Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Chiến lược phát triển các doanh nghiệp in tại HCM hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Khóa luận: Chiến lược phát triển các doanh nghiệp in thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2035 dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
Nội dung chính
3.1 NHIỆM VỤ VÀ MỤC TIÊU CỦA CÁC DOANH NGHIỆP IN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ĐẾN NĂM 2035.
3.1.1 Nhiệm vụ
Phấn đấu hoàn tất chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa đồng bộ ba công đoạn sản xuất, đưa các doanh nghiệp in tại Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, của ngành in Việt nam nói chung trở thành ngành mũi nhọn của đất nước, đạt trình độ tiên tiến của Châu Á, có vị thế cạnh tranh cao trong khu vực Đông Nam Á, đầy đủ năng lực đáp ứng mọi nhu cầu gia tăng in ấn của đất nước và tham gia in xuất khẩu cho các nước trên thế giới.
Tiếp tục nâng cao năng lực sản xuất của toàn ngành, phấn đấu đạt mức tăng trưởng hàng năm từ 10-15%; về sản lượng trang in trên giấy (13×19) đạt khoảng 385 tỷ trang in vào năm 2028 và 675 tỷ trang in vào năm 2035.
Đẩy mạnh việc chuyển dịch cơ cấu ấn phẩm theo hướng tăng tỷ trọng các ấn phẩm cao cấp và các ấn phẩm có giá trị cao, thay thế dần và tất cả các ấn phẩm đang gia công tại nước ngoài, khai thác và tìm thị trường để in gia công xuất khẩu cho các nước trong khu vực và trên thế giới, phấn đấu đạt mức bình quân hàng năm tăng từ 8-10% về giá trị sản lượng in ấn.
Đẩy mạnh công tác đầu tư đổi mới công nghệ – thiết bị; đào tạo và nâng cao tay nghề cho đội ngũ cán bộ, công nhân kỹ thuật; đổi mới cơ chế quản lý doanh nghiệp và nâng cao công tác quản trị cơ sở để khai thác công nghệ thiết bị ngày hiệu quả hơn; Phấn đấu đạt mức tăng năng suất lao động bình quân từ 11 đến 16% hàng năm đến năm 2035.
Trên cơ sở sự tăng trưởng của toàn ngành, phấn đấu nâng cao thu nhập bình quân của người lao động lên từ 5 đến 10% mỗi năm và tháng; Đến năm 2035 phấn đấu đạt trên 7.000.000 đ/người
3.1.2 Mục tiêu
- Cơ sở để xác định mục tiêu
Môi trường quốc tế và xu hướng kinh doanh mới
Hiệp định hợp tác kinh tế ASEAN nhằm thành lập khu mậu dịch tự do ASEAN ( AFTA) và Hiệp định về chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) đã khởi động và có tác động ngày càng lớn đến nền kinh tế Việt Nam, cùng với việc tham gia vào APEC, thị trường Hoa Kỳ và chuẩn bị tham gia vào thị trường Thương mại quốc tế WTO, đã yêu cầu các doanh nghiệp, ngành nghề Việt Nam đứng trước nhiều cơ hội và thách thức mới.
Xu hướng thương mại quốc tế và sự phát triển của công nghệ kỹ thuật số, công nghệ thông tin, đã tác động mạnh đến môi trường kinh doanh, tạo nên tư duy và phương thức kinh doanh mới. Phương hướng kinh doanh của từng doanh nghiệp, từng ngành nghề trong mỗi quốc gia và thị trường chung của khu vực và toàn cầu, vì vậy các doanh nghiệp Việt Nam phải thay đổi mạnh để vượt qua những khó khăn và hội nhập vào kinh tế khu vực và thế giới có hiệu quả.
Nghị quyết của Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa IX về đường lối và chiến lược và phát triển kinh tế của đất nước.
- Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 10 năm ( 2025 – 2035) nhằm:
Đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững, chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế, mở rộng kinh tế đối ngoại, v.v… Khóa luận: Chiến lược phát triển các doanh nghiệp in tại HCM.
Phát triển kinh tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa là nhiệm vụ trung tâm trong thời kỳ hiện nay. Phát huy những lợi thế của đất nước, tận dụng mọi khả năng để đạt trình độ công nghệ tiên tiến,…ứng dụng ngày càng nhiều hơn những thành tựu mới về khoa học công nghệ, từng bước phát triển kinh tế tri thức.
Phát triển nền kinh tế nhiều thành phần,…với nhiều hình thức tổ chức kinh doanh đa dạng, đan xen, hỗn hợp, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh, trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, cùng nhau tạo thành nền tảng vững chắc cho nền kinh tế quốc dân.
- Sứ mạng của ngành
Ngành xuất bản, in, phát hành sách Việt Nam do Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo, Nhà nước quản lý, phát triển theo hướng độc lập, tự chủ, tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Xuất bản phẩm đa dạng về thể loại, phong phú về nội dung, phục vụ tốt sự nghiệp công nghiệp hóa đất nước, đáp ứng nhu cầu về xuất bản phẩm ngày càng cao của nhân dân.
Duy trì nhịp độ tăng trưởng bình quân hàng năm 15-20% về số bản sách, 8-10% về số đầu sách, 10-15% về trang in. Đến 2035, đạt 8 bản sách/người/năm đạt 985 tỷ trang in tiêu chuẩn, kim ngạch xuất khẩu bản phẩm tăng gấp 2,5 lần so với năm 2027.
Phấn đấu đến năm 2035 đưa ngành xuất bản, in, phát hành của Việt Nam vươn lên hàng trung bình khá của Châu Á.
- Dự báo sự phát triển của ngành
Trên cơ sở sự tăng trưởng của toàn ngành, phấn đấu nâng cao thu nhập bình quân của người lao động lên từ 5-10% mỗi năm và tháng.
- Bảng 3.1 Một số chỉ tiêu cơ bản phấn đấu đến năm 2035
- Bảng 3.2 Cơ cấu ấn phẩm dự kiến đến năm 2035
Dự báo thị trường Khóa luận: Chiến lược phát triển các doanh nghiệp in tại HCM.
Xu hướng thương mại quốc tế và sự phát triển của công nghệ kỹ thuật số, công nghệ thông tin, đã tác động mạnh đến môi trường kinh doanh, tạo nên những tư duy và phương thức kinh doanh mới. Phương hướng kinh doanh của từng doanh nghiệp, từng ngành nghề trong mỗi khu vực của các quốc gia đều chịu sự tác động của thị trường trong quốc gia và thị trường chung của khu vực và toàn cầu, vì vậy các doanh nghiệp in trong Thành phố Hồ Chí Minh phải thay đổi mạnh mẽ để vượt qua những khó khăn và hội nhập vào kinh tế khu vực và thế giới có hiệu quả.
