Khóa luận: Phát triển sản phẩm dịch vụ của Ngân hàng Agribank

Rate this post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Phát triển sản phẩm dịch vụ của Ngân hàng Agribank hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Khóa luận: Giải pháp phát triển sản phẩm dịch vụ của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chi nhánh Hà Tây trong bối cảnh mở cửa thị trường ngân hàng theo lộ trình gia nhập WTO dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

LỜI MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài.

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thế giới, nền kinh tế nước ta trong những năm vừa qua cũng đã đạt được những bước tiến quan trọng. Đặc biệt, là chúng ta đang trong con đường hội nhập và ngành Ngân hàng cũng không nằm ngoài quá trình đó. Trải qua 2 năm từ khi mở cửa thị trường, ngành Ngân hàng nói chung và Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Chi nhánh Hà Tây nói riêng đã từng bước tự hoàn thiện mình, nâng cao chất lượng hoạt động và nâng cao năng lực tài chính. Trong đó, phát triển dịch vụ ngân hàng là lĩnh vực được ngân hàng luôn quan tâm hàng đầu để đảm bảo đủ năng lực cạnh tranh, đáp ứng những yêu cầu của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.

Mặc dù, luôn là ngân hàng dẫn đầu về thị phần nguồn vốn huy động và dư nợ, nhưng về những mảng dịch vụ khác thị phần của ngân hàng vẫn giữ một vị trí khiêm tốn. Trong khi đó, từ khi Hà Tây sát nhập toàn bộ vào Hà Nội, các ngân hàng thương mại cổ phần với ưu thế công nghệ và sản phẩm dịch vụ đa dạng tiện ích đã liên tục mở các chi nhánh và phòng giao dịch. Và trong tương lai, ngân hàng còn phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt của các chi nhánh ngân hàng nước ngoài khi mà các ngân hàng 100% vốn nước ngoài sẽ mở thêm các chi nhánh tại địa bàn và được hưởng đối xử quốc gia đầy đủ. Mặt khác, xu hướng giảm dần tỷ trọng thu từ hoạt động tín dụng và tăng dần nguồn thu từ các sản phẩm dịch vụ ngoài tín dụng ngày càng gia tăng. Chính vì vậy, việc phát triển sản phẩm dịch vụ của ngân hàng cả về số lượng và chất lượng là một điều tất yếu.

Nhưng trên thực tế còn rất nhiều vấn đề nảy sinh trong quá trình phát triển sản phẩm dịch vụ của ngân hàng. Điều đó đòi hỏi những nghiên cứu mang tính thực tiễn cao về những thành công và tồn tại, từ đó tìm ra những giải pháp nhằm thúc đẩy quá trình phát triển sản phẩm dịch vụ của NHNo&PTNT chi nhánh Hà Tây, nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng khi hội nhập ngày càng sâu rộng vào kinh tế khu vực và thế giới. Nhận thức được tầm quan trọng, tác giả chọn đề tài “Giải pháp phát triển sản phẩm dịch vụ của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chi nhánh Hà Tây trong bối cảnh mở cửa thị trường ngân hàng theo lộ trình gia nhập WTO”.

2. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu.

Trên cơ sở làm rõ cơ sở lý luận và nội dung dịch vụ ngân hàng, đề tài phân tích thực trạng dịch vụ Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chi nhánh Hà Tây trong thời gian qua, từ đó đề xuất phương hướng và giải pháp phát triển sản phẩm dịch vụ của NHNo&PTNT chi nhánh Hà Tây trong bối cảnh mở cửa thị trường ngân hàng theo lộ trình gia nhập WTO.

Như vậy, để thực hiện mục đích nghiên cứu, luận văn có những nhiệm vụ cụ thể sau:

  • Hệ thống hoá những vấn đề lý luận chung về dịch vụ ngân hàng và cam kết mở cửa thị trường dịch vụ ngân hàng theo lộ trình gia nhập WTO. Khóa luận: Phát triển sản phẩm dịch vụ của Ngân hàng Agribank.
  • Đánh giá thực trạng dịch vụ ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chi nhánh Hà Tây.
  • Đưa ra những giải pháp nhằm phát triển sản phẩm dịch vụ Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chi nhánh Hà Tây.

3. Phạm vi nghiên cứu.

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề liên quan đến dịch vụ ngân hàng.

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là tập trung đánh giá các dịch vụ Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chi nhánh Hà Tây trong những năm gần đây, chủ yếu là giai đoạn 2024-2025. Phần giải pháp đề cập ở chương 3 được giới hạn nghiên cứu đến năm 2028 là năm hoàn toàn mở cửa thị trường ngân hàng theo lộ trình gia nhập WTO.

4. Phương pháp nghiên cứu.

Đề tài dựa trên phương pháp luận nghiên cứu của chủ nghĩa Mác-Lênin về duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; các quan điểm của Đảng và Nhà Nước ta về hội nhập kinh tế quốc tế.

Ngoài ra, luận văn còn áp dụng phương pháp nghiên cứu truyền thống như: tổng hợp – phân tích, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh,..

5. Cấu trúc của khoá luận.

Ngoài phần mở đầu và kết luận, khoá luận được chia làm 3 chương như sau:

  • Chương 1: Cơ sở lý luận về sản phẩm dịch vụ của ngân hàng thương mại và vấn đề mở cửa thị trường ngân hàng theo lộ trình gia nhập WTO.
  • Chương 2: Thực trạng phát triển dịch vụ của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chi nhánh Hà Tây.
  • Chương 3: Giải pháp phát triển sản phẩm dịch vụ Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chi nhánh Hà Tây.

Chương I. Cơ sở lý luận về sản phẩm dịch vụ của NHTM và vấn đề mở cửa thị trường ngân hàng theo lộ trình gia nhập WTO

I. Tổng quan về dịch vụ của ngân hàng thương mại.

1. Tổng quan về ngân hàng thương mại.

1.1. Khái niệm và đặc điểm về ngân hàng thương mại. Khóa luận: Phát triển sản phẩm dịch vụ của Ngân hàng Agribank.

Theo luật Các tổ chức tín dụng do Quốc hội khoá X thông qua vào ngày 12 tháng 12 năm 1997 định nghĩa: “Ngân hàng thương mại là một loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động khác có liên quan”.

  • Và luật này còn định nghĩa:

“Tổ chức tín dụng là loại hình doanh nghiệp được thành lập theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán”.

Như vậy, ngân hàng thương mại là một loại hình tổ chức tín dụng nhưng so với các tổ chức tín dụng phi ngân hàng như quỹ tiết kiệm thì có những điểm khác biệt:

Thứ nhất, Ngân hàng thương mại được thực hiện toàn bộ hoạt động của ngân hàng, trong khi các tổ chức tín dụng phi ngân hàng chỉ được thực hiện một số hoạt động ngân hàng.

Thứ hai, ngân hàng thương mại là một tổ chức được phép nhận tiền gửi trong khi tổ chức tín dụng phi ngân hàng không được nhận tiền gửi.

Thứ ba, ngân hàng thương mại được phép cung cấp dịch vụ thanh toán, còn các tổ chức tín dụng phi ngân hàng thì không được phép.

1.2. Chức năng của NHTM.

Đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế, ngân hàng thương mại có ba chức năng cơ bản: Chức năng trung gian tài chính, chức năng tạo tiền và chức năng “sản xuất”. Khóa luận: Phát triển sản phẩm dịch vụ của Ngân hàng Agribank.

