Khóa luận: Thực trạng về hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu

Rate this post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Thực trạng về hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Khóa luận: Thực trạng về hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

1. Thực trạng hoạt động xuất khẩu của Việt Nam trong thời gian qua

1.1 Tình hình xuất khẩu của Việt Nam trong giai đoạn từ quý I/2023 đến quý I/2026

Dựa trên số liệu của Bộ Thương mại, đề tài xin đưa ra Bảng 1 với số liệu về kim ngạch xuất khẩu và cán cân thương mại cả nước trong giai đoạn từ quý I/2023 đến quý I/2026. Từ đó có Hình 3 là biểu đồ về diễn biến kim ngạch xuất khẩu cả nước cũng trong giai đoạn từ quý I/2023 đến quý I/2026.

  • Bảng 1: Xuất khẩu từ quý I/2023 đến quý I/2026
  • Hình 3: Biểu đồ về tình hình kim ngạch xuất khẩu cả nước trong giai đoạn từ quý I/2023 đến quý I/2026

Trong phần này, đề tài sẽ đi sâu phân tích diễn biến xuất khẩu của Việt Nam trên góc độ hai nhân tố ảnh hưởng cơ bản đó là những ảnh hưởng từ các biến động của thị trường gây ra những rủi ro tác động đến hoạt động xuất khẩu (bao gồm rủi ro kinh tế và rủi ro chính trị) và năng lực sản xuất hàng xuất khẩu của các doanh nghiệp trong nước.

Nhìn trên biểu đồ 1, có thể thấy rõ diễn biến hoạt động xuất khẩu của Việt Nam trong thời kỳ từ quý I/2023 đến quý I/2026 được chia làm năm giai đoạn chính như sau:

Từ quý I/2023 đến quý I/2024: Trong thời gian này, hoạt động xuất khẩu của Việt Nam tăng trưởng khá ổn định, kim ngạch xuất khẩu hàng hoá cả nước đạt tăng 22.1% so với năm 2022. Đây là giai đoạn sản lượng hàng xuất khẩu Việt Nam chủ yếu tập trung vào thị trường Mỹ, và coi đây là thị trường trọng điểm. Tuy nhiên đến quý IV/2023, tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu chỉ tăng 0.09% so với quý III/2023. Điều này là do ảnh hưởng của kinh tế thế giới suy giảm xuất phát từ những biến động trên các thị trường trọng điểm của các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam như Mỹ, Trung Quốc, Hàn Quốc Nhật Bản.., kéo theo các rủi ro về kinh tế như sự bất ổn của tỷ giá hối đoái, cầu về nông sản, thuỷ sản giảm làm giảm giá hàng loạt mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Kim ngạch xuất khẩu tăng rất chậm trong giai đoạn này. Đến quý I/2024, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đạt mức tăng trưởng 5% so với quý III/2023, mở đầu cho giai đoạn tăng trưởng cao nhất của kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam trong giai đoạn từ 2023 đến nay. Khóa luận: Thực trạng về hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu.

Từ quý II/2024 đến quý IV/2025: Trong giai đoạn này, do tình hình kinh tế thế giới phục hồi và chi phí sản xuất tăng. Bên cạnh đó, giá nông sản thế giới đang trên đà lên giá dẫn đến giá trị xuất khẩu nông lâm thuỷ sản vốn được coi là các mặt hàng chủ lực của Việt Nam đã tăng nhanh. Mặc dù vậy, nhìn chung, tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam trong năm 2024 tăng mạnh. Cũng trong giai đoạn này nhiều doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu đã có sự tăng cường đầu tư về chiều sâu để hạ giá thành, nâng cao chất lượng sản phẩm hàng xuất khẩu, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu chất lượng của thị trường nhập khẩu khó tính như EU, Nhật Bản, Hoa Kỳ. Năng lực sản xuất hàng xuất khẩu của khu vực doanh nghiệp trong nước ngày càng được đẩy mạnh. Đạt được kết quả trên là do các doanh nghiệp Việt Nam đã tận dụng được cơ hội khi Việt Nam gia nhập WTO với các rào cản thuế quan và hạn ngạch bị dỡ bỏ, thuế suất thuế nhập khẩu vào các nước được cắt giảm…Ngoài ra cũng nhờ đầu tư trực tiếp nước ngoài vào nước ta gia tăng nhanh chóng đã góp phần quan trọng trong việc tạo điều kiện về vốn và công nghệ cho việc phát triển sản xuất hàng xuất khẩu.

Từ quý I/2025 đến quý II/2025: Đầu năm 2025, thế giới đối mặt với cuộc khủng hoảng lương thực khi giá hầu hết các nông sản chính như bắp, lúa mì, gạo đều tăng gấp 2-3 lần trong vòng chưa đầy 2 năm. Cuộc khủng hoảng lương thực trong giai đoạn này đã kéo theo những biến động khó lường của thị trường thế giới. Điều này dẫn đến năng lực sản xuất và xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam có phần giảm sút so với thời gian trước. Cũng trong thời gian này, hoạt động xuất khẩu của Việt Nam gặp nhiều khó khăn do thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam là Mỹ đang trải qua cuộc khủng hoảng tài chính lớn nhất chưa từng có. Điều này nhanh chóng dẫn đến sự bất ổn về tỷ giá hối đoái, giá trị đồng USD giảm mạnh. Các doanh nghiệp trong nước lo ngại những rủi ro về mặt kinh tế và chính trị khi xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ sang thị trường vốn được coi là trọng điểm này. Đây chính là nguyên nhân khiến cho kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam trong giai đoạn này giảm mạnh.

Từ quý III/2025 đến quý IV/2025: Trong thời gian này, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) và Bộ Tài chính Mỹ đang cố gắng hết sức trong việc đoạt quyền kiểm soát của các tập đoàn chuyên cho vay thế chấp của Mỹ nằm hỗ trợ thị trường nhà đất Mỹ. Cùng lúc đó, Ngân hàng Trung ương các nước trên thế giới đã đổ hàng tỉ USD vào các thị trường tiền tệ với nỗ lực hạ nhiệt tình trạng căng thẳng và ngăn chặn sự đóng băng của hệ thống tài chính toàn cầu. Điều này đã phần nào giúp cải thiện tình hình tài chính vốn đang trong giai đoạn hết sức khó khăn này, mở ra một hướng đi mới cho các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam. Mặc dù khối lượng hàng xuất khẩu sang thị trường Mỹ có giảm sút do lo ngại những rủi ro về kinh tế lẫn chính trị xảy ra nhưng lại tạo điều kiện cho hàng hoá và dịch vụ của Việt Nam thâm nhập được các thị trường lớn như EU, Nhật Bản, Hàn Quốc.. Nhìn chung, trong giai đoạn này, tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đã có sự hồi phục đáng kể.

Từ quý I/2026 đến nay: Tốc độ tăng xuất khẩu 22% của bốn tháng đầu năm 2026 thấp hơn 25% so với cùng kì năm 2025, cho thấy xu hướng tăng trưởng xuất khẩu đang chậm lại. Bù đắp cho sự sụt giảm xuất khẩu dầu thô và một số mặt hàng chủ lực khác như gạo, xe đạp, phụ tùng xe đạp, sản lượng xuất khẩu của nhiều mặt hàng khác như dệt may, sản phẩm nhựa, hàng điện tử, các sản phẩm gỗ, hàng thủ công mỹ nghệ, thuỷ sản…đều tăng mạnh. Sự gia tăng kim ngạch xuất khẩu những mặt hàng trên là do tăng cả lượng và gía, tuy nhiên tăng về lượng đóng góp đáng kể. Bên cạnh đó, một số yếu tố khách quan có thể ảnh hưởng xấu đến xuất khẩu như dịch cúm gia cầm, dịch sâu gây hại cho sản xuất nông nghiệp…cũng gây khó khăn cho hoạt động sản xuất hàng xuất khẩu trong thời gian tới.

