của hầu hết các cơ quan thông tấn báo chí trong thời gian qua. Làm thế nào để người tiêu dùng quen dần với việc sử dụng sản phẩm tơ lụa trong nước sản xuất và bớt đi tâm lý sính hàng ngoại mà lâu nay vẫn được xem là một thói quen của một bộ phận không nhỏ người Việt Nam. Hơn nữa, không có lý do gì mà người dân của một nước có truyền thống lâu đời về trồng dâu nuôi tằm, ươm tơ dệt lụa lại phải dùng hàng nhập khẩu có chất lượng tương đương. Từ đó chúng ta phải loại bỏ nghịch lý là hàng tơ lụa Việt Nam được thị trường các nước Âu, Mỹ ưa chuộng nhưng lại không có được sự mặn mà của người Việt Nam.
Tuy nhiên, đối với mặt hàng tơ lụa nói chung và mặt hàng dệt may nói riêng, bản thân doanh nghiệp cần thấy rằng xu hướng cung tăng nhanh hơn cầu sẽ khiến cho cuộc cạnh tranh trên thị trường Việt Nam càng trở nên khốc liệt và gay gắt hơn. Vì thế, nếu ngay từ bây giờ, ngành dệt may nói chung và các công ty may mặc trong nước nói riêng không đề ra một chiến lược cụ thể cho việc “lấy lại thị trường nội địa” để thay đổi tình hình thì về lâu về dàI chúng ta có thể thua ngay trên sân nhà.
3.3. Tăng cường quảng bá thương hiệu bằng nhiều hình thức. Khóa luận: Giải pháp năng lực cạnh tranh của mặt hàng lụa tơ tằm.
Phần trên tôi đã trình bày vai trò của Nhà nước trong việc tăng cường quảng bá thương hiệu Lụa tơ tằm ở tầm quốc gia. Tuy nhiên, việc này không thể chỉ nói đến vai trò của Nhà nước mà cần phải có sự nỗ lực từ phía chính bản thân doanh nghiệp. Thậm chí, doanh nghiệp còn phải có vai trò chủ động và tích cực bởi vì xét cho cùng thương hiệu của sản phẩm là thứ gắn kết trực tiếp với doanh nghiệp và chính họ là người làm nên thương hiệu ấy.
Đối với thị trường trong nước, vốn dĩ dân ta có nhu cầu và rất ưa chuộng mặt hàng lụa tơ tằm. Vì vậy, trong phân đoạn thị trường này, chỉ cần có những chương trình quảng bá, giới thiệu sản phẩm mang tầm quốc gia một cách ồ ạt, rầm rộ trong thời gian dài thì nhu cầu này tất yếu sẽ trở thành một xu thế sử dụng mới của người tiêu dùng trong nước. Đối với thị trường nước ngoài, doanh nghiệp nên tham gia nhiều hơn vào hội chợ quốc tế chuyên ngành về lụa tơ tằm, cung cấp thông tin để tạo điều kiện giúp doanh nghiệp quảng bá thành công ở thị trường nước ngoài, thành lập các trung tâm, tổ chức hội chợ chuyên về lụa tơ tằm… để tìm kiếm thông tin thị trường, tìm kiếm đối tác, thông qua các trung tâm giới thiệu sản phẩm Việt Nam ở nước ngoài để quảng bá cho mặt hàng lụa tơ tằm Việt Nam, thiết lập các đại lý, các văn phòng đại diện để trưng bày và giới thiệu sản phẩm lụa tơ tằm Việt Nam trực tiếp đến người tiêu dùng.
Một cách quảng bá khác là dựa vào tính thời trang của sản phẩm. Chẳng hạn, gần đây, báo chí có đề cập nhiều đến bộ sưu tập thời trang “Mơ về Châu Á” của nhà thiết kế Võ Việt Chung được hình thành giữa thủ đô Roma làm tăng thêm vẻ đẹp cho các thiếu nữ phương Tây. Nhờ đó mà lụa tơ tằm Việt Nam được người tiêu dùng nước ngoài biết đến nhiều hơn. Bởi vậy, chúng ta có thể tận dụng tính thời trang này để quảng bá rộng rãi cho sản phẩm thông qua các chương trình thời trang lớn ở trong và ngoài nước, thu hút người tiêu dùng đến với các sản phẩm lụa tơ tằm mang thương hiệu Việt Nam.
