Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Phát triển DN vừa và nhỏ trong tiến trình hội nhập hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Khóa luận: Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
Nội dung chính
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thời gian qua cùng với sự hình thành và phát triển của các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Doanh nghiệp vừa và nhỏ đã phát triển một cách mạnh mẽ, đóng góp một vai trò quan trọng vào sự phát triển chung của nền kinh tế nước ta. Tuy nhiên, để có thể tồn tại, phát triển, kinh doanh có hiệu quả, các doanh nghiệp này rất cần sự quan tâm, giúp đỡ, hỗ trợ của toàn xã hội cũng như cần nỗ lực tìm tòi học hỏi tháo gỡ những khó khăn vướng mắc của bản thân doanh nghiệp; có như vậy mới có đủ năng lực góp phần vào sự hội nhập chung của nước ta trong giai đoạn hiện nay và sắp tới.
Để góp phần xem xét và giải quyết những khó khăn nêu trên, không thể không tìm hiểu về vấn đề phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế tại Việt nam nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh của của loại hình doanh nghiệp vừa và nhỏ. Do vậy, luận văn kinh tế này là công trình nghiên cứu đầy đủ và chuyên sâu về vấn đề này.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
- Làm rõ những lý luận về doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam Phân tích thực trạng doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt nam
- Nêu bật những giải pháp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ những vấn đề lý luận về doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam và các nước trên thế giới
- Phân tích thực trạng phát triển và vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam
- Tìm hiểu bài học kinh nghiệm phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ của các nước trên thế giới và đưa ra bài học kinh nghiệm cho Việt nam
- Đưa ra một số giải pháp nhằm phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam
3. Đối tượng nghiên cứu Khóa luận: Phát triển DN vừa và nhỏ trong tiến trình hội nhập.
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những doanh nghiệp nhỏ và vừa và nhỏ tại Việt Nam, trong đó có tìm hiểu thêm các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên thế giới
Phạm vi nghiên cứu là những doanh nghiệp nhỏ và vừa được phân loại theo tiêu chí của Việt Nam và các nước
Do phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam là vấn đề lớn có tính sống còn với nền kinh tế nên trong luận văn này em chỉ xin đề cập đến những vấn đề cơ bản và cấp thiết nhất đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam trong những năm gần đây.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng tổng hợp các phương pháp: Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lênin, phương pháp phân tích, so sánh tổng hợp, phương pháp luận giải thống kê.
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Lời nói đầu, Kết Luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của Luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Tổng quan về doanh nghiệp nhỏ và vừa
- Chương 2: Thực trạng phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
- Chương 3: Giải pháp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
Chương 1: Tổng quan về doanh nghiệp nhỏ và vừa
1.1. Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ theo luật Việt Nam và các tổ chức, quốc gia khác
1.1.1. Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam
Doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam ngày càng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân và nhận được sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà Nước. Vì Sự thịnh vượng và giàu có của mỗi một quốc gia trên thế giới cũng như Việt Nam đều có sự đóng góp to lớn của hệ thống doanh nghiệp vừa và nhỏ. Ở Nhật Bản, doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm đến 80% trong tổng số doanh nghiệp nhưng đóng vai trò vô cùng to lớn cho sự phát triển thần kỳ của nước này trong những thập niên 60 đến 80 của thế kỷ trước. Khóa luận: Phát triển DN vừa và nhỏ trong tiến trình hội nhập.
Trên cơ sở khoa học, doanh nghiệp và kinh doanh được định nghĩa theo Luật Doanh Nghiệp Việt Nam năm 2025 là “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh” còn “Kinh doanh là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”
Khái niệm về doanh nghiệp theo Luật Doanh Nghiệp Việt Nam là tương đối hoàn chỉnh và rõ ràng nhưng chưa có khái niệm chung và hoàn chỉnh về doanh nghiệp vừa và nhỏ. Điều này một phần là do khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ phụ thuộc vào từng ngành nghề, giai đoạn phát triển kinh tế xã hội, điều kiện kinh tế xã hội và sự khác biệt về kinh tế giữa các khu vực, các vùng trong một quốc gia. Khái niệm về doanh nghiệp vừa và nhỏ hiện nay đều dựa trên 2 nhóm tiêu chí là tiêu chí định tính và định lượng.