- Mục tiêu phát triển của các doanh nghiệp in Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2035
Đồng chí thứ trưởng Bộ Văn hóa – Thông tin đã đề cập đến muc tiêu và định hướng ngành in nước ta đến năm 2030 như sau: “Xây dựng ngành in Việt Nam trở thành ngành công nghiệp mũi nhọn, đạt trình độ của khu vực Đông Nam Á, đầy đủ năng lực, đáp ứng mọi nhu cầu in ấn của đất nước. Đồng thời chuẩn bị các điều kiện cần thiết để canh tranh và in gia công xuất khẩu cho các nước trong khu vực và trên thế giới,…”
Qua đó, các doanh nghiệp in Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục nâng cao năng lực sản xuất của toàn ngành, phấn đấu đạt mức tăng trưởng cao. Đẩy mạnh việc chuyển dịch cơ cấu sản phẩm theo hướng tăng tỷ trọng các ấn phẩm cao cấp, ấn phẩm có giá trị cao, thay thế dần và tất cả các ấn phẩm đang gia công tại nước ngoài, khai thác và tìm thị trường in gia công xuất khẩu cho các nước trong khu vực và trên thế giới.
- Mục tiêu tổng quát Khóa luận: Chiến lược phát triển các doanh nghiệp in tại HCM.
Cơ cấu ấn phẩm của các doanh nghiệp in Thành phố Hồ Chí Minh có nhiều thay đổi khi nền kinh tế đất nước bước vào kinh tế thị trường có sự cạnh tranh, việc in sách báo, tạp chí và nhãn, bao bì. Dự kiến đến năm 2035, sản lượng in báo, tạp chí sẽ tăng rất lớn, mặc dù có sự cạnh tranh của internet, nhãn, bao bì và văn hóa phẩm sẽ tăng gấp ba vào năm 2035. Các loại nhãn bao bì cao cấp có xu hướng tăng nhanh và sự toàn cầu hóa về kinh tế, các nước phát triển đang đầu tư mạnh vào các nước đang phát triển. Vì vậy, nhu cầu sử dụng về nhãn tăng lên rất cao.
Theo tạp chí Labelexpo Asia phát hành tại Hồng Kông dự đoán: các loại nhãn cao cấp, nhãn in trên đề can sẽ tăng trưởng tại Trung Quốc và Hồng Kông từ 20 đến 25% mỗi năm cho tới 2035 để xuất khẩu sang Nhật, Mỹ , Đức, Anh, v.v…
- Mục tiêu cụ thể
Mục tiêu phấn đấu đặt ra cho các doanh nghiệp in tại Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2035 phải có tỷ trọng ấn phẩm cao cấp trên 60%, các loại ấn phẩm cao cấp này phải đạt tiêu chuẩn quốc tế, từ đó mới có cơ hội gia công in xuất khẩu được từ 9-11%. Trong đó chú ý đến việc in nhãn, bao bì, sách cao cấp đang là những ấp phẩm có thị trường rộng lớn ở châu Âu, châu Mỹ và ngay cả châu Á cũng co nhu cầu tiêu thụ không nhỏ. Các loại ấn phẩm được in từ 4 màu trở lên với sự kết hợp nhiều phương pháp in, để giải quyết tốt về chất lượng và thời gian in ấn mà ngành in của cả khu vực đang bắt đầu ứng dụng để dẫn đầu cạnh tranh đa phần là nhãn, bao bì chuyên biệt phục vụ cho một ngành tiêu dùng nào đó.
3.2 CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN CÁC DOANH NGHIỆP IN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ĐẾN NĂM 2035. Khóa luận: Chiến lược phát triển các doanh nghiệp in tại HCM.
3.2.1 Các giải pháp vi mô
- Giải pháp quản lý ngành
Theo quy định của Bộ Văn hóa thông tin là Bộ quản lý Nhà nước về ngành in, nhưng thực tế không phải là Bộ chủ quản. Cơ quan chủ quản của các doanh nghiệp in trong cả nước do nhiều Bộ, Ngành, Đoàn thể, tổ chức và các địa phương khác nhau, đã hình thành các doanh nghiệp in hoạt động với nhiều mục tiêu khác nhau, phương án sản xuất khác nhau, v.v… và không chịu sự hướng dẫn, phối hợp thống nhất trong toàn ngành. Ngay cả những doanh nghiệp được thành lập với mục tiêu là kinh doanh, nhưng cơ quan chủ quản lại đề nghị là doanh nghiệp công ích, v.v…Trên gốc độ phát triển ngành, tất cả những tồn tại này đã làm suy yếu tính cạnh tranh chung của ngành, gây sự lãng phí trong đầu tư, làm sự phát triển không ổn định,v.v…
- Giải pháp quản trị doanh nghiệp in
Đẩy mạnh công tác cải tổ, sắp xếp lại các doanh nghiệp in Nhà nước, chúng tôi đưa ra một số giải pháp cơ bản sau đây:
Xác định tư tưởng công tác cải tổ, sắp xếp lại các doanh nghiệp Nhà nước là một chủ trương lớn, đúng đắn của Đảng và Nhà nước. Do đó các cơ quan chủ quản, chính quyền địa phương phải nhanh chóng hoàn thiện cơ sở pháp lý thúc đẩy mạnh quá trình đổi mới này.
Cơ quan chủ quản phải xác định thời gian lên danh sách phân loại từng doanh nghiệp in thuộc quyền quản lý, xác định về quy mô sản xuất, tình hình quản lý sản xuất, tình hình tài chính, v.v… để có chính sách hỗ trợ, sắp xếp đổi mới phù hợp.
Thông báo và xây dựng tiến độ thời gian thực hiện cụ thể cho từng doanh nghiệp in Nhà nước và có quy định chế tài, điển hình như công tác xác định công nợ, hay lịch trình hoàn tất cổ phần hóa, v.v…
Cơ quan chủ quản phải kết hợp với doanh nghiệp giải quyết tốt các khó khăn, vướng mắc mà cơ sở đang phải tháo gỡ để phát huy được hiệu quả. Khóa luận: Chiến lược phát triển các doanh nghiệp in tại HCM.
Cương quyết mạnh dạn cho giải thể, phá sản hay chuyển đổi sở hữu khi doanh nghiệp in đó không còn khả năng tiếp tục hoạt động được nữa. Giao trách nhiệm cho Giám đốc, Kế toán trưởng, Bí thư Đảng, phối hợp với Ban ngành – Đoàn thể giải quyết dứt điểm trước khi xét kỷ luật, xét về hưu hay chuyển công tác.
Có quy chế bắt buộc đối với các Giám đốc doanh nghiệp in Nhà nước khi nhậm chức phải xây dựng chiến lược sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp trong nhiệm kỳ 5 năm. Tạo một đội ngũ Giám đốc chuyên nghiệp. Xây dựng cơ chế giao quyền chủ động cho Giám đốc trong việc sử dụng bố trí lao động đầu tư, tài chính, quỹ lương, v.v… theo chiến lược sản xuất kinh doanh đã được thông qua.
