Khóa luận: Giải pháp chất lượng tín dụng XNK tại Vietcombank

Rate this post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Giải pháp chất lượng tín dụng XNK tại Vietcombank hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Khóa luận: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

Nội dung chính

I: THÁCH THỨC ĐẶT RA ĐỐI VỚI NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

1. Những thách thức chung đối với hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam

Hiện nay, khi bước vào hội nhập kinh tế quốc tế, nền kinh tế Việt Nam nói chung và ngành ngân hàng nói riêng đang chịu những áp lực và thách thức rất lớn về sức cạnh tranh (cả quy mô và chất lượng). Sự phát triển nội tại trong hệ thống ngành ngân hàng cũng như sự xâm nhập mạnh mẽ của các ngân hàng nước ngoài vào Việt Nam đòi hỏi bản thân mỗi ngân hàng cần có những động thái và thay đổi phù hợp với tình hình hiện nay, đặc biệt là khi gia nhập vào sân chơi chung, đòi hỏi các ngân hàng cần đáp ứng những chuẩn mực quốc tế đặt ra.

Với việc gia nhập WTO chúng ta phải chấp nhận mở cửa hơn nữa các thị trường tài chính, dịch vụ ngân hàng. Các ngân hàng nước ngoài, các tổ chức tín dụng dưới nhiều hình thức khác nhau sẽ có nhiều cơ hội hơn trong việc xâm nhập thị trường Việt Nam. Và như vậy, sức ép cạnh tranh đối với các ngân hàng nội địa cũng tăng lên. Bức tranh toàn cảnh về sở hữu ngân hàng sẽ có những thay đổi căn bản với việc các tổ chức tài chính nước ngoài sẽ có thể từng bước nắm giữ cổ phần của các ngân hàng Việt Nam. Những ngân hàng yếu kém, quy mô nhỏ sẽ phải sáp nhập. Đặc biệt, việc xuất hiện các ngân hàng 100% vốn nước ngoài sẽ làm thay đổi mạnh cơ cấu thị phần tiền tệ.

Thách thức đối với quá trình hội nhập quốc tế trong dịch vụ của các Ngân hàng Thương mại Việt Nam là xuất phát điểm còn thấp về trình độ phát triển thị trường, tiềm lực về vốn yếu, công nghệ và tổ chức ngân hàng lạc hậu và trình độ quản lý thấp hơn so với nhiều nước trong khu vực cũng như trên thế giới. Tổng vốn điều lệ của các ngân hàng thương mại Nhà nước hiện mới đạt trên 21.000 tỷ đồng, dư nợ tín dụng mới đạt xấp xỉ 55% GDP, thấp hơn nhiều so với mức trên 80% của các nước trong khu vực. Bình quân, mức vốn tự có của các ngân hàng thương mại Nhà nước khoảng từ 200 đến 250 triệu USD, chỉ bằng một ngân hàng cỡ trung bình trong khu vực, còn các ngân hàng cổ phần có mức vốn điều lệ bình quân chỉ không từ 200 đến 300 tỷ đồng [23].

Một điểm yếu khác của hệ thống Ngân hàng Thương mại Việt Nam là chất lượng hoạt động. Trong khi điểm mạnh của các ngân hàng nước ngoài là dịch vụ thì ngân hàng trong nước vẫn chủ yếu là hoạt động tín dụng vẫn còn phổ biến ở hầu hết các ngân hàng Việt Nam. Sản phẩm dịch vụ còn nghèo nàn, thiếu các định chế quản lý theo tiêu chuẩn quốc tế như quản trị rủi ro, quản trị tài sản nợ, tài sản có, nhóm khách hàng, loại sản phẩm, kiểm toán nội bộ.

Bên cạnh đó, trong việc ứng dụng CNTT thì khoảng cách giữa các Ngân hàng Thương mại nội địa và các ngân hàng nước ngoài vẫn còn lớn. Các ngân hàng nước ngoài ứng dụng CNTT nhằm tạo thuận lợi hơn nữa cho các khách hàng khi giao dịch thì các ngân hàng Việt Nam mới đang chủ yếu ở giai đoạn ứng dụng CNTT nhằm hiện đại hóa các hoạt động của chính bản thân ngân hàng. Ngay giữa các ngân hàng trong nước, mức độ ứng dụng CNTT cũng còn chưa đồng đều. Vì vậy, trước yêu cầu hội nhập, còn nhiều áp lực cho việc ứng dụng CNTT để hiện đại hóa và tăng hiệu quả hơn nữa với các ngân hàng trong nước. Nhiều vấn đề khác cũng đang đặt ra cho các ngân hàng Việt Nam như vấn đề an toàn, bảo mật thông tin, vấn đề bảo đảm hoạt động liên tục, thông suốt của hệ thống, tối ưu hóa hệ thống mạng, đào tạo nguồn nhân lực…

2. Một số thách thức cụ thể đối với Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam Khóa luận: Giải pháp chất lượng tín dụng XNK tại Vietcombank.

Trong bối cảnh hội nhập, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cũng đứng trước những thách thức chung đối với toàn bộ hệ thống Ngân hàng Thương mại Việt Nam. Có thể nói Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam là một trong những ngân hàng đi đầu trong việc nỗ lực vươn tới đáp ứng những yêu cầu và tiêu chuẩn đặt ra đối với một ngân hàng quốc tế. Tuy vậy, một số chỉ tiêu quan trọng vẫn chưa đạt tới chuẩn mực quốc tế.

Hiện nay, hoạt động ngân hàng có hiệu quả đều được xem xét theo chuẩn mực được nêu chi tiết tại Basel I, II: “Chuẩn mực cơ bản thanh tra ngân hàng có hiệu quả” và tại IAS-39: “Hệ thống quản lý thông tin tín dụng”.

Để đạt hiệu quả và độ an toàn cao, hoạt động tín dụng của các Ngân hàng Thương mại nói chung và Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam nói riêng cần tuân theo các chuẩn mực và thông lệ quốc tế.

Về giới hạn tín dụng: được tính bằng hệ số CaR (hệ số bảo đảm an toàn chi trả). Tỷ lệ an toàn vốn (vốn tự có/tài sản có) của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam chỉ mới ở mức 6,1% vào năm 2025 và 6,63% vào quý II/ 2026 so với mức tiêu chuẩn quốc tế tối thiểu theo Basel mà một Tổ chức Tín dụng phải đạt là 8%. Với tốc độ tăng trưởng tài sản có 23,3%/năm như hiện nay, nếu không được bổ sung thêm vốn tự có thì tỷ lệ an toàn vốn sẽ là 2,3% vào năm 2030. Để đạt tiêu chuẩn ngân hàng trung bình tiên tiến trong khu vực, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam phải có tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu là 10% (hiện nay nhiều Ngân hàng Thương mại hiện đại trên thế giới đã đạt ở mức trên 10%), đồng nghĩa với việc ngân hàng cần bổ sung vốn tự có 9.250 tỷ đồng giai đoạn 2025 – 2030 [9].

Về chất lượng tài sản, tỷ lệ nợ xấu/tổng dư nợ của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam hiện nay đạt 1,7%. Tuy nhiên, một số chuyên gia kinh tế nước ngoài cho rằng với tỷ lệ cho vay các doanh nghiệp Nhà nước hiện vẫn còn ở mức 60%, thì tỷ lệ nợ xấu có thể còn cao hơn, do nhiều dự án chưa đánh giá hết mức độ rủi ro.

Trước những khó khăn thách thức mới, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cần phải tăng tốc nâng cao năng lực cạnh tranh để không bị thua thiệt ngay trên chính “sân nhà”. Đây cũng là động lực để ngân hàng phát triển vững hơn, nhanh hơn.

II. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG XUẤT NHẬP KHẨU Khóa luận: Giải pháp chất lượng tín dụng XNK tại Vietcombank.

1. Định hướng phát triển hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam

Xuất phát từ xu thế toàn cầu hoá nói chung và khu vực hoá nói riêng, đòi hỏi Việt Nam khi từng bước hội nhập vào nền kinh tế thế giới, hội nhập với thương mại toàn cầu cần phải xác định được một chiến lược phát triển kinh tế trong đó, hoạt động Xuất nhập khẩu giữ vai trò quan trọng. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX đã nêu:

“Nhà nước có chính sách khuyến khích mạnh mẽ mọi thành phần kinh tế tham gia sản xuất, kinh doanh Xuất nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ. Nâng cao năng lực cạnh tranh, phát triển mạnh những sản phẩm hàng hoá và dịch vụ có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế, giảm mạnh XK sản phẩm thô và sơ chế, tăng nhanh tỷ trọng săn phẩm có hàm lượng trí tuệ, hàm lượng công nghệ cao. Chủ động và tích cực thâm nhập thị trường quốc tế, chú trọng thị trường các trung tâm kinh tế thế giới, duy trì và mở rộng trên các thị trường quen thuộc, tranh thủ mọi cơ hội mở thị trường mới. Đẩy mạnh hoạt động tiếp thị, xúc tiến thương mại, thông tin thị trường bằng nhiều phương tiện và tổ chức thích hợp. Khuyến khích các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tham gia hoạt động môi giới, khai thác thị trường quốc tế.”