Ngoài ra, để có thể quảng bá thương hiệu cho một sản phẩm, nhất là thương hiệu mang tính quốc gia như thương hiệu lụa tơ tằm Việt Nam cần có sự quan tâm, tham gia của nhiều cơ quan, tổ chức. Nhà nước cùng với doanh nghiệp nên phối hợp với Vietnam Airlines, Tổng cục Du lịch xây dựng một chương trình quảng cáo cho lụa tơ tằm Việt Nam tới khách du lịch. Hơn nữa, các làng nghề dệt lụa truyền thống của ta nếu được quy hoạch bài bản thực sự sẽ trở thành những điểm tham quan du lịch và mua bán hấp dẫn cho du khách nước ngoài. Đây cũng là một trong những con đường ngắn nhất để trực tiếp quảng bá sản phẩm tới người tiêu dùng. Khóa luận: Giải pháp năng lực cạnh tranh của mặt hàng lụa tơ tằm.
Việc xây dựng thương hiệu quốc gia cho lụa tơ tằm là một việc nên làm và cần làm ngay nhất là trong giai đoạn hiện nay, tuy nhiên để phát triển và bảo vệ thương hiệu này đòi hỏi phải có sự nỗ lực không ngừng từ cả phía Nhà nước lẫn các doanh nghiệp để thương hiệu chung cho lụa tơ tằm thực sự phát huy được vai trò của mình trong việc nâng cao sức cạnh tranh cho các mặt hàng tơ lụa Việt Nam trên trường quốc tế.
Như vậy, sau khi đã tiến hành tất cả những công việc trên thì việc tiếp theo phải làm là gắn nhãn mác thương hiệu cho lụa tơ tằm Việt Nam khi bán trên thị trường trong và ngoài nước. Tuy nhiên một thực tế có thể xảy ra đó là, có nhiều sản phẩm chưa đạt tiêu chuẩn chất lượng vẫn được tung ra bán trên thị trường với thương hiệu của quốc gia. Nếu chúng ta để tình trạng này xảy ra thì rất dễ đánh mất uy tín của cả quốc gia và do đó thương hiệu sẽ không được người tiêu dùng chấp nhận. Chính vì vậy, một việc cũng hết sức quan trọng cần phải được tiến hành trước khi gắn mác thương hiệu lụa tơ tằm Việt Nam cho sản phẩm, đó là doanh nghiệp phải phối hợp với các cơ quan chức năng phải tiến hành kiểm tra chặt chẽ chất lượng sản phẩm của cơ sở, xem có đáp ứng được những yêu cầu về chất lượng mà hiệp hội đã đề ra cho những sản phẩm mang thương hiệu lụa tơ tằm Việt Nam hay không. Nếu sản phẩm thoả mãn yêu cầu đặt ra thì nó sẽ được gắn nhãn mác thương hiệu khi bán ra thị trường trong và ngoài nước, được nhận những hỗ trợ về mặt tài chính, marketing, mạng lưới phân phối…Mặt khác, đối với những sản phẩm không đảm bảo những yêu cầu đặt ra thì sẽ không được gắn thương hiệu chung cho lụa tơ tằm. Một điểm cũng cần lưu ý ở đây là thương hiệu chung cho lụa tơ tằm Việt Nam này sẽ được gắn nhãn mác lên sản phẩm của bất kỳ cơ sở kinh doanh nào, không kể đã có thương hiệu riêng hay chưa, chỉ cần sản phẩm của họ đáp ứng được những yêu cầu về chất lượng đã được đặt ra cho lụa tơ tằm Việt Nam. Đây là một điểm khác giữa thương hiệu quốc gia – Việt Nam Value Inside với thương hiệu chung cho lụa tơ tằm Việt Nam.
3.4. Giải pháp về đào tạo.
Tất cả những giải pháp trên sẽ không thể thực hiện được nếu không có đào tạo, do đó, một giải pháp cần phải nhắc đến , đó là giải pháp về đào tạo.
Tổ chức đào tạo và đào tạo lại kỹ thuật, công nghệ sản xuất mới cho nông dân, cho cán bộ kỹ thuật và cho cán bộ làm công tác quản lý trong toàn ngành bằng nhiều hình thức: đào tạo tại chỗ cho nông dân trồng dâu nuôi tằm, cho công nhân chế biến tơ và kỹ thuật viên; đào tạo tại chức ngắn hạn cho cán bộ kỹ thuật làm nhiệm vụ chuyển giao cho các địa phương; đào tạo tại chức ngắn hạn cho cán bộ quản lý. Đồng thời quy hoạch đội ngũ cán bộ quản lý kế cận để gửi đi đào tạo ở các trung tâm trong và ngoài nước. Khóa luận: Giải pháp năng lực cạnh tranh của mặt hàng lụa tơ tằm.
