Luận văn: Giải pháp nâng cao quản lý đối với các khu công nghiệp là bài luận văn Thạc sĩ của tác giả bởi vì xuất phát từ công cuộc đổi mới năm 1986, để hướng tới xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó, tăng cường thu hút các nguồn lực để phát huy tiềm năng thế mạnh trong nước, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước, để thu hút đầu tư nước ngoài, thúc đẩy hoạt động xuất khẩu, tạo tiền đề hội nhập nền kinh tế Việt Nam với thế giới, mô hình KCX Tân Thuận được thành lập năm 1991. Dưới đây là đề tài: Quản lý nhà nước Đối với các khu công nghiệp trên địa bàn Tỉnh Quảng Ngãi, hy vọng sẽ có ích cho các bạn đọc giả.
Nội dung chính
3.1. Định hướng phát triển các Khu công nghiệp Quảng Ngãi
3.1.1. Định hướng phát triển Khu kinh tế, Khu công nghiệp của Đảng, Chính phủ
Nghị quyết số 13-NQ/TW Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI cũng đưa ra 10 định hướng lớn xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ nhằm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020, trong đó có định hướng phát triển kết cấu hạ tầng KCN, KKT và nêu rõ: “Phát triển đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng khu công nghiệp, khu kinh tế. Không lấy đất lúa để xây dựng các khu công nghiệp mới. Đến năm 2015, giải quyết cơ bản tình trạng thiếu nhà ở và các hạ tầng xã hội thiết yếu như nhà trẻ, mẫu giáo, trường học, cơ sở khám chữa bệnh… cho lao động các khu công nghiệp. Đến năm 2020, hoàn chỉnh các công trình kết cấu hạ tầng trong các khu công nghiệp, khu kinh tế, đặc biệt là các công trình hạ tầng xã hội và xử lý nước thải, rác thải.”
Thu hút đầu tư có chọn lọc, có định hướng theo ngành nghề phù hợp với điều kiện phát triển của từng địa phương; Ưu tiên thu hút các ngành công nghiệp phụ trợ, các dự án có công nghệ tiên tiến, thân thiện với môi trường; chú trọng tính liên kết ngành trong phát triển KCN, KCX, KKT; Xúc tiến đầu tư vào KCN, KCX, KKT theo trọng tâm, trọng điểm tập trung vào các đối tác tiềm năng; Xây dựng kết cấu hạ tầng KCN, KCX, KKT đúng tiến độ, theo quy hoạch được duyệt và đảm bảo hiệu quả sử dụng đất; Đa dạng hóa các hình thức huy động các nguồn vốn đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng KCN, KCX, KKT; Rà soát hoạt động của các dự án đầu tư vào KCN, KCX, KKT,
3.1.2. Quan điểm và định hướng phát triển các Khu công nghiệp Quảng Ngãi
Quan điểm phát triển
- Quy hoạch phát triển công nghiệp tỉnh Quảng Ngãi với quan điểm phát triển công nghiệp là nhiệm vụ quan trọng trong sự phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh, góp phần đưa tỉnh Quảng Ngãi trở thành tỉnh có công nghiệp phát triển, thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nói chung, của khu vực trọng điểm miền Trung nói riêng; là địa bàn giữ vị trí chiến lược quan trọng về quốc phòng, an ninh của khu vực miền Trung và cả nước. Trong đó khẳng định:
- Phát triển công nghiệp hiệu quả, bền vững và làm nền tảng các ngành dịch vụ, hỗ trợ phát triển, phát huy lợi thế của tỉnh trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, đảm bảo tính liên kết trên cơ sở phân bố hợp lý về không gian lãnh thổ, về cơ cấu ngành công nghiệp.
- Phát triển công nghiệp có chọn lọc, tập trung ưu tiên phát triển những ngành hàng và sản phẩm sử dụng công nghệ hiện đại, kỹ thuật tiên tiến, có hàm lượng chất xám cao, có giá trị gia tăng cao; coi trọng phát triển công nghiệp hỗ trợ và công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng cao cấp và hàng xuất khẩu. Tạo chuyển biến cơ bản về cơ cấu nội bộ ngành công nghiệp theo hướng công nghiệp sạch và giá trị gia tăng cao; thay đổi chất lượng nội bộ ngành phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh.
- Phát triển công nghiệp trên cơ sở phát triển khoa học công nghệ và nguồn nhân lực có trình độ cao; phát huy tối đa mọi nguồn lực, chủ động nhập kinh tế quốc tế để tranh thủ các nguồn lực bên ngoài, nâng cao hợp tác quốc tế, hợp tác liên tỉnh, liên vùng, liên ngành. ( Luận văn: Giải pháp nâng cao quản lý đối với các khu công nghiệp )
- Chú trọng phát triển các ngành nghề truyền thống và các ngành nghề tạo sản phẩm phục vụ dịch, nhằm tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, rút ngắn dần khoảng cách về kinh tế – xã hội giữa nông thôn với thành thị, đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa nông nghiệp và nông thôn.
- Phát triển công nghiệp phải gắn liền với yêu cầu bảo vệ môi trường và phát triển bền vững, đảm bảo ổn định xã hội và an ninh quốc phòng.
Trong đó, tập trung đầu tư hoàn chỉnh cơ sở hạ tầng các KCN hiện có, đặc biệt chú trọng đầu tư các trạm xử lý chất thải tập trung trong các KCN. Thúc đẩy xây dựng các KCN mới, trong đó ưu tiên đầu tư hạ tầng KCN Phổ Phong nhằm thu hút đầu tư để thúc đẩy phát triển vùng phía Nam của tỉnh.
- Định hướng phát triển các Khu công nghiệp Quảng Ngãi đến 2025.
Định hướng phát triển các KCN đã được đề cập trong các Nghị quyết của tỉnh Đảng bộ lần thứ XVIII (Nghị quyết 01-NQ/TU ngày 24/6/2011 của Tỉnh ủy; Đề án phát triển công nghiệp của tỉnh Quảng Ngãi) và các Nghị quyết chuyên đề phát triển công nghiệp của tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2011- 2015 và định hướng đến năm 2020. Chủ trương phát triển các KCN bền vững và theo chiều sâu được đề ra tại Nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ lần thứ 18: “Tiếp tục đầu tư hoàn thiện kết cấu hạ tầng, thu hút đầu tư các ngành nghề theo định hướng, kịp thời mở rộng và phát triển một số khu, cụm công nghiệp làng nghề khi có đủ điều kiện, khuyến khích mở rộng quy mô, chất lượng, nâng cao tính cạnh tranh của các sản phẩm công nghiệp. Phấn đấu thu hút đầu tư tại các KCN giai đoạn 2016-2020 đạt khoảng 600 tỷ đồng; đến năm 2020, tỷ lệ lấp đầy tại KCN Phổ Phong đạt 100% diện tích”. Nghị quyết của tỉnh Đảng bộ lần thứ XIX (2016- 2020) vẫn tiếp tục phát triển công nghiệp như trên.
Về định hướng không gian phát triển công nghiệp, các KCN tập trung gồm: Tập trung phát triển các KCN hiện có, tiến hành lập phê duyệt quy hoạch phân khu xây dựng KCN Đồng Dinh 150ha. Đến năm 2025 đề nghị Chính phủ cho quy hoạch và thành lập KCN Phổ Khánh, huyện Đức Phổ ở khu vực gần biển, kết nối với đường ven Biển Dung Quất – Sa Huỳnh với quy mô diện tích khoảng 200ha, với điều kiện KCN Đồng Dinh lấp đầy khoảng 60%, ngành nghề chế biến và dịch vụ hậu cần nghề cá, đóng mới sửa chữa tàu thuyền,… Bên cạnh đó, phát triển các nghành công nghiệp sạch, có kỹ thuật cao để không có ảnh hưởng đến cảnh quan du lịch, môi trường khu vực. Đồng thời bố trí các cụm công nghiệp tại vị trí phù hợp trong khu vực các huyện và đô thị thuộc huyên. Về định hướng thiết kế đô thị, phát triễn kỹ thuật theo hướng bền vững.
3.2. Phương hướng hoàn thiện quản lý nhà nước đối với các Khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi ( Luận văn: Giải pháp nâng cao quản lý đối với các khu công nghiệp )
Các phương hướng được đặt ra đối với các KCN được thể hiện trên một số mặt như sau:
- Phát triển các Khu công nghiệp theo quy hoạch
Thu hút các dự án đầu tư để phát triển các KCN cần phải theo một quy hoạch thống nhất, cần có chính sách ưu tiên phát triển ngành trong từng khu công nghiệp dựa trên lợi thể của từng khu công nghiệp, thực hiện một sự phân công hợp tác giữa các KCN các tỉnh, các địa phương gắn với nhu cầu thị trường trong và ngoài nước.
- Xây dựng chuẩn mực và cơ cấu lại các khu công nghiệp
Xây dựng chất lượng KCN ngang tầm khu vực và quốc tế, xác định tiêu chuẩn các xí nghiệp đầu tư vào khu công nghiệp về quy mô, ngành nghề và công nghệ để tạo được hiểu quả đầu tư cao. Đối với một số KCN cần định hướng phát triển các nghành sản xuất tư liệu sản xuất, các ngành công nghiệp nặng, các ngành có hàm lượng khoa học và vốn cao.