1.2. Một số hạn chế còn tồn tại Khóa luận: Thực trạng về hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu.

1.2.1. Về năng lực sản xuất hàng xuất khẩu

Có thể thấy trong giai đoạn từ quý I/2023 đến nay, hoạt động sản xuất hàng xuất khẩu của nước ta hiện nay đã đạt được những thành tựu đáng kể. Tuy nhiên bên cạnh những mặt tích cực nói trên vẫn còn tồn tại một số hạn chế nhất định, thể hiện ở những mặt sau:

Thứ nhất, quy mô sản xuất hàng xuất khẩu nhìn chung còn khá khiêm tốn so với năng lực tiềm năng của nền kinh tế. Tuy có sự tăng trưởng nhanh nhưng chưa thật sự ổn định và bền vững. Điều này chủ yếu là do đầu tư xã hội cho sản xuất hàng xuất khẩu (nhất là khu vực kinh tế có 100% vốn đầu tư trong nước) nhìn chung còn thấp, ảnh hưởng đến khả năng gia tăng quy mô sản xuất và xuất khẩu.

Thứ hai, cơ cấu sản xuất hàng xuất khẩu còn lạc hậu, tỷ trọng hàng thô và hàng sơ chế tuy đã có giảm so với trước nhưng vẫn còn cao16, sản lượng có hàm lượng công nghệ cao còn nhỏ bé. Trong số sản phẩm công nghiệp chế tạo thì hàng gia công giá trị thấp vẫn còn chiếm tỷ trọng lớn. Việc sản xuất những mặt hàng này phụ thuộc nhiều vào điều kiện thiên nhiên và giá cả thị trường thế giới như hàng nông sản, thuỷ – hải sản, hay phụ thuộc vào bên trung gian thứ ba (phía đặt hàng gia công) như hàng dệt may, da giầy…

Thứ ba, việc chuyển dịch cơ cấu sản xuất nói chung, trong từng lĩnh vực ngành hàng nói riêng chưa bám sát tín hiệu của thị trường thế giới, do đó nhiều sản phẩm sản xuất ra để xuất khẩu nhưng không thể tiêu thụ được. Năng lực sản xuất, chất lượng, giá thành nhiều sản phẩm không đủ sức cạnh tranh trên thị trường khu vực và thế giới. Việc kiểm soát chất lượng sản phẩm xuất khẩu ngay từ khâu sản xuất còn chưa được coi trọng, chặt chẽ, triệt để, dẫn đến nhiều lô hàng, nhất là hàng thuỷ sản đã bị bạn hàng trả lại do không đảm bảo chất lượng vì có dư lượng chất kháng sinh trong sản phẩm hoặc sử dụng chất bảo quản vượt quá mức cho phép.

Thứ tư, năng lực cạnh tranh chưa được cải thiện rõ rệt trên cả 3 cấp độ (nền kinh tế, doanh nghiệp và mặt hàng xuất khẩu). Khi các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu có quy mô còn nhỏ bé thì những cải cách ở cấp độ nền kinh tế nhằm năng cao khả năng cạnh tranh quốc gia và cải thiện môi trường kinh doanh chưa phát huy được hiệu quả. Điều này thể hiện ở chỗ trong thời gian qua các chỉ số đánh giá của tổ chức quốc tế về môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam đều ở mức độ thấp so với khu vực. Trong khi đó, quy mô đầu tư vào khâu sản xuất để nâng cao khả năng cạnh tranh của mặt hàng xuất khẩu còn chưa thoả đáng. Khóa luận: Thực trạng về hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu.

1.2.2. Về hoạt động xuất khẩu

Mặc dù xuất khẩu của Việt Nam đã được những kết quả tương đối khả quan nhưng những hạn chế không phải là ít. Các hạn chế lớn tập trung vào những mặt sau:

Thứ nhất, quy mô xuất khẩu còn nhỏ bé, tổng kim ngạch xuất khẩu bình quân đầu người còn thấp so với các nước trong khu vực và trên thế giới.

Thứ hai, xuất khẩu tăng trưởng nhanh nhưng chưa vững chắc và thường bị ảnh hưởng bởi các cú sốc từ bên ngoài như sự biến động giá cả trên thị trường thế giới, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu hay sự xuất hiện của các rào cản thương mại mới của nước ngoài…. Trong khi đó, khả năng chủ động nắm bắt những cơ hội thuận lợi để thâm nhập và khai thác các thị trường xuất khẩu mới của các doanh nghiệp còn nhiều hạn chế.

Thứ ba, cơ cấu mặt hàng xuất khẩu chưa hợp lý, thể hiện trên cả ba phương diện: (1) chủng loại hàng hoá xuất khẩu còn đơn điệu, chậm xuất hiện những mặt hàng xuất khẩu mới; (2) các mặt hàng xuất khẩu có giá trị gia tăng còn thấp, chủ yếu vẫn là các mặt hàng như khoáng sản chịu ảnh hưởng trực tiếp tư những biến động chính trị trên thế giới (như dầu thô, than đá), nông – lâm – thuỷ hải sản , trong khi các mặt hàng công nghiệp như dệt may, da giày, điện tử và linh kiện máy tính…chủ yếu vẫn mang tính chất gia công; (3) quá trình chuyển dịch cơ cấu mặt hàng xuất khẩu theo hướng công nghiệp hoá diễn ra chậm và chưa có giải pháp cơ bản, triệt để; cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam thời gian qua chủ yếu chuyển dịch theo chiều rộng mà chưa đi vào chiều sâu, xuất khẩu chủ yếu dựa vào khai thác lợi thế so sánh sẵn có mà chưa khai thác được lợi thế cạnh tranh thông qua việc xây dựng các ngành công nghiệp có mối liên kết chặt chẽ với nhau hình thành chuỗi giá trị gia tăng xuất khẩu lớn.

Thứ tư, năng lực cạnh tranh còn yếu kém ở cả 3 cấp độ (nền kinh tế, doanh nghiệp và mặt hàng xuất khẩu). Trong đó những hạn chế từ phía doanh nghiệp chuyển biến chậm: đại bộ phận có quy mô nhỏ, yếu về năng lực, kém về kiến thức và kinh nghiệm kinh doanh thương mại quốc tế, phần nhiều doanh nghiệp không có chiến lược kinh doanh, xuất khẩu dài hạn, mức thụ động cao.

1.3. Nguyên nhân của những hạn chế và kết luận Khóa luận: Thực trạng về hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu.

1.3.1. Nguyên nhân của những hạn chế

Thứ nhất, nếu như tăng trưởng kinh tế góp phần tích cực vào tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam thì các bất ổn về kinh tế, chính trị, xã hội trên thế giới lại đem đến cho xuất khẩu Việt Nam những tác động ngược lại. Điển hình là cuộc khủng hoảng nhà đất Mỹ đã kéo theo cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới hoạt động xuất khẩu của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, khiến cho tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam trong năm 2025 giảm mạnh.

Thứ hai, các mặt hàng nông, lâm, thuỷ sản chiếm một tỷ trọng tương đối lớn trong kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam, song đây lại chính là những mặt hàng mà giá cả thế giới biến động thất thường nhất.

Thứ ba, năng lực dự báo, nhận biết các biến động bất thường, rủi ro tiềm ẩn trên thị trường quốc tế của các cơ quan quản lý còn hạn chế, trong khi khả năng thích ứng với bối cảnh mới của thị trường thế giới của các doanh nghiệp xuất khẩu còn yếu. Thêm vào đó, công tác của mạng lưới đại diện, đặc biệt về thương mại ở nước ngoài chưa thực sự hỗ trợ tốt cho hoạt động xuất khẩu, các chương trình xúc tiến thương mại, nhỏ lẻ, rời rạc hiệu quả chưa cao.