Với những định hướng đó, thị trường và hàng hoá Xuất nhập khẩu của Việt Nam được xây dựng đến năm 2030 như sau:

Mục tiêu tổng quát trong chiến lược Xuất nhập khẩu của Việt Nam giai đoạn 2025 – 2030: phát triển XK với tốc độ cao, tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, trong đó tiếp tục đẩy mạnh sản xuất, XK các mặt hàng có lợi thế cạnh tranh, tích cực phát triển các mặt hàng tiềm năng, mặt hàng mới theo hướng nâng cao hiệu quả đi đôi với chuyển dịch cơ cấu theo hướng đẩy mạnh XK các nhóm hàng có giá trị gia tăng cao, giảm dần tỉ trọng hàng thô hoặc sơ chế, tăng XK dịch vụ, phấn đấu đến năm 2030 XK hàng hoá đạt trên 80 tỉ USD, tăng bình quân hàng năm giai đoạn 2025 – 2030 tối thiểu 18%.

1.1. Thị trường xuất nhập khẩu Khóa luận: Giải pháp chất lượng tín dụng XNK tại Vietcombank.

Thị trường Xuất nhập khẩu được định hướng theo chính sách đa phương hoá quan hệ nhằm khai thác có hiệu quả tiềm năng và lợi thế so sánh, mở rộng buôn bán với tất cả các bạn hàng trên cơ sở bình đẳng các bên cùng có lợi. Khu vực thị trường Xuất nhập khẩu truyền thống: Châu Á Thái Bình Dương, Tây Âu, thị trường cần mở rộng: Mỹ, Trung Quốc, Nga và các nước SNG (Cộng đồng các Quốc gia độc lập) là những khu vực có dung lượng lớn.

Tập trung đẩy mạnh XK vào các thị trường vừa thoát khỏi sự trì trệ, đang phục hồi và phát triển, trong đó đáng lưu ý là các thị trường: Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc, EU.

Tạo điều kiện để phát triển XK tiểu ngạch nhất là với Trung Quốc, do đây là thị trường có nhu cầu tiêu thụ lớn, dễ tính, phù hợp khả năng hàng hoá của ta và gần về mặt địa lý.

Một số thị trường nhập siêu cao như: Singapore, Thái Lan, Malaysia, Đài Loan, Hàn Quốc, Trung Quốc, Hồng Kông, Thụy Sĩ, Cộng hoà liên bang Nga, Nhật Bản… Chính phủ cần đàm phán để tạo thuận lợi cho XK vào các nước và vùng lãnh thổ này, trên cơ sở đó để giảm nhập siêu.

Vấn đề vướng mắc lớn nhất trong thúc đẩy buôn bán với các khu vực này là thanh toán, bởi vậy khai thông các quan hệ ngân hàng phù hợp với thông lệ quốc tế và luật lệ, tập quán mỗi nước là nhiệm vụ quan trọng đang đặt ra cho các ngân hàng Việt Nam hiện nay.

1.2. Chiến lược cơ cấu hàng xuất nhập khẩu

  • Mục tiêu xuất khẩu 5 năm 2025-2030 [8]

Phát triển xuất khẩu tốc độ tăng trưởng cao và bền vững, làm động lực thúc đẩy tăng trưởng GDP. Đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu các mặt hàng và sản phẩm dịch vụ có lợi thế cạnh tranh đồng thời tích cực phát triển các mặt hàng khác có tiềm năng thành những mặt hàng xuất khẩu chủ lực mới, theo hướng nâng cao hiệu quả sản xuất. Chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu theo hướng đẩy mạnh xuất khẩu những mặt hàng có giá trị gia tăng cao; tăng sản phẩm chế biến và chế tạo, sản phẩm có hàm lượng công nghệ và tri thức cao, giảm dần tỷ trọng hàng thô. Cụ thể là:

Nhằm vào mục tiêu khai thác tiềm năng XK hàng nông sản, đầu, than và hàng công nghiệp nhẹ, cần xây dựng thêm các mặt hàng XK chủ lực có đủ điều kiện thị trường ổn định, hiệu suất đầu tư cao, có đủ nguồn lực sản xuất và chế biến; có khối lượng kim ngạch XK lớn. Khóa luận: Giải pháp chất lượng tín dụng XNK tại Vietcombank.

Chiến lược thay đổi cơ cấu mặt hàng XK Việt Nam theo hướng ngày càng gia tăng giá trị kim ngạch nhóm hàng công nghiệp và sản phẩm chế biến, tăng kim ngạch XK hàng nông lâm sản chiếm trên 50% tổng kim ngạch XK.

Các mặt hàng có kim ngạch XK lớn hoặc chưa lớn, nhưng có tốc độ tăng trưởng nhanh do có thị trường và có sức cạnh tranh, cần được hỗ trợ hơn các mặt hàng khác để có thể nhanh chóng mở rộng thị trường, tăng qui mô XK. Các mặt hàng cần chú ý là: sản phẩm gỗ, sản phẩm nhựa, xe đạp và phụ tùng, dây điện và cáp điện, sản phẩm cơ khí, hàng điện tử và linh kiện máy tính.

Đối với công nghiệp chế biến hàng XK cần hoạch định chiến lược giảm tỉ lệ XK nguyên liệu thô và sơ chế từ 20% hiện nay 10% vào năm 2040. Danh mục các mặt hàng này bao gồm: dầu, than và chủ yếu là hàng nông lâm sản: cà phê, chè, gạo, lạc, hạt điều, rau quả thô và sơ chế tơ tằm, thuỷ sản… Tăng tỷ lệ XK hàng tinh chế từ 55% hiện nay đạt 70% vào năm 2040. Các mặt hàng chủ yếu là: dệt may, nông sản chế biến sâu, xăng dầu, công nghiệp thực phẩm, sản phẩm điện tử.

Phấn đấu đưa tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá đạt 68-69 tỷ USD vào năm 2030, và 259 tỷ USD trong 5 năm 2025-2030, tốc độ tăng 16%/năm và gấp 2,3 lần so với 5 năm trước.Trong tổng kim ngạch XK, dự kiến khu vực kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài xuất khẩu (không kể dầu thô) trong 5 năm tới là 106,5 tỷ USD, tăng 22,3%/năm.

Nhóm hàng công nghiệp nặng và khoáng sản dự kiến 86 tỷ USD, tăng 13,2%/năm. Nhóm hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp 111,2 tỷ USD, tăng 18,4%/năm. Nhóm hàng nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 61,45 tỷ USD, tăng 15,6%/năm.

  • Nhiệm vụ phát triển các nhóm và mặt hàng chủ yếu:

Nhóm nguyên, nhiên liệu (dầu thô, than đá): Dự kiến lượng xuất khẩu sẽ tăng chậm. Lượng xuất khẩu dầu thô thời kỳ 2025-2030 đạt khoảng 87 triệu tấn, than đá 52 triệu tấn. Khóa luận: Giải pháp chất lượng tín dụng XNK tại Vietcombank.

Nhóm hàng nông, lâm nghiệp và thuỷ sản (thuỷ sản, gạo, cà phê, cao su) tập trung thúc đẩy phát triển những sản phẩm lợi thế có năng suất cao; đảm bảo chất lượng quốc tế và giá trị gia tăng cao Thời kỳ 2025-2030, tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng nông, lâm, thuỷ sản trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá cả nước có xu hướng giảm dần và đến năm 2030 là 24,1%. Dự kiến kim ngạch XK thuỷ sản giai đoạn tới sẽ tăng 12,8%/năm, năm 2030 là 5,0 tỷ USD; Dự kiến lượng gạo XK không tăng so với thời kỳ trước, giữ ở mức 4 triệu tấn/năm. Năm 2030, dự kiến XK 0,9 triệu tấn. Dự kiến XK chè tăng 8,1%/năm, năm 2030 đạt 130 nghìn tấn. XK cao su dự kiến đạt tốc độ tăng 7,7%/năm, năm 2030 đạt 0,85 triệu tấn. Phấn đấu đến năm 2030, kim ngạch XK hạt điều đạt 1 tỷ USD, hạt tiêu 300 triệu USD, tăng tương ứng là 14,7%/năm và 14,8%/năm.

Nhóm sản phẩm chế biến và chế tạo (dệt may, giày dép, thủ công mỹ nghệ, sản phẩm gỗ, dây điện và cáp điện, cơ khí đóng tàu, thực phẩm chế biến), ngoài hai mặt hàng chủ lực là dệt may và giầy dép, cần tăng cường phát triển XK các mặt hàng mới như đóng tàu biển, các sản phẩm cơ khí, điện; các sản phẩm có nhiều tiềm năng như thủ công mỹ nghệ; thực phẩm chế biến; sản phẩm gỗ; hoá phẩm tiêu dùng; sản phẩm nhựa… Dự kiến XK dệt may 2025-2030 tăng 15,6%/năm, năm 2030 khoảng 10 tỷ USD; giày dép tăng 16,4%/năm, năm 2030 khoảng 6,5 tỷ USD. Sản phẩm gỗ là nhóm hàng cần được khuyến khích, đẩy mạnh XK trong những năm tới. Dự kiến giá trị XK sản phẩm gỗ nước ta sẽ tăng 26,2%/năm, năm 2030 đạt 5 tỷ USD. Dự kiến tốc độ tăng của nhóm hàng điện tử, vi tính và linh kiện khoảng 23%/năm, năm 2030 đạt kim ngạch 4 tỷ USD. Dự kiến kim ngạch sản xuất, gia công phần mềm đạt trên 600 triệu USD vào năm 2030.