Tiêu chí định tính: Dựa trên những đặc điểm cơ bản của doanh nghiệp như: sử dụng công nghệ đơn giản, khả năng chuyên môn hoá thấp, trình độ quản lý đơn giản, đầu mối quản lý ít…. Những tiêu chí này phản ánh đúng bản chất của doanh nghiệp vừa nhỏ, giải quyết được vấn đề về sự phức tạp của ngành nghề, điều kiện kinh tế xã hội, sự khác biệt về kinh tế xã hội nhưng những tiêu chí này lại ít được sử dụng trong thực tế vì khó xác định được chính xác như thế nào là công nghệ đơn giản?…
Tiêu chí định lượng: Dựa trên một số chỉ tiêu về kết quả kinh doanh như: tổng doanh thu, tổng lợi nhuận…, về vốn và tài sản như tổng số vốn, tổng tài sản, vốn lưu động, vốn đăng ký…, về lao động như tổng số lao động, lao động trung bình… Do tiêu chí định lượng dễ xác định và thu thập nên được sử dụng chủ yếu để xác định khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Quá trình xác định loại hình doanh nghiệp theo quy mô bắt đầu có từ thời kỳ bao cấp. Việc xác định này chủ yếu nhằm để trợ cấp và đầu tư vốn của nhà nước cho các doanh nghiệp đó mà không phải là xác định loại hình doanh nghiệp theo thực tế bản chất và quy mô của các doanh nghiệp. Ở thời kỳ này, nhà nước chia doanh nghiệp thành doanh nghiệp loại 1, loại 2, loại 3; trong đó doanh nghiệp loại 3 được coi là doanh nghiệp có quy mô nhỏ nhất hay được hiểu là doanh nghiệp vừa và nhỏ hiện nay. Tiêu chí để xác định loại hình doanh nghiệp vừa và nhỏ thời kỳ đó chủ yếu dựa trên số lao động trong biên chế nhà nước và theo phân cấp từ Trung ương – Địa Phương. Khóa luận: Phát triển DN vừa và nhỏ trong tiến trình hội nhập.
Sau thời kỳ bao cấp, từ năm 2013 việc phân loại doanh nghiệp ở Việt Nam chia làm 5 cấp: Hạng Đặc Biệt, Hạng I, Hạng II, Hạng III, Hạng IV. Việc phân chia này dựa trên các tiêu chí về vốn sản xuất kinh doanh, lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận trên vốn đầu tư, doanh thu, số lượng lao động, phạm vi hoạt động, trình độ công nghệ, thực hiện nghĩa vụ với nhà nước. Tuy nhiên, có quá nhiều tiêu chí để xác định loại hình doanh nghiệp và chưa hề đề cập đến những đặc điểm của từng ngành, sự khác biệt về kinh tế xã hội của địa phương. Nguyên nhân của cách xác định loại hình doanh nghiệp này là do định hướng, chiến lược sắp xếp cổ phần hoá, cải tổ lại tổ chức bộ máy tổ quản lý doanh nghiệp nhà nước, cải cách hệ thống lương thưởng. Cách sắp xếp này không nhằm mục đích xây dựng chiến lược và định hướng phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Khái niệm về doanh nghiệp vừa và nhỏ chỉ được đề cập đến lần đầu tiên một cách chính thức theo Công Văn của Chính Phủ số 681/CP-KTN ngày 20 tháng 06 năm 2018 về định hướng chiến lược và chính sách phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ như sau: “Tạm thời quy định thống nhất tiêu chí xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay là những doanh nghiệp có vốn điều lệ dưới 5 tỷ đồng và có số lao động trung bình hàng năm dưới 200 người.” Nhưng đây chỉ là quy định tạm thời mang tính chất hành chính để xác định tiêu chuẩn dành cho các doanh nghiệp được hưởng chính sách hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam từ năm 2018. Trong đó, Công Văn cũng quy định các bộ các ngành căn cứ vào tình hình kinh tế -xã hội cụ thể mà áp dụng đồng thời cả hai chỉ tiêu vốn và lao động hoặc một trong hai chỉ tiêu nói trên. Điều đó có nghĩa đây chỉ là định nghĩa tạm thời và có thể tuỳ tình hình cụ thể mà áp dụng.
Theo Nghị Định 90/2021/NĐ – CP của chính phủ: Doan nghiệp vừa và nhỏ bao gồm các doanh nghiệp (doanh nghiệp tư nhân công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, hợp tác xã hoặc liên minh hợp tác xã, doanh nghiệp nhà nước hoặc hộ kinh doanh cá thể đăng ký theo Nghị Định 02/2020/NĐ -CP) có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người.” Khái niệm này đã mở rộng quy mô về vốn lên gấp đôi và số lao đông lên gấp rưỡi so với khái niệm tạm thời của Công Văn năm 2018. Theo tiêu chí này, cả nước hiện có khoảng 120,000 doanh nghiệp vừa và nhỏ, chiếm khoảng 96% tổng số doanh nghiệp. Nếu chỉ căn cứ vào tiêu chí vốn thì doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm 87,53% trong tổng số doanh nghiệp nhà nước, khoảng 95% tổng số doanh nghiệp ngoài quốc doanh (trong đó 99,19% doanh nghiệp tư nhân, 95,79% hợp tác xã, 89,93% công ty trách nhiệm hữu hạn, 74,54% công ty cổ phần). Hằng năm, doanh nghiệp vừa và nhỏ tạo ra khoảng 25% GDP, thu hút 64,8% lực lượng lao động, bình quân mỗi năm tạo ra khoảng 700.000 lao động. Riêng năm 2023, doanh nghiệp vừa và nhỏ tạo ra được 1 triệu chỗ làm việc mới. Khóa luận: Phát triển DN vừa và nhỏ trong tiến trình hội nhập.