Thứ tư, những lúng túng, bị động trong việc khai thác các thị trường xuất khẩu thời gian qua xuất phát từ sự thiếu chuẩn bị của cả phía các cơ quan quản lý Nhà nước và các doanh nghiệp. Các cơ quan quản lý Nhà nước chưa thực sự làm tốt công tác phổ biến, hướng dẫn và chuẩn bị điều kiện để đón những cơ hội về thị trường xuất khẩu do các hiệp định và thoả thuận hợp tác thương mại đem lại, trong khi các doanh nghiệp lại mang nặng tư tưởng trông chờ vào những hướng dẫn, hỗ trợ của Nhà nước.

1.3.2. Kết luận Khóa luận: Thực trạng về hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu.

Qua việc phân tích những nguyên nhân của các hạn chế còn tồn tại ở trên, có thể dễ dàng nhận thấy rằng nguyên nhân cơ bản của sự yếu kém về năng lực sản xuất hàng xuất khẩu cũng như về hoạt động xuất khẩu trong thời gian vừa qua tại Việt Nam chính là sự lúng túng của các doanh nghiệp xuất khẩu trong nước trong việc tự tăng cường khả năng phòng vệ trước các rủi ro từ những biến động bất thường khó lường của thị trường thế giới cũng như những rủi ro kinh tế trong quá trình giao dịch mua bán với các đối tác nước ngoài.

Trong điều kiện các doanh nghiệp Việt Nam cũng như các cơ quan quản lý Nhà nước chưa đủ khả năng dự báo, nhận biết những biến động bất lợi tiềm ẩn nhiều rủi ro của tình hình kinh tế thế giới thì việc đưa ra một công cụ hỗ trợ tín dụng xuất khẩu mới nhằm hạn chế các rủi ro tiềm ẩn có khả năng phát sinh trong quá trình xuất khẩu của hàng hoá Việt Nam ra các thị trường lớn trên thế giới là hết sức cần thiết. Đây không chỉ là biện pháp đẩy mạnh hoạt động tín dụng xuất khẩu kích thích xuất khẩu mà qua đó, còn tạo tâm lý yên tâm cho các doanh nghiệp trong tiến trình gia nhập thương mại kinh tế toàn cầu.

Xuất phát từ nhu cầu cấp thiết của thực tế, bảo hiểm tín dụng xuất khẩu đã ra đời ở Việt Nam như một công cụ hỗ trợ tín dụng xuất khẩu và thúc đẩy hoạt động xuất khẩu quốc gia. Dưới đây, đề tài sẽ nghiên cứu thực trạng của hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

2. Thực trạng của hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu Khóa luận: Thực trạng về hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu.

2.1 Môi trường pháp lý

2.1.1. Khung pháp lý điều chỉnh hoạt động tín dụng xuất khẩu và bảo hiểm tín dụng xuất khẩu

2.1.1.1. Đối với hoạt động tín dụng xuất khẩu

  • a. Chính sách tín dụng hỗ trợ xuất khẩu của Việt Nam

Với mục tiêu tăng cường hỗ trợ cho xuất khẩu và phù hợp với nguồn lực tài chính trong nước, chính sách tín dụng xuất khẩu trong giai đoạn hiện nay tập trung vào các hình thức sau:

  • a.1. Hình thức hỗ trợ xuất khẩu

Cho vay dự án đầu tư phục vụ xuất khẩu:

  • Đối tượng là các dự án đầu tư trong nước phục vụ cho xuất khẩu và các dự án đầu tư ra nước ngoài thuộc danh mục Nhà nước khuyến khích.
  • Mức vốn cho vay tối đa bằng 70% tổng mức vốn đầu tư của dự án.
  • Thời hạn cho vay tối đa 15 năm.
  • Đồng tiền cho vay: đồng Việt Nam. Đối với các dự án có nhập thiết bị nước ngoài hoặc dựa án đầu tư ở nước ngoài có đủ nguồn ngoại tệ trả nợ thì được cho vay bằng USD.
  • Lãi suất cho vay cố định trong suốt thời gian thực hiện dự án và được xác định bằng lãi suất trái phiếu Chính phủ kỳ hạn 5 năm cộng phụ trội là 0.5%/năm. Trường hợp vay bằng USD thì mức lãi suất được xác định bằng lãi suất SIBOR 6 tháng cộng độ phụ trội là 2%/năm.

Cho vay ngắn hạn xuất khẩu:

  • Đối tượng bao gồm cho vay người bán (nhà xuất khẩu) và cho vay người mua (nhà nhập khẩu).

Cho vay người bán là cho vay nhà xuất khẩu có hợp đồng xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ thuộc danh mục hàng hóa, dịch vụ vay vốn tín dụng xuất khẩu quy định cho từng thời kỳ, phù hợp với kế hoạch phát triển kinh tế, chiến lược xuất khẩu.

Cho vay người mua là cho vay nhà nhập khẩu nước ngoài mua hàng hoá, dịch vụ do Việt Nam sản xuất nằm trong danh mục hàng hoá, dịch vụ vay vốn tín dụng xuất khẩu, được Chính phủ hoặc Ngân hàng Trung ương nước nhập khẩu bảo lãnh.

  • Mức vốn cho vay tối đa bằng 85% giá trị hợp đồng xuất khẩu (bên bán), hợp đồng nhập khẩu (bên mua) đã ký kết hoặc giá trị L/C, hối phiếu hợp lệ tuỳ theo từng hình thức vay….
  • Thời hạn cho vay xác định theo khả năng thu hồi vốn phù hợp với đặc điểm của từng hợp đồng xuất khẩu và khả năng trả nợ của chủ đầu tư nhưng tối đa là không quá 12 tháng. Khóa luận: Thực trạng về hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu.
  • Lãi suất cho vay tín dụng xuất khẩu được xác định trên cơ sở lãi suất trái phiếu Chính phủ kỳ hạn 5 năm cộng thêm một tỷ lệ (%) nhất định để đảm bảo lãi suất cho vay tín dụng xuất khẩu phù hợp với lãi suất thị trường.

Trường hợp cho vay bằng USD thì lãi suất cho vay được xác định bằng lãi suất SIBOR 6 tháng cộng độ phụ trội là 0,5%/năm.

a.2. Hình thức bảo lãnh

Bảo lãnh vay vốn tín dụng xuất khẩu

  • Mục tiêu, phạm vi bảo lãnh: cung cấp cho các nhà xuất khẩu dịch vụ bảo lãnh để nhận được điều khoản tài trợ tốt nhất từ các ngân hàng thương mại cho việc đầu tư dự án hoặc sản xuất các sản phẩm hàng hoá dịch vụ thực hiện hợp đồng xuất khẩu đã ký kết với nước ngoài.
  • Mức bảo lãnh: đối với dự án đầu tư tối đa bằng mức vốn vay của tổ chức tín dụng. Riêng với trường hợp vay ngắn hạn, mức bảo lãnh tối đa bằng 85% giá trị hợp đồng.
  • Thời hạn bảo lãnh: tối đa bằng thời hạn vay vốn của tổ chức tín dụng.

Bảo lãnh dự thầu và bảo lãnh thực hiện hợp đồng

Đối tượng bảo lãnh dự thầu và bảo lãnh thực hiện hợp đồng xuất khẩu là các doanh nghiệp tham gia xuất khẩu các mặt hàng cần đẩy mạnh xuất khẩu do Chính phủ quy định, phù hợp với thế mạnh xuất khẩu của nền kinh tế trong từng thời kỳ.

Mức bảo lãnh tối đa không quá 3% giá dự thầu đối với bảo lãnh dự thầu hoặc 10% giá trị hợp đồng đối với bảo lãnh thực hiện hợp đồng.

Thời hạn bảo lãnh theo thời hạn thực hiện nghĩa vụ của doanh nghiệp xuất khẩu.