- Giải pháp về vốn đầu tư để nâng cao năng lực ngành
Vốn là một trong các yếu tố vật chất quan trọng không thể thiếu được trong quá trình liên doanh. Qua hoạt động thực tiễn của các doanh nghiệp in tại TP Hồ Chí Minh, phần lớn đều thiếu vốn – thiếu vốn lưu động để thực hiện một chu kỳ sản xuất kinh doanh để dự trữ vật tư tối thiểu bảo đảm giá cạnh tranh trong thời gian thỏa thuận nào đó, v.v…
Trung bình vòng quay vốn đối với một doanh nghiệp in vừa và nhỏ từ 1,5 tới 3 tháng, hay từ 4 tới 6 vòng / năm. Khấu hao cho máy in từ 3 đến 7 năm, khấu hao máy xuất phim điện tử từ 2 đến 5 năm, một số thiết bị chính sau in như máy ép keo khâu chỉ, máy thành phẩm hộp, nhãn bao bì từ 3 đến 5 năm, v.v… Với một số nét cơ bản về nhu cầu vốn sử dụng như trên khi áp lực của thị trường ngày tăng thì nhu cầu về vốn ngày càng cao, để luôn bảo đảm không bị lạc hậu, bảo đảm được vị thế của doanh nghiệp in trên thị trường. Do vậy, làm thế nào để đảm bảo được nguồn vốn, sử dụng và phát triển nguồn vốn đó trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh là một yêu cầu cấp thiết cho các nhà doanh nghiệp.
3.2.2 Chính sách về lãi suất vay vốn
- Vay vốn từ ngân hàng, các tổ chức tín dụng. Khóa luận: Chiến lược phát triển các doanh nghiệp in tại HCM.
Đây là biện pháp phổ biến nhất mà doanh nghiệp thường sử dụng, vay vốn từ ngân hàng hiện nay tương đối thuận lợi hơn các năm về trước, nhất là đối với các doanh nghiệp sản xuất có thiết bị máy móc, có nhà xưởng là những vật bảo chứng thuận lợi cho ngân hàng làm thủ tục. Tùy theo mục đích của dự án vay, thông thường vay vốn qua ngân hàng có vay ngắn hạn trung hạn và dài hạn.
Hai loại vốn này thường chỉ phù hợp bổ sung nguồn vốn lưu động trong một khoản thời gian, ngay cả đối với vay vốn trung hạn nếu sử dụng cho mục đích đầu tư đổi mới thiết bị, cũng chỉ là máy móc phụ trợ, một số máy công đoạn trước khi in, hoặc máy in cũ đã qua sử dụng, thì việc khấu hao mới đảm bảo thời gian trả nợ, vì vậy rất khó khăn với doanh nghiệp vừa và nhỏ nếu không có sẵn nguồn vốn dự trữ khác.
- Thuê mua tài chính.
Thuê tài chính là một hoạt động tín dụng trung dài hạn thông qua việc cho thuê máy móc thiết bị và các động sản khác. Bên cho thuê cam kết mua máy móc thiết bị theo yêu cầu của bên thuê và nắm giữ quyền sỡ hữu đối với tài sản cho thuê. Bên thuê sử dụng tài sản thuê và thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê đã được hai bên thỏa thuận, khi hết thời hạn thuê, bên thuê được quyền sỡ hữu mua lại, hay tiếp tục thuê theo một thỏa thuận tiếp theo.
Thuê mua tài chính là một phương thức tốt để các doanh nghiệp in có thể cải tiến thiết bị, đổi mới công nghệ và mở rộng, phát triển sản xuất.
Một số ưu điểm của thuê mua tài chính:
- Giúp doanh nghiệp có điều kiện trang bị máy mới trong lúc hạn chế về vốn đầu tư như thiếu tài sản thế chấp, thiếu vốn đầu tư ban đầu từ 20 – 40 % để vay được dài hạn tại Ngân hàng.
- Không gây ảnh hưởng bất lợi tới các hệ số kinh doanh của doanh nghiệp.
- Doanh nghiệp không bị đọng vốn trong tài sản cố định.
- Vay vốn từ các tổ chức tín dụng, ngân hàng quốc tế.
Một số tổ chức tài chính đang có chương trình vay vốn:
- Quỹ tiền tệ quốc tế IMF ( Internetional Monetary Fund )
Hiện nay, quỹ IMF cho Việt Nam vay hàng năm khoảng 360 triệu USD, với lãi suất ưu đãi 5% năm. Thời gian vay trả trong 10 năm, ân hạn 5 năm. Khóa luận: Chiến lược phát triển các doanh nghiệp in tại HCM.
- Ngân hàng Thế giới WB ( World Bank )
Ngân hàng thế giới có hơn 20 dự án hỗ trợ kỹ thuật cho Việt Nam chưa cải tổ doanh nghiệp quốc doanh, thương lượng để cấu trúc lại nợ thương mại đối với nước ngoài. Tổng số tiền dành cho các dự án này là 10 triệu USD thuộc loại viện trợ không hoàn lại, từ 2015 đến nay Ngân hàng Thế giới đã tài trợ cho Việt Nam mỗi năm khoảng 400 đến 500 triệu USD.
- Ngân hàng Phát triển châu Á – ADB
ADB, cho vay vốn và đầu tư phát triển kinh tế các nước hội viên châu Á đang phát triển:
Trợ giúp kỹ thuật để chuẩn bị và thực hiện các dự án, chương trình phát triển và làm tư vấn.
Tăng cường đầu tư vốn cho Nhà nước và tư nhân và mục đích phát triển. Năm 2015 – 2016, ADB đã cho Việt Nam vay hơn 300 triệu USD năm, không tính lãi chỉ lấy phí phục vụ 1% với thời hạn trả nợ là 40 năm.
- Quỹ OPEC :
Cho các nước đang phát triển vay tín dụng ưu đãi với mức vay theo dự án đầu tư.
- Thời hạn trả là 17 năm, ân hạn 5 năm.
- Lãi suất 2 % năm
- Phí dịch vụ 1% năm
Ngoài một số tổ chức tài chính và Ngân hàng nước ngoài tiêu biểu nêu trên, còn nhiều tổ chức tín dụng khác của nước ngoài dành cho đầu tư vào Viêt Nam khoảng 400 triệu USD, nhưng mới sử dụng gần 50 % số tiền này vào Việt Nam, do thông tin và thủ tục chưa được thông báo, hướng dẫn đại trà cho các doanh nghiệp.
Dự án tài trợ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ bằng nguồn vốn JBIC – do Ngân hàng hợp tác quốc tế Nhật Bản tài trợ, nhằm hỗ trợ tài chính cho các dự án hợp tác đầu tư mới, đầu tư mở rộng sản xuất cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ ngoài quốc doanh tại 4 địa phương Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Thành Phố Hồ Chí Minh – trong đó ngành in và xuất bản là mục tiêu của 15 chương trình hỗ trợ đầu tư. Khóa luận: Chiến lược phát triển các doanh nghiệp in tại HCM.
Các doanh nghiệp vay vốn của Ngân hàng này thông qua bốn Ngân hàng tham gia dự án là Ngân hàng Công Thương, Á Châu, Đông Á, BIDV với lãi suất ưu đãi nhất tại Ngân hàng đó. Chẳng hạn như Ngân hàng BIDV cho vay với lãi suất 0.71%, doanh nghiệp được vay nhiều nhất là 20 tỷ đồng trong thời hạn tối đa là 10 năm, ân hạn tối đa là 2 năm.
- Thực hiện liên kết, liên doanh để tận dụng nguồn vốn đầu tư, tích lũy tập trung sản xuất.
