Khóa luận: Giải pháp DN vừa và nhỏ trong tiến trình hội nhập

Rate this post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Giải pháp DN vừa và nhỏ trong tiến trình hội nhập hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Khóa luận: Giải pháp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

Nội dung chính

3. 1. Kinh nghiệm phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở một số nước như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan và Bài học cho Việt Nam

3.1.1. Kinh nghiệm phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ của các nước Đông Á (Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan)

3.1.1.1 Những nhân tố đóng góp vào sự tăng trưởng của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở các nước Đông Á

Trong thập niên 80, 90 của thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21, các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan đã có một bước phát triển nhanh chóng và ngoạn mục. Kinh nghiệm phát triển của những quốc gia và vùng lãnh thỏ này cho thấy:

Các doanh nghiệp vừa và nhỏ có vai trò quan trọng trong việc tạo việc làm và tạo ra giá trị tăng thêm cho các quốc gia trên thế giới, đặc biệt các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Đông Á, đã có những bước phát triển thần kỳ giúp cho nền kinh tế của các nước này phát triển mạnh đạt trung bình 6,81% ở Hàn Quốc, 8,14% ở Đài Loan.

  • Bảng 3.1: Mức độ phát triển kinh tế của các nước Đông Á

Nhật Bản: Nhật Bản phát triển mạnh nền kinh tế 2 tầng với tầng 1 là các doanh nghiệp lớn làm trụ cột và thu hút cạnh tranh với đối thủ từ nước ngoài, với tầng 2 dành cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển từ những năm 50 của thế kỷ 20. Sau gần 35 năm phát triển và trưởng thành đến nay, tỷ lệ việc làm vẫn ở mức ổn định đạt 70% – 80% trong ngành chế tạo. Tỷ lệ tạo ra giá trị tăng thêm và sản lượng của các doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Hàn Quốc: Vai trò của các doanh nghiệp vừa và nhỏ có những bước thay đổi lớn: tỷ lệ việc làm trong ngành sản xuất tăng từ 49% năm 1979 lên đến 69% năm 2019, cùng với đó là giá trị tăng thêm trong ngành này tăng từ 32% lên đến 47% trong cùng thời kỳ. Những số liệu thống kê thời kỳ 2016 -2022 (hậu khủng hoảng kinh tế tại Đông Nam Á) cho thấy rằng các doanh nghiệp vừa và nhỏ là một nhân tố quan trọng, có tính quyết định khiến kinh tế Hàn Quốc khôi phục. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ Hàn Quốc nhìn chung có vai trò quan trọng trong việc gia tăng xuất khẩu, và đầu tư ra nước ngoài. Theo số liệu thống kê từ Tổng Cục Thống Kê Hàn Quốc, doanh nghiệp vừa và nhỏ đóng góp 35% sản lượng xuất khẩu hàng hoá và có mức đầu tư ra nước ngoài lớn hơn nhiều lần so với các doanh nghiệp lớn của Hàn Quốc. Khóa luận: Giải pháp DN vừa và nhỏ trong tiến trình hội nhập.

Đài Loan: Các doanh nghiệp vừa và nhỏ đóng vai trò vô cùng quan trọng tại Đài Loan do từ khi thiết lập chế độ năm 1948, chủ trương phát triển kinh tế của Đài Loan lấy phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ làm nền tảng phát triển của vùng lãnh thổ này.

Các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn hạn chế khủng hoảng kinh tế, khởi nguồn của những phát minh, cải tiến kỹ thuật, đóng góp vào sự phát triển kinh tế do có chỉ số năng suất (TFP) cao hơn so với các doanh nghiệp lớn.

Nhật Bản: Theo các cuộc nghiên cứu do Ngân Hàng Thế Giới tài trợ cho thấy rằng các doanh nghiệp vừa và nhỏ có tham gia xuất khẩu hàng hoá đã kinh doanh rất khởi sắc sau cuộc khủng hoảng kinh tế 2017 do Ngân Hàng Trung ương Nhật phá giá đồng Yên. Nguyên nhân chính giúp các doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển mạnh sau khủng hoảng là do kinh doanh xuất khẩu phát đạt và có được tính kinh tế theo quy mô cần thiết và năng suất cao hơn.

Hàn Quốc: Nhìn chung, quốc gia này vốn chỉ tập trung vào phát triển các tập đoàn lớn, chi phối nền kinh tế (Chaebol). Tuy nhiên, các doanh nghiệp vừa và nhỏ sau 25 năm phát triển đã trở nên quan trọng hơn thông qua quá trình tạo ra được nhiều giá trị tăng thêm và việc làm nhiều hơn. Sau cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2017, các cuộc điều tra cho thấy các doanh nghiệp càng ít nhân viên thì càng phải sa thải ít nhân viên. Do vậy, các doanh nghiệp vừa và nhỏ có tác dụng làm giảm khủng hoảng kinh tế. Hơn thế nữa cũng có những bằng chứng cho thấy trong suốt thời kỳ khủng hoảng, các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong lĩnh vực dịch vụ đã tạo việc làm cho những nhân viên bị sa thải trong thời kỳ khủng hoảng.

Đài Loan: Nguyên nhân khiến vùng lãnh thổ này ít bị tác động của khủng hoảng kinh tế Châu Á nhất là do Đài Loan có tỷ lệ doanh nghiệp vừa và nhỏ cao hơn hẳn so với các nước khác, hệ thống luật pháp tạo ra ít rào cản nhất đối với việc thành lập và công bố phá sản của doanh nghiệp và đặc biệt là không hề có một sự ưu đãi nào cho những doanh nghiệp vừa và nhỏ kinh doanh kém hiệu quả nhưng đem lại việc làm cho người dân. Hơn thế nữa, doanh nghiệp vừa và nhỏ lại thích nghi nhanh hơn với sự thay đổi của môi trường kinh doanh, chu kỳ kinh tế, bền vững hơn thông qua quá trình cạnh tranh khốc liệt để giành giật thị trường. Khóa luận: Giải pháp DN vừa và nhỏ trong tiến trình hội nhập.