- Cải thiện cơ sở hạ tầng tại các khu công nghiệp
Đẩy mạnh xây dựng cơ sở hạ tầng, tập trung đầu tư hoàn thiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật dịch vụ và xã hội trong KCN, bảo đảm tính đồng bộ, thuận tiện thỏa mãn khách hàng. Kết quả hoạt động và phát triển KCN không được gây hệ quả tiêu cực cho khu vực về giao thông, môi trường và tệ nạn xã hội.
- Phát triển các cụm dân cư
Phát triển các KCN phải kết hợp chặt chẽ với quy hoạch và quá trình đô thị hóa, phân bố dân cư, theo hướng hình thành mạng lưới đô thị hài hòa, rộng thoáng, kiên quyết tránh tập trung xây dựng các đô thị lớn tạo ra sự quá tải về kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội ở đô thị. Không thể mỗi KCN đều xây dựng các cụm dân cư riêng rẽ, điều đó đứa đến phá vỡ quy hoạch đô thị hóa, cũng như làm tăng chi phí xây dựng KCN, giảm hiệu quả các KCN.
- Sử dụng đất và tình trạng ô nhiễm môi trường ở các khu công nghiệp ( Luận văn: Giải pháp nâng cao quản lý đối với các khu công nghiệp )
Cần tập trung lấp đầy và phát triển hiệu quả các KCN đã có, khi nào các khu công nghiệp lấp đầy từ 60% trở lên diện tích thì mới cho phép triển khai các khu công nghiệp tiếp theo. Những dự án đầu tư vào KCN phải hoàn tất các hạng mục công trình xử lý chất thải mới được phép hoạt động; phải tiến hành xây dựng trạm xử lý nước thải tập trung. Cần có biện pháp phối hợp giữa các KCN và các địa phương trong bảo vệ môi trường, tránh gây ô nhiễm cho nhau.
- Tạo môi trường đầu tư thuận lợi
Cải thiện các KCN chỉ là điều kiện cần, nhưng chưa đủ. Điều kiện nền tảng nhất là chính sách thu hút đầu tư. Nhà nước cần có chính sách thu hút đầu tư để giảm giá đầu vào nhiên liệu, nguyên liệu, vật liệu, thuế..
- Quản lý và chính sách phát triển khu công nghiệp
Chính sách nhà nước tác động quan trọng đến phát triển các KCN cần không ngừng hoàn thiện các chính sách. Đẩy mạnh chuyển từ công tác quản lý hành chính sang công tác dịch vụ theo cơ chế một cửa trong quản lý phát triển các KCN. Cải cách hành chính và công nghệ thông tin trong quản lý. Đảm bảo quản lý thống nhất các KCN.
Chính sách ưu đãi các nhà đầu tư trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng các KCN: giá thuê đất, thuế. Chính sách phát triển cơ sở hạ tầng ngoài hàng rào đấu nối với KCN phát triển các công trình xã hội phục vụ phát triển các KCN.
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, đặc biệt hỗ trợ tài chính để thu hút các doanh nghiệp vào KCN.
Trên đây là một số phương hướng cơ bản đặc ra đối với phát triển KCN. Cần có nhận thức đúng, từ đó có chính sách đúng thì các KCN mới phát triển đúng hướng phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của đất nước nói chung và tỉnh Quảng Ngãi nói riêng.
Có thể bạn quan tâm:
3.3. Giải pháp tiếp tục hoàn thiện quản lý nhà nước đối với các Khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi ( Luận văn: Giải pháp nâng cao quản lý đối với các khu công nghiệp )
Công tác quản lý nhà nước đối với các KCN ngày càng được hoàn thiện nhằm phát huy thế mạnh, nâng cao hiệu quả đối với hoạt động các KCN. Để đạt được điều này, đảng bộ và chính quyền tỉnh Quảng Ngãi cần tập trung vào một số giải pháp chủ yếu sau đây:
3.3.1. Nâng cao chất lượng quy hoạch Khu công nghiệp và tổ chức thực hiện tốt quy hoạch các Khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
Quy hoạnh được coi là một yếu tố quan trọng giúp xác định khuôn khổ và phương hướng cho sự phát triển của KCN, ảnh hưởng đến sự phát triển của KCN. Mặc dù Nghị định 82/218/NĐ-CP thay thế nghị định 29/2008/NĐ-CP đã tạo ra khung pháp lý quan trọng giúp nâng cao tính thực thi cho việc xây dựng và thực hiện quy hoạch các KCN. Tuy nhiên, hiện tại công tác quy hoạch trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi vấn còn tồn tại nhiều bất cập, cần được tiếp tục hoàn thiện. Trên cơ sở quy hoạch tổng thể và phát trển KT-XH của tỉnh Quảng Ngãi, quy hoạch phát triển công nghiệp tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn đến năm 2020 đã được Chính phủ phê duyệt, cần lập và điều chỉnh quy hoạch chi tiết cho các KCN theo chuyên ngành, theo từng lĩnh vực cụ thể (KCN hóa chất, cơ khí – luyện kim, đóng tàu, vật liệu xây dựng, hàng tiêu dùng, chế biến thực phẩm…). Đồng thời, chú trọng công tác quy hoạch “quỹ đất”, chuẩn bị sẵn quỹ đất để khi các nhà đầu tư có ý định đầu tư, hoặc đã vào đầu tư thì sẽ không gặp trục trặc hay khó khăn ở khâu tìm kiếm quỹ đất. Để làm được điều này thì công tác quy hoạch phát triển các KCN của tỉnh Quảng Ngãi phải được xây dựng một cách khoa học, hợp lý và việc thực hiện phải đồng bộ
- Xây dựng quy hoạch các khu công nghiệp khoa học, hợp lý
Tỉnh Quảng Ngãi cần sớm có kế hoạch tập trung xây dựng đồng bộ các quy hoạch chuyên ngành, lĩnh vực, xây dựng, sử dụng đất cũng như điều chỉnh các quy hoạch đã lạc hậu để làm cơ sở phát triển các KCN. Chất lượng của một số đồ án quy hoạch phụ thuộc nhiều vào trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ nghiêm cứu. Vì vậy, cần chọn lọc đội ngũ cán bộ quy hoạch giỏi, có tầm nhìn chiến lược. Nếu cần, có thể bố trí ngân sách mời hoặc thuê các chuyên gia, các cán bộ có kinh nghiệm và trình độ trong ngành để nâng cao chất lượng và tính chuyên nghiệp của công tác quy hoạch. Quy hoạch phát triển các KCN cho tỉnh cần chú ý những nội dung quan trọng sau:
Thứ nhất, quy hoạch phát triển các KCN phải đồng bộ với quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH của tỉnh; quy hoạch phát triển công nghiệp; quy hoạch sử dụng đất; quy hoạch phát triển đô thị liền kề; quy hoạch phát triển hệ thống hạ tầng kỹ thuật, xã hội.
Thứ hai, quy hoạch các KCN phải chấp hành đúng quy định về tỷ lệ lấp đầy KCN hiện có khi mở rộng và bổ sung quy hoạch KCN mới của tỉnh theo Nghị định số 82/218/NĐ-CP của Chính phủ. Từ đó, có căn cứ và lộ trình điều chỉnh quy hoạch KCN cho phù hợp với yêu cầu phát triển của từng thời kỳ, đảm bảo yêu cầu tiết kiệm tài nguyên đất. Tránh tình trạng tỷ lệ sử dụng đất KCN thấp, để đất hoang hóa trong khi người dân không có đất sản xuất hoặc thiếu đất công nghiệp cho thuê, lỡ mất cơ hội phát triển của tỉnh. ( Luận văn: Giải pháp nâng cao quản lý đối với các khu công nghiệp )
Thứ ba, công tác quy hoạch phát triển KCN cần xác định rõ vị trí có thể xây dựng các khu công nghiệp cũng như các ngành nghề cụ thể được phép đầu tư vào những vị trí này. Các KCN không nên bố trí quá gần các tuyến giao thông huyết mạch mà phải đảm bảo không ảnh hưởng tiêu cực tới sự tồn tại bền vững của các nguồn tài nguyên (nguồn nước, nguồn tài nguyên rừng, cảnh quan thiên nhiên…)
Thứ tư, quy hoạch các KCN phải đảm bảo nâng cao chất lượng và hiệu quả từng KCN trong thu hút đầu tư theo hướng chuyên môn hóa, tránh trùng lắp, chồng chéo và phát huy được thế mạnh của mỗi khu công nghiệp.
Thứ năm, cần quy hoạch về quy mô diện tích tối thiểu cho từng loại KCN nhằm đảm bảo hiệu quả hoạt động và tổ chức quản lý.Thực tế quy mô các KCN trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi hiện nay cho thấy có một số KCN có diện tích chỉ từ 90 – 160 ha. Việc phát triển các KCN có quy mô quá lớn hoặc quá nhỏ sẽ khó đảm bảo tính chất bền vững của chính KCN. Với KCN có diện tích quá lớn sẽ khó lấp đầy, gây lãng phí nguồn tài nguyên đất; còn KCN quá nhỏ thì việc đầu tư cơ sở hạ tầng, hệ thống quản lý môi trường và các dịch vụ đi kèm sẽ gặp nhiều khó khăn và không đảm bảo hiệu quả hoạt động. Qua nghiên cứu thực tế, có thể đưa ra quy định, quy mô tối thiểu để đưa vào quy hoạch các KCN là 200 ha.