Hiện nay, hoạt động tín dụng xuất khẩu tại Việt Nam chủ yếu được điều chỉnh bởi Nghị định số 151/ 2022/NĐ-CP được ban hành này 20/12/2022 với nội dung chủ yếu tập trung vào các hình thức bảo lãnh như bảo lãnh tín dụng xuất khẩu, bảo lãnh dự thầu và bảo lãnh thực hiện hợp đồng. Như vậy có thể thấy hiện tại ở nước ta, các cơ quan quản lý Nhà nước mới chỉ dừng lại ở việc xây dựng chính sách tín dụng hỗ trợ xuất khẩu có tính chất tổng quát, chứ chưa đi vào từng loại hình hỗ trợ tín dụng cụ thể. Đây chính là hạn chế khiến cho việc xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu gặp nhiều khó khăn do thiếu nền tảng và cơ sở pháp lý để triển khai. Muốn có một khung pháp lý hoàn thiện để qua đó xây dựng được một mô hình bảo hiểm tín dụng xuất khẩu thực sự có hiệu quả trong nền kinh tế thị trường như Việt Nam hiện nay, trước hết cần có sự minh bạch và cụ thể trong các văn bản pháp lý cũng như chính sách tín dụng xuất khẩu để từ đó làm cơ sở phát triển và hình thành các văn bản quy phạm phát luật có trọng tâm, hướng tới hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu đang còn hết sức mới mẻ này. Khóa luận: Thực trạng về hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu.

  • b. Cơ quan thực hiện chính sách tín dụng xuất khẩu

Từ năm 2021 trở về trước, Quỹ Hỗ trợ phát triển là cơ quan thuộc quyền quản lý của Bộ Tài chính thực hiện chức năng hỗ trợ tín dụng xuất khẩu. Ngày 19/05/2022, Thủ tướng chính phủ ban hành Quyết định số 108/2022/QĐ-TTg, quyết định thành lập Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) thay thế hệ thống Quỹ hỗ trợ phát triển nhằm thực hiện chính sách tín dụng xuất khẩu của Nhà nước. Theo Nghị định số 151/2022/NĐ-CP ngày 20/12/2022 về tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước, Ngân hàng Phát triển Việt Nam đang thực hiện nhiều hình thức tín dụng xuất khẩu bao gồm tín dụng trung, dài hạn, ngắn hạn, bảo lãnh vay vốn, bảo lãnh thực hiện hợp đồng. Bên cạnh đó, Ngân hàng Phát triển Việt Nam cũng được tham gia hệ thống thanh toán với các ngân hàng và cung cấp dịch vụ thanh toán theo quy định của pháp luật. Nhìn chung, Ngân hàng Phát triển Việt Nam kế thừa mọi quyền lợi, trách nhiệm từ Quỹ Hỗ trợ phát triển.

Hoạt động của Ngân hàng Phát triển Việt Nam không vì mục đích lợi nhuận, tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng 0%, không phải tham gia bảo hiểm tiền gửi. Ngân hàng Phát triển được Chính phủ bảo đảm khả năng thanh toán, được miễn nộp thuế và các khoản nộp Ngân sách Nhà nước theo quy định của pháp luật.

Vốn điều lệ của Ngân hàng Phát triển Việt Nam là 5,000 tỷ Việt Nam đồng từ nguồn vốn điều lệ hiện có của Quỹ Hỗ trợ phát triển. Việc điều chỉnh, bổ sung vốn điều lệ tuỳ thuộc yêu cầu và nhiệm vụ cụ thể, bảo đảm tỷ lệ an toàn vốn của Ngân hàng và do Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.

Cơ quan quản lý của Ngân hàng Phát triển Việt Nam là Bộ Tài chính. Bộ Tài chính chủ trì thẩm định kế hoạch tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước hàng năm và dài hạn do Ngân hàng Phát triển Việt Nam lập và gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư để tổng hợp, trình Thủ tướng Chính phủ quyết định trong kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội.

b.1. Nguồn vốn hoạt động của Ngân hàng Phát triển Việt Nam

  • Nguồn vốn từ Ngân sách Nhà nước: vốn điều lệ của Ngân hàng Phát triển Việt Nam, vốn của Ngân sách Nhà nước cấp cho các dự án theo kế hoạch hàng năm, vốn ODA được Chính phủ giao;
  • Vốn huy động: phát hành trái phiếu và chứng chỉ tiền gửi theo quy định của pháp luật; vay của Tiết kiệm bưu điện, Quỹ Bảo hiểm xã hội và các tổ chức tài chính, tín dụng trong và ngoài nước; nhận tiền gửi ủy thác của các tổ chức trong và ngoài nước; Khóa luận: Thực trạng về hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu.
  • Vốn đóng góp tự nguyện không hoàn trả của các cá nhân, các tổ chức kinh tế, tổ chức tài chính, tín dụng và các tổ chức chính trị – xã hội, các hiệp hội, các hội, các tổ chức trong và ngoài nước;
  • Vốn nhận ủy thác cấp phát, cho vay của chính quyền địa phương, các tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị – xã hội, các hiệp hội, các hội, các tổ chức, các cá nhân trong và ngoài nước.

b.2. Chức năng, nhiệm vụ của Ngân hàng Phát triển Việt Nam

  • Huy động, tiếp nhận vốn của các tổ chức trong và ngoài nước để thực hiện tín dụng đầu tư phát triển và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước theo quy định của Chính phủ;
  • Thực hiện chính sách tín dụng đầu tư phát triển thông qua các hoạt động: cho vay đầu tư phát triển; hỗ trợ sau đầu tư; bảo lãnh tín dụng đầu tư;
  • Thực hiện chính sách tín dụng xuất khẩu thông qua: cho vay xuất khẩu; bảo lãnh tín dụng xuất khẩu; bảo lãnh dự thầu và bảo lãnh thực hiện hợp đồng xuất khẩu;
  • Nhận ủy thác quản lý nguồn vốn ODA được Chính phủ cho vay lại; nhận uỷ thác, cấp phát cho vay đầu tư và thu hồi nợ của khách hàng từ các tổ chức trong và ngoài nước thông qua hợp đồng nhận uỷ thác giữa Ngân hàng Phát triển Việt Nam với các tổ chức uỷ thác;
  • Ủy thác cho các tổ chức tài chính, tín dụng thực hiện nghiệp vụ tín dụng của Ngân hàng Phát triển Việt Nam;
  • Cung cấp các dịch vụ thanh toán cho khách hàng và tham gia hệ thống thanh toán trong nước và quốc tế phục vụ các hoạt động của Ngân hàng Phát triển Việt Nam theo quy định của pháp luật;
  • Thực hiện nhiệm vụ hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tín dụng đầu tư phát triển và tín dụng xuất khẩu.

2.1.1.2. Đối với hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu Khóa luận: Thực trạng về hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu.

Về chính sách và các văn bản pháp luật điều chỉnh: Một trong những văn bản pháp luật được coi là cơ sở điều chỉnh các tổ chức và hoạt động kinh doanh bảo hiểm nói chung, xác định quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm, được áp dụng rộng rãi nhất hiện nay là Luật Kinh doanh Bảo hiểm số 24/2016/QH10 đã được Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 09/12/2016 với mục tiêu chủ yếu là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm; đẩy mạnh hoạt động kinh doanh bảo hiểm, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của nền kinh tế – xã hội, ổn định đời sống nhân dân và tăng cường hiệu lực quản lý Nhà nước đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Luật Kinh doanh Bảo hiểm năm 2016 có chỉ rõ các loại nghiệp vụ bảo hiểm được điều chỉnh trong phạm vi của Luật, trong đó có bảo hiểm tín dụng và các rủi ro tài chính. Tuy nhiên, Luật Kinh doanh Bảo hiểm năm 2016 lại chưa có quy định cụ thể đối với loại hình bảo hiểm này mà mới chỉ dừng lại ở việc đưa ra những quy định chung, áp dụng đối với nhiều loại hình nghiệp vụ bảo hiểm trong phạm vi điều chỉnh. Như vậy, chưa xét đến hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu, chỉ mới xét hoạt động bảo hiểm tín dụng nói chung cũng có thể thấy hệ thống văn bản pháp lý còn khá nhiều thiếu sót, không đồng bộ dẫn đến việc xây dựng khung pháp lý điều chỉnh hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu còn gặp rất nhiều khó khăn.

