Khóa luận: Đánh giá chất lượng tín dụng XNK tại Vietcombank

Rate this post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Đánh giá chất lượng tín dụng XNK tại Vietcombank hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Khóa luận: Đánh giá chất lượng hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

I: VÀI NÉT VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU CỦA VIỆT NAM TRONG MẤY NĂM QUA

1. Về xuất khẩu

Tổng kim ngạch XK hàng hoá của nước ta đã gia tăng nhanh chóng trong những năm qua.

  • Bảng 1: Tổng hợp tình hình XK của Việt Nam

Kim ngạch XK hàng hoá đã tăng từ 2,4 tỷ USD trong năm 1990 lên trên 5,4 tỷ USD năm 1995, lên gần 14,5 tỷ USD năm 2019, lên gần 32,5 tỷ USD năm 2024, lên trên 39,8 tỷ USD trong năm 2025 và có khả năng đạt 47,5 tỷ USD trong năm 2026. Qua 9 tháng đầu năm 2026, kim ngạch XK đã cao hơn tổng kim ngạch XK đạt được trong cả năm từ 2024 trở về trước. Bình quân 1 tháng đạt gần 4 tỷ USD, trong đó mấy tháng nay đạt trên 4 tỷ USD, cao hơn mức XK trong cả năm từ năm 1994 trở về trước. So với cùng kỳ, kim ngạch XK 9 tháng năm nay tăng 19,4%, cao gấp 2,4 lần tốc độ tăng trưởng kinh tế.

Tỷ lệ kim ngạch XK so với GDP cũng tăng nhanh từ 30,8% năm 1990 lên 46,5% năm 2019, lên 61,3% năm 2024, lên 65% năm 2025 và 67% năm 2026 – thuộc loại cao so với các nước (đứng thứ 4 trong khu vực ASEAN, đứng thứ 5 ở Châu Á và thứ 8 trên thế giới). Kim ngạch XK bình quân đầu người cũng tăng từ 36,4 USD năm 1990 lên 75 USD năm 1995, lên 186,8 USD năm 2019, lên 391 USD năm 2024, 473,2 USD năm 2025 và khả năng năm 2026 đạt 557 USD. Tuy nhiên, XK cũng có một số biểu hiện kém hiệu quả:

Sức cạnh tranh của hàng hóa XK chưa cao, công tác quảng cáo tiếp thị còn yếu, thường phải bán hàng qua trung gian, nên dù có khối lượng lớn, nhưng giá cả vẫn thấp hơn. Bên cạnh đó, kim ngạch hoặc lượng XK một số mặt hàng chủ lực bị giảm hoặc tăng thấp, mạnh nhất là dầu thô (lượng XK giảm 9,9%, giá XK giảm 2,1%, nên kim ngạch giảm 11,8%), và một số mặt hàng khác như: xe đạp và phụ tùng xe đạp, cao su, gạo, thủy sản.

Về thị trường XK, bên cạnh một số nơi tăng khá như Mỹ, EU, Australia…thì cũng có một số thị trường tăng thấp hoặc giảm như Malaisia, Đài Loan, Nga, Philipin, Thái Lan, Nhật Bản, Trung Quốc…

  • Mặc dù vậy, nhìn chung XK Việt Nam vẫn có những tiến bộ đáng kể. Nguyên nhân chính là:

Thứ nhất, Việt Nam đã có sự mở rộng thị trường đáng kể. Số nước và vùng lãnh thổ NK hàng hóa từ nước ta đã tăng nhanh chóng, đặc biệt là từ sau khi Hiệp định Thương mại Việt- Mỹ được ký kết năm 2019 và khi Việt Nam trở thành thành viên Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm 2026, hầu hết các nước và vùng lãnh thổ trên thế giới đã NK hàng hoá từ Việt Nam. Cũng vì thế mà kim ngạch XK của Việt Nam tăng lên nhanh chóng. Khóa luận: Đánh giá chất lượng tín dụng XNK tại Vietcombank.

Ngoài những thị trường truyền thống tăng cao, nhất là Anh, Mỹ, Australia, EU, còn mở rộng thị trường lên trên 200 nước và vùng lãnh thổ. Với đà này, khả năng tổng kim ngạch XK cả năm sẽ đạt trên 47.5 tỷ USD. Khi đó, hệ số giữa kim ngạch XK so với GDP sẽ đạt khoảng 67%, thuộc loại cao trên thế giới, ở Châu Á và trong khu vực. Như vậy, bên cạnh việc mở rộng thị trường, theo phương châm đa dạng hoá, đa phương hoá, việc xác định các thị trường trọng điểm là hết sức cần thiết để giảm chi phí vận chuyển, tiếp thị quảng cáo…

Tuy nhiên, việc “bỏ trứng vào một giỏ” cũng là điều nên tránh và việc mở rộng thị trường để tăng lượng tiêu thụ, phòng tránh những rủi ro khi xảy ra ở một thị trường nào đó (chẳng hạn như việc kiện bán phá giá).

Thứ hai, các doanh nghiệp XK đã mở rộng và quan tâm đến những mặt hàng có quy mô không lớn nhưng đã tăng tốc độ cao để bù vào các mặt hàng chủ lực bị giảm sút hoặc tăng thấp. Đó là thủ công mỹ nghệ, dây điện và cáp điện, sản phẩm nhựa, hạt tiêu, hạt điều..

2. Về nhập khẩu

Nhờ XK đạt quy mô và có tốc độ tăng khá, nên nhập khẩu có điều kiện tăng tốc và đạt quy mô khá, phục vụ đổi mới kỹ thuật – công nghệ, sản xuất và tiêu dùng ở trong nước cũng như sản xuất hàng XK. Qua 7 tháng đầu năm 2026, tổng kim ngạch NK đã đạt 32,243 tỷ USD, tăng 29,8% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2025 đạt 24.77 tỷ USD). Riêng tháng 7/2026 đạt 5,05 tỷ USD, tiếp tục tăng so với tháng 6/2026. Trong đó:

  • Kim ngạch NK của các doanh nghiệp 100% vốn trong nước đạt 20.823 tỷ USD, tăng 31,8% so với cùng kỳ năm 2025, chiếm tỷ trọng 64,6% tổng kim ngạch NK cả nước (cùng kỳ năm 2025 chiếm 63,5%).
  • Kim ngạch NK của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 11,42 tỷ USD, tăng 26,3% so với cùng kỳ năm 2025, chiếm 35,4% tổng kim ngạch NK của cả nước (cùng kỳ năm 2025 đạt 9 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 36,5% tổng kim ngạch NK cả nước, tăng 18,1% so với cùng kỳ năm 2024).

Báo cáo đến cuối tháng 8/2026 cho biết, những mặt hàng NK chủ yếu có lượng tăng cao bao gồm: ôtô nguyên chiếc tăng 5.252 chiếc tăng 62,2% về lượng và 98,6% về giá trị; linh kiện ôtô tăng 19.587 bộ tăng 78,4% số lượng và 69,4% giá trị; thép tăng 971 ngàn tấn, tương đương tăng 39,4% về khối lượng và 65% về giá trị. Bên cạnh đó, những mặt hàng NK chủ yếu có trị giá tăng cao như: phôi thép tăng 26,7%, phân bón tăng 17,2%, chất dẻo nguyên liệu tăng 23,3%, máy móc thiết bị phụ tùng tăng 51,4%, tân dược tăng 25,8%,sữa tăng 20,6%, thức ăn gia súc và nguyên liệu tăng 57,5% [26].

Do nhập khẩu có quy mô lớn hơn và tăng cao XK, nên nhập siêu sau 9 tháng đã lên đến 7,6 tỷ USD, tăng rất cao so với cùng kỳ năm trước (gấp 2,3 lần), tỷ lệ nhập siêu đã lên đến 21,6% cũng cao gấp đôi tỷ lệ của cùng kỳ năm trước (10,1%). Mức nhập siêu này không những cao nhất so với cùng kỳ từ trước tới nay mà còn cao hơn mức nhập siêu cả năm kể từ năm 2020 đến nay. Với tốc độ này, dự báo mới đây của Bộ Công Thương cho biết, cả năm 2026 có thể sẽ nhập siêu lên tới 9 tỷ USD. Tuy nhiên, Bộ cũng cho rằng dù nhập siêu cao nhưng có thể chấp nhận được đối với một nền kinh tế đang phát triển và trên đường hội nhập quốc tế. NK tăng chủ yếu do NK máy móc, thiết bị, nguyên liệu phục vụ sản xuất. Cho nên nhìn về lâu dài thì đây sẽ là một bước đi cần thiết cho sự phát triển kinh tế. Khóa luận: Đánh giá chất lượng tín dụng XNK tại Vietcombank.

Nguyên nhân chủ yếu của nhập siêu là do các nhóm hàng có giá trị gia tăng cao lại có mức tăng không lớn và giá trị, trong khi những mặt hàng có tỷ lệ gia công cao lại tăng cao. Một nguyên nhân quan trọng nữa là do tính gia công của nền kinh tế nước ta còn lớn, công tác nội địa hóa, phát triển công nghiệp phụ trợ được đề ra từ lâu, nhưng thực tế chuyển biến còn rất chậm.

Bên cạnh đó, do hiệu quả và sức cạnh tranh của sản xuất trong nước còn thấp, nên khi thực hiện cam kết cắt giảm thuế suất thuế NK thì nhiều mặt hàng không đủ sức cạnh tranh với hàng ngoại nhập. Một số mặt hàng có kim ngạch NK tăng cao so với cùng kỳ, đóng góp phần lớn vào mức tăng kim ngạch NK chung, trong đó có 14 mặt hàng tăng trên 100 triệu USD: cao nhất là máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng (tăng 2.109 triệu USD), tiếp đến là sắt thép (1.051 triệu USD); vải (664 triệu USD); điện tử, máy tính; chất dẻo; ô tô; thức ăn gia súc, nguyên phụ liệu; xăng dầu; hóa chất; gỗ và nguyên phụ liệu gỗ; sản phẩm hóa chất; sợi dệt; xe máy và dầu mỡ động thực vật.

Kim ngạch NK tăng do cả hai yếu tố lượng và giá NK tăng. Lượng NK tăng cao ở các mặt hàng: sắt thép, sợi dệt, bông, xăng dầu, phân bón, giấy, chất dẻo, ô tô, xe máy… Giá tăng ở các mặt hàng sắt thép, lúa mì, sợi dệt, chất dẻo, giấy. Chỉ với 5 mặt hàng này đã làm giá tăng 906 triệu USD, chiếm trên một nửa tổng mức tăng kim ngạch của các mặt hàng đó.

Đối tác chính xuất khẩu sang Việt Nam bao gồm Nhật Bản, Thái Lan, Trung Quốc, Singapo, Đài Loan, Hoa Kỳ, Malaixia. Trong đó, giá trị NK từ Trung Quốc chiếm tỷ lệ cao nhất: 15,7% trong tổng kim ngạch NK của Việt Nam, Singapo chiếm 12,5%, Đài Loan chiếm 11,7%, Nhật Bản chiếm 11,1%, Thái Lan 6,5%, Malaixia 3,4 % và Mỹ là 2,3%.