Thứ nhất là để thực hiện chức năng là một trung gian tài chính, ngân hàng thương mại đóng vai trò là trung gian khi thực hiện các nghiệp vụ bao gồm nghiệp vụ cấp tín dụng, nghiệp vụ thanh toán, nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối, nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán và nhiều hoạt động môi giới khác. “Trung gian” được hiểu theo hai nghĩa:

Trung gian giữa các khách hàng với nhau.Ví dụ như ngân hàng thương mại làm trung gian giữa người gửi tiền và người vay tiền, hay trung gian giữa người trả tiền và người nhận tiền, hoặc trung gian giữa người mua và người bán ngoại tệ…

Trung gian giữa ngân hàng trung ương và công chúng. Ngân hàng trung ương hay ở Việt Nam còn gọi là ngân hàng nhà nước không có giao dịch trực tiếp với công chúng mà chỉ giao dịch với các ngân hàng thương mại, trong khi đó các ngân hàng thương mại vừa giao dịch với ngân hàng Trung ương vừa giao dịch với công chúng.

Thứ hai là chức năng tạo tiền tức là chức năng sáng tạo ra bút tệ góp phần gia tăng khối tiền tệ phục vụ cho nhu cầu chu chuyển và phát triển nền kinh tế.

Thứ ba là chức năng “sản xuất” bao gồm việc huy động và sử dụng các nguồn lực để tạo ra “sản phẩm” và dịch vụ ngân hàng cung cấp cho nền kinh tế. Tuy nhiên, chữ sản xuất còn được để trong ngoặc kép vì còn nhiều tranh cãi chưa thống nhất. Vì có “sản xuất” mới có “sản phẩm” nên các nhà quản trị thấy rằng ngân hàng thương mại cũng giống như các doanh nghiệp sản xuất phải chú ý:

  • Cũng như doanh nghiệp, ngân hàng thương mại muốn tồn tại và phát triển thì phải tiêu thụ được sản phẩm của mình, do vậy cần chú ý đến tiếp thị, bán hàng, khuyến mãi, và thậm chí đến cả dịch vụ hậu mãi.
  • Ngân hàng thương mại phải chú ý đến nghiên cứu phát triển sản phẩm mới và thiết kế sản phẩm sao cho thoả mãn tối đa nhu cầu và thị hiếu của khách hàng.
  • Ngân hàng thương mại phải không ngừng quan tâm đến phát triển và đổi mới công nghệ ngân hàng, đặc biệt trong thời đại công nghệ thông tin như hiện nay công nghệ ngân hàng thay đổi rất nhanh chóng. Một sự chậm chạp hoặc thiếu đầu tư công nghệ có thể dẫn đến tai hoạ cho ngân hàng thương mại trong thời đại cạnh tranh gay gắt.

2. Tổng quan về dịch vụ ngân hàng thương mại. Khóa luận: Phát triển sản phẩm dịch vụ của Ngân hàng Agribank.

2.1. Khái niệm về dịch vụ ngân hàng.

Đi từ khái niệm thế nào là dịch vụ thì đến nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất do bản thân dịch vụ mang tính đa dạng, phức tạp và vô hình. Theo quan điểm của Philip Kotler “ Dịch vụ là mọi biện pháp hay lợi ích mà một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là không sờ thấy được và không dẫn đến sự chiếm đoạt một cái gì đó”.

Theo Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS) của tổ chức thương mại thế giới WTO không đưa ra định nghĩa về dịch vụ mà chỉ phân loại dịch vụ thành 12 ngành lớn, mỗi ngành lại chia ra các phân ngành.

Theo từ điển Bách khoa Việt Nam năm 1995 giải thích: “Dịch vụ là các hoạt động phục vụ, nhằm thoả mãn những nhu cầu sản xuất kinh doanh và sinh hoạt”.

Có thể có nhiều cách tiếp cận nhưng ta có thể thấy được hai đặc trưng cơ bản của dịch vụ là: Thứ nhất, dịch vụ là một “sản phẩm” là kết quả của quá trình lao động và sản xuất nhằm thoả mãn một nhu cầu nào đó của con người;

Thứ hai, khác với hàng hoá hữu hình, dịch vụ là vô hình, phi vật chất và không thể lưu trữ được.

Từ khái niệm dịch vụ ta đi đến khái niệm thế nào là dịch vụ ngân hàng. WTO cũng không đưa ra một khái niệm cụ thể về dịch vụ ngân hàng,

mà xếp nó trong ngành lớn thứ 7 là dịch vụ tài chính. Như vậy, dịch vụ ngân hàng là một bộ phận cấu thành trong dịch vụ tài chính.

Theo WTO, dịch vụ tài chính là bất kỳ dịch vụ nào có tính chất tài chính do một nhà cung cấp dịch vụ tài chính của một thành viên cung cấp. Dịch vụ tài chính bao gồm: A.Dịch vụ bảo hiểm, B.Dịch vụ ngân hàng và dịch vụ tài chính khác, C.Dịch vụ tài chính khác.

Do khó phân tách rạch ròi giữa dịch vụ ngân hàng với dịch vụ tài chính khác, WTO phải gộp vào trong phân ngành 7B “Dịch vụ ngân hàng và dịch vụ tài chính khác”, sau đó liệt kê chi tiết như sau:

  • Nhận tiền gửi hoặc đặt cọc và các khoản tiền có thể thanh toán khách của công chúng.
  • Cho vay dưới các hình thức, bao gồm tín dụng tiêu dùng, tín dụng thế chấp, bao tiêu nợ và tài trợ các giao dịch thương mại. Khóa luận: Phát triển sản phẩm dịch vụ của Ngân hàng Agribank.
  • Thuê mua tài chính.
  • Mọi dịch vụ thanh toán và chuyển tiền, bao gồm thể tín dụng, thẻ thanh toán và báo nợ, séc du lịch và hối phiếu ngân hàng.
  • Bảo lãnh và cam kết.

Kinh doanh tài khoản của mình hoặc của khách hàng, dù tại sở giao dịch và trên thị trường không chính thức, hoặc các giao dịch khác về: Công cụ thị trường tiền tệ ( gồm séc, hoá đơn, chứng chỉ tiền gửi); ngoại hối; các sản phẩm tài chính phái sinh, bao gồm nhưng không hạn chế các hợp đồng kỳ hạn (futures) hoặc hợp đồng quyền chọn (options); các sản phẩm dựa trên tỷ giá hối đoái và lãi suất, gồm các sản phẩm như swap, hợp đồng tỷ giá kỳ hạn; chứng khoán có thể chuyển nhượng; các công cụ có thể chuyển nhượng khác và tài sản tài chính, kể cả kim khí quý.

  • Tham gia vào việc phát hành mọi loại chứng khoán, kể cả bảo lãnh phát hành và chào bán như đại lý (dù công khai hay theo thoả thuận riêng) và cung cấp dịch vụ liên quan tới việc phát hành đó.
  • Môi giới tiền tệ.
  • Quản lý tài sản như tiền mặt hoặc quản lý danh mục đầu tư, mọi hình thức quản lý đầu tư tập thể, quản lý quỹ hưu trí, dịch vụ bảo quản, lưu trữ và tín thác.
  • Các dịch vụ thanh toán và quyết toán tài sản tài chính, bao gồm chứng khoán, các sản phẩm tài chính phái sinh và các công cụ thanh toán khác.
  • Cung cấp và chuyển thông tin về tài chính, xử lý dữ liệu tài chính và phần mềm liên quan của các nhà cung cấp dịch vụ tài chính khác.
  • Các dịch vụ về tư vấn, trung gian môi giới và các dịch vụ tài chính phụ trợ khác liên quan đến các hoạt động nêu trên đây, kể cả tham khảo và phân tích tín dụng, nghiên cứu, tư vấn đầu tư và danh mục đầu tư, tư vấn mua sắm và về cơ cấu lại chiến lược doanh nghiệp.

