Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Ngoại thương nhìn lại một năm sau khi gia nhập WTO hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Khóa luận: Ngoại thương việt nam- nhìn lại một năm sau khi gia nhập WTO và những giải pháp kiến nghị trong thời gian tới dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
Nội dung chính
LỜI MỞ ĐẦU
Hội nhập và phát triển hiện đang là mục tiêu chính của nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Tiếp tục mở rộng quan hệ KTĐN theo hướng đa phương hoá, đa dạng hoá chủ động theo quá trình tự do hoá thương mại theo lộ trình phù hợp với điều kiện của Việt Nam sẽ là đòn bẩy tất yếu cho chiến lược CNH-HĐH và tăng trưởng kinh tế đất nước.
Sau nhiều vòng đàm phán gay go và căng thẳng, ngày 7/11/2024 Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại quốc tế WTO. Việc gia nhập WTO đã mở ra cho nền kinh tế VN những thời cơ to lớn, giúp đất nước ngày càng hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới, rút ngắn khoảng cách với các nước kinh tế phát triển.
Chỉ sau 1 năm gia nhập WTO (2025-2026) Kinh tế Việt Nam đã gặt hái được những kết quả đáng mừng. Cũng như nhiều ngành kinh tế khác, Ngoại thương sau một năm gia nhập WTO đã có những bước tiến dài, không ngừng đi lên, trở thành một trong những ngành kinh tế chủ chốt góp phần không nhỏ vào quá trình xây dựng và phát triển đất nước. Bên cạnh những thành công bước đầu ấy, thực tế trong một năm qua đã cho thấy ngoại thương nước ta trong thời kì đầu hội nhập vẫn còn tồn tại rất nhiều hạn chế, kìm hãm sự “cất cánh” của nền kinh tế VN nói chung và ngành ngoại thương nói riêng. Vậy làm thế nào để chúng ta có thể hạn chế những bất cập này, đồng thời tận dụng tối đa các lợi thế mà WTO mang lại để thúc đẩy ngành ngoại thương VN? Xuất phát từ những trăn trở này, em quyết định chọn đề tài “ ngoại thương VN- nhìn lại một năm sau gia nhập WTO và những giải pháp kiến nghị trong thời gian tới” với mong muốn đưa ra cái nhìn tổng quan về ngoại thương VN sau một năm gia nhập từ đó đưa ra một số kiến nghị về giải pháp pháp triển trong thời gian tới.
- Mục tiêu nghiên cứu: Khóa luận: Ngoại thương nhìn lại một năm sau khi gia nhập WTO.
Mục tiêu nghiên cứu của khoá luận là những nguyên tắc chung của tổ chức thương mại quốc tế trong lĩnh vực ngoại thương, và tình hình ngoại thương VN sau một năm gia nhập với những thành tựu đạt được, những mặt hạn chế cần khắc phục và cơ hội thách thức trong tương lai. Khoá luận cũng cố gắng đưa ra một số kiến nghị để phát triển hoạt động ngoại thương Việt Nam trong giai đoạn tới.
- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khoá luận là ngành ngoại thương Việt Nam sau 1 năm gia nhập WTO, (cuối năm 2024 – đầu năm 2026). Bên cạnh đó bài khoá luận này còn hướng tới nghiên cứu những tác động của WTO tới tình hình phát triển của ngoại thương Việt Nam, những chuyển biến của ngành ngoại thương trước và sau khi gia nhập.
- Phương pháp nghiên cứu
Khoá luận sử dụng phương pháp thu thập tổng hợp so sánh đối chiếu các nguồn tài liệu được sử dụng của cả trong nước, nước ngoài, trên mạng và qua các khảo sát riêng của chính tác giả để phân tích đánh giá.
Kết cấu khoá luận gồm 3 chương:
- Chương 1: Những nguyên tắc chung của TCTM thế giới và tình hình ngoại thương Việt Nam khi gia nhập WTO.
- Chương 2: Phân tích thực trạng hoạt động ngoại thương Việt Nam 1 năm sau gia nhập WTO.
- Chương 3: Một số giải pháp kiến nghị phát triển hoạt đông ngoại thương trong thời gian tới.
Do trình độ và thời gian nghiên cứu còn hạn chế nên chắc chắn bài khoá luận này không thể tránh khỏi những sai sót, em rất mong nhận được sự góp ý của các thầy cô và các bạn.
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới TS . Nguyễn Thị Thanh Minh, người đã tận tình chỉ bảo giúp đỡ em trong suốt quá trình làm bài khoá luận này. Em cũng gửi lời biết ơn sâu sắc đến tất cả tập thể giáo viên trong trường ĐH Ngoại Thương, bố mẹ, bạn bè những người luôn ở bên động viên, giúp đỡ em vượt qua mọi khó khăn khi còn ngồi trên ghế nhà trường.
CHƯƠNG 1 NHỮNG NGUYÊN TẮC CHUNG CỦA TỔ CHỨC TMQT VÀ TÌNH HÌNH NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM TRƯỚC KHI GIA NHẬP WTO.
1.1. CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA WTO
1.1.1. Nguyên tắc Cơ bản
1.1.1.1. Không phân biệt đối xử
- Nguyên tắc tối huệ quốc MFN: Khóa luận: Ngoại thương nhìn lại một năm sau khi gia nhập WTO.
Theo các hiệp định của WTO, các quốc gia thành viên không thể đối xử phân biệt giữa các đối tác thương mại của mình. Khi cho một quốc gia hưởng ưu đãi đặc biệt nào đó, thì nước đó cũng phải cho các thành viên khác trong WTO được hưởng những ưu đãi giống như vậy. Nguyên tắc này quan trọng tới mức nó đựơc đưa vào Điều 1 Hiệp định GATT, điều 2 hiệp định GATs. MFN cũng là một ưu tiên của hiệp đinh TRIPS thể hiện trong điều 4 mặc dù nguyên tắc này trong mỗi hiệp định có khác nhau đôi chút. Tuy nhiên cũng có vài trường hợp ngoại lệ. Ví dụ như các nước có thể kí với nhau một hiệp định thương mại tự do áp dụng cho hàng hoá mua bán trong nội bộ khối đó, tức là có sự phân biệt đối xử với hàng hoá của các nước ngoài khối. Hoặc là hàng hoá các nước đang phát triển được hưởng những ưu đãi đặc biệt khi vào thị trường các nước phát triển. Nói chung, MFN có nghĩa là một khi đã hạ thấp rào cản thương mại hay mở cửa thị trường thì quốc gia đó phải đối xử tương tự đối với hàng hoá của tất cả các đối tác thương mại của mình, là thành viên của WTO.
- Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia (NT)
Đối xử với nước ngoài và trong nước như nhau. Hàng hoá nhập khẩu và hàng hoá trong nước được đối xử như nhau, ít nhất là khi hàng hoà nước ngoài vào đến thị trường trong nước. Sự đối xử bình đẳng cũng được áp dụng tương tự với dịch vụ, thương hiệu, bản quyền và patent của nước ngoài và trong nước. Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia đựơc thể hiện trong cả 3 hiệp định chính trong WTO, ở điều 3 của GATT, điều 17 của GATS, điều 3 của TRIPs. Nguyên tắc này chỉ được áp dụng khi hàng hoá dịch vụ hay một nội dung của QSHTT đã vào thị trường trong nước, Vì thế đánh thuế nhập khẩu không vi phạm nguyên tắc này mặc dù hàng hoá trong nước không phải chịu một loại thuế tương tự.
1.1.1.2. Tự do thương mại hơn thông qua đàm phán
Hạ thấp các rào cản thương mại là một trong những biện pháp thúc đẩy thương mại rõ ràng nhất. Các rào cản liên quan bao gồm thuế XNK (hay thuế quan) và các biện pháp phi thuế quan như cấm NK, quota giấy tờ thủ tục hành chính….Các vòng đàm phán ban đầu của GATT chỉ tập trung vào vấn đề giảm thuế quan đánh vào hàng NK. Kết quả của một loạt các các vòng đàm phán là đến giữa những năm 2008, mức thuế quan đánh vào hàng công nghiệp của các nước công nghiệp giảm mạnh chỉ còn dưới 4% [35, tr.11]. Vào những năm 1980, các vòng đàm phán đã mở rộng sang các rào cản hàng hoá phi thuế và tất cả các lĩnh vực mới như dịch vụ và QSHTT. Mở của thị trường cũng có thể mang lại nhiều lợi ích, nhưng nó cũng đòi hỏi phải có sự điều chỉnh. Các hiệp định của WTO cho phép các nước thay đổi từ từ, thông qua “quá trình tự do hoá dần dần” (progressive liberalization). Các nước đang phát triển thường có thời gian lâu hơn để thực hiện các nghĩa vụ của mình.