Thứ sáu, chuyển từ KCN sản xuất kinh doanh đơn thuần sang KCN kết hợp sản xuất kinh doanh với nghiên cứu ứng dụng công nghệ cao, góp phần gia tăng hàm lượng công nghệ trong sản phẩm để nâng cao sức cạnh tranh và phát triển bền vững. Sản xuất công nghiệp ứng dụng công nghệ cao là việc áp dụng tổng hợp những giải pháp kỹ thuật, những công nghệ mới (tiên tiến, hiện đại) vào sản xuất, bao gồm: công nghiệp hóa, cơ giới hóa, tự động hóa, công nghệ thông tin, công nghệ hóa học, công nghệ sinh học… Từ đó, tạo ra những sản phẩm, hàng hóa có năng suất, chất lượng và tính cạnh tranh cao nhưng không tổn hại đến môi trường hiện tại và tương lai. Mục tiêu kết hợp sản xuất kinh doanh với nghiên cứu ứng dụng công nghệ cao khi quy hoạch các KCN đó là hiệu quả kinh tế, là đầu tàu thúc đẩy sản xuất, nghiên cứu, đồng thời, góp phần phát triển các KCN của tỉnh. Tỉnh cần xác định khu công nghiệp chủ yếu sản xuất hàng hóa, sản phẩm gì. Từ đó định hướng lựa chọn công nghệ cao áp dụng cho phù hợp và xây dựng cơ sở vật chất đáp ứng yêu cầu phát triển. Đồng thời, nhà nước cần có chính sách ưu đãi, hỗ trợ về thuế, tạo điều kiện cho vay vốn… đối với doanh nghiệp đầu tư sản xuất kinh doanh ứng dụng công nghệ cao, khuyến khích doanh nghiệp ứng dụng kỹ thuật hiện đại vào quá trình sản xuất để nâng cao chất lượng sản phẩm. Tỉnh cần ưu tiên thu hút các dự án công nghệ tiên tiến, thân thiện với môi trường. ( Luận văn: Giải pháp nâng cao quản lý đối với các khu công nghiệp )
Thứ bảy, quy hoạch các KCN phải đảm bảo tính đồng bộ của các yếu tố cơ sở hạ tầng về kinh tế, xã hội và môi trường nhằm đảm bảo cho sự phát triển bền vững không những trong nội tại KCN mà cả các khu vực xung quanh. Để làm được điều này thì quy hoạch xây dựng KCN phải tính đến đầy đủ các yếu tố phát triển kinh tế – xã hội của địa phương các KCN. Quy hoạch KCN không chỉ là xác định số lượng bao nhiêu, quy mô như thế nào, vị trí đặt ở đâu mà cần tính đến những tác động có thể (đặc biệt là những tác động tiêu cực) đối với KCN về mặt xã hội và môi trường. Xây dựng KCN không phải chỉ với mục tiêu thu hút vốn đầu tư bằng mọi cách mà còn phải đặt ra những yêu cầu khác như: tính hiệu quả, tính bền vững và khả năng lan tỏa cho các khu vực khác… Hoàn thiện quy hoạch và quản lý quy hoạch phát triển KCN đảm bảo đồng bộ, từ hạ tầng cơ sở trong và ngoài KCN đến hạ tầng liên quan gắn liền với khu tái định cư, nhà ở cho công nhân và các công trình dịch vụ, tiện ích công cộng, bảo vệ môi trường,… đặc biệt là quy hoạch để bảo vệ môi trường, nâng cấp và hoàn thiện các địa điểm lưu trữ, trung chuyển chất thải rắn, các trạm xử lý nước thải tập trung.
- Tổ chức thực hiện quy hoạch đồng bộ, thống nhất
Kết quả Quy hoạch có đi vào cuộc sống được hay không phụ thuộc nhiều vào công tác quản lý và tổ chức thực hiện quy hoạch; trình độ hiểu biết nhất định về chuyên môn của các nhà điều hành quản lý; sự phối hợp của các ban ngành và sự đồng thuận của cộng đồng. Nhiều kết quả quy hoạch tốt sẽ không triển khai được hoặc bị “ biến dạng” ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững cũng chính do sự hạn chế của công đoạn này. Do đó, cần có sự đồng bộ và thống nhất trong công tác tổ chức thực hiện quy hoạch đối với các nội dung:
- Cụ thể hóa các nội dung quy hoạch vào các chương trình nghị sự, chương trình làm việc của các cấp ủy, chính quyền cơ sở; trong các kế hoạch 5 năm, hằng năm. Chẳng hạn như là: Cụ thể hóa các nội dung quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội, quy hoạch phát triển công nghiệp, quy hoạch đất đai, chỉnh trang đô thị …của quốc gia, của vùng, của tỉnh để đảm bảo quy hoạch được thực hiện đồng bộ và có hiệu quả.
- Rà soát các quy hoạch có sử dụng đất đang bị coi là “treo” để có biện pháp xử lý kịp thời theo hướng: quy hoạch có thể thực hiện sớm thì đề nghị tập trung nguồn lực để thực hiện ngay, không để kéo dài; quy hoạch xét cần nhưng trước mắt chưa có khả năng thực hiện được thì điều chỉnh mốc thời gian thực hiện quy hoạch; quy hoạch không hợp lý về quy mô diện tích đất thì phải điều chỉnh quy mô; quy hoạch bất hợp lý, không có tính khả thi thì phải quyết định hủy bỏ ngay.
- Phải có biện pháp thích hợp hoặc thu hồi nếu cần thiết đối với các trường hợp nhà đầu tư đăng ký và nhận đất nhưng không thực hiện hoặc không thể thực hiện dự án; các trường hợp nhà đầu tư tích trữ đất và hoặc động sai với mục đích ban đầu đã đăng ký… Có thể áp dụng một số biện pháp khác như là: xử phạt đối với doanh nghiệp, nhà đầu tư thực hiện sai mục đích đăng ký. Đối với một số trường hợp không thể thực hiện do nguyên nhân khách quan như thiếu vốn để triển khai, vướng mắc về thủ tục hành chính thì tỉnh cần có chính sách hỗ trợ về vốn, tạo điều kiện về thủ tục để thuận lời cho nhà đầu tư triển khai thực hiện dự án theo đúng tiến độ quy hoạch. ( Luận văn: Giải pháp nâng cao quản lý đối với các khu công nghiệp )
- Tiến hành xác định ranh giới quy hoạch KCN trên địa bàn tỉnh. Căn cứ bản đồ quy hoạch KCN, các cơ quan chức năng tiến hành xác định ranh giới quy hoạch cụ thể trên thực tế, cắm mốc hoặc xây dựng hàng rào để xác định ranh giới quy hoạch, công bố rộng rãi quy hoạch trên phương tiện thông tin đại chúng để tổ chức, nhân dân nắm rõ phần lãnh thổ được quy hoạch xây dựng KCN. Giao ủy ban nhân dân các xã, phường, huyện quản lý chặc chẽ lãnh thổ được quy hoạch. Tránh tình trạng chia ô trong đầu tư xây dựng và các hộ dân lấn chiếm đất đai, xây dựng trái phép, phá vỡ quy hoạch.
- Công bố rộng rãi quy hoạch đã được phê duyêt và điều chỉnh, phổ biến và vận động nhân dân tham gia thực hiện quy hoạch. Từ đó, giảm thiểu tình trạng một số nhà đầu tư phải “hối lộ” các cán bộ công chức để nắm thông tin kế hoạch, quy hoạch cũng như tình trạng một số người nắm bắt được thông tin, biết rõ vị trí, địa điểm quy hoạch rồi đầu cơ tích trữ đất đai.
- Phân công bộ phận giúp việc theo dõi, đánh giá chặt chẽ thực hiện quy hoạch phát triển KCN như: vị trí KCN trên thực tế đã được xây dựng đúng diện tích theo quy hoạch chưa, tỷ lệ sử dụng đất công nghiệp trong các KCN đã cho các nhà đầu tư thuê đã đảm bảo theo quy hoạch chưa… để từ đó có chính sách điều chỉnh kịp thời và xử lý nghiêm minh các KCN cố tình làm trái các quy định, quy hoạch KCN của Nhà nước.
- Quy hoạch KCN cần có sự điều chỉnh định kỳ để phù hợp với diễn biến thực tế. Nên đánh giá và điều chỉnh quy hoạch theo định kỳ 3 năm đối với quy hoạch chi tiết, quy hoạch phân khu xây dựng, 5 năm đối với quy hoạch chung, phù hợp với kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh, vùng lãnh thổ và của quốc gia. Việc quy hoạch phát triển KCN cần dựa trên các căn cứ dự báo về tốc độ phát triển công nghiệp của tỉnh. Để đảm bảo về quy hoạch các KCN được thực hiện phù hợp với tình hình phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh, vùng lãnh thổ và của quốc gia thì trong quá trình thực hiện quy hoạch luôn phải có đánh giá tiến độ thực hiện quy hoạch, qua đó, xác định những vấn đề còn vướng mắc, thực hiện chưa tốt để điều chỉnh cho phù hợp, có như vậy thì quy hoạch mới đảm bảo thực hiện hiệu quả,góp phần phát triển KCN theo đúng định hướng và phù hợp với tiến trình phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh, vùng lãnh thổ và của quốc gia.