Nhưng ở Việt Nam, theo Luật các tổ chức tín dụng, các dịch vụ ngân hàng gồm:

  • Dịch vụ thanh toán và ngân quỹ.
  • Dịch vụ bảo hiểm.
  • Dịch vụ tư vấn.
  • Các dịch vụ khác có liên quan đến hoạt động ngân hàng.

Như vậy, theo Luật các tổ chức tín dụng thì dịch vụ ngân hàng mang nghĩa hẹp hơn GATS, tức chỉ bao gồm những hoạt động ngoài chức năng của định chế tài chính trung gian huy động vốn và cho vay.

Trong bài viết này, dịch vụ ngân hàng được hiểu theo nghĩa rộng tức là bao gồm tất cả hoạt động tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối… của hệ thống ngân hàng. Khóa luận: Phát triển sản phẩm dịch vụ của Ngân hàng Agribank.

2.2. Sản phẩm dịch vụ ngân hàng.

Ngân hàng là loại hình tổ chức chuyên nghiệp trong lĩnh vực tạo lập và cung cấp các dịch vụ quản lý cho công chúng, đồng thời nó cũng thực hiện nhiều vai trò khác nhau trong nền kinh tế. Thành công của ngân hàng hoàn toàn phụ thuộc vào năng lực trong việc xác định các dịch vụ tài chính mà xã hội có nhu cầu, thực hiện các dịch vụ đó một cách có hiệu quả và bán chúng với một mức giá cạnh tranh. Sản phẩm dịch vụ của ngân hàng thương mại có thể chia thành hai loại: Sản phẩm dịch vụ truyền thống và sản phẩm dịch vụ hiện đại.

  • Sản phẩm dịch vụ ngân hàng truyền thống.

Khi nói đến các sản phẩm dịch vụ truyền thống chúng ta có thể hiểu đó là những sản phẩm dịch vụ được thực hiện từ nhiều năm trên nền công nghệ cũ và quen thuộc với khách hàng.

  • Dịch vụ huy động vốn qua tài khoản tiền gửi.

Huy động vốn qua tài khoản tiền gửi của các ngân hàng thương mại là hình thức huy động vốn cổ điển và mang tính chất đặc thù của các ngân hàng thương mại khác với các tổ chức tín dụng phi ngân hàng. Do nhu cầu và động thái gửi tiền của các khách hàng đa dạng và khác nhau nên để thu hút được ngày càng nhiều khách hàng gửi tiền, ngân hàng thương mại đã phát triển rất nhiều loại sản phẩm tiền gửi khác nhau.

  • Nhóm 1. Huy động vốn qua tài khoản tiền gửi thanh toán.

Tiền gửi thanh toán là hình thức huy động vốn của ngân hàng thương mại bằng cách mở cho khách hàng tài khoản gọi là tài khoản tiền gửi thanh toán. Tài khoản này mở cho các đối tượng khách hàng cá nhân, tổ chức có nhu cầu thực hiện thanh toán qua ngân hàng. Khóa luận: Phát triển sản phẩm dịch vụ của Ngân hàng Agribank.

Thanh toán qua ngân hàng là một loại dịch vụ thanh toán, theo đó ngân hàng thực hiện việc trích chuyển tiền từ tài khoản của đơn vị phải trả bằng cách ghi Nợ vào tài khoản, sang tài khoản của đơn vị thụ hưởng bằng cách ghi Có vào tài khoản.

Số dư trên tài khoản có thể hình thành từ việc khách hàng nộp tiền mặt vào hoặc do khách hàng nhận tiền chuyển khoản từ các đơn vị khác. Số dư này nhằm duy trì khả năng thanh toán và chi trả của khách hàng tại bất cứ thời điểm nào. Tuy nhiên số dư này không phải lúc nào khách hàng cũng sử dụng, do vậy đôi khi số dư này nhàn rỗi tạm thời cho đến khi được sử dụng để thanh toán. Những lúc nhàn rỗi số dư này trở thành nguồn vốn của ngân hàng, ngân hàng có thể sử dụng cho hoạt động của mình. Tuy nhiên đây là loại tài khoản không có kỳ hạn nên khách hàng có thể rút bất cứ lúc nào không cần báo trước và ngân hàng khó lên kế hoạch sử dụng loại tiền gửi này. Vì vậy lãi suất của loại tiền gửi này rất thấp thậm chí không trả lãi. Cũng vì vậy khách hàng thường duy trì số dư thấp chỉ đủ đáp ứng nhu cầu chi trả hàng ngày.

  • Nhóm 2. Huy động vốn qua tài khoản tiền gửi cá nhân.

Tiền gửi cá nhân được mở cho khách hàng cá nhân có nhu cầu sử dụng. Loại tài khoản này thích hợp cho cá nhân có nhu cầu nhận chuyển tiền vào tài khoản, chẳng hạn nhận tiền lương hàng tháng, nhận chuyển tiền từ nước ngoài hoặc các cá nhân khác trong nước. Khi nhận tiền khách hàng được ghi Có vào tài khoản và khi rút tiền được ghi Nợ. Số dư Có phản ánh số tiền khách hàng còn gửi ở ngân hàng và ngân hàng có thể sử dụng cho mục đích của mình. Nhưng số dư này tăng lên khi khách hàng nhận lương vào thời điểm trả lương và giảm dần khi khách hàng rút về chi tiêu nên số dư thường không lớn.

Tuy vậy trong những năm gần đây, số lượng tài khoản này ở các ngân hàng thương mại không ngừng tăng lên do có sự phối hợp tốt giữa các ngân hàng và doanh nghiệp thông qua việc trả lương cho nhân viên qua tài khoản này. Chính vì vậy, tổng nguồn vốn huy động được của ngân hàng qua loại tài khoản này tăng đáng kể.

  • Nhóm 3. Huy động vốn qua tài khoản tiền gửi tiết kiệm.

Loại sản phẩm này lại được chia làm hai loại chính là tiết kiệm không kì hạn và tiết kiệm định kỳ, ngoài ra còn một số loại khác.

Sản phẩm tiết kiệm không kì hạn được thiết kế dành cho đối tượng khách hàng cá nhân hoặc tổ chức có tiền tạm thời nhàn rỗi muốn gửi vào ngân hàng vì mục tiêu an toàn và sinh lợi nhưng lại không thiết lập được kế hoạch sử dụng tiền trong tương lai. Loại tiền gửi này khách hàng có thể rút bất cứ lúc nào nên ngân hàng phải đảm bảo tồn quỹ để chi trả và khó thiết lập kế hoạch sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng. Chính vì vậy ngân hàng thường trả lãi suất thấp cho loại tiền gửi này và dẫn đến số dư trên tài khoản này thường không lớn. Nhưng nếu ngân hàng thu hút được số lượng khách hàng khá lớn thì tổng khối lượng vốn huy động qua hình thức tiền gửi này cũng trở nên đáng kể. Mặt khác, khác với loại tài khoản tiền gửi cá nhân, mỗi lần giao dịch khách hàng phải xuất trình sổ tiền gửi và chỉ có thể thực hiện các giao dịch như gửi tiền và rút tiền chứ không thể thực hiện được các giao dịch thanh toán như trong trường hợp tài khoản tiền gửi thanh toán.

Sản phẩm tiết kiệm định kỳ, khác với sản phẩm tiết kiệm không kỳ hạn, là sản phẩm này được thiết kế dành cho khách hàng cá nhân tổ chức có nhu cầu gửi tiền vì mục tiêu an toàn sinh lời và thiết lập được kế hoạch sử dụng tiền trong tương lai. Đối tượng khách hàng chủ yếu của loại tiền gửi này là các cá nhân muốn có thu nhập ổn định thường xuyên, đáp ứng cho việc chi tiêu hàng tháng hoặc hàng quý như công nhân, viên chức, hưu trí. Mục tiêu quan trọng khi lựa chọn loại sản phẩm này là lợi tức có được theo định kỳ. Do vậy lãi suất đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút khách hàng lựa chọn sản phẩm tiền gửi này và lãi suất tiết kiệm định kỳ thực tế cao hơn lãi suất tiền gửi không kỳ hạn. Mức lãi suất còn thay đổi tuỳ thuộc vào loại kỳ hạn gửi, loại đồng tiền gửi ( VND, USD, EURO hay vàng…) và tuỳ theo uy tín và độ rủi ro của ngân hàng nhận tiền gửi.