1.1.1.3. Dễ dự đoán thông qua ràng buộc các cam kết và minh bạch Khóa luận: Ngoại thương nhìn lại một năm sau khi gia nhập WTO.
Đôi khi, cam kết không tăng một rào cản thương mại có thể quan trọng như hạ thấp một rào cản thương mại, bởi vì cam kết đó giúp doanh nghiệp có cái nhìn rõ ràng hơn về các cơ hội trong tương lai. Nhờ ổn định và có thể dự báo trước được, nhà nước có thể khuyến khích đầu tư, tạo công ăn việc làm và người tiêu dùng được hưởng nhiều lợi ích từ cạnh tranh. Hệ thống thương mại đa phương được hình thành là nỗ lực của các chính phủ tạo ra một môi trường kinh doanh ổn định và dễ dự đoán.
Trong WTO, khi các nước đồng ý mở của thị trường hàng hoá hoặc dịch vụ là họ đã ràng buộc các cam kết của mình. Đối với hàng hoá, các cam kết này lên tới hầu hết các mức thuế quan. Một nước có thể thay đổi các cam kết của mình nhưng chỉ sau khi đã đàm phán với các đối tác thương mại của mình, điều đó có thể có nghĩa là nước đó phải bồi thường cho các thiệt hại thương mại của các nước kia. Một trong những thành tựu của vòng đàm phán Uruguay sau các cuộc đàm phán đa phương là tăng khối lượng thương mại nhờ các cam kết.
WTO cũng cố gắng tăng tính dễ dự đoán và độ ổn định bằng nhiều cách khác. Một trong những cách đó là không khuyến khích dùng quota và các biện pháp hạn chế số lượng NK vì việc quản lí quota có thể dẫn tới quan liêu hành chính và các cáo buộc về bất bình đẳng trong phân bổ quota. Một biện pháp khác là buộc qui tắc thương mại của các nước càng rõ ràng, càng công khai càng tốt. Nhiều hiệp định của WTO yêu cầu chính phủ của các nước phải công bố chính sách và thực tiễn của mình công khai trong nước hoặc báo cho WTO. Sự giám sát chính sách thương mại quốc gia thường xuyên thông qua Cơ chế Rà soát Chính sách thương mại cũng mang tới thêm một biện pháp khuyến khích minh bạch ở cả trong nước và ở cấp đa phương.
1.1.1.4. Thúc đẩy cạnh tranh bình đẳng
WTO đôi khi được miêu tả là một tổ chức “ thương mại tự do”, nhưng điều đó không đúng hoàn toàn. Tổ chức này cho phép sử dụng thuế quan và các hình thức bảo hộ khác trong một số trường hợp nhất định. Chính xác hơn, đó là một hệ thống các nguyên tắc để cạnh tranh rộng rãi bình đẳng và không bị bóp méo.
1.1.2. Các Hiệp định chính của WTO Khóa luận: Ngoại thương nhìn lại một năm sau khi gia nhập WTO.
WTO có 16 hiệp định chính và các qui định với tổng số tài liệu lên đến hơn 3 vạn trang. Các hiệp định chính trong WTO gồm:
- Hiệp định GATT năm 2012
- Hiệp định về nông nghiệp
- Hiệp định về Hàng Dệt và May mặc (kết thúc vào 1/1/2023)
- Hiệp định hàng rào kỹ thuật trong thương mại( TBT)
- Hiệp định TRIMS
- Hiệp định thực thi điều VI của GATT 2012 (về chống bán phá giá)
- Hiệp định thực thi điều VII của GATT 2012 (về xác định trị giá hải quan)
- Hiệp định về giám định hàng hoá trước khi xếp hàng
- Hiệp định về qui tắc xuất xứ
- Hiệp định về thủ tục cấp phép NK
- Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng
- Hiệp định các biện pháp tự vệ
- Hiệp định GATS
- Hiệp định TRIPs
- Thoả thuận về các qui tắc và thủ tục điều chỉnh việc giải quyết tranh chấp
- Cơ chế rà soát Chính sách thương mại
Tuy nhiên do khuôn khổ có hạn nên khoá luận chỉ đề cập đến 4 hiệp định cơ bản điều chỉnh các lĩnh vực thương mại hàng hoá, thương mại dịch vụ, đầu tư và SHTT có liên quan tới thương mại.
1.1.2.1. Hiệp định GATT
WTO thừa nhận thuế quan là công cụ hợp pháp duy nhất để bảo hộ các ngành sản xuất trong nước. Các hàng rào bảo hộ phi thuế quan phải được bãi bỏ. Có như vậy, thuế quan mới mới trở thành biện pháp bảo hộ ít bóp méo thương mại nhất và cũng là biện pháp minh bạch hơn cả. Thuế quan phải được áp dụng trên nguyên tắc MFN cho tất cả những thành viên của WTO. Khi một thành viên cam kết “ràng buộc” thuế suất đối với một dòng thuế, thành viên đó không được nâng thuế nhập khẩu cao hơn mức ràng buộc đó. Đối với nông sản, các nước thành viên cam kết ràng buộc thuế quan đối với toàn bộ các mặt hàng. Trong lĩnh vực công nghiệp, các nước phát triển ràng buộc thuế 99% số mặt hàng, các nước đang phát triển 73% và các nước có nền kinh tế chuyển đổi 98%. Khóa luận: Ngoại thương nhìn lại một năm sau khi gia nhập WTO.
- Bảng 1: Phần trăm các dòng thuế quan được cam kết trước và sau các cuộc đàm phán từ 1986- 2012
Sau khi ràng buộc thuế, các nước phải không ngừng cam kết cắt giảm thuế quan. Ví dụ, tại vòng đàm phán Uruguay trong lĩnh vực nông nghiệp, các nước phát triển cam kết cắt giảm trung bình 36% tính gộp với tất cả các dòng thuế, cắt giảm tối thiểu 15% một dòng, tiến hành trong 6 năm kể từ 1/2013 trong lĩnh vực công nghiệp, tuy không phải ràng buộc toàn bộ các dòng thuế nhưng xu hướng cắt giảm diễn ra mạnh mẽ “thuế quan theo ngành” và “hài hoà thuế quan” [3, tr.13]. Thuế quan của tất cả các mặt hàng trong ngành cắt giảm theo các hình thức này có mức thuế rất thấp (thậm chí bằng 0%) đối với các sản phẩm CNTT, dược phẩm, một số một số sản phẩm kim loại, gỗ, bột giấy….
Các biện pháp phi thuế quan như hạn chế số lượng phải tiến hành “thuế hoá” (tức là chuyển thành một mức thuế quan có tác dụng tương đương). Các nước chỉ có thể sử dụng các biện pháp phi thuế quan để hạn chế nhập khẩu trong những trường hợp cần thiết để bảo đảm an ninh quốc gia, văn hoá truyền thống, môi trường sức khoẻ con người…Trong nông nghiệp, người ta còn sử dụng hạn ngạch thuế quan. Mức thuế sau khi thuế hoá sẽ tiếp tục được ràng buộc và cắt giảm hơn nữa thông qua đàm phán.
Về trị giá tính thuế hải quan và các phụ thu tại cửa khẩu: WTO quy định trị giá tính thuế hải quan là trị giá giao dịch (thường là giá trị hợp đồng), nếu không áp dụng được trị giá giao dịch thì phải sử dụng những cách tính khác nhưng không đựơc sử dụng giá tối thiểu để tính thuế; hải quan chỉ được thu các khoản phí và lệ phí tương ứng với các khoản chi phí cần thiết cho việc thông quan, WTO không cho phép thu các khoản phí và phụ thu vì các mục đích bảo hộ hay thu ngân sách.