Các doanh nghiệp có thể thực hiện liên kết ngang hay liên kết dọc. Liên kết ngang là hình thành sự liên kết hai hay ba doanh nghiệp in. Liên kết dọc là sự hình thành liên kết một số doanh nghiệp khác ngành nghề nhưng có liên quan tới mục tiêu của sản phẩm cuối cùng như: đơn vị cung ứng vật tư in, đơn vị in ấn, đơn vị phát hành sách, v.v…
Vào năm 2025, có 2 doanh nghiệp in địa phương đã thực hiện liên doanh một công đoạn sản xuất, cùng góp vốn để đầu tư một máy xuất phim điện tử, thuộc công đoạn trước in. Việc liên kết này đã giải quyết cho 2 doanh nghiệp giảm thời gian phải lên thành phố xuất phim, chủ động sản xuất phim ngay tại địa phương nhà, giảm bớt một nửa vốn đầu tư máy xuất phim có nguồn việc nhiều hơn do có hai đơn vị cùng đặt hàng.
- Giải tỏa vốn tồn đọng để tạo thêm vốn kinh doanh cho các đơn vị in Nhà nước.
Do quá trình lịch sử để lại nhiều doanh nghiệp in Nhà nước tồn kho các tài sản vật tư qua nhiều đời Giám đốc mà giải tỏa không được, vì khi thanh lý phải bán giá thấp hơn nhiều giá mua vào, nghĩa là các doanh nghiệp phải giảm lãi, đôi khi từ có lãi sẽ biến thành lỗ và phải giải quyết một lượng tồn kho quá lớn từ nhiều đời trước tồn lại, do đó các doanh nghiệp Nhà nước muốn giữ lại kho cho dù không còn sử dụng được nữa, nhưng nguyên giá tài sản vẫn đảm bảo trong sổ sách kế toán. Phải mạnh dạn thanh lý các loại tồn đọng này cho dù sổ sách kế toán phải giảm lãi, nhưng lâu dài nó là động lực lưu thông nguồn vốn lưu động cho doanh nghiệp, chính vì vậy mà các doanh nghiệp tư nhân ít mắc phải những lỗi lầm này.
Kế tiếp là mặt bằng, nhà xưởng của các doanh nghiệp in Nhà nước sử dụng chưa có hiệu quả cao, vài đơn vị còn để lãng phí chưa sử dụng đúng mục tiêu, vì vậy quản lý Nhà nước về ngành in cần phối hợp để sắp xếp lại cho hiệu quả hơn, nếu dư thừa dùng vào dự án đầu tư đổi mới thiết bị, nguồn vốn này, hiện nay tồn tại rất lớn trong các doanh nghiệp in Nhà nước.
- Đẩy mạnh cổ phần hóa trong các doanh nghiệp in Nhà nước
Nghị quyết Trung Ương lần thứ ba, khóa IX khẳng định: “Đẩy mạnh cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước không cần gửi 100% vốn, xem đó là khâu quan trọng tạo chuyển biến cơ bản trong việc nâng cao hiệu quả doanh nghiệp Nhà nước”.
Chủ trương của Đảng và Nhà nước tiến hành cổ phần hóa là để: “Huy động thêm vốn, tạo thêm động lực thúc đẩy doanh nghiệp Nhà nước kinh doanh có hiệu quả, làm cho tài sản Nhà nước ngày càng tăng lên, … Việc gọi thêm cổ phần hoặc bán cổ phần cho người lao động tại doanh nghiệp, các tổ chức cá nhân ngoài doanh nghiệp theo từng trường hợp cụ thể, vốn huy động được phải dùng để mở rộng sản xuất kinh doanh”. Khóa luận: Chiến lược phát triển các doanh nghiệp in tại HCM.
Việc cổ phần hóa còn mang lại nhiều vấn đề tích cực khác cho các doanh nghiệp Nhà nước và phát triển kinh tế xã hội. Nhưng tại sao chủ trương đúng đắn này khi áp dụng vào cuộc sống vẫn còn chuyển biến chậm chạp?
- Theo các Chuyên gia kinh tế có nhiều nguyên nhân cơ bản sau đây:
Việc tuyên truyền phổ biến cổ phần hóa chưa được cấp quản lý quán triệt sâu rộng. Vì vậy, phần lớn tâm lý công nhân viên rất lo lắng về việc làm và thu nhập sau khi cổ phần hóa.
Nhà nước còn thiếu cương quyết, tâm lý của nhiều cán bộ lãnh đạo doanh nghiệp Nhà nước và của cán bộ quản lý nhà nước cấp Cục, Vụ, Sở, v.v… ngán ngại cổ phần hóa, vì sợ ảnh hưởng tới vị trí ghế ngồi, quyền lực ảnh hưởng của mình, nên chưa tích cức đôn đốc thực hiện.
Một số Cán bộ phụ trách Đảng, Đoàn thể chưa quán triệt đầy đủ chủ trương cổ phần hóa, nên chờ đợi thụ động tới đâu hay tới đó, đối phó bằng các biện pháp nghiệp vụ.
Việc chậm cụ thể hóa do thiếu nhiều tính cụ thể hóa, có sự chồng chéo của Sở ngành địa phương, các văn bản pháp quy ban hành còn chậm chưa tạo môi trường thuận lợi, một số vấn đề như giải quyết vấn đề về tài chính, đánh giá tài sản còn nhiều vướng mắc, v.v…
- Qua đó, nhận xét như sau:
Các doanh nghiệp có 2 nhiệm vụ, in là nhiệm vụ thứ hai đã được chọn làm cổ phần hóa và đạt được nhiều thành công.
Doanh nghiệp in có nhiệm vụ chính là sản xuất in ấn, lại là một doanh nghiệp in nhỏ, không hấp dẫn đối với người mua cổ phiếu.
Các doanh nghiệp in đang làm ăn có hiệu quả chưa thấy xuất hiện được chọn trong giai đoạn này.
Giai đoạn 2023-2026 bắt đầu có nhiều thay đổi tích cực, danh sách được chọn cổ phần hóa có một số doanh nghiệp khá hơn. Nhưng số doanh nghiệp in Nhà nước đang làm ăn có hiệu quả hấp dẫn ( chỉ là doanh nghiệp có quy mô vừa ) cũng chưa thấy xuất hiện, cụ thể như Xí nghiệp in số 7, Xí nghiệp in số 4, v.v…
- Giải pháp tăng cường đầu tư Khóa luận: Chiến lược phát triển các doanh nghiệp in tại HCM.
Định hướng phát triển sản phẩm ngành in Thành phố Hồ Chí Minh trong những năm tới với xu hướng tem, nhãn, bao bì sẽ tăng cao. Dự kiến tăng hơn gấp 3 lần so với năm 2025, chiếm 30% tỷ trọng trang in, báo, tạp chí, sách giáo dục và các loại sách cao cấp sẽ tăng gấp 2 lần chiếm tỷ trọng trên 10% tổng trang in, còn lại là văn hóa phẩm, giấy tờ quản lý, v.v…
Đối với các ấn phẩm như sách giáo khoa và các loại sách giáo dục khác phải phấn đấu đạt 7 bản sách bình quân đầu người đến năm 2035, lại cần tập trung nâng cao năng lực công nghệ in hoàn thiện sản phẩm, vì hiện nay đang là khâu yếu nhất. Xu hướng xuất khẩu sách có chất lượng cao là nhu cầu đặt ra rất lớn, điều này đòi hỏi công nghê sau in càng phải mang tính công nghiệp hiện đại.