Ngoài ra còn có các loại tiền gửi tiết kiệm khác như tiết kiệm tiện ích, tiết kiệm có thưởng, tiết kiệm an khang với những nét đặc trưng riêng nhằm làm cho sản phẩm luôn được đổi mới theo nhu cầu của khách hàng và tạo ra điểm khác biệt so với các đối thủ cạnh tranh. Khóa luận: Phát triển sản phẩm dịch vụ của Ngân hàng Agribank.

  • Dịch vụ cho vay.

Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời hạn nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.

  • Dựa vào đối tượng ta có thể chia làm 2 nhóm cơ bản là cho vay cá nhân và cho vay doanh nghiệp:

Nhóm 1. Cho vay doanh nghiệp thường dựa vào thời hạn cho vay để chia thành cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Trong đó, thời hạn cho vay là khoảng thời gian được tính từ khi khách hàng bắt đầu nhận vốn vay cho đến thời điểm trả hết nợ gốc và lãi vốn vay đã được thoả thuận trong hợp đồng tín dụng giữa tổ chức tín dụng và khách hàng.

Cho vay ngắn hạn là loại cho vay có thời hạn dưới một năm. Mục đích của loại cho vay này thường là nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản lưu động.

Cho vay trung hạn là loại cho vay có thời hạn từ 1 đến 5 năm. Mục đích của loại cho vay này là nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản cố định.

Cho vay dài hạn là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm. Mục đích của loại cho vay này thường là nhằm tài trợ đầu tư vào các dự án đầu tư.

Nhóm 2. Cho vay khách hàng cá nhân. Trong lĩnh vực tín dụng hiện nay các ngân hàng thương mại cổ phần tỏ ra năng động và ưu thế hơn các ngân hàng quốc doanh. Những sản phẩm cho vay dành cho khách hàng cá nhân thường được phát triển và thiết kế tương tự như sản phẩm tín dụng truyền thống nhưng có nét đặc thù riêng của từng ngân hàng thương mại. Vì vậy ở đây đưa ra một số sản phẩm điển hình. Khóa luận: Phát triển sản phẩm dịch vụ của Ngân hàng Agribank.

Cho vay bất động sản là sản phẩm tín dụng dành cho khách hàng cá nhân nhằm đáp ứng nhu cầu mua nhà, hợp thức hoá nhà đất, xây dựng sửa chữa nhà của khách hàng nhưng chưa thể thực hiện được do gặp khó khăn về vấn đề tài chính.

Cho vay tiêu dùng là loại cho vay nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu và mua sắm tiện nghi sinh hoạt gia đình nhằm nâng cao đời sống dân cư. Khách hàng vay là những người có thu nhập không cao nhưng ổn định, chủ yếu là công nhân viên chức hưởng lương và có việc làm ổn định và số lượng khách hàng thì rất đông.

Cho vay sản xuất kinh doanh là loại cho vay nhằm bổ sung vốn thiếu hụt trong hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng. Khách hàng vay là những cá nhân hay hộ gia đình sản xuất kinh doanh cá thể với quy mô nhỏ. Đặc điểm của loại cho vay này là số lượng khách hàng có nhu cầu vay thường rất lớn nhưng doanh số cho vay không cao lắm, do vậy chi phí giao dịch thường cao.

Cho vay tiểu thương cũng là cho vay sản xuất kinh doanh nhưng tập trung vào khách hàng là những người buôn bán nhỏ, chủ yếu là các khách hàng buôn bán cá thể ở các chợ. Loại cho vay này phát triển góp phần hạn chế dần nạn cho vay nặng lãi đầy rủi ro.

Cho vay nông nghiệp cũng là cho vay sản xuất kinh doanh nhưng tập trung vào các hộ sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi và nuôi trồng thuỷ sản. Cho vay nông nghiệp ngoài việc đáp ứng nhu cầu vốn cho bà con nông dân còn có ý nghĩa đặc biệt thay đổi tập quán làm ăn, chuyển từ sản xuất nhỏ phục vụ thị trường địa phương sang sản xuất quy mô lớn hơn hướng đến thị trường xuất khẩu rộng lớn. Có được như vậy mới thực sự đổi mới bộ mặt của nông thôn Việt Nam.

  • Dịch vụ thanh toán.

Hầu hết các giao dịch thanh toán giữa các khách hàng trong nước và nước ngoài đều được thực hiện qua ngân hàng. Nhờ việc nắm giữ tài khoản của khách hàng, đồng thời thông qua việc kiểm soát chứng từ thanh toán mà các ngân hàng hoàn toàn có khả năng thực hiện các dịch vụ thanh toán theo yêu cầu của khách hàng. Hiện nay, các ngân hàng thương mại ở Việt Nam sử dụng các dịch vụ thanh toán như: thanh toán séc, uỷ nhiệm thu, uỷ nhiệm chi, thư tín dụng, hối phiếu, lệnh phiếu, thẻ thanh toán…

  • Dịch vụ chiết khấu thương phiếu và chứng từ có giá.

Chiết khấu là một hình thức cấp tín dụng theo đó các tổ chức tín dụng nhận các chứng từ có giá và trao cho khách hàng một số tiền bằng mệnh giá của chứng từ nhận chiết khấu trừ đi phần lợi nhuận và chi phí mà ngân hàng được hưởng. So với cho vay hình thức này có điểm khác biệt là không cần tài sản thế chấp mà sử dụng ngay chứng từ nhận chiết khấu làm đảm bảo tín dụng, ngân hàng thu lãi trước khi phát tiền vay bằng cách khấu trừ vào mệnh giá và quy trình xem xét cấp tín dụng đơn giản và nhanh chóng hơn so với cho vay. Khóa luận: Phát triển sản phẩm dịch vụ của Ngân hàng Agribank.

Các ngân hàng thương mại hiện nay thường nhận chiết khấu hai loại chứng từ cơ bản là thương phiếu và chứng từ có giá khác như trái phiếu, tín phiếu Kho bạc Nhà nước, kỳ phiếu, sổ tiết kiệm…

  • Dịch vụ trao đổi ngoại tệ.

Dịch vụ này rất phát triển trong giai đoạn hiện nay nhằm đáp ứng nhu cầu trao đổi mua bán trong hoạt động ngoại thương. Ngân hàng đứng ra mua, bán một loại tiền này để lấy một loại tiền khác nhằm mục đích thu lợi nhuận.

  • Dịch vụ uỷ thác.

Ngân hàng nhận thực hiện các công việc mà khách hàng uỷ thác như: bảo quản tài sản cho các cá nhân, bảo quản chứng thư quan trọng, bảo quản và lưu giữ chứng khoán của khách hàng, phát hành cổ phiếu, trái phiếu hộ, trả lãi, trả gốc, trả cổ tức… cho các tổ chức phát hành chứng từ có giá.

  • Dịch vụ bảo lãnh.

Bảo lãnh ngân hàng là cam kết bằng văn bản của tổ chức tín dụng (bên bảo lãnh) với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng (bên được bảo lãnh) khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh.

  • Khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng số tiền đã được trả thay.

Theo quy chế về bảo lãnh của Việt Nam, bảo lãnh gồm các loại như: bảo lãnh vay vốn, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh đảm bảo chất lượng sản phẩm, bảo lãnh hoàn thanh toán và bảo lãnh hoàn trả tiền ứng trước, bảo lãnh đối ứng, xác nhận bảo lãnh và các loại bảo lãnh khác.