3.3.2. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật có liên quan đến sự phát triển các khu công nghiệp trên địa bàn Quảng Ngãi ( Luận văn: Giải pháp nâng cao quản lý đối với các khu công nghiệp )
Văn bản pháp luật và căn cứ, cơ sở quan trọng, là công cụ thể chế hóa quyền lực nhà nước. Công tác QLNN dù ở bất kỳ lĩnh vực nào cũng chú trọng đến các văn bản pháp lý ở trung ương và các địa phương. Trong thời gian qua, việc ban hành các văn bản pháp luật ở lĩnh vực công nghiệp và phát triển các KCN trên địa bàn tỉnh vẫn còn nhiều hạn chế như đã đề cập ở chương II. Để góp phần khắc phục những hạn chế, yếu kém, tác giả kiến nghị một số giải pháp cơ bản để hoàn thiện hệ thống pháp luật là cơ sở cho quản lý nhà nước đối với KCN trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi như sau:
3.3.2.1. Rà soát lại những văn bản thuộc lĩnh vực phát triển các KCN và những văn bản có liên quan.
Trên cơ sở đó, lập danh sách thứ tự các văn bản còn hiệu lực ban hành. Tiến hành thông báo danh sách cho các cơ quan, đơn vị trực thuộc phối hợp, liên quan. Sắp xếp các văn bản hiện hành hợp lý theo ngành và lĩnh vực liên quan cho dễ tra cứu và áp dụng. Sau đó, thông báo đến các cơ quan liên quan về những văn bản đó. Bãi bỏ những văn bản không còn hiệu lực. Đề xuất ra văn bản mới có thế áp dụng vào thời điểm mới. Cụ thể là:
- Đẩy nhanh tiến độ xây dựng Dự án Luật KCN, KKT để tạo hành lang pháp lý đầy đủ, vững chắc hơn cho nhiệm vụ phát triển các KCN,
- Tiếp tục hoàn thiện các quy định về bảo vệ môi trường KCN. Trong những năm qua, vấn đề môi trường KCN đã thu hút sự quan tâm chú ý của các cấp chính quyền từ Trung ương đến địa phương, nhiều văn bản pháp luật điều chỉnh vấn đề môi trường được ban hành, song thực tế tình trạng ô nhiễm môi trường trong các KCN nói chung và KCN trên địa bàn ttỉnh Quảng Ngãi nói riêng ngày càng gia tăng. Một trong những nguyên nhân là do nhiều quy định đã trở nên lạc hậu, có chế tài chưa đủ sức răn đe. Do vậy, trong thời gian đến, Nhà nước cần có những quy định cụ thể về vấn đề môi trường KCN, sửa đổi các quy định không còn phù hợp theo hướng ưu đãi cho các doanh nghiệp đầu tư xử lý chất thải KCN sao cho đủ mức độ khuyến khích. Quy định chặt chẽ trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc chấp hành các quy định pháp luật về môi trường. Có chế tài mạnh xử lý những trường hợp vi phạm.
- Hoàn thiện các quy định pháp luật về tổ chức bộ máy quản lý các KCN, nhất là cần sớm sửa đổi, bổ sung hoặc xây dựng mới Luật Thanh tra và những văn bản có liên quan, trong đó quy định về tổ chức, hoạt động của Thanh tra Ban quản lý các KCN, KKT để tổ chức này hoạt động có hiệu quả, phát huy vai trò thanh tra, kiểm tra, giám sát các hoạt động của KCN, KKT diễn ra theo đúng pháp luật. ( Luận văn: Giải pháp nâng cao quản lý đối với các khu công nghiệp )
- Tiếp tục hoàn thiện các quy định về đầu tư liên quan đến KCN. Hiện nay, các quy định pháp luật về đầu tư nói chung và liên quan đến phát triển các KCN đã được thay đổi rất nhiều. Tuy nhiên, thủ tục hành chính liên quan đến việc đăng ký cấp giấy chứng nhận đầu tư, đăng ký thẩm tra cấp giấy chứng nhận đầu tư vẫn còn rườm rà. Do vậy cần phải sửa đổi, bổ sung theo hướng ngày càng đơn giản, bỏ bớt những thủ tục không cần thiết để tạo thuận lợi cho nhà đầu tư phát triển
- Hoàn thiện các quy định về công ty phát triển hạ tầng KCN, là một trong những đối tượng quan trọng của QLNN đối với KCN, hoạt động của đối tượng này có ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả của QLNN đối với KCN. Tuy nhiên, hiện nay, nhiệm vụ, quyền hạn của công ty phát triển hạ tầng KCN không được quy định cụ thể, gây khó khăn cho các cơ quan QLNN. Do vậy, cần quy định bổ sung nhiệm vụ, quyền hạn của công ty phát triển hạ tầng
3.3.3.2. Nâng cao chất lượng hoạt động xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến khu công nghiệp
Đây là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Việc xây dựng ban hành văn bản pháp luật trong lĩnh vực liên quan đến phát triển các KCN cần được chú ý ở các khâu:
- Cần nhận thức đầy đủ về vị trí, vai trò của hoạt động xây dựng pháp luật về kinh tế nói chung, về KCN nói riêng. Coi đây là hoạt động thiết yếu của Nhà nước để quản lý nền kinh tế, quản ký hoạt động các KCN để đảm bảo hoạt động có hiệu quả, đóng góp vào sự phát triển chung của đất nước.
- Tiến hành rà soát, đánh giá hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trong từng ngành, lĩnh vực có liên quan đến hoạt động của các KCN để kịp thời phát hiện những văn bản có nội dung chồng chéo, mâu thuẫn, sai trái hoặc không còn phù hợp với tình hình phát triển kinh tế – xã hội; xây dựng những văn bản, quy định cần ban hành mới, sửa đổi, bổ sung để đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ và khả thi của hệ thống pháp luật về tổ chức và hoạt động của KCN.
- Hoàn thiện cơ chế xây dựng pháp luật theo hướng: có sự phân công, phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan ban ngành; cơ quan chủ trì soạn thảo; cơ quan tổ chức và cá nhân tham gia soạn thảo, thẩm tra; doanh nghiệp KCN; công ty phát triển hạ tầng KCN tham gia góp ý. Ngoài ra, để nâng cao chất lượng của văn bản pháp luật về KCN cần chú trọng sử dụng các chuyên gia sau về lĩnh vực pháp luật cần ban hành.
- Hoàn thiện quy trình xây dựng ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo hướng chủ yếu Quốc hội ban hành văn bản luật để quản lý hệ thống KCN; Chính phủ ban hành văn bản hướng dẫn thi hành luật, giảm dần việc các bộ ban hành Thông tư hướng dẫn. Áp dụng nguyên tắc soạn thảo cùng một lúc văn bản chính ban hành và văn bản hướng dẫn thi hành văn bản chính chỉ được ban hành khi đã cơ bản chuẩn bị xong văn bản hướng dẫn để tránh việc triển khai thực hiện Luật lúng túng trên thực tế một thời gian dài phải chờ đợi hướng dẫn thi hành Luật.
3.3.3. Hoàn thiện các chính sách có liên quan đến phát triển các khu công nghiệp trên địa tỉnh Quảng Ngãi ( Luận văn: Giải pháp nâng cao quản lý đối với các khu công nghiệp )
Chính sách kinh tế và cơ chế của nó một khi được xác lập đúng đắn và kịp thời có tác dụng như những đòn bẩy kích thích tăng trưởng và phát triển kinh tế nhanh chóng và bền vững. Và ngược lại, khi xác lập không đúng và không kịp thời sẽ dẫn đến phản tác dụng và gây ra những hệ lụy đáng tiếc khó lường. Vì vậy, cần thường xuyên theo dõi rà soát phát hiện những nội dung nào trong từng chính sách, cơ chế không cò phù hợp với thực tế hiện nay (nhất là những biến động của lạm phát và sự tăng nhanh không bình thường của giá cả, bối cảnh hợp tác và hội nhập quốc tế, biến động của nền KTTT), hoặc chính sách cơ chế còn thiếu, chưa đồng bộ hoặc mâu thuẫn làm triệt tiêu tác dụng lẫn nhau, cần kịp thời điều chỉnh, bổ sung, hoặc thay đổi ban hành chính sách và cơ chế mới cho phù hợp. Liên quan đến việc hoàn thiện QLLN đối với các KCN trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, các chính sách và cơ chế sau đây cần được quan tâm:
Thứ nhất, tiếp tục đổi mới bổ sung và điều chỉnh chính sách về thuế cho phù hợp đảm bảo các doanh nghiệp đầu tư trong KCN phải được hưởng ưu đãi nhiều hơn so với đầu tư ngoài KCN;
Thứ hai, tiếp tục điều chỉnh, bổ sung vào hoàn thiện một số chính sách liên quan đến đất đai phát triển khu công nghiệp.