Về thủ tục cấp phép nhập khẩu: WTO quy định cấp phép nhập khẩu phải đơn giản, rõ ràng và dễ dự đoán. Chính phủ phải công bố đầy đủ thông tin cho các nhà kinh doanh biết giấy phép được cấp như thế nào và căn cứ để cấp. Khi đặt ra các thủ tục cấp phép nhập khẩu mới hay thay đổi các thủ tục hiện tại, các thành viên phải thông báo theo những qui định cụ thể cho WTO. Các biện pháp bảo vệ tạm thời như thuế chống bán phá giá, thuế đối kháng và hành động tự vệ khẩn cấp được WTO cho phép sử dụng theo những qui định nghiêm ngặt trong các trường hợp đặc biệt.
Các mặt hàng nhạy cảm như sản phẩm nông nghiệp và hàng dệt may còn được điều chỉnh bởi những hiệp định riêng như Hiệp định về Nông nghiệp và Hiệp định về hàng dệt và quần áo (ATC).
1.1.2.2. Hiệp định GATS Khóa luận: Ngoại thương nhìn lại một năm sau khi gia nhập WTO.
GATS là bộ quy tắc đa phương đầu tiên và duy nhất điều chỉnh thương mại dịch vụ giữa các nước thành viên. GATS ngày càng được phát triển trước tốc độ tăng trưởng như vũ bão của nền kinh tế dịch vụ và tiềm năng thương mại dịch vụ ngày càng lớn do cuộc cách mạng thông tin mang lại.
GATS chia dịch vụ thành 155 phân ngành thuộc 12 ngành:
- Dịch vụ kinh doanh: gồm các dịch vụ chuyên môn như kế toán, kiểm toán, kiến trúc, cơ khí và các dịch vụ kinh doanh khác (quảng cáo, nghiên cứu thị trường, tư vấn, vi tính).
- Dịch vụ truyền thông: Gồm bưu chính viễn thông và các dịch vụ nghe nhìn
- Xây dựng và các dịch vụ cơ khí kĩ thuật có liên quan
- Phân phối: Bán buôn, bán lẻ và nhượng quyền kinh doanh
- Các dịch vụ có liên quan đến y tế và dịch vụ xã hội
- Du lịch và các dịch vụ có liên quan tới đi lại
- Giáo dục
- Dịch vụ môi trường
- Dịch vụ tài chính: Gồm bảo hiểm, ngân hàng và các dịch vụ có liên quan đến phát hành chứng khoán, ký nhận và quản lí tái sản.
- Các dịch giải trí văn hoá thể thao
- Dịch vụ vận tải
- Các dịch vụ khác không nằm trong các ngành trên
Theo GATS các dịch vụ được cung cấp qua 4 phương thức:
- Mode 1: Cung cấp qua biên giới nghĩa là dịch vụ được cung cấp từ nước này qua nước khác, ví dụ như các cuộc gọi điện quốc tế
- Mode 2: Tiêu dùng ở nước ngoài nghĩa là người tiêu dùng sử dụng các dịch vụ ở nước ngoài, như đi du lịch nước ngoài,
- Mode 3: Hiện diện thương mại nghĩa là một công ty thành lập công ty con, chi nhánh hay liên doanh để cung cấp dịch vụ ở nước ngoài. Hình thức cung cấp dịch vụ này có liên quan tới hoạt động FDI.
- Mode 4: Hiện diện của tự nhiên nhân nghĩa là các cá nhân di chuyển từ nước nọ sang nước kia để cung cấp dịch vụ, ví dụ như những người mẫu thời trang, ca sĩ đi lưu diễn nước ngoài hay các tư vấn viên.
Tóm lại, GATS đã đưa ra các nghĩa vụ quan trọng chung như nguyên tắc MFN, công khai, công nhận lẫn nhau, các qui tắc luật lệ độc quyền và nhượng quyền kinh doanh trong cung cấp dịch vụ, đối xử quốc gia, mở của thị trường và các luật lệ trong nước.
Về mở cửa thị trường dịch vụ, GATS không xác định các nghĩa vụ chung cho các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài quyền thâm nhập thị trường, nhưng các thành viên nên đàm phán về mỗi một lĩnh vực dịch vụ và mỗi một phương thức cung cấp dịch vụ. Một số nước đã cam kết mở của thị trường trong khung cam kết trước. Các nước được phép hạn chế độ mở cửa thị trường tới một mức nào đó thông qua các hạn chế về: số nhà cung cấp dịch vụ, tổng số giao dịch và tổng lượng giao dịch, tổng số nhân viên làm trong một lĩnh vực hoặc làm cho một nhà cung cấp dịch vụ, phần trăm cổ phần nước ngoài trong tổng số cổ phần hoặc tổng số đầu tư nước ngoài. Khóa luận: Ngoại thương nhìn lại một năm sau khi gia nhập WTO.
Một trong những qui tắc của GATS là tự do hoá từ tự do mức độ phát triển khác nhau của các thành viên. Các nước đang phát triển được phép mở cửa thị trường hẹp hơn và ít tự do hơn trong các loại dịch vụ, họ cũng có thể duy trì mức độ bảo hộ tổng thể và trong một số lĩnh vực ở mức cao hơn các nước phát triển, còn các nước phát triển phải tạo điều kiện thuận lợi cho các nước đang phát triển tiếp cận thị trường của mình.
1.1.2.3. Hiệp định TRIMs
Các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại bao gồm các qui định của nước nhận đầu tư đối với đầu tư nước ngoài có tác động tới thương mại hàng hoá. Trong quá trình đàm phán tại vòng Uruguay các thành viên có nêu ra một số biện pháp đầu tư có liên quan đến thương mại là:
- Yêu cầu tỉ lệ nội địa hoá ( local content requirements): Qui định tỷ lệ nguyên liệu mua tại nước nhận đầu tư được dùng làm đầu vào sản xuất của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
- Yêu cầu về xuất khẩu (Export performance Requirements): Qui định nhà đầu tư phải XK một tỷ lệ sản phẩm nhất định.
- Yêu cầu cân bằng mậu dịch (Trade Balance requirements): qui định lượng NK của nhà đầu tư nước ngoài không được vượt quá lượng XK hoặc ở một tỷ lệ nào đó.
- Yêu cầu tiêu thụ nội địa (Domestic Sales requirements) Qui định tỷ lệ sản phẩm được phép tiêu thụ trên thị trường nội địa.
- Hạn chế chuyển ngoại hối (Remittance Restrictions): bao hàm các qui định chuyển lợi nhuận, tiền vốn, lãi cổ phần và các khoản tiền liên qua khác ra nước ngoài.
- Hạn chế sản xuất (Manufacturing Limitation) Cấm nhà ĐTNN sản xuất một sản phẩm nào đó.
- Yêu cầu về sản xuất (Manufacturing requirements): qui định một số sản phẩm phải được sản xuất tại địa phương.
- Yêu cầu sản phẩm chỉ định (Product Mandating requirements): qui định các nhà ĐTNN nhất thiết phải sản xuất sản phẩm chỉ định và XK đến các thị trường nước ngoài qui định.
- Yêu cầu cấp giấy phép (Licensing Requirements): buộc các nhà ĐTNN cấp giấy phép cho các công nghệ tương tự hay khác với các công nghệ mà nhà đầu tư đó dùng trong nước họ đối với các hãng của nước nhận đầu tư.
- Yêu cầu chuyển giao công nghệ (Technology Trasfer Requirements): qui định các công nghệ chỉ định cần được chuyển giao theo các điều khoản phi thương mại và/ hoặc ở một mức độ cụ thể và một số hoạt động R&D cần được tiến hành tại các nước nhận đầu tư. Khóa luận: Ngoại thương nhìn lại một năm sau khi gia nhập WTO.
- Yêu cầu tỷ lệ cổ phần trong nước (Local Equity Requirements): Qui định số phần trăm cổ phần cuả một hãng phải do các nhà đầu tư trong nước nắm giữ.