Nhìn chung bối cảnh XK tăng trưởng khá mạnh và nhập khẩu đang ở tình trạng nóng như thời gian qua đã tạo cơ hội cho hoạt động tín dụng Xuất nhập khẩu của các Ngân hàng Thương mại phát triển.

II. TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM Khóa luận: Đánh giá chất lượng tín dụng XNK tại Vietcombank.

1. Giới thiệu chung

Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (NHNT) được thành lập ngày 01/04/1963 theo Nghị định số 115/CP ngày 30/12/1962 của Hội đồng Chính phủ trên cơ sở tách từ Cục Quản lý ngoại hối NHTW (nay là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam). Sau này, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Việt Nam ký quyết định số 286/QĐ-NH5 ngày 21/09/1990 thành lập theo mô hình Tổng công ty Nhà nước. Ngân hàng Ngoại thương có tên chính thức là Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (NHNT) và tên giao dịch tiếng Anh là Bank for foreign trade of Vietnam, gọi tắt là Vietcombank (VCB).

Từ ngày thành lập đến nay, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam liên tục giữ vai trò chủ lực trong hệ thống ngân hàng Việt Nam và được xếp hạng là một trong 23 doanh nghiệp đặc biệt của Nhà nước, đồng thời là một thành viên của Hiệp hội ngân hàng Việt Nam và Hiệp hội Ngân hàng Châu Á. Là Ngân hàng Thương mại phục vụ đối ngoại lâu đời nhất ở Việt Nam, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam luôn được biết đến như một ngân hàng đứng đầu về nguồn vốn và có uy tín trong các lĩnh vực tài trợ, thanh toán Xuất nhập khẩu, kinh doanh ngoại hối, bảo lãnh ngân hàng và các dịch vụ tài chính, ngân hàng quốc tế. Cho đến nay, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã phát triển thành một hệ thống gồm 25 chi nhánh trong nước và 29 chi nhánh cấp 2, 1 công ty tài chính và 3 văn phòng đại diện ở nước ngoài, 1 công ty chứng khoán, 1 công ty thuê mua tài chính, 1 công ty quản lý nợ và khai thác tài sản, góp vốn cổ phần vào 5 doanh nghiệp và 7 ngân hàng, tham gia 3 liên doanh với nước ngoài.

NHNT là thành viên Ban Giám đốc Hiệp hội Ngân hàng Châu Á nhiệm kỳ 2019-2021. Đây là lần thứ tư liên tiếp Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam được bầu và cũng là ngân hàng duy nhất ở Việt Nam trúng cử vào vị trí danh dự này. Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã thiết lập quan hệ đại lý với 1500 ngân hàng tại gần 100 nước trên khắp các châu lục của thế giới; là đại lý chính thức của tổ chức chuyển tiền nhanh quốc tế MoneyGram; là đại lý thanh toán 5 loại thẻ tín dụng quốc tế Visa, MasterCard, JCB, American Express và Dinners Club đồng thời phát hành 3 loại thẻ: Vietcombank-Visa, Vietcombank-MasterCard và Vietcombank American Express. Năm 1995, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam là ngân hàng đầu tiên tại Việt Nam được tạp chí AsiaMoney bình chọn là “Ngân hàng tốt nhất tại Việt Nam”. Từ năm 2015-2020, sáu năm liên tiếp Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam được Ngân hàng JP Morgan Chase của Hoa Kỳ tặng giải thưởng “Chất lượng dịch vụ tốt nhất” trong giao dịch thanh toán quốc tế qua hệ thống SWIFT. Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cũng vinh dự được tạp chí The Bankers thuộc tập đoàn tài chính quốc tế Financial Times của Anh Quốc trao tặng danh hiệu “Ngân hàng tốt nhất” năm 2019, 2020, 2021 và 2022. Năm 2022 nhận giải thưởng “Ngân hàng có chất lượng dịch vụ thanh toán tốt nhất” của The Bank Of New York, “Giải thưởng vàng về quản lý tiền mặt và chất lượng thanh toán toàn cầu” của HSBC chi nhánh Hoa Kỳ và “Giải thưởng Ngân hàng có chất lượng thanh toán Đôla Mỹ tốt nhất” của Deutsche Bank trao tặng năm 2023. Trong những năm qua, bằng những nỗ lực vượt bậc và được sự ủng hộ của đông đảo khách hàng, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã giữ vững là Ngân hàng Thương mại có mức tăng trưởng vào bậc nhất ở Việt Nam.

2. Tổng quan về tình hình hoạt động kinh doanh Khóa luận: Đánh giá chất lượng tín dụng XNK tại Vietcombank.

2.1. Các loại hình kinh doanh chính

Với phương châm “luôn mang đến cho bạn sự thành đạt”, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam không ngừng nghiên cứu, cải tiến và nâng cao chất lượng dịch vụ nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu khách hàng. Khách hàng có cơ hội tiếp cận nhiều loại hình sản phẩm, dịch vụ đa dạng, không chỉ bao gồm các dịch vụ ngân hàng truyền thống như tiền gửi, cho vay mà còn bao gồm các dịch vụ hiện đại khác như bảo lãnh, hợp đồng phái sinh ngoại hối, ngân hàng đại lý…

  • a) Dịch vụ ngân hàng truyền thống

Dịch vụ cung cấp tài khoản: Thông qua tài khoản mở tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, khách hàng có thể sử dụng các phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt như séc, uỷ nhiệm thu, uỷ nhiệm chi, thẻ…để thực hiện các giao dịch mua bán, chuyển tiền, thanh toán các dịch vụ sinh hoạt như điện, nước, điện thoại một cách thuận tiện và an toàn. Ngoài ra, khách hàng còn được hưởng lãi suất tính trên số dư trên tài khoản.

Huy động vốn từ tổ chức kinh tế và dân cư: Đây là hình thức huy động nguồn tiền nhàn rỗi từ các tổ chức kinh tế và dân cư với nhiều kỳ hạn và phương thức trả lãi khác nhau. Loại tiền gửi mà khách hàng gửi vào Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam chủ yếu là Đồng Việt Nam và một số loại ngoại tệ mạnh như Đôla Mỹ, Bảng Anh và Euro. Hình thức gửi tiền: Tiền mặt, séc du lịch, chuyển khoản.

Phát hành giấy tờ có giá: Phát hành giấy tờ có giá là một hình thức huy động vốn của Ngân hàng. Các loại giấy tờ có giá như kỳ phiếu, trái phiếu và chứng chỉ tiền gửi là những công cụ nợ, ghi nhận khoản nợ của Ngân hàng đối với khách hàng sở hữu các công cụ đó. Tùy theo nhu cầu vốn ngắn hạn hay dài hạn trong từng thời kỳ mà Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam sẽ phát hành kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi hoặc trái phiếu. Đây là hình thức đầu tư an toàn với lãi suất cao.

Dịch vụ chiết khấu chứng từ: Chiết khấu chứng từ là việc Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam thực hiện mua lại các chứng từ có giá chưa đến hạn thanh toán nhằm đáp ứng nhu cầu về vốn của khách hàng.

Dịch vụ cho vay: Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam thực hiện cho vay nhằm đáp ứng nhu cầu vốn của khách hàng bằng Đồng Việt Nam hoặc các loại ngoại tệ mạnh với thời hạn vay được chia theo 3 loại chủ yếu: ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Phương thức cho vay rất đa dạng: cho vay từng lần, cho vay theo hạn mức, cho vay theo dự án và đặc biệt là phương thức cho vay hợp vốn. Khóa luận: Đánh giá chất lượng tín dụng XNK tại Vietcombank.

  • b) Dịch vụ ngân hàng hiện đại

Dịch vụ bảo lãnh: Hiện tại, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đang cung cấp các loại bảo lãnh: Bảo lãnh tín dụng thương mại trung dài hạn tổ chức kinh tế; Bảo lãnh tín dụng theo khách hàng Nhà nước; Bảo lãnh vay vốn ngắn hạn; Bảo lãnh vay vốn trung dài hạn; Bảo lãnh thanh toán; Bảo lãnh thực hiện hợp đồng; Bảo lãnh đấu thầu; Bảo lãnh đối ứng;

  • Bảo lãnh trên cơ sở bảo lãnh đối ứng; Xác nhận bảo lãnh; Các loại bảo lãnh khác.

Dịch vụ thuê mua tài chính: Nhằm hỗ trợ các khách hàng có nhu cầu đầu tư trung, dài hạn để đổi mới trang thiết bị, phát triển sản xuất kinh doanh, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cung cấp dịch vụ thuê mua tài chính mà qua đó, khách hàng có thể sử dụng tài sản thuê và thanh toán dần tiền thuê trong suốt thời hạn đã được thoả thuận và không được huỷ bỏ hợp đồng thuê trước hạn. Khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê được chuyển quyền sở hữu, mua lại hoặc tiếp tục thuê tài sản đó theo các điều kiện đã được thoả thuận trong hợp đồng thuê.

Dịch vụ thanh toán quốc tế: Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam là Ngân hàng Thương mại đầu tiên của Việt Nam tham gia hệ thống thanh toán SWIFT (Hệ thống viễn thông tài chính liên ngân hàng toàn cầu) nhằm tăng cường khả năng hỗ trợ và nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng trong việc thanh toán. Thông qua Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, khách hàng có thể thanh toán các hợp đồng Xuất nhập khẩu một cách nhanh chóng, thuận tiện, an toàn và tiết kiệm thời gian.

Dịch vụ chuyển tiền: Với mạng lưới quan hệ đại lý rộng khắp trên toàn thế giới và mạng lưới sở giao dịch và các chi nhánh tại hầu hết các tỉnh, thành phố lớn cũng như có chất lượng thanh toán SWIFT quốc tế tốt nhất tại Việt Nam, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam nhận thực hiện mọi yêu cầu chuyển tiền đi hoặc đến của khách hàng trong và ngoài nước một cách cập nhật, chính xác, an toàn, thủ tục đơn giản và với mức phí hấp dẫn nhất.

Dịch vụ thẻ: Là Ngân hàng Thương mại đầu tiên ở Việt Nam triển khai dịch vụ thẻ, hiện tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam là đơn vị duy nhất chấp nhận thanh toán cả 5 loại thẻ ngân hàng thông dụng trên thế giới: Visa, Master Card, JCB, American Express, Diners Club. Bên cạnh đó, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam còn trực tiếp phát hành thẻ tín dụng quốc tế: Vietcombank Master Card, Vietcombank Visa và Vietcombank American Express.

Dịch vụ nhờ thu trơn: Dịch vụ nhờ thu trơn là một trong những dịch vụ phổ biến nhất hiện nay được các khách hàng sử dụng trong hoạt động thanh toán quốc tế. Đối tượng nhờ thu là các tờ séc đích danh do ngân hàng nước ngoài phát hành trả cho người hưởng có tên trên séc hoặc tiền mặt ngoại tệ không đủ tiêu chuẩn lưu hành. Về kết quả thanh toán nhờ thu, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam sẽ trả tiền cho người thụ hưởng trong vòng 24 giờ kể từ khi nhận được báo có của ngân hàng nước ngoài. Khóa luận: Đánh giá chất lượng tín dụng XNK tại Vietcombank.