Tổng kim ngạch XK dịch vụ dự kiến đạt khoảng 8 tỷ USD vào năm 2030 và khoảng 34-35 tỷ USD cả giai đoạn 2025-2030, trong đó tập trung vào một số lĩnh vực dịch vụ có khả năng thu ngoại tệ như du lịch, sửa chữa tàu biển, XK lao động và chuyên gia.

  • Mục tiêu nhập khẩu 5 năm 2025-2030 [8]

Kiềm chế nhập siêu, phấn đấu tiến tới cân bằng hợp lý cán cân xuất – nhập khẩu. Ưu tiên NK vật tư, thiết bị và công nghệ tiên tiến; giữ thế chủ động trong NK, tập trung vào nhập thiết bị hiện đại từ các nước có công nghệ nguồn; giảm nhanh và tiến tới hạn chế nhập thiết bị công nghệ lạc hậu hoặc công nghệ trung gian; hạn chế NK hàng hoá vật tư thiết bị cũng như hàng tiêu dùng trong nước có thể sản xuất và đáp ứng được. Khóa luận: Giải pháp chất lượng tín dụng XNK tại Vietcombank.

Tốc độ tăng NK đạt khoảng 14,7%/năm. Tổng kim ngạch NK hàng hoá tăng từ 36,9 tỷ USD năm 2024 lên 73,5 tỷ USD năm 2030 và 286,5 tỷ USD trong cả 5 năm.

  • Định hướng các mặt hàng NK:

Nhóm hàng máy móc, thiết bị và phụ tùng gồm các loại như ô tô, linh kiện ô tô, xe máy và các loại máy móc thiết bị dụng cụ phụ tùng phục vụ sản xuất. Cần ưu tiên NK của các nước phát triển có nền công nghiệp chế tạo tiên tiến. Chú trọng dây chuyền công nghệ vừa đáp ứng được chất lượng, giá cả và điều kiện của Việt Dự kiến 5 năm tới, kim ngạch NK nhóm hàng này đạt 93,4 tỷ USD, tăng 15,2%/năm.

Nhóm nguyên, nhiên, vật liệu bao gồm xăng dầu, phân Urê, thép thành phẩm và phôi thép; các mặt hàng nguyên vật liệu phục vụ sản xuất như bông sợi, chất dẻo, giấy, tân dược, hoá chất, nguyên phụ liệu may, giày dép, vải; dự kiến giảm dần lượng NK do khả năng sản xuất trong nước ngày càng tăng. Dự kiến kim ngạch NK cả 5 năm đạt 174,2 tỷ USD, chiếm tỷ trọng trên 60,8%, tăng 14,4%/năm. Tập trung NK các mặt hàng: xăng dầu tăng 5,1%/năm; phôi thép tăng 9,5%/năm; nguyên phụ liệu dệt, may, da tăng 12%/năm; bông xơ và sợi các loại tăng 13%/năm, chất dẻo tăng 20,6%/năm

  • Nhóm hàng tiêu dùng dự kiến kim ngạch nhập khẩu 5 năm là 18,9 tỷ USD, tăng 16,3%/năm.
  • Tổng số nhập siêu 5 năm là 27,8 tỷ USD, bằng 11% tổng kim ngạch XK (2020-2024, nhập siêu là 17,4%).

Định hướng tín dụng đầu tư xuất nhập khẩu: Khóa luận: Giải pháp chất lượng tín dụng XNK tại Vietcombank.

  • Tín dụng Xuất nhập khẩu của hệ thống Ngân hàng Thương mại Việt Nam sẽ tập trung đầu tư như sau:

Mục tiêu của tín dụng XK là nhằm phục vụ, hỗ trợ cho các doanh nghiệp XK Việt Nam ngày càng có thế mạnh và tiềm lực về vốn, có đủ điều kiện nâng cao vị thế của mình trên thị trường khu vực và trên thế giới, khẳng định được chất lượng sản phẩm của Việt Nam.

Tín dụng XK tập trung ưu tiên đối với các doanh nghiệp kinh doanh, sản xuất các mặt hàng mà Nhà nước khuyến khích tăng tỷ trọng XK, dành nhiều ưu đãi cho các doanh nghiệp XK các mặt hàng chủ lực, mặt hàng khai thác và sử dụng nguyên liệu trong nước, các doanh nghiệp XK vào các thị trường mục tiêu. Bên cạnh đó, tín dụng XK còn hướng tới hỗ trợ các doanh nghiệp kinh doanh các mặt hàng có kim ngạch XK lớn hoặc chưa lớn, nhưng có tốc độ tăng trưởng nhanh do có thị trường và có sức cạnh tranh.

Nhập khẩu và tín dụng NK hiện nay là hướng vào công nghiệp hoá, hiện đại hoá, giảm tối đa NK hàng tiêu dùng và hàng hoá trong nước đã sản xuất được để tập trung ngoại tệ vào NK thiết bị công nghệ tiên tiến. Đối với một số mặt hàng NK phục vụ sản xuất và XK có tốc độ NK cao hơn tốc độ XK, chủ yếu do tăng giá NK, cần có sự phối hợp giữa cơ quan quản lý nhà nước, Hiệp hội, doanh nghiệp để xác định tiến độ NK thích hợp, nhất là những mặt hàng cụ thể sau: thép thành phẩm, phôi thép, phân bón, xăng dầu, bông, chất dẻo nguyên liệu. Đối với một số mặt hàng như: tân dược, phụ tùng, linh kiện xe máy, dầu mỡ động thực vật… có thể thông qua các biện pháp quản lý và hướng dẫn tiêu dùng để giảm NK.

Đối với NK máy móc, thiết bị bao gồm cả đầu tư vào cơ sở hạ tầng, thông tin liên lạc, thuỷ nông…, khai thác nguồn vốn trung, dài hạn nước ngoài bằng các giải pháp mở rộng nghiệp vụ vay và bảo lãnh vay nước ngoài đối với tín dụng ngân hàng và tín dụng thương mại quốc tế. Để thực hiện có hiệu quả các dự án NK thiết bị, công nghệ cần phải chuẩn bị đủ khối lượng tín dụng đối ứng trong nước, tối thiểu bằng 30% giá trị thiết bị (hiện nay chỉ tiêu này chỉ đạt 10-20%).

Đối với NK vật tư nguyên liệu sản xuất: tín dụng ngân hàng cần tập trung khai thác các nguồn vốn ngắn hạn trong và ngoài nước để cho vay NK. Các mặt hàng NK thuộc nhóm này chủ yếu đối với sản xuất nông nghiệp: giống, phân bón, thuốc trừ sâu, vật tư nông nghiệp… Đối với công nghiệp: nguyên nhiên vật liệu…

2. Định hướng phát triển hoạt động tín dụng của Ngân hàng Nhà nước Khóa luận: Giải pháp chất lượng tín dụng XNK tại Vietcombank.

Sau khi Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế (là thành viên của WTO), Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Việt Nam đã có những định hướng cụ thể nhằm hướng dẫn cho các Ngân hàng Thương mại thực hiện tốt hoạt động tín dụng, đảm bảo tính hiệu quả và an toàn cao, đồng thời thực hiện tốt các chuẩn mực và thông lệ quốc tế về quản lý tín dụng.

Dự kiến, đến giai đoạn 2030-2040, hệ thống Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phải đóng một vai trò nhất định trong khu vực và trên thị trường tài chính quốc tế. Một số tập đoàn ngân hàng Việt Nam đã phải ở trình độ khá lớn mạnh và có ảnh hưởng trực tiếp đến nhịp điệu tài chính khu vực. Các cổ phiếu hoặc trái phiếu phát ra từ ngân hàng Việt Nam sẽ có mặt ở nhiều ngân hàng nước ngoài. Đồng tiền Việt Nam cần được cải cách mệnh giá và mở rộng được biên giới tự do chuyển đổi trong khu vực.

Trước mắt Ngân hàng Nhà nước Việt Nam sẽ là tập trung bổ sung thêm vốn cho các Ngân hàng Thương mại Nhà nước để đến năm 2030 đạt trên 8%, phù hợp với thông lệ quốc tế. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đặt mục tiêu, từ nay đến năm 2027, cổ phần hoá xong Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam và Ngân hàng Nhà Đồng bằng Sông Cửu Long, tiến tới cổ phần hoá tiếp các Ngân hàng Thương mại Nhà nước khác, tạo điều kiện để các ngân hàng phát hành trái phiếu dài hạn nhằm thúc đẩy thị trường vốn.