Điều 2 Hiệp định TRIMs qui định không một nước thành viên nào được áp dụng các biện pháp đối xử chống lại người nước ngoài và hàng hoá nước ngoài, tức là không được vi phạm nguyên tắc NT (Điều 3 GATT 2012) và không cho phép sử dụng các biện pháp đầu tư có thể dẫn tới hạn chế số lượng (Điều 11 GATT 2012). Có 5 biện pháp đầu tư cụ thể bị cấm là : yêu cầu tỉ lệ nội địa hoá, yêu cầu cân bằng mậu dịch, yêu cầu cân bằng mậu dịch dẫn tới hạn chế NK, hạn chế giao dịch ngoại hối dẫn đến hạn chế NK, yêu cầu tiêu thụ nội địa dẫn đến hạn chế XK. Các nước thành viên phải thông báo cho WTO và các nước thành viên khác tất cả các biện pháp đầu tư không tuân thủ hiệp định. Đến 2020 tất cả các thành viên phải hoàn thành nghĩa vụ xoá bỏ toàn bộ các biện pháp không phù hợp với hiệp định TRIMs. Tuy nhiên, do gặp khó khăn trong việc xoá bỏ yêu cầu nội địa hoá, cân đối XNK, cân đối ngoại tệ.. nên một số nước thành viên như Argentina, Chile, Mexico… đã xin gia hạn áp dụng các biện pháp nói trên.
1.1.2.4. Hiệp định TRIPs
Hiệp định TRIPs được đàm phán trong vòng Uruguay đã lần đầu tiên đưa vào hệ thống thương mại thế giới các nguyên tắc về sở hữu trí tuệ. Hiệp định TRIPs được xây dựng dựa trên các công ước quốc tế hiện hành có liên quan đến QSHTT và đã đưa phần lớn các điều khoản của các công ước như: Công ước Paris 1967 về bảo hộ sở hữu công nghiệp, Công ước Berne 1971 về bảo hộ các tác phẩm văn học nghệ thuật, Công ước Rome 1961 về bảo hộ người trình diễn, nhà sản xuất băng đĩa ghi âm và các tổ chức phát thanh truyền hình… Hiệp định TRIPs đã đưa ra tiêu chuẩn tối thiểu để bảo hộ QSHTT trong các lĩnh vực bản quyền và các quyền liên quan, thương hiệu hàng hoá và dịch vụ, chỉ dẫn địa lí, kiểu dáng công nghiệp, sáng chế. Hiệp định cũng bao gồm các điều khoản về nguyên tắc và biện pháp nhằm thực hiện QSHTT và về việc thành lập một cơ chế hiệp thương, giám sát cấp quốc tế để đảm bảo tuân thủ các tiêu chuẩn của các thành viên ở cấp độ quốc gia.
Các điều khoản của hiệp định TRIMs được chia thành 5 nhóm lớn đó là:
- Các nguyên tắc cơ bản và nghĩa vụ chung
- Những tiêu chuẩn bảo hộ tối thiểu, thời hạn bảo hộ và việc giám sát các biện pháp chống cạnh tranh trong giấy phép hợp đồng Khóa luận: Ngoại thương nhìn lại một năm sau khi gia nhập WTO.
- Các biện pháp bảo đảm thực thi QSHTT
- Cơ chế giải quyết tranh chấp về SHTT giữa các thành viên
- Thoả thuận đặc biệt về thời kì chuyển đổi để thực hiện các qui định ở cấp quốc gia.
QSHTT (trừ thương hiệu, chỉ dẫn địa lý, và thông tin không được tiết lộ) được bảo hộ trong một thời gian nhất định. Thời hạn bảo hộ có khác nhau giữa các nước, còn hiệp định TRIPs đưa ra thời gian cụ thể là:
- Văn bằng sáng chế: 20 năm kể từ ngày nhận hồ sơ đăng kí văn bằng sáng chế.
- Bản quyền các tác phẩm không phải là điện ảnh tranh ảnh: 50 năm kể từ ngày được phổ biến hoặc trong suốt thời gian tác giả sống cộng thêm 50 năm.
- Tác phẩm điện ảnh: 50 năm sau khi tác phẩm được phổ biến ra công chúng hoặc từ khi tác phẩm đó ra đời.
- Tác phẩm tranh: 25 năm kể từ khi tác phẩm đó ra đời
- Thương hiệu: 7 năm kể từ lần đăng kí đầu tiên và sau mỗi lần gia hạn sau đăng kí
- Người biểu diễn và sản xuất băng đĩa ghi âm: 50 năm kể từ khi kết thúc năm mà băng đĩa được ghi hoặc khi chương trình biểu diễn được thực hiện
- Kiểu dáng công nghiệp: ít nhất là 10 năm
- Thiết kế bố trí mạch tổ hợp: 10 năm kể từ ngày đăng kí hoặc kể từ ngày khai thác đầu tiên
Trong thời gian bảo hộ người nào muốn sử dụng phải được sự đồng ý của chủ SHTT. Sau thời gian bảo hộ, bất kì ai trong công chúng đều có thể khai thác các tài sản trí tuệ mà không cần xin phép chủ SHTT nữa.
1.1.3. Các qui định của WTO về đối xử đặc biệt đối với các nước đang và kém phát triển Khóa luận: Ngoại thương nhìn lại một năm sau khi gia nhập WTO.
Các qui định của WTO về đối xử đặc biệt và khác biệt (Special and Differential Treatment- S&D) dành cho các nước đang và kém phát triển được chia thành 3 nhóm chính
1.1.3.1. Nhóm các biện pháp S&D để tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại các nước đang và kém phát triển
- Các biện pháp ưu đãi đơn phương của các nước phát triển dành cho các nước đang phát triển. Các ưu đãi này gồm có:
Thứ nhất, hệ thống thuế ưu đãi phổ cập (GSP). Hệ thống GSP là biện pháp đơn phương do các nước phát triển đưa ra để áp dụng riêng cho các nước đang phát triển. Hệ thống GSP qui định rằng, hàng hoá nhập từ các nước đang và kém phát triển sẽ được hưởng chế độ miễn thuế nhập khẩu ( thuế suất bằng 0) hoặc hưởng thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi. Hệ thống GSP sẽ được áp dụng khi các nước khi các nước phát triển nhập khẩu các sản phẩm công nghiệp và một số sản phẩm nông nghiệp từ các nước đang và kém phát triển.Nếu được hưởng GSP, hàng hoá các nước này có khả năng cạnh tranh khi thâm nhập vào thị trường các nước phát triển. Tuy nhiên, vị hệ thống này là các biện pháp có tính đơn phương do các nước phát triển đưa ra nên bị các nước phát triển đưa ra một số điều kiện để hạn chế. Ví dụ như, các nước phát triển qui định hàng nhập khẩu phải theo một số lượng nhất định trong hạn ngạch mới được hưởng GSP. Các nước đang phát triển đã trở nên có khả năng cạnh tranh hoặc đã chuyển sang giai đoạn phát triển cao hơn sẽ không được hưởng GSP nữa. Bên cạnh đó, một số nước phát triển cũng đã sử dụng hệ thống GSP như một vũ khí chính trị để đối phó với các nước.
Thứ hai, những đối ưu đãi hơn đối với các nước kém phát triển nhất. Qui định này của WTO được thông qua tại Hội nghị Bộ trưởng của WTO vào năm 2015 với tên gọi là “ Những sáng kiến hội nhập dành cho sự phát triển thương mại của những nước kém phát triển nhất. Sáng kiến này cho phép tất cả các loại hàng hoá của các nước kém phát triển nhất được nhập khẩu vào các nước thành viên WTO trên cơ sở miễn thuế hoặc không bị giới hạn bởi những qui định có tính hạn chế khác. Hệ thống GSP sẽ phải dành cho các nước kém phát triển nhất những ưu đãi cao hơn mức ưu đãi dành cho các nước đang phát triển. Những hạn chế như hạn ngạch hay tính cạnh tranh cao hơn của một nước sẽ không áp dụng với những nước kém phát triển nhất.
- Các biện pháp ưu tiên trong đàm phán thương mại về cắt giảm và loại bỏ thuế MFN.
WTO cũng đưa ra các qui định kêu gọi các nước phát triển phải dành ưu tiên cao hơn cho các nước đang và kém phát triển trong đàm phán thương mại về cắt giảm thuế, thậm chí xoá bỏ thuế MFN đối với sản phẩm có tiềm năng xuất khẩu của các nước này, cùng như xoá bỏ các biện pháp phi thuế quan cản trở về buôn bán các sản phẩm đó. Các qui định này được nêu ra trong phần IV điều XXXVII của Hiệp định GATT. Phần VI của hiệp định GATT cũng đưa ra các qui định khuyến khích các nước đang phát triển thực hiện các biện pháp ưu tiên trong đàm phán về cắt giảm và loại bỏ thuế nói trên đối với các sản phẩm nhập khẩu từ các nước đang phát triển khác. Khóa luận: Ngoại thương nhìn lại một năm sau khi gia nhập WTO.