Ngoài việc xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ theo chỉ tiêu định lượng và định tính như phân loại trong Công Văn số 681/CP – KTN và Nghị Định 90/2021/NĐ – CP cho tất cả các loại hình doanh nghiệp, các khu vực, các ngành nghề khác nhau, doanh nghiệp vừa và nhỏ còn được xác định dựa trên từng ngành nghề trong xã hội như: ngành sản xuất – xây dựng, ngành ngân hàng. Phân loại theo ngành nghề chủ yếu là do đặc điểm của từng ngành nghề, có ngành sử dụng ít lao động cần nhiều vốn (kinh doanh, phần mềm, hoá chất, điện tử), có ngành sử dụng nhiều lao động nhưng ít vốn (thuỷ sản, dệt may, da dày). Do vậy, mỗi một ngành khác nhau cần có riêng những tiêu chí để phản ánh được đúng bản chất của doanh nghiệp trong mối tương quan với các ngành khác. Trên thực tế ở Việt Nam, các chuyên gia phân chia thành hai đến ba nhóm ngành với các tiêu chí khác nhau như sau:
- Bảng 1.1: Tiêu Chí Xác Định Doanh Nghiệp Vừa và Nhỏ theo Ngành Nghề
Hơn thế nữa, các cơ quan, ban ngành hữu quan khác nhau cũng phân loại theo tiêu chí riêng để phục vụ cho công tác của mình. Chẳng hạn, các ngân hàng thì phân loại doanh nghiệp để tiến hành các thủ tục cấp tín dụng và cho vay ưu đãi, bộ tài chính phân loại để thực hiện chính sách ưu đãi các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các dự án của các cơ quan, tổ chức quốc tế phân loại để tiến hành hoạt động hỗ trợ tín dụng và giải ngân các khoản tín dụng cho các doanh nghiệp tại Việt Nam như dự án Việt Nam – EU, dự án của UNIDU, của OECD…
- Bảng 1.2: Tiêu chí xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ theo các cơ quan, tổ chức ban hành
1.1.2. Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ của các quốc gia, tổ chức như: Ngân Hàng Thế Giới, Nhật Bản, Hàn Quốc… Khóa luận: Phát triển DN vừa và nhỏ trong tiến trình hội nhập.
Khái niệm về doanh nghiệp vừa và nhỏ ở các quốc gia khác nhau sẽ khác nhau do mỗi một quốc gia có một đơn vị tiền tệ, điều kiện kinh tế – xã hội, trình độ phát triển, vị trí địa lý, mục đích phân loại… khác nhau. Trong những khái niệm về doanh nghiệp vừa và nhỏ, khái niệm của các quốc gia phát triển như: Nhật Bản, Hàn Quốc hay của các tổ chức quốc tế như: Liên Hợp Quốc, Ngân hàng thế giới tương đối hoàn chỉnh và có khả năng áp dụng cho các quốc gia phát triển khác. Ngược lại, hầu hết các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam chưa đưa ra được khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ chung và thống nhất trên toàn quốc hay khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ của các bộ, các ngành, các địa phương khác nhau thì khác nhau. Điều này gây khó khăn cho chính các quốc gia đang phát triển đó và gây ra sự sai lệch trong kết quả thống kê của các cơ quan thống kê.
Trong khuôn khổ của đề tài, tác giả xin trình bày một số khái niệm về doanh nghiệp vừa và nhỏ của một vài tổ chức quốc tế và các nước trên thế giới để có cái nhìn tổng quan về khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ trên thế giới và có thể so sánh với khái niệm của Việt Nam.
Đầu tiên, Ngân Hàng Thế Giới (WB) có đưa ra một số khái niệm cơ bản về các loại hình doanh nghiệp trên thế giới, đặc biệt là áp dụng cho các doanh nghiệp của các nước đang phát triển nhằm mục đích để cung cấp những khoản hỗ trợ tài chính và giải ngân nguồn vốn của Ngân Hàng Thế Giới giúp sắp xếp, tái cơ cấu lại hệ thống doanh nghiệp vừa và nhỏ của các quốc gia đang phát triển đó.
- Bảng 1.3: Tiêu Chí Xác Định Doanh Nghiệp của WB
Tiêu chí phân loại của Ngân Hàng Thế Giới chủ yếu tập trung vào 3 tiêu chí là tổng tài sản, tổng doanh số bán hàng và số lao động và áp dụng cho hầu hết mọi loại hình doanh nghiệp kể cả nhà nước tư nhân, cổ phần, mọi ngành nghề khác nhau như buôn bán, sản xuất và mọi quốc gia khác nhau gồm cả quốc gia đang phát triển và quốc gia phát triển. Các doanh nghiệp chỉ cần đáp ứng ít nhất 2 trong 3 điều kiện trên là đủ tiêu chuẩn để xếp hạng.
Theo tiêu chí trên thì hầu hết mọi doanh nghiệp của Việt Nam hiện nay đều thuộc loại hình doanh nghiệp vừa và nhỏ của thế giới và đều được hưởng những chính sách ưu đãi, hỗ trợ dành cho loại hình doanh nghiệp này của Ngân Hàng Thế Giới.
Thứ hai, Nhật Bản cũng đưa ra cho mình các tiêu chí để xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ theo đặc thù của từng ngành trong xã hội. Tiêu chí của Nhật Bản dựa chủ yếu trên 2 yếu tố là vốn (khoản đầu tư) và lượng lao động trong từng ngành của xã hội. Nhật Bản rất chú trọng đến phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ trong xã hội vì nước này xây dựng cơ cấu kinh tế theo hai tầng. Do vậy, Nhật Bản dựa trên tiêu chí vốn và lao động để đưa ra khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ để thực hiện những chính sách ưu đãi, khuyến khích, hỗ trợ các doanh nghiệp này phát triển. Khóa luận: Phát triển DN vừa và nhỏ trong tiến trình hội nhập.
