Khóa luận: Giải pháp ngoại thương một năm sau gia nhập WTO

Rate this post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Giải pháp ngoại thương một năm sau gia nhập WTO hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Khóa luận: Một số giải pháp kiến nghị phát triển hoạt đông ngoại thương trong thời gian tới dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

3.1. QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VỀ PHÁT TRIỂN NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM

Theo quyết định số 156/2024/QĐ- TTg ngày 30/6/2024, mục tiêu tổng quát về phát triển XNK giai đoạn 2024-2028 đã xác định: “ phát triển xuất khẩu với tốc độ tăng trưởng cao và bền vững, đẩy mạnh đầu tư phát triển sản xuất các mặt hàng XK có lợi thế cạnh tranh có khả năng chiếm lĩnh thị phần đáng kể trên thị trường thế giới. Chuyển dịch cơ cấu XK theo hướng đẩy mạnh XK các mặt hàng có giá trị gia tăng cao; sản phẩm chế biến, chế tạo, sản phẩm có hàm lượng công nghệ và chất xám cao, giảm dần tỷ trọng hàng XK thô, đẩy mạnh XK dịch vụ.

Trong bối cảnh quốc tế như vậy, căn cứ vào đường lối, Đảng ta đã đề ra chiến lược phát triển kinh tế xã hội và phát triển ngành ngoại thương Việt Nam giai đoạn 2019- 2028 như sau:

Tiếp tục mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại theo hướng đa phương hoá, đa dạng hoá, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế theo lộ trình phù hợp với điều kiện của nước ta và đảm bảo thực hiện những cam kết trong quan hệ song phương và đa phương AFTA, APEC, hiệp định thương mại Việt Mĩ…

Nhà nước có chinh sách khuyến khích mạnh mẽ mọi thành phần kinh tế tham gia sản xuất, kinh doanh XNK hàng hoá và dịch vụ. Nâng cao năng lực cạnh tranh, phát triển mạnh những sản phẩm hàng hoá dịch vụ có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế, giảm mạnh xuất khẩu hàng thô và sơ chế, tăng nhanh tỷ trọng hàng chế biến tỷ lệ nội địa hoá trong sản phẩm, nâng dần tỷ trọng hàng có hàm lượng trí tuệ và công nghệ cao. Xây dựng các quĩ hỗ trợ XK, nhất là đối với hàng nông sản. Khuyến khích sử dụng thiết bị hàng hoá sản xuất trong nước, tăng nhanh kim ngạch XK, tiến tới cân bằng kim ngạch xuất- nhập. Thực hiện chính sách bảo hộ có chọn lọc, có thời hạn đối với sản phẩm sản xuất trong nước.

Đẩy mạnh các lĩnh vực dịch vụ thu ngoại tệ : du lịch, xuất khẩu lao động, vận tải bưu chính viễn thông tài chính tiền tệ dịch vụ kĩ thuật tư vấn thu hút kiều hối.

Chủ động và tích cực thâm nhập thị trường quốc tế. Chú trọng thị trường các trung tâm kinh tế thế giới, duy trì và mở rộng thị trường quen thuộc, tranh thủ mọi cơ hội mở rộng thị trường mới.

Đẩy mạnh hoạt động tiếp thị, xúc tiến thương mại, thông tin thị trường bằng nhiều phương tiện và tổ chức thích hợp kể cả các cơ quan đại diện ngoại giao nước ngoài. Khuyến khích các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước tham gia các hoạt động môi giới, khai thác thị trường.

3.2. CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM (GIAI ĐOẠN 2019-2028) TẦM NHÌN 2040 Khóa luận: Giải pháp ngoại thương một năm sau gia nhập WTO.

3.2.1. Các loại hình chiến lược ngoại thương

3.2.1.1. Chiến lược xuất khẩu sản phẩm thô

Chiến lược này dựa chủ yếu vào việc sử dụng rộng rãi các nguồn tài nguyên có sẵn và các điều kiện thuận lợi trong nước về các sản phẩm nông nghiệp và khai khoáng. Chiến lược này còn được thực hiện trong điều kiện sản xuất còn thấp, đặc biệt là trình độ của ngành công nghiệp và khả năng tích luỹ vốn của nền kinh tế còn bị hạn chế. Chiến lược XK sản phẩm thô tạo điều kiện phát triển kinh tế theo chiều rộng, xuất hiện nhu cầu thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Sự phát triển các thị trường sản phẩm sơ khai sẽ dẫn đến tăng nguồn vốn đầu tư nước ngoài và tích luỹ trong nước, đồng thời giải quyết công ăn việc làm, tăng lượng lao động lành nghề, mở rộng qui mô của nền kinh tế. Hơn thế nữa, chiến lược phát triển sản phẩm thô cũng tạo ra sự thay đổi về cơ cấu kinh tế, góp phần tạo nguồn vốn ban đầu cho công nghiệp hoá.Tuy nhiên áp dụng chiến lược này còn gặp phải nhiều trở ngại. Thứ nhất là do cung cầu sản phẩm thô trên thị trường không ổn định. Cung sản phẩm thô biển đổi là do việc sản xuất các sản phẩm này chủ yếu là từ ngành nông nghiệp và khai khoáng. Do đó, kết quả sản lượng phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố thời tiết khí hậu thuận lợi thí sản lượng cao, ngược lại thi cung lại giảm mạnh. Cầu sản phẩm thô cũng là một yếu tố dễ biến động do xu hướng tiêu dùng lương thực, thực phẩm cơ bản tăng chậm hơn so với mức tăng thu nhập. Hơn nữa, khoa học công nghệ phát triển hiện đại đã tạo ra rất nhiều nguyên vật liệu thay thế nhân tạo làm nhu cầu về sản phẩm thô giảm đáng kể. Thứ 2, mức giá sản phẩm thô có xu hướng giảm so với hàng công nghệ. Cung cầu và giá của sản phẩm thô biến động làm thu nhập từ việc XK các sản phẩm này không ổn định. Các quốc gia đã tìm các khắc phục những hạn chế này bằng cách thành lập các tổ chức (OPEC, ICO…)

3.2.1.2. Chiến lược sản xuất thay thế hàng nhập khẩu Khóa luận: Giải pháp ngoại thương một năm sau gia nhập WTO.

Chiến lược này đã được hầu hết các nước phát triển hiện nay theo đuổi trong thế kỉ 19. Trong những năm 1960, sản xuất thay thế nhập khẩu đã trở thành chiến lược phát triển kinh tế chủ đạo. Chiến lược này đã được hầu hết các nước phát triển hiện nay theo đuổi trong thế kỉ 19. Trong những năm 1960, sản xuất thay thế nhập khẩu đã trở thành chiến lược phát triển kinh tế chủ đạo.

Về nội dung, chiến lược này có 3 điểm cơ bản. Thứ nhất là xác định số lượng và chủng loại hàng hoá phải nhập khẩu trong 1 năm. Thứ hai, lập phương án để tôt chức sản xuất đáp ứng đại bộ phận nhu cầu về hàng hoá và dịch vụ cho thị trường nội địa. Thứ ba, đảm bảo các nhà sản xuất trong nước có thể làm chủ được kỹ thuật sản xuất hoặc các nhà đầu tư nước ngoài cung cấp công nghệ, vốn và quản lí hướng vào việc cung cấp cho thị trường nội địa là chính.