3.1.1.2 Ba con đường phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ khác nhau của Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan

Chính sách phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ của 3 nước và vùng lãnh thổ: Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan phản ánh 3 con đường phát triển kinh tế dựa trên mức độ coi trọng phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ khác nhau của mỗi một quốc gia và vùng lãnh thổ.

  • Đài Loan – Con đường thứ nhất

Vùng lãnh thổ này vốn được biết đến với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, tạo nền tảng bền vững cho sự hưng thịnh và phát đạt của vùng đảo quốc nhỏ bé nhưng phồn vinh này…đi theo theo hướng coi trọng vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ và thực hiện những chính sách phát triển mạnh mẽ khu vực doanh nghiệp này.

Chính sách phát triển kinh tế của Đài Loan ngay từ lúc khởi đầu đã tập trung vào phát triển những doanh nhân nhỏ do yếu tố kinh tế chính trị. Những thương nhân Nhật Bản đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ Đài Loan tham gia vào sản xuất thông qua các hợp đồng phụ và xuất khẩu qua mạng lưới những thương nhân và chính các doanh nghiệp vừa và nhỏ này.

Rào càn gia nhập và rút khỏi thị trường đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại vùng lãnh thổ này là rất dễ dàng. Các doanh nghiệp này có thể bắt đầu kinh doanh bằng cách tham gia chế tạo cho những hãng khác và do vậy sẽ có một thị trường sẵn có mà không cần phải phát triển thương hiệu riêng của mình. Điều này sẽ tiết kiệm được chi phí quảng cáo và chí phí nghiên cứu phát triển. Khóa luận: Giải pháp DN vừa và nhỏ trong tiến trình hội nhập.

  • Hàn Quốc – Con đường thứ hai

Nước này vốn được biết đến với những tập đoàn khổng lồ (Chaebol) hùng mạnh, làm khuynh đảo cả thế giới với những cái tên như: Samsung, Hyundai, LG…đi theo hướng đánh giá thấp vai trò của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp lớn phát triển mạnh còn các doanh nghiệp vừa và nhỏ bị lãng quên.

Những doanh nghiệp vừa và nhỏ chỉ tạo được vai trò quan trọng của mình sau năm 1977 khi kế hoạch phát triển công nghiệp nặng và hoá chất (HCI Plan) được mong đợi là sẽ phát triển 6 ngành công nghiệp chủ yếu là: kim loại màu, máy móc, đóng tàu, điện tử, viễn thông và hoá chất với hy vọng tập trung vào việc sản xuất thay thế nhập khẩu ra đời. Các doanh nghiệp lớn theo kế hoạch này được đầu tư phát triển mạnh về công nghệ, tài chính, nhân sự… đã tạo sự thay đổi lớn đối với trình độ khoa học công nghệ, giá cả các nhân tố, nguồn hỗ trợ tài chính, giá trị tăng thêm, thuế xuất nhập khẩu, rào cản pháp lý…khiến cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ có cơ hội phát triển.

Các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Hàn Quốc có mức độ tập trung cao, hầu hết ở thành thị. Còn các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại nông thôn bị mất ưu thế cạnh tranh khiến cho quá trình phân phối thu nhập giữa khu vực thành thị và nông thôn có khoảng cách rất lớn.

  • Nhật Bản – Con đường thứ ba

Nước này vốn nổi tiếng với kiến trúc kinh tế 2 tầng hùng mạnh đã tạo nên một Nhật Bản thần kỳ. Tầng 1 gồm các doanh nghiệp lớn như: Sumitomo, Misubishi, Toyota…đi xâm chiếm cả thế giới với những hàng hoá có chất lượng cao, giá cả phải chăng và trình độ quản lý tốt. Tầng 2 gồm các doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển trên cơ sở thị trường trong nước và hợp tác chế tạo linh kiện, phụ tùng cho các tập đoàn lớn. Như vậy, Nhật Bản đi theo con đường phát triển cả những doanh nghiệp lớn và những doanh nghiệp vừa và nhỏ trên cơ sở hợp tác với các doanh nghiệp lớn.

Doanh nghiệp vừa và nhỏ của Nhật Bản chủ yếu trong lĩnh vực dân sự trong suốt chiến tranh thế giới thứ 2 nên sau chiến tranh những doanh nghiệp này có được cơ hội vô cùng thuận lợi khi nước Nhật trong tình trạng khan hiếm những hàng hoá chế tạo. Thời kỳ này gọi là “India Summer” cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển mà không hề có một sự hạn chế và kiểm soát nào”

Tuy nhiên trong giai đoạn đầu của thời kỳ hậu chiến tranh, chính sách của Nhật Bản chủ yếu là bảo hộ sản xuất trong nước. Đến giữa thập niên 50, chính sách của chính phủ Nhật Bản thay đổi mạnh từ bảo hộ sang khuyến khích xuất khẩu và hiện đại hoá. Vào thập niên 70, lại có một bước chuyển biến lớn nữa từ chính sách khuyến khích sản xuất quy mô lớn, coi trọng tăng trưởng sang sản xuất với chất lượng cao và đáp ứng thị hiếu tiêu dùng để phù hợp với chính sách nâng cao hàm lượng chất xám trong sản phẩm của uỷ ban chính sách doanh nghiệp vừa và nhỏ.

3.1.2. Bài học kinh nghiệm về phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ từ các nước Đông Á cho Việt Nam Khóa luận: Giải pháp DN vừa và nhỏ trong tiến trình hội nhập.

Quy mô của doanh nghiệp không phải là tiêu chuẩn duy nhất để thúc đẩy quá trình phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ. Cần kết hơp tiêu chuẩn quy mô của doanh nghiệp với năng suất lao động thì mới chính xác và đem lại hiệu quả.

“Hợp đồng phụ” chính là chìa khoá cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở các nước Đông Á phát triển. “Hợp đồng phụ” có nghĩa là các doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ tham gia chế tạo các phụ tùng, linh kiện, hay những bộ phận của sản phẩm cho các doanh nghiệp lớn, các tập đoàn mang ý nghĩa hoàn toàn khác so với liên kết theo chiều dọc vì liên kết theo chiều dọc có nghĩa là một công ty lớn sẽ cố gắng sản xuất toàn bộ những chi tiết, phụ tùng ở công ty đó.

Doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Đông Á hầu như không nhận được sự bảo hộ cạnh tranh nào từ phía nhà nước mà thay vào đó là những chính sách nhìn chung chỉ giúp đỡ và khuyến khích các doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển mạnh hơn trong môi trường cạnh tranh lành mạnh và bình đẳng.

Mức độ tăng trưởng của các doanh nghiệp vừa và nhỏ không hoàn toàn diễn ra song song với việc loại bỏ các rào cản hành chính. Nhiều điều kiện cần thiết khác có ý nghĩa hơn chẳng hạn như: sự tồn tại của môi trường đầu tư tốt, cải cách thể chế (luật pháp, thủ tục pháp lý, liên kết nội bộ…), thể chế tài chính, mối quan hệ với các tập đoàn lớn…

Sự tăng trưởng và cạnh tranh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên thị trường xuất khẩu thế giới sẽ đem lại những khuyến khích, động lực cần thiết để cho các hãng này tìm được công nghệ phù hợp, cải tiến chiến lược Marketing… Do vậy, những doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ hoạt động kinh doanh tốt hơn.

Chính sách phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ theo hướng đẩy mạnh xuất khẩu là nền tảng của chính sách, khung pháp lý và thể chế để phát triển kinh tế chứ không phải là chính sách bảo hộ sản xuất trong nước để các doanh nghiệp vừa và nhỏ các nước này sản xuất sản phẩm thay thế nhập khẩu. Khóa luận: Giải pháp DN vừa và nhỏ trong tiến trình hội nhập.

Sự ổn định về chính trị và nền tảng kinh tế vĩ mô đã tạo điều kiện thuận lợi cho cho những doanh nghiệp vừa và nhỏ tăng trưởng và phát triển như ngày Sự trợ giúp từ phía chính phủ và chính quyền địa phương trong hoạt động nghiên cứu và phát triển, thành lập trung tâm phát triển công nghệ, đào tạo kinh nghiệm, hỗ trợ tín dụng…là những nguyên nhân chính giúp các doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển mạnh mẽ.

Chính quyền các tỉnh, các bang được tự trị sẽ thiết lập cầu nối và cung cấp sự hỗ trợ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở địa phương và phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ theo mục tiêu, định hướng chứ không phải vì tạo ra công ăn việc làm cho xã hội. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ đóng vai trò quan trọng trong cả quá trình thu hút khủng hoảng và tạo ra những cải tiến kỹ thuật cho nền kinh tế.

Kinh nghiệm của các nước Đông Á còn được thể hiện ở việc loại bỏ những rào cản hành chính, chính sách kìm hãm sự phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở cả giai đoạn tham gia và rút khỏi thị trường.

Nhưng rào càn luật pháp sẽ bóp nghẹt mức tăng trưởng của các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Những chính sách của nhà nước nên tập trung thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ và không nên chỉ bị hạn chế bởi những tiêu chuẩn như: đạo đức, khu vực, công lao với đất nước…Những nhà lập pháp nên nhận biết những cạm bẫy trong việc theo đuổi những chính sách chỉ nhằm mục đích chính trị và hậu quả của những chính sách này.

Những cải cách về mặt pháp luật như: loại bỏ những thủ tục hành chính phiền hà, cải cách bộ máy hải quan, trợ cấp ưu đãi cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ là rất cần thiết nhưng chưa đủ để các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể phát triển được. Nhà nước nên lập thêm những trung tâm tư vấn, hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ như: trung tâm đào tạo việc làm, trung tâm nghiên cứu và phát triển, trung tâm chuyển giao công nghệ…Những trung tâm này phải đảm bảo sao cho doanh nghiệp vừa và nhỏ tiếp cận được với những thông tin cần thiết một cách rẻ nhất, hiệu quả nhất, chính xác nhất.

Mức độ tăng trưởng ở hai khu vực, hai thành phố, hai bang khác nhau thuộc cùng một chế độ quản lý, luật pháp và điều kiện kinh tế tương tự như nhau sẽ khác nhau do phụ thuộc vào mức độ sắp xếp các cơ quan vốn đã tồn tại ở cấp độ địa phương hay vùng. Khóa luận: Giải pháp DN vừa và nhỏ trong tiến trình hội nhập.

Vai trò của chính quyền các tỉnh là rất quan trọng đặc biệt là về phối hợp với nhiều bên khác nhau và cung cấp môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp địa phương kinh doanh và thúc đẩy liên kết cần thiết. Vai trò tiên phong nhằm tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ có kết quả tích cực.

Việt Nam nên phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ theo hướng của các nước Đông Á là tập trung đẩy mạnh xuất khẩu mà không phải là chính sách bảo hộ sản xuất trong nước. Nhà nước có thể thực hiện bằng cách xem xét chiến lược phát triển những doanh nghiệp vừa và nhỏ theo hướng hàng đổi hàng. Điều này giúp doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể khắc phục được tình trạng thiếu vốn, đặc biệt là khi họ được tiếp cận với thị trường ngoài nước. Chiến lược hàng đổi hàng cũng có hiệu quả khi được sử dụng để tiếp cận với thị trường bảo hộ bên ngoài và cho phép chuyển giao công nghệ và bí quyết kỹ thuật tiên tiến cho các nước đang phát triển như Việt Nam.

Doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam vốn phải đối đầu với những thách thức nảy sinh từ một thế giới tự do và liên kết (chẳng hạn như từ AFTA, hiệp định tự do thương mại ASEAN – China) nên xem xét liên kết và lập nên một liên minh chiến lược nhằm xác định và hợp tác để tiếp cận với thị trường quốc tế, tăng lợi nhuận và doanh số bán, tiếp cận những nguồn lực từ bên ngoài, thu hút tiềm lực khoa học công nghệ và sẽ trở nên mạnh mẽ và kiên cường hơn.

Chính sách phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ nên tập trung vào cơ chế thị trường mở cho phép loại bỏ những doanh nghiệp bất lợi cạnh tranh trong khi vẫn thúc đẩy việc gia nhập thị trường của các doanh nghiệp mới và sự phát triển của những doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh. Nếu chính sách phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ chỉ tập trung vào tiêu chuẩn quy mô của doanh nghiệp mà không tập trung vào năng suất lao động thì sẽ dẫn đến sụp đổ và kém phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ như ở Malaysia, Thái Lan…

3.2. Mục tiêu và định hướng phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam từ năm 2025 – 2030 Khóa luận: Giải pháp DN vừa và nhỏ trong tiến trình hội nhập.