1.1.3.2. Nhóm các qui định S&D dành cho các nước đang và kém phát triển thể hiện ở sự cho phép các nước này có sự linh hoạt khi chấp nhận các nghĩa vụ theo các hiệp định của WTO
- Cho phép sự linh hoạt trong việc chấp nhận các nghĩa vụ bắt buộc theo các hiệp định của WTO
Trong lĩnh vực thương mại dịch vụ, điều XIX Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS) đã cho phép các nước đang phát triển có những linh hoạt nhất định để mở của ít ngành dịch vụ hơn hoặc tự do hoá ít loại hình giao dịch hơn trong đàm phán thương mại. Điều XIX cũng thừa nhận rằng, khả năng mở cửa thị trường mà các nước đang phát triển đưa ra có thể phải tuân theo những điều kiện nhằm mục đích đẩy mạnh khả năng của các ngành dịch vụ trong nước và khả năng chuyển giao công nghệ thông qua thương mại.
Trong lĩnh vực thương mại hàng hoá, Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT) qui định rằng các cuộc đàm phán về cắt giảm thuế quan và các rào cản thương mại khác phải được thực hiện trên cơ sở có đi có lại. Tuy nhiên, các nước đang và kém phát triển không cần thiết phải có sự đóng góp vào các cuộc đàm phán thương mại ( dưới hình thức cắt giảm thuế và ràng buộc thuế) nếu những đóng góp như vậy không phù hợp với nhu cầu tài chính, phát triển và thương mại của họ. Những qui tắc trong phần VI của GATT còn qui định rằng, những đóng góp mà các nước đang và kém phát triển cần phải thực hiện phải phù hợp với giai đoạn phát triển của họ. Do vậy trong vòng đàm phán Uruguay, các nước đang phát triển đã giảm thuế thấp hơn mức mà các thành viên phát triển áp dụng. Ngoài ra, phần VI này cũng đưa ra các qui định kêu gọi giảm thuế chung trên cả biểu thuế trên cơ sở phần trăm sẽ không áp dụng với các nước đang và kém phát triển. Điều này có nghĩa là nguyên tắc có đi có lại sẽ không áp dụng với các nước đang và kém phát triển.
- Cho phép được hưởng một thời gian quá độ để tạo điều kiện cho các nước đang và kém phát triển chuẩn bị.
Hiệp định về xác định trị giá tính thuế hải quan (ACV) cho phép các nước đang và kém phát triển có thể hoãn áp dụng Hiệp định này trong 5 năm (nghĩa là chỉ phải áp dụng hiệp định này kể từ 01/01/2018). Ngoài ra nếu hết thời hạn năm năm này, các nước đang và kém phát triển có thể yêu cầu thêm 3 năm quá độ nữa đối với nghĩa vụ phải áp dụng phương pháp tính toán như hiệp định này yêu cầu.
Hiệp định TRIPs qui định các nước đang phát triển chỉ phải thực thi nghĩa vụ điều chỉnh pháp luật của nước mình cho phù hợp với các qui định của hiệp định TRIPs từ 01/01/2018, còn các nước kém phát triển nhất sẽ áp dụng kể từ 01/01/2024. Trong lĩnh vực bảo hộ sáng chế về các sản phẩm công nghệ, các nước đang phát triển được hưởng một thời gian kéo dài cho đến ngày 01/01/2023. Riêng đối với dược phẩm, việc thực thi các qui định của Hiệp định TRIPs về bảo hộ sáng chế sẽ được kéo dài đến ngày 01/01/2016 [25]. Khóa luận: Ngoại thương nhìn lại một năm sau khi gia nhập WTO.
1.1.3.3. Nhóm các qui định về hỗ trợ kỹ thuật.
WTO cũng đưa ra các qui định kêu gọi các thành viên phát triển phải cố gắng cung cấp hỗ trợ kỹ thuật cho các nước đang và kém phát triển nhằm giúp họ hoàn thiện hệ thống pháp luật, thể chế và nâng cao năng lực thực thi các nghĩa vụ, các cam kết của họ trong các hiệp định của WTO. Thực hiện các qui định trên, Ban thư kí WTO thường xuyên tổ chức các chương trình đào tạo và tập huấn cho các cán bộ đàm phán của các nước đang phát triển để giúp họ làm quen với hệ thống WTO và nâng cao kỹ năng đàm phán. Ban thư ký WTO cũng đã phối hợp với Chính phủ các nước và tổ chức khác như UNDP, UNCTAD… trong việc cung cấp hỗ trợ kỹ thuật cho các nước đang và kém phát triển. Đặc biệt, để có thể trợ giúp kĩ thuật cho các nước đang và kém phát triển trong việc tham gia vào quá trình tranh tụng tại cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO, WTO đã thành lập trung tâm Tư vấn Luật. Trung tâm này có mục tiêu là đem lại cơ hội cho các nước đang và kém phát triển sử dụng hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO thông qua việc cung cấp các dịch vụ tư vấn, đào tạo và hướng dẫn nắm bắt và vận dụng các qui định của WTO. Các nước kém phát triển sẽ được miễn phí trong một số giờ tư vấn nhất định, còn đối với các nước đang phát triển sẽ được hưởng mức phí giảm hơn.
1.2. TÌNH HÌNH NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM TRƯỚC KHI GIA NHẬP WTO Khóa luận: Ngoại thương nhìn lại một năm sau khi gia nhập WTO.
1.2.1. Giai đoạn trước 1975
Sau chiến tranh thế giới thứ 2, Mỹ đã thi hành chính sách bao vây thương mại đối với các nước XHCN bằng đạo luật “an ninh chung”, Mĩ buộc các nước Tây Âu thực hiện chính sách phân biệt đối xử trong quan hệ ngoại thương với các nước XHCN. Trong bối cảnh như vậy, hoạt động buôn bán của Việt Nam với các nước bên ngoài chủ yếu nhằm vào các nước trong phe XHCN.
Sau khi hoà bình lập lại, ngoại thương Việt Nam có một bước chuyển rất cơ bản, Miền Bắc phải thực hiện hai nhiệm vụ: khôi phục và phát triển kinh tế chi viện cho Miền Nam. Ngoại thương thời kì này là hậu cần cho sản xuất đời sống chiến đấu. Các hoạt động XK diễn ra không nhiều, các hoạt động ngoại thương chủ yếu là NK. Trong các hoạt động nhập khẩu, việc dùng ngoại tệ của nhà nước trao đổi buôn bán hàng hoá rất ít. NK thực chất là sự tiếp nhận viện trợ của các nước bên ngoài.
Về đặc điểm chung, Ngoại thương Việt Nam giai đoạn này có 4 nét cơ bản. Thứ nhất, Nhà nước độc quyền trong các hoạt động ngoại thương. Trước năm 1957, nhà nước đã dần dần hạn chế vai trò của tư nhân trong các hoạt động ngoại thương và đi tới xoá bỏ hoàn toàn ngoại thương của tư nhân vào năm 1960. Kể từ năm 1960 mọi hoạt động ngoại thương đều do nhà nước độc quyền. Trong điều lệ quản lí ngoại thương số 512 của TTg- CP ra ngày 16/4/1955 điều 1 có qui định “Tự do nội thương, quản lí ngoại thương, bảo hộ thương nghiệp chính đáng dựa trên cơ sở bình đẳng hai bên cùng có lợi mà phát triển buôn bán giữa nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hoà và các nước trên thế giới”. Để thực hiện triệt để đường lối này nhà nước đã tiến hành một loạt các hoạt động cải tạo công thương nghiệp. Trong vòng 5 năm sau, Nhà nước đã nắm toàn bộ các hoạt động ngoại thương. Nếu như trong năm 1955 ngoại thương quốc doanh chiếm 77% tư doanh chiếm 23% thì cho đến năm 1960 quốc doanh đã chiếm 100% [3, tr.8]. Thứ 2 Cơ chế XNK chủ yếu là vay nợ và viện trợ. Các hoạt động ngoại thương được thực hiện thông qua 3 hình thức là: Hiệp định , nghị định thư, trao đổi công hàm và qui ước.