Về phương pháp, chiến lược này thường lập các hàng rào bảo hộ để hỗ trợ cho sản xuất trong nước nhằm khuyến khích các nhà đầu tư trong lĩnh vực công nghiệp. Ngoài ra, còn áp dụng các biện pháp khác như thuế quan, bảo hộ, hạn ngạch NK, tỷ giá cao quá mức. Nhìn chung chiến lược này có nhiều ưu điểm:

  • Đem lại sự mở mang nhất định cho các cơ sở sản xuất trong nước.
  • Mở rộng phân công lao động trong nước, tạo công ăn việc làm.
  • Quá trình đô thị hoá bắt đầu tăng, bước đầu hình thành các chủ doanh nghiệp có đầu óc kinh doanh.
  • Nền kinh tế trong nước tránh được những ảnh hưởng xấu của nền kinh tế thế giới.

Tuy nhiên chiến lược sản xuất thay thế NK vẫn tồn tại một số hạn chế đó là:

  • Chiến lược này chủ yếu nhằm vào thoả mãn nhu cầu trong nước là chính, chú trọng đến tỉ lệ tự cấp của thị trường nội địa. Vì thế ngoại thương không được coi trọng, hạn chế những tác động tích cực của nền kinh tế trong nước với nền kinh tế quốc gia, không cải thiện được quan hệ đối ngoại với các nước khác trên thế giới.
  • Trong nền kinh tế đang phát triển, thiếu thốn đủ thứ. Vì thế, nếu hạn chế nhập khẩu quá mức có thể dẫn tới tình trạng kìm hãm tốc độ phát triển.
  • Cán cân thương mại ngày càng thiếu hụt, tình trạng thiếu ngoại tệ là một trở ngại đối với việc mở rộng quan hệ buôn bán với nước ngoài.
  • Thực hiện chiến lược này là đi kèm với áp dụng các biện pháp thuế quan, bảo hộ. Điều này đã làm các doanh nghiệp trong nước không năng động, mất đi lợi thế cạnh tranh quốc tế. Khóa luận: Giải pháp ngoại thương một năm sau gia nhập WTO.

Nhìn vào những hạn chế trên, nếu chúng ta áp dụng chiến lược này một cách thiếu tỉnh táo, sẽ có thể dẫn tới tình trạng phát triển trì trệ, kém linh hoạt của nền kinh tế. Tuy nhiên, nếu chúng ta thực hiện một biện pháp thay thế NK được hỗ trợ bởi những chính sách giá cả ôn hoà, hướng vào thị trường hơn có thể sẽ là phương thức phát triển thành công.

3.2.1.3. Chiến lược sản xuất hướng về XK

Chiến lược này được áp dụng rộng rãi ở các nước Mỹ, La Tinh từ những năm 1950. Với việc sử dụng các “lợi thế so sánh” hay những nhân tố sản xuất thuộc tiềm năng sản xuất của một nước như thế nào trong sự phân công lao động quốc tế để mang lại lợi ích tối ưu cho nền kinh tế quốc gia. Theo đó, chiến lược hướng về XK là giải pháp “mở cửa” nền kinh tế quốc dân để thu hút vốn và kĩ thuật vào khai thác tiềm năng của đất nước. Chiến lược này nhấn mạnh vào 3 yếu tố cơ bản:

Thứ nhất, thay cho việc kiểm soát NK để tiết kiệm ngoại tệ và kiểm soát tài chính là khuyến khích mở rộng nhanh chóng khả năng xuất khẩu.

Thứ hai, hạn chế bảo hộ công nghiệp địa phương, thay thế vào đó là nâng đỡ hỗ trợ các ngành sản xuất hàng xuất khẩu.

Thứ ba, đảm bảo môi trường đầu tư cho các nhà tư bản nước ngoài thông qua một hệ thống chính sách khuyến khích và kinh tế tự do để thu hút mức tối đa số vốn FDI. Nhờ áp dụng chiến lược này, nền kinh tế đạt được tốc độ phát triển cao, nâng cao trình độ kỹ thuật, sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Ngoại thương trở thành “đầu tàu” của nền kinh tế. Có được những thành tựu trên là do chiến lược này đã tận dụng được những lợi thế từ thị trường thế giới về vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lí từ những nước tiên tiến. Tuy vậy nếu quá tập trung vào chiến lược này, sẽ gây ra tình trạng mất cân đối trầm trọng giữa các ngành XK và không XK, thị trường trong nước chịu tác động đáng kể từ những biến động của thị trường quốc tế.

Nhìn chung, việc thực hịên chiến lược ngoại thương nào còn phải tuỳ thuộc vào điều kiện và khả năng của từng quốc gia trong những giai đoạn và bối cảnh nhất định.

3.2.2. Chiến lược phát triển ngoại thương Việt Nam thời kì 2019-2028, tầm nhìn 2040 Khóa luận: Giải pháp ngoại thương một năm sau gia nhập WTO.

3.2.2.1. Chiến lược phát triển xuất khẩu

Thực hiện chính sách “mở cửa” và hội nhập kinh tế quốc tế đã đem lại những kết quả quan trọng trong ngoại thương.Trong 10 năm gần đây, (2008-2018) kim ngạch XK tăng gấp 5.6 lần, nhịp độ tăng trưởng bình quân 18.4%/ năm nhanh hơn tốc độ tăng trưởng GDP 2.6 lần [8, tr.244]. Cơ cấu xuất khẩu đã có xu hướng tăng các mặt hàng chế biến, giảm các mặt hàng thô, đã có những mặt hàng có sản lượng và thị trường XK ổn định. Nhập khẩu đã phục vụ có hiệu quả phát triển sản xuất và đổi mới công nghệ, thúc đẩy nâng cao chất lượng và nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá đáp ứng nhu cầu thiết yếu của đời sống nhân dân. Thị trường được mở rộng theo hướng đa dạng hoá thị trường, đa phương hoá các quan hệ kinh tế.

Trên bình diện quốc tế, khoa học và công nghệ phát triển như vũ bão và đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, đưa thế giới vào thời kì phát triển mới, thời kì kinh tế trí thức và thông tin. Các ngành dịch vụ và các ngành kinh tế giàu hàm lượng chất xám phát triển mạnh, thương mại quốc tế ngày càng mở rộng, xu hướng toàn cầu hoá, khu vực hoá với các mặt tích cực và tiêu cực của nó sẽ tiếp tục diễn biến thông qua sự hợp tác, đấu tranh phức tạp giữa các đối tác. Các mâu thuẫn cơ bản trên thế giới biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau vẫn tồn tại và phát triển, có thể sâu sắc hơn. Thế giới đang đứng trước nhiều vấn đề toàn cầu mà không một quốc gia đơn lẻ nào có thể giải quyết nếu không có sự hợp tác đa phương. Trong nền kinh tế, các nước công nghiệp phát triển vẫn giữ vị trí áp đảo trong thời gian tới. Cuộc đấu tranh duy trì ảnh hưởng và phân chia lại thị trường sẽ diễn ra gay gắt giữa Mỹ, Tây Âu, Nhật Bản, Nga và TQ.

  • Trong chiến lược phát triển ngoại thương Việt Nam có những điểm đáng chú ý đó là:

Thứ nhất, coi XK cùng các quan hệ kinh tế đối ngoại khác không chỉ là nhân tố hỗ trợ cho sự phát triển kinh tế quốc dân mà còn được xem là động lực phát triển kinh tế của đất nước.Phát triển ngoại thương là để tăng cường khả năng tự phát triển không ngừng của nền kinh tế quốc dân chứ không chỉ là tăng thu nhập thuần tuý, mặc dù không coi nhẹ việc tăng thu nhập.