  • Dịch vụ bao thanh toán. Khóa luận: Phát triển sản phẩm dịch vụ của Ngân hàng Agribank.

Bao thanh toán là một sự thoả thuận giữa người cung cấp dịch vụ bao thanh toán (factor) với người cung ứng hàng hoá dịch vụ hay còn gọi là người bán hàng trong quan hệ mua bán hàng hoá. Theo như thoả thuận factor sẽ mua lại các khoản phải thu của người bán dựa trên khả năng trả nợ của người mua, là con nợ trong quan hệ tín dụng thương mại thông qua mua bán chịu hàng hoá.

Có nhiều loại khác nhau nhưng căn cứ theo ý nghĩa bảo hiểm rủi ro thanh toán, bao thanh toán có thể chia thanh bao thanh toán truy đòi và bao thanh toán miễn truy đòi.

Bao thanh toán truy đòi là loại nghiệp vụ bao thanh toán theo đó nếu người mua hàng không trả được nợ hoặc không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì người bán hàng có nghĩa vụ hoàn trả khoản tiền được ứng trước cho đơn vị bao thanh toán.

Bao thanh toán miễn truy đòi là loại nghiệp vụ thanh toán mà đơn vị bao thanh toán phải chịu mọi rủi ro về tín dụng và không được đòi lại khoản tiền đã ứng trước cho người bán hàng, trong trường hợp người mua hàng không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. So với bao thanh toán truy đòi thì bao thanh toán miễn truy đòi bao gồm luôn cả bảo hiểm rủi ro trả nợ.

Ngoài ra còn có các sản phẩm dịch vụ truyền thống khác như dịch vụ chuyển tiền, dịch vụ cung cấp các tài khoản giao dịch…

  • Dịch vụ ngân hàng hiện đại.

Dịch vụ ngân hàng hiện đại là hình thức dịch vụ ngân hàng mới được đưa vào hoạt động của tổ chức tín dụng, được ra đời trên nền các công nghệ mới, đem lại các tiện ích mới cho khách hàng.

  • Dịch vụ thẻ ngân hàng.

Thẻ được xem là sản phẩm ngân hàng hiện đại dành cho khách hàng cá nhân bên cạnh những sản phẩm và dịch vụ ngân hàng truyền thống. Ngân hàng cấp thẻ cho khách hàng có tài khoản dùng để thanh toán tiền mua hàng, chi trả tiền dịch vụ, hay rút tiền mặt tự động thông qua các máy đọc thẻ hay các máy rút tiền tự động ATM.

  • Thẻ có thể chia làm hai loại chính:

Thẻ tín dụng (Credit card): đây là loại thẻ sử dụng phổ biến nhất, theo đó chủ thẻ được cấp một hạn mức tín dụng nhất định không phải trả lãi (nếu chủ thẻ hoàn trả đúng kì hạn số tiền đã sử dụng) để mua hàng hoá, dịch vụ tại những cơ sở kinh doanh, cửa hàng, khách sạn…chấp nhận loại thẻ này. Khóa luận: Phát triển sản phẩm dịch vụ của Ngân hàng Agribank.

Thẻ ghi nợ (Debit Card): là phương tiện thanh toán tiền hàng hoá dịch vụ hoặc rút tiền trên cơ sở số tiền của chính chủ thẻ, ngân hàng phát hành không cấp tín dụng cho khách hàng. Mỗi khi chủ thẻ thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ thì ngân hàng phát hành sẽ tự động trích nợ số tiền từ tài khoản của chủ thẻ và chuyển tiền đó vào tài khoản của người bán. Thẻ ghi nợ cũng được sử dụng để rút tiền mặt tại các máy giao dịch tự động ATM.

  • Dịch vụ ngân hàng điện tử.

Dịch vụ ngân hàng điện tử có thể hiểu là khả năng của một khách hàng có thể truy nhập từ xa vào một ngân hàng nhằm thu thập thông tin, thực hiện các giao dịch thanh toán, tài chính dựa trên các tài khoản lưu ký tại ngân hàng đó và đăng ký sử dụng dịch vụ mới. Nhìn chung, các sản phẩm và dịch vụ bao gồm các loại sau:

  • Call centre.

Do quản lý dữ liệu tập trung nên khách hàng có tài khoản tại bất cứ chi nhánh nào vẫn gọi điện về một số điện thoại cố định của trung tâm này để được cung cấp mọi thông tin chung và thông tin cá nhân. Khác với phone banking chỉ cung cấp các loại thông tin được lập trình sẵn, Call Centre có thể linh hoạt cung cấp thông tin hoặc trả lời các thắc mắc của khách hàng nhưng nhược điểm là cần có người trực 24/24.

  • Phone banking.

Đây là loại sản phẩm cung cấp thông tin ngân hàng qua điện thoại hoàn toàn tự động. Do tự động nên các loại thông tin được ấn định trước bao gồm thông tin về tỷ giá hối đoái, lãi suât, giá chứng khoán, thông tin cá nhân khách hàng như số dư tài khoản, liệt kê năm giao dịch cuối cùng trên tài khoản, các thông báo mới nhất…Hệ thống cũng tự động gửi fax khi khách hàng yêu cầu cho các loại thông tin nói trên.

  • Mobile banking.

Là hình thức thanh toán trực tuyến qua mạng điện thoại di động song hành với hình thức thanh toán qua mạng Internet. Hình thức này được ra đời nhằm giải quyết nhu cầu thanh toán các giao dịch có giá trị nhỏ hoặc những dịch vụ tự động không có người phục vụ. Khóa luận: Phát triển sản phẩm dịch vụ của Ngân hàng Agribank.

  • Home banking.

Với ngân hàng tại nhà, khách hàng giao dịch với ngân hàng qua mạng nhưng là mạng nội bộ (Intranet) do ngân hàng xây dựng riêng. Các giao dịch tiến hành tại nhà thông qua hệ thống máy tính nối với hệ thống máy tính của Ngân hàng. Khách hàng có thể thực hiện các giao dịch về chuyển tiền, liệt kê giao dịch, tỷ giá, lãi suất, báo Nợ, báo Có…Để sử dụng khách hàng chỉ cần có máy tính kết nối với hệ thống máy tính của ngân hàng thông qua modem – đường điện thoại quay số, đồng thời khách hàng đăng ký số điện thoại và chỉ những số điện thoại này mới được kết nối với hệ thống Home Banking của ngân hàng.

  • Internet banking.

Dịch vụ Internet banking giúp khách hàng chuyển tiền trên mạng thông qua các tài khoản cũng như kiểm soát hoạt động của tài khoản này. Để tham gia khách hàng truy cập vào website của ngân hàng và thực hiện giao dịch tài chính, truy cập thông tin cần thiết. Đồng thời khách hàng có thể truy cập vào các Website khác để mua hàng và thực hiện thanh toán với ngân hàng. Tuy nhiên, khi kết nối internet thì ngân hàng phải có hệ thống bảo mật đủ mạnh để đối phó với các rủi ro.

  • Dịch vụ bảo quản và ký gửi:

Ngân hàng nhận bảo quản các cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư, các hợp đồng bảo hiểm, các chứng thư tài sản, di chúc và các tài sản có giá khác. Những thứ này có thể được bảo quản theo phương thức “mở” trong đó biên lai sẽ ghi chi tiết những gì được lưu giữ, hoặc theo phương thức “kín” được lưu giữ trong những chiếc hộp khoá kín hay những phong bì dán kín.