Trước mắt, chúng ta sẽ gỡ bỏ dần các hạn chế về tỷ lệ tham gia cổ phần của các định chế tài chính nước ngoài theo những cam kết quốc tế. Sau đó, cần nới lỏng các quy định về việc khống chế tỷ lệ tham gia góp vốn, dịch vụ, giá trị giao dịch của các ngân hàng nước ngoài…, nâng cao năng lực tài chính và chất lượng tín dụng của ngân hàng nội địa để tiếp cận theo các tiêu chuẩn quốc tế. Còn cụ thể, thì có thể là những giải pháp trực tiếp như bổ sung thêm vốn, nhằm nâng vốn tự có Ngân hàng Thương mại Nhà nước lên theo tiêu chuẩn quốc tế, đảm bảo nâng chỉ số vốn tự có trên tổng tài sản có rủi ro từ mức khoảng 3 – 4% hiện nay, lên trên 8% trong thời gian tới, đồng thời để thu hẹp khoảng cách về năng lực tài chính, công nghệ của Ngân hàng Thương mại Việt Nam với ngân hàng thương mại khu vực.

Đẩy nhanh tiến trình cổ phần hoá xong một số Ngân hàng Thương mại Nhà nước, tạo điều kiện để các ngân hàng phát hành trái phiếu dài hạn nhằm thúc đẩy thị trường vốn. Khóa luận: Giải pháp chất lượng tín dụng XNK tại Vietcombank.

Việc phát triển một số Ngân hàng Thương mại Việt Nam sẽ phải theo mô hình tập đoàn kinh tế đa năng ngân hàng, bảo hiểm, đầu tư, môi giới và kinh doanh chứng khoán, quản lý tài sản… trên cơ sở lựa chọn một số Ngân hàng Thương mại có quy mô lớn, đầu tư công nghệ hiện đại, đặc biệt các Ngân hàng Thương mại Nhà nước hiện nay đóng vai trò chủ yếu trong hệ thống về quy mô (chiếm 70 – 75% thị phần) và thế mạnh mạng lưới rộng khắp, mối quan hệ khách hàng truyền thống mật thiết, đặc biệt có uy tín cao.

Riêng đối với các Ngân hàng Thương mại cổ phần, cần chủ động chọn thời điểm và hình thức tăng vốn trên cơ sở minh bạch thông tin hoạt động và kết quả kinh doanh, nâng cao chất lượng dịch vụ và an toàn trong kinh doanh để đẩy nhanh tiến độ tham gia niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán, nhằm nâng uy tín trong kinh doanh đối với công chúng, có thể cạnh tranh với các chi nhánh ngân hàng nước ngoài khi mở cửa dịch vụ ngân hàng. Bởi vì, do mới hình thành nên quy mô hoạt động nhỏ, khả năng tài chính còn hạn chế, vốn tự có chỉ tương đương với vốn điều lệ của chi nhánh ngân hàng nước ngoài hiện nay, đồng thời trong những năm gần đây, hoạt động của các Ngân hàng Thương mại cổ phần là lành mạnh.

Kiềm chế nợ xấu cũng là yêu cầu cấp thiết trước thềm hội nhập. Theo đánh giá của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, nợ xấu của toàn hệ thống Ngân hàng Việt Nam ước chừng khoảng 20.000 tỷ đồng, tương đương trên 1 tỷ USD, tỷ trọng lớn nhưng số lượng nhỏ. Các khoản nợ này phần lớn rơi vào các doanh nghiệp nhà nước, vì thế tới đây khi nguồn vốn ngân sách dồi dào tình trạng này có thể giảm bớt. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hiện đang xúc tiến các dự án nhằm cải thiện năng lực của các ngân hàng trong việc đánh giá mức độ rủi ro của các dự án và khách hàng vay nhằm giúp cho tổng số các khoản nợ tồn đọng không bị tăng lên. Trước mắt, đội ngũ cán bộ sẽ được đào tạo nâng cao kỹ năng đánh giá các mô hình kinh doanh và khả năng sinh lời của dự án, từ đó dự đoán được mức độ rủi ro cho các khoản tín dụng một cách hợp lý.

Trên tinh thần đó, hoạt động tín dụng của các Ngân hàng Thương mại Việt Nam cần tuân thủ việc thực hiện nghiêm túc cam kết với thành viên WTO, trong đó có các chuẩn mực và thông lệ quốc tế về tín dụng, thực hiện theo quy định của pháp luật.

Một số nội dung quản lý tín dụng chủ yếu:

  • Giới hạn tín dụng: hệ số này được tính bằng hệ số CaR (hệ số bảo đảm an toàn chi trả). Hệ số này được tính theo công thức Vốn tự có của tổ chức tín dụng so với tài sản có điều chỉnh rủi Theo BaSel, hệ số CaR của một tổ chức tín dụng tối thiểu phải đạt 8%. Theo chuẩn mực này tổ chức tín dụng không được cấp tín dụng vượt quá 12,5 lần vốn tự có của tổ chức tín dụng đó. Khóa luận: Giải pháp chất lượng tín dụng XNK tại Vietcombank.
  • Hạn chế tín dụng tập trung vào một khách hàng và một nhóm khách hàng.

Quản lý rủi ro tín dụng: Theo kinh nghiệm của các Ngân hàng Thương mại hiện đại, ma trận phân loại nợ được xét trên hai khía cạnh:

  • Thời gian trả nợ gốc, lãi: tốt (gốc, lãi hoàn trả không chậm quá 7 ngày), kém (gốc, lãi chậm trả từ 7-30 ngày), xấu (gốc, lãi chẩm trả trên 30 ngày)
  • Kết quả tài chính của khách hàng vay (phân ra 4 mức: rất tốt, khá, trung bình, yếu, xấu)

Theo kết quả của 2 khía cạnh, nợ được phân thành 5 loại: Đạt (Không có dấu hiệu không thanh toán được nợ hiện tại và trong tương lai), cần theo dõi(không có dấu hiệu không thanh toán được nợ nhưng có dấu hiệu dễ chịu ảnh hưởng của các thay đổi môi trường kinh doanh), không đạt (có dấu hiệu suy giảm khả năng tài chính và nghi ngờ khả năng hoàn trả gốc, lãi do các khiếm khuyết này có thể sửa chữa được và nhiều khi phải có sự hỗ trợ của ngân hàng), nghi ngờ (xuất hiện tình trạng suy thoái, ngân hàng phải can thiệp), không thể thu (khách hàng phá sản).

Bên cạnh đó, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cũng đang khẩn trương rà soát lại hệ thống các cơ chế, chính sách trong lĩnh vực ngân hàng để bổ sung, hoàn thiện cho phù hợp với các cam kết hội nhập. Đường hướng mà Ngân hàng Nhà nước Việt Nam nhắm tới sẽ là hạn chế dần và tiến tới xoá bỏ tình trạng bảo hộ, bao cấp của Nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng nhằm tạo lập môi trường kinh doanh bình đẳng; xây dựng cơ chế phối hợp giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam với các bộ, ngành trong điều hành chính sách tiền tệ. Dự kiến, Luật Thanh toán và Luật Giao dịch Điện tử sẽ được ban hành để tạo hành lang pháp lý cho các hoạt động giao dịch, thanh toán của các tổ chức tín dụng và doanh nghiệp cùng với việc xây dựng hệ thống cảnh báo những biến động bất thường về tỷ giá, lãi suất và tăng trưởng tín dụng của các tổ chức tín dụng.

3. Định hướng phát triển hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu của Ngân hàng Ngoại thương phù hợp với định hướng phát triển của Việt Nam và quy định của Ngân hàng Nhà nước

Trên cơ sở định hướng hoạt động kinh tế đối ngoại của Việt Nam, cụ thể là hoạt động ngoại thương, Xuất nhập khẩu như trên đã nêu, các Ngân hàng Thương mại Việt Nam, trong đó có Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cần xây dựng cho mình định hướng phát triển và hoạt động trong thời gian tới. Định hướng này cần đặc biệt quan tâm tới những khách hàng, doanh nghiệp hoạt động trong những lĩnh vực, mặt hàng được Việt Nam ưu tiên chú trọng phát triển.

Kế hoạch tăng trưởng tổng tích sản của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đến năm 2030 sẽ đạt mức gấp đôi so với mức hiện nay, tức là phải đạt khoảng 250.000-300.000 tỷ VND. Như vậy, tính toán ở mức độ an toàn và để đảm bảo hiệu quả kinh doanh, dư nợ tín dụng của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam phải đạt khoảng 40-50% tổng tích sản, tức là ít nhất phải đạt 130-150.000 tỷ VND đến cuối năm 2030. So với mức tín dụng nói chung và tín dụng Xuất nhập khẩu nói riêng hiện nay, nhiệm vụ đặt ra đối với hoạt động này là đến năm 2030 phải tăng dư nợ thêm về số tuyệt đối khoảng 88.000 tỷ VND, như vậy bình quân mỗi năm dư nợ tín dụng phải tăng thêm số tuyệt đối khoảng 20.000 tỷ VND. Cho đến hết năm 2026 này, mục tiêu tăng trưởng dư nợ tín dụng là 18-20%. Khóa luận: Giải pháp chất lượng tín dụng XNK tại Vietcombank.

  • Về tín dụng Xuất nhập khẩu, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã có những kế hoạch và phương hướng cụ thể như sau:

Ngân hàng sẽ lựa chọn những dự án phù hợp với chiến lược phát triển của đất nước trong thời gian tới theo các ngành kinh tế, các vùng và kế hoạch phát triển tổng thể của từng doanh nghiệp, bên cạnh đó cũng căn cứ vào điều kiện thực tế của ngân hàng. Khi xét duyệt dự án, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam luôn lấy tiêu chuẩn hiệu quả và tính khả thi của dự án là tiêu chuẩn hàng đầu.