Thứ hai, đối với nước ta một nước trình độ phát triển còn thấp, thiếu vốn và công nghệ, nhưng lại có lợi thế về tài nguyên thiên nhiên và lao động, việc thực hiện chiến lược hướng mạnh về XK, bảo hộ có chọn lọc, có thời hạn với đối với sản xuất trong nước.

Thứ ba, Chủ động cơ hội phát triển và đa dạng hoá thị trường XK, nhanh chóng hình thành một số tập đoàn kinh tế thương mại.

Thứ tư, coi trọng việc XK sản phẩm có hàm lượng chế biến, sản phẩm có có hàm lượng trí tuệ và công nghệ cao, chú trọng XK dịch vụ. Chủ trương này tạo đà cho xuất khẩu tăng tốc và đạt hiệu quả.

Chỉ tiêu cụ thể cho từng ngành hàng trong giai đoạn này như sau:

  • Bảng 8: Cơ Cấu thị trường XK giai đoạn 2024-2028
  • Bảng 9: Kim ngạch các ngành

3.3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP Khóa luận: Giải pháp ngoại thương một năm sau gia nhập WTO.

3.3.1. Giải pháp về phía nhà nước

3.3.1.1. Ổn định nền kinh tế vĩ mô đi kèm với hoàn thiện hệ thống chính sách, tài chính, tín dụng và đầu tư phục vụ hoạt động XNK

Ngành Ngoại thương là một ngành kinh tế quan trọng của nền kinh tế đất nước. Nền kinh tế ổn định là một động lực to lớn thúc đẩy ngành ngoại thương phát triển. Chính vì thế, trong giai đoạn tới, ổn định chính sách kinh tế vĩ mô là một trong những mục tiêu quan trọng cần đạt tới. Để đáp ứng yêu cầu thực hiện cam kết WTO và hội nhập kinh tế quốc tế, chúng ta cần xây dựng các chính sách kinh tế vĩ mô hậu WTO nhằm tiến tới xoá bỏ mọi hình thức bao cấp, tạo môi trường cho các loại thị trường vận hành đồng bộ, có hiệu quả và đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô. Để làm được điều đó, trước tiên cần xoá bỏ mọi hình thức bao cấp, trong đó có bao cấp qua giá, thực hiện giá thị trường cho mọi hàng hoá dịch vụ.

Đối với các mặt hàng còn áp dụng cơ chế nhà nước định giá, phải xác định lộ trình thực hiện giá thị trường để các doanh nghiệp tính toán lại phương án sản xuất kinh doanh. Sửa đổi bổ sung và xây dựng những chính sách hỗ trợ các ngành sản xuất trong nước không trái với các qui định của WTO như phát triển kết cấu hạ tầng, giáo dục đào tạo, nghiên cứu triển khai, phát triển thị trường, đổi mới công nghệ, hỗ trợ vùng có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn, cung cấp thông tin. Song song đó, cần cải cách chính sách thuế theo hướng tăng nguồn thu từ phát triển kinh tế, chuyển nguồn thu chủ yếu từ thuế gián thu sang thuế trực thu. Bảo đảm nuôi dưỡng nguồn thu công bằng, thống nhất, đơn giản và thuận tiện cho mọi hoạt động chủ thể kinh doanh. Áp dụng rộng rãi cơ chế “tự khai , tự nộp, và tự chịu trách nhiệm” đối với mọi chủ thể kinh doanh.

Tiếp tục đổi mới chính sách tiền tệ và hoạt động của Ngân hàng nhà nước. Sử dụng linh hoạt các công cụ lãi suất, tỷ giá hối đoái để đảm bảo giá trị đồng tiền, kiểm soát được lạm phát, bảo đảm an ninh tài chính cho hệ thống tài chính, ngân hàng và các tổ chức tín dụng trước các cú sốc tỷ giá và lãi suất đến từ bên ngoài.

Nhà nước tiếp tục tăng cường và tập trung đầu tư cho kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội, bảo đảm kết hợp tăng trưởng kinh tế tiến bộ và công bằng xã hội, thực hiện phát triển bền vững. Đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư nước ngoài, sử dụng có hiệu quả nguồn vốn hỗ trợ và phát triển chính thức trong các lĩnh vực kết cấu hạ tầng, đào tạo nguồn nhân lực, xoá đói giảm nghèo, tăng cường thể chế và bảo vệ môi trường. Bên cạnh đó, nhà nước cần mở rộng cho các tổ chức kinh tế đầu tư ra nước ngoài, tập trung vào các lĩnh vực mà Việt Nam có lợi thế nhằm đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia và cung cấp nguồn nguyên liệu cho sản xuất trong nước. Khóa luận: Giải pháp ngoại thương một năm sau gia nhập WTO.

Về việc hoàn thiện môi trường TM, và hướng tới hoàn thành mục tiêu phát triển ngoại thương giai đoạn 2024- 2028, từ thực tế hoạt động ngoại thương một năm qua có thể đưa ra một số kiến nghị sau:

  • Giảm chi phí giao dịch, kinh doanh cho các doanh nghiệp ngoại thương thông qua:

Triển khai xây dựng các trung tâm cung ứng nguyên phụ liệu, đặc biệt là trong 1 số lĩnh vực như sản xuất hàng dệt may, giày dép… nhằm giảm khối lượng nhập khẩu từ đó giảm chi phí NK cho doanh nghiệp, đồng thời tận dụng được nguồn tài nguyên trong nước.

Xây dựng và thực hiện chương trình hiện đại hoá và cải cách thủ tục hải quan, lộ trình rút ngắn thời gian tiến hành các thủ tục hải quan cho hàng hoá XNK.

Tiếp tục đẩy mạnh công cuộc cải cách hành chính đi đôi với việc tăng cường hợp tác phối hợp giải quyết vụ việc liên quan giữa các bộ ngành.

Sớm triển khai kí kết các thoả thuận song phương và công nhận lẫn nhau về kiểm dịch thực vật, tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm, nhất là các thị trường XK trọng điểm như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Australia, Newziland… Giải pháp này nhằm tránh cho doanh nghiệp gặp phải rào cản phi thuế, khi xuất khẩu sang một thị trường nào đó.

  • Hoàn thiện hệ thống chính sách tài chính, tín dụng và đầu tư phục vu XK

Thành lập quỹ bảo hiểm XK. Sau khi Việt Nam gia nhập WTO, các hình thức hỗ trợ trực tiếp cho XK như thưởng XK bị bãi bỏ. Do đó cần sử dụng nguồn vốn này và bổ sung thêm để thành lập quĩ hỗ trợ đầu tư, nhằm nghiên cứu cải tạo, đổi mới chuyển giao công nghệ, nâng cao tay nghề, cho công nhân sản xuất hàng XK.

Điều tiết tỉ giá hối đoái, lạm phát. Vai trò quản lý vĩ mô là phải điều tiết sự thay đổi tỷ giá hợp lí sao cho vừa thu hút được vốn đầu tư nước ngoài, vừa khuyến khích doanh nghiệp đầu tư hướng tới khuyến khích XK, hạn chế NK phục vụ cho việc tăng trưởng kinh tế mà vẫn kiểm soát được lạm phát ở mức hợp lí. Khóa luận: Giải pháp ngoại thương một năm sau gia nhập WTO.