- Bảng 1.4: Tiêu Chí Xác Định Doanh Nghiệp Vừa và Nhỏ Của Nhật Bản
Thứ ba, Thái Lan vốn là một quốc gia trong khu vực Đông Nam Á như Việt Nam và có tốc độ phát triển kinh tế rất nhanh. Hơn thế nữa, trong quá trình phát triển quốc gia này cũng rất chú trọng đến phát triển các loại hình doanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua những chính sách ưu đãi và hỗ trợ từ chính phủ. Tiêu chí xác định doanh nghiệp của Thái Lan cũng gần giống với Nhật Bản và Ngân Hàng Thế Giới, chủ yếu dựa vào vốn và lao động.
- Bảng 5: Tiêu chí xác định doanh nghiệp của Thái Lan
Việc tìm hiểu khái niệm chính xác về doanh nghiệp vừa và nhỏ có ý nghĩa rất quan trọng, tạo hiệu quả cho đúng đối tượng cần tác động. Nhiều nước trên thế giới đều chú trọng nghiên cứu tiêu thức phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ. Tuy nhiên, không có tiêu thức thống nhất để phân loại cho tất cả các nước vì điều kiện kinh tế xã hội ở mỗi nước có những đặc thù riêng và ngay trong một nước.
Quá nghiên cứu, tìm kiếm và tổng hợp nhiều nguồn tài liệu khác nhau, định nghĩa doanh nghiệp vừa và nhỏ của các quốc gia trên thế giới dựa theo tổng số lao động được thể hiện theo bảng sau:
- Bảng 6: Định Nghĩa doanh nghiệp vừa và nhỏ của tất cả các quốc gia trên thế giới
1.2. Sự cần thiết phải phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế Khóa luận: Phát triển DN vừa và nhỏ trong tiến trình hội nhập.
1.2.1. Hội nhập và sự cần thiết phải phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ trong tiến trình hội nhập
1.2.1.1 Khái niệm hội nhập và quan điểm của Đảng về hội nhập kinh tế quốc tế
Hội nhập kinh tế quốc tế đã được đề cập đến từ lâu trên thế giới nhưng trong thập niên 90 của thế kỷ 20 hội nhập kinh tế mới phát triển mạnh và trở thành một xu hướng, lôi kéo tất cả các quốc gia trên thế giới. Trong cuốn “Những hậu quả kinh tế của hoà bình” vào năm 1919, John Maynard Keynes đã đưa ra một bức tranh nghiên cứu mẫu mực về tình hình kinh tế thế giới thời kỳ trước chiến tranh và trong tương lai: “Một người dân London có thể vừa uống trà buổi sáng vừa gọi điện đặt mua các loại sản phẩm khác nhau trên khắp thế giới với khối lượng tuỳ thích rồi ngồi đợi người ta đem đến tận nhà cho mình và đồng thời cũng bằng phương tiện như vậy, ông ta có thể đánh liều ném tài sản của mình vào việc kinh doanh tài nguyên thiên nhiên và ung dung hưởng phần thành công cũng như những mong đợi của chúng. Nếu ông muốn thì ngay lập tức ông có thể có được các phương tiện thoải mái mà không cần hộ chiếu hoặc bất kỳ một thủ tục nào khác. Ông có thể sai gia nhân đến nhà băng ở gần đấy lấy về những thứ đồ kim hoàn quý giá bao nhiêu tuỳ thích. Khi ấy, ông có thể đi đến những miền đất lạ mà không hề biết tôn giáo hay phong tục của họ, đem theo bên mình số tài sản dưới dạng tiền bạc” Bức tranh do Keynes vẽ ra cho thấy rằng hội nhập kinh tế quốc tế, toàn cầu hoá kinh tế không phải là một hiện tượng mới. Về nhiều mặt, hiện nay hội nhập kinh tế thế giới vẫn còn xa mới được như thời kỳ đỉnh cao của bản vị vàng. Qua bức tranh do Keynes vẽ ra ta thấy được hội nhập kinh tế quốc tế là một quá trình mà nền kinh tế của một nước tham gia vào đời sống kinh tế của các nước trên thế giới. Đó là quá trình thực hiện các thoả thuận, các ký kết giữa các nước với nhau, trước hết là về kinh tế. Xu hướng hội nhập kinh tế rõ nét nhất là xu hướng toàn cầu hoá, khu vực hoá và phối hợp các chính sách thương mại.
Các văn bản Đại Hội lần thứ VII (năm 2011) và Đại hội lần thứ VIII (năm 2016) đã khẳng định chính sách đổi mới và mở cửa với những quan điểm trước xu thế hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay: Khóa luận: Phát triển DN vừa và nhỏ trong tiến trình hội nhập.
Phát triển kinh tế đối ngoại là một tất yếu khách quan nhằm phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế, xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa: Thế giới ngày nay là một thể thống nhất, trong đó các quốc gia là những đơn vị độc lập, tự chủ nhưng phụ thuộc vào nhau về kinh tế và khoa học công nghệ. Sự phụ thuộc giữa các quốc gia bắt nguồn từ những yếu tố kết quả. Đó là do những điều kiện địa lý, do sự phân bổ không đồng đều tài nguyên thiên nhiên, và cũng bắt nguồn từ sự phát triển của lực lượng sản xuất và cuộc cách mạng khoa học công nghệ trên thế giới.