3.2.1. Quan điểm phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam giai đoạn 2025 – 2030

Quan điểm của Đảng về phát triển kinh tế: “thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần. Các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh”.

Nhà nước tạo môi trường chính sách, pháp luật và thể chế thuận lợi cho doanh nghiệp vừa và nhỏ và các nhà cung cấp dịch vụ phát triển kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế cùng phát triển bình đẳng và cạnh tranh lành mạnh nhằm huy động mọi nguồn lực trong nước và ngoài nước cho đầu tư phát triển.

Mục tiêu hướng tới là phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ theo phương châm tích cực, vững chắc, xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, đạt hiệu quả thiết thực, trước tiên phải đạt mục tiêu kinh tế để tạo sự ổn định và phát triển, đồng thời phải đảm bảo mục tiêu xã hội, góp phần tạo việc làm, xoá đói, giảm nghèo; phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ gắn với các mục tiêu quốc gia, các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội phù hợp với điều kiện và xu thế chung của từng vùng, từng địa phương, khuyến khích phát triển công nghiệp nông thôn, làng nghề truyền thống; chú trọng phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở các vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn; ưu tiên phát triển và hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ do đồng bào dân tộc, phụ nữ, người tàn tật… làm chủ, ưu tiên phát triển một số lĩnh vực có khả năng cạnh.

Nhà nước khuyến khích cộng đồng dân cư và doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế hoạt động kinh doanh trên các ngành, lĩnh vực, địa bàn theo quy định của pháp. Nhà nước khuyến khích và tạo thuận lợi cho doanh nghiệp vừa và nhỏ phát huy tính chủ động, sáng tạo, nâng cao năng lực quản lý, phát triển khoa học – công nghệ và nguồn nhân lực, mở rộng các mối liên kết với các loại hình doanh nghiệp khác, tăng hiệu quả kinh doanh và khả năng cạnh tranh trên thị trường; phát triển sản xuất kinh doanh, tạo việc làm và nâng cao đời sống cho người lao động.

Nhà nước tập trung cung cấp các hàng hoá, dịch vụ công, bao gồm hệ thống cơ sở hạ tầng thiết yếu, các dịch vụ thông tin và giáo dục; sản xuất và cung cấp các hàng hoá và dịch vụ mà các khu vực kinh tế khác không đầu tư hoặc không có khả năng đầu tư. Khóa luận: Giải pháp DN vừa và nhỏ trong tiến trình hội nhập.

Hoạt động trợ giúp của Nhà nước chuyển dần từ hỗ trợ trực tiếp sang hỗ trợ gián tiếp, từ hỗ trợ một phần sang nâng cao năng lực thực hiện cho các bên liên quan; xoá bỏ những bao cấp không phù hợp cho các doanh nghiệp, tăng cường tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của doanh nghiệp; Nhà nước tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động và tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế – xã hội.

Gắn sản xuất kinh doanh với bảo vệ môi trường, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội.

Mục tiêu hướng tới là không ngừng nâng cao nhận thức, thay đổi quan điểm của các cấp chính quyền, các tầng lớp dân cư về vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong phát triển kinh tế – xã hội.

Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ là trách nhiệm của toàn xã hội, của các tổ chức kinh tế-xã hội, các doanh nghiệp lớn, bản thân các doanh nghiệp vừa và nhỏ, trong đó Nhà nước giữ vai trò định hướng.

3.2.2. Mục tiêu phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam giai đoạn 2025 – 2030 Khóa luận: Giải pháp DN vừa và nhỏ trong tiến trình hội nhập.

  • Mục tiêu tổng quát

Mục tiêu tổng quát phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn từ 2025 đến 2030 là: “Đẩy nhanh tốc độ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, nâng cao năng lực cạnh tranh doanh nghiệp và cạnh tranh quốc gia, các doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia đáng kể vào việc giải quyết việc làm và góp phần tăng thu nhập”

  • Mục Tiêu cụ thể

Số danh doanh nghiệp vừa và nhỏ thành lập mới giai đoạn 2025 -2030 là 320.000 doanh nghiệp

Một trong những mục ưu tiên của bản kế hoạch là khuyến khích các hộ kinh tế có thể chuyển sang khu vực doanh nghiệp theo Luật doanh nghiệp thông qua những cải cách về quy định kinh doanh, việc tiếp cận với đất đai và vốn. Đã có khoảng 150.00 doanh nghiệp đã đăng ký và hàng triệu hộ kinh doanh cá thể tính tới cuối năm 2025. Tính trung bình, hàng năm khoảng 25.000 doanh nghiệp mới đăng ký theo luật doanh nghiệp cũng như các hộ kinh doanh cá thể phù hợp với dự báo xu hướng tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong thời kỳ tới.

Nếu cải thiện đáng kể việc gia nhập thị trường, tiếp cận đất đai và vốn, dự kiến số lượng đăng ký mới theo Luật doanh nghiệp sẽ vào khoảng 60.000 đến 62.000 một năm; khoảng nửa số đó từ các hộ kinh tế có thể quyết định đăng ký theo Luật Doanh nghiệp (chuyển sang hoạt động chính thức do cải thiện các quy định pháp lý).

Nói cách khác, số lượng đăng ký của doanh nghiệp đó tăng khoảng 22% mỗi năm kể từ 200, sẽ có khoảng 323.000 doanh nghiệp mới được thành lập trong giai đoạn 2025 – 2030.

  • Số lượng các doanh nghiệp đăng ký tại 5 tỉnh nghèo nhất tăng 15%.

Với việc cải thiện môi trường kinh doanh, tiếp cận đất đai, vốn và lao động tay nghề, cùng những nỗ lực khuyến khích tinh thần lập nghiệp và hỗ trợ để nâng cao các kỹ năng quản lý doanh nghiệp thông qua các chương trình như: SIYB, ước tính số doanh nghiệp đăng ký tại 5 tỉnh nghèo nhất tăng 15% hàng năm trong giai đoạn 5 năm tới.