Xây dựng các đề án XNK cho từng mặt hàng, từng địa bàn. Đặc biệt chú ý phát triển những mặt hàng mới, mặt hàng có điều kiện sản xuất không phụ thuộc nhiều vào sự biến động của thị trường như sản phẩm cơ khí, dây cáp điện, sản phẩm nhựa, sản phẩm gỗ… Đồng thời rà soát lại cơ chế chính sách khuyến khích sản xuất xuất khẩu đối với những mặt hàng truyền thống trọng điểm như hàng nông lâm thuỷ sản, dệt may, giày dép, thủ công mỹ nghệ… để có những điều chỉnh phù hợp hỗ trợ cho sản xuất và XK. Tiếp tục coi các thị trường ASEAN, Nhật, Hoa Kỳ, EU, TQ và các nước có chung đường biên giới là những thị trường trọng điểm.

Đối với những hiệp hội ngành hàng: Nâng cao vai trò của các hiệp hội trong việc cung cấp thông tin, thống nhất thực hiện các chiến lược phát triển sản xuất, liên kết trong kinh doanh, đàm phán ký kết hợp đồng, tránh để khách hàng lợi dụng ép giá gây thiệt hại chung. Cần có cơ chế phối hợp giữa các bộ ngành quản lí và các hiệp hội ngành hàng để tạo sự thống nhất trong chỉ đạo điều hành.

3.3.1.2. Nâng cao hiệu quả của công tác xúc tiến thương mại ( XTTM)

Có thể khẳng định hoạt động XTTM trong thời gian vừa qua đóng một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy và duy trì tốc độ tăng trưởng nhanh và ổn định của ngành ngoại thương Việt Nam. Trong thời gian tới, chúng ta cần đẩy mạnh hoạt động XTTM để kích thích XK và thương mại nội địa. XTTM giúp sản phẩm có tính cạnh tranh và doanh nghiệp bán được hàng trong và ngoài nước. Hoat động XTTM trong vài năm vừa qua đã hướng vào trọng điểm các mặt hàng, thị trường thông qua việc xây dựng và thực hiện các chương trình XTTM trọng điểm quốc gia, cơ chế tham vấn, điều phối hoạt động giữa các tổ chức XTTM. Chương trình XTTM trọng điểm quốc gia đã góp phần tập hợp nguồn lực theo hướng tạo qui mô có tính tổng hợp và hướng tập trung trong hỗ trợ doanh nghiệp bám sát hàng hoá và thị trường trọng điểm để tăng sức cạnh tranh của hàng hoá và doanh nghiệp. Nhằm tạo dựng chỗ đứng cho hàng hoá, dịch vụ Việt Nam trong tiến trình hội nhập vào thị trường khu vực và quốc tế, khẳng định doanh nghiệp và sản phẩm trên thị trường trong và ngoài nước, các chương trình xây dựng, quảng bá thương hiệu cần chú trọng xây dựng bảo vệ nhãn hiệu thương hiệu có bài bản hạn chế tình trạng chạy theo phong trào.

Tính chuyên nghiệp trong hoạt động XTTM của Việt Nam cần được nâng cao hơn nữa. Chúng ta cần đẩy mạnh hoạt động XTTM theo hướng vừa tiếp tục tăng cường sức mạnh mang tính hệ thống, vừa nâng cao trình độ chuyên môn hoá hoạt động XTTM, chú trọng đến chiều sâu để các hoạt động XTTM có hiệu quả . Để hoạt động này có những bước phát triển vững chắc và mạnh mẽ, chính phủ cần phải xây dựng chiến lược dài hạn trong phát triển XTTM trên nhiều mặt, làm sao để có thể huy động được tối đa các nguồn lực cho hoạt động này. Cục XTTM có vai trò tổ chức và quản lí hoạt động XTTM, xây dựng điều phối giám sát chương trình XTTM trọng điểm quốc gia. Vai trò ấy cần được tăng cường về hiệu quả hoạt động, nhất là trong lĩnh vực XK, trong các hoạt động khuyến mãi, hội chợ triển lãm, Một công việc không kém phần quan trọng là đẩy mạnh công tác đào tạo phân cấp quản lí trong XTTM để tạo chuyển biến về chất của hoạt động này. Khóa luận: Giải pháp ngoại thương một năm sau gia nhập WTO.

  • Từ thực trạng một năm qua , trong thời gian tới chúng ta cần đặc biệt lưu ý những vấn đề sau:

Tập trung các hoạt động XTTM của nhà nước vào tổ chức các chương trình lớn nhằm quảng bá hình ảnh quốc gia, đặc biệt là tới các thị trường NK lớn, thị trường NK có nhiều tiềm năng đối với hàng hoá của Việt Nam thông qua các kênh truyền hình lớn của quốc tế như: CNN, BBC, The economist…Các chương trình lớn cần chú ý bao gồm:

Chương trình hỗ trợ cung cấp thông tin cho doanh nghiệp. Mục tiêu của chương trình này, trước hết là đảm bảo cho doanh nghiệp có thể tiếp cận một cách nhanh chóng trực tiếp và cập nhật các văn bản pháp luật về kinh tế của các tổ chức mà Việt Nam là thành viên. Đồng thời cung cấp thông tin có tính chất dự báo, định hướng về thị trường, sản phẩm doanh nghiệp. Điều này đòi hỏi các cơ quan nhà nước, các tổ chức XTTM phải đổi mới một cách căn bản cách thức tiếp cận, xử lí thông tin.

Chương trình hỗ trợ doanh nghiệp về nghiên cứu và phát triển (R&D) như nghiên cứu phân tích thị trường, thiết kế sản phẩm mới, xây dựng các chuẩn để đánh giá… phục vụ cho việc mở rộng thị trường, phát triển sản phẩm, tìm đối tác của doanh nghiệp. Đây là yêu cầu hết sức cần thiết của doanh nghiệp nhưng do khả năng tài chính và nguồn lực có hạn nên các doanh nghiệp không thể tự tiến hành.

Chương trình xúc tiến tổng hợp về thương mại, đầu tư, dịch vụ, du lịch, văn hoá nhằm liên kết có hiệu quả hoạt động XTTM với các ngành, lĩnh vực gắn với việc quảng bá hình ảnh đất nước, con người, sản phẩm Việt Nam tại các thị trường trọng điểm và thị trường tiềm năng.

Đẩy mạnh hơn nữa các hoạt động XTTM cấp cao để thúc đẩy hợp tác, đầu tư và buôn bán giữa Việt Nam với các nước, thu hút các tập đoàn đa quốc gia đầu tư vào Việt Nam để từ đó tạo nên những làn sóng chuyển dịch đầu tư vào Việt Nam trong các lĩnh vực sản xuất hàng XK có nhiều tiềm năng.

Đổi mới công tác tổ chức các chương trình XTTM theo hướng chú trọng vào khâu tổ chức và cung cấp thông tin thị trường, giảm bớt các chương trình khảo sát thị trường mang tính nhỏ lẻ, tăng cường hoạt động XTTM thông qua việc hỗ trợ các đoàn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Khóa luận: Giải pháp ngoại thương một năm sau gia nhập WTO.