Dịch vụ mua bán ngoại tệ: Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cung cấp các dịch vụ về ngoại hối phục vụ nhu cầu thanh toán quốc tế và phòng ngừa rủi ro tỷ giá cho khách hàng bao gồm: hợp đồng giao ngay, hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng hoán đổi và hợp đồng quyền chọn. Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam còn có thể tư vấn miễn phí về quản lý tài sản, phòng ngừa rủi ro và các hình thức kinh doanh phù hợp có lợi cho khách hàng.

Dịch vụ ngân hàng đại lý: Đối với các ngân hàng đại lý, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam có nhiều sản phẩm và dịch vụ hấp dẫn cung cấp cho khách hàng. Ngoài những sản phẩm ngân hàng đại lý truyền thống như phục vụ thanh toán qua tài khoản bằng nội tệ và ngoại tệ, thanh toán chuyển tiền quốc tế, dịch vụ nhờ thu, tín dụng chứng từ, bảo lãnh trên cơ sở bảo lãnh đối ứng, giao dịch thị trường tiền tệ, đồng tài trợ, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam còn luôn đi đầu trong việc cung cấp những sản phẩm tiên tiến trên nền tảng công nghệ hiện đại như dịch vụ ngân hàng điện tử (VCB Money), mua bán trái phiếu kỳ hạn. Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đồng thời cũng cung cấp dịch vụ Sub-member cho các chi nhánh ngân hàng nước ngoài chưa được trực tiếp tham gia hệ thống dịch vụ thanh toán điện tử liên ngân hàng qua hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Liên quan đến các nghiệp vụ L/C, chuyển tiền, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam có thể đóng vai trò là đối tác với các ngân hàng đại lý thông qua các nghiệp vụ như ngân hàng thông báo, ngân hàng thương lượng, ngân hàng xác nhận, ngân hàng nhờ thu, ngân hàng tư vấn hay cung cấp các dịch vụ khác theo yêu cầu của ngân hàng đối tác.

Dịch vụ ngân hàng đầu tư: Bên cạnh nghiệp vụ đấu thầu và bảo lãnh phát hành trái phiếu Chính phủ do Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam trực tiếp thực hiện, các dịch vụ ngân hàng đầu tư như bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn tài chính doanh nghiệp, quản lý quỹ… được Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cung cấp thông qua 02 công ty trực thuộc: Công ty Chứng khoán Ngân hàng Ngoại thương – VCBS, Công ty liên doanh Quản lý Quỹ Đầu tư Chứng khoán Vietcombank – VCBF.

Kinh doanh chứng khoán và các công cụ phái sinh: Bên cạnh các hoạt động tài trợ, cho vay với mức sinh lời cao nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam còn sử dụng một phần giá trị tài sản vào các hoạt động kinh doanh giấy tờ có giá ngắn hạn, kinh doanh chứng khoán và các hợp đồng phái sinh nhằm ổn định thu nhập, tăng cường tính thanh khoản của bảng cân đối tài sản và giảm thiểu rủi ro. Các loại chứng khoán mà Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đầu tư chủ yếu là tín phiếu Kho bạc Nhà nước, tín phiếu Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, trái phiếu Kho bạc Nhà nước, trái phiếu Chính phủ, công trái giáo dục, trái phiếu đô thị, các công cụ nợ trung dài hạn của các Ngân hàng Thương mại và Quỹ Hỗ trợ Phát triển và các chứng khoán nước ngoài.

2.2. Kết quả hoạt động kinh doanh Khóa luận: Đánh giá chất lượng tín dụng XNK tại Vietcombank.

Trong những năm qua, với những cố gắng, nỗ lực lớn lao của mình, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã đạt được sự tăng trưởng mạnh, thực hiện tốt nghĩa vụ nộp ngân sách Nhà nước, đồng thời tập trung nguồn lực để thực hiện mục tiêu chiến lược là nâng cao chất lượng hoạt động của Ngân hàng nhằm tạo tiền đề thuận tiện cho cổ phần hóa và sẵn sàng hội nhập với hệ thống tài chính khu vực cũng như trên thế giới.

  • Nguồn vốn

Tính đến ngày 30/6/2026, tổng nguồn vốn của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đạt 183.402 tỷ đồng (tăng 8,99% so với năm 2025 và tăng 34,47% so với năm 2024), lợi nhuận sau thuế đạt 1.017 tỷ đồng (giảm 23.07% so với năm 2025). Đây là tín hiệu đáng mừng cho Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam để có thể mở rộng và nâng cao hơn nữa các hoạt động kinh doanh của mình.

  • Bảng 2: Doanh số tổng nguồn vốn và vốn huy động của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam năm 2024-2026

Tình hình huy động vốn của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cũng khởi sắc thể hiện ở doanh số huy động của năm sau luôn cao hơn năm trước, đây là thành tích rất đáng ghi nhận của ngân hàng qua những biến động trên thị trường tiền tệ do sự tăng lãi suất ngoại tệ trên thị trường quốc tế và cuộc chạy đua lãi suất đồng Việt Nam tại thị trường trong nước trong những năm vừa qua. Vốn huy động tăng trưởng tính đến tháng 6/2026 là 172.208 tỷ đồng, tăng 9,61% so với năm 2025 và 37,08% so với năm 2024. Cơ cấu vốn VNĐ/ngoại tệ thay đổi theo chiều hướng tăng tỷ trọng nội tệ và giảm đồng ngoại tệ (54/46), trong đó đáng chú ý là vốn huy động từ thị trường liên ngân hàng tăng gấp 1,5 lần so với năm 2025.

  • Hoạt động tín dụng Khóa luận: Đánh giá chất lượng tín dụng XNK tại Vietcombank.

Đóng góp vào thành công trên không thể không kể đến hoạt động tín dụng của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam – lĩnh vực luôn mang lại nguồn thu khá lớn cho ngân hàng. Năm 2026 là năm thứ 4 liên tiếp Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam thực hiện chủ trương “Tăng trưởng tín dụng trên cơ sở tập trung nâng cao chất lượng và hướng tới chuẩn mực quốc tế”, thông qua việc tăng cường các biện pháp quản trị rủi ro tín dụng, kiểm soát chặt chẽ các điểm nóng, khống chế tổng mức dư nợ tối đa đối với các chi nhánh có chất lượng tín dụng chưa tốt, kiên quyết hạ giới hạn tín dụng đối với các khách hàng có tình hình tài chính yếu kém, hoạt động kinh doanh không hiệu quả. Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã coi trọng lựa chọn danh mục khách hàng và ngành cho vay, thực hiện nghiêm túc tăng trưởng tín dụng lựa chọn theo vùng, luôn bám sát và xử lý tốt các khoản nợ xấu. Bên cạnh đó, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam tiếp tục hoàn thiện, sửa đổi các quy định về nghiệp vụ tín dụng cho phù hợp với hoạt động thực tiễn.

  • Bảng 3: Kết quả hoạt động tín dụng của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam năm 2024-2026

Đến tháng 6/2026, tổng dư nợ tín dụng của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đạt 81.689 tỷ đồng (tăng 20,23% so với cuối năm 2025, tăng 33,82% so với năm 2024), tỷ lệ tín dụng trung và dài hạn trong tổng dư nợ đạt 40,8%, tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ chỉ còn 1,7%.

Trong năm vừa qua, đi đôi với sự tăng trưởng tín dụng, chất lượng tín dụng của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cũng được cải thiện đáng kể và ngày càng được nâng cao. Tuy nhiên, trong thời gian tới, ngân hàng cũng cần có những biện pháp thích hợp và linh hoạt hơn nữa để luôn đạt được sự tăng trưởng bền vững trong hoạt động tín dụng.

  • Hoạt động thanh toán quốc tế và kinh doanh vốn

Về hoạt động thanh toán: Tính chung Xuất nhập khẩu, năm 2025 Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đạt doanh số gần 23 tỷ USD (tăng 9% so với năm 2024 và chiếm 27% thị phần cả nước). Về XK, doanh số thanh toán hàng XK qua Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam năm 2025 đạt khoảng 13 tỷ USD, tăng 40% về trị giá, cao hơn nhiều so với mức tăng kim ngạch chung (cả nước chỉ tăng 22%). Do vậy về Xuất nhập khẩu năm nay Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam chiếm tới 32% thị phần cả nước, tăng gần 4% so với mức thị phần năm 2024. Về NK, doanh số thanh toán hàng NK qua Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam năm 2025 đạt hơn 10 tỷ USD, chiếm 22,8% tổng kim ngạch NK cả nước. Hoạt động thanh toán liên ngân hàng cũng có sự thay đổi quan trọng với việc Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam trở thành trung tâm xử lý giao dịch VCB-MONEY của toàn hệ thống, cung cấp dịch vụ thanh toán điện tử cho các đối tượng là khách hàng là các định chế tài chính và các doanh nghiệp.

Hoạt động kinh doanh thẻ: tính cuối năm 2025 Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã phát hành 20.907 thẻ quốc tế, đưa tổng số thẻ quốc tế đang lưu hành của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đạt 72.500 thẻ với doanh số sử dụng thẻ đạt 1.012,6 tỷ đồng (tăng 36,5% so với năm 2024). Doanh số thanh toán thẻ quốc tế năm 2025 đạt 6.200 tỷ quy đồng, tăng 22,8% so với năm 2024. Sự tăng trưởng vượt bậc về doanh số sử dụng thẻ ATM năm 2025 (tăng 73,3%) là kết quả trực tiếp từ việc mở rộng mạng lưới ATM (705 máy), đẩy mạnh triển khai các dịch vụ thanh toán billing với các đối tác cung cấp dịch vụ là bảo hiểm, điện lực, bưu điện, các công ty viễn thông di động. Khóa luận: Đánh giá chất lượng tín dụng XNK tại Vietcombank.

Hoạt động kinh doanh vốn: tổng doanh số mua, bán ngoại tệ năm 2025 đạt trên 30 tỷ USD (tăng 25% so với năm 2024). Ngoài ra, hoạt động của các đơn vị thành viên độc lập và liên doanh góp vốn của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam như Công ty chứng khoán, Công ty cho thuê tài chính Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, Công ty VINAFICO, Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản…cũng đạt được những kết quả khả quan.

Trong những năm qua Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam luôn phát huy vai trò là một ngân hàng uy tín nhất trong các lĩnh vực tài trợ, thanh toán Xuất nhập khẩu, kinh doanh ngoại hối, bảo lãnh và các dịch vụ tài chính, ngân hàng quốc tế, do vậy trong điều kiện cạnh tranh gay gắt Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam vẫn giữ được thị phần ở mức cao và ổn định.