  • Phát triển 59.500 hecta đất công nghiệp và thương mại (để lấy chỗ cho các doanh nghiệp mới)

Nhu cầu về đất cho khu vực công nghiệp và thương mại mới phát triển được tính theo các giả định sau: một doanh nghiệp sản xuất quy mô nhỏ cần khoảng 0,5 ha, một doanh nghiệp dịch vụ quy mô nhỏ cần khoảng 0,1 ha, một doanh nghiệp sản xuất quy mô trung bình cần khoảng 2 ha, và một doanh nghiệp dịch vụ quy mô trung bình cần khoảng 0,3 ha. Trong 5 năm tới, số lượng doanh nghiệp mới thành lập mới là 320.000 doanh nghiệp, trong đó có 10.000 doanh nghiệp dịch vụ quy mô vừa, .000 doanh nghiệp sản xuất quy mô vừa, 265 doanh nghiệp dịch vụ quy mô nhỏ và 40.000 doanh nghiệp sản xuất quy mô nhỏ. ước tính bình quân mỗi doanh nghiệp dịch vụ quy mô vừa sử dụng 50 lao động, doanh nghiệp sản xuất quy mô vừa sử dụng 100 lao động, doanh nghiệp dịch vụ quy mô nhỏ sử dụng 5 lao động và doanh nghiệp sản xuất quy mô nhỏ sử dụng 10 lao động. Lấy những con số cơ sở này nhân với số doanh nghiệp vừa và nhỏ dự tính có được tổng diện tích đất cần cho thương mại và công nghiệp là 59.500 ha Khóa luận: Giải pháp DN vừa và nhỏ trong tiến trình hội nhập.

  • Bảng 3.2: Tổng diện tích đất cần cho thương mại và công nghiệp

Tỷ trọng dư nợ cho vay đến năm 2030 của các doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm 40-45% tổng dư nợ cho vay của các tổ chức tín dụng đối với nền kinh tế.

Hiện tại, dư nợ cho vay của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong tổng dư nợ cho vay của các ngân hàng thương mại nhà nước là khoảng 23%. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam dự tính với những kế hoạch cải cách hệ thống các tổ chức tín dụng và cải thiện môi trường đầu tư, tỷ trọng dư nợ cho vay của doanh nghiệp vừa và nhỏ đến năm 2030 của doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể tăng tới 40% – 50% trong tổng dư nợ cho vay của các tổ chức tín dụng.

  • Tỷ lệ doanh nghiệp nhỏ và vừa trực tiếp xuất khẩu chiếm 3% – 6% tổng số doanh nghiệp nhỏ và vừa

Hiện tại, ước tính có khoảng 1% – 3% các doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia xuất khẩu trực tiếp. Với việc cải thiện môi trường kinh doanh, tiếp cận với đất đai, vốn và lao động tay nghề, cùng với việc tăng khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại 4 ngành hàng được hỗ trợ trong kỳ kế hoạch tới, dự kiến số doanh nghiệp vừa và nhỏ trực tiếp xuất khẩu có thể tăng gấp hai lần trong vòng năm năm tới.

  • Doanh nghiệp nhỏ và vừa tạo thêm khoảng 2,7 triệu chỗ làm mới trong giai đoạn 2026 – 2030

Trong giai đoạn 2026 – 2030, mục tiêu là tạo ra khoảng 6,5 triệu việc làm trong nền kinh tế. Ngành nông nghiệp dự kiến tạo ra khoảng một nửa số việc làm này. Trong bản kế hoạch phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, dự kiến các doanh nghiệp vừa và nhỏ, gồm cả hộ kinh doanh cá thể và khu vực phi nông nghiệp sẽ tạo ra khoảng 80% việc làm mới nói trên.

  • Có thêm 165.000 lao động được đào tạo kỹ thuật làm việc tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa

Năm 2025 sẽ có khoảng 228.000 thợ kỹ thuật tốt nghiệp tại các trường kỹ thuật và hướng nghiệp dạy nghề. Tốc độ tăng hàng năm thợ kỹ thuật tốt nghiệp là 12,5% trong vòng 5 năm tới. Như vậy, có khoảng tổng số 1.645.740 lao động kỹ thuật được đào tạo trong 5 năm tới. Tỷ lệ lao động kỹ thuật tốt nghiệp tìm được việc làm trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa là 10%. Với tỷ lệ này, sẽ có khoảng 165.000 lao động kỹ thuật tốt nghiệp có việc làm tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ

3.3. Những giải pháp phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam Khóa luận: Giải pháp DN vừa và nhỏ trong tiến trình hội nhập.

Từ những bài học rút ra từ kinh nghiệm phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ của các nước Đông á; căn cứ vào mục tiêu và định hướng phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam giai đoạn 2025 – 2030, đề tài đưa ra những giải pháp từ phía Nhà nước (vĩ mô) và từ phía các doanh nghiệp (vi mô) nhắm thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam.

3.3.1. Những giải pháp về mặt chính sách của nhà nước để thúc đẩy doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển.

3.3.1.1 Đơn giản hoá các quy định nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc đăng ký kinh doanh và hoạt động của doanh nghiệp

Chính phủ, các Bộ, ngành sẽ sửa đổi, bổ sung các quy định nhằm tạo điều kiện khuyến khích các doanh nghiệp thực hiện đăng ký kinh doanh (ĐKKD) theo Luật Doanh nghiệp và tạo điều kịên thụân lợi cho hoạt động của các doanh nghiệp như: điều chỉnh các quy định liên quan đến điều kiện kinh doanh và hướng dẫn thực hiện Luật Doanh nghiệp mới, cải thiện quy định về đầu tư, cải thiện các quy định về chế độ kế toán – báo cáo tài chính… Khóa luận: Giải pháp DN vừa và nhỏ trong tiến trình hội nhập.

Sửa đổi, bổ sung Quyết định 1177/TC/QĐ/CĐKT ngày 23/12/2016 và Quyết định số 144/2021/QĐ-BTC theo hướng đơn giản hoá biểu mẫu báo cáo tài chính của doanh nghiệp nhằm giảm các chỉ tiêu phải báo cáo, để phù hợp hơn với các doanh nghiệp vừa và nhỏ và khuyến khích các doanh nghiệp này thực hiện các báo cáo theo quy định.