Trong biện pháp đổi mới hệ thống XTTM, cần chú trọng phân biệt rõ chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức trong hệ thống, trong đó các tổ chức XTTM chính phủ tập trung chủ yếu thực hiện chức năng quản lí nhà nước về XTTM, xây dựng khung pháp lí, cơ chế chính sách chủ trì các chương trình dự án XTTM quốc gia, đề xuất tham gia điều hành Quỹ XTTM- đầu tư quốc gia. Các tổ chức XTTM phi chính phủ và cả hiệp hội doanh nghiệp đóng vai trò là người trực tiếp tổ chức các hoạt động XTTM, đầu tư hỗ trợ các doanh nghiệp trong lĩnh vực và ngành hàng cụ thể, mà các tổ chức này đại diện và tham gia đề xuất thực hiện các chương trình XTTM quốc gia với tư cách “nhà thầu phụ cho chính phủ”.

3.3.1.3. Các biện pháp chống nguy cơ bán phá giá đối với hàng XK Việt Nam

Sau khi tham gia vào WTO, nguy cơ bị kiện chống bán phá giá của hàng XK Việt Nam ngày càng cao. Tất nhiên với tư cách thành viên WTO, Việt Nam có thế sử dụng cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO để chống lại sự lạm dụng các biện pháp chống bán phá giá của các nước đối tác thương mại. Tuy nhiên đây chỉ là biện pháp hạn chế trong ngắn hạn do các chủ thể tham gia từ Việt Nam không có đủ tiềm lực về tài chính. Vì vậy Việt Nam cần chủ động dựa vào chính sách riêng của mình để chủ động hạn chế rủi ro bị áp đặt các biện pháp chống bán phá giá, bắt đầu với chính sách thương mại. Tư cách “nền kinh tế thị trường” cho phép các nhà điều tra chống bán phá giá nước ngoài sử dụng các ước định về giá cả để ước tính giá cả nội địa và giá thành hàng XK của Việt Nam để kết luận có bán phá giá hay không. Những ước định này làm cho việc chứng minh được sự tồn tại của phá giá dễ dàng hơn nhiều, và làm tăng thêm biên độ phá giá so với trường hợp của các nền kinh tế thị trường. Vì vậy, biện pháp đối phó đầu tiên mà Việt Nam cần làm là nhanh chóng cải cách chính sách thương mại và công nghiệp của mình để được các nước đối tác công nhận là “nền kinh tế thị trường” cáng sớm càng tốt. Bởi các nhà điều tra bán phá giá sẽ tự động tra tư cách “nền kinh tế thị trường” cho các nhà XK Việt Nam thoả mãn 3 điều kiện sau:

  • Thứ nhất, Biểu thuế tối huệ quốc của Việt Nam đánh lên một sản phẩm liên quan ở mức vừa phải ( ví dụ < 10%)
  • Thứ hai, Các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam không áp đặt “các biện pháp vùng xám chủ chốt” lên các sản phẩm liên quan
  • Thứ ba, các công ty phân phối độc quyền nhà nước không được liên quan đến việc phân phối các chủng loại sản phẩm ( trong hoặc ngoài nước) tương tự như những sản phẩm liên quan.

Vì vậy trong thời gian tới, việc áp dụng những biểu thuế vừa phải đồng bộ để giảm bóp méo về giá cả trên thị trường nội địa sẽ góp phần giảm đáng kể khả năng bị kiện bán phá giá. Tất nhiên, một biện pháp hữu hiệu khác, nhưng không dễ thực hiện là nâng cấp cơ cấu mặt hàng XK, tránh tập trung quá nhiều vào các mặt hàng dễ bị kiện như dệt may, thuỷ sản, da giày… Chừng nào Việt Nam vẫn tập trung vào xuất khẩu các mặt hàng nói trên thì nguy cơ bị kiện chống phá giá vẫn còn. Trong những năm ngay sau khi gia nhập WTO, do cơ cấu sản xuất hàng và xuất khẩu không thể có ngay những biến chuyển đáng kể nên nếu chính sách thương mại không có những cải thiện lớn theo hướng nói trên thì Việt Nam cần phải tiên lượng trước và sẳn sàng đương đầu với những vụ kiện mới. Các nhà XK Việt Nam cũng cần nhận thức rõ ràng rằng XK của Việt Nam sẽ sẽ ít bị rủi ro kiện bán phá giá nếu chúng ta cũng tích cực mở cửa thị trường của mình theo đúng cam kết với WTO.

3.3.1.4. Đưa ra những chính sách tập trung phát triển XK những mặt hàng và dịch vụ trọng điểm

Với tư cách là thành viên của WTO, hàng hoá và dịch vụ XK của Việt Nam sẽ đối mặt với nhiều khó khăn hơn chủ yếu là do những hỗ trợ trực tiếp có tính trợ cấp của chính phủ sẽ phải hạn chế sử dụng. Vì vậy, cơ cấu hàng xuất khẩu và dịch vụ xuất khẩu của Việt Nam phải chuyển dịch trên định hướng chính phủ và lợi thế so sánh, nhu cầu của thị trường thế giới và xu hướng dịch chuyển sản xuất giữa các khu vực trên thế giới. Theo đó, đến năm 2028 cần có những chính sách tập trung phát triển những hàng hoá và dịch vụ trọng điểm. Đối với nhóm hàng hoá sản phẩm công nghiệp và chế biến cần tập trung nâng cao kim ngạch XK những mặt hàng dưới đây: Khóa luận: Giải pháp ngoại thương một năm sau gia nhập WTO.

Sản phẩm điện tử và máy tính là nhóm sản phẩm có thể sản xuất với qui mô lớn, tận dụng nguồn nhân lực dồi dào, có chi phí sản xuất thấp nhưng đáp ứng được yêu cầu của ngành để phục vụ XK. Cơ cấu sản phẩm trong nhóm này cũng cần tập trung vào các sản phẩm tinh vi, có hàm lượng giá trị gia tăng và giá trị XK cao như: Chíp điện tử, màn hình tinh thể lỏng, tivi plasma… Để sản xuất ra các sản phẩm này đòi hỏi các dự án phải có vốn đầu tư lớn, máy móc thiết bị hiện đại.

Sản phẩm dệt may, da giày là sản phẩm Việt Nam có thể thực hiện được các đơn hàng đòi hỏi mức độ tinh xảo cao. Chính vì thế, cơ cấu của nhóm hàng này cần chuyển sang về khâu thiết kế, các đơn giá FOB, và phát triển các dự án sản xuất nguyên phụ liệu ở trong nước để hạ giá thành nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm XK. Trong nhóm hàng này, cần phát triển đồ nội thất, cặp, túi xách và các đồ gia dụng khác.

Đối với thực phẩm chế biến, cần phải tập trung giải quyết một số hạn chế cơ bản của ngành của ngành đó là công nghệ chế biến, PR và marketing, cho sản phẩm và một trong các giải pháp là thu hút nhiều hơn nữa các nhà đầu tư nước ngoài vào sản xuất, chế biến sản phẩm XK.

Nhóm sản phẩm phần mềm là sản phẩm rất đa dạng và phong phú, từ thiết kế các siêu vi mạch gói phần mềm ứng dụng chuẩn hoá đến phần mềm sản xuất kinh doanh… Để kim ngạch XK mặt hàng này được nhanh chóng nâng cao, cần cải thiện một số hạn chế như ngoại ngữ và trình độ quốc tế hoá của các lập trình viên.