Trong vòng 20 năm, Miền Bắc thường xuyên nhập siêu vì XK không đủ thanh toán cho các khoản nhập khẩu. Cán cân thanh toán XNK ngày càng mất cân đối nghiêm trọng. Đặc điểm thứ 3, nhà nước bao cấp cho các hoạt động ngoại thương. Việc “bao cấp” này được thực hiện trên cái gọi là “bù chênh lệch ngoại thương”. Cơ chế bù chênh lệch ngoại thương là cơ chế đặc trưng cho nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung nhằm điều tiết các quan hệ kinh tế. Một trong những luận điểm kinh tế học XHCN thời kì đó là không thừa nhận giá trị thị trường, càng không thừa nhận giá trên thị trường TBCN. Giá hàng XNK phải được qui định căn cứ trên nhu cầu và lợi ích của nền kinh tế quốc dân.
Về cơ cấu tổ chức của ngành ngoại thương, ngày 2/4/1958 trong kỳ họp khoá 8 quốc hội đã qui định chia Bộ Thương Nghiệp thành 2 bộ là Bộ Ngoại thương và Bộ Nội thương.
- Sơ đồ bộ máy Bộ Ngoại Thương
Bảng 2: Thống kê XNK từ năm 1955-1975
1.2.2. Giai đoạn 1975-1985 Khóa luận: Ngoại thương nhìn lại một năm sau khi gia nhập WTO.
Lúc này đất nước đã thống nhất, Bắc Nam sum họp chúng ta có điều kiện và khả năng khai thác có hiệu quả tiềm năng của đất nước( đất đai, rừng biển, khí hậu, tài nguyên..) để đẩy mạnh XK, phát triển du lịch các dịch vụ ngoại tệ, phát triển ngoại thương mở rộng hợp tác kinh tế khoa học kỹ thuật với nước ngoài, thu hút vốn và kĩ thuật nước ngoài. Nhưng bên cạnh những thuận lợi mới, chúng ta cũng đứng trước những khó khăn gay gắt bắt nguồn từ trình độ phát triển kinh tế của cả nước còn thấp, cơ sở hạ tầng lạc hậu, kinh tế hàng hoá chưa phát triển, chưa có tích luỹ trong nội bộ nền kinh tế, phụ thuộc nặng nề vào bên ngoài. Mặt khác, chiến tranh triền miên đã kéo nền kinh tế nước nhà tụt hậu lại nhiều năm so với các nước khác đồng thời cũng gây ra những vết thương xã hội phải rất lâu mới có thể hàn gắn được. Trước tình hình đó, Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần IV (1976) đã nhấn mạnh tính tất yếu khách quan và tầm quan trọng của hoạt động Kinh tế đối ngoại, đặc điểm là ngoại thương đối với nền kinh tế nước ta từ sản xuất nhỏ đi lên CNXH. Công tác XNK vì vậy là một bộ phận rất quan trọng trong toàn bộ hoạt động kinh tế nước ta [10]. Phù hợp với xu hướng đó năm 1977 nước ta gia nhập Ngân hàng đầu tư quốc tế và ngân hàng Hợp tác quốc tế thuộc hội đồng tương trợ kinh tế. Cùng với chủ trương đó, ngành ngoại thương đã vượt qua khó khăn để tiếp tục phát triển. Dưới đây là kết quả hoạt động XNK giai đoạn 1976-1985.
Kim ngạch XK trong giai đoạn này tăng dần qua các năm. Tỷ lệ tăng trưởng bình quân 10 năm (1976-1985) của XK tăng cao hơn tỷ lệ tăng của tổng kim ngạch buôn bán 2 chiều của ngoại thương. Tuy vậy cán cân thương mại quốc tế luôn nhập siêu và nhập siêu có xu hướng gia tăng. Trong giai đoạn này, cơ chế quản lí tập trung bao cấp đã ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động ngoại thương, đặc biệt là XK và phát triển hàng XK. Nhằm khắc phục tình trạng trì trệ của nền kinh tế, Hội nghị ban chấp hành TƯ Đảng lần 6 (khoá IV) đã đề ra một số biện pháp cải biến cơ chế quản lí hoạt động ngoại thương, đặc biệt là quản lí XK. Tuy nhiên độc quyền ngoại thương vẫn là nguyên tắc chỉ đạo mọi hoạt động ngoại thương trong giai đoạn này (xem bảng 3).
- Bảng 3: Kim ngạch XNK Việt Nam 1976-1985
1.2.3. Giai đoạn 1986- cuối năm 2024
Công cuộc đổi mới, mở cửa nền kinh tế được Đảng Cộng Sản Việt Nam khởi xướng từ Hội Nghị TW Đảng lần 6 (khoá IV) họp 12/1986 . Từ đó đến nay, đất nước ta thực sự có những biến đổi sâu sắc. Hoạt động ngoại thương có những bước tiến vượt bậc. Nhờ thực hiện những chính sách mở cửa, đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ KTĐN đến nay Việt Nam đã tham gia kí kết các hiệp định thương mại song và đa phương, góp phần không nhỏ nhằm thúc đẩy sự phát triển của ngoại thương.
Giai đoạn 1986-2018 Khóa luận: Ngoại thương nhìn lại một năm sau khi gia nhập WTO.
- Bảng 4: Kim ngạch XNK 1986- 2018
Nhìn chung trong giai đoạn này tốc độ tăng trưởng XK luôn cao hơn so với tốc độ tăng trưởng của GDP và của tổng KN XNK và kim ngạch NK. Trong giai đoạn này, kim ngạch XK tăng 18 lần, trong khi đó kim ngạch XNK và kim ngạch NK chỉ tăng tương ứng là 10 lần và 7 lần. Về cán cân thương mại, tình trạng nhập siêu vẫn vẫn kéo dài trong giai đoạn này với đỉnh điểm là năm 2014, sau đó giảm dần ở các năm tiếp theo.
- Giai đoạn 2019-2024
Đây là giai đoạn 5 năm đầu thực hiện chiến lược phát triển XK của Việt Nam thời kì 2019-2028. Có thể nói đây là giai đoạn chứng kiến nhiều biến động lớn về kinh tế, chính trị, xã hội trên qui mô toàn thế giới. Đối với ngành ngoại thương nước ta, giai đoạn này, tốc độ tăng trưởng kim ngạch XNK trung bình đạt 17.48%/năm đã thể hiện những nỗ lực và quyết tâm lớn của Chính Phủ, các bộ ngành và các doanh nghiệp Việt Nam.
- Bảng 5: Kim ngạch XNK 2020-2023
Nhìn chung trong giai đoạn này ngoại thương Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn.
Qui mô và tốc độ tăng trưởng của XK đã được mở rộng, và tăng trưởng ở mức cao. Hầu hết các mục tiêu được đặt ra cho 5 năm đầu đều được hoàn thiện, một số mặt hàng còn vượt ở mức độ cao.
Cơ cấu hàng hoá XK đã chuyển dịch tích cực theo hướng tăng dần tỉ trọng nhóm hàng chế biến, chế tại những mặt hàng có công nghệ và chất xám cao, giảm dần XK hàng thô; nhiều mặt hàng xuất đã mở rộng qui mô sản xuất gia tăng giá trị hàng xuất khẩu như dệt may, giày dép, nông sản….Nhiều mặt hàng mới có tốc độ tăng trưởng cao đang đã và sẽ là những hạt nhân quan trọng trong cơ cấu XK hàng hoá của Việt Nam trong những năm tới như sản phẩm dầu thô, điện tử và linh kện máy tinh, sản phẩm nhựa… Khóa luận: Ngoại thương nhìn lại một năm sau khi gia nhập WTO.
Công tác hoạt động Xúc tiến thương mại và phát triển thị trường XK đạt được nhiều thành tựu quan trọng vừa mở ra những thị trường mới vừa thâm nhập khai thác tốt hơn những thị trường đang có. Giai đoạn 2019-2023 Việt Nam đã mở rộng thêm 20 thị trường mới, kí kết các hiệp định cụ thể
Công tác huy động các nguồn đầu tư và vốn đặc biệt là vốn đầu tư trực tiếp vào Việt Nam đã tạo ra nguồn lực vật chất đáng kể góp phần quan trọng làm tăng qui mô SX- XK hàng hoá của Việt Nam. Tuy vậy, bên cạnh những thành tựu đạt được thì giai đoạn này ngoại thương Việt Nam vẫn tồn tại những hạn chế như sau:
Qui mô XK vẫn còn nhỏ bé, kim ngạch bình quân XK trên đầu người vẫn còn thấp so với các nước trong khu vực và trên thế giới.