Chính sách chuyển đổi mục đích sử dụng đất đai, từ đất nông nghiệp sang đất xây dựng đô thị, đất công nghiệp, chính sách này khi thực thi tất yếu làm cho đất nông nghiệp bị thu hẹp, thu nhập và công ăn việc làm của những người dân mất đất. Do vậy trong quá trình điều chỉnh, bổ sung chính sách cần kết hợp một cách hài hòa giữa sự phát triển công nghiệp với nông nghiệp gắn với chính sách an ninh lương thực và coi trọng tạo công ăn việc làm mới cho nông dân khi không còn đất. Cần có một số chính sách ưu đãi về đất đai đối với các nhà đầu tư vào KCN như là: miễn tiền thuê đất, thuê mặt nước đối với các dự án đầu tư thuộc lĩnh vực đặc biệt ưu đãi đầu tư (sản xuất vật liệu mới, năng lượng mới; sản xuất sản phẩm công nghệ cao, công nghệ sinh học, công nghệ thông tin, cơ khí chế tạo…); miễn tiền sử dụng đất đối với các dự án đầu tư thuộc lĩnh vực đặc biệt ưu đãi đầu tư… ( Luận văn: Giải pháp nâng cao quản lý đối với các khu công nghiệp )
Thứ ba, hoàn thiện chính sách giải phóng mặt bằng liên quan đến giá tiền đền bù, nhà tái định cư và công ăn việc làm đối với những người phải di dời khi nhà nước thu hồi đất, thực hiện đền bù, giải phóng mặt bằng nhanh chóng. Có thể nhận thấy rằng khó khăn lớn nhất trong thu hút đầu tư là thiếu quỹ đất, mặt bằng “sạch” để bàn giao cho nhà đầu tư ngay khi các nhà đầu tư vào các KCN. Phần lớn, các dự án đầu tư bị vướng mắc ở khâu đền bù, giải phóng mặt bằng. Không giải phóng được mặt bằng dự án chậm triển khai, vốn đầu tư bị tồn đọng, cơ hội đầu tư bị trôi qua. Về phía địa phương sẽ dẫn đến nguy cơ làm thu hẹp khả năng tận dụng nguồn vốn để đầu tư phát triển, giảm sức cạnh tranh của môi trường đầu tư tại tỉnh.Vì vậy, tỉnh Quảng Ngãi cần chỉ đạo các cấp,các ngành phối hợp thức hiện tốt công tác đền bù, GPMB, nhanh chóng giao đất cho nhà đầu tư triển khai dự án:
- Cần có những buổi họp dân, kết hợp với các phương tiện thông tin đại chúng đế đấy mạnh tuyên truyền rộng rãi cho người dân được biết các thông tin về quy hoạch,đặc biệt là quy hoạch sử dụng đất. Quy hoạch càng được công khai rộng rãi thì việc di dời giải tỏa càng tránh được sự phản ứng của người dân.
- Sở Tài chính tham mưu cho UBND tỉnh ban hành văn bản hướng dẫn các huyện, thành phố thưc hiện chính sách đền bù cụ thể cho người dân theo từng thời điểm. Căn cứ vào giá thị trường, áp dụng mức giá đền bù phù hợp đảm bảo hài hòa các lợi ích giữa Nhà nước, chủ đầu tư và người dân.
- Trung tâm phát triển quỹ đất thuộc tỉnh, huyện cần nêu cao vai trò, trách nhiệm của mình, tích cực, năng động, sáng tạo và chủ động trong việc tạo quỹ đất “sạch” cho tỉnh theo quy định pháp luật hiện hành. Khi thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư phải thực hiện đúng chính sách Nhà nước ban hành; Khi thu hồi đất, phải đảm bảo ổn định đời sống cho người dân có đất bị thu hồi, có biện pháp khắc phục ách tắc, kéo dài việc giải phóng mặt bằng.
- Một số hộ dân chưa chịu di dời vì Nhà nước chưa hoàn thiện cơ sở hạ tầng trong khu tái định cư và đền bù chưa thỏa đáng. Vì vậy, UBND tỉnh, cần chú trọng triển khai quy hoạch khu tái định cư trước khi thực hiện quy hoạch quỹ đất, bên cạnh đó luôn xem xét giá đất đền bù phù hợp để người dân, tránh gây phiền hà. Mặt khác, tiếp tục rà soát và đấu giá một số lô đất công, đặc biệt là những khu đất có vị trí sinh lời cao để tạo nguồn vốn cho xây dựng cơ bản, hỗ trợ chi phí đền bù giải tỏa.
- Đối với các trường hợp hộ dân lấn chiếm đất, xây dựng trái phép, không chịu di dời hoặc không hợp tác với cơ quan nhà nước kiểm kê áp giá đền bù thì cần phải có biện pháp xử lý nghiêm khắc và triệt để.
Thứ tư, hoàn thiện chính sách đảm bảo nguồn lao động cho KCN. Việc đảm bảo nguồn lao động cả về số lượng và chất lượng đóng vai trò quyết định đến sự phát triển của doanh nghiệp hoạt động trong KCN và KCN vì lao động được coi là một trong những yếu tố đầu vào quan trọng nhất của sản xuất. Để đảm bảo nguồn lao động đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp trong KCN thì phải thực hiện một số giải pháp sau: ( Luận văn: Giải pháp nâng cao quản lý đối với các khu công nghiệp )
- Tỉnh cần có chính sách đồng bộ về đào tạo cán bộ quản lý và đào tạo nghề cho người lao động trên địa bàn gắn với nhu cầu và quy hoạch phát triển các KCN. Kết hợp giữa đào tạo và đảm bảo các điều kiện về ăn, ở, sinh hoạt của người lao động trong KCN. Chính sách này được thể hiện thông qua các chủ trương xây dựng các khu dịch vụ hỗ trợ bên cạnh KCN, trong đó phát triển các loại hình cung cấp dịch vụ lưu trú,dịch vụ văn hóa, thể thao, dịch vụ thương mại cung cấp các sản phẩm cần thiết cho đời sống người lao động, có như vậy mới đảm bảo tạo điều kiện cho người lao động an tâm gắn bó lâu dài với địa bàn và Khuyến khích các thành phần kinh tế thành lập các cơ sở cung ứng lao động đảm nhận nhiệm vụ tuyển dụng lao động tại chỗ để bồi dưỡng và cung ứng cho các doanh nghiệp trong KCN.
- Khuyến khích và có ưu đãi cụ thể về hỗ trợ vay vốn, cho thuê đất giá thấp hơn thị trường, hướng dẫn thủ tục pháp lý để cho các thành phần kinh tế thành lập thêm các trường dạy nghề và mở rộng quy mô đào tạo lao động kỹ thuật tại địa bàn có KCN để có thể tạo nguồn lao động tại chỗ đáp ứng nhu cầu phát triển dài hạn của các KCN. Cơ cấu đào tạo cần dựa trên dự báo nhu cầu theo quy hoạch phát triển KCN và theo đơn đặt hàng trực tiếp của các doanh nghiệp trong KCN. Khuyến khích các hình thức đào tạo tại chức, ngoài giờ hành chính để tạo điều kiện cho người lao động học tập, nâng cao trình độ. Bên cạnh đó, tỉnh cần có chính sách khuyến khích và hỗ trợ các doanh nghiệp trong KCN tự đào tạo lao động, góp phần giải quyết tình trạng thiếu hụt lao động, đặc biệt là lao động kỹ thuật.
- Tỉnh cần có chính sách về phát triển các phương tiện giao thông công cộng, xây dựng nhà ở, nhà trọ cho công nhân, đây là một giải pháp để thu hút, tạo nguồn lao động dồi dào cho các KCN.
Thứ năm, hoàn thiện chính sách liên quan đến bảo vệ môi trường khu công nghiệp
- Tỉnh cần phải cho thực hiện khắc phục ngay trạm xử lý nước thải tập trung KCN Quảng Phú, với công suất 4.500m3/ngày đêm, đảm bảo về chất lượng công trình, công nghệ xử lý, khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường để dân khỏi tụ tập đông người, khếu nại kéo dài; đồng thời bố trí đủ nguồn kinh phí để thực hiện xây dừng hoàn thiện trạm xử lý nước thải tại KCN Tịnh Phong giai đoạn I, công suất 000m3/ngày đêm.
- Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra các doanh nghiệp về công tác bảo vệ môi trường nhằm ngăn chặn việc xả trộm nước thải vào hệ thống thoát nước mưa. Theo quy định hiện tại, tùy theo quy mô và tính chất, các dự án đầu tư và KCN có thể được phê duyệt về mặt bảo vệ môi trường bởi các cơ quan thẩm quyền cấp trung ương, cấp tỉnh hay cấp huyện. Trên thực tế, có nhiều cơ quan khác nhau có thẩm quyền, có chức năng kiểm tra về bảo vệ môi trường tại các khu công nghiệp, điều này dễ dẫn đến tình trạng chồng chéo trong quản lý hoặc gây phiền hà cho phía doanh nghiệp. Vì vậy, công tác thanh tra, kiểm tra cần có kế hoạch, tránh chồng chéo bằng cách cơ quan chủ thể chịu trách nhiệm chính công tác bảo vệ môi trường KCN phải lên kế hoạch kiểm tra và phối kết hợp với các cơ quan liên quan.
- Nâng cao vai trò trách nhiệm của các công ty phát triển hạ tầng KCN trong việc nắm tình hình, giám sát hoạt động bảo vệ môi trường, chủ động tổ chức một bộ phận lấy mẩu nước thải theo định kỳ hoặc đột xuất nhằm kiểm soát nồng độ ô nhiễm đầu ra của doanh nghiệp, đồng thời giúp giảm tải cho trạm xử lí nước thải tập trung
- Xây dựng một mạng lưới quan trắc môi trường nước thải KCN sau xử ly hiệu quả để từ đó các cơ quan chức năng thống nhất tổ chức thực hiện ứng dụng các công cụ tin học trong công tác quản lý môi trường tại các cơ quan quản lý nhà nước, khi thác và chia sẽ sử dụng kết quả quan trắc, kịp thời phát hiện các trường hợp xả thải không đạt tiêu chuẩn khi chủ đầu tư trạm xử lý nước thải có ý muốn “tăng nguồn thu, giảm chi phí xử lý”.