Mặt khác, bảo hiểm tín dụng xuất khẩu vẫn còn là hình thức mới xuất hiện ở Việt Nam. Do vậy, chưa có một văn bản dưới luật nào như thông tư, nghị định, quyết định… được ban hành nhằm điều chỉnh cụ thể và trực tiếp hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu và đưa ra những quy định rõ về phương thức hoạt động cũng như nguyên tắc tính phí, kì hạn bảo hiểm, đối tượng tham gia…của loại hình này. Như vậy trong tương lai, muốn phát triển hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu tại Việt Nam, Chính phủ, các Bộ, ban ngành liên quan cần nhanh chóng hoàn thiện khung pháp lý điều chỉnh đầy đủ và cụ thể về hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu.

Về cơ quan thực hiện quản lý và nhà cung cấp sản phẩm: Cùng với việc ban hành các chính sách và văn bản cụ thể điều chỉnh hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu, cần có một cơ quan quản lý Nhà nước đứng ra chịu trách nhiệm thực hiện các chính sách và văn bản liên quan, đồng thời quản lý và giám sát hoạt động của loại hình này. Hiện nay tại Việt Nam vẫn chưa có một cơ quan nào đứng ra nhận trách nhiệm quản lý và giám sát hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu. Mặt khác, ở nước ta hiện nay cũng chưa có được một nhà cung cấp loại hình bảo hiểm tín dụng chuyên nghiệp, đáp ứng đầy đủ nhu cầu cấp thiết của thị trường xuất khẩu nhiều biến động. Do vậy, cần khẩn trương triển khai thành lập một tổ chức bảo hiểm chịu trách nhiệm cung ứng các sản phẩm và dịch vụ cho các doanh nghiệp xuất khẩu trong nước. Trong đề án Đẩy mạnh xuất khẩu 2025 – 2026, Bộ Công thương cũng đã đề cập đến giải pháp thành lập Công ty bảo hiểm tín dụng xuất khẩu, tuy nhiên các giải pháp này đến nay vẫn chưa được thực hiện. Việc tìm ra cơ quan quản lý Nhà nước cũng như đối tượng cung cấp loại hình bảo hiểm tín dụng xuất khẩu đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc hoàn thiện và phát triển hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu trong thời gian tới.

2.2. Thực trạng hoạt động tín dụng xuất khẩu và bảo hiểm tín dụng xuất khẩu Khóa luận: Thực trạng về hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu.

2.2.1. Thực trạng hoạt động tín dụng xuất khẩu

2.2.1.1. Tổng quan về hoạt động tín dụng xuất khẩu

Với vai trò là cơ quan thay mặt Chính phủ thực hiện chính sách tín dụng hỗ trợ xuất khẩu, Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) được phép thực hiện các nghiệp vụ cho vay xuất khẩu, bảo lãnh tín dụng xuất khẩu, bảo lãnh dự thầu và thực hiện hợp đồng xuất khẩu. Tuy nhiên, kể từ khi thành lập đến nay, Ngân hàng Phát triển Việt Nam mới chỉ tập trung vào nghiệp vụ cho vay xuất khẩu, trong đó chủ yếu là những khoản vay cho doanh nghiệp xuất khẩu trong nước.

  • Bảng 2: Doanh số cho vay tín dụng xuất khẩu qua 3 năm từ 2023 đến 2025

Về doanh số cho vay tín dụng xuất khẩu: Trong thời gian từ 2023 đến 2025, doanh số cho vay tín dụng xuất khẩu có xu hướng giảm. Năm 2023, tổng lượng cho vay đạt 10,755 tỷ đồng, bằng 103,5% so với cùng kỳ năm 2022 (Số thực hiện năm 2022 là 10,142 tỷ đồng). Doanh số cho vay đã giảm đáng kể xuống còn 7,815 tỷ đồng vào năm 2024. Điều này có thể được giải thích do việc cơ cấu lại Quỹ Hỗ trợ phát triển thành Ngân hàng Phát triển Việt Nam. Doanh số cho vay xuất khẩu lại tăng lên 9,563 tỷ vào năm 2025 và trong 6 tháng đầu năm 2026, con số này đã đạt 12,150,936 tỷ đồng, dư nợ bình quân là 7,951,293 tỷ đồng.

Về cơ cấu mặt hàng cho vay tín dụng xuất khẩu: Có thể thấy rằng qua 3 năm từ 2023 đến 2025, cơ cấu mặt hàng cho vay tín dụng xuất khẩu đã có sự thay đổi rõ rệt. Chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cả 2 năm vẫn là nhóm hàng nông – lâm – thủy sản với tỷ trọng 60% vào năm 2023 và tăng lên mức 65% vào năm 2025. Đây là nhóm hàng duy nhất có sự tăng lên về tỷ trọng cho vay. Các nhóm hàng khác đều có xu hướng giảm tỷ trọng đi vay vốn hỗ trợ xuất khẩu.

Cơ cấu doanh số cho vay theo thị trường cũng có sự thay đổi, thể hiện qua Bảng 3 dưới đây:

  • Bảng 3: Cơ cấu doanh số cho vay theo thị trường Khóa luận: Thực trạng về hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu.

Từ năm 2023 đến năm 2025, cơ cấu doanh số cho vay xuất khẩu sang các thị trường truyền thống như Nhật, EU phần lớn đều giảm. Tỷ trọng cho vay xuất khẩu sang thị trường Mỹ vẫn ổn định, dao động quay mức 11%. Trong khi đó, lượng vay vốn xuất khẩu sang các thị trường mới lại tăng mạnh, từ 23.86% năm 2023 lên 35% năm 2025. Các thị trường khác này bao gồm khu vực Trung Đông, Châu Phi, Nam Mỹ…

Về mức lãi suất cho vay xuất khẩu, lãi suất tín dụng xuất khẩu luôn được điều chỉnh đề phù hợp với tình hình kinh tế vĩ mô cũng như hoàn cảnh thị trường. Có thể thấy rằng trong khi mức lãi suất bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi tương đối ổn định trong hơn 1 năm trở lại đây, chỉ tăng nhẹ từ 6.9%/năm lên 7.8%/năm thì mức lãi suất bằng đồng Việt Nam lại chịu sự điều chỉnh lãi suất rất lớn, tăng từ 8.7%/năm vào tháng 8/2024 lên đến 14.4%/năm vào tháng 6/2025. Việc tăng mạnh lãi suất tín dụng xuất khẩu trong thời điểm hiện nay được lý giải là nhằm thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt và giảm bớt sự hỗ trợ cho doanh nghiệp xuất khẩu theo hình thức cho vay trực tiếp doanh nghiệp đó. Mặc dù có sự điều chỉnh mạnh sau một thời gian tương đối dài giữ ở mức thấp, lãi suất tín dụng xuất khẩu luôn được xác định ở mức nhỏ hơn hoặc bằng lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố nhằm duy trì lợi thế hỗ trợ xuất khẩu của Ngân hàng Phát triển Việt Nam so với các ngân hàng thương mại khác.

Về chủ thể cho vay tín dụng xuất khẩu: Cùng với Ngân hàng Phát triển Việt Nam có nhiều các ngân hàng thương mại khác cũng tham gia vào hoạt động tín dụng xuất khẩu với vai trò là chủ thể cho vay tín dụng. Tuy nhiên, số lượng và quy mô các khoản vay này không cao. Do phạm vi và thời hạn nghiên cứu còn hạn chế nên đề tài chưa thể cung cấp những số liệu thống kê cụ thể về số lượng các khoản vay tín dụng từ các ngân hàng thương mại trong nước cũng như tỷ trọng tín dụng thương mại giữa các doanh nghiệp trong hoạt động tín dụng xuất khẩu của Việt Nam hiện nay.