Chú trọng công tác huy động vốn thông qua việc đa dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ ngân hàng, phấn đấu tăng tổng nguồn vốn lên trên 25%, trong đó đặc biệt quan tâm đến huy động vốn trung và dài hạn, cố gắng tăng tỷ trọng dư nợ tín dụng trung và dài hạn trong tổng dư nợ tín dụng đối với các đơn vị hoạt động Xuất nhập khẩu để có thể đáp ứng nhu cầu đổi mới công nghệ, tăng năng suất lao động, tăng thu nhập, từ đó có thể đảm bảo khả năng trả nợ cho ngân hàng.

Đa dạng hóa các hình thức tín dụng Xuất nhập khẩu nhằm mở rộng hoạt động sử dụng vốn, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu khác nhau của các doanh nghiệp Xuất nhập khẩu.

Đa dạng hóa đối tượng khách hàng: Bên cạnh việc duy trì mối quan hệ với các khách hàng truyền thống, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam chủ trương mở rộng cho vay đối với tất cả các doanh nghiệp Xuất nhập khẩu thuộc mọi thành phần kinh tế: các doanh nghiệp trong nước (doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp ngoài quốc doanh, hộ kinh doanh cá thể) và các doanh nghiệp nước ngoài (doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp thủ công làm đại lý cho các hãng). Ngân hàng chú trọng cung cấp dịch vụ đối với các doanh nghiệp kinh doanh những mặt hàng được Nhà nước khuyến khích tăng tỷ trọng Xuất nhập khẩu, dành nhiều ưu đãi cho các doanh nghiệp XK các mặt hàng chủ lực, mặt hàng khai thác và sử dụng nguyên liệu trong nước, các doanh nghiệp XK vào các thị trường mục tiêu.

Tăng cường công tác quản lý tín dụng, nâng cao vai trò công tác thẩm định dự án trong xét duyệt cho vay Xuất nhập khẩu, thực hiện nghiêm túc các quy chế, điều luật do Nhà nước, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cũng như Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam ban hành. Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát tình hình hoạt động kinh doanh và quá trình sử dụng khoản vay của các doanh nghiệp Xuất nhập khẩu, điều chỉnh kịp thời hạn mức tín dụng, thực hiện cấu trúc lại mô hình tổ chức và ứng dụng các mô hình quản lý, quản trị rủi ro tín dụng theo tiêu chuẩn quốc tế.

III. GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG XUẤT NHẬP KHẨU TẠI NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM Khóa luận: Giải pháp chất lượng tín dụng XNK tại Vietcombank.

1. Xây dựng chiến lược cho hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu

Xác định khách hàng mục tiêu, xây dựng chiến lược khách hàng và tăng cường phát triển mạng lưới. Xây dựng chiến lược khách hàng đúng đắn, ngân hàng và khách hàng luôn gắn bó với nhau, phải tạo ra, giữ vững và phát triển mối quan hệ lâu bền với tất cả khách hàng. Cần đánh giá cao khách hàng truyền thống và khách hàng có uy tín trong giao dịch ngân hàng. Đối với những khách hàng này, khi xây dựng chiến lược ngân hàng phải hết sức quan tâm, gắn hoạt động của ngân hàng với hoạt động của khách hàng, thẩm định và đầu tư kịp thời các dự án có hiệu quả rõ ràng trên cơ sở nắm rõ các chiến lược phát triển Xuất nhập khẩu (về mặt hàng và thị trường Xuất nhập khẩu) của Việt Nam trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế.

Ngoài ra, các đặc tính sản phẩm từ các ngân hàng đều có điểm giống nhau nên việc tạo ra sự khác biệt là hết sức quan trọng. Bên cạnh đó, việc nước ta bước vào thời kỳ hội nhập đồng nghĩa với việc nhu cầu cung cấp tín dụng Xuất nhập khẩu với sự đa dạng về hình thức và linh hoạt về quy trình tiến hành cho phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế đòi hỏi Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cần có những chiến lược cụ thể nhằm thích nghi với tình hình đó. Do vậy, ngân hàng cần đề ra các chiến lược phát triển và đa dạng hoá sản phẩm nhằm tạo sự khác biệt và ưu việt so với ngân hàng khác, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh của mình.

Về chiến lược thu hút tiền gửi, cần xây dựng một hệ thống thanh toán điện tử rộng khắp nhằm tạo cho dân chúng thói quen sử dụng tài khoản ngân hàng. Đồng thời, những thủ tục rắc rối cần được cắt giảm để tạo thuận lợi tối đa cho khách hàng.

2. Mở rộng hoạt động huy động vốn Khóa luận: Giải pháp chất lượng tín dụng XNK tại Vietcombank.

Nguồn vốn luôn đóng vai trò quan trọng đối với hoạt động của mỗi ngân hàng vì nó là cơ sở để phát triển hoạt động tín dụng nói chung và tín dụng Xuất nhập khẩu nói riêng, mở rộng hoạt động cho vay, đáp ứng tối đa nhu cầu của khách hàng.

Hiện nay, nhu cầu vốn phục vụ tín dụng Xuất nhập khẩu là rất lớn, do vậy, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cần không ngừng đa dạng hóa các hình thức huy động vốn như: tiền gửi thanh toán, tiền gửi tiết kiệm, kỳ phiếu, huy động bằng nhiều loại ngoại tệ khác ngoài USD, huy động tiết kiệm bằng vàng, tiếp cận khách hàng mọi lúc mọi nơi.

Tăng cường huy động vốn trung và dài hạn, nhất là bằng VNĐ nhằm đáp ứng nhu cầu vay vốn trong thời gian dài để đổi mới máy móc, trang thiết bị, xây dựng nhà xưởng của các doanh nghiệp, phục vụ nhu cầu CNH – HĐH trong nước.

Sử dụng công cụ lãi suất nhằm thu hút nguồn tiền gửi tiết kiệm: chính sách lãi suất hấp dẫn với từng loại khách hàng, đa dạng hóa các hình thức trả lãi suất (trả lãi trước, trả lãi sau, trả lãi bậc thang…), có nhiều chương trình khuyến mại, nhiều hoạt động thu hút khách hàng đến mở tài khoản tại ngân hàng.

Phát hành các chứng chỉ tiền gửi có mệnh giá lớn, phát hành trái phiếu.

Tăng cường thu hút nguồn ngoại tệ thông qua việc tăng cường hoạt động mua bán ngoại tệ phục vụ tài trợ Xuất nhập khẩu tại ngân hàng: mở rộng hoạt động thanh toán quốc tế, từ đó ngân hàng có được một nguồn thu ngoại tệ và phí dịch vụ đáng kể, tạo điều kiện nâng cao vị thế và sức cạnh tranh của ngân hàng trong hoạt động tín dụng Xuất nhập khẩu; tham gia tích cực vào thị trường ngoại tệ liên ngân hàng.

3. Đẩy mạnh thiết kế đa dạng hóa các sản phẩm tín dụng xuất nhập khẩu

Khi đất nước bước vào thời kỳ hội nhập, số lượng cũng như quy mô các doanh nghiệp Xuất nhập khẩu ngày càng mở rộng với nhiểu nhu cầu vốn khác nhau. Nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng, nhiệm vụ trước tiên của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam là phải đa dạng hóa các loại hình tín dụng Xuất nhập khẩu, đó là một giải pháp cần thiết giúp ngân hàng nâng cao chất lượng dịch vụ, mang lại nguồn thu lợi nhuận cho ngân hàng, đa dạng hóa hình thức sử dụng vốn, giảm thiểu rủi ro, từ đó ngày càng xây dựng được uy tín và vị thế tốt của ngân hàng.

Để nâng cao chất lượng tín dụng Xuất nhập khẩu thì trong thời gian tới, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam phải tập trung vào phát triển các loại hình tín dụng mới như: Khóa luận: Giải pháp chất lượng tín dụng XNK tại Vietcombank.

  • Mở rộng hoạt động cho vay đồng tài trợ: nhằm giải quyết nhu cầu vốn cho vay đối với các dự án lớn trong khi ngân hàng không có đủ khả năng cung cấp vốn. Phát triển hoạt động cho vay đồng tài trợ sẽ giúp ngân hàng tận dụng được các khoản vốn từ nhỏ nhất vào cho vay, đồng thời chia sẻ bớt rủi ro với các Ngân hàng Thương mại khác trong trường hợp dự án lớn và mức độ mạo hiểm cao.
  • Phát triển các dịch vụ mới nhưng đang được sử dụng phổ biến trên thế giới, đặc biệt là nghiệp vụ bao thanh toán (factoring).

Hiện nay Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã áp dụng loại hình tín dụng này, tuy nhiên, đây vẫn còn là một loại hình mới, đòi hỏi Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cần có những văn bản hướng dẫn cụ thể trên cơ sở Quyết định 1096/2023/QĐ – Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về ban hành quy chế bao thanh toán của các tổ chức tín dụng.