Thứ sáu, hoàn thiện chính sách thu hút đầu tư phát triển các khu công nghiệp ( Luận văn: Giải pháp nâng cao quản lý đối với các khu công nghiệp )
- Tạo điều kiện giảm thiểu chi phí kinh doanh cho các nhà đầu tư vào các KCN thông qua các chính sách trực tiếp và gián tiếp như: đẩy nhanh việc thực hiện công tác cải cách hành chính; giảm chi phí sử dụng các dịch vụ công cộng và chi phí duy tu bảo dưỡng cơ sở hạ tầng, thu chi phí theo mức độ hoạt động thực tế (tỉ lệ lấp đầy KCN, doanh thu, kim ngạch xuất khẩu…) để tạo điều kiện cho những doanh nghiệp còn khó khăn có điều kiện phát triển sản xuất.
- Tỉnh cần có cơ chế khuyến khích các thành phần kinh tế (kể cả các nhà đầu tư nước ngoài) tham gia đầu tư cơ sở hạ tầng khu công nghiệp theo quy hoạch, tăng tính cạnh tranh giữa các KCN và qua đó giảm đáng kể chi phí sử dụng hạ tầng (giá thuê đất, phí môi trường, điện, nước…) cho các nhà đầu tư trong KCN. Tỉnh cần tăng cường hỗ trợ, ưu đãi các doanh nghiệp phát triển hạ tầng KCN để giúp họ đẩy nhanh việc xây dựng và hoàn thiện hạ tầng KCN, làm nơi đón đầu các dự án đầu tư mới. Cụ thể là, có sự hổ trợ về chính sách như: nới lỏng quy định cho vay vốn ưu đãi từ quỹ đầu tư, phát triển của tỉnh, giảm tiền thuê đất KCN, có cơ chế linh hoạt cho cam kết trả dần tiền nợ thuế; đề nghị các ngân thương mại cùng đồng hành chia sẽ khó khăn với doanh nghiệp mở rộng nguồn cung vốn vay và hạ lãi suất cho vay…
- Đồng thời với các chính sách tạo thuận lợi về mặt điều kiện kinh doanh cho các nhà đầu tư vào KCN, tỉnh cần tăng cường công tác xúc tiến đầu tư, điều này góp phần không nhỏ vào việc nâng cao tính hấp dẫn trong thu hút đầu tư vào KCN, cụ thể là:
Xây dựng văn bản pháp quy về công tác xúc tiến đầu tư nhằm tạo thành lang pháp lý thống nhất trong công tác QLNN, cơ chế phối hợp và tổ chức thực hiện hoạt động xúc tiến đầu tư. Hướng dẫn các thủ tục phát lý, quy trình đầu tư và hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện đầu tư. Hỗ trợ, tư vẫn pháp lý, xúc tiến, quảng bá việc triển khai các dự án có quy mô lớn, tầm ảnh hưởng quan trọng đến phát triển kinh tế – xã hội của địa phương.Xúc tiến đầu tư cần tập trung vào các đối tác tiềm năng trong nước; các vung, lãng thổ có tiềm năng về vốn và công nghệ nư Hoa Kỳ, Anh, Đức, Nhật… và các tập đoàn kinh tế đa quốc gia.
Tổ chức các đoàn công tác trong nước để trao đổi học tập kinh nghiệm với địa phương khác (về quản lý, thu hút đầu tư, phát triển kinh tế tư nhân…). Phối hợp với các bộ, ngành trung ương, các tỉnh, thành phố và các tổ chức có uy tín trong việc xúc tiến đầu tư.
Chủ động quản bá hình ảnh, môi trường đầu tư của tỉnh Quảng Ngãi đến các nhà đầu tư trong và ngoài nước thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, các ẩn phẩm, qua mạng internet. Đồng thơi, đẩy mạnh công tác xúc tiến đầu tư thông qua hội nghị xúc tiến đầu tư, diễn đàn hợp tác đầu tư trực tiếp nước ngoài ở tỉnh, các tỉnh, TP trực thuộc Trung ương và ở nước ngoài… để giới thiệu tiềm năng, thế mạnh của địa phương, tạo cơ hội để các nhà đầu tư có điều kiện hiểu rõ hơn về những thuận lời khi đầu tư vào Quảng Ngãi. Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác xúc tiến đầu tư.
3.3.4. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát hoạt động của các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh ( Luận văn: Giải pháp nâng cao quản lý đối với các khu công nghiệp )
Thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động là hoạt động quan trọng, không thẻ thiếu trong quản lý Nhà nước đối với KCN. Các KCN hoạt động tốt hay không là cũng phụ thuộc một phần vào công tác thanh tra, kiểm tra và giám sát hoạt động. Để hoạt động thanh tra, kiểm tra và giám sát hoạt dộng của các KCN trên địa bàn tỉnh đạt hiệu quả cần phải:
Một là, xây dựng quy chế kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động các KCN, trong đó xác định rõ chức năng, nhiệm vụ kiểm tra, giám sát. Tỉnh cần xác định đúng yêu cầu khách quan, trách nhiệm và nghĩa vụ của các cơ quan quản lý của các doanh nghiệp KCN trong công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát; đồng thời cần làm rõ sự khác biệt giữa công tác kiểm tra và thanh tra. Kiểm tra hoạt động kinh tế là một hoạt động thường xuyên của các cấp trong hệ thống quản lý, gắn với mọi bước công việc, các khâu lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp của KCN (kiểm tra chất lượng sản phẩm, kiểm tra sử dụng lao động, kiểm tra tài chính…). Khác với kiểm tra, việc thanh tra không tiến hành thường xuyên với một đối tượng cụ thể nào, việc này chỉ thực hiện khi xuất hiện những sai trái của tổ chức hay cơ quản lý, nhằm xác định rõ đúng, sai, xác định rõ trách nhiệm của các bên có liên quan. Với mục đích như vậy, quy chế kiểm tra, thanh tra cần làm rõ trách nhiệm, quyền hạn của chủ thể thanh tra hoạt động KCN (thanh tra nhà nước, thanh tra chuyên ngành). Đối tượng thanh tra là các vụ việc việc sai trái phát sinh trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và các hoạt động sai trái trong quản lý của BQL KKT Dung Quất và các KCN Quảng Ngãi. Ngoài tra, cần phải xác định trách nhiệm, quyền hạn của các cá nhân trực tiếp tham gia công tác thanh tra, kiểm tra, quy định rõ các chế tài xử phạt đối với các đối tượng vi phạm quy chế.
Hai là, kiểm tra thường xuyên theo định kỳ và kiểm tra đột xuất để chấn chỉnh công tác quản lý hoặc khi có dấu hiệu vi phạm. Đối với loại kiểm tra thường xuyên theo định kỳ cần phải thực hiện kế hoạch. Chức năng kiểm tra thường xuyên chỉ nên giao cho cơ quan chủ quản, cơ quan Thanh tra và quan Kiểm toán Nhà nước.
Ba là, tất của các cuộc thanh, kiểm tra đếu phải nằm trong kế hoạch thống nhất và thực hiện một các nghiêm minh, chặt chẽ để phát hiện những việc tốt, những sáng kiến cần biểu dương, những tồn tại cần khắc phục và những sai phạm phải xử lý.
Bốn là, chất lượng, hiệu lực và hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động các KCN phụ thuộc rất lớn vào dội ngũ cán bộ, công chức thực hiện công tác này cần phải xác định và lựa chọn đúng những cán bộ, công chức có tinh thần trách nhiệm cao, phẩm chất đạo đức tốt, có nghiệp vụ chuyên môn, nắm vững pháp luật, chính sách thì công tác thanh tra, kiểm tra mới đảm bảo tính trung thực, khách quan, liêm chính, nhanh chóng. Đồng thời, chú trọng việc đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ để nâng cao phẩm chất, năng lực trình độ, kỹ năng nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Xử lý nghiêm minh đối với những cán bộ viên chức thanh tra, kiểm tra, giám sát suy thoái hóa, biến chất trong thị hành công vụ.
– Quy định cụ thể trách nhiệm cả nhân để xảy ra sai sót, làm sai để xử lý nghiêm minh. Có quy trách nhiệm cá nhân thì những người thực thi công vụ mới cẩn trọng hơn, trách nhiệm hơn trong công việc được giao. Đồng thời tổ chức các đợt kiểm tra chéo và hậu kiểm để phát hiện sai sót, thực hiện nghiêm những kiến nghị của thanh tra.
3.3.5. Kiện tòa tổ chức bộ máy quản lý nhà nước đối với các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi ( Luận văn: Giải pháp nâng cao quản lý đối với các khu công nghiệp )
Trong hoạt động QLNN nói chung và QLNN đối với các KCN nói riêng thì việc tổ chức một bộ máy QLNN tốt là một nhiệm vụ trọng yếu, quyết định chất lượng của toàn bộ hoạt động QLNN từ khâu lập quy hoạch, kế hoạch phát triển KCN. Do đó, cải cách tổ chức bộ máy QLNN đối với các KCN theo hướng đơn giản, hiệu quả là một giải pháp quan trọng, mang tính quyết đinh đến kết quả hoạt động của các KCN trên địa bàn tỉnh.
Muốn kiện toàn tổ chức bộ QLNNđối với các KCN thì cần cải cách cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động của bộ máy QLNN đối với các KCN, bên cạnh đó phải cải cách cả đội ngũ cán bộ công chức hoạt động trong lĩnh vực nói trên.