Quan điểm mở cửa, xây dựng hệ thống kinh tế mở: “Mở cửa” kinh tế ra thế giới bên ngoài là một chính sách có tính chiến lược, hoàn toàn phù hợp với xu thế phát triển của nền kinh tế thế giới. Việc “mở cửa” là mở rộng giao lưu kinh tế, thương mại, khoa học công nghệ với nước ngoài, tham gia sâu rộng vào sự trao đổi và sự phân công lao động quốc tế. “Mở cửa” là một chính sách kinh tế lớn và là một điều kiện đảm bảo việc thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội của đất nước.
Phát huy ý chí tự lực tự cường, kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại, tận lực khai thác những lợi thế của đất nước trong sự trao đổi và sự phân công lao động quốc tế. Tình hình quốc tế phức tạp đòi hỏi phải có chính sách mềm dẻo, khôn khéo, được điều chỉnh kịp thời, phù hợp về những biến động của tình hình và phải có cách làm thông minh, sáng tạo nhằm mở rộng sự hợp tác toàn diện với bên ngoài và khai thác có hiệu quả sự giúp đỡ quốc tế.
Mở rộng diện bạn hàng, đối tác, đa phương hoá các mối quan hệ, phù hợp với cơ chế thị trường trên nguyên tắc bình đẳng, các bên cùng có lợi. Hội nhập kinh tế trong một khung cảnh rộng lớn là nền kinh tế thế giới, thị trường quốc tế, vì thế đối tượng hợp tác rất đa dạng. Đối với các tổ chức kinh doanh đòi hỏi phải mở rộng diện bạn hàng, nhất là các bạn hàng có tín nhiệm cao và thực sự muốn làm ăn lâu dài với Việt Nam
Đổi mới cơ chế quản lý phù hợp với nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Việt Nam sẽ mở rộng quyền tiếp xúc với thế giới bên ngoài cho các cơ quan và tổ chức trong nước, mở rộng quyền hoạt động kinh doanh đối ngoại cho các tổ chức kinh tế thuộc các thành phần kinh tế và cá nhân trong khuôn khổ pháp luật và phù hợp với điều kiện của nền kinh tế trong từng giai đoạn.
Chính phủ sẽ phân biệt chức năng quản lý nhà nước và chức năng quản lý kinh doanh trong các hoạt động kinh tế đối ngoại. Nhà nước đảm bảo quyền tự chủ kinh doanh, tài chính của các tổ chức kinh doanh đối ngoại, đi đôi với sự tăng cường quản lý thống nhất của Nhà nước về kinh tế đối ngoại. Nhà nước mà các cơ quan chức năng quản lý kinh tế đối ngoại là người đại diện sẽ không can thiệp vào sự hoạt động kinh doanh của các tổ chức kinh doanh.
1.2.1.2 Sự cần thiết phải phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ trong tiến trình hội nhập
Lịch sử ra đời và phát triển nền sản xuất hàng hoá gắn liền với sự hình thành và phát triển các doanh nghiệp. Giai đoạn tiền sử (C. Mác gọi là hàng hoá giản đơn) không có sự phân biệt giữa giới chủ và người thợ. Người sản xuất hàng hoá vừa là người chủ sở hữu tư liệu sản xuất, vừa là người lao động trực tiếp, vừa là người điều khiển (quản lý) công việc của mình (của gia đình mình), vừa là người trực tiếp mang sản phẩm của mình trao đổi trên thị trường. Đó là loại doanh nghiệp cá thể, doanh nghiệp gia đình, doanh nghiệp cực nhỏ.. Trong thời kỳ hiện đại, thông thường đại đa số những người khi mới trưởng thành để đi làm việc được, đều muốn thử sức mình trong nghề kinh doanh. Với một số vốn trong tay ít ỏi, với một trình độ nhất định, lĩnh hội được trong các trường chuyên nghiệp, bắt đầu khởi nghiệp, phần lớn họ đều thành lập doanh nghiệp nhỏ chỉ của riêng mình, tự sản xuất, tự kinh doanh. Khóa luận: Phát triển DN vừa và nhỏ trong tiến trình hội nhập.