Đối với hàng thủ công mĩ nghệ, trong thời gian ngắn và trung hạn, việc lựa chọn sản xuất và XK các mặt hàng này là một trong những lựa chọn tối ưu của nước ta. Do vậy khâu thiết kế kiểu dáng cần bắt kịp được với nhu cầu thị trường.

Nhóm hàng nông lâm thuỷ sản, vẫn nên tiếp tục tập trung vào các mặt hàng chủ lực: cà phê, gạo, điều… Trong nhóm hàng này cần tập trung nâng cao hàm lượng chế biến, giảm tối đa hàm lượng xuất khẩu sản phẩm thô.

Trong lĩnh vực dịch vụ, căn cứ vào những lợi thế so sánh hiện tại định hướng phát triển của chính phủ và lộ trình mở của thị trường dịch vụ với WTO cần phải đẩy mạnh các dịch vụ sau: dịch vụ vận tải, hàng không… Để thực hiện kế hoạch đề ra trong giai đoạn 2024 – 2028 ngành dịch vụ cần phát triển thương hiệu, nâng cao sức cạnh tranh và độ mở cửa thị trường trong thời gian tới nhằm góp phần thu hút công nghệ và giảm giá thành. Khóa luận: Giải pháp ngoại thương một năm sau gia nhập WTO.

3.3.1.5. Giải pháp hạn chế nhập siêu

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng nhập siêu, nhưng nguyên nhân sâu sa của hiện tượng này chính là do hiệu quả và khả năng cạnh tranh của hàng hoá sản xuất trong nước còn hạn chế nên không thể đáp ứng đủ nhu cầu và nếu có hàng hoá để đáp ứng thì cũng khó cạnh tranh với hàng ngoại nhập. Nhập siêu trong thời gian tới là việc không thể tránh khỏi. Tuy nhiên có ba biện pháp lâu dài đó là: thứ nhất, chuyển thị trường nhập khẩu, mở rộng và đa dạng hoá thị trường nhập khẩu hiện tại của nước ta, hạn chế sự phụ thuộc quá mức vào một số thị trường. Đặc biệt chú ý đến một số thị trường như: EU, Hoa Kỳ, Nhật là những thị trường có công nghệ cao và công nghệ nguồn;Thứ hai, đầu tư sản xuất hàng hoá thay thế hàng nhập khẩu. Trong chiến lược này cần phải có chính sách mở của để khuyến khích thu hút đầu tư phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ; Thứ ba, đẩy mạnh xuất khẩu mạnh hơn nữa để giảm nhập siêu.

3.3.1.6. Nhà nước với chính sách phát triển nguồn nhân lực

Nguồn nhân lực luôn là một thế mạnh của Việt Nam khi bước vào hội nhập kinh tế quốc tế. Lao động nước ta dồi dào, giá rẻ cần cù, thông minh luôn được các nhà đầu tư chú ý khi xem xét khi đầu tư vào Việt Nam. Tuy vậy chúng ta cũng dễ dàng nhận thấy là tính chuyên nghiệp cũng như trình độ của đội ngũ lao động Việt Nam chưa cao. Theo quan điểm của Đảng, trong thời gian tới, nếu chúng ta muốn nâng cao kim ngạch XK thì một biện pháp quan trọng không thể không kể tới là gia tăng lượng giá trị gia tăng. Muốn làm được như vậy trước hết cần nâng cao chất lượng nguồn lao động, đạt được những tiêu chuẩn do quốc tế thừa nhận. Đối với nền kinh tế nói chung và ngành ngoại thương nói riêng, yếu tố con người là nhân tố quyết định cho sự phát triển trong giai đoạn hội nhập như hiện nay. Hiện nay lao động nước ta còn 4 điểm hạn chế lớn cần khắc phục:

  • Trình độ chuyên môn, tay nghề kĩ năng hành nghề và tính năng động linh động chưa cao.
  • Tinh thần chấp hành kỉ luật lao động, hiểu biết pháp luật nói chung, pháp luật lao động nói riêng và ý thức chất hành pháp luật yếu.
  • Văn hoá ứng xử trong lao động chưa phù hợp yêu cầu của sản xuất công nghiệp.
  • Thiếu ngoại ngữ.

Để khắc phục những nhược điểm trên, nhà nước cần phải đầu tư hơn nữa cho giáo dục, năng cao chất lượng đào tạo trong nước. Riêng đối với lao động trong ngành ngoại thương, cần phải nâng cao hơn nữa trình độ ngoại ngữ, khả năng giao tiếp với khách hàng nước ngoài. Luôn luôn nâng cao tay nghề để theo kịp và đáp ứng được nhu cầu thị trường quốc tế.

3.3.2. Giải pháp về phía doanh nghiệp Khóa luận: Giải pháp ngoại thương một năm sau gia nhập WTO.

Với vai trò là người trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất hàng hoá và tổ chức XNK, các doanh nghiệp các doanh nghiệp cần chủ động tận dụng những điều kiện thuận lợi cũng như sự hỗ trợ từ phía nhà nước để đẩy mạnh sản xuất, đổi mới tổ chức hoạt động nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, khi nước ta đã gia nhập WTO, sức cạnh tranh ngày càng gay gắt, môI trường cạnh tranh được mở rộng trên phạm vi toàn thế giới, thì yêu cầu về hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp ngoại thương nói riêng ngày càng cấp thiết. Chúng ta muốn đẩy mạnh XK, giảm nhập siêu thì doanh nghiệp Ngoại thương phải là nhân tố chủ chốt, đi tiên phong. Muốn làm được điều đó trong bối cảnh toàn cầu hoá như hiện nay, các doanh nghiệp ngoại thương nên tập trung vàp một số vấn đề như sau

3.3.2.1. Tổ chức tái cơ cấu doanh nghiệp

Khi hội nhập, các doanh nghịêp ngoại thương Việt Nam sẽ tham gia vào một sân chơi mới với sự cạnh tranh bình đẳng. ở đó sẽ không còn ưu đãi hay bảo hộ nào nữa. Các đối thủ mới với tiềm lực hùng mạnh về tài chính công nghệ, và năng lực cạnh tranh cao thực sự là một thách thức lớn đối với doanh nghiệp Việt Nam khi chưa có kinh nghiệm trong sân chơi này. Một điểm đáng lưu ý là doanh nghiệp Việt Nam chưa thực sự đổi mới tư duy trong quản lí và tổ chức. Bởi vậy trong thời gian tới, các doanh nghiệp cần tính toán kĩ để sắp xếp, tổ chức lại lao động, hệ thống sản xuất, hệ thống tài chính, hệ thống phân phối, thị trường tiêu thụ. Sự sắp xếp thay đổi một cách toàn diện theo quy trình chuẩn sẽ tạo cho doanh nghiệp có khả năng thực hiện công việc của mình một cách hiệu quả và bền vững, từ đó tạo lợi thế cạnh tranh, khẳng định được vị thế trên thị trường toàn thế giới. Các đề án tái cơ cấu doanh nghiệp vẫn đang được triển khai và thực hiện khá rộng ở Việt Nam. Các mô hình công ty mẹ công ty con, mô hình tập đoàn không còn xa lạ nữa. Các doanh nghiệp đã sẵn sàng đón nhận cuộc chơi bình đẳng giữa tất cả các doanh nghiệp trong xu thế hội nhập mới. Tuy nhiên sự chuẩn bị cho cuộc chơi này chưa thật chủ động ở tất cả các doanh nghiệp. Có những doanh nghiệp dự báo được xu hướng thời cuộc đã tiến hành thay đổi cơ cấu từ nhiều năm nay. Tuy nhiên vẫn còn những doanh nghiệp thờ ơ với thời cuộc, không đủ khả năng để đối mặt với thách thức.