Cải cách cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý nhà nước đối với các Khu công nghiệp theo hướng đơn giản, hiệu quả
- Xây dựng cơ cấu tổ chức bộ máy QLNN đối với các KCN gọn nhẹ, hợp ly, chức trách rõ ràng, làm việc khoa học. Phân công, phân cấp QLNN đối với các KCN một cách rõ ràng và hợp lý từ trung ương đến địa phương. Mỗi việc chỉ nên do một cơ quan chịu trách nhiệm làm đầu mối giải quyết, giảm thiểu tình trạng cơ quan nào cũng cho rằng mình có quyền cao nhất. Nhà nước cần tiến hành việc phân cấp đầy đủ hơn các quyền cho BQL KKT và KCN để tăng cường tính chủ động và tinh thần trách nhiệm trong quản lý các KCN, tránh việc quản lý chồng chéo giữa các cơ quan quản lý các cấp, các ngành khác nhau đối với một vấn đề thuộc KCN, điều này sẽ tạo điều kiện thuận lời đáng kể cho Ban quản lý và đặc biệt là tạo điều kiện cho các nhà đầu tư khi xin phép và triển khai các dự án đầu tư trong Chẳng hạn như là cần giao cho Ban quản lý KKT và KCN quyền giải quyết hầu hết các thủ tục đầu tư như cấp Giấy chứng nhận đầu tư, quản lý lao động, cấp phép lao động cho lao động nước ngoài, cấp phép xây dựng và quản lý quá trình xây dựng, quản lý môi trường và trực tiếp thẩm định ĐTM các dự án đầu tư trong KCN…
- Củng cố bộ máy quản lý các KCN tại tỉnh như BQL KKT Dung Quất và các KCN Quảng Ngãi, bộ máy thanh tra – kiểm tra… trong đó, chú trọng hoàn thiện tổ chức các phòng chuyên môn, các đơn vị sự nghiệp trực thuộc với đội ngũ cán bộ, công chức, nhân viên theo hướng tinh gọn, đúng người người, đúng việc phát huy hiệu quả cao nhất.
- Tăng cường sự phối hợp chặc chẽ giữa các cơ quan quản lý trung ương và cơ quan quản lý địa phương để có sự nhất quán trong quản lý phát triển các KCN. Tăng cường sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành đòi hỏi phải có sự phân công, phân cấp và cơ chế phối hợp chặt chẽ, cụ thể và rõ ràng để tránh sự chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ hoặc phối hợp hình thức, đùn đẩy trách nhiệm; sự phân công, phân cấp gắn liền với việc phải đảm bảo nguồn lực cần thiết như tài chính, nhân lực để cá nhân, tổ chức được phân công, phân cấp có đủ điều kiện hoàn thành nhiệm vụ. Tăng cường sự phối hợp đòi hỏi các cơ quan phải nâng cao trách nhiệm, tích cực, chủ động phát hiện và giải quyết các vướng mắc phát sinh có liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của mình hoặc chủ động tổ chức phối hợp giải quyết tránh tình trạng thụ động, trì trệ kéo dài trong quá trình xử ly; cần có hình thức sử phạt, chế tài đối với những cơ quan thiếu trách nhiệm trong quá trình phối hợp, gây ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện chung.
- Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động quản lý nhà nước, cụ thể là tự động hóa các quá trình xử lý thông tin, xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu quản lý, hệ thống mạng thông tin nội bộ trong các cơ quan nhà nước: ( Luận văn: Giải pháp nâng cao quản lý đối với các khu công nghiệp )
+ Các thông tin liên quan đến hoạt động đầu tư, phát triển các KCN được cập nhật thường xuyên giúp cho các cán bộ công chức có thể khai thác, tra cứu, luân chuyển thông tin qua mạng máy tính một cách chính xác, nhanh chóng.
+ Cơ quan đầu mối có thể dễ dàng kiểm soát được tiến độ giải quyết công việc của các cơ quan chức năng khác. Thông tin được mở rộng giúp cho công tác chỉ đạo, điều hành được kịp thời và phù hợp với tình hình thực tế, sự phối hợp công tác giữa các Sở, ban, ngành liên quan được nhịp nhàng, nhanh chóng.
- Nâng cao năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ, công chức
Tiến hành rà soát sắp xếp tỏ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ công tác, ưu tiên bố trí cán bộ lãnh đạo, quản lý có trình độ, có tâm huyết cao. Trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn theo luật định và căn cứ vào thực tế hoạt động tinh giảm biên chế ở những vị trí không cần thiết, hoạt động không hiệu quả, ưu tiên sử dụng cán bộ trẻ có kiến thức và năng động. Xây dựng quy định thống nhất về tinh giảm biên chế.
Đổi mới công tác quản lý CBCC phù hợp với quá trình phát triển KT- XH và CCHC. Trong hệ thống công vụ của Việt Nam, từ trước đến nay có thể thấy rõ những đặc trưng cơ bản của mô hình công vụ chức nghiệp. Trong cơ chế quản lý nhân sự chưa có sự phân biệt rõ ràng giữa những người làm việc trong cơ quan nhà nước và trong cả hệ thống chính trị, do đó khó có thể quản lý hiệu quả cũng như có các chế độ chính sách phù hợp với từng nhóm đối tượng; công chức được phân loại theo ngạch bậc. Mỗi ngạch có tiêu chuẩn riêng, nhưng không gắn liền với vị trí công việc cụ thể mà gắn với trình độ đào tạo. Các quy định về nhiệm vụ của công chức ở các ngạch còn chung chung và áp dụng cho tất cả công chức cùng ngạch nhưng làm việc ở các cơ quan, tổ chức khác nhau, đảm nhận các vị trí công việc khác nhau. Do đó, cần đổi mới công tác quản lý CBCC theo vị trí việc làm. Đó là, việc tuyển người vào bộ máy nhà nước được thực hiện bằng cách tuyển vào các vị trí trống của một công việc nhất định chứ không phải tuyển vào “ngạch, bậc” và làm bất cứ công việc gì được giao. Một người chỉ có thể thành công chức sau khi thi đỗ vào một chỗ trống trong nền công vụ đã được thông báo công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng. Đối với việc đề bạt, cũng cần phải báo công khai để công chức và những người nộp đơn từ bên ngoài cùng nhau cạnh tranh. Như vậy, đối tượng tuyển dụng vào vị trí nào đó trong nền công vụ được mở rộng và tạo cơ hội không chỉ cho những người bên trong công vụ mà cả những người làm việc ở các doanh nghiệp và khu vực ngoài nhà nước có thể tham gia. Bên cạnh đó, các cơ quan, đơn vị cũng có thể dễ dàng thay đổi vị trí công tác của công chức theo yêu cầu công việc dựa theo thành tích, công trạng và năng lực thực tế của bản thân công chức. đổi mới quản lý CBCC theo vị trí việc làm sẽ góp phần khắc phục hạn chế, tạo sự thay đổi mạnh mẽ trong đội ngũ công chức không chỉ về chất lượng mà cả tư duy làm việc, cách thức làm việc và do đó hiệu quả làm việc cũng được cải thiện, mang tính chuyên môn cao. ( Luận văn: Giải pháp nâng cao quản lý đối với các khu công nghiệp )
Cải cách tiền lương và các chế độ chính sách đãi ngộ đối với công chức, nâng lương tối thiểu cho CBCC đủ sống bằng lương; cải cách hệ thống thang lương, bảng lương trên cơ sở xem xét tính chất và đặc điểm lao động của các loại CBCC. Ban hành và thực hiện chế độ tiền thưởng đối với cán bộ công chức hoàn thành công việc nhanh và hiệu quả hơn. Đồng thời, chính sách đãi ngộ hợp lý sẽ tạo động lực để CBCC yên tâm công tác và tự hoàn thiện năng lực, học hỏi nâng cao trình độ chuyên môn, đáp ứng nhu cầu công việc ngày càng tốt hơn.
Nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC làm công tác QLNN đối với KCN nhất là đội ngũ cán bộ làm việc tại BQL KKT Dung Quất và các KCN Quảng Ngãi thông qua việc thường xuyên bồi dưỡng CBCC, tổ chức lại hệ thống cơ sở bồi dưỡng đào tạo công chức; kết hợp đào tạo chính quy với các hình thức đào tạo không chính quy, đào tạo trong nước và gửi đi đào tạo ngoài nước: khuyến khích CBCC tự học có sự giúp đỡ của Nhà nước. Thường xuyên có sự kiểm tra, giám sát, cho thôi việc đối với những CBCC tham nhũng, vô trách nhiệm, chuyển đổi công tác những người không đủ năng lực, phẩm chất đạo đức.