  • Các hoạt động khác

Song song với hoạt động kinh doanh, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam luôn chú trọng đến các hoạt động hỗ trợ kinh doanh khác như phát triển nguồn nhân lực, đầu tư chiều sâu vào công nghệ ngân hàng. Hệ thống ngân hàng bán lẻ (VCB – 2030) – một bộ phận của chiến lược phát triển công nghệ ngân hàng – được đưa vào sử dụng từ tháng 9/2018 tại Sở giao dịch và đến nay đã triển khai trong toàn hệ thống Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam.

Không những vậy, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam còn không ngừng nâng cao hiệu quả quản trị hệ thống như ứng dụng đồng bộ chương trình chuyển tiền quốc tế theo cơ chế tập trung, đổi mới một bước quy trình thanh toán quốc tế theo hướng tập trung cao. Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cũng phát triển dịch vụ ngân hàng trên nền tảng công nghệ như dịch vụ Internet Banking với 30.000 khách hàng sử dụng, bước đầu đưa vào ứng dụng Thương mại điện tử, dịch vụ SMS Banking với 5.000 khách hàng. Ngoài ra, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cũng đẩy mạnh công tác kiểm tra, kiểm toán với việc thành lập và đưa vào hoạt động bộ phận kiểm toán nội bộ.

Nhằm phát huy những thành quả đã đạt được năm 2025, trong năm 2026, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam tập trung cao độ mọi nguồn lực để xây dựng phương án thực hiện thành công chương trình cổ phần hóa, xây dựng mô hình tập đoàn theo chỉ đạo của Chính phủ; triển khai quyết liệt các bước đi cụ thể trong việc đổi mới cơ cấu tổ chức và áp dụng mô hình quản trị điều hành theo thông lệ quốc tế; thay đổi, điều chỉnh một cách cơ bản cơ cấu đối tượng khách hàng theo hướng đa dạng hóa; khoán; nghiên cứu các giải pháp để xây dựng một nền tảng công nghệ mới.

Xác định được những khó khăn trước mắt cũng như trong tương lai, nhằm hội nhập với bên ngoài, theo đuổi các chuẩn mực ngân hàng trong khu vực cũng như trên thế giới, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã xây dựng chiến lược phát triển đến năm 2030 với những định hướng và toàn diện bảo đảm cho ngân hàng phát triển lành mạnh mang lại hiệu quả thiết thực cho khách hàng, bạn hàng cũng như cho Ngân hàng.

III. CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG XUẤT NHẬP KHẨU TẠI NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM Khóa luận: Đánh giá chất lượng tín dụng XNK tại Vietcombank.

1. Thực trạng hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam

1.1. Các văn bản pháp lý điều chỉnh hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu

Hệ thống các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động cho vay tài trợ Xuất nhập khẩu tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam như sau:

  • Luật các tổ chức tín dụng 2016 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các tổ chức tín dụng 2023.
  • Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
  • Nghị định số 79/2021/NĐ-CP ngày 04/10/2021 về tổ chức và hoạt động của công ty tài chính;
  • Nghị định số 63/2017/NĐ-CP ngày 17/08/2017 về quản lý ngoại hối và Thông tư số 01/2018/TT-NHNN7 ngày 16/04/2018 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hướng dẫn NĐ 63/2017/NĐ-CP.
  • Nghị định số 178/2018/NĐ-CP ngày 29/12/2018 về bảo đảm tiền
  • Nghị định số 08/2019/NĐ-CP ngày 10/03/2019 về đăng ký giao dịch đảm bảo.
  • Nghị định số 165/2018/NĐ-CP ngày 19/11/2018 về giao dịch đảm bảo.
  • Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 133/2020/QĐ-TTG ngày 10/09/2020 về quy chế hỗ trợ tín dụng Xuất nhập khẩu.
  • Quyết định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam số 386/2020/QĐ-NHNN về sửa đổi bổ sung một điều trong quy chế bảo lãnh ngân hàng kèm theo quyết định QĐ số 283/2021/QĐ-NHNN ngày 25/08/2019.
  • Quyết định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam số 711/2020/QĐ-NHNN ngày 25/05/2020 về việc ban hành thư tín dụng nhập hàng trả chậm.
  • Quyết định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam số 61/2020/QĐ-NHNN ngày 31/12/2020 về quy chế cho vay đối với khách hàng và Quyết định số 407/QĐ-NHNT-HĐQT ngày 29/03/2021 hướng dẫn của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam về quy chế cho vay đối với khách hàng.
  • Quyết định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam số 1096/2023/QĐ-NHNN ngày 06/09/2023 về việc ban hành quy chế hoạt động bao thanh toán của các Tổ chức Tín dụng.
  • Quyết định số 17/2023/QĐ-NHNN ngày 05/01/2023 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc ban hành Quy chế thanh toán trong mua bán, trao đổi hàng hoá và dịch vụ thương mại tại khu vực biên giới Việt Nam – Campuchia.
  • Thông tư của Bộ Tài chính số 105/2026/TT-BTC ngày 30/08/2026 hướng dẫn xử lý rủi ro vốn tín dụng đầu tư và tín dụng XK của Nhà nước.
  • Thông tư số 07/2022/TT-NHNN hướng dẫn thực hiện một số quy định về bảo đảm tiền vay của các Tổ chức Tín dụng. Thông tư này thay thế cho Thông tư số 06/2019/TT-NHNN ngày 04/04/2019 và Thông tư số 10/2019/TT-NHNN ngày 31/8/02019 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

1.2. Quy trình tín dụng xuất nhập khẩu của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam Khóa luận: Đánh giá chất lượng tín dụng XNK tại Vietcombank.

Ngày nay, các ngân hàng và các định chế tài chính cho vay khác đều thiết lập các quy trình tín dụng. Về nguyên tắc, các quy trình tín dụng của các ngân hàng có nội dung cơ bản tương tự nhau, tuy nhiên nội dung chi tiết lại có nhiều khác biệt. Điều này phụ thuộc vào quy mô của ngân hàng, cấu trúc các loại cho vay, năng lực đội ngũ nhân sự, mức độ ứng dụng công nghệ tin học.

  • Quy trình nghiệp vụ

Cán bộ tín dụng có trách nhiệm tìm hiểu khái quát những vấn đề khách hàng trình bày để biết: Doanh số mua, năng lực sản xuất, khả năng Xuất nhập khẩu, thị trường tiêu thụ, mạng lưới tiêu thụ sản phẩm. Điều này giúp cán bộ tín dụng khái quát được quy mô kinh doanh của doanh nghiệp. Đánh giá uy tín và khả năng phát triển của khách hàng thông qua việc tìm hiểu khái quát năng lực tài chính của khách hàng: vốn pháp định, vốn tự có, nguồn tài trợ chủ yếu, điểm hoà vốn, khả năng sinh lời, từ đó phân tích rủi ro cho Cán bộ tín dụng cần đánh giá bộ máy điều hành, quản lý và năng lực của người điều hành và uy tín của họ trong việc hoàn trả nợ vay.

  • Đối với khách hàng vay lần đầu, khi xin vay phải gửi đến ngân hàng các hỗ sơ cần thiết:

Hồ sơ pháp nhân gồm có: Quyết định thành lập; giấy phép đăng kí kinh doanh; điều lệ công ty (nếu có); giấy phép kinh doanh Xuất nhập khẩu hoặc uỷ thác đầu tư; giấy phép về mặt hàng XK, NK (nếu có quy định về giấy phép đối với mặt hàng đó)

  • Báo cáo tài chính 2 năm gần nhất.

Hồ sơ vay vốn: tuỳ theo từng loại vay ngắn hạn hay dài hạn, vay VNĐ hay ngoại tệ, tuỳ từng đối tượng và mục đích vay… mà hỗ sơ vay vốn từng phương án sản xuất kinh doanh, dự án sẽ khác nhau, tuy nhiên về cơ bản gồm: Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sản xuất kinh doanh, phương án trả nợ vay ngân hàng (theo mẫu của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam) và giấy tờ liên quan đến mục đích, đối tượng sử dụng vốn vay, tính khả thi và hiệu quả của dự án vay vốn, một số chứng từ cần thiết (HĐ kinh tế về mua, bán hàng hóa dịch vụ, bao tiêu sản phẩm, HĐ Xuất nhập khẩu, uỷ thác, HĐ bảo hiểm vật tư, hàng hóa, thông báo mở L/C của bên nước ngoài đối với doanh nghiệp ..) Khóa luận: Đánh giá chất lượng tín dụng XNK tại Vietcombank.

Sau khi nhận được đơn xin vay của doanh nghiệp, cán bộ tín dụng lập một tờ trình gửi ban giám đốc kèm theo đơn xin vay, cán bộ tín dụng trực tiếp thẩm định hỗ sơ và khảo sát thực tế.

Tiếp theo là lập tờ trình thẩm định gửi đến phụ trách bộ phận trực tiếp cho vay để kiểm tra, bộ phận này tiếp tục gửi đến người được uỷ quyền quyết định cho vay

Nếu chấp nhận cho vay cán bộ tín dụng chuẩn bị nội dung hợp đồng và hoàn thiện thủ tục cho vay, gửi đến người được uỷ quyền quyết định cho vay ký kết. Khi thực hiện cho vay, cán bộ tín dụng luôn phải bám sát quy trình nghiệp vụ trong khi cho vay và sau khi cho vay để theo dõi việc sử dụng vốn của khách hàng, hạn chế và tránh những rủi ro có thể có… đây được coi là khâu hết sức quan trọng và cần thiết để khoản tín dụng mang lại hiệu quả cao.

  • Phương thức cho vay

Cho vay từng lần: mỗi lần vay vốn khách hàng và Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam làm thủ tục vay vốn cần thiết, áp dụng cho khách hàng không vay vốn thường xuyên và chưa đủ độ tin cậy để cho vay theo hạn mức tín dụng.

Cho vay theo hạn mức tín dụng: Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam và khách hàng thoả thuận một mức tín dụng duy trì trong một thời gian nhất định hoặc theo chu kỳ sản xuất kinh doanh và được áp dụng cho khách hàng có nhu cầu vốn thường xuyên có tín nhiệm đối với Ngân hàng, căn cứ vào phương án, kế hoạch sản xuất, kinh doanh, nhu cầu vay vốn của khách hàng, tài sản bảo đảm tiền vay.

Cho vay thấu chi: Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam thỏa thuận bằng văn bản cho phép khách hàng chi vượt số tiền trong tài khoản thanh toán của khách hàng phù hợp với các quy định của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán.

Cho vay hợp vốn: Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam và các Tổ chức Tín dụng khác cùng cho vay vốn đầu tư một dự án trong đó Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam hoặc một Tổ chức Tín dụng khác đứng ra làm đầu mối phối hợp và thực hiện cho Cho vay hợp vốn được thực hiện theo quy chế đồng tài trợ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và hướng dẫ của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam Việt Nam. Khóa luận: Đánh giá chất lượng tín dụng XNK tại Vietcombank.

Cho vay trả góp: là sản phẩm tín dụng hỗ trợ nguồn vốn giúp khách hàng đầu tư tài sản phục vụ sản xuất kinh doanh, nhanh chóng tăng nguồn vốn kinh doanh nhưng không phải chịu áp lực trả nợ khi đến hạn hoặc mua sắm vật dụng gia đình, sửa chữa nhà ở, sửa xe cơ giới, làm kinh tế hộ gia đình. Phương thức trả nợ là trả lãi hàng tháng và gốc trả vào cuối kỳ (nếu vay ngắn hạn) hoặc trả góp (vốn và lãi) hàng tháng.

Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cam kết đảm bảo sẵn sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng nhất định để đầu tư cho dự án. Trong thời hạn hiệu lực rút vốn của hợp đồng khách hàng phải trả phí cam kết theo mức quy định của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam.

Đối với hoạt động Xuất nhập khẩu, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam áp dụng hai phương thức chủ yếu là cho vay từng lần và cho vay theo hạn mức tín dụng.

1.3. Thực trạng hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam trong những năm gần đây

Với truyền thống và kinh nghiệm dày dặn trong lĩnh vực tài trợ Xuất nhập khẩu và thanh toán quốc tế, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã phát huy tốt lợi thế của mình thực hiện tốt công tác tín dụng Xuất nhập khẩu và hoạt động tín dụng Xuất nhập khẩu chiếm tỷ trọng lớn nhất trong toàn bộ hoạt động tín dụng của ngân hàng. Với chỉ tiêu hoạt động “Tăng trưởng tín dụng thận trọng, tập trung nâng cao chất lượng và hướng tới áp dụng các chuẩn mực quốc tế”, trong vài năm qua, hoạt động tín dụng Xuất nhập khẩu của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã đạt được những kết quả sau:

Hoạt động tín dụng xuất khẩu:

  • Về hoạt động cho vay sản xuất hàng xuất khẩu Khóa luận: Đánh giá chất lượng tín dụng XNK tại Vietcombank.

Cùng với sự tăng trưởng của XK, nhu cầu về tín dụng XK ngày càng tăng. Để phục vụ tốt nhu cầu đó, trong những năm qua, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã đặt chủ trương “mở rộng cho vay đối với các mặt hàng XK”. Do vậy, dư nợ tín dụng XK của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam liên tục tăng trưởng cả về quy mô và chất lượng.

  • Bảng 4: Tình hình tín dụng XK tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam năm 2023 – 2025

Tổng dư nợ ngắn hạn qua các năm cho thấy hoạt động tín dụng XK của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam vẫn tăng trưởng. Năm 2023, tổng dư nợ là 2.297 tỷ VNĐ, năm 2024 là 2.645 tỷ VNĐ, tăng 15,15% so với năm 2023, đến năm 2025 thì con số này là 2.862 tỷ VNĐ, tăng 8,23% so với năm 2024. Trong đó tỷ trọng tín dụng dành cho XK cũng tăng theo từng năm. Năm 2023, doanh số cho vay XK là 389 tỷ VNĐ, chiếm 16,94% tổng dư nợ ngắn hạn, năm 2024 là 735 tỷ VNĐ với tỷ trọng tương ứng là 27,8%. Năm 2025, doanh số tăng lên là 869 tỷ VNĐ, chiếm 31,3% trong tổng dư nợ.

Điều này chứng tỏ là ngày càng có nhiều doanh nghiệp tin tưởng và lựa chọn Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam là nơi cung cấp các dịch vụ tín dụng cho hoạt động kinh doanh XK của mình. Bên cạnh sự tăng trưởng về doanh số cho vay qua các năm thì cũng phải nhìn nhận một thực tế là tỷ trọng tín dụng XK của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam trên tổng nguồn vốn cho vay ngắn hạn vẫn còn thấp và chưa xứng với tiềm năng vốn có của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam. Chính vì vậy mà trong năm 2026 và các năm tới, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cần có những biện pháp để tăng doanh số tín dụng XK, phần nào phục vụ được nhiều nhu cầu vay của doanh nghiệp XK, phù hợp với chủ trương khuyến khích XK của cả nước.

  • Nghiệp vụ chiết khấu bộ chứng từ hàng xuất

Hiện nay, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam chủ yếu thực hiện theo hình thức chiết khấu truy đòi, còn chiết khấu miễn truy đòi chỉ sử dụng trong những trường hợp đặc biệt do tính rủi ro cao của nó. Lãi suất chiết khấu được quy định trong bảng suất của từng chi nhánh trong từng thời kỳ.

Đối với phương thức nhờ thu, việc chiết khấu bộ chứng từ được thực hiện với những điều kiện giống như chiết khấu truy đòi bộ chứng từ L/C. Thực tế, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam rất ít thực hiện chiết khấu bộ chứng từ nhờ thu.

  • Bảng 5: Hoạt động chiết khấu chứng từ XK tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam năm 2023-2025

Trong những năm gần đây, hoạt động chiết khấu chứng từ tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam tăng lên: năm 2023, doanh số chiết khấu đạt 14,63 triệu USD, năm 2024 là 15,02 triệu USD, tăng 2,67% so với năm 2023. Năm 2025, con số này đạt 17,4 triệu USD, tăng 15,9% so với năm 2024. Qua các con số trên ta thấy doanh số chiết khấu tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã có sự tăng trưởng là do trong vài năm qua, ngân hàng đã tiến hành mở rộng hình thức cho vay chiết khấu chứng từ hàng xuất đối với các công ty có doanh số thanh toán XK tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam nhiều và tình hình hoạt động tốt.

Tuy nhiên tỷ trọng của hoạt động chiết khấu trong doanh số XK của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam hiện nay vẫn còn rất thấp. Sở dĩ có tình trạng trên là do các doanh nghiệp XK Việt Nam còn chưa có kinh nghiệm trong quan hệ thương mại với các đối tác nước ngoài, nhiều khi ký các hợp đồng với các điều khoản bất lợi dẫn đến hậu quả là không lập được bộ chứng từ theo yêu cầu của L/C hoặc nếu xuất trình bộ chứng từ tới Ngân hàng xin chiết khấu thì bộ chứng từ lại không hoàn hảo, rủi ro không được thanh toán là rất cao và Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam không thể chấp nhận chiết khấu. Bên cạnh đó Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam còn bị cạnh tranh mạnh từ các tổ chức tín dụng khác. Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã tập trung cho vay đối với các ngành mũi nhọn của nền kinh tế, các mặt hàng được Nhà nước khuyến khích và có chủ trương, chiến lược lâu dài trong định hướng chiến lược XK: thu mua XK gạo, cà phê, lạc, hạt điều, chè, hàng thủ công mỹ nghệ, hàng may mặc, dày dép… Khóa luận: Đánh giá chất lượng tín dụng XNK tại Vietcombank.

Trong thời gian tới, khi đã có một hành lang pháp lý đông bộ và hoàn thiện, chắc chắn nghiệp vụ này sẽ được quan tâm đúng mức và phát triển hơn trong hệ thống Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam.

Hoạt động tín dụng nhập khẩu:

  • Nghiệp vụ cho vay thanh toán hàng nhập khẩu

NHNT không tách bạch cho vay để thanh toán L/C hay cho vay bắt buộc…Việc cho vay này tùy thuộc vào hạn mức cho vay đối với khách hàng mà ngân hàng đã xác định từ trước. Sau đó trong mỗi giai đoạn của quá trình NK, khi nào doanh nghiệp NK có nhu cầu tài trợ về vốn thì Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam sẽ tiến hành giải ngân vào giai đoạn đó. Tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, hoạt động cho vay tài trợ NK chiếm một tỷ trọng đáng kể trong tổng doanh số cho vay của NH.

  • Bảng 6: Doanh số cho vay NK tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam năm 2023-2025

Nhìn vào bảng ta thấy doanh số tín dụng NK từ năm 2023-2025 luôn luôn tăng trưởng. Năm 2023 doanh số cho vay tài trợ NK là 1.838 tý VNÐ. Năm 2024 là 1.851 tý VNÐ, tăng 0.7% so với cùng kỳ năm 2023. Năm 2025 doanh số cho vay đạt 2.214,54 tý VNÐ, tăng 19,64% so với 2024 do giá cả nhiều mặt hàng trên thế giới tăng đặc biệt là giá xăng dầu tăng mạnh kéo theo giá của các mặt hàng khác như: sắt thép, phân bón, hóa chất, hàng tiêu dùng, tân dược tăng theo nên nhu cầu vay ngoại tệ đễ thanh toán NK của các doanh nghiệp tăng lên.

  • Bảng 7: Cơ cấu tín dụng theo mặt hàng NK của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam

Theo bảng trên thì mặt hàng được Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam tài trợ nhiều nhất là xăng dầu, sắt thép rồi đến máy móc thiết bị và mặt hàng hóa chất, thiết bị điện. Doanh số cho vay các mặt hàng này đều tăng trưởng đều đặn qua các năm.

Ðối với một môi trường cạnh tranh đầy khốc liệt như hiện nay thì Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cũng phải chịu nhiều sức ép, chính vì thế kết quả tăng trưởng hàng năm đạt được rất đáng tự hào. Có được thành công đó là nhờ chính sách tín dụng hợp lý, kết hợp với việc giữ vững thị phần trong hoạt động thanh toán quốc tế và tín dụng Xuất nhập khẩu của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam. Khóa luận: Đánh giá chất lượng tín dụng XNK tại Vietcombank.

  • Tín dụng ký quỹ mỏ L/C

Điều kiện để mở L/C tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam là:

  • Phải có giấy phép kinh doanh Xuất nhập khẩu, đối với các đơn vị phải có hợp đồng ủy thác NK
  • Đối với mặt hàng nằm trong danh mục quản lý hàng nhập của Nhà nước, đơn vị phải xuất trình giấy phép NK do Bộ Công Thương cấp.
  • Đơn vị phải có tình hình sản xuất kinh doanh, tình hình tài chính ổn định và có tín nhiệm trong quan hệ tín dụng.
  • Lô hàng nhập phải có giá hợp lý đồng thời chứng minh lô hàng trên là hợp lý, phù hợp với kế hoạch sản xuất kinh doanh, đảm bảo khả năng thanh toán lô hàng.
  • Đơn vị phải có tài sản thế chấp đảm bảo cho giá trị L/C hoặc được bảo lãnh thanh toán bởi một tổ chức đáng tin cậy.
  • Đối với L/C trả chậm, dư nợ bảo lãnh phải nằm trong hạn mức vay vốn nước ngoài được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam duyệt.

Sau khi kiểm tra hồ sơ xin mở L/C, bộ hồ sơ sẽ được chuyển qua phòng quan hệ khách hàng. Ở đây, các cán bộ sẽ đánh giá tình hình tài chính, tư cách pháp nhân và mặt hàng NK trên thị trường, thẩm định tài sản thế chấp. Trên cơ sở thẩm định sẽ quyết định mức ký quỹ mở L/C. Tùy theo từng khách hàng mà có những tỷ lệ ký quỹ nhất định, thông thường ở Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam có 3 mức ký quỹ như sau:

  • 100% giá trị L/C, loại này thường áp dụng với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoặc L/C giáp lưng.
  • 20%-80% giá trị L/C, loại này thường áp dụng đối với những khách hàng là doanh nghiệp vừa và nhỏ, giao dịch một cách thường xuyên.
  • 0% giá trị L/C, loại này chỉ được áp dụng với các khách hàng truyền thống là các Tổng công ty lớn.