Nhìn chung, trong giai đoạn nền kinh tế Việt Nam chịu tác động nhiều từ những biến động bất ngờ của nền kinh tế thế giới, hoạt động tín dụng xuất khẩu của Việt Nam cũng như việc ký kết các hợp đồng xuất khẩu của các doanh nghiệp trong nước với bạn hàng nước ngoài gặp không ít những khó khăn do có nhiều rủi ro phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng. Nói cách khác, những rủi ro không được phòng ngừa xuất hiện trong hoạt động tín dụng xuất khẩu chính là trở ngại kìm hãm tốc độ phát triển của hoạt động xuất khẩu có tiềm năng của Việt Nam mà biểu hiện rõ nét nhất là tỷ lệ nợ quá hạn tại các ngân hàng cấp tín dụng xuất khẩu do các doanh nghiệp không có khả năng trả nợ ngày càng tăng, dẫn tới việc các tổ chức tín dụng và Nhà nước không thể thu hồi vốn đúng hạn, gây ảnh hưởng trực tiếp tới thị trường tài chính vốn được coi là huyết mạch của nền kinh tế.

Điều này một lần nữa cho thấy cần phải có một công cụ hỗ trợ xuất khẩu giúp các doanh nghiệp và các ngân hàng cho vay yên tâm hơn trước các rủi ro trong thời kì hội nhập nền kinh tế toàn cầu. Trước nhu cầu trên, bảo hiểm tín dụng xuất khẩu được coi là giải pháp kịp thời đáp ứng được mong mỏi của không chỉ các doanh nghiệp trong nước, các tổ chức tín dụng, mà còn của các cơ quan quản lý Nhà nước trong việc tăng cường thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

2.2.1.2. Thành tích đạt được Khóa luận: Thực trạng về hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu.

Qua 3 năm tích cực thực hiện và đổi mới, hoạt động tín dụng xuất khẩu đã trở thành một kênh vay vốn ưu đãi, hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam hạ giá thành sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới, giúp các doanh nghiệp giữ vững thị trường truyền thống, mở thị trường mới đối với các mặt hàng thuộc diện ưu tiên, khuyến khích xuất khẩu của Chính phủ, đồng thời, hỗ trợ các doanh nghiệp mở rộng sản xuất, tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động. Bên cạnh đó, số lượng các khoản vay cũng tăng đáng kể và các rủi ro trong hoạt động tín dụng xuất khẩu cũng đã được hạn chế. Nhờ đó, hoạt động xuất khẩu vẫn giữ được mức độ tăng trưởng ổn định.

Nhìn chung, hoạt động tín dụng xuất khẩu đã đạt được nhiều thành tích đáng kể. Dưới đây, đề tài chỉ tập trung vào hai khía cạnh quan trọng, có sự chuyển biến hết sức tích cực và nổi bật trong thời gian qua của hoạt động tín dụng xuất khẩu. Đó là chính sách tín dụng xuất khẩu và lãi suất tín dụng xuất khẩu.

Về chính sách tín dụng xuất khẩu: Nhìn chung, việc thực hiện chính sách tín dụng đầu tư của Nhà nước không gặp nhiều khó khăn, vướng mắc do đã theo định hướng chung, góp phần quan trọng trong việc tăng trưởng xuất khẩu qua đó góp phần không nhỏ vào việc hỗ trợ doanh nghiệp tăng năng lực cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường đóng góp vào kết quả xuất khẩu của cả nước.

Chính sách tín dụng xuất khẩu giai đoạn 2022 – 2026 có bổ sung một số nội dung phù hợp với tình hình phát triển kinh tế – xã hội như: chỉ cho vay hoặc bảo lãnh tín dụng những dự án đầu tư có khả năng thu hồi vốn trực tiếp thuộc một số lĩnh vực quan trọng, chương trình kinh tế lớn của Chính phủ trong từng thời kỳ, đồng thời đã có sự đa dạng hơn trong danh mục các mặt hàng, đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ thông tin, xây dựng, thiết kế, giám sát, các mặt hàng điện tử, thủ công mỹ nghệ, tàu biển… Chính sách này tạo điều kiện đa dạng hoá cơ cấu xuất khẩu cho nền kinh tế, giúp các doanh nghiệp thuận lợi hơn trong việc sản xuất các mặt hàng đòi hỏi chi phí công nghệ cao…

Về lãi suất tín dụng xuất khẩu: Lãi suất cho vay đã được điều chỉnh để không vi phạm các điều lệ về trợ cấp của WTO. Vấn đề bảo đảm tiền vay cũng được sửa đổi theo hướng: các chủ đầu tư, khi vay vốn hoặc được bảo lãnh được dùng tài sản hình thành từ vốn vay để bảo đảm tiền vay và bảo lãnh. Trường hợp tài sản hình thành từ vốn vay không đủ điều kiện bảo đảm tiền vay và bảo lãnh, chủ đầu tư phải sử dụng tài sản hợp pháp khác để bảo đảm tiền vay và bảo lãnh với giá trị tối thiểu bằng 15% tổng mức vay vốn và bảo lãnh. Khóa luận: Thực trạng về hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu.

2.2.1.3. Hạn chế còn tồn tại

Có thể nói hoạt động tín dụng xuất khẩu của Việt Nam cho đến nay đã được thực hiện theo định hướng chung, góp phần quan trọng trong việc tăng trưởng xuất khẩu. Tuy nhiên, nó vẫn còn nhiều mặt hạn chế cần được khắc phục.

Thứ nhất, sự không ổn định của danh mục mặt hàng thuộc diện được hưởng chính sách tín dụng xuất khẩu là một trong những rào cản đối với doanh nghiệp. Việc xác định danh mục theo thời hạn từng năm đã ảnh hưởng tới việc cân đối nguồn vốn để phục vụ cho kế hoạch sản xuất và xuất khẩu dài hơi của doanh nghiệp.

Thứ hai, việc ban hành danh mục thường rất chậm so với yêu cầu thực tế triển khai hoạt động tín dụng hỗ trợ xuất khẩu của doanh nghiệp nên đã tạo những khó khăn đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nguồn vốn tín dụng của Quỹ được doanh nghiệp đánh giá là chưa đáp ứng được so với nhu cầu cần hỗ trợ từ phía các doanh nghiệp.

Thứ ba, về chính sách lãi suất ưu đãi, lãi suất cho vay quá thấp và được xác định tại thời điểm ký hợp đồng tín dụng lần đầu tiên và không thay đổi trong suốt thời gian vay vốn. Chính sự không linh hoạt và chưa mang tính thị trường này dẫn đến nhiều tác động ngược, không tốt đối với các doanh nghiệp, cơ quan cho vay và cả đối với Ngân sách Nhà nước, phần nào đã làm gia tăng gánh nặng cấp bù đối với Ngân sách Nhà nước, qua đó giảm tính hiệu quả chính sách của Nhà nước. Mặt khác, việc duy trì lãi suất cho vay quá thấp trong một thời gian dài đã và đang là nguyên nhân chính dẫn tới gia tăng cấp bù chênh lệch lãi suất đồng thời khiến các doanh nghiệp không tích cực huy động các nguồn vốn tự có và các nguồn khác mà trở nên quá phụ thuộc, ỷ lại vào nguồn vốn tín dụng của Nhà nước, gia tăng áp lực về vốn trong điều kiện thị trường rất khó khăn, đặc biệt tình hình lạm phát cao hiện nay. Đây cũng là nguyên nhân làm phát sinh số lượng các khoản nợ quá hạn trong thời gian vừa qua.

Một hạn chế nữa của chính sách tín dụng hỗ trợ xuất khẩu của Nhà nước hiện nay là mới chỉ tập trung thực hiện hỗ trợ trực tiếp cho các nhà xuất khẩu. Các nghiệp vụ tín dụng xuất khẩu khác hiện chưa được chú trọng phát triển. Trong điều kiện Việt Nam đã gia nhập WTO, việc hỗ trợ tín dụng dưới hình thức cho vay vốn ưu đãi cho các doanh nghiệp xuất khẩu có nguy cơ trở thành hành động vi phạm Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng – Agreement on Subsidies and Countervailing Measures (SCM) của WTO. Vì vậy, Việt Nam cần học tập kinh nghiệm của các nước về việc thực hiện chính sách tín dụng xuất khẩu để vẫn có thể hỗ trợ, khuyến khích các hoạt động xuất khẩu, đồng thời hạn chế vi phạm quy định của WTO.