3.4. Kiến nghị
Quảng Ngãi là địa phương nằm trong Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung. Đến nay, Quảng Ngãi đã có 04 KCN (ngoài KKT Dung Quất) được Chính phủ phê duyệt, tuy nhiên hiện nay mới chỉ có 03 Khu công nghiệp đi vào hoạt động. Quá trình phát triển các KCN trên địa bàn đã được những kết quả bước đầu đáng nghích lệ, đã tạo lập được một mạng lưới các KCN cơ bản được hình thành theo định hướng phát triển của tỉnh, tạo sức hấp dẫn các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài, góp phần giải quyết việc làm và thu nhập cho người lao động, tạo nguồn thu cho Ngân sách nhà nước, thúc đẩy xuất khẩu, nâng cao tiềm lực khoa học và công nghệ của tỉnh. Diện mạo của các KCN ngày càng thay đổi theo hướng hiện đại, quy mô được mở rộng và đồng bộ, đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh CNH, HĐH của tỉnh. Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu đã đạt được, những năm qua hoạt động quản lý các KCN ở Quảng Ngãi vẫn còn đứng trước không ít hạn chế, trở ngại về công tác quy hoạch, hiệu quả thu hút đầu tư còn thấp, vấn đề về đời sống của người lao động, xử lý vấn đề môi trường sinh thái còn phức tạp.. ..trong quá trình phát triển các KCN. Những tồn tại này là sự cần thiết phải hoàn thiện, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với các KCN trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi. ( Luận văn: Giải pháp nâng cao quản lý đối với các khu công nghiệp )
Trên cơ sở hệ thống hóa lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước đối với các KCN, luận văn đi sâu vào phân tích đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước về đầu tư vào các KCN Quảng Ngãi từ khi hình thành đến nay, chỉ ra những thành quả đạt được, tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của nó. Dựa vào những phân tích đó và căn cứ vào quan điểm, định hướng phát triển các KCN của tỉnh Quảng Ngãi đến năm 2025, luận văn đề xuất những quan điểm và giải pháp nhằm hoàn thiện, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về đầu tư vào các KCN tỉnh Quảng Ngãi. Những giải pháp được đề xuất trong luận văn tập trung vào các nội dung như: hoàn thiện quy hoạch KCN trên địa tỉnh; nâng cao hiệu quản lý nhà nước của BQL KKT Dung Quất các KCN Quảng Ngãi; đổi mới công tác vận động xúc tiến đầu tư và thu hút đầu tư; hoàn thiện cơ sở hạ tầng đảm bảo cho việc phát triển KCN; đổi mới chính sách đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp trong KCN; hoàn thiện công tác thanh kiểm tra hoạt động của các KCN Quảng Ngãi. Để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về đầu tư vào các KCN Quảng Ngãi cần phải thực hiện đồng bộ các giải pháp trên. Tuy nhiên trong mỗi giai đoạn phát triển có thể ưu tiên sắp đặt những vấn đề cần tập trung giải quyết trước, sau theo tình hình thực tế.
Qua nghiên cứu dưới góc độ quản lý, tác giả luận văn mạnh dạn đề nghị tỉnh Quảng Ngãi, Ban Quản lý KKT Dung Quất và các KCN Quảng Ngãi trong thời gian tới tập trung phát triển các KCN đã được Thủ tướng chính phủ phê duyệt, tuân thủ nghiêm túc điều kiện, trình tự, thủ tục về đầu tư, quy hoạch, đảm bảo hiệu quả sử dụng đất, không phát triển KCN trên đất trồng lúa có năng suất ổn định, hướng tới phát triển kinh tế xanh, tăng trưởng bền vững…
Các nghiên cứu tiếp theo về vấn đề quản lý nhà nước đối với các KCN cần tập trung làm sâu sắc hơn các tiêu chí đánh giá công tác quản lý phù hợp với các chuẩn mực của các tổ chức, các hiệp định quốc tế mà Việt Nam gia nhập. Các giải pháp hoàn thiện quản lý cũng cần nhấn mạnh hơn nữa đến tính liên ngành, liên vùng trong quản lý các KCN.
* Đối với cấp Trung ương, Chính phủ
Thứ nhất, việc phân cấp, ủy quyền, phối hợp từ các sở, ngành hoặc UBND cấp huyện mà không giao trực tiếp cho UBND cấp tỉnh ủy quyền cho Ban Quản lý, điều này tiếp tục gây bất cập trong thực tế vì các tỉnh, thành phố sẽ thực hiện không thống nhất; không giải quyết được vấn đề chồng chéo trong quản lý, cũng như trách nhiệm chính về KCN, KKT dẫn đến tình trạng quản lý lỏng lẻo, đùn đẩy trách nhiệm giữa các cơ quan quản lý nhà nước.
Để giải quyết các vướng mắc, chồng chéo liên quan đến KCN, KKT, cần nghiên cứu sớm ban hành Luật KCN, KKT, tạo khung pháp lý cao nhất, phù hợp với đóng góp của hệ thống các KCN, KKT trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Thứ hai, cần sớm sửa đổi, bổ sung hoặc xây dựng mới Luật Thanh tra và những văn bản có liên quan, trong đó quy định về tổ chức, hoạt động của Thanh tra Ban quản lý các KCN, KKT để tổ chức này hoạt động có hiệu quả, phát huy vai trò thanh tra, kiểm tra, giám sát các hoạt động của KCN diễn ra theo đúng pháp luật. Bổ sung chức năng thanh tra cho Ban Quản lý KCN, KKT, tạo điều kiện để Ban Quản lý chủ động trong việc xử lý các vi phạm của doanh nghiệp trong KCN, KKT.
Thứ ba, tiếp tục phân cấp, giao nhiệm vụ trực tiếp từ Trung ương tới địa phương, gắn chặt với cơ chế phân công trách nhiệm và phối hợp rõ ràng, minh bạch giữa các cơ quan Trung ương và địa phương. Kiện toàn bộ máy quản lý nhà nước ở cấp Trung ương và địa phương đảm bảo đủ thẩm quyền và nguồn lực để quản lý các KCN, KKT theo hướng một cửa, một đầu mối và tương xứng với vai trò vị trí ngày càng quan trọng của các KCN, KKT trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Tiểu kết chương 3 ( Luận văn: Giải pháp nâng cao quản lý đối với các khu công nghiệp )
Trong chương này luận văn đã làm rõ các vấn đề sau:
Luận văn đã đưa ra những định hướng phát triển các KCN trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi; định hướng, quan điểm, phương hướng; giải pháp tiếp tục hoàn thiện quản lý nhà nước đối các KCN trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi; Kiến nghị:
Thứ nhất, đối với cấp Trung ương, Chính phủ: Để giải quyết các vướng mắc, chồng chéo liên quan đến KCN, KKT, cần nghiên cứu sớm ban hành Luật KKT, KCN, tạo khung pháp lý cao nhất, phù hợp với đóng góp của hệ thống các KCN, KKT trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Thứ hai, cần sớm sửa đổi, bổ sung hoặc xây dựng mới Luật Thanh tra và những văn bản có liên quan, trong đó quy định về tổ chức, hoạt động của Thanh tra Ban quản lý các KCN để tổ chức này hoạt động có hiệu quả, phát huy vai trò thanh tra, kiểm tra, giám sát các hoạt động của KCN diễn ra theo đúng pháp luật. Bổ sung chức năng thanh tra cho Ban Quản lý KCN, KKT, tạo điều kiện để Ban Quản lý chủ động trong việc xử lý các vi phạm của doanh nghiệp trong KCN, KKT.
Thứ ba, tiếp tục phân cấp, giao nhiệm vụ trực tiếp từ Trung ương tới địa phương, gắn chặt với cơ chế phân công trách nhiệm và phối hợp rõ ràng, minh bạch giữa các cơ quan Trung ương và địa phương. Kiện toàn bộ máy quản lý nhà nước ở cấp Trung ương và địa phương đảm bảo đủ thẩm quyền và nguồn lực để quản lý các KCN, KKT theo hướng một cửa, một đầu mối và tương xứng với vai trò vị trí ngày càng quan trọng của các KCN, KKT trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
KẾT LUẬN
Trên cơ sở phân tích bối cảnh trong nước, quốc tế và tỉnh Quảng Ngãi trong những năm tới, từ cơ sở lý luận, thực tiễn và thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với các khu công nghiệp Quảng Ngãi trong những năm qua, dựa theo định hướng phát triển công nghiệp gắn với quy hoạch phát triển các Khu công nghiệp, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi đến năm 2020, tầm nhìn 2030 và Quy hoạch phát triển công nghiệp tỉnh Quảng Ngãi đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 đã được phê duyệt, luận văn đã đề xuất 06 nhóm giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với các KCN trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi:
Thứ nhất, nâng cáo chất lượng quy hoạch và tổ chức thực hiện tốt quy hoạch Khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.
Thứ hai, nâng cao vai trò quản lý nhà nước của Ban Quản lý Khu kinh tế Dung Quất và các Khu công nghiệp Quảng Ngãi.
Thứ ba, đổi mới công tác vận động xúc tiến đầu tư và thu hút đầu tư. ( Luận văn: Giải pháp nâng cao quản lý đối với các khu công nghiệp )
Thứ tư, hoàn thiện cơ sở hạ tầng đảm bảo cho việc phát triển Khu công nghiệp.
Thứ năm, đổi mới chính sách đào tạo và đãi ngộ nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp trong Khu công nghiệp.
Thứ sáu, hoàn thiện công tác thanh kiểm tra hoạt động của các Khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.
Các giải pháp trên có nội dung và biện pháp khác nhau nhưng đều nhằm mục tiêu tăng cường tính hiệu quả, và sự phù hợp trong công tác quản lý nhà nước đối với các Khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.
Mời bạn tham khảo thêm:
→ Luận văn: Quản lý nhà nước đối với các khu công nghiệp nước ta

Dịch Vụ Viết Luận Văn Thạc Sĩ 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietthuethacsi.com/ – Hoặc Gmail: dicvuluanvanthacsi@gmail.com