Trong thanh toán tín dụng chứng từ thì L/C được sử dụng chủ yếu là L/C không hủy ngang, trả ngay và đòi tiền bằng điện. Loại L/C này chỉ chiếm tỷ lệ tương đối lớn, khoảng 80% số L/C được mở. Với L/C yêu cầu có xác nhận bởi một ngân hàng khác thì Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam thường không phải ký quỹ vì luôn sòng phẳng trong thanh toán. Đối với các loại L/C khác như: L/C đối ứng, L/C tuần hoàn thì do các doanh nghiệp Việt Nam ít có nhu cầu về các loại L/C này nên số lượng phát hành các loại L/C này không đáng kể. Khóa luận: Đánh giá chất lượng tín dụng XNK tại Vietcombank.

  • Bảng 8: Tình hình mở L/C NK qua Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam năm 2023-2025

Nhìn vào bảng, ta thấy số món L/C được mở vào năm 2023 là 3.913 món và tổng giá trị là 1.688 triệu USD, năm 2024 số món giảm xuống còn 3.405 món nhưng tổng giá trị lại tăng lên 2.225 triệu USD. Năm 2025, con số này giảm xuống là 3.065 món nhưng giá trị lại tăng lên là 2.986 triệu USD. Còn doanh số thanh toán L/C NK năm 2025 tăng trong khi số món giảm là do trong nằm này giá xăng dầu trên thế giới tăng nên trị giá các lô hàng NK của các công ty kinh doanh mặt hàng này cũng tăng theo.

  • Bảng 9: Biểu đồ tài trợ NK bằng L/C nhờ thu theo mặt hàng năm 2024-2025

Nhìn chung, các mặt hàng NK chính được Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cấp tín dụng theo phương thức L/C, nhờ thu là những mặt hàng chủ đạo của Việt Nam, gồm xăng dầu, sắt thép và máy móc thiết bị. Trong đó xăng dầu luôn chiếm tỷ trọng áp đảo, trên 40%. Năm 2025, 3 mặt hàng này tiếp tục chiếm tỷ lệ cao trong tổng doanh số tín dụng NK của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam. Đặc biệt là xăng dầu tăng từ 47% năm 2024 đến 48,39% năm 2025 do nhu cầu về xăng dầu phục vụ hoạt động sản xuất của nền kinh tế ngày càng tăng.

  • Các hoạt động bảo lãnh

Hoạt động bảo lãnh của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam kể từ thời điểm áp dụng quy trình tín dụng mới vào ngày 3/7/2025 đã có nhiều thay đổi. Với nỗ lực của từng cán bộ tín dụng, hoạt động bảo lãnh vẫn thu được những kết quả khả quan.

Đến cuối năm 2025, số dư bảo lãnh đạt 1.000,27 tỷ VNĐ, cam kết L/C trả chậm đạt 4,75 tỷ VNĐ. Do vậy tổng số dư bảo lãnh trong nước và nước ngoài đạt 1.093,11 tỷ VNĐ và đạt 79,79% kế hoạch Nhà nước giao.

  • Bảng 10: Tình hình bảo lãnh tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam năm 2024-2025

Kễ từ khi áp dụng quy trình tín dụng mới lượng khách hàng đến giao dịch bảo lãnh không có nhiều biến động. Việc áp dụng quy trình này đã có tác động tâm lý đến khách hàng, tuy nhiên do cung cách phục vụ nhanh chóng, chính xác, chu đáo, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam van giữ được quan hệ tốt với khách hàng truyền thống, có lượng giao dịch bảo lãnh lớn như: Công ty Cap Vinadaesung, Công ty Seen, Coalimex… Nhưng khách hàng này van thường xuyên giao dịch và góp phần không nhỏ giúp cho số món bảo lãnh tăng vọt trong năm 2024 và 2025. Khóa luận: Đánh giá chất lượng tín dụng XNK tại Vietcombank.

Trước năm 2025, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã tiến hành những giao dịch bảo lãnh có giá trị lớn, thuộc đối tượng khách hàng này nhưTỗng Công ty Sông Ðà (264 tý VNÐ), Vinashin (7,5 triệu USD) và những món bảo lãnh thanh toán trả nợ Nga (hàng chục triÖu USD).

  • Tình hình nợ quá hạn, nợ xấu trong tín dụng xuất nhập khẩu

Chất lượng tín dụng Xuất nhập khẩu của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam tiếp tục được cải thiện với tý lệ nợ quá hạn vào năm 2025 giảm xuống còn 1,19% so với tỗng dư nợ, thấp hơn nhiều so với tý lệ 1,88% vào năm 2024. Trong đó, chỉ tiêu quan trọng nhất là tý lệ nợ xấu đã có những dấu hiệu cải thiện đáng kễ và lạc quan.

  • Bảng 11: Nợ xấu tín dụng Xuất nhập khẩu của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam

Qua bảng trên ta thấy, nợ xấu tín dụng Xuất nhập khẩu có những biến đỗi đáng kễ qua 3 năm. Năm 2024, nợ xấu đạt 268,2 tý VNÐ, tăng 110% so với năm 2023. Tý lệ nợ xấu so với dư nợ là 3,65%, tăng 82,5% so với năm 2023. Sang năm 2025 tý lệ này giảm đi đáng kễ, cho thấy chất lượng tín dụng ngày càng được nâng cao. Cơ cấu tín dụng được cải thiện cũng như sự tích cực xử lý nợ xấu của ngân hàng.

Cũng như các ngân hàng khác, mục tiêu của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam là an toàn và lợi nhuận, do vậy trong thời gian gần đây bên cạnh việc mở rộng quy mô tín dụng Xuất nhập khẩu ngân hàng đã đầu tư nhiều hơn cho công tác thẫm định và quản lý rủi ro, xử lý nợ xấu thông qua việc áp dụng chặt chẽ theo quy chuẫn quốc tế.

Theo Quyết định 493/QÐ – Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về báo cáo kết quả phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro, tý lệ nợ xấu của toàn hệ thống Ngân hàng Thương mại Việt Nam là 5,08% so với tỗng dư nợ. Trong đó nhóm các Ngân hàng Thương mại nhà nước có tý lệ nợ xấu cao nhất là 6,49%, trong đó khi đó nhóm các Ngân hàng Thương mại cỗ phần có tý lệ nợ xấu thấp hơn là 1-2% và nhóm ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có tý lệ nợ xấu cao nhất là 0,1%. Như vậy, tý lệ nợ xấu tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam Việt Nam tuy có thấp hơn so với tý lệ nợ xấu chung của toàn ngành ngân hàng song lại khá cao so với Ngân hàng Thương mại cỗ phần, ngân hàng liên doanh và chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

2. Ðánh giá hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam Khóa luận: Đánh giá chất lượng tín dụng XNK tại Vietcombank.

2.1 Kết quả đạt được

Từ những phân tích trên có thễ thấy hoạt động tín dụng Xuất nhập khẩu của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam trong những năm qua đã đạt được những kết quả quan trọng.

Hoạt động theo khẫu hiệu “Sự thành công của khách hàng là thành công của ngân hàng”, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam luôn vì lợi ích của khách hàng, chủ động tìm kiếm khách hàng. Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam không những duy trì mà còn đẫy mạnh hoạt động tín dụng Xuất nhập khẩu thông qua việc ngày càng đa dạng hóa các sản phẫm, dịch vụ trên cơ sở khai thác tối đa tiềm lực đễ đem lại lợi ích cho các doanh nghiệp và cho nền kinh tế. Bên cạnh đó, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cũng không ngừng cải tiến máy móc, trang thiết bị, công nghệ ngân hàng, mang các sản phẫm tiện ích mới đến cho khách hàng. Việc nguồn vốn huy động dồi dào sẽ tạo điều kiện đễ ngân hàng thực hiện cho vay Xuất nhập khẩu. Việc triễn khai các nghiệp vụ thanh toán luôn tạo sự cạnh tranh sôi động giữa các ngân hàng theo hướng không chỉ giảm chi phí tài trợ mà các điều kiện cũng được xúc tiến nhằm thu hút khách hàng.

Hiện nay Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đang áp dụng hình thức tài trợ hoạt động Xuất nhập khẩu chủ yếu là cho vay thông thường đáp ứng phần lớn nhu cầu vốn ngắn hạn và một phần vốn trung-dài hạn cho hoạt động Xuất nhập khẩu. Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam sử dụng vốn đễ đẫy mạnh việc mở rộng tín dụng phục vụ trực tiếp cho các đơn vị sản xuất kinh doanh Xuất nhập khẩu thuộc mọi thành phần kinh tế. Ngân hàng có lực lượng khách hàng chủ yếu là các khách hàng lớn, khách hàng truyền thống. Ðó là các đại doanh nghiệp thuộc ngành dầu khí, bưu chính viễn thông, hàng không, các công ty Xuất nhập khẩu và các ngân hàng lớn có uy tín ở nước ngoài, điều đó chứng tỏ hoạt động tín dụng Xuất nhập khẩu của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã và đang ngày càng đáp ứng được nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hàng, đảm bảo độ tin cậy, tính chính xác và hiệu quả, đem lại cho khách hàng cảm giác yên tâm khi sử dụng dịch vụ đễ tiến hành kinh doanh Xuất nhập khẩu. Bên cạnh đó Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cũng đã tập trung cấp tín dụng cho các doanh nghiệp thuộc nhiều thành phần kinh tế, đồng thời đẫy mạnh sang cho vay đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Trong thời gian gần đây Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam còn tập trung cấp tín dụng cho các doanh nghiệp Xuất nhập khẩu đang có nhu cầu về vốn đễ sản xuất hàng hóa XK trên cơ sở thẫm định khả năng tài chính, phương án kinh doanh, khả năng thu nợ của những doanh nghiệp đó. Khóa luận: Đánh giá chất lượng tín dụng XNK tại Vietcombank.

Cơ chế huy động vốn cũng như phương pháp quản lý vốn đã được đỗi mới, nguồn vốn đã được huy động với nhiều hình thức đa dạng, vốn đã được quản lý tập trung và có hiệu quả hơn. Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam luôn chủ động tìm kiếm các biện pháp thu hút vốn mới đễ đáp ứng cho hoạt động tín dụng Xuất nhập khẩu và kết quả là Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã trở thành một trong những Ngân hàng Thương mại Nhà nước có nguồn vốn lớn nhất Việt Nam.