Đơn giản hoá các yêu cầu về nộp và lưu trữ hoá đơn chứng từ: Xây dựng hệ thống chứng từ kế toán áp dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ theo hướng đối với chứng từ bắt buộc, chế độ kế toán doanh nghiệp vừa và nhỏ tập trung vào các nghiệp vụ, các quan hệ kinh tế giữa các pháp nhân, còn với các chứng từ thể hiện quan hệ kinh tế diễn ra trong nội bộ đơn vị như: thẻ kho, bảng kiểm kê vật tư, sản phẩm hàng hoá, phiếu mua hàng, giấy đề nghị thanh toán, tạm ứng, bảng kiểm kê quỹ… chuyển sang hệ thống chứng từ không bắt buộc nhằm đảm bảo khả năng quản lý một cách linh hoạt của doanh nghiệp; đối với chứng từ không bắt buộc, chỉ hướng dẫn các chỉ tiêu đặc trưng trên cơ sở đó các doanh nghiệp vận dụng một cách phù hợp nhưng vẫn đảm bảo được tính pháp lý của chứng từ.

Quy định việc xử lý đối với chứng từ kế toán đối với trường hợp chưa hết thời gian lưu đã bị mất mát, hư hỏng, chưa hết thời gian lưu trữ, mà doanh nghiệp đã giải thể hoặc phá sản theo hướng quyền và nghĩa vụ của họ chấm dứt khi có quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền được xử lý như đối với chứng từ hết thời hạn lưu trữ.

3.3.1.2 Tạo điều kiện tiếp cận đất đai, mặt bằng sản xuất cho doanh nghiệp vừa và nhỏ

Lập quy hoạch, kế hoạch chi tiết sử dụng đất đến tận các xã, phường và công khai các quy hoạch này để đảm bảo cơ sở chắc chắn cho việc giao đất, cho thuê đất và để các doanh nghiệp, gồm cả doanh nghiệp vừa và nhỏ công khai tiếp cận với đất phục vụ sản xuất.

Sửa đổi, bổ sung Nghị định 36/CP theo hướng cho phép UBND cấp tỉnh được quyết định thành lập và phê duyệt các dự án đầu tư xây dựng KCN quy mô nhỏ, nằm trong quy hoạch đã được phê duyệt; nhằm thống nhất quản lý đối với các mô hình khu, cụm, điểm công nghiệp.

Xây dựng hệ thống cơ quan đăng ký đất trong cả nước nhằm đẩy nhanh tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và khuyến khích đăng ký các giao dịch về đất. Khóa luận: Giải pháp DN vừa và nhỏ trong tiến trình hội nhập.

Thực hiện chủ trương hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ gây ô nhiễm ra khỏi khu vực phát triển đô thị: tập trung hỗ trợ các doanh nghiệp thuộc diện di dời thực hiện các thủ tục hành chính trong việc chuyển nhượng mặt bằng cũ và tạo lập mặt bằng sản xuất tại địa điểm mới trong các KCN, cụm công nghiệp nhỏ.

Đẩy mạnh thực hiện chủ trương thu hồi đất sử dụng không hiệu quả, không đúng mục đích để bố trí cho các cơ sở sản xuất – kinh doanh. Cụ thể là thống kê và thu hồi đất đang để hoang hoá, sử dụng không đúng mục đích để bố trí cho các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, doanh nghiệp vừa và nhỏ đang có nhu cầu.

Hướng dẫn thủ tục giao đất, cho thuê đất theo hướng đơn giản hơn nữa và rút ngắn thời gian thực hiện thủ tục giao đất, cho thuê đất.

3.3.1.3 Tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận các nguồn tài chính

Đẩy nhanh việc tái cơ cấu các ngân hàng thương mại Nhà nước để mở rộng huy động vốn, tăng năng lực tài chính để cho vay đối với nền kinh tế, tăng khả năng cung cấp dịch vụ ngân hàng theo thông lệ quốc tế đối với các doanh nghiệp, trong đó có doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Sửa đổi cơ chế tín dụng ưu đãi đối với khu vực II, III miền núi, hải đảo, vùng đồng bào Khơ Me sống tập trung, thương nhân miền núi và các xã thuộc chương trình 135 theo hướng tách bạch theo hướng Quỹ Hỗ trợ phát triển cho vay lĩnh vực tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước (đối với các đối tượng theo Nghị định 106/2024/NĐ-CP ngày 1/4/2024); ngân hàng CSXH có nhiệm vụ cho vay đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác; các NHTM Nhà nước, các TCTD khác cho vay theo cơ chế tín dụng thương mại cho các tổ chức, cá nhân, không áp dụng cơ chế giảm lãi suất cho vay như hiện nay.

Tiếp tục hoàn thiện cơ chế cấp tín dụng khác để mở rộng các kênh cấp tín dụng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ như bao thanh toán, cho thuê tài chính, hoạt động tín dụng của tổ chức tài chính quy mô nhỏ; tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý về các nghiệp vụ phái sinh nhằm tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng cung cấp các dịch vụ phái sinh đối với doanh nghiệp để phòng ngừa rủi ro về tín dụng, lãi suất, biến động giá cả theo thông lệ quốc tế và không trái với pháp luật Việt Nam.

Thúc đẩy nhanh việc thành lập Quỹ Bảo lãnh tín dụng: Nghiên cứu, sửa đổi Quy chế thành lập và hoạt động của Quỹ Bảo lãnh tín dụng theo hướng khả thi hơn (không phải là thành lập Quỹ ở tất cả các địa phương).

Tiếp tục phối hợp với các địa phương thực hiện biện pháp để thúc đẩy việc thành lập và hoạt động của Hệ thống Quỹ bảo lãnh tín dụng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ vay, như cử đại diện tham gia ban trù bị, tham gia góp vốn và cử đại diện tham gia Hội đồng quản lý Quỹ… Khóa luận: Giải pháp DN vừa và nhỏ trong tiến trình hội nhập.