Đối với sản phẩm tem, nhãn, bao bì sẽ phát triển với sản lượng lớn nhưng rất đa dạng về mẫu mã, về chất lượng của bao bì. Điều này đòi hỏi các máy in và các thiết bị sau in phải đa dạng và chuyên dụng chuyên sâu vào từng dạng, từng chất liệu in, v.v…để đạt được chất lượng theo nhu cầu của thị trường. Vì vậy, vấn đề đầu tư công nghệ in là một sự tổng hợp nhu cầu của thị trường trong và ngoài nước dự đoán trong những năm sắp đến, không thể khập khiễng, thiếu tính đồng bộ, thì sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại ngành in nhanh hoàn tất yêu cầu.
- Giải pháp về công nghệ in
Quan điểm đề xuất hướng đầu tư là đa dạng hóa các phương pháp công nghệ in hiện đại của thế giới đã ứng dụng, đi tắt đón đầu những thiết bị hiện đại vào ngành in Việt Nam nhưng phải bảo đảm được giá cả cạnh tranh. Vì vậy, vẫn tranh thủ tối đa những thiết bị trung bình tiên tiến phù hợp với nhu cầu ấn phẩm hiện tại trong nước và các ấn phẩm này vẫn tồn tại và phát triển trong 10 năm, thậm chí lâu hơn nữa.
Với sự chọn lựa và định hướng đầu tư công nghệ đúng đắn, biết tìm ra bước đi phù hợp, cần tập trung đúng vào những khâu trọng yếu có tính đột phá, đừng bước tiến lên đồng bộ hóa toàn bộ dây chuyền sản xuất, đáp ứng tốt mọi nhu cầu về in của xã hội. Cũng cần chú ý việc quyết định đầu tư trong các đơn vị in chuyên về sách, báo và xuất bản phẩm, vv… ngoài việc kinh doanh thông thường phải đặt chúng trong một thể chế văn hóa thông tin, do đó cần coi trọng cả hiệu quả kinh tế và hiệu quả chính trị – xã hội. Khóa luận: Chiến lược phát triển các doanh nghiệp in tại HCM.
- Giải pháp về kỹ thuật công nghệ
Đối với khâu trước in:
Là một công đoạn quan trọng của quá trình in, trong thập niên vừa qua và những năm gần đây, công nghệ trước in có nhiều tiến bộ kỹ thuật nổi bật nhất và nhanh nhất, tiêu biểu trong các lĩnh vực tạo màu, sắp chữ điện tử như:
- Công nghệ xử lý dữ liệu thẳng tới máy in (Computer to Press).
- Công nghệ xử lý điện tử không qua phim (Computer to Plete).
- Các hệ thống vi phân xử lý hình ảnh và dữ liệu với các phần mềm mới rất thông minh.
- Công nghệ chụp ảnh kỹ thuật số độ nét cao (Digital)
Ngày nay, kỹ thuật quét sao chép các điểm ảnh (copydot), in thử lỹ thuật số ra thẳng bản in từ máy tính (Computer to Plete và Computer to Press) và các công cụ phần mềm quản lý lưu đồ mạnh mẽ ngày càng được sử dụng nhiều trên thị trường. Vấn đề thích nghi với công nghệ chế bản mới là một bước quan trọng nhằm đến việc hạ giá thành sản phẩm và giảm thời gian tại khâu trước in.
Chúng ta thấy rằng việc thay đổi công nghệ này được đều xuất phát nhu cầu đòi hỏi nhà in và người đặt in, nó mang lại người đặt in những phương pháp mới để chuyển thông tin nhanh và chất lượng cao, và hiệu quả chỉ đạt được cao khi các nhà in cũng hường hoàn toàn đến môi trường lưu đồ làm việc kỹ thuật số.
Trên đây là một số những tiến bộ cơ bản mà xu hướng của các nhà in trên thế giới đang tiến tới. Các doanh nghiệp Việt Nam cần định hướng về tương lai phát triển của mình cho phù hợp, theo chúng tôi các doanh nghiệp in lớn, in đầu đàn của ngành cần tập trung tiếp cận các công nghệ hiện đại này càng sớm, thứ hai trong mô hình Công ty mẹ, cần hình thành trung tâm chế bản hiện đại phục vụ cho các cơ sở in thành viên, đồng thời làm vai trò thúc đẩy cho các công đoạn khác của toàn ngành phát triển.
- Đối với khâu in: Khóa luận: Chiến lược phát triển các doanh nghiệp in tại HCM.
Cách mạng khoa học trong khâu in tập trung chủ yếu vào việc chinh phục tốc độ in và tự động hóa tôi đa các thao tác, để tạo sự chính xác cao và thời gian ngừng máy.
Tốc độ máy in tờ rời tăng lên 10.000 tờ/giờ tới 20.000 tờ / giờ, tốc độ máy in cuồn tăng cao từ 20.000 tờ/giờ lên 100.000 tờ/giờ, từng 50 m/phút lên 200 m/phút.
Viêc tự động hóa của máy in được ứng dụng hầu hết vào các công việc quan trọng như lên bản kẽm, chỉnh sửa tay – kê, chỉnh ống, canh chỉnh màu, cân chỉnh áp lực in,v.v…
Mỗi loại máy in, mỗi loại phương pháp in ngày đều được cải tiến hiện đại nhờ vào sự tiến bộ của khoa học, chúng đều có những mặt ưu việt khi sản xuất loại ấn phẩm nào đó. Vì vậy, theo quan điểm của tác giả, cần ứng dụng nhiều phương pháp in của thế giới vào ngành in Việt Nam và tận dụng khai thác các loại máy in còn phù hợp với tình hình thực tiễn tại thị trường, các doanh nghiệp in căn cứ vào chiến lược sản xuất kinh doanh của mình mà xây dựng chiến lược đầu tư phù hợp, định hướng ngành cần cho từng doanh nghiệp để tránh sự trùng lắp về dư thừa một loại công nghệ nào đó.
Chiến lược đầu tư vào những năm 70, ngành in Việt Nam đặt mục tiêu Offset hóa ngành in, đến nay chương trình Offset hóa được đành giá cơ bản đã hoàn tất và đã mang lại những thành quả to lớn. Phương pháp in Offset là một phương pháp in phổ biến trên thế giới, có nhiều lợi thế, nhưng với sự phát triển của xã hội, của thị trường hàng hóa hiện nay, phương pháp in offset không thể đáp ứng cho tất cả các loại mặt hàng. Các loại tem, nhãn, bao bì có xu hướng ngày càng tăng cao trong nên kinh tế thị trường, chúng phát triển đa dạng về mẫu mã, phong phú về chất liệu in, do đó các phương pháp in như Flexco, ống đồng, Lettepress, Tampon, lụa v.v… lại rất phù hợp, đáp ứng cho thị trường ấn phẩm ngày nay.
- Khâu sau in: Khóa luận: Chiến lược phát triển các doanh nghiệp in tại HCM.