Trong sản xuất- kinh doanh có một số người đã gặp vận may và đặc biệt là nhờ sự tài ba của mình, biết chớp thời cơ, có sáng kiến cải tiến kỹ thuật, khéo điều hành và tổ chức sắp xếp công việc, cần cù, chịu khó, tiết kiệm…đã thành đạt, ngày càng giàu lên, tích luỹ được nhiều của cải, tiền vốn, thường xuyên mở rộng quy mô sản xuất-kinh doanh, đến một lúc nào đó, lực lượng lao động của gia đình không đảm đương hết công việc, cần phải thuê thêm người làm và họ trở thành ông chủ. Ngược lại, một bộ phận nguời sản xuất hàng hoá nhỏ khác, hoặc do không gặp vận may trong sản xuất-kinh doanh và đời sống, hoặc do kém cỏi không biết chớp thời cơ, không có sáng kiến cải tiến kỹ thuật, không biết tính toán quản lý và điều hành doanh nghiệp… đã dẫn đến thua lỗ triền miên, buộc phải bán tư liệu sản xuất, đi làm thuê cho người khác. Những giai đoạn đầu, các ông chủ và những người thợ cùng lao động trực tiếp với nhau và những người làm thuê thường là bà con họ hàng của ông chủ sau đó thì mở rộng dần ra. Các học giả thường xếp loại này vào phạm trù doanh nghiệp vừa và nhỏ
Trong quá trình sản xuất- kinh doanh, một số người thành đạt đã phát triển doanh nghiệp của mình, bằng cách mở rộng sản xuất kinh doanh, và như vậy nhu cầu về vốn sẻ đòi hỏi nhiều hơn. Nhu cầu về vốn ngày càng tăng, nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất- kinh doanh đã thôi thúc các nhà doanh nghiệp, hoặc một số người cùng nhau góp vốn thành lập xí nghiệp sản xuất-kinh doanh, hoặc phát hành cổ phiếu thành lập công ty cổ phần. Bằng cách liên kết ngang, dọc hoặc hỗn hợp, nhiều tập đoàn kinh tế, nhiều doanh nghiệp lớn hình thành và phát triển.
Doanh nghiệp vừa và nhỏ không chỉ phản ánh độ lớn của chúng mà còn bao hàm nội dung tổng hợp về kinh tế, tổ chức sản xuất, tổ chức quản lý cũng như về tiến bộ khoa học, công nghệ. Doanh nghiệp vừa và nhỏ tồn tại và phát triển là tất yếu khách quan phù hợp với yêu cầu của quy luật quan hệ sản xuất, phù hợp với trình độ, tính chất phát triển của lực lượng sản xuất.
Ngày nay khi cách mạng khoa học công nghệ diễn ra như vũ bão và tác động sâu sắc tới sự thay đổi của sản xuất, quản lý và đời sống thì doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng có sự thay đổi về chất. So với các doanh nghiệp vừa và nhỏ của các thế kỷ trước và nửa đầu thế kỷ này: doanh nghiệp vừa và nhỏ hiện nay có trình độ kỹ thuật và công nghệ hiện đại, có thể sản xuất nhiều sản phẩm, dịch vụ đạt chất lượng cao cho thị trường trong nước và nước ngoài. doanh nghiệp vừa và nhỏ không phát triển rời rạc mà có sự gắn bó chặt chẽ với các doanh nghiệp lớn.
Để phát triển đất nước không thể không có các doanh nghiệp lớn với tiềm lực kinh tế, kỹ thuật hiện đại nhằm tạo ra khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Ngoài việc xây dựng các doanh nghiệp lớn thật cần thiết, chúng ta phải tích cực tập trung hình thành các doanh nghiệp vừa và nhỏ, tạo điều kiện cho nó sớm vươn lên thành những doanh nghiệp lớn. Đây thực sự là việc cần phải làm trong giai đoạn phát triển hiện nay.
1.2.2. Những đóng góp cho phát triển kinh tế và xã hội của doanh nghiệp vừa và nhỏ Khóa luận: Phát triển DN vừa và nhỏ trong tiến trình hội nhập.
Mặc dù trong quan niệm và phân loại các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn có những ý kiến khác nhau nhưng trong đánh giá về đóng góp của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, không ai không thừa nhận tính tích cực to lớn của nó đối với sự phát triển kinh tế xã hội. Tuy các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn có những hạn chế, khó khăn những với những ưu thế vốn có của mình, chúng đã có những đóng góp quan trọng trong nền kinh tế quốc dân.
Thứ nhất, các doanh nghiệp vừa và nhỏ có đóng góp rất quan trọng ở chỗ, chúng chiếm đa số về mặt số lượng trong tổng số các cơ sở sản xuất kinh doanh và ngày càng gia tăng mạnh. Ở hầu hết các nước doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm khoảng trên dưới 90% tổng số các doanh nghiệp. Tốc độ gia tăng các doanh nghiệp vừa và nhỏ nhanh hơn các doanh nghiệp lớn. Hiện nay, chưa có số liệu thống kê về doanh nghiệp vừa và nhỏ một cách chính thức, nhưng hầu hết các nhà nghiên cứu đều cho rằng các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam cũng chiếm khoảng 80-90% tổng số các doanh nghiệp.
Thứ hai, các doanh nghiệp vừa và nhỏ có đóng góp quan trọng trong sự tăng trưởng của nền kinh tế. Chúng đóng góp phần quan trọng vào sự gia tăng thu nhập quốc dân của các nước trên thế giới, bình quân chiếm khoảng 50% GDP ở mỗi nước. Theo đánh giá của Viện Nghiên cứu quản lý TW, thì hiện nay doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm khoảng 24% GDP.