  • Dịch vụ cho thuê tài chính

Đây là phương thức mà các doanh nghiệp nhờ đó mà có những cấu kiện máy, thiết bị, xe cộ… mà không cần đầu tư vốn. Các doanh nghiệp thiếu vốn cần mua tài sản phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh, họ có thể đến các công ty thuê mua để thuê tài sản và trả một khoản phí theo thương lượng giữa hai bên, tài sản này vẫn thuộc quyền sở hữu của công ty cho thuê trong thời gian doanh nghiệp thuê tài sản.

  • Dịch vụ tư vấn tài chính

Một số ngân hàng đã tập trung vào cung cấp dịch vụ tư vấn để đáp ứng nhu cầu tư vấn tài chính và quản lý các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Các doanh nghiệp này đang gặp khó khăn về tài chính và vấn đề quản lý, ngân hàng hướng dẫn và tư vấn cho doanh nghiệp kiểm soát chi phí, định giá, đánh giá đầu tư cơ bản, dự báo nguồn thu nhập và quản lý tài sản, chiến lược sản xuất kinh doanh,… Khóa luận: Phát triển sản phẩm dịch vụ của Ngân hàng Agribank.

  • Dịch vụ bảo hiểm

Các ngân hàng cung cấp dịch vụ bảo hiểm chuyên dụng cho khách hàng doanh nghiệp. Các doanh nghiệp thường có nhu cầu về bảo hiểm tổn thất lợi nhuận. Chẳng hạn, khi bị hoả hoạn trầm trọng, doanh nghiệp mua bảo hiểm sẽ được bù đắp các chi phí như lương bổng, tổn thất, lợi nhuận trong kinh doanh và chi phí nhà xưởng… Ngoài ra, ngân hàng còn có thể cung cấp nhiều loại bảo hiểm khác như bảo hiểm tín dụng, bảo hiểm trách nhiệm của chủ hàng, bảo hiểm nhân thọ, y tế, hưu trí. Các loại dịch vụ bảo hiểm này có thể được thực hiện thông qua các công ty bảo hiểm của ngân hàng hoặc qua nhà môi giới bảo hiểm.

Ngoài ra còn rất nhiều dịch vụ ngân hàng mới ngày càng được áp dụng rộng rãi tại các ngân hàng thương mại.

2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển dịch vụ của ngân hàng.

  • Các nhà cung cấp dịch vụ.

Các nhà cung cáp dịch vụ tham gia trên thị trường dịch vụ này với tư cách là các đối thủ cạnh tranh trực tiếp và cũng là khách hàng của ngân hàng bao gồm:

Các tổ chức nhận tiền gửi được tổ chức dưới các hình thức: Các ngân hàng thương mại, hiệp hội tiết kiệm và cho vay, ngân hàng tiết kiệm tương hỗ (Mulual saving bank), liên hiệp tín dụng (Credit Union).

Các tổ chức tiết kiệm theo hợp đồng: đó là các loại công ty bảo hiểm, công ty tái bảo hiểm và các quỹ trợ cấp các dịch vụ bảo hiểm và dịch vụ liên quan đến bảo hiểm nhằm mục đích phân tán và chia sẻ rủi ro trong nền kinh tế.

  • Các đối tượng có nhu cầu sử dụng dịch vụ.

Chính phủ: Chính phủ tham gia vào thị trường dịch vụ với tư cách là khách hàng khi chính phủ tiến hành huy động các nguồn vốn phục vụ mục tiêu đầu tư phát triển kinh tế – xã hội như phát hành trái phiếu chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương, tín phiếu kho bạc… Khóa luận: Phát triển sản phẩm dịch vụ của Ngân hàng Agribank.

Các doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế – xã hội: đây là khách hàng quan trọng nhất của dịch vụ tài chính trên cả hai phương diện cung và cầu các nguồn tài chính. Trong điều kiện hội nhập, các doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng các dịch vụ tài chính ngày càng nhiều và đa dạng hơn, đồng thời chính họ cũng trở thành lực lượng tạo động lực cho sự phát triển dịch vụ tài chính của ngân hàng.

Dân cư: Tầng lớp dân cư tham gia vào thị trường tài chính thông qua việc sử dụng hiệu quả hơn lợi ích từ sự phát triển của thị trường dịch vụ ngân hàng như các hình thức gửi tiền, mua chứng chỉ tiền gửi, tín dụng tiêu dùng, tín dụng trả góp, vay vốn lập doanh nghiệp, du học, nhu cầu cá nhân, thanh toán không dùng tiền mặt qua ngân hàng…

  • Giá cả dịch vụ tài chính.

Giá cả dịch vụ tài chính là một vấn đề rất quan trọng, có tác động lớn đến sự phát triển của thị trường cũng như các chủ thể cung cấp dịch vụ tài chính. Giá cả các loại dịch vụ tài chính quá cao hay quá thấp đều có tác động tiêu cực đến sự phát triển của thị trường dịch vụ tài chính nói chung và bản thân ngân hàng nói riêng. Trong trường hợp giá cả các loại dịch vụ tài chính quá cao, khách hàng sẽ gặp khó khăn trong việc tiếp cận và sử dụng các loại dịch vụ tài chính. Ngược lại trong trường hợp giá cả các loại dịch vụ tài chính quá thấp thì các chủ thể cung cấp dịch vụ tài chính sẽ gặp khó khăn trong việc kinh doanh, nhiều khả năng dẫn đến thua lỗ và phá sản. Như vậy, trong cả hai trường hợp trên đều đưa đến tác động tiêu cực là thu hẹp thị trường dịch vụ tài chính, do đó, giá cả các loại dịch vụ tài chính cần phải được xác định ở mức thích hợp theo sự phát triển của nền kinh tế xã hội, sự phát triển của thị trường dịch vụ tài chính.

  • Môi trường pháp lý và hệ thống quản lý của cơ quan nhà nước đối với hoạt động dịch vụ của ngân hàng.

Hệ thống khung pháp luật do Nhà Nước thiết lập nhằm quy định các nguyên tắc hoạt động cơ bản của thị trường dịch vụ tài chính. Yêu cầu cơ bản đối với hệ thống khung pháp luật là phải thống nhất, ổn định, rõ ràng minh bạch, phải kết hợp, vận dụng các tiêu chuẩn chung đã được thừa nhận trên phạm vi toàn thế giới và đặc biệt là phải phù hợp với sự phát triển của thị trường.

Trên cơ sở hệ thống pháp luật đã được ban hành, cần phải tổ chức một hệ thống các cơ quan quản lý Nhà nước để điều hành và quản lý thị trường dịch vụ tài chính theo hệ thống pháp luật này.

Cơ chế và hệ thống cơ quan quản lý Nhà nước cần đảm bảo một số yêu cầu: quản lý nhà nước không mang tính can thiệp trực tiếp quá sâu vào hoạt động kinh doanh trên thị trường, mà phải mang tính chất quản lý vĩ mô, định hướng thông qua hệ thống pháp luật và các công cụ thị trường để điều chỉnh thị trường hoạt động theo khuôn khổ pháp luật, phục vụ mục đích quản lý vĩ mô chung của toàn bộ nền kinh tế quốc dân; hệ thống cơ quan quản lý Nhà nước cần đảm bảo gọn nhẹ, giảm thiểu các thủ tục hành chính gây cản trở cho hoạt động thị trường dịch vụ tài chính.

  • Vấn đề hội nhập và mở cửa thị trường tài chính theo lộ trình gia nhập

Vấn đề cơ bản trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế về dịch vụ tài chính của các nước trên thế giới là mở cửa từng bước cho sự tham gia của nước ngoài. Điều này có nghĩa là nhà nước kiểm soát sự tham gia của các chủ thể cung cấp dịch vụ tài chính có thể làm tăng tính cạnh tranh và hiệu quả trong toàn bộ nền kinh tế. Cạnh tranh về dịch vụ tài chính sẽ đem lại lợi ích cho khách hàng thông qua việc tự do hơn khi lựa chọn các loại dịch vụ, lựa chọn được nhà cung cấp tốt hơn với giá cả cạnh tranh hơn…Do vậy, bản thân các nhà cung cấp dịch vụ phải tự hoàn thiện mình mới có thể cạnh tranh, tạo lập chỗ đứng của mình trên thị trường.