Bên cạnh đó, để thực hiện nghiệp vụ này một cách có hiệu quả, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cần chú trọng đào tạo đội ngũ cán bộ chuyên sâu về nghiệp vụ đồng thời học hỏi thêm kinh nghiệm quản lý và thực hiện factoring của các ngân hàng, tập đoàn tài chính uy tín và công ty Factor nước ngoài. Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cũng cần quảng cáo, tư vấn và giải thích cho các doanh nghiệp Xuất nhập khẩu muốn áp dụng loại hình bao thanh toán về quy trình nghiệp vụ cũng như lợi ích của phương thức này đối với doanh nghiệp.

Mở rộng nghiệp vụ chiết khấu chứng từ: Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cần phải mở rộng phương thức chiết khấu chứng từ truy đòi để có thể đảm bảo an toàn và ràng buộc trách nhiệm của nhà XK với những bộ chứng từ hàng xuất được chiết khấu tại ngân hàng. Đối với nghiệp vụ chiết khấu hối phiếu, không chỉ thực hiện chiết khấu hối phiếu đi kèm bộ chứng từ trong L/C và nhờ thu mà còn nên thực hiện chiết khấu hối phiếu độc lập, có căn cứ, có khả năng thanh toán cao do đã được chấp nhận thanh toán của nhà XK Việt Nam nhằm vừa thu thêm lợi nhuận vừa giảm thiểu rủi ro từ phía nhà XK, do nếu nhà NK nước ngoài không chịu thanh toán khi hối phiếu đến hạn thì ngân hàng hoàn toàn có thể đòi lại tiền từ nhà XK. Ngân hàng cũng cần có những chính sách phòng chống rủi ro khi chiết khấu các bộ chứng từ.

Biên lai tín thác (trust receipt): Thực chất là nghiệp vụ tài trợ NK, trong đó ngân hàng sẽ thay mặt người NK đứng ra thanh toán tiền cho phía nhà XK và ngược lại, khách hàng cam kết hoàn trả thanh toán cộng với lãi cho ngân hàng sau một khoảng thời gian nhất định kể từ ngày phát sinh nghĩa vụ thanh toán (30/60/90/180 ngày). Biên lai tín thác được lập theo đơn yêu cầu phát hành biên lai tín thác của khách hàng NK và chỉ được ngân hàng chấp thuận nếu như khách hàng có một hạn mức tín thác tại ngân hàng. Khóa luận: Giải pháp chất lượng tín dụng XNK tại Vietcombank.

Tín dụng trọn gói (packing credit): tín dụng trọn gói cho phép ngân hàng thực hiện nghiệp vụ cấp tín dụng ứng trước cho người XK để mua nguyên vật liệu, chế biến và sản xuất hàng XK. Tín dụng trọn gói được thực hiện khi khách hàng XK đã nhận được thư tín dụng XK từ ngân hàng phát hành. Thư tín dụng hàng xuất này sẽ được lưu giữ tại ngân hàng. Số tiền tín dụng ứng trước sẽ được hoàn trả khi nhà XK nhận được tiền từ bộ chứng từ XK.

4. Đa dạng hóa đối tượng khách hàng cho vay

Trước đây, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam tập trung chủ yếu phục vụ đối tượng khách hàng là các doanh nghiệp nhà nước. Có thể coi đây là lực lượng khách hàng truyền thống của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam vì doanh số cho vay và khả năng thu nợ đối với các doanh nghiệp này là khá cao. Có thể thấy các doanh nghiệp ngoài quốc doanh thường chiếm tỷ trọng lớn hơn các doanh nghiệp nhà nước nhưng thường không đáp ứng đủ điều kiện cho vay của ngân hàng như phương án kinh doanh không hiệu quả, tài sản thế chấp có giá trị nhỏ…nên trong thời gian qua Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam ít chú trọng tới đối tượng khách hàng này. Điều đó đồng nghĩa với việc Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã bỏ qua một cơ hội kinh doanh lớn vì các doanh nghiệp vừa và nhỏ hiện nay đang được Chính phủ và các cơ quan, bộ, ngành quan tâm và ủng hộ, có các chiến lược phát triển hợp lí. Bên cạnh đó, việc đầu tư vào các doanh nghiệp có quy mô nhỏ thì giúp hạn chế được rủi ro hơn là đầu tư vào doanh nghiệp lớn và lãi suất cho vay của NH thì có thể dễ thay đổi hơn.

Do vậy, trong thời gian tới đây, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cần chú trọng hoàn thiện một số mặt sau:

  • Đẩy mạnh công tác chọn lọc khách hàng theo hướng tập trung mở rộng thị trường tín dụng đối với các doanh nghiệp trong khu công nghiệp, khu chế xuất.
  • Nghiên cứu kỹ các đối tượng khách hàng mới mà chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, có các chính sách tiếp cận khách hàng mới và lấy các doanh nghiệp vừa và nhỏ làm tâm điểm trong thời kỳ mới.
  • Đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, chỉ cho vay với những đơn vị làm ăn thực sự có lãi và những ngành, đơn vị được Nhà nước ưu tiên. Việc đẩy mạnh cấp tín dụng vào khu vực kinh tế ngoài quốc doanh là hoàn toàn có thể vì một khi đã có Luật thế chấp tài sản và một số luật khác được thực hiện nghiêm minh và có đội ngũ cán bộ tín dụng vững vàng thì sẽ có thể hạn chế được rủi ro.
  • Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể tiếp cận với ngân hàng bằng cách mở rộng mạng lưới giao dịch: mở các chi nhánh, các phòng giao dịch mới tại các địa điểm thuận lợi cho các doanh nghiệp có thể đến đặt quan hệ giao dịch.

5. Nâng cao chất lượng thẩm định tín dụng xuất nhập khẩu Khóa luận: Giải pháp chất lượng tín dụng XNK tại Vietcombank.

Thẩm định là khâu quan trọng nhất trong hoạt động tín dụng nói chung và trong hoạt động tín dụng Xuất nhập khẩu nói riêng. Để tăng hiệu quả công tác này, đảm bảo an toàn cho các khoản vay, từ đó nâng cao chất lượng tín dụng Xuất nhập khẩu của ngân hàng, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cần thực hiện những biện pháp sau:

Nâng cấp hệ thống thông tin báo cáo. Số lượng và chất lượng thông tin báo cáo luôn là một trong những nguồn lực quan trọng của mọi ngân hàng, vì vậy rất cần áp dụng các biện pháp kiên quyết hơn nhằm sớm hoàn thiện tình hình thông tin báo cáo còn thiếu và chưa kịp thời như hiện nay. Tăng cường độ tin cậy của những thông tin thu thập (về tư cách pháp lý của khách hàng, tính khả thi của phương án kinh doanh Xuất nhập khẩu, tình hình tài chính và tình hình công nợ của khách hàng dựa vào kết quả kinh doanh…) thông qua các báo cáo tài chính, báo cáo kết quả kinh doanh của doanh nghiệp và từ các nguồn khác như: sổ sách lưu trữ tại ngân hàng, phương tiện thông tin đại chúng, các đối tác tiêu thụ hàng hóa của khách hàng vay vốn, từ nhà cung cấp đầu vào cho khách hàng hay thậm chí là từ doanh nghiệp cùng ngành…và quan trọng nhất là thông qua trung tâm thông tin tín dụng của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và sự hỗ trợ của các Bộ, ngành liên quan.

Đổi mới dần cách thức thẩm định dự án: trong những năm tới đây, chiến lược của ngân hàng là mở rộng hoạt động tín dụng trung và dài hạn – Xuất nhập khẩu. Do vậy Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cần hoàn thiện một bước phương thức thẩm định dự án, chuyển từ phân tích tài chính giản đơn sang phân tích tài chính bằng phương pháp hiện giá có tính đến sự biến động của tiền tệ. Bên cạnh đó, ngân hàng nên sử dụng phương pháp phân tích độ nhạy và phương pháp so sánh để có cách nhìn chính xác hơn về tính khả thi, độ an toàn của phương án kinh doanh của các DN kinh doanh Xuất nhập khẩu.

6. Tăng cường công tác quản trị rủi ro tín dụng xuất nhập khẩu

NHNT phải có các kế hoạch, phương án hoạt động kinh doanh trong thời gian cụ thể có tính đến mức độ rủi ro sát với thực tế để có thể dự đoán được thu nhập và chi phí. Khống chế mức dư nợ tối đa đối với các chi nhánh có mức độ rủi ro cao, xây dựng quy trình tín dụng với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, thể nhân. Khóa luận: Giải pháp chất lượng tín dụng XNK tại Vietcombank.

Tiếp tục chỉnh sửa hệ thống cho điểm tín dụng và phương pháp xác định giới hạn tín dụng đối với doanh nghiệp.