Thứ ba, tác động lớn nhất của doanh nghiệp vừa và nhỏ là giải quyết một số lượng lớn việc làm cho dân cư, làm tăng thu nhập cho người lao động, góp phần xoá đói giảm nghèo. Xét theo luận điểm tạo công ăn việc làm cho người lao động, thì khu vực này vượt trội hẳn so với khu vực khác, góp phần giải quyết nhiều vấn đề xã hội bức xúc. Doanh nghiệp vừa và nhỏ tạo việc làm cho khoảng từ 50- 80% lao động trong các nghành công nghiệp và dịch vụ. Đặc biệt trong nhiều thời kỳ các doanh nghiệp lớn sa thải công nhân thì khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ lại thu hút thêm nhiều lao động hoặc có tốc độ thu hút lao động mới cao hơn khu vực doanh nghiệp lớn. Tại Việt Nam cũng theo đánh giá của Viện Nghiên cứu quản lý Kinh tế TW, thì số lao động của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong lĩnh vực phi nông nghiệp có khoảng 7,8 triệu người, chiếm tới 72,9% tổng số lao động phi nông nghiệp và chiếm khoảng 22,5% lực lượng lao động của cả nước.
Thứ tư, các doanh nghiệp vừa và nhỏ góp phần làm năng động nền kinh tế trong cơ chế thị trường, do lợi thế quy mô vừa và nhỏ là năng động, linh hoạt, sáng tạo trong kinh doanh, cùng với hình thức tổ chức kinh doanh có sự kết hợp chuyên môn hoá và đa dạng hoá mềm dẻo, hoà nhịp được với những đòi hỏi của nền kinh tế thị trường.
Thứ năm, khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ thu hút được khá nhiều vốn ở trong dân. Do tính chất nhỏ lẻ, dễ phân tán đi sâu vào dân cư và yêu cầu về số lượng vốn ban đầu không nhiều, cho nên các doanh nghiệp vừa và nhỏ có tác dụng rất lớn trong việc thu hút các nguồn vốn nhỏ lẻ, nhàn rỗi trong các tầng lớp dân cư đầu tư vào sản xuất kinh doanh, chúng tạo lập dần tập quán đầu tư vào sản xuất kinh doanh và hình thành các khu vực để thực hiện có kết quả vấn đề huy động vốn của dân cư theo luật khuyến khích đầu tư trong nước. Khóa luận: Phát triển DN vừa và nhỏ trong tiến trình hội nhập.
Thứ sáu, các doanh nghiệp vừa và nhỏ có đóng góp to lớn đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đặc biệt đối với khu vực nông thôn đã thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, làm cho công nghiệp phát triển mạnh, đồng thời thúc đẩy các ngành thương mại – dịch vụ phát triển. Sự phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng góp phần làm tăng tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ và làm thu hẹp dần tỷ trọng khu vực nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn góp phần đa dạng hoá cơ cấu công nghiệp.
Thứ bảy, các doanh nghiệp vừa và nhỏ góp phần vào đô thị hoá phi tập trung và thực hiện phương châm “ly nông bất ly hương”. Sự phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn sẻ thu hút những người lao động thiếu hoặc chưa có việc làm và có thể thu hút lượng lớn lao động thời vụ trong các kỳ nông nhàn vào hoạt động sản xuất-kinh doanh, rút dần lao động làm nông nghiệp sang làm công nghiệp hoặc dịch vụ, nhưng vẫn sống tại quê hương bản quán, không phải di chuyển đi xa, thực hiên phương châm “ly nông bất ly hương”. Đồng hành với nó là hình thành những khu vực khá tập trung các cơ sở công nghiêp và dịch vụ ngay tại nông thôn, tiến dần lên hình thành nhứng thị tứ, thị trấn, là hình thành các đô thị nhỏ đan xen giữa những làng quê, là quá trình đô thị hoá phi tập trung.
Thứ tám, các doanh nghiệp vừa và nhỏ là nơi ươm mầm các tài năng kinh doanh, là nơi đào tạo các nhà doanh nghiệp. Kinh doanh quy mô nhỏ sẽ là nơi đào tạo, rèn luyện các nhà doanh nghiệp làm quen với môi trường kinh doanh. Bắt đầu từ kinh doanh quy mô nhỏ và thông qua điều hành quản lý kinh doanh quy mô vừa và nhỏ, một số nhà doanh nghiệp sẽ trưởng thành nên những nhà doanh nghiệp lớn tài ba, biết đưa doanh nghiệp của mình nhanh chóng phát triển. Các tài năng kinh doanh sẽ được ươm mầm bắt đầu từ môi trường này.
1.3. Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ Khóa luận: Phát triển DN vừa và nhỏ trong tiến trình hội nhập.
1.3.1. Khung khổ pháp lý khuyến khích phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam
Thiết lập khuôn khổ pháp lý là một vấn đề quan trọng sống còn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam tồn tại và phát triển. Những doanh nghiệp vừa và nhỏ vốn có tiềm lực kinh tế hạn chế, vị thế ảnh hưởng nhỏ lại hay phân tán và khó liên kết lại với nhau nên gặp rất nhiều khó khăn khi kinh doanh Đây là một trong những vấn đề cơ bản, quan trọng, làm cơ sở pháp lý cho việc thực hiện các chính sách, giải pháp hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Việc tạo hệ thống khung khổ pháp lý nhằm:
- Thiết lập khái niệm khung về doanh nghiệp vừa và nhỏ.
- Khẳng định vai trò của các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
- Khuyến khích tìm kiếm giải pháp phát triển doanh nghiệp vừa & nhỏ.