2.4. Vai trò của việc phát triển sản phẩm dịch vụ ngân hàng trong bối cảnh mở cửa thị trường ngân hàng theo lộ trình gia nhập WTO. Khóa luận: Phát triển sản phẩm dịch vụ của Ngân hàng Agribank.

Đối với mỗi ngân hàng thương mại, phát triển sản phẩm dịch vụ là việc ngân hàng thực hiện kinh doanh, cung ứng từ ít đến nhiều nghiệp vụ, sản phẩm dịch vụ khác nhau nhằm tạo ra sự phong phú, đa dạng trong toàn bộ các dịch vụ tài chính và ngân hàng có thể cung cấp cho tất cả các đối tượng khách hàng trong nền kinh tế. Đồng thời phát triển sản phẩm dịch vụ ngân hàng không chỉ hạn chế ở việc mở rộng các loại sản phẩm dịch vụ mà còn bao hàm cả việc phát triển sản phẩm dịch vụ về chất lượng, phạm vi, quy mô, hình thức thực hiện. Tuy nhiên trong điều kiện cạnh tranh gay gắt hiện nay, mỗi ngân hàng cũng cần phải xây dựng, chọn lựa, phân loại một danh mục sản phẩm dịch vụ ngân hàng hiệu quả, nhằm giúp ngân hàng chiếm lĩnh được thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh nhất là trong điều kiện cam kết về hạn chế hoạt động đối với các ngân hàng ngoại đang dần được dỡ bỏ.

  • Giúp ngân hàng phân tán rủi

Đối với một ngân hàng thương mại, việc phát triển thêm nhiều sản phẩm dịch vụ trên cơ sở tận dụng các nguồn lực hiện có, đồng thời mở rộng hoạt động thị trường, đa dạng hoá khách hàng sẽ giúp cho ngân hàng đa dạng hoá nguồn thu và tăng ưu thế cạnh tranh, từ đó sẽ giúp ngân hàng phân tán được rủi ro.

Theo truyền thống, các ngân hàng thu lợi nhuận chủ yếu từ hoạt động tín dụng nhưng tín dụng là một lĩnh vực chứa đựng nhiều rủi ro và bất trắc. Do ngân hàng ở vào thế bị động sau khi cấp tín dụng cho khách hàng, mặc dù đã qua quy trình thẩm định tín dụng khá chặt chẽ nhưng quản lý hoạt động tín dụng còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố bên ngoài như: khách hàng, pháp luật, hiệu lực pháp lý của Nhà nước, lạm phát, khủng hoảng,…Thực tế đã có rất nhiều ngân hàng thương mại bị phá sản do đầu tư vốn nhưng thu hồi được nợ. Chỉ với tỷ lệ khó đòi vượt quá mức cho phép đã làm ngân hàng không còn lợi nhuận và mất dần vốn tự có nên bên cạnh nghiệp vụ tín dụng ngân hàng còn kinh doanh nhiều dịch vụ khác để phân tán bớt rủi ro, giữ ổn định cho nguồn thu của ngân hàng. Lợi nhuận từ nhiều nguồn thu của các sản phẩm dịch vụ khác nhau bổ sung cho nhau, khi thị trường biến động sẽ giúp cho ngân hàng ổn định mức doanh lợi. Do vậy các ngân hàng đều cố gắng đa dạng hoá dịch vụ của mình.

  • Tăng lợi nhuận cho ngân hàng. Khóa luận: Phát triển sản phẩm dịch vụ của Ngân hàng Agribank.

Khi phát triển thêm nhiều sản phẩm dịch vụ ngân hàng có thể tận dụng được những khách hàng và thị trường hiện tại cũng như thu hút thêm được các khách hàng tiềm năng. Từ đó tăng thu phí dịch vụ, tăng doanh thu và tăng lợi nhuận cho ngân hàng. Với nhiều loại nghiệp vụ khác nhau ngân hàng có thể khai thác được những khoảng trống trên thị trường kể cả những khoảng trống nhỏ để tăng thêm thị phần. Mặt khác, việc phát triển thêm sản phẩm dịch vụ giúp ngân hàng tận dụng triệt để và hiệu quả nguồn vốn, nhân lực cũng như vật chất kỹ thuật, đồng thời giảm chi phí quản lý, chi phí hoạt động từ đó tối đa hoá lợi nhuận cho ngân hàng.

  • Thúc đẩy các sản phẩm dịch vụ cùng phát triển.

Việc ngân hàng đa dạng hoá sản phẩm dịch vụ hay mở rộng quy mô, phát triển sản phẩm hiện có sẽ làm tiền đề về nhân lực, về vốn, kỹ thuật và cơ sở vật chất đồng thời có tác dụng lôi kéo khách hàng sử dụng sản phẩm dịch vụ của ngân hàng mình. Vì vậy có thể nói rằng việc phát triển một sản phẩm dịch vụ vừa làm tiền đề vừa làm động lực cho các sản phẩm dịch vụ khác cùng phát triển.

  • Tăng khả năng cạnh tranh của ngân hàng trong bối cảnh mở cửa.

Trong bối cảnh mở cửa, ngân hàng vấp phải sự cạnh tranh gay gắt của rất nhiều các tổ chức tài chính như các ngân hàng cổ phần, ngân hàng liên doanh,chi nhánh ngân hàng nước ngoài, ngân hàng 100% vốn nước ngoài và các tổ chức tín dụng khác cùng hoạt động đang ngày càng mở rộng về quy mô cũng như chất lượng dịch vụ. So với các ngân hàng thương mại hiện đại trên thế giới, các sản phẩm dịch vụ của các ngân hàng Việt Nam còn rất đơn giản và ít ỏi, chất lượng phục vụ khách hàng còn hạn chế. Mặt khác, khách hàng có thể tự do lựa chọn ngân hàng nào đáp ứng được tốt nhất nhu cầu của mình. Vì vậy, muốn lôi kéo khách hàng, muốn tồn tại, phát triển và đạt được lợi nhuận cao đồng thời tạo dựng vị thế cho riêng mình thì bản thân ngân hàng phải thay đổi, cải tiến sao cho đáp ứng được nhu cầu phong phú của khách hàng và gợi mở nhu cầu mới cho khách hàng. Muốn làm được điều này ngân hàng không còn cách nào khác phải đa dạng và phát triển sản phẩm dịch vụ của mình.

Việc phát triển sản phẩm dịch vụ của ngân hàng ở cả hai khía cạnh là phát triển sản phẩm hiện có và phát triển sản phẩm mới. Trong mỗi sản phẩm cũng cần đa dạng hoá để đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng, đồng thời nâng cao chất lượng sản phẩm để thoả mãn tối đa nhu cầu của khách hàng, để giữ chân khách hàng sử dụng sản phẩm dịch vụ của mình và lôi kéo những khách hàng tiềm năng khác. Đồng thời với đó là phải phát triển thêm nhiều sản phẩm mới tăng thêm sự thuận tiện của khách hàng, tránh tình trạng một khách hàng sử dụng nhiều sản phẩm dịch vụ của các ngân hàng khác nhau. Nhưng phát triển dịch vụ không có nghĩa là dàn trải đều nguồn lực của ngân hàng mà phải xác định loại sản phẩm dịch vụ chiến lược sao cho phù hợp với những điều kiện riêng có của mình để đạt được hiệu quả cao nhất trong hoạt động kinh doanh.