Dự án thí điểm tái cơ cấu doanh nghiệp được Bộ phát triển quốc tế Vương quốc Anh tài trợ thông qua ngân hàng Thề giới. Ba tổng công ty được chọn làm thí điểm tham gia dự án này là Dệt may (Vinatex), Thuỷ sản (Seapodex), Caphê (Vinacafe). Với mục tiêu chung là cải thiện năng lực kinh doanh lâu dài của các tổng công ty, kế hoạch tái cơ cấu sẽ được chia làm 2 giai đoạn 2021-2023 và 2023-2026. Trong đó giai đoạn một đã cơ bản hoàn thành với việc xây dựng các kế hoạch tái cơ cấu cho các tổng công ty. Giai đoạn hai sẽ tập trung vào một số hoạt động mở rộng ở Vinatex và Vinacafe. Qua dự án này, bài học kinh nghiệm bước đầu rút ra đó là : Yếu tố quyết định sự thành công trong quá trình tái cơ cấu là sự thay đổi nhận thức của các cấp lãnh đạo, kết hợp với đường lối chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước, có sự hỗ trợ của các nhà tài trợ, các nhà tư vấn có kinh nghiệm.

Từ những dự án thí điểm trên có thể thấy, tái cơ cấu doanh nghiệp là cần thiết cho các doanh nghiệp Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Tái cơ cấu giúp các doanh nghiệp ngoại thương hoạt động hiệu quả hơn, đủ sức cạnh tranh với các doanh nghiệp trên toàn thế giới. Khóa luận: Giải pháp ngoại thương một năm sau gia nhập WTO.

3.3.2.2. Nâng cao năng lực thu nhận thông tin KTQT, hiểu biết về WTO

Doanh nghiệp ngoại thương trong bối cảnh hội nhập như ngày nay, khi mà nước ta đã trở thành thành viên chính thức của WTO, cần không ngừng nâng cao hiểu biết về thương mại quốc tế, nhằm sẵn sàng đối phó với những tranh chấp phát sinh khi kinh doanh XNK, cũng như chủ động yêu cầu chính phủ có những biện pháp xử lí kịp thời khi các đối thủ nước ngoài có hành vi cạnh tranh không lành mạnh trên thị trường Việt Nam. Các điều khoản thương mại quốc tế, Incoterms, ISBP, UCP500, ULC…là những văn bản pháp luật mà doanh nghiệp ngoại thương phải nắm tường tận. Bên cạnh đó, khi chúng ta đã là thành viên của WTO, thì việc nghiên cứu tổ chức này sẽ giúp chúng ta có thể tận dụng những ưu đãi và hạn chế những bất cập trong quan hệ buôn bán với bạn bè quốc tế. Trên thực tế các doanh nghiệp Việt Nam trong thời gian vừa qua đã vướng vào rất nhiều các vụ kiện bán phá giá của Hoa Kỳ, EU… Nhằm tránh những vụ kiện bất lợi như vậy, doanh nghiệp Việt Nam cần nghiên cứu sâu hơn nữa những qui định của WTO về lĩnh vực này. Bên cạnh liên tục thu nhận thông tin từ thị trường quốc tế, chúng ta cũng cần không ngừng đẩy mạnh trao đổi thông tin giữa các doanh nghiệp ngoại thương và các bộ ngành liên quan như Bộ công thương, Tham tán thương mại ở các nước. Điều này giúp doanh nghiệp vững tin hơn khi hợp tác kinh doanh với các nước bên ngoài. Sự giúp đỡ về pháp lí của các tham tán thương mại là cần thiết trong việc cung cấp thông tin về thị trường môi trường pháp luật, giúp doanh nghiệp có định hướng đúng đắn khi kinh doanh.

3.3.2.3. Không ngừng mở rộng thị trường

Nói chung các doanh ngoại thương, đặc biệt là các doanh nghiệp XK cần năng động hơn nữa trong công tác tìm kiếm và mở rộng thị trường. Tham gia hội nhập nền kinh tế Việt Nam vào thị trường thế giới là gia nhập nền kinh tế thị trường biến động với cung cầu luôn thay đổi, cần phải có chiến lược thích ứng nhanh. Do nước ta là nước gia nhập sau, cần phải tận dụng cơ hội về khoảng trống thị trường do xu thế toàn cầu hoá tạo ra, để nhanh chóng chiếm lĩnh những thị trường đó. Chính vì vậy trong thời gian trước mắt, nỗ lực sản xuất các mặt hàng ta có lợi thế so sánh quốc tế, hướng về xuất khẩu sẽ là bước đi đúng đắn cho các nhà sản xuất của Việt Nam.

Doanh nghiệp ngoại thương Việt Nam khó có thể xâm nhập thị trường quốc tế bằng con đường rộng, dàn trải, mà chỉ có thể tìm kiếm và tập trung nguồn lực vào các “tiểu thị trường” hay còn gọi là chiến lược thị trường ngách. Thị trường ngách đựơc hiểu là một bộ phận nhỏ tập trung vào nhóm khách hàng nào đó, một khu vực thị trường hẹp nào đó trên thị trường quốc tế. Để thực hiện được chiến lược này, các doanh nghiệp ngoại thương ngoài nỗ lực tự chính sức lực của mình cần phải có các hình thức phối hợp hỗ trợ của các tổ chức đại diện trong một chính sách tổng thể và đồng bộ. Trong đó hoạt động của các dự án hỗ trợ doanh nghiệp XNK chiếm một vị trí hết sức đáng quan tâm.

3.3.2.4. Phát huy hơn nữa yếu tố con người Khóa luận: Giải pháp ngoại thương một năm sau gia nhập WTO.

Thực tiễn đã chứng minh, nhân tố con người đóng vai trò vô cùng quan trọng trong sự thành công hay thất bại của một doanh nghiệp. Tái sản lớn nhất của các công ty ngày nay không phải là công xưởng, tiền của mà là ý tưởng, chất xám của con người. Do đó việc phát triển nhân tố con người đóng vai trò then chốt, là điều kiện vô cùng quan trọng trong quá trình thực hiện giải pháp kinh doanh của mình. Đầu tư vào nguồn nhân lực là hoạt động sinh lời nhất, hiệu quả nhất đối với tất cả các doanh nghiệp. Trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam đang hội nhập vào nền kinh tế thế giới, thì vai trò của nguồn nhân lực lại càng được đánh giá cao hơn. Bởi trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam khi mà các yếu tố như công nghệ, tài chính còn yếu thì nguồn nhân lực dồi dào, cần cù, thông minh là lợi thế lớn nhất để Việt Nam hội nhập thành công. Chính vì thế, doanh nghiệp ngoại thương Việt Nam cần phải tập trung phát huy nhân tố con người một cách hiệu quả nhất để khai thác được những thế mạnh và hạn chế những điểm yếu của người lao động mới có thể cạnh tranh được thành công khi chúng ta hội nhập sâu vào WTO. Khi đầu tư vào nguồn nhân lực, một số kiến nghị cho doanh nghiệp đó là:

Thứ nhất, doanh nghiệp ngoại thương cần phải chú trọng hơn nữa trong việc nâng cao trình độ cho cán bộ, cải tiến lối làm việc, rèn luyện đạo đức tác phong lao động. Doanh nghiệp nên quan tâm đào tạo và đầu tư thích đáng cho cán bộ quản lí ở cấp doanh nghịêp. Nếu các thành viên này có trình độ kinh nghiệm, khả năng đánh giá, năng động, có mối quan hệ tốt với bên ngoài thì họ sẽ đem lại cho doanh nghiệp không những lợi ích trước mắt như tăng doanh thu, lợi nhuận và còn cả lợi ích uy tín lâu dài của doanh nghiệp. Để phát huy năng lực của bộ phận này, đòi hỏi các doanh nghiệp ngoại thương phải chú trọng vào việc tìm và bồi dưỡng những cán bộ trẻ có tài, có năng lực, năng động với thời cuộc. Đối với người lao động, cần thông quan “xã hội hoá xã hội và giáo dục” tiến hành đào tạo và táI đào tạo đội ngũ lao động theo chiến lược sản phẩm đã xác định theo hướng tỉ trọng lao động cơ bắp giảm dần, tỷ trọng lao động trí óc tăng lên và ngày càng chiếm ưu thế. Đối với doanh nghiệp ngoại thương do đặc trưng của ngành nghề là phải tiếp xúc với khách hàng quốc tế, vì vậy đòi hỏi đội ngũ lao động trong ngành phải có trình độ ngoại ngữ tốt. Ngoại ngữ thành thạo là chìa khoá để đàm phán, ký kết hợp đồng ngoại thương được diễn ra dễ dàng hơn. Do vậy không ngừng nâng cao trình độ ngoại ngữ là yêu cầu cấp thiết cho người lao động trong ngành ngoại thương. Các doanh nghiệp nên tạo điều kiện, hỗ trợ khuyến khích người lao động nâng cao ngoại ngữ và khả năng giao tiếp với bạn bè quốc tế.

Thứ hai, cần luôn luôn chú ý quan tâm chú ý đến nguyện vọng tâm tư của người lao động, đảm bảo tính công bằng trong đãi ngộ, môi trường lao động ít độc hại và một bầu không khí tập thể hoà thuận, thoải mái, năng động. Xây dung một nền “văn hoá doanh nghiệp” lành mạnh và phù hợp với ngành, làm người lao động từ trên xuống dưới luôn thấm nhuần tư tưởng mục đích hoạt động của doanh nghiệp, của ngành. Nó sẽ tạo ra chất keo gắn bó, giữa những người lao động với nhau và giữa người lao động với công ty của mình. Từ đó thúc đẩy động cơ làm việc, phát huy năng lực sáng tạo của người lao động, giúp người lao động tiếp thu được chuẩn mực đạo đức và có thái độ hăng hái làm việc, nhằm đạt được mục đích của công ty, tạo động lực mạnh mẽ cho sự phát triển. Khóa luận: Giải pháp ngoại thương một năm sau gia nhập WTO.

3.3.2.5. Nâng cao chất lượng sản phẩm XK, tăng cường sản xuất các mặt hàng thay thế nhập khẩu

Doanh nghiệp Việt Nam tuy không có nguồn vốn và nguồn công nghệ dồi dào nhưng, bù lại chúng ta lại có nguồn lao động và tài nguyên phong phú. Do vậy sản phẩm chúng ta sản xuất ra luôn có mức giá cạnh tranh và được người tiêu dùng ưa chuộng. Tuy nhiên, khi xã hội ngày càng phát triển đi lên, vấn đề giá cả không còn là một tiêu chuẩn cạnh tranh mạnh nhất nữa. Người tiêu dùng hiện nay phần lớn đều quan tâm đến chất lượng của sản phẩm, tính an toàn với môi trường. Chính vì thế yếu tố chất lượng và bảo vệ môi trường đang được một số thị trường như EU, Nhật, Hoa Kỳ coi là một biện pháp kĩ thuật chống lại hàng hoá các nước nhập vào các thị trường này. Vì thế, chú trọng nâng cao chất lượng sản phẩm là một nhịêm vụ cấp bách của bất kỳ doanh nghịêp ngoại thương nào. Nâng cao chất lượng sản phẩm không những giành được lợi thế cạnh tranh trên bình diện doanh nghiệp mà còn mang lại uy tín trên tầm quốc gia. Nâng cao chất lượng sản phẩm đồng nghĩa với việc chúng ta cần đầu tư kiểm tra nghiêm ngặt ngay trong khâu đầu vào sản xuất. Nguồn lực kĩ thuật cũng là một trong những nhân tố quan trọng góp phần không nhỏ vào việc nâng cao chất lượng sản phẩm. Vì thế cần đầu tư hơn nữa cho công nghệ sản xuất, đảm bảo sản phẩm làm ra đáp ứng được tiêu chuẩn của những thị trường khó tính nhất. Có như vậy chúng ta mới khẳng định được thương hiệu của mình, gây dựng lòng tin với bạn bè quốc tế.

KẾT LUẬN Khóa luận: Giải pháp ngoại thương một năm sau gia nhập WTO.

Qua việc nghiên cứu và trình bày tình hình Ngoại thương Việt Nam sau một năm gia nhập WTO, đồng thời đề xuất một số kiến nghị trong thời gian tới, em rút ra một số luận điểm sau:

Thứ nhất, gia nhập WTO là một chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước. WTO đã mang lại cho nền kinh tế Việt Nam những biến chuyển không nhỏ, mở ra những thời cơ mới, thúc đẩy kinh tế nước ta nói chung và ngành Ngoại thương nói riêng phát triển không ngừng.

Thứ hai, Sau một năm gia nhập WTO, Ngoại thương Việt Nam đã thu được những kết quả đáng mừng, hoàn thành được những chỉ tiêu mà Đảng Nhà Nước đề ra, đóng góp quan trọng trong công cuộc hiện đại hoá đất nước. Bên cạnh đó, Ngoại thương nước ta vẫn còn rất nhiều hạn chế cả về phía Nhà nước và doanh nghịêp, trong đó vấn đề về về cơ chế chính sách vẫn là những vẫn đề nổi cộm đáng quan tâm.

Nhìn lại Ngoại thương sau 1 năm gia nhập, cũng giúp chúng ta có được những dự đoán tổng quát trong tương lai. Trong thời gian tới (2026), ngành Ngoại thương nước ta vẫn tiếp tục phải đối mặt với những thử thách to lớn, đồng thời cũng có rất nhiều cơ hội. Làm sao để tận dụng cơ hội và hạn chế những thách thức thúc đẩy kinh tế phát triển là nhiệm vụ của Nhà nước, doanh nghiệp, và của tất cả công dân nước Việt Nam. Khóa luận: Giải pháp ngoại thương một năm sau gia nhập WTO.

Em xin chân thành cảm ơn cô giáo TS. Nguyễn Thị Thanh Minh đã tận tình giúp đỡ em trong thời gian hoàn thành khoá luận này. Khoá luận này chác chắn còn có nhiều thiếu sót, em mong nhận được sự quan tâm, chỉ bảo thêm của các thầy cô.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>> Khóa luận: Ngoại thương nhìn lại một năm sau khi gia nhập WTO

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Contact Me on Zalo
0877682993
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x