Tại Việt nam, từ thời bao cấp nền kinh tế tập trung từ trung ương đến địa phương, Nhà nước dưới sự chỉ đạo và hướng dẫn đã tiến hành từng bước tạo lập khung khổ pháp lý cần thiết cơ bản cho hoạt động của các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt nam. Trong những năm gần đây, đặc biệt là trong thế kỷ 21, Đảng và Nhà Nước đã thực thi rất nhiều chính sách cởi trói, tạo khuôn khổ pháp lý hoàn chỉnh và thông thoáng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển mạnh mẽ như:
- Nghị định 27, 28, 29/ HĐBT về kinh tế tư nhân, cá thể, HTX & kinh tế gia đình.
- Nghị định 66/HĐBT về hộ kinh doanh dưới vốn pháp định.
- Luật doanh nghiệp tư nhân, luật công ty, luật hợp tác xã
- Luật doanh nghiệp 2019, luật doanh nghiệp nhà nước
- Luật khuyến khích đầu tư nước ngoài.
- Luật doanh nghiệp chung 2025
- Công Văn của Chính Phủ số 681/CP-KTN ngày 20 tháng 06 năm 2018 về định hướng chiến lược và chính sách phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ
- Nghị Định 90/2021/NĐ – CP của chính phủ về hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ.
1.3.2. Thành lập cơ quan quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ Khóa luận: Phát triển DN vừa và nhỏ trong tiến trình hội nhập.
Trong quá trình phát triển, các doanh nghiệp vừa và nhỏ cần có sự hỗ trợ từ bên ngoài, cần có người bảo vệ quyền lợi và người đại diện để nói lên nguyện vọng của mình. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ phải thực sự trở thành chủ thể của kinh doanh và là khách thể được quản lý bằng pháp luật, chính sách của nhà nước.
Ở nhiều nước có một cơ quan chính phủ hoặc tổ chức bán chính phủ đảm nhiệm vai trò thực hiện các chính sách xúc tiến và hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Có một số nước khác lại thành lập các công ty hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ. Nhiệm vụ của các cơ quan hay các công ty này chủ yếu là:
- Nắm bắt nguyện vọng và dự báo phương hướng phát triển của
- Tham mưu cho Nhà nước.
- Quyết định trong một số lĩnh vực quản lý doanh nghiệp vừa và nhỏ
- Điều phối thực hiện các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ
- Hợp tác với các quốc gia & các tổ chức quốc tế về doanh nghiệp vừa và nhỏ
Theo kinh nghiệm của nhiều nước, để thực hiện có hiệu quả sự giúp đỡ của Nhà nước và các tổ chức Quốc tế với các doanh nghiệp vưà và nhỏ, người ta thường xây dựng & thực hiện các chương trình, dự án có mục tiêu.
Đây là một kinh nghiệm tốt vì thông qua chương trình, dự án sẽ thực hiện được sự thống nhất, đồng bộ giữa chiến lược quy hoạch với chính sách & phương tiện, điều kiện thực hiện.
1.3.3. Thành lập các tổ chức hỗ trợ và các hiệp hội của các doanh nghiệp vừa và nhỏ
Trên thực tế, các tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ phần lớn do tư nhân thành lập với sự hỗ trợ của Nhà nước do đó, các tổ chức này vừa mang tính kinh doanh vừa thực hiện chức năng hỗ trợ trên cơ sở nguồn ngân quỹ được cấp, chức năng chủ yếu gồm: Khóa luận: Phát triển DN vừa và nhỏ trong tiến trình hội nhập.
- Giúp thành lập doanh nghiệp.
- Cung cấp tín dụng ưu đãi cho doanh nghiệp.
- Tư vấn, hỗ trợ, dãn nợ, khoanh nợ cho những doanh nghiệp đặc biệt
- Nghiên cứu chuyển giao công nghệ.
- Hỗ trợ tiếp thị, đào tạo, tư vấn cho doanh nghiệp.
- Bảo hộ quyền lợi và nghĩa vụ của doanh nghiệp vừa và nhỏ trước các doanh nghiệp lớn khác.
Hiệp hội là các tổ chức đại diện theo ngành hàng và theo các loại hình sở hữu để vừa bảo vệ nhau và giúp đỡ nhau, vừa nói lên nguyện vọng của chủ doanh nghiệp, người lao động. Hiệp hội bao gồm các hội viên cùng một mục đích tạo ra một sức mạnh lớn hơn dựa trên sức mạnh tổng hợp của toàn bộ các thành viên của hội. Các hội ở Việt Nam mới chỉ phát triển trong khoảng một thập kỷ gần đây và chưa thể tổng hợp được sức mạnh tổng hợp vốn có của mình. Chức năng chủ yếu của các hội chủ yếu là tham mưu cho nhà nước trong xây dựng quy hoạch chính sách liên quan đến ngành mình, giới mình, lợi ích của mình. Ví dụ như: Hiệp hội công thương gia, ngành hàng, liên minh các hợp tác xã, công đoàn ngoài quốc doanh. Khóa luận: Phát triển DN vừa và nhỏ trong tiến trình hội nhập.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>> Khóa luận: Thực trạng DN vừa và nhỏ trong tiến trình hội nhập

Dịch Vụ Viết Luận Văn Thạc Sĩ 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietthuethacsi.com/ – Hoặc Gmail: dicvuluanvanthacsi@gmail.com
[…] ===>> Khóa luận: Phát triển DN vừa và nhỏ trong tiến trình hội nhập […]