Đẩy mạnh hoạt động của Trung tâm thông tin tín dụng cả về chất lượng, số lượng, chú trọng các giải pháp mới hỗ trợ quản lý rủi ro tín dụng, xếp hạng tín dụng, chấm điểm tín dụng, cảnh báo sớm góp phần nâng cao chất lượng tín dụng theo hướng hiệu quả, an toàn, bền vững và cải thiện tình trạng tiếp cận các khoản vay mà không dựa trên cơ sở tài sản thế chấp. Mở rộng dịch vụ thông tin tín dụng; hiện đại hoá hệ thống thông tin tín dụng, tự động hoá tất cả các công đoạn sử dụng thông tin tín dụng, tăng cường hội nhập kiểm soát thông tin quốc tế.

Tăng cường hỗ trợ cho vay vốn từ Quỹ quốc gia về việc làm để tạo việc làm mới cho 1,5-1,6 triệu người, với doanh số cho vay của cả thời kỳ là 6.100 – 6.200 tỷ đồng, đặc biệt chú trọng cho đối tượng là các cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ thu hút và bố trí việc làm ổn định trên 1 năm cho người thất nghiệp, người chưa có việc làm ổn định, cơ sở sử dụng nhiều lao động nữ đang gặp khó khăn, cơ sở sản xuất tuyển dụng hoặc thu hút lao động là người tàn tật.. cần vay vốn để duy trì việc làm.

Khuyến khích phát triển các mô hình tài chính vi mô hoạt động dựa vào cơ chế trách nhiệm chung và các thành viên tự giúp nhau như nhóm tự giúp nhau (self help group), (mutual credit fund)

3.3.1.4 Phát triển đội ngũ lao động có kỹ năng

Nghiên cứu đổi mới nội dung, chương trình và phương thức đào tạo tại các trường đại học, cao đẳng và dạy nghề, theo hướng gắn với yêu cầu của hoạt động sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, cung cấp cho người học các kiến thức chuyên môn, kỹ năng hành nghề và ý thức trách nhiệm; đưa nhanh công nghệ thông tin vào nội dung đào tạo và quản lý quá trình đào tạo; khuyến khích liên kết giữa các trường đại học, cao đẳng, dạy nghề với các doanh nghiệp để nâng cao khả năng thực hành của các học viên sau khi tốt nghiệp.

Khuyến khích các doanh nghiệp thực hiện các “hợp đồng thử việc” với người lao động theo quy định tại Nghị định 02/2021/NĐ-CP, điều đó sẽ tạo mối ràng buộc giữa những lao động được đào tạo với doanh nghiệp chi trả phí đào tạo.

Thực hiện phân cấp đối với việc cấp giấy phép thành lập các trung tâm đào tạo nghề ở các địa phương theo hướng Sở LĐTBXH cấp giấy phép thành lập các trung tâm đào tạo nghề nói chung và các sở liên quan sẽ cấp giấy phép thành lập các trung tâm đào tạo nghề chuyên ngành.

3.3.1.5 Tạo lập môi trường tâm lý xã hội đối với khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ

Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức, nâng cao nhận thức của chính quyền các cấp, cộng đồng dân cư đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua các hoạt động như xây dựng các chương trình phổ biến kiến thức trên các phương tiện thông tin đại chúng, các cuộc nói chuyện chuyên đề tại các trường đại học, cao đẳng, dạy nghề…, các cơ quan quản lý nhà nước.

Đưa một số chuyên đề không bắt buộc về doanh nghiệp vào chương trình đào tạo tại các trường đại học, trường dạy nghề.

3.3.2. Giải pháp từ phía doanh nghiệp vừa và nhỏ Khóa luận: Giải pháp DN vừa và nhỏ trong tiến trình hội nhập.

3.3.2.1 Tận dụng triệt để lợi thế cạnh tranh sẵn có và từng bước học hỏi kinh nghiệm.

Tạm coi lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp vừa và nhỏ là nhân công rẻ, quy mô sản xuất kinh doanh linh hoạt dễ thích ứng. Do vậy việc theo sau, rượt đuổi cũng có những lợi thế nhất định trước các đối thủ. Nhưng nếu tự mãn thái quá vào độ linh hoạt thì các doanh nghiệp cũng rất dễ thay đổi và làm mất đi tính truyền thống của doanh nghiệp.

Và học hỏi sẽ là nhiệm vụ cả đời với mọi người, nó càng cần thiết hơn với các Giám đốc, chủ doanh nghiệp nhằm nâng cao năng lực quản lý doanh nghiệp, điều rất cần của các doanh nghiệp Việt Nam. Sự kiên trì học hỏi sẽ mang lại kết quả cao hơn trong việc xử lý và cập nhật thông tin liên quan đến việc ra quyết định trước đối thủ sau này.

Tận dụng nguồn lực sẵn có thể hiện qua việc sắp xếp nhân sự cùng vị trí, tạo ra ê kíp làm việc hiệu quả cao nhất hay trong việc sử dụng đồng vốn trong tay hiệu quả. Tuy rằng vốn ít nhưng các doanh nghiệp phải làm thế nào để tăng vòng quay của vốn thì lợi nhuận sẽ không nhỏ “Mèo bé bắt chuột bé” là cách tiến hành kinh doanh hiệu quả lâu dần tích tiểu thành đại sẽ giúp doanh nghiệp thay đổi về chất và trở nên lớn mạnh.

3.3.2.2 Chủ động đầu tư kinh phí cùng Nhà nước đào tạo nhân lực và đổi mới công nghệ sản xuất kinh doanh

Muốn làm được mọi việc thì vấn đề trước tiên phải giải quyết là tư duy. Tư duy có đi trước một bước thực tế mới được vạch ra. Do vậy đào tạo nhân lực sẽ phục vụ lợi ích trực tiếp của doanh nghiệp nên trách nhiệm cũng thuộc về doanh nghiệp. Tư duy đi trước là tiền đề quan trọng cho việc hoạch định các vấn đề trong tương lại về đường hướng phát triển của sản phẩm cũng như công nghệ lao động của doanh nghiệp. Nó sẽ giải quyết vấn đề còn hạn chế của 4 nhóm nhân tố đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thương mại : sản phẩm, lao động, vốn và công nghệ. Bởi các vấn đề này thuộc những yếu tố khách quan (ngoài doanh nghiệp) : Như cầu, thị trường, thị hiếu và thuộc về tương lai nên rất cần đến khoa học dự báo của con người. Chất lượng dự báo sẽ liên quan trực tiếp đến kết quả tương lai. Bởi vậy đào tạo nhân lực trong doanh nghiệp vừa là mang tính cần thiết hiện tại vừa thể hiện sự chuẩn bị chu đáo cho tương lai doanh nghiệp.