Thứ tư, các yêu cầu bảo đảm tiền vay cũng được phản ánh là đang gây cản trở cho doanh nghiệp trong quá trình tiếp cận nguồn vốn tín dụng xuất khẩu. Phần lớn các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ, giá trị tài sản thấp, do vậy không đủ điều kiện để vay vốn từ Quỹ Hỗ trợ phát triển hoặc được vay với mức vốn hạn chế. Ngoài ra, tài sản bảo đảm tiền vay thường được định giá thấp hơn nhiều so với giá trị thực dẫn đến các doanh nghiệp nhỏ và vừa hầu như không tiếp cận được nguồn vốn tín dụng.

Thứ năm, việc duy trì một mức lãi suất cho vay giống nhau cho các nhóm khách hàng có các dự án thuộc các lĩnh vực ngành, nghề khác nhau, có độ tin cậy (mức rủi ro) khác nhau vừa không thể hiện tính ưu tiên trọng điểm giữa các nhóm ngành được khuyến khích lại không tạo động lực đối với tổ chức cho vay trong việc nâng cao năng lực thẩm định và phân tích tín dụng nhằm đảm bảo an toàn vốn vay. Việc “ấn định” một mức lãi suất cho vay dùng chung cho các dự án thuộc các ngành hoặc lĩnh vực khác nhau của các khách hàng khác nhau là không có cơ sở, nó thuần túy mang tính hành chính nhiều hơn là dựa trên các phân tích tín dụng và thiếu tính thị trường. Khóa luận: Thực trạng về hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu.

2.2.2. Thực trạng hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu

2.2.2.1 Tổng quan về hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu

Để người đọc có cái nhìn khái quát nhất về thực tiễn hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu tại Việt Nam trong thời gian vừa qua, tác giả đã tiến hành một cuộc điều tra khảo sát mức độ phổ biến của loại hình bảo hiểm tín dụng xuất khẩu và sự quan tâm của các doanh nghiệp xuất khẩu, các ngân hàng và các công ty bảo hiểm đối với loại hình bảo hiểm này trong phạm vi 100 doanh nghiệp hoặc công ty đang tiến hành hoạt động kinh doanh tại Việt Nam theo Bảng câu hỏi khảo sát (xem phần Phụ lục số 6) nhằm tiếp cận bảo hiểm tín dụng xuất khẩu dưới góc độ các đối tượng tham gia thị trường bảo hiểm tín dụng xuất khẩu (cụ thể là nhà cung cấp, khách hàng sử dụng và cơ quan quản lý Nhà nước), chính sách bảo hiểm và tình hình doanh thu từ việc thu phí bảo hiểm tín dụng xuất khẩu cũng như phạm vi bảo hiểm được áp dụng đối với bảo hiểm tín dụng xuất khẩu tại Việt Nam. Cụ thể như sau:

Về phía nhà cung cấp bảo hiểm: Trong thời gian qua, một số hiệp hội, doanh nghiệp đã triển khai dịch vụ bảo hiểm tín dụng xuất khẩu như Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam, Tổng công ty bảo hiểm thành phố Hồ Chí Minh, Công ty bảo hiểm dầu khí, Hiệp hội cao su Việt Nam… Tuy nhiên, các doanh nghiệp này mới chỉ triển khai hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu ở quy mô nhỏ, số lượng ít. Theo kết quả khảo sát thu được, tỷ lệ các công ty bảo hiểm đưa hình thức này vào danh mục các loại hình bảo hiểm cung cấp chỉ chiếm khoảng 5% trên tổng số các công ty bảo hiểm tham gia trả lời Bảng câu hỏi. Con số này cho thấy ngay cả đối với các nhà cung cấp bảo hiểm, đây vẫn còn là một loại hình mới mẻ, chưa phổ biến.

Về phía khách hàng sử dụng (các doanh nghiệp tham gia bảo hiểm tín dụng xuất khẩu): Số lượng doanh nghiệp xuất khẩu tham gia hình thức này còn rất hạn chế. Theo như kết quả đề tài thu được, trong số 100 doanh nghiệp tham gia trả lời Bảng câu hỏi, chỉ có 8% các doanh nghiệp đang tham gia sử dụng loại hình bảo hiể này, số còn lại là các doanh nghiệp chưa từng nghe nói đến hoặc có nghe nói cũng chưa tham gia sử dụng. Hiện tại, hình thức này mới chỉ được các nhà xuất khẩu áp dụng mang tính chất thử nghiệm nhiều hơn là mong muốn thực sự được bảo vệ trước rủi ro. Nguyên nhân chủ yếu lý giải vấn đề này là do các doanh nghiệp chưa nhận thức được trong giao dịch thương mại quốc tế có rất nhiều rủi ro (trong đó, gần 80% tổng số các doanh nghiệp cho rằng rủi ro thanh toán của đối tác nhập khẩu và rủi ro biến động tỷ giá hối đoái là hai rủi ro phổ biến nhất). Chưa kể khi phía đối tác nước ngoài nhận bảo hiểm hàng nhập của họ thì doanh nghiệp nước ta lại nhầm lẫn giữa bảo hiểm hàng nhập và bảo hiểm tín dụng xuất khẩu. Khóa luận: Thực trạng về hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu.

Về phía các cơ quan quản lý Nhà nước: Ở các nước trên thế giới, bảo hiểm tín dụng xuất khẩu chịu sự điều chỉnh của một cơ quan trực thuộc Chính phủ quản lý. Tuy nhiên, loại hình bảo hiểm này lại chịu sự điều chỉnh theo các quy định trong lĩnh vực bảo hiểm biệt lập với hoạt động ngân hàng và chứng khoán. Hiện tại, Bộ Tài chính đã đề nghị Chính phủ thành lập một Công ty bảo hiểm tín dụng xuất khẩu với hình thức cổ phần hoặc 100% vốn Nhà nước. Công ty này sẽ có Chi nhánh tại các địa phương để dễ dàng hoạt động. Trong tương lai, Bộ Tài chính cũng tính đến việc kết hợp với các đơn vị bảo hiểm khác, có thể là các công ty bảo hiểm trong và ngoài nước, đảm bảo bồi thường tài chính cho khách hàng nếu rủi ro xảy ra, có thể giải quyết cho vay nợ đối với các nhà nhập khẩu không đủ khả năng thanh toán, giúp các doanh nghiệp nghiên cứu thị trường thông qua các hiệp hội bảo hiểm, chứng minh khả năng tài chính với các nhà nhập khẩu.

Về chính sách bảo hiểm: Tại Việt Nam, theo các quy định pháp luật hiện hành thì bảo hiểm tín dụng xuất khẩu là một trong bảy nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ. Do đó, hầu hết các nhà cung cấp bảo hiểm tín dụng xuất khẩu cũng như đối tượng khách hàng tham gia bảo hiểm tín dụng xuất khẩu vẫn coi chính sách bảo hiểm nói chung như một văn bản quy định đưa ra các nguyên tắc điều chỉnh cho loại hình bảo hiểm này. Đây là một trong những khó khăn gây trở ngại trong việc đưa bảo hiểm tín dụng xuất khẩu trở thành một công cụ hỗ trợ xuất khẩu được các doanh nghiệp sử dụng phổ biến hiện nay. Điều này đòi hỏi các cơ quan quản lý Nhà nước phải nhanh chóng hoàn thành hành lang pháp lý cũng như chính sách đối với bảo hiểm tín dụng xuất khẩu trong thời gian tới.