Khâu hoàn thiện ấn phẩm, việc đổi mới công nghệ tại khâu này không mạnh mẽ bằng hai khâu trước. Việc đầu tư thiết bị cho khâu sau in phải căn cứ vào loại ấn phẩm mà ngành công nghiệp in đang theo đuổi, vì thiết bị sau in phục vụ cho sách, tạp chí hoàn toàn khác biệt với thiết bị sau in in phục vụ cho nhãn, bao bì in trên màng nhựa, v.v …
Theo chúng tôi, đối với ấn phẩm sách, tạp chí, các thiết bị đóng sách bằng kim đóng, bằng may chỉ, bằng keo nhiệt vẫn tiếp tục tồn tại theo ấn phẩm và đây là ba phương pháp chính cho in sách. Do đó, đối với các doanh nghiệp in sách giáo khoa, các doanh nghiệp in sách và tạp chí cần là sản phẩm chủ lực có quy mô, cần tập trung đầu tư khép kín khâu sau in bằng thiết bị hiện đại – dây chuyền đóng sách liên hoàn, may kỵ mã liên hợp để phục vụ nhu cầu về sản lượng và nâng cao chất lượng đóng sách, xây dựng dây chuyền đóng sách bìa cứng đạt tiêu chuẩn quốc tế .
- Tóm lại, việc định hướng cho công in đến năm 2035 có thể đặt mục tiêu phân đấu như sau:
Công nghệ in kỹ thuật số sẽ trở thành mục tiêu đặt ra cho ngành in đến năm 2035 có thể đặt mục tiêu phấn đấu như sau:
Công nghệ in kỹ thuật số sẽ trở thành mục tiêu đặt ra cho ngành in đến năm 2035, chính là việc đưa công nghệ thông tin vào hệ thống in, để hòa nhập với ngành in khu vực, và từng bước đưa nghành in của đất nước hướng tới xuất khẩu ấn phẩm ra thị trường thế giới.
Từ đây đến năm 2035, ngành in thành phố Hồ Chí Minh cần hướng đến một lưu đồ công nghệ mới CIP3 – PPF – hợp tác quốc tế cho sự hợp nhất chế bản – in – thành phẩm.
Đó là lưu đồ làm việc không dừng lại ở khâu chế bản trước in.
- Nội dung của CIP3 – PPF
Chuyển đổi dữ liệu thẳng từ khâu chế bản trước in tới in, thành phẩm sau in
- Lợi ích của việc sử dụng CIP3 – PPF
Về năng suất:
- Chu kỳ sản xuất ngắn hơn
- Kiểm soát chất lượng tốt hơn
- Quá trình sản xuất trôi chảy hơn , giảm lượng vật tư in hư hỏng .
- Cải thiện năng suất lao động và giảm giá thành sản phẩm .
Vì các dữ liệu in được thu nhận một lần và được xác định thông số trên các thiết bị nhanh hơn, chính xác hơn.
- Về môi trường Khóa luận: Chiến lược phát triển các doanh nghiệp in tại HCM.
Tránh các chất hóa học trong xử lí phim, giảm lượng nước thải trong quá trình sản xuất. Như vậy, với việc sử dụng CIP3 và định dạng PPF, một vài nhà in lớn tại Thành phố Hồ Chí Minh có thể ứng dụng chúng qua mạng Internet và sự trang bị đồng bộ về kỹ thuật in, làm cho ngành in Việt Nam có thể nâng cao vị thế cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
- Giải pháp về nghiên cứu và phát triển
Thị trường in offset sẽ ổn định và giảm dần theo tỷ lệ phát triển của công nghệ in khác, từ đây đến năm 2035.
Trong đó : in offset 1 màu, 2 màu tờ rời ( sheetfed ) sẽ giảm nhiều trong chu kỳ trên. In Offset nhiều màu tờ rơi sẽ tăng sẽ tăng dần đến 2035, sau đó ổn định trong những năm kế tiếp. In Offset cuồn nhiều màu có bộ phận sấy sẽ tăng chậm nhưng phát triển đều đến sau năm 2035.
Thị trường in ống đồng nhiều màu ổn định tăng chậm, do nhu cầu sản phẩm in màng nhựa sẽ không phát triển cao vì ảnh hưởng đến môi trường, do nhu cầu hiện tại còn cao và thói quen tiêu dùng nên vẫn đảm bảo nguồn hàng ổn định.
Thị trường in Flexco nhiều màu sẽ tăng dần từ đây đến năm 2035, do nhu cầu về tem, nhãn, bao bì trên loại giấy dán dính và các loại nhãn cuốn vào máy tự động.
Thị trường in kết hợp Lettepress, Tampon, Lụa và Offset chiếm tỷ trọng tuy nhỏ nhưng chiều hướng ổn định, và sự phát triển đa dạng của sản phẩm in trong nền kinh tế thị trường và sự chuyên môn hóa các chủng loại nhãn, bao bì, các sản phẩm in phục vụ quảng cáo, khuyến mãi, giới thiệu nhanh , v.v …
Bảng 3.3: Dự đoán việc ứng dụng các phương pháp in tại Châu Âu
- Phương pháp in Offset:
Là phương pháp in phổ biến hiện nay, trong nhiều năm tới vẫn rất thông dụng và chiếm ưu thế. Với ưu điểm về năng suất, chất lượng in và hiệu quả kinh tế cao, hiện nay trên thế giới đang ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật để hiện đại hóa và hoàn thiện hơn nữa về tốc độ và chất lượng in của in Offset. Chúng chia làm hai loại là in Offset tờ rời và in Offset cuồn.
- Ưu điểm của in Offset tờ rời rất tiện ích để in các loại ấn phẩm trên giấy như sách, sách ảnh, tờ gấp, lịch giấy, nhãn giấy, hộp giấy, v.v …
- Ưu điểm của in Offset cuồn có tốc độ rất nhanh, ích lợi để sản xuất báo, tạp chí, sách với số lượng lớn.
Giới hạn của phương pháp in Offset là chất liệu in và kích thước cố định, nên khi thị trường phát triển đa dạng phong phú, đặc biệt về tem nhãn, bao bì trên vật liệu màng PE, PP, OPP, các loại vật liệu định hình, v.v … không đáp ứng được.
- Phương pháp in ống đồng : Khóa luận: Chiến lược phát triển các doanh nghiệp in tại HCM.
Có đặc điểm in cuồn với tốc độ cao, bản in ống đồng có độ bền cao hơn in Offset nhiều lần, có thế mạnh in trên màng nhựa BOPP, PP, PE, màng kim loại, v.v… in với số lượng càng lớn càng có giá thành hạ. Nhưng ngược lại in với số lượng thấp có giá thành rất cao vì chi phí của trục in ống đồng. In ống đồng bị hạn chế hơn phạm vi ấn phẩm đối với in Offset, sự chuyển đổi ấn phẩm này sang ấn phẩm khác chậm không linh hoạt và môi trường nhiều độc hại hơn.
- Phương pháp in Flexco:
Cũng là một trong các phương pháp in cuồn phổ biến và ngày được áp dụng trên thế giới vào thập niên đầu 90, khi kỹ thuật in chồng màu của nó đạt ở chỗ yêu cầu cao.