NK tuy đã đáp ứng được yêu cầu cơ bản của nền kinh tế nhưng thị trường vốn vẫn tập trung chủ yếu từ Châu á. Nhập siêu vẫn còn cao và kéo dài.
XK tăng trưởng nhanh nhưng chưa vững chắc và rất dễ bị tổn thương bởi các cú sốc từ bên ngoài như sự biến đổi giá cả trên thị trường thế giới hay sự xuất hiện các rào cản TM mới của các nước.
Cơ cấu mặt hàng XK chưa hợp lí, thể hiện trên cả 3 phương diện. Thứ nhất, chủng loại hàng còn đơn điệu, chậm xuất hiện các mặt hàng mới có đóng góp đáng kể cho kim ngạch XK.Thứ 2, các mặt hàng XK có giá trị gia tăng còn thấp. Thứ 3, Quá trình chuyển dịch cơ cấu mặt hàng XK theo hướng CNH diễn ra chậm và chưa có giải pháp cụ thể và triệt để.
Khả năng nắm bắt chủ động những cơ hội thuận lợi để khai thác và thâm nhập thị trường XK còn nhiều hạn chế, chưa tận dụng được lợi ích từ các hiệp định TM song và đa phương, giữa các nước và khu vực với VN để khai thác hết tiềm năng của các thị trường lớn như Trung Quốc, EU, Hoa Kì….
Năng lực cạnh tranh còn yếu kém ở cả 3 cấp độ (nền kinh tế, doanh nghiệp và mặt hàng). Trong đó hạn chế từ phía doanh nghiệp chuyển biến khá chậm, đại bộ phận có qui mô nhỏ bé, yếu về năng lực, kém về kiến thức và kinh doanh TMQT, phần lớn doanh nghiệp không có chiến lược ngoại thương lâu dài, mức độ thụ động cao.
Công tác quản lí của các mạng lưới đại diện, đặc biệt thương mại ở nước ngoài còn yếu kém, chưa thực sự hỗ trợ tốt cho hoạt động XK, các chương trình xúc tiến ngoại thương diễn ra nhỏ lẻ, rời rạc hiệu quả chưa cao.
Công tác xúc tiến và thông tin TM dự báo thị trường nói chung chưa đáp ứng được đòi hỏi của công tác quản lí nhà nước và hỗ trợ doanh nghiệp ngoại thương. Công tác phổ biến hướng dẫn các doanh nghiệp và địa phương chuẩn bị thực hiện các cam kết mở cửa thị trường còn nhiều hạn chế, khả năng khai thác những cơ hội thị trường còn hạn chế, thiếu tính chủ động.
Nhìn chung, ngoại thương Việt Nam sau những biến cố thăng trầm của lịch sử đã tiến những bước dài, phát triển vượt bậc. Vào thời điểm năm 2024, ngành ngoại thương với những thế mạnh vượt trội và quá trình chuẩn bị lâu dài đã sẵn sàng cho việc gia nhập tổ chức TMQT, WTO.
1.3. CÁC CAM KẾT CỦA VIỆT NAM KHI GIA NHẬP WTO VỀ LĨNH VỰC NGOẠI THƯƠNG Khóa luận: Ngoại thương nhìn lại một năm sau khi gia nhập WTO.
1.3.1. Quá trình gia nhập WTO của Việt Nam
Gia nhập WTO là một trong những cơ hội to lớn cho nền kinh tế Việt Nam. Năm 2011, Việt Nam trở thành quan sát viên của TCTMTG [14, tr.59]. Tháng 8-2014 Việt Nam cung cấp cho WTO Bị vong lục về chế độ ngoại thương của Việt Nam. Tháng 7/2016, Việt Nam tiến hành phiên họp đa phương đầu tiên với Ban công tác về minh bạch hoá các chính sách kinh tế thương mại. Tháng 12/2016 họp đa phương lần thứ hai, tháng 7/2017 họp đa phương lần thứ ba và tháng 11/2018 họp phiên đa phương lần thứ tư. Bốn phiên này tập trung vào trả lời các câu hỏi các thành viên của Ban công tác về minh bạch hoá chính sách kinh tế thương mại. Đoàn đàm phán của Chính phủ Việt Nam đã phải trả lời 1700 câu hỏi [14, tr.59]. Kết thúc phiên họp, Ban công tác của WTO đã công nhận Việt Nam cơ bản kết thúc quá trình minh bạch hoá chính sách và chuyển sang giai đoạn đàm phán mở cửa thị trường.
Sau khi cung cấp bản chào đầu tiên về hàng hoá và dịch vụ, chúng ta đã tiến hành phiên đa phương thứ năm (4-2020), là phiên đầu tiên đàm phán mở cửa thị trường. Chúng ta phải cung cấp cho Ban thư kí WTO một loạt các tài liệu như bản tóm hiện trạng về chính sách thương kinh tế thương mại (F/S); thông báo về chính sách hỗ trợ trong nước và trợ cấp xuất khẩu nông nghiệp (ACC4); thông báo về chính sách hỗ trợ công nghiệp; thông báo về hoạt động của các doanh nghiệp trong nước, bảy chương trình hành động thực hiện Hiệp định về sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại (TRIMS), thực hiện Hiệp định về xác định trị giá hải quan (CVA), thực hiện Hiệp định về kiểm dịch động thực vật (SPS), thực hiện hiệp định về hàng rào kĩ thuật liên quan thương mại (TBT), thực hiện hiệp định về thủ tục cấp giấy phép nhập khẩu (IL), thực hiện chính sách giá (lộ trình bãi bỏ chính sách 2 giá – dual prices); chương trình xây dựng pháp luật; lộ trình cắt giảm hàng rào phi thuế quan. Cùng với đàm phán đa phương trong quá trình gia nhập WTO chúng ta cũng đã tiến hành đàm phán song phương với hơn 10 nước và vùng lãnh thổ thành viên của WTO. Cuộc đàm phán của chúng ta diễn ra trong điều kiện thế giới có nhiều thay đổi phức tạp và khó lường. Vòng đàm phán Doha mới đã được phát động và theo lịch trình sẽ kết thúc vào năm 2023. Đây là sức ép rất lớn với Việt Nam, trong khi nền kinh tế của chúng ta vẫn đang trong tình trạng kém phát triển, doanh nghiệp nhỏ chiếm đa số, sức cạnh tranh còn thấp. Hai mốc quan trọng trong đàm phán song phương của Việt Nam đó là: 10/2022 kết thúc đàm phán với EU đối tác lớn nhất, 5/2022 kết thúc đàm phán với Hoa Kì, đối tác cuối cùng trong 28 đối tác có yêu cầu đàm phán, 26/10/2024 kết thúc phiên đàm phán song phương cuối cùng, Ban công tác chính thức thông qua toàn bộ hồ sơ gia nhập WTO của Việt Nam. Tổng cộng đã có 14 phiên họp đa phương kể từ tháng 7/2016 đến tháng 10/2024. Ngày 7/11/2024 WTO triệu tập phiên họp đặc biệt của Đại Hội Đồng tại Geneva, chính thức kết nạp Việt Nam vào WTO.
1.3.2. Các cam kết chính của Việt Nam trong lĩnh vực Ngoại thương Khóa luận: Ngoại thương nhìn lại một năm sau khi gia nhập WTO.
1.3.2.1. Cam kết về thương mại hàng hoá
Đối với hầu hết các sản phẩm nông nghiệp và phi nông nghiệp, Việt Nam cam kết ràng buộc về cắt giảm thuế từ 0-35%. Thời gian cắt giảm thuế sẽ kéo dài đến năm 2014, tuỳ thuộc vào từng mặt hàng.[18, tr.5].