Về phạm vi bảo hiểm: Mặc dù bảo hiểm tín dụng xuất khẩu là biện pháp phòng ngừa hai loại rủi ro chủ yếu là rủi ro kinh tế và rủi ro chính trị nhưng hiện tại, Nhà nước chưa có văn bản pháp lý nào quy định cụ thể về phạm vi bảo hiểm cũng như mức bảo hiểm đối với từng loại rủi ro này.

Về doanh thu từ phí bảo hiểm: Tổng doanh thu thu được từ phí bảo hiểm tín dụng xuất khẩu hiện chỉ chiếm 1-3% tổng giá trị hàng xuất khẩu. Đây là một tỷ lệ hết sức khiêm tốn so với nhiều nước khác. Muốn tăng doanh thu thu được từ phí bảo hiểm tín dụng xuất khẩu thì đòi hỏi phải có sự tham gia tích cực từ phía các cơ quan quản lý Nhà nước cũng như các doanh nghiệp trong việc hoàn thiện mô hình bảo hiểm tín dụng xuất khẩu, mà trước mắt là hoàn chỉnh các văn bản quy định cụ thể về loại hình bảo hiểm này. Khóa luận: Thực trạng về hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu.

Do phạm vi và thời gian thực hiện đề tài có hạn, số lượng các công ty và doanh nghiệp tham gia vào hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu chỉ mới dừng lại ở con số 100 doanh nghiệp, vẫn còn quá khiêm tốn so với số lượng các doanh nghiệp và công ty thực tế trên phạm vi cả nước hiện nay nên tác giả chưa thể đưa ra được những con số chính xác về tỷ lệ khách hàng tham gia bảo hiểm tín dụng xuất khẩu cũng như số lượng các nhà cung cấp loại hình này tại Việt Nam hiện nay. Mặc dù vậy, qua những con số thống kê và điều tra thu được, có thể thấy rằng hiện tại, hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu ở Việt Nam vẫn còn là một hình thức quá mới mẻ, chưa thu hút được nhiều sự quan tâm từ các chủ thể trong nền kinh tế. Vậy đâu là nguyên nhân của thực trạng này? Đề tài xin đi sâu phân tích dưới đây.

2.2.2.2. Những mặt còn tồn tại và nguyên nhân

Hiện nay, trên thế giới, bảo hiểm tín dụng xuất khẩu được đánh giá là một công cụ hiệu quả trong việc hỗ trợ xuất khẩu, song hình thức này lại chưa được áp dụng tại Việt Nam, do các nguyên nhân sau:

  • a. Về phía các doanh nghiệp trong nước

Các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam chưa nhận thức được những tác dụng của bảo hiểm tín dụng xuất khẩu. Nhiều doanh nghiệp còn e dè trong việc tìm hiểu thông tin chứ không nói gì là áp dụng bảo hiểm tín dụng xuất khẩu khi thực hiện giao dịch thương mại với đối tác nước ngoài. Mặt khác, kiến thức về thị trường xuất khẩu, tiêu chuẩn về hàng hoá, lộ trình và đối tác nhập khẩu của doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam còn hạn chế, chủ yếu hoạt động theo tư duy “có gì xuất nấy”, không có khả năng tính toán rủi ro và chi phí phát sinh hoặc lo ngại chi phí tăng thêm do mua bảo hiểm sẽ làm giảm số lượng hàng hoá và dịch vụ xuất khẩu ra thị trường nước ngoài nên không đưa chi phí bảo hiểm vào giá thành. Bên cạnh đó, vốn vẫn là rào cản lớn đối với các doanh nghiệp trong qúa trình hội nhập nền kinh tế thế giới. Cái khó của các doanh nghiệp là không phải lúc nào cũng có khả năng tài chính đảm bảo. Thêm vào đó, với vai trò là người bán chịu trong tín dụng thương mại, các doanh nghiệp xuất khẩu thường tiếp cận những phương thức phòng ngừa rủi ro khác nhau. Đây cũng là nguyên nhân khiến cho bảo hiểm tín dụng xuất khẩu ở nước ta chưa phát triển.

Các ngân hàng cho vay thường lo sợ khách hàng không có khả năng hoàn trả các khoản nợ đúng hạn, ảnh hưởng tới cơ cấu và quy mô hoạt động của ngân hàng. Chính tâm lý e dè này đã khiến cho một số ngân hàng trong nước hạn chế cấp tín dụng cho các doanh nghiệp xuất khẩu, từ đó nhu cầu sử dụng bảo hiểm tín dụng cũng giảm theo.

  • b. Về phía các tổ chức cung cấp bảo hiểm tín dụng xuất khẩu

Lý do chưa thể triển khai bảo hiểm tín dụng xuất khẩu là vì quá trình triển khai nghiệp vụ này rất phức tạp. Nhà cung cấp dịch vụ phải có năng lực, mạng lưới, mối quan hệ để thẩm định khách hàng nước ngoài, đồng thời phải thu xếp được nhà tái bảo hiểm. Hiện tại, các công ty bảo hiểm trong nước tỏ ra kém mặn mà với hình thức này còn các ngân hàng lại coi đây là loại hình đem lại nguồn lợi cho mình. Khóa luận: Thực trạng về hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu.

Song như đã đề cập các tổ chức cung cấp bảo hiểm tín dụng xuất khẩu phải có kỹ năng chuyên môn cao, sử dụng công nghệ tiên tiến để tiếp cận hệ thống thông tin kinh doanh, tài chính minh bạch và tin cậy, các ngân hàng phải có mối quan hệ rộng, có mạng lưới để kiểm tra thông tin và khả năng thanh toán của nhà nhập khẩu nước ngoài. Trong khi đó, hầu hết các ngân hàng lại chưa có sự chuẩn bị để đưa ra các thủ tục rõ ràng và coi bảo hiểm tín dụng xuất khẩu như một nghiệp vụ của ngân hàng, do đó chưa có sự đầu tư và triển khai hợp lý đối với loại hình này.

  • c. Về phía các Cơ quan quản lý nhà nước

Tại Việt Nam hiện nay chưa có một cơ quan hay tổ chức nào chịu trách nhiệm điều hành quản lý và thực hiện mô hình bảo hiểm tín dụng xuất khẩu. Bên cạnh đó, chưa có một văn bản pháp lý hoàn chỉnh nào quy định cụ thể về việc hướng dẫn chuẩn bị để tiến hành thực hiện hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu . Đây chính là một trong những trở ngại khiến cho loại hình hỗ trợ tín dụng xuất khẩu này không phát huy được hết hiệu quả, đồng thời tăng thêm sự lúng túng, bị động của các doanh nghiệp xuất khẩu vốn đã mang nặng tư tưởng trông chờ vào những hướng dẫn, hỗ trợ của Nhà nước.

Qua phân tích những hạn chế còn tồn tại ở trên, có thể nói, hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu ở Việt Nam còn gặp rất nhiều khó khăn và trở ngại trong quá trình hình thành và phát triển một mô hình bảo hiểm tín dụng xuất khẩu hoàn thiện, phù hợp với thực tiễn nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Tuy nhiên, cũng không thể phủ nhận rằng thị trường bảo hiểm tín dụng xuất khẩu ở nước ta sẽ trở nên vô cùng hứa hẹn trong tương lai nếu như có những chính sách và giải pháp phát triển phù hợp, đúng đắn. Những nhận định, phân tích các khó khăn và nguyên nhân hạn chế còn tồn tại được đưa ra ở chương II này sẽ là cơ sở và nền tảng để từ đó đề tài xây dựng những giải pháp và kiến nghị nhằm phát triển hoạt động bảo hiểm tín dụng tại Việt Nam trong tương lai được trình bày ở chương sau – chương III: “Định hướng và giải pháp kiến nghị để phát triển thị trường bảo hiểm tín dụng xuất khẩu tại Việt Nam trong thời gian tới”. Khóa luận: Thực trạng về hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>> Khóa luận: Giải pháp về hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Contact Me on Zalo
0877682993
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x