Trích lập dự phòng rủi ro theo mức dộ rủi ro của khoản nợ, độ trễ của thời gian trả nợ, khả năng cân đối tài chính, cụ thể :

  • Các khoản nợ lành mạnh : tỷ lệ trích Dự phòng rủi ro (dự phòng rủi ro) là 0%
  • Các khoản nợ cần lưu ý : tỷ lệ trích Dự phòng rủi ro là 10%
  • Các khoản nợ có dấu hiệu khó thu hồi : tỷ lệ trích Dự phòng rủi ro là 20%
  • Các khoản nợ khó có khả năng thu hồi : tỷ lệ trích Dự phòng rủi ro là 50%
  • Các khoản nợ không có khả năng thu hồi : tỷ lệ trích Dự phòng rủi ro là 100% [9]

Tăng cường kiểm tra, kiểm soát hoạt động tín dụng, áp dụng các chuẩn mực quốc tế trong quản lý rủi ro: có bộ máy quản lý rủi ro tín dụng chuyên trách và độc lập; hướng tới thực hiện quản lý rủi ro tín dụng tập trung; duy trì nguyên tắc quản lý “hai tay bốn mắt” trong mọi khâu; thực hiện phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro theo thông lệ quốc tế; áp dụng phương pháp định giá khoản vay trên cơ sở đánh giá rủi ro.

7. Phát triển dịch vụ thanh toán quốc tế

Thanh toán quốc tế là khâu tổ chức thanh toán, thúc đẩy chu chuyển vốn tín dụng, đặc biệt là thanh toán hàng XK là điều kiện tiền đề để thực hiện tín dụng XK an toàn qua cho vay ứng trước, đảm bảo bằng bộ chứng từ và chiết khấu chứng từ. Thanh toán quốc tế cũng là điều kiện tiền đề để phát triển và thúc đẩy kinh doanh ngoại tệ. Thanh toán quốc tế phục vụ và thúc đẩy mở rộng cho vay tài trợ XK, tài trợ NK, khai thác các hạn mức thanh toán ngắn hạn, góp phần tăng trưởng nguồn vốn, tạo điều kiện phát triển kinh doanh tiền tệ, phục vụ cho cả hàng nhập và hàng xuất, làm tăng các hoạt động dịch vụ, tăng thu phí dịch vụ ngân hàng, góp phần tăng trưởng lợi nhuận.

8. Nâng cao trình độ cán bộ tín dụng Khóa luận: Giải pháp chất lượng tín dụng XNK tại Vietcombank.

Chìa khóa của sự thành công nằm ở những nỗ lực của ngân hàng trong việc dào tạo, tổ chức cán bộ, tạo ra một đội ngũ nhân viên thích ứng với điều kiện cạnh tranh ngày càng cao của nền kinh tế. Ngân hàng cần nâng cao trình độ cán bộ nhân viên, có định hướng phát triển nguồn nhân lực vì kết quả cho vay phụ thuộc rất lớn vào trình độ nghiệp vụ, tính năng động sáng tạo và đạo đức nghề nghiệp của cán bộ tín dụng. Có đến 80% cán bộ nhân viên Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam có trình độ đại học và trên đại học, với các cán bộ tham gia công tác tín dụng, tỷ lệ này còn cao hơn.Tuy nhiên, trong thực tế do tính chất phức tạp của nền kinh tế thị trường, và của hoạt động tín dụng thì đội ngũ cán bộ như hiện nay chưa thể đáp ứng kịp thời. Thực tế đòi hỏi cán bộ tín dụng luôn phải học hỏi, trau dồi kiến thức nghiệp vụ và cả những kiến thức tổng hợp khác một cách thường xuyên. Do đó để nâng cao chất lượng tín dụng, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam nên xem xét một số biện pháp sau:

Chuyên môn hoá cán bộ khách hàng, cán bộ rủi ro: Mỗi người sẽ được giao phụ trách một nhóm khách hàng nhất định, có những đặc điểm chung về ngành nghề kinh doanh hoặc loại hình doanh nghiệp. Việc phân nhóm tuỳ theo năng lực, sở trường, kinh nghiệm của từng cán bộ. Qua đó, các cán bộ khách hàng, cán bộ rủi ro có thể hiểu biết khách hàng và lĩnh vực hoạt động của khách hàng một cách sâu sắc, tập trung vào một công việc của mình và giảm chi phí trong điều tra, tìm hiểu khách hàng, giảm sai sót trong quá trình thẩm định, góp phần nâng cao chất lượng tín dụng.

Đào tạo các kỹ năng: Ngân hàng cần đào tạo sâu cán bộ tín dụng các kỹ năng như kỹ năng giao tiếp, kĩ năng điều tra, kĩ năng phân tích, kĩ năng viết, kĩ năng đàm phán v.v..thông qua việc tổ chức thường xuyên hơn các khoá học nghiệp vụ.

Ngân hàng cần có cơ chế khen thưởng, đãi ngộ hợp lý đối với các cán bộ tham gia công tác tín dụng, đặc biệt là cán bộ khách hàng, những người thực hiện công việc nặng nhất so với cán bộ rủi ro, cán bộ quản lý nợ. Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam có thể đề ra tỷ lệ thưởng theo mức dư nợ và thu hồi nợ, nợ quá hạn trong tháng để động viên cán bộ tích cực hơn nữa với công tác tín dụng, tránh tình trạng thu nhập cào bằng như hiện nay.

9. Hiện đại hóa công nghệ ngân hàng

Tuy được đánh giá là ngân hàng đi đầu trong lĩnh vực công nghệ, nhưng cũng như các Ngân hàng Thương mại khác ở Việt Nam, quá trình hiện đại hóa công nghệ ở Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam được tiến hành từng bước và xuất phát từ yêu cầu thực tiễn cụ thể chứ chưa lập thành một kế hoạch chiến lược tổng thể. Vì vậy, trong thời gian tới đây, để có thể đứng vững trong môi trường cạnh tranh trên thị trường tài chính – tiền tệ, để có thể thành công trong tiến trình cổ phần hóa, để có thể phát triển vững mạnh, tạo ra được lợi thế cạnh tranh cho ngân hàng, góp phần thu hút khách hàng thì một trong những điều mà Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cần làm là hiện đại hóa công nghệ ngân hàng: Không ngừng mở rộng và nâng cao chất lượng dịch vụ của ngân hàng bằng cách nâng cấp hệ thống trang thiết bị máy móc ngân hàng đạt tiêu chuẩn quốc tế. Như vậy, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cần tập trung một nguồn lực cả về vốn và con người để có thể thích ứng với những công nghệ hiện đại đó. Bên cạnh đó, ngân hàng cần hỗ trợ kinh phí nghiên cứu phát triển sản phẩm dịch vụ mới.

IV. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ Khóa luận: Giải pháp chất lượng tín dụng XNK tại Vietcombank.

1. Đối với Chính phủ

Trước hết cần cải cách DNNN, tạo ra sân chơi bình đẳng hơn cho các doanh nghiệp. Việc bảo hộ cho khu vực DNNN là nguyên nhân chính gây ra nợ khó đòi, nợ quá hạn, nợ xấu tại các Ngân hàng Thương mại Nhà nước cao. Chính vì vậy, nếu không kiên quyết đẩy mạnh tiến trình cải cách DNNN thì việc cải thiện năng lực cạnh tranh của nền kinh tế nói chung và các Ngân hàng Thương mại nói riêng sẽ khó thực hiện.

Thứ hai, tăng cường thực thi Luật Cạnh tranh và kiểm soát độc quyền, đưa luật này trở thành công cụ để Chính phủ kiểm soát họat động cạnh tranh.

Thứ ba, thống nhất quan điểm, xác định rõ và cụ thể về lộ trình mở cửa tài chính. Tự do hoá tài chính phải được thực hiện sau cùng, sau khi đã thực hiện cải cách cơ cấu và tự do hoá thương mại. Nếu có được lộ trình hội nhập tài chính thích hợp sẽ đảm bảo hệ thống tài chính hội nhập hiệu quả, tăng năng lực cạnh tranh mà không bị vướng vào các dạng khủng hoảng tài chính – ngân hàng khác nhau.

Thứ tư, khẩn trương hoàn thiện hoạt động của thị trường tiền tệ và hoàn thiện hoạt động của thị trường chứng khoán, xác định cụ thể lộ trình mở cửa thị trường tài chính – ngân hàng.

2. Đối với Ngân hàng Nhà nước Khóa luận: Giải pháp chất lượng tín dụng XNK tại Vietcombank.

Để tạo điều kiện cho Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam thực hiện được các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tín dụng Xuất nhập khẩu, xin kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam một số chính sách sau:

NHNN cần sớm ban hành các quy chế thống nhất cho các nghiệp vụ ngân hàng để tạo một hành lang pháp lý an toàn chung cho toàn bộ hoạt động tín dụng nói chung và tín dụng Xuất nhập khẩu nói riêng của các Ngân hàng Thương mại. Trong ngắn hạn, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cần tiếp tục nghiên cứu để đề xuất việc hoàn thiện Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Luật các Tổ chức Tín dụng và hệ thống văn bản hướng dẫn triển khai các luật; tiến hành rà soát, bổ sung và chỉnh sửa cơ chế, chính sách và các văn bản phù hợp với lộ trình thực hiện các cam kết quốc tế về lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng trong thời kỳ hội nhập.

Hoàn thiện cơ chế chính sách đối với hoạt động thanh tra ngân hàng, làm cơ sở để đổi mới căn bản công tác thanh tra, giám sát, nâng cao năng lực giám sát vĩ mô và vi mô của của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Theo đó, thanh tra Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chủ yếu thanh tra, giám sát các Ngân hàng Thương mại tại Hội sở chính, chỉ trong trường hợp đặc biệt mới thanh tra tại một số chi nhánh; thực hiện thanh tra pháp nhân đối với các Tổ chức Tín dụng; tăng cường thanh tra chất lượng tín dụng, bảo lãnh, chất lượng quản lý, điều hành và hoạt động kiểm tra, kiểm soát nội bộ của các Tổ chức Tín dụng; phối hợp chặt chẽ giữa giám sát từ xa và thanh tra tại chỗ, từng bước đưa hoạt động giám sát từ xa trở thành nội dung chính trong hoạt động thanh tra, giám sát đối với các Tổ chức Tín dụng.