Ưu điểm:
- Có thể in trên các chất liệu màng nhựa như ống đồng phục vụ tem, nhãn, bao bì.
- Do bản in rẻ, hiệu chỉnh lên xuống bản in đơn giản hơn nên được giá thành cao khi in với số lượng thấp.
- Sử dụng loại mực in giảm được độc hại môi trường.
- Sử dụng in trên giấy phục vụ cho nhãn, bao bì giấy và sách báo .
Giới hạn của chúng về khổ in, kích thước lớn làm cho bản in photopolymez bị dãn, khó chồng màu chính xác.
- Phương pháp in Lettepress :
Là phương pháp in kết hợp, chuyên cho các ấn phẩm nhãn, bao bì, kích thước ngang thường hạn chế.
- Ưu điểm:
In trên các loại giấy phủ láng, trên màng có độ láng, sản lượng in không cần lớn linh hoạt trong nhiều mức độ, thay đổi khuôn dễ dàng. Khóa luận: Chiến lược phát triển các doanh nghiệp in tại HCM.
- Giới hạn của chúng là không sử dụng in được sách, báo
- Phương pháp in lưới :
Đặc điểm đơn giản, dễ đầu tư, nhưng khuyết điểm chính là tốc độ in không cao, khó cạnh tranh về thời gian với số lương lớn, độ chồng màu không sắc nét. Do đó, chỉ thuận lợi khi in kết hợp với các phương pháp in khác.
Những thông tin cơ bản trên là dự báo định hướng cho ngành công nghiệp in Việt Nam nói chung, in trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, lựa chọn phương pháp in năm 2035, để phù hợp với thực tế nhu cầu xã hội và nền kinh tế của nước ta.
- Giải pháp về việc thực hiện chiến lược Marketing – Mix
Theo quan điểm về Marketing hiện đại, để đạt được mục tiêu trong kinh doanh, doanh nghiệp phải xác định đúng nhu cầu, đúng mong muốn của khách hàng và thị trường về chủng loại hàng hóa. Từ đó doanh nghiệp tìm đủ mọi cách để thỏa mãn tối đa nhu cầu thị trường và có ưu thế hơn so với đối thủ cạnh tranh. Mục tiêu của Marketing hiện đại là tập trung vào những khách hàng nhất định của mình để thỏa mãn tốt nhất và đạt hiệu quả nhất.
Vì vậy, khi áp dụng Marketing, các doanh nghiệp in cần phải đánh giá được thế mạnh của mình về các loại ấn phẩm nào đó, xây dựng các mục tiêu, xác định đúng nhu cầu, mong muốn của khách hàng, tập trung vào khách hàng, ấn phẩm, vào thị trường đó để khai thác. Việc xây dựng thị trường mục tiêu là cần thiết, vì không một doanh nghiệp in nào có thể thỏa mãn tất cả nhu cầu in ấn đa dạng trên thị trường và đồng thời không phải ở bất kỳ thị trường nào cũng giành được lợi thế cạnh tranh. Do đó, phải xác định được thị trường mục tiêu với các loại ấn phẩm có thế mạnh, nó còn được gọi là thị trường chính của doanh nghiệp.
- Xây dựng thị trường mục tiêu cho các doanh nghiệp in Thành phố Hồ Chí
Marketing theo mục tiêu giúp cho các bộ phận thị trường xác định được cơ hội kinh doanh tốt hơn, giúp cho doanh nghiệp phát triển sản phẩm in đúng cho từng thị trường mục tiêu. Doanh nghiệp có thể điều chỉnh giá cả, kênh tiêu thụ, quảng cáo đến một thị trường mục tiêu có hiệu quả. Khóa luận: Chiến lược phát triển các doanh nghiệp in tại HCM.
Thực hiện Marketing mục tiêu qua 03 bước:
- Tiến hành phân khúc thị trường in Thành phố Hồ Chí Minh
Căn cứ vào đặc điểm của ngành in có thể chia thành 5 nhóm sản phẩm lớn thành các thị trường lớn như sau:
- Tem, nhãn, bao bì: trong nhãn, bao bì phân nhỏ có tem bao bì in trên giấy hay in trên nhựa, in trên màng phức hợp, v.v…
- Phân khúc thêm nữa là in trên giấy mỏng, in trên giấy dày thùng carton, v.v…
- Sách, báo, tạp chí: Phân khúc thêm nữa sách có quy trình sản xuất khác báo và tạp chí, báo có tính thời gian nhanh hơn và chu kỳ sống ngắn hơn, v.v…
- Các loại giấy tờ quảng cáo, áp phích, văn hóa phẩm lịch, bưu ảnh, v.v… mỗi loại chúng có chung đặc điểm về sản xuất, nhưng có những khác biệt riêng của từng sản phẩm in.
- Biểu mẫu, hóa đơn, chứng từ quản lý.
Lựa chọn thị trường mục tiêu
Sau khi phân tích, nghiên cứu và đánh giá về môi trường và thực trạng của ngành in, chúng tôi đề xuất lựa chọn thị trường mục tiêu là tem, nhãn, bao bì các loại để thực hiện chiến lược Marketing cho ngành in phát triển đến năm 2035.
- Phát triển vị trí sản phẩm in nhãn, bao bì.
Xác định vị trí sản phẩm nhãn, bao bì cho các doanh nghiệp in Thành phố Hồ Chí Minh để lựa chọn lợi thế cạnh tranh trong từ loại sản phẩm tem, nhãn, bao bì. Lựa chọn chiến lược marketing phù hợp như giá thấp, chất lượng, dịch vụ cao, v.v… hay giá cao đối với loại ấn phẩm đặc biệt mà đối thủ không có khả năng thực hiện.
Thực hiện Marketing trong sản xuất kinh doanh in ấn được phân tích trên một số yếu tố cơ bản sau đây:
- Về sản phẩm in
Ấn phẩm sách, báo, tạp chí, đáp ứng cho nhu cầu về thông tin, tuyên truyền, giáo dục, nâng cao kiến thức và giải trí, v.v… thị trường tiêu thụ hay nói cụ thể khách hàng đặt in là các tổ chức hay cá nhân có thẩm quyền và có nhu cầu in ấn, để xuất bản và phân phối trên thị trường như tòa soạn báo, nhà xuất bản, công ty, trường học, v.v… Vì vậy đối tượng, mục tiêu Marketing của Nhà in khác Nhà xuất bản và nhà báo. Khóa luận: Chiến lược phát triển các doanh nghiệp in tại HCM.
Nếu phân khúc thị trường sản phẩm này thêm bước nữa, chúng ta nhận thấy sách có thị trường khác, báo có thị trường khác. Và quy trình in sách cũng khác quy trình in báo, vì vậy chiến lược sản phẩm cho từng doanh nghiệp in cụ thể cũng khác nhau.
Dự kiến nhu cầu nội địa của thị trường sách, báo sẽ tăng lên gấp 4 lần đến năm 2035 và trong đó ấn phẩm cao cấp sẽ chiếm hơn một nữa sản lượng. Nhu cầu các loại sách ảnh cao cấp của thị trường châu Âu, châu Mỹ nhập từ các nước ngoài vào dự kiến cũng tăng từ 20 đến 25% trong 10 năm tới.