Về dệt may, các thành viên WTO sẽ không được áp dụng hạn ngạch dệt may đối với Việt Nam khi vào WTO, riêng trường hợp Việt Nam vi phạm qui định của WTO về trợ cấp bị cấm đối với hàng dệt may thì một số nước có thể có những biện pháp trả đũa nhất định. Ngoài ra các thành viên của WTO cũng không được áp dụng tự vệ đặc biệt đối với hàng dệt may của Việt Nam. Về trợ cấp phi nông nghiệp, Việt Nam đồng ý bãi bỏ hoàn toàn các loại trợ cấp bị cấm theo qui định của WTO như trợ cấp XK, trợ cấp nội địa hoá. Tuy nhiên với các ưu đãi đầu tư dành cho hàng XK đã cấp trước ngày gia nhập WTO, Việt Nam được bảo lưu thời gian quá độ là 5 năm, trừ ngành dệt may.
Về trợ cấp nông nghiệp, Việt Nam cam kết không áp dụng trợ cấp XK đối với hàng nông sản từ thời điểm gia nhập. Tuy nhiên, Việt Nam bảo lưu quyền được hưởng một số qui định riêng của WTO dành cho các nước đang phát triển trong lĩnh vực này.
Về quyền kinh doanh, bao gồm cả quyền XNK hàng hoá, tuân thủ qui định của WTO, Việt Nam đồng ý cho doanh nghiệp và cá nhân nước ngoài được quyền XNK hàng hoá như người Việt Nam kể từ khi gia nhập, trừ các mặt hàng thuộc danh mục thương mại nhà nước như: xăng dầu, thuốc lá điếu, xì gà, băng hình đĩa, và một số mặt hàng nhạy cảm khác mà Việt Nam chỉ cho phép sau một thời gian chuyển đổi như: gạo, dược phẩm. Việt Nam đồng ý cho các cá nhân nước ngoài không có hiện diện tại Việt Nam được đăng kí quyền XNK tại Việt Nam. Quyến XK chỉ là quyền đứng tên trên tờ khai hải quan để làm thủ tục XNK. Trong mọi trường hợp cá nhân và doanh nghiệp nước ngoài không được tự động tham gia vào hệ thống phân phối trong nước. Các cam kết về quyền kinh doanh sẽ không ảnh hưởng tới quyền của Việt Nam trong việc đưa ra các qui định dịch vụ phân phối, đặc biệt là với các sản phẩm nhạy cảm.
Về thuế tiêu thụ đặc biệt đối với rượu, bia các thành viên WTO đồng ý cho Việt Nam thời gian chuyển đổi không quá 3 năm để điều chỉnh thuế này cho phù hợp với qui định của WTO.
Về phía doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp thương mại nhà nước, cam kết của Việt Nam trong lĩnh vực này là Nhà nước sẽ không can thiệp trực tiếp hay gían tiếp vào hoạt động của doanh nghiệp. Tuy nhiên, nhà nước với tư cách là một cổ đông được can thiệp bình đẳng vào hoạt động của doanh nghiệp cũng như các cổ đông khác.Việt Nam cũng đồng ý cách hiểu mua sắm của doanh nghiệp nhà nước không phải là mua sắm chính phủ.
Về một số biện pháp hạn chế nhập khẩu,Việt Nam đồng ý cho nhập khẩu xe máy phân khối lớn không muộn hơn ngày 31/5/2025. Với thuốc lá điếu, xì gà, Việt Nam đồng ý cho bỏ biện pháp cấm nhập khẩu từ thời điểm gia nhập. Tuy nhiên sẽ chỉ có một doanh nghiệp nhà nước được quyền nhập. Mức thuế nhập khẩu mà Việt Nam đàm phán được cho hai mặt hàng này là rất cao. Với ôtô cũ, Việt Nam cho nhập khẩu các loại xe đã qua sử dụng không quá 5 năm.
Về yêu cầu minh bạch hoá, Việt Nam cam kết ngay từ đầu sẽ công bố dự thảo các văn bản qui phạm pháp luật do Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và Chính phủ ban hành để lấy ý kiến nhân dân. Thời hạn cho việc góp ý sửa đổi tối thiểu là 60 ngày. Việt Nam cũng cam kết sẽ cho đăng công khai các văn bản pháp luật trên. Khóa luận: Ngoại thương nhìn lại một năm sau khi gia nhập WTO.
Về các nội dung khác liên quan đến cam kết đa phương, về thuế XK Việt Nam chỉ cam kết sẽ giảm thuế XK với phế liệu kim loại đen và màu theo lộ trình, không cam kết về thuế XK với các sản phẩm khác. Việt Nam cũng cam kết ràng buộc với toàn bộ Biểu thuế NK hiện hành gồm 10,600 dòng. Trong toàn bộ Biểu cam kết, Việt Nam sẽ cắt giảm thuế với khoảng 3800 dòng thuế; ràng buộc ở mức thuế hiện hành với 3700 dòng; ràng buộc ở mức thuế trần cao hơn mức hiện hành với 3170 dòng. Mức thuế bình quân toàn biểu được giảm từ mức hiện hành 17.4% xuống còn 13.4% thực hiện dần trong 5-7 năm. Mức thuế bình quân đối với hàng nông sản giảm từ mức hiện hành 23.5% xuống còn 20.9% thực hiện trong 5-7 năm. Với hàng công nghiệp từ 16.8% xuống còn 12.6% thực hiện chủ yếu trong vòng 3-5 năm [4, lời mở đầu]ư. Cụ thể sẽ có khoảng hơn 1/3 số dòng thuế sẽ phải cắt giảm, chủ yếu là các dòng có thuế suất trên 20%. Các mặt hàng trọng yếu nhạy cảm với nền kinh tế như nông sản, xi măng, sắt thép, vật liệu xây dựng, ôtô, xe máy vẫn duy trì được mức bảo hộ nhất định [18, tr.6]. Những ngành có mức giảm thuế nhiều nhất bao gồm: dệt may, cá và sản phẩm từ cá, gỗ và giấy, hàng chế tạo khác, máy móc và thiết bị điện tử.Việt Nam đạt được mức thuế trần cao hơn mức thuế đang áp dụng với nhóm hàng xăng dầu, hoá chất và phương tiện vận tải. Việt Nam cũng cam kết cắt giảm thuế theo một số hiệp định tự do theo ngành của WTO giảm thuế xuống 0% hoặc mức thấp nhất. Đây là hiệp định tự nguyện của WTO nhưng các nước mới gia nhập phải tham gia một số ngành. Ngành mà Việt Nam cam kết tham gia là sản phẩm công nghệ thông tin, dệt may và thiết bị y tế. Về hạn ngạch thuế quan, Việt Nam bảo lưu quyền áp dụng với đường, trứng gia cầm, lá thuốc lá và muối.
1.3.2.2. Về thương mại dịch vụ
Trong cam kết cụ thể về dịch vụ, Việt Nam đã cam kết một loạt các dịch vụ. Trong một số trường hợp Việt Nam giữ quyền hạn chế tham gia của các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài.
Về cam kết mở cửa thị trường dịch vụ, Việt Nam cam kết đủ 11 ngành dịch vụ, tính theo phân ngành khoảng 110 (trong BTA Việt Nam- Hoa Kỳ chỉ 8 ngành và 65 phân ngành).
Về mức độ cam kết, thoả thuận WTO đi xa hơn BTA với Việt Nam –Hoa Kỳ nhưng không nhiều. Với hầu hết các ngành dịch vụ, trong đó có những ngành nhạy cảm như bảo hiểm, phân phối, du lịch… Việt Nam giữ được mức độ cam kết gần như trong BTA Việt Nam- Hoa Kỳ. Riêng viễn thông ngân hàng và chứng khoán, để sớm kết thúc đàm phán, Việt Nam đã có một số bước tiến nhưng nhìn chung không đi quá xa với hiện trạng và đều phù hợp với định hướng phát triển đã được phê duyệt cho các ngành này. Ngoài ra công ty nước ngoài tuy được phép đưa cán bộ quản lí vào làm việc tại Việt Nam nhưng ít nhất 20% cán bộ quản lí của công ty phải là người Việt Nam. Khóa luận: Ngoại thương nhìn lại một năm sau khi gia nhập WTO.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>> Khóa luận: Thực trạng ngoại thương một năm sau gia nhập WTO

Dịch Vụ Viết Luận Văn Thạc Sĩ 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietthuethacsi.com/ – Hoặc Gmail: dicvuluanvanthacsi@gmail.com
[…] ===>> Khóa luận: Ngoại thương nhìn lại một năm sau khi gia nhập WTO […]