NHNN cần từng bước áp dụng các thiết chế và chuẩn mực quốc tế về an toàn trong hoạt động kinh doanh tiền tệ ngân hàng như tỷ lệ dự phòng rủi ro, bảo hiểm tiền gửi, phá sản tổ chức tín dụng. Từng bước thực hiện phân loại tín dụng, trích dự phòng rủi ro, hạch toán kế toán … theo các chuẩn mực quốc tế để đảm bảo an toàn hoạt động cho từng Tổ chức Tín dụng và cả hệ thống. Trên cơ sở đó minh bạch hóa hoạt động tiền tệ tín dụng ngân hàng, tạo môi trường kinh doanh bình đẳng cho tất cả các các Tổ chức Tín dụng thuộc mọi loại hình sở hữu.

Nâng cao hiệu quả hoạt động của Trung tâm thông tin tín dụng Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (CIC). Những thông tin liên quan đến hoạt động của Ngân hàng Thương mại, của các khách hàng có quan hệ tín dụng cần được cập nhật kịp thời, công bố công khai, chính xác để các tổ chức tín dụng có thể khai thác được. Muốn như vậy, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cần quy định bắt buộc các Ngân hàng Thương mại thực hiện các chế độ báo cáo chính xác và thường xuyên hơn nữa. Đồng thời định kỳ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam sẽ tiến hành đánh giá xếp loại chất lượng tín dụng của các khách hàng có dư nợ một cách khách quan. Ngoài ra, để đảm bảo nguồn thông tin được chính xác, cập nhật, CIC cần loại bỏ bớt những bộ phận trung gian.

Cần phải tăng cường vai trò của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong việc dự báo trạng thái vốn khả dụng trong hệ thống ngân hàng, tăng cường sự phối hợp giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bộ Tài chính trong việc điều hành thị trường tài chính nhằm đảm bảo chất lượng và chủng loại của các loại chứng khoán phát hành theo đúng những qui chuẩn của thị trường tài chính quốc tế. Đồng thời, giảm dần sự can thiệp của Chính phủ thông qua tín dụng chỉ định, qua đó giảm thiểu gánh nặng lên ngân sách nhà nước cả đối với các Ngân hàng Thương mại và DNNN. Khóa luận: Giải pháp chất lượng tín dụng XNK tại Vietcombank.

Đẩy nhanh tiến độ cơ cấu lại các Tổ chức Tín dụng theo hướng tiếp tục xử lý nợ tồn đọng theo chương trình của Chính phủ về tái cơ cấu các Tổ chức Tín dụng, thực hiện những biện pháp thích hợp về tăng vốn điều lệ của các Tổ chức Tín dụng nhằm nâng cao năng lực tài chính và đảm bảo tỉ lệ an toàn vốn tối thiểu 8% theo chuẩn mực quốc tế. Đồng thời, nâng cao năng lực quản lý điều hành của các Tổ chức Tín dụng, bố trí lại tổ chức và hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ tại các Tổ chức Tín dụng, đảm bảo cho các tổ chức này chịu sự điều hành trực tiếp của cấp quản lý cao nhất nhằm phát huy tính độc lập và trách nhiệm trong kiểm tra, kiểm toán các lĩnh vực hoạt động của Tổ chức Tín dụng; chủ động nâng cao chất lượng và loại hình dịch vụ, tìm kiếm khách hàng, thực hiện tốt chức năng phân bổ các nguồn lực tài chính (từ trong nước và từ nước ngoài) cho quá trình CNH – HĐH đất nước, nhưng vẫn đảm bảo tính an toàn, hiệu quả cho toàn hệ thống ngân hàng.

Việc khắc phục những điểm yếu kém cơ bản nêu trên cùng với việc triển khai các cải cách về mặt chính sách sẽ tạo điều kiện cho hệ thống Ngân hàng Việt Nam hội nhập một cách nhanh chóng và vững chắc vào tiến trình kinh tế quốc tế.

3. Đối với Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam

Trong thời gian qua, hoạt động đối ngoại nói chung và hoạt động tín dụng Xuất nhập khẩu nói riêng của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã có nhiều thành công và đổi mới. Tuy nhiên, có một số vấn đề Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cần giải quyết nhằm phát triển mạnh mẽ hơn hoạt động tín dụng Xuất nhập khẩu:

Thống nhất nhận thức và nhất quán thực hiện các văn bản pháp quy, chính sách, quy chế của Chính phủ, của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và của các ngành có liên quan đến hoạt động XN, quản lý ngoại hối và tín dụng Xuất nhập khẩu cũng như các chính sách của bản thân Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam với quy mô lớn và tầm nhìn dài hạn.

Phát huy ưu thế của mình trong quan hệ quốc tế để có những thông tin đánh giá về ngân hàng đại lý, cũng như các khách hàng của Ngân hàng một cách kịp thời.

Tổ chức và cơ cấu hợp lý bộ phận phòng tín dụng theo hướng chuyên môn hóa, lập thêm một số bộ phận chức năng tín dụng kết hợp với các phòng ban khác để nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng Xuất nhập khẩu. Bên cạnh đó, phối hợp với phòng thanh toán quốc tế tìm kiếm các khách hàng mới, kết hợp tài trợ cho các khách hàng có nhu cầu, đảm bảo hiệu quả và an toàn cho các khoản tín dụng Xuất nhập khẩu.

NH cần quan tâm hơn nữa về đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho hoạt động tài trợ Xuất nhập khẩu bởi đây là một nghiệp vụ khá phức tạp, đòi hỏi trình độ chuyên môn cũng như kinh nghiệm khá đa dạng. Để nâng cao nghiệp vụ cũng như hiệu quả công việc, ngân hàng phải thường xuyên tổ chức tập huấn, hội thảo theo các chuyên đề có liên quan tới nghiệp vụ tín dụng Xuất nhập khẩu với các ngân hàng có uy tín trong lĩnh vực này.

Trên đây là một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng tín dụng Xuất nhập khẩu tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam. Để đạt được hiệu quả, các giải pháp và kiến nghị đó phải được thực hiện đồng bộ, nhất quán.

KẾT LUẬN Khóa luận: Giải pháp chất lượng tín dụng XNK tại Vietcombank.

Khi đất nước bước vào thời kỳ hội nhập, nhu cầu giao lưu trao đổi diễn ra ngày càng mạnh mẽ, hoạt động Xuất nhập khẩu ngày càng mở rộng và từ đó, tín dụng Xuất nhập khẩu ngày càng đóng một vai trò lớn đối với các doanh nghiệp Xuất nhập khẩu, với ngân hàng và toàn bộ nền kinh tế. Chất lượng tín dụng nói chung và tín dụng Xuất nhập khẩu nói riêng đang là vấn đề nổi cộm, được quan tâm hàng đầu của các Ngân hàng Thương mại. Việc nghiên cứu đề tài này, đề xuất ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tín dụng là cần thiết, nhằm đảm bảo an toàn và nâng cao hiệu quả của nguồn vốn kinh doanh đang chảy trôi từng ngày trong huyết mạch nền kinh tế đất nước.

Trong những năm qua, hoạt động tín dụng Xuất nhập khẩu của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã có nhiều biến chuyển tích cực, khả quan, đáp ứng được nhu cầu của doanh nghiệp Xuất nhập khẩu trong nước. Tuy nhiên, khi bước vào thời kỳ mới, hoạt động này còn gặp nhiều khó khăn, thách thức. Do vậy, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam một mặt cần tiếp tục phát huy và hoàn thiện những lợi thế vốn có, mặt khác cần mạnh dạn áp dụng các loại hình tín dụng mới tạo ra sự phong phú đa dạng trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, trở thành người đồng hành đáng tin cậy và hữu ích của các doanh nghiệp Xuất nhập khẩu Việt Nam.

Trong khuôn khổ của khóa luận tốt nghiệp, trên cơ sở vận dụng các biện pháp nghiên cứu lý luận và thực tiễn hoạt động tín dụng Xuất nhập khẩu tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, em đã mạnh dạn đề xuất một số ý kiến với mục đích đóng góp một phần nhỏ vào quá trình hoàn thiện hoạt động này tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, để Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam vẫn mãi giữ vững vị trí hàng đầu trong hệ thống ngân hàng Việt Nam về tín dụng Xuất nhập khẩu.

Hy vọng với các giải pháp cũng như kiến nghị mà em đưa ra trong bài khoá luận này phần nào không bị bỏ qua và trở thành một đóng góp nhỏ bé nhằm nâng cao chất lượng tín dụng Xuất nhập khẩu tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam. Khóa luận: Giải pháp chất lượng tín dụng XNK tại Vietcombank.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>> Khóa luận: Chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu ở NH Vietcombank

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Contact Me on Zalo
0877682993
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x