II. Mở cửa thị trường ngân hàng theo lộ trình gia nhập WTO. Khóa luận: Phát triển sản phẩm dịch vụ của Ngân hàng Agribank.

1. Cam kết của Việt Nam trong vấn đề mở cửa thị trường ngân hàng theo lộ trình gia nhập WTO.

Cam kết về dịch vụ ngân hàng và các dịch vụ tài chính khác được thực hiện phù hợp với luật lệ và các quy định liên quan được ban hành bởi các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam để đảm bảo phù hợp với Điều VI của GATS và Đoạn 2 (a) của Phụ lục về các dịch vụ tài chính theo quy định chung và trên cơ sở không phân biệt đối xử, việc cung cấp các sản phẩm dịch vụ ngân hàng và tài chính khác nhau phải tuân teo các yêu cầu về hình thức pháp lý và thể chế liên quan. Cam kết được thực hiện như sau:

Phương thức cung cấp:

  • Cung cấp qua biên giới
  • Tiêu dùng ở nước ngoài
  • Hiện diện thương mại
  • Hiện diện của thể nhân

Bảng 1. Cam kết về mở cửa thị trường dịch vụ cho Dịch vụ ngân hàng

2. Tác động của vấn đề mở cửa thị trường ngân hàng theo lộ trình gia nhập WTO Khóa luận: Phát triển sản phẩm dịch vụ của Ngân hàng Agribank.

  • Những tác động tích cực:

Hội nhập quốc tế về tài chính ngân hàng thúc đẩy ngân hàng phải tự hoàn thiện và phát triển để hoạt động kinh doanh có hiệu quả hơn trong điều kiện cạnh tranh ngày càng khốc liệt và phức tạp.

Khi các ngân hàng nước ngoài hoạt động trên thị trường nội địa, sự chuyển giao công nghệ sẽ diễn ra nếu có sự dịch chuyển lao động có tay nghề cao trong lĩnh vực ngân hàng, hoặc chuyển giao các chương trình đào tạo. Sự chuyển giao này sẽ làm cho trình độ quản lý của khu vực ngân hàng được nâng cao, đặc biệt trong quản lý tín dụng, quản lý rủi ro trong ngân hàng nói chung và đối với các công cụ tài chính phái sinh nói riêng, do khả năng định giá của các ngân hàng nước ngoài đối với các sản phẩm này tốt hơn vì họ có nhiều kinh nghiệm hơn.

Hội nhập, mở cửa, ngân hàng trong nước có điều kiện tranh thủ nguồn lực tài chính từ chính các ngân hàng nước ngoài để phát triển, tiếp cận được thị trường mới cũng như có thể tăng hiệu quả kinh doanh nhờ tập trung vào lợi thế so sánh của mình.

Với việc phải thực hiện một luật chơi chung trên thị trường toàn cầu bắt buộc chính phủ cũng như ngân hàng trung ương phải thiết lập các quy chế quản lý, kinh doanh sao cho phù hợp với các quy tắc thông lệ chung và các ngân hàng thương mại muốn hoạt động tốt trong điều kiện hội nhập thì phải tuân thủ các quy chế này. Điều đó làm cho hoạt động ngân hàng được kiểm soát chặt chẽ hơn nhưng cũng sẽ thông thoáng hơn do Chính phủ sẽ loại bỏ những can thiệp không phù hợp với cơ chế thị trường.

  • Những tác động bất lợi:

Quá trình hội nhập mở cửa diễn ra trong điều kiện bản thân hệ thống ngân hàng trong nước còn hoạt động kém hiệu quả và vốn còn quá hạn chế. Điều đó có thể dẫn đến tình trạng cạnh tranh với mức độ rủi ro cao hơn để có thể dành được lợi nhuận về phía mình. Khóa luận: Phát triển sản phẩm dịch vụ của Ngân hàng Agribank.

Mở cửa và hội nhập trong lĩnh vực ngân hàng đồng nghĩa với việc các ngân hàng chấp nhận tham gia vào một luật chơi chung bình đẳng cho tất cả các nước. Trong tình trạng đó, tình trạng dịch chuyển thị phần huy động vốn và cho vay từ các ngân hàng thương mại trong nước sang các ngân hàng nước ngoài chắc chắn sẽ xảy Các ngân hàng nước ngoài có thể sẽ thu hút, giành giật khách hàng truyền thống có độ tín nhiệm cao từ tay các ngân hàng thương mại trong nước và để lại phần nhiều rủi ro và nhỏ cho các ngân hàng trong nước.

Các nhà đầu tư nước ngoài cũng được phép tham gia đầu tư góp vốn vào các ngân hàng nội địa, từ đó sẽ tham gia vào quá trình quản trị ngân hàng. Do đó khả năng bị thôn tính của các ngân hàng nội địa sẽ có thể xảy ra nếu như các ngân hàng này mất khả năng kiểm soát tốt các đối tác của mình cũng như không đủ vốn để giữ tỷ lệ kiểm soát ở mức cao. Ở mức độ cao hơn, quá trình thâm nhập này có thể làm mất khả năng kiểm soát hệ thống tài chính tiền tệ của nhà nước, từ đó toàn bộ hệ thống ngân hàng ngân hàng có thể không phát triển theo hướng của nhà nước là phục vụ lợi ích cộng đồng mà chuyển sang phục vụ lợi ích của các nhà ngân hàng nước ngoài.

Cùng với việc thu hút khách hàng tốt, các ngân hàng nước ngoài với những điều kiện cơ sở vật chất, kinh nghiệm quản lý, sử dụng nguồn nhân lực và chế độ ưu đãi sẽ thu hút cả nguồn nhân lực có trình độ cao của các ngân hàng thương mại Việt Nam. Sự dịch chuyển này làm cho tình trạng thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao trong ngành tài chính ngân hàng càng trở nên nghiêm trọng.

Đối với ngân hàng trung ương, việc hội nhập tài chính quốc tế sẽ làm giảm tính độc lập của chính sách tiền tệ và tỷ giá do ảnh hưởng của quá trình tự do di chuyển luồng vốn. Điều này tạo nên sức ép rất lớn đối với ngân hàng trung ương trong quản lý tiền tệ và hoạt động ngân hàng.

Mở cửa trong lĩnh vực ngân hàng làm gia tăng tính phức tạp trong quản lý, giám sát hoạt động ngân hàng cả tầm vĩ mô lẫn vi mô. Nếu không có đủ năng lực và kinh nghiệm quản lý thì hoạt động kiểm soát của ngân hàng không hiệu quả và khó can thiệp.

KẾT LUẬN CHƯƠNG I

Trong chương 1, luận văn đã đề cập đến những lý luận cơ bản về sản phẩm dịch vụ ngân hàng, trong đó có khái niệm, đặc điểm chức năng của ngân hàng thương mại; khái niệm dịch vụ ngân hàng, các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng và những nhân tố ảnh hưởng cũng như vai trò của việc phát triển dịch vụ ngân hàng trong bối cảnh nền kinh tế nói chung và ngành ngân hàng nói riêng đang trong lộ trình mở cửa hội nhập. Khóa luận: Phát triển sản phẩm dịch vụ của Ngân hàng Agribank.

Cuối cùng, luận văn cũng đã nghiên cứu lộ trình mở cửa thị trường ngân hàng theo lộ trình gia nhập WTO và từ đó phân tích những tác động tích cực và tiêu cực đến thị trường ngân hàng trong thời kì mở cửa.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>> Khóa luận: Thực trạng phát triển dịch vụ của Ngân hàng Agribank

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

1 Bình luận
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
trackback

[…] ===>> Khóa luận: Phát triển sản phẩm dịch vụ của Ngân hàng Agribank […]

Contact Me on Zalo
0877682993
1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x