3.3.2.3 Các doanh nghiệp vừa và nhỏ nên có kế hoạch liên kết trong kinh doanh để đấu lại những đối thủ nước ngoài trên thị trường nội địa, làm cơ sở để phát triển ra thị trường ngoài quốc gia.

Các doanh nghiệp liên minh vừa phải chung sống hoà bình vừa phải cạnh tranh để phát triển (dựa vào nhau). Các thành viên sẽ tự biết khai thác lợi thế dị biệt của nhau để tạo sức mạnh tổng hợp trên thị trường đủ sức cạnh tranh đối thủ.

Nếu như vậy các doanh nghiệp vừa và nhỏ phải biết hy sinh đúng lúc những quyền lợi riêng để phục vụ lợi ích của liên minh điều này thật không dễ dàng nhưng vẫn phải thực hiện. Họ có thể tiến hành theo kiểu “chạy tiếp sức thay vì mạnh ai nấy chạy”. Qua đó mỗi người đều phải nỗ lực chạy nhanh hơn đồng đội (tinh thần cạnh tranh). Nhưng cũng sẵn sàng trao “gậy” cho đồng đội khi cần thiết (tinh thần hợp tác). Làm được điều đó các doanh nghiệp sẽ tận dụng được hai ưu thế của cạnh tranh và hợp tác. Cạnh tranh để có được sản phẩm tốt nhất, giá cả hạ nhất, hợp tác để hỗ trợ các doanh nghiệp cùng phát triển.

3.3.2.4 Ứng dụng Marketing trong kinh doanh Khóa luận: Giải pháp DN vừa và nhỏ trong tiến trình hội nhập.

Phần lớn các doanh nghiệp của Việt nam chưa biết sử dụng hiệu quả Marketing trong kinh doanh. Trong khi các công ty nước ngoài luôn coi trọng Marketing, đặt Marketing lên hàng trên mọi hoạt động thì các doanh nghiệp Việt Nam mới ở mức làm quen một cách hình thức. Đây chính là ngọn nguồn của việc kém linh hoạt trong thị trường do không thu nhập phân tích đúng đủ các luồng thông tin nhất và tin phản hồi.

Tiến tới để nâng cao năng lực cạnh tranh các doanh nghiệp phải có chiến lược cho hoạt động Marketing hiệu quả xứng với tầm vóc của nó. Đó cũng là yêu cầu khách quan với các doanh nghiệp vừa và nhỏ khi mà tình thế thị trường cung lớn hơn nhiều so vơí cầu và cầu thì không ngừng nâng cao về mặt chất. Nếu thiếu hoạt động Marketing thì doanh nghiệp vừa và nhỏ đã dần xa vời với nhu cầu, thị trường thực tế, thật khác nào tách ra đi tìm cái chết riêng. Và rất nhiều nhà nghiên cứu Marketing đã từng ví von rằng : “kinh doanh mà không biết làm Marketing thì khác gì nháy mắt với người yêu trong bóng tối”.

Tóm lại, giải pháp để đẩy nhanh sự phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam không chờ đợi ai khác mà các doanh nghiệp phải thực sự nỗ lực trước khi có sự giúp đỡ từ phía chính phủ và và cơ quan chức năng khác. Bởi chính phủ dù muốn nhưng thực lực cũng hạn chế. Hơn thế, không ai cứu mình tốt bằng tự cứu lấy bản thân trước khi có sự giúp đỡ của người khác.

KẾT LUẬN Khóa luận: Giải pháp DN vừa và nhỏ trong tiến trình hội nhập.

Trong điều kiện hiện nay của đất nước,việc huy động mọi nguồn lực trong nước cũng như tranh thủ thời cơ quốc tế cho quá trinh Công nghiệp hoá, Hiên đại hoá là hết sức cáp bách. Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định: Thực hiên CNH,HĐH đất nước dựa trên nguồn lực trong nước là chủ yếu, nguồn lực bên ngoài là quan trọng. Như vậy chúng ta cũng có thể phần nào thấy được vai trò to lớn của loại hình doanh nghiệp vừa và nhỏ trong thời kỳ hiện nay.

Trong quá trình phát triển, đóng góp của doanh nghiệp vừa và nhỏ vào các vấn đề của đất nước không phải là nhỏ. Nó góp phần giải quyết các vấn đè bưc súc của xã hội ta hiện nay như giải quyết công ăn, việc làm, nâng cao đời sống nhân dân. Do vậy, phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ là vấn đề rất cấp thiết hiện nay nên trong luận văn chương 1, tác giả khái quát các loại hình doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam. Chương 2 là phần chính của đề tài, tác giả trình bày về thực trạng phát triển loại hình doanh nghiệp này thời gian qua ở nước ta và đưa ra những đánh giá về thành tựu đã đạt được và những hạn chế của doanh nghiệp vừa và nhỏ để từ đó chương 3, tác giả đưa ra một số kinh nghiệp của các nước Đông Á rồi từ đó rút ra những bài học ứng dụng vào Việt Nam.

Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ đòi hỏi sự nỗ lực của từng doanh nghiệp và sự giúp đỡ nhiều mặt của Nhà nước cũng như các tổ chức quốc tế.Trong một thời gian không xa, em hy vọng rằng và sự cố gắng đó, loại hình doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ phát triển tương xứng với tiềm năng thực sự cuả nó góp phần thực hiện thành công quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Khóa luận: Giải pháp DN vừa và nhỏ trong tiến trình hội nhập.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>> Khóa luận: Phát triển DN vừa và nhỏ trong tiến trình hội nhập

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

1 Bình luận
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
trackback

[…] ===>> Khóa luận: Giải pháp DN vừa và nhỏ trong tiến trình hội nhập […]

Contact Me on Zalo
0877682993
1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x