Bồi dưỡng tác phong làm việc công nghiệp cho công nhân và nông dân, từ đó nâng cao năng suất sản xuất.
Có chương trình đào tạo các thiết kế viên chuyên thiết kế mẫu mã, hoa văn, hoạ tiết cho sản phẩm lụa tơ tằm. Trước tiên chương trình này sẽ tập trung vào việc đào tào ngắn hạn cho những người đang sản xuất lụa ở các làng nghề và nhân viên thiết kế tại các công ty kinh doanh mặt hàng lụa tơ tằm. Tiếp đó sẽ tiến hành đào tạo các tầng lớp thế hệ trẻ thông qua một chương trình đào tạo dài hạn, chuyên nghiệp như chương trình đào tạo các nhà thiết kế thời ..
Có chương trình giáo huấn và tuyên truyền cho nông dân những hiểu biết sơ đẳng về hợp đồng để người nông dân tuân thủ hợp đồng bao tiêu của các công ty sản xuất kinh doanh tơ tằm, tránh tình trạng tranh mua, tranh bán và người nông dân bán nguyên liệu cho thương lái chỉ vì cái lợi trước mắt như hiện nay.
KẾT LUẬN Khóa luận: Giải pháp năng lực cạnh tranh của mặt hàng lụa tơ tằm.
Điều kiện cạnh tranh ngày một gay gắt như hiện nay đòi hỏi các doanh nghiệp cần phải tích cực, chủ động hơn nữa mới có thể chiếm lĩnh được thị trường. Các doanh nghiệp kinh doanh tơ tằm cũng không nằm ngoài quy luật này. Mặt hàng lụa tơ tằm rất có ý nghĩa đối với nước ta cả về mặt kinh tế, văn hoá và xã hội, tuy nhiên mặt hàng này vẫn chưa thực sự có một chỗ đứng vững chắc ở cả thị trường trong và ngoài nước. Do đó, việc nâng cao năng lực cạnh tranh của mặt hàng lụa tơ tằm Việt Nam là hết sức cần thiết. Nó không chỉ giúp các doanh nghiệp và các cơ sở sản xuất, kinh doanh lụa có một vị trí nhất định trên thị trường mà còn có thể giúp chúng ta khôi phục lại được một nghề truyền thống từ bao đời của nhân dân ta mà nhiều năm qua đã không được chú trọng phát triển. Trong phạm vi khuôn khổ nhỏ hẹp của đề tài tôi cũng xin đưa ra ý kiến của mình về việc nâng cao năng lực cạnh tranh cho mặt hàng lụa tơ tằm Việt Nam. Tuy nhiên để làm được điều này rất cần sự quan tâm, giúp đỡ của nhiều Bộ, ngành và các tổ chức nghề nghiệp có liên quan, mà trong đó vai trò quản lý thống nhất của hiệp hội dâu tằm tơ Việt Nam là hết sức quan trọng. Bởi hiệp hội có phát huy được vai trò và chức năng quản lý nghề nghiệp của mình thì làng nghề tơ lụa mới có thể có tiếng nói chung, cùng hợp tác và cùng phát triển, nhất là trong điều kiện mặt hàng tơ lụa Việt Nam đang bị lấn át bởi sản phẩm của nhiều nước khác như hiện nay. Rõ ràng, một lần nữa cần thấy rằng, ý nghĩa của mặt hàng tơ lụa và việc nâng cao năng lực cạnh tranh cho mặt hàng lụa tơ tằm Việt Nam là không thể phủ nhận. Tuy nhiên việc vực lại nó là hết sức khó khăn. Với hơn 80 trang phân tích ít ỏi này, tôi rất hy vọng sẽ có thể góp sức mình vào việc khôi phục lại làng nghề dâu tằm tơ lụa – một làng nghề truyền thống từ bao đời của nhân dân ta, đồng thời tạo nên một vị thế cạnh tranh mới, chủ động hơn cho Việt Nam trong quá trình hội nhập. Khóa luận: Giải pháp năng lực cạnh tranh của mặt hàng lụa tơ tằm.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>> Khóa luận: Năng lực cạnh tranh của mặt hàng lụa tơ tằm Việt Nam

Dịch Vụ Viết Luận Văn Thạc Sĩ 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietthuethacsi.com/ – Hoặc Gmail: dicvuluanvanthacsi@gmail.com
[…] ===>> Khóa luận: Giải pháp năng lực cạnh tranh của mặt hàng lụa tơ tằm […]