Hoạt động cho vay nói chung và hoạt động tín dụng Xuất nhập khẩu nói riêng của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã được mở rộng không ngừng qua các năm:

  • Dư nợ tăng mạnh qua các năm đã không chỉ thễ hiện sự thành công của ngân hàng mà còn cho thấy sự quan tâm của ngân hàng đối với công tác tín dụng.
  • Về cơ cấu cho vay Xuất nhập khẩu trong những năm gần đây đã có sự chuyễn biến lớn. Tý trọng dư nợ cho vay Xuất nhập khẩu trong tỗng dư nợ tín dụng của ngân hàng tăng dần qua các năm, chứng tỏ quyết định chính xác của ngân hàng khi cân đối tý lệ cho vay Xuất nhập khẩu với các yếu tố khác cho phù hợp với điều kiện kinh tế trong từng thời kỳ trên cơ sở đánh giá tình hình tài chính của các doanh nghiệp và tình hình kinh tế- xã hội có ảnh hưởng tới hoạt động của ngân hàng.
  • Cùng với việc nỗ lực tăng dư nợ tín dụng Xuất nhập khẩu, ngân hàng cũng chú trọng nâng cao chất lượng tín dụng thễ hiện nợ xấu/tỗng dư nợ đã giảm dần (năm 2023 là 2%, năm 2024 là 3,65% và năm 2025 là 1,7%). Ngân hàng đã tích cực xử lý nợ quá hạn bằng cách phân công cán bộ cho vay trực tiếp bám sát các đơn vị có nợ quá hạn đễ đôn đốc thu nợ và có biện pháp xử lý theo chế tài tín dụng. Bên cạnh đó, ngân hàng còn thành lập các nhóm đễ thực hiện thu hồi nợ quá hạn. Chính vì vậy mà trong năm 2025 tý lệ nợ xấu/tỗng dư nợ của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã giảm xuống một cách đáng kễ.

Ðiều đó thễ hiện chất lượng tín dụng đã được cải thiện rõ rệt, giúp giảm thiễu rủi ro cho ngân hàng, bên cạnh đó cũng cho thấy trình độ của ban lãnh đạo ngân hàng cũng như trình độ của các cán bộ tín dụng đã không ngừng được cải thiện và nâng cao đễ nhằm đáp ứng phương châm của ngân hàng là “An toàn – hiệu quả – phát triển”

Tiến độ cơ cấu lại ngân hàng, sắp xếp và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng đã được Chính phủ phê duyệt và cho triễn khai thực hiện, trong năm vừa qua Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã bước đầu thực hiện tiến trình cỗ phần hóa.

Do nhu cầu tài trợ tăng lên, đồng thời phải chịu sức ép từ môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt như hiện nay đã khiến Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam luôn tìm tòi và đưa ra nhiều thay đỗi hợp lý trong chính sách khách hàng như: giảm phí phát hành L/C, đa dạng hóa các mức ký quỹ đối với từng khách hàng nhằm thu hút các khách hàng mới đến giao dịch. Ðối với khách hàng truyền thống như Vinafood, Petrolimex,..thì Ngân hàng thường dành cho các doanh nghiệp này những ưu đãi trong giao dịch như giảm lãi suất tiền vay, tăng lãi suất tiền gửi, giảm phí thanh toán…Chính vì thế, khách hàng đến Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam luôn tìm thấy sự an tâm, thỏai mái, và một điều quan trọng và quyền lợi của họ luôn được đảm bảo.

Hoạt động tín dụng của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam trong những năm gần đây thực sự đã có những bước phát triễn khởi sắc cả về số lượng và quy mô. Không chỉ mở rộng hoạt động tín dụng Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam còn rất quan tâm đến chất lượng tín dụng đặc biệt là trong lĩnh vực Xuất nhập khẩu. Doanh số cho vay trong lĩnh vực này không ngừng tăng theo các năm (2023: 2.227 tý, 2024: 2.586 tý, 2025: 3.110,34 tý). Nhờ có ưu thế về nguồn vốn và ngoại tệ, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam luôn đáp ứng được một cách tốt nhất các nhu cầu về các khoản tín dụng ngoại tệ với mức lãi suất hợp lý. Nghiệp vụ bảo lãnh của Ngân hàng cũng đang ngày càng chiếm tý trọng cao hơn trong hoạt động của Ngân hàng nói chung và hoạt động tài trợ nói riêng. Ngoài ra, Ngân hàng cũng thường xuyên duy trì công tác kiễm tra, kiễm soát sau và tuân thủ các nguyên tắc trong quản lý tín dụng, đồng thời bám sát các đơn vị có quan hệ tín dụng đề có những tư vấn và biện pháp kịp thời đảm bảo việc sử dụng vốn vay đúng mục đích, có hiệu quả. Khóa luận: Đánh giá chất lượng tín dụng XNK tại Vietcombank.

NHNT có ban lãnh đạo có trình độ cao, giàu kinh nghiệm và có tâm huyết, đội ngũ cán bộ năng động, có trình độ chuyên môn, am hiễu trong lĩnh vực kinh doanh đối ngoại và tài trợ Xuất nhập khẩu. Hầu hết cán bộ còn rất trẻ, yêu nghề, sẫn sàng tiếp thu và vận dụng kỹ thuật mới vào công việc.

Thông quan hoạt động ngoại tệ, uy tín của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam ngày càng được tăng lên. Các doanh nghiệp nước ngoài ngày càng tin tưởng vào các giao dịch thanh toán do Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam thực hiện. Nhiều doanh hiệu của các tỗ chức tiền tệ, các ngân hàng uy tín trên thế giới đã trao tặng là một bằng chứng thiết thực về sự thành công của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam trong thời gian qua. Năm 2022 nhận giải thưởng “Ngân hàng có chất lượng dịch vụ thanh toán tốt nhất” của The Bank Of New York, “Giải thưởng vàng về quản lý tiền mặt và chất lượng thanh toán toàn cầu” của HSBC chi nhánh Hoa Kỳ và “Giải thưởng Ngân hàng có chất lượng thanh toán Ðôla Mỹ tốt nhất” của Deutsche Bank trao tặng năm 2023. Trong những năm qua, bằng những nő lực vượt bậc và được sự ủng hộ của đông đảo khách hàng, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã giữ vững là Ngân hàng Thương mại có mức tăng tr- ởng vào bậc nhất ở Việt Nam.

2.2. Những tồn tại và nguyên nhân

2.2.1 Nhũng tồn tại

Bên cạnh những thành công đã đạt được, nghiệp vụ tín dụng Xuất nhập khẩu của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cũng còn tồn tại nhiều vấn đề bất cập mà nguyên nhân còn xuất phát từ nhiều phía:

Các hình thức tài trợ Xuất nhập khẩu tại ngân hàng còn chưa phong phú và đa dạng, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam chỉ tập trung vào phương thức cho vay từng lần và cho vay theo hạn mức tín dụng, còn hình thức tín dụng khác thì chưa được chú trọng áp dụng. Do vậy, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã bỏ qua nhiều tiện ích của phương thức cho vay khác. Bên cạnh đó, số hình thức trên danh mục tỗng kết còn hạn chế nhiều, nó chỉ nằm trên lý thuyết còn thực tế thì không áp dụng được mấy. Yêu cầu của khách hàng đặc biệt ngày càng cao về các dịch vụ ngân hàng do gia tăng cạnh tranh từ các ngân hàng nước ngoài và cả các Ngân hàng Thương mại trong nước trong khi đó sản phẫm hiện tại của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cung cấp cho khách cá nhân còn nghèo nàn, chính sách chưa linh hoạt. Chưa có sản phẫm dành riêng cho khách hàng đặc biệt. Ðiều này đặt ra những thách thức cho Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam trong việc hoàn thiện nghiệp vụ tài trợ Xuất nhập khẩu đễ thúc đẫy hoạt động Xuất nhập khẩu phát triễn, phù hợp với nhịp độ tăng trưởng ngày càng nhanh của nền kinh tế.

Mức tăng của dư nợ chưa tương xứng với mức tăng nguồn vốn, nguồn vốn ngân hàng tăng nhanh trong khi đó dư nợ cũng tăng cao nhưng van đáp ứng được hết nhu cầu của khách hàng, khả năng cho vay còn thấp và chiến lược kinh doanh của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam còn chưa được cụ thễ và thông suốt. Khóa luận: Đánh giá chất lượng tín dụng XNK tại Vietcombank.

  • Chiến ược khách hàng của ngân hàng cũng còn nhiều bất cập:

Khách hàng được Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam tài trợ Xuất nhập khẩu chưa đa dạng, chủ yếu là các doanh nghiệp Nhà nước nên ngân hàng dễ bị sức ép từ phía khách hàng về lãi suất, phí thanh toán. Mặt khác, việc tập trung dư nợ vào một số ít khách hàng sẽ không có lợi cho phòng ngừa rủi ro tín dụng.

Tín dụng tài trợ Xuất nhập khẩu dành cho các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn chiếm tỷ trọng quá thấp. Với những khách hàng hoạt động vừa và nhỏ thì có nhu cầu tài trợ ít và giá trị thanh toán không nhiều. Chính vì thế mà không có nhiều nghiệp vụ phát sinh. Ngoài ra hầu hết các doanh nghiệp đều không đủ vốn để sản xuất kinh doanh. Vốn chủ yếu của họ là vốn vay ngân hàng, vốn chiếm dụng, vốn đi vay khác hiện nay là nguồn vốn chủ yếu của họ. Số các doanh nghiệp xin được tài trợ mà hoạt động kinh doanh thực sự có hiệu quả, dự án khả thi thì rất ít, không có hoặc không có đủ điều kiện đảm bảo an toàn cho ngân hàng. Các doanh nghiệp thuộc cả thành phần kinh tế ngoài quốc doanh có vốn tự có thấp, doanh nghiệp tư nhân thì không có vốn ký quỹ. Trong khi đó nhu cầu về vốn của các doanh nghiệp này còn đang ngày càng tăng lên trong điều kiện nền kinh tế thị trường. Một trở ngại đối với các doanh nghiệp này là điều kiện đảm bảo về tài sản thế chấp và phương án kinh doanh của những doanh nghiệp này chưa được khả thi, trong khi đó ngân hàng lại chưa có được các chiến lược, chính sách dành riêng cho các doanh nghiệp này nên dường như còn có nhiều trở ngại làm cho các doanh nghiệp chưa tiếp cận được vốn của ngân hàng. Do vậy có rất nhiều cơ hội kinh doanh đã bị bỏ qua đối với các doanh nghiệp và cả ngân hàng.

Ngoài ra, việc cho vay đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh vẫn bị hạn chế do tâm lý e ngại rủi ro khi thẩm định và ra quyết định cho vay đối với doanh nghiệp này của các cán bộ tín dụng. Hạn chế này đã dẫn đến một hệ quả là sẽ bị mất cơ hội kinh doanh khi các doanh nghiệp có thể tiếp cận với nguồn vốn của các ngân hàng hoặc các tổ chức khác trong thời gian tới khi mà có sự hỗ trợ về mặt tài chính và pháp luật đối với các doanh nghiệp này.

Hoạt động tín dụng Xuất nhập khẩu ở Ngân hàng còn chưa có chiến lược cụ thể. Việc khai thác nguồn ngoại tệ phục vụ cho tín dụng và thanh toán còn hạn chế. Ngân hàng còn chưa xây dựng được hệ thống thông tin cơ sở sữ liệu về khách hàng. Điều này sẽ làm cho cơ sở gặp khó khăn trong việc phát triển hoạt động tín dụng Xuất nhập khẩu do thông tin không cân xứng, dẫn đến rủi ro trong hoạt động tín dụng.

Trong thời gian qua, biểu lãi suất cho vay của ngân hàng có nhiều thay đổi theo hướng không có lợi cho ngân hàng vì ngân hàng đã giảm lãi suất cho vay tới mức hòa vốn để cố gắng thu hút được nhiều khách hàng. Như vậy, không những thu nhập của ngân hàng đã mất đi một khoản thu nhập lớn khi hạ lãi suất cho vay. Trong thời gian tới, ngân hàng phải có các chính sách lãi suất cho phù hợp với tình hình hoạt động kinh doanh của ngân hàng trong từng giai đoạn.

Các loại hình nghiệp vụ mới chưa được quy trình hóa và văn bản hóa, dẫn tới tình trạng thiếu chặt chẽ về mặt pháp lý, gây khó khăn trong việc áp dụng các quy định mới. Khóa luận: Đánh giá chất lượng tín dụng XNK tại Vietcombank.

Trong nền kinh tế mở cửa và hội nhập tự do hóa thương mại, hoạt động tín dụng Xuất nhập khẩu cũng như hoạt động tài trợ ngày càng đóng vai trò quan trọng. Chính vì điều này mà Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cần nhanh chóng khắc phục những khó khăn trở ngại, hoàn thiện khả năng cạnh tranh của mình trên cơ sở những thành quả đã đạt được xứng đáng trở thành viên tiêu biểu của toàn hệ thống ngân hàng cũng như của nền kinh tế.

2.2.2 Nguyên nhân của những tồn tại nêu trên

  • Nguyên nhân khách quan

Hiện nay Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đang hoạt động dưới sự điều chỉnh của Luật các Tổ chức Tín dụng và hệ thống các Luật, các văn bản dưới luật của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Cho đến nay, môi trường pháp lý tuy đã có nhiều tiến bộ song vẫn chưa thực sự đảm bảo và tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động ngân hàng. Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Luật các Tổ chức Tín dụng đang bước đầu tạo cơ sở pháp lý đưa hoạt động ngân hàng đi vào nề nếp, tuy nhiên vẫn còn nhiều điều cần bổ sung và sửa chữa.

Các quy định về chuyển tiền do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành nhưng chưa được bổ sung cho các quy định về chuyển tiền thanh toán các loại dịch vụ hàng hóa như mua bán hàng hóa qua email, các loại hàng hóa vô hình như phần mềm máy tính, các sản phẩm liên quan tới computering, hợp đồng tư vấn. Điều này gây khó khăn cho các phòng nghiệp vụ khi phải xử lý những yêu cầu của khách hàng. Ngoài ra có một số quy định vướng mặc nhưng vẫn chưa được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hướng dẫn thực hiện như quy định phân loại L/C trả chậm 30 ngày, 60 ngày là L/C atsight, 90 ngày trở lên là L/C trả chậm hoặc việc chấp nhận những bộ chứng từ nhờ thu được gửi trực tiếp từ người hưởng nước ngoài mà không thông qua ngân hàng xuất trình.

Hoạt động tín dụng Xuất nhập khẩu có liên quan đến nhiều ban ngành trong nước như Tổng cục Hải quan, Cục Sở hữu trí tuệ, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam…nên hoạt động này hiện nay cũng đang chịu ảnh hưởng bởi các tổ chức này theo nhiều luật định. Có thể nói đấy là trở ngại lớn cho cả ngân hàng lẫn doanh nghiệp khi tham gia tín dụng có quá nhiều bất lợi cho chúng ta nếu tranh chấp xảy ra vì có nhiều sự khác biệt giữa luật pháp nước ta và luật pháp nước ngoài, chưa kể đến sự thiếu đồng bộ, chồng chéo của các điều luật, thời gian giải quyết các vụ việc bị kéo dài, ảnh hưởng tới tính kịp thời của hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp. Khóa luận: Đánh giá chất lượng tín dụng XNK tại Vietcombank.

Mặc dù Nhà nước đã có các văn bản quy định và hướng dẫn về việc thực hiện thế chấp tài sản nhưng đến nay vẫn đề này vẫn còn nhiều bất cấp cản trở hoạt động của ngân hàng và khách hàng:

  • Đối với các doanh nghiệp nhà nước: thực chất tài sản đủ tiêu chuẩn để đem thế chấp rất ít, đa phần là quá cũ kĩ và đã khấu hao gần hết, không có giấy tờ về quyền sử dụng đất, về đăng ký tài sản…
  • Đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh: thông thường giá trị tài sản của họ tương đối nhỏ nên khó có thể được ngân hàng cho vay.

Việc xử lý tài sản thế chấp còn nhiều bất cập mà nguyên nhân xuất phát từ phía chủ tài sản: Ngân hàng không thể tự mình đứng ra bán tài sản thế chấp của khách hàng để thu nợ mà phải được sự đồng ý và có giấy ủy quyền của chủ tài sản. Như vậy ngân hàng luôn bị đe dọa bởi rủi ro bị mất vốn vì nếu gặp khách hàng làm ăn lành mạnh thì ngân hàng có thể thu hồi được vốn nhưng nếu gặp các khách hàng trì hoãn trong việc trả nợ thì việc không thể tự mình đứng ra bán tài sản thế chấp sẽ là nguy cơ mất vốn lớn đối với ngân hàng.

Kinh tế thế giới diễn biến không thuận lợi và phức tạp; những khó khăn có thể kéo dài và ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng tăng trưởng kinh tế của nước Sự biến động bất thường của tỷ giá, lãi suất và giá cả của các mặt hàng Xuất nhập khẩu cũng là một yếu tố tác động mạnh tới khả năng mở rộng cho vay của Ngân hàng cũng như là khả năng tăng hiệu quả của hoạt động tín dụng Xuất nhập khẩu.

Môi trường cạnh tranh gay gắt: Hiện nay số lượng các ngân hàng (bao gồm các ngân hàng quốc danh, ngân hàng cổ phần, ngân hàng liên doanh và ngân hàng nước ngoài) ngày càng gia tăng. Sự cạnh tranh, đặc biệt là về dịch vụ, lãi suất cho vay rất lớn. Nhiều ngân hàng cạnh tranh không lành mạnh như: nới lỏng điều kiện ký quỹ, thế chấp, phí…Sự cạnh tranh này làm cho Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam mất đi nhiều khách hàng, kể cả khách hàng truyền thống.

  • Về phía các doanh nghiệp Xuất nhập khẩu: Khóa luận: Đánh giá chất lượng tín dụng XNK tại Vietcombank.

Tình trạng yếu kém của các doanh nghiệp Xuất nhập khẩu trong nước cả về nguồn vốn, lao động, công nghệ và năng lực quản lý, sản phẩm kém sức cạnh tranh, còn thiếu tính sáng tạo; quá trình cổ phần hóa diễ ra chậm, các cơ chế chính sách mới ban hành chưa thể hòan thiện trong thời gian ngắn. Cơ cấu sản xuất trong từng ngành, từng lĩnh vực chưa chuyển biến kịp thời theo sự biến động nhanh của nhu cầu thị trường trong nước, trong khu vực và trên thế giới.

Nhiều doanh nghiệp Xuất nhập khẩu mặc dù đã ký được hợp đồng sản xuất và XK hàng hóa với đối tác nước ngòai nhưng vẫn chưa tiếp cận được với nguồn vốn của Ngân hàng. Lý do chính là vốn tự có, tài sản đảm bảo có giá trị nhỏ, phương án kinh doanh và trả nợ chưa khả thi nên đã gây rất nhiều khó khăn cho cán bộ ngân hàng trong khâu thẩm định, và cũng là một trở ngại lớn đối với các doanh nghiệp Xuất nhập khẩu. Phần lớn tài sản thế chấp của các doanh nghiệp là nhà xưởng, máy móc thiết bị đã lạc hậu, vốn lưu động phục vụ trong sản xuất-kinh doanh hầu hết là vốn vay ngân hàng và chiếm dụng lẫn nhau. Chính vì vậy thực tế đang diễn ra một nghịch lý trong khi nhu cầu vốn vay của các doanh nghiệp hiện nay đều rất lớn song giá trị tài sản đảm bảo vốn vay ngân hàng lại không đủ. Hơn nữa, bản thân năng lực, trình độ, kinh nghiệm quản lý sản xuất, kinh doanh của các cán bộ trong doanh nghiệp cũng chưa đáp ứng được đòi hỏ thực tiễn của hoạt động hiện nay.

Vẫn xảy ra nhiều vụ lừa đảo ngân hàng mà nguyên nhân chính là đạo đức kinh doanh và trình độ chưa cao của các cán bộ của các doanh nghiệp Xuất nhập khẩu.

  • Những nguyên nhân chủ quan

Nguồn thông tin, đặc biệt thông tin dự báo dài hạn, vĩ mô về định hướng phát triển kinh tế theo ngành, vùng của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam còn thiếu, chưa kịp thời, thiếu cơ sở khi xây dựng các kế hoạch, giải pháp mang tính trung và dài hạn. Bên cạnh đó, khả năng phân tích, xử lý và dự báo thông tin về khách hàng còn nhiều hạn chế do có số liệu báo cáo không được kiểm toán công khai nên việc đánh giá là rất khó khăn và không chính xác.

Cán bộ Ngân hàng đa số là còn trẻ, có trình độ song thiếu kinh nghiệm do nghiệp vụ này đòi hỏi một thời gian tích lũy kinh nghiệm tương đối và cập nhật thông tin, khả năng phân tích, tổng hợp còn hạn chế, đặc biệt số cán bộ có trình độ tổng hợp hoặc biết tổng quát về hoạt động của ngân hàng còn chưa nhiều. Ngoài ra vẫn còn có sự phân tách, tách rời trong hoạt động giữa các phòng, ban.

Công tác tiếp thị đã được Ngân hàng quan tâm những chưa đạt được kết quả cao vì việc thực hiện Marketing chưa đều khắp cơ sở.

Chưa có chính sách khách hàng cụ thể: Ngân hàng còn chưa có được các chiến lược tiếp cận đối với từng đối tượng khách hàng cụ thể để khuyếch trương các sản phẩm, dịch vụ hiện đại của ngân hàng đên với khách hàng cũng như những tiện ích của sản phẩm đó.

Còn tồn tại sự mất cân đối giữa các đối tượng quá hạn cho vay: chú trọng thành phần kinh tế quốc doanh, e ngại thành phần kinh tế ngoài quốc doanh. Đây có thể là do tâm lý cũ, thiên vị các thành phần kinh tế quốc doanh được Nhà nước bảo hộ, nếu có rủi ro xảy ra thì đã có Nhà nước gánh chịu; còn các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh không có được sự ưu đãi bảo hộ của Nhà nước mà hoạt động kinh doanh còn nhiều biến động và không chắc chắn nên tạo tâm lý e ngại. Khóa luận: Đánh giá chất lượng tín dụng XNK tại Vietcombank.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>> Khóa luận: Giải pháp chất lượng tín dụng XNK tại Vietcombank

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Contact Me on Zalo
0877682993
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x