Nhãn, bao bì là loại ấn phẩm có giá trị cao, chiếm tỉ trọng lớn trong thị trường in ấn, với tính đa dạng của thị trường và nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao của thị trường, ấn phẩm nhãn và bao bì ngày càng phong phú và đa dạng, mẫu mã hình thức luôn thay đổi, mang tính sáng tạo và cạnh tranh cao.
Với xu hướng phát triển của nền kinh tế đất nước trong nhiều năm tới, các ngành tiêu dùng và dịch vụ sẽ phát triển mạnh, vì vậy thị trường nội địa sẽ là một nhu cầu lớn, dự kiến sẽ tăng gấp 05 lần vào năm 2035. Ngoài ra như cầu chung của các nước trên thế giới về sử dụng các loại tem, nhãn, bao bì cao cấp trên màng ghép, màng phức tạp và trên đề can sẽ tăng trưởng từ 20 đến 25% trong 10 năm tới, là một thị trường xuất khẩu hấp dẫn cho các doanh nghiệp in và ngành in, vì vậy cần xây dựng một chiến lược Marketing toàn diện để đáp ứng được nhu cầu này trên sản phẩm có lợi thế cạnh tranh.
Các loại ấn phẩm văn hóa phẩm như tờ quảng cáo, áp phích, catalogue, lịch, bưu ảnh v.v… chúng cũng giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế thị trường và thương mại quốc tế, xu hướng đang tăng nhanh trong thời gian vừa qua, đặc điểm của ấn phẩm này thường có chu kỳ lưu hành ngắn, vòng đời sản phẩm ngắn. Vì vậy, xây dựng chiến lược Marketing phải phù hợp, mang tính linh hoạt cao trong từng giai đoạn, trong từng thời vụ sản xuất.
Các loại biểu mẫu, hóa đơn, phục vụ cho nhu cầu quản lý kinh tế, quản lý hành chính. Nhu cầu của loại ấn phẩm này đang tăng lên theo sự phát triển của nền kinh tế, nhưng dự kiến sau 10 năm nữa sẽ đi vào ổn định. Đặc điểm của chúng thường đơn giản, có chu kỳ sống dài, lặp đi lặp lại, tuy đa dạng nhưng không phong phú và phải tuân thủ theo những hình thức nhất định nào đó.
Tóm lại, các doanh nghiệp in cần xác định rõ thị trường mục tiêu để xây dựng chiến lược Marketing theo sản phẩm phù hợp với môi trường và đặc điểm của doanh nghiệp. Đối với các doanh nghiệp in trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, in Việt Nam nói chung cần xây dựng chiến lược Marketing theo sản phẩm nhãn và bao bì cho đến năm 2035.
- Về giá cả ấn phẩm Khóa luận: Chiến lược phát triển các doanh nghiệp in tại HCM.
Là chiến lược có vai trò quan trọng, việc xây dựng giá in ấn phù hợp và linh hoạt sẽ ảnh hưởng rất lớn đến việc thu hút khách hàng in, chiến lược giá cả được sử dụng như một vũ khí sắc bén của các doanh nghiệp để cạnh tranh trong thị trường.
Các quyết định về giá cả trong doanh nghiệp đều chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, bao gồm nhiều yếu tố:
- Chiến lược Marketing hỗn hợp.
- Các chi phí sản xuất.
- Thị trường và lượng cầu: cần chú ý tới mùa vụ in ấn ảnh hưởng lớn đến cung cầu, vì vậy chiến lược giá cả in ấn phải thay đổi đối với từng loại ấn phẩm.
- Giá in của các đối thủ cạnh tranh.
- Sự độc đáo của ấn phẩm.
- Tâm lý và nhu cầu cấp bách của khách hàng cùng với thương hiệu uy tín của nhà in.
- Thời gian thanh toán.
- Phục vụ là vấn đề quan trọng hiện nay cần giúp khách hàng giảm thụ tục xuất bản, chi phí đi lại, chi phí tồn kho.
Đối với thị trường nội địa:
Các doanh nghiệp in Thành phố Hồ Chí Minh cần thực hiện chiến lược giá cả trọn gói, từ bỏ giá gia công in đơn thuần trong hàng chục năm nay. Như vậy sẽ tăng trách nhiệm, chủ động hơn trong sản xuất và kinh doanh có hiệu quả toàn diện hơn.
- Đối với thị trường nước ngoài:
Các doanh nghiệp in Thành phố Hồ Chí Minh cần thực hiện hai chiến lược giá cả trong gia đoạn này, đó là:
Chiến lược giá theo đuôi, thực hiện giá theo đuôi bám sát đối với các loại ấn phẩm sách cao cấp, các thành phẩm thiết kế in mới, thực hiện giá theo đuôi có lựa chọn đối với các ấn phẩm nhãn, bao bì.
Chiến lược giá in theo “lỗ hổng” hay theo “hốc” (Nichers). Vì có nhiều loại ấn phẩm mới có tiềm năng phát triển, nhưng hiện tại sản lượng không lớn nên các đối thủ cạnh tranh không quan tâm, hay các ấn phẩm đòi hỏi nhiều kỹ xảo và năng lực lao động cá biệt, v.v… các mô hình doanh nghiệp in vừa và nhỏ ở Việt Nam có thể đáp ứng được sẽ tạo được thuận lợi rất cao.
- Xây dựng kênh phân phối. Khóa luận: Chiến lược phát triển các doanh nghiệp in tại HCM.
Do đặc thù của ngành in, việc xây dựng kênh phân phối cần phải căn cứ trên những cơ sở sau:
- Chiến lược sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp in.
- Xác định thế mạnh của doanh nghiệp, chiến lược sản phẩm của doanh nghiệp in.
- Loại ấn phẩm nào cần phải thông qua tổ chức nhận in trung gian và đặc điểm của tổ chức in trung gian.
Chiến lược chiêu thị.
Marketing hiện đại đòi hỏi phải phát triển sản phẩm đúng thế mạnh, giá cả hấp dẫn và đạt nhiều khách hàng mục tiêu. Doanh nghiệp phải tạo nhiều quan hệ truyền thông với khách hàng.
Trong phân tích về 04 yếu tố được trình bày ở trên, nó bao gồm cả những yếu tố dịch vụ, đóng gói, vận chuyển đến tận nơi, bao tiêu giấy nháp in ấn, v.v… và không được xem nhẹ yếu tố chính trị và công luận trong sản phẩm in ấn.
- Giải pháp về nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp in Thành phố Hồ Chí Minh
Quy hoạch tổng thể lại hệ thống các trường đào tạo và mở rộng thêm quy mô đào tạo từng cấp công nhân kỹ thuật đến kỹ sư in có tay nghề với số lượng trên 8000 công nhân kỹ thuật bật bậc 3, bậc 4, được đào tạo từ học sinh phổ thông và thêm 2020 kỹ sư công nghệ in, đáp ứng nhu cầu của ngành in đến năm 2035.
Tổ chức các lớp đào tạo lại hay bồi dưỡng nâng cao tay nghề cho đội ngũ công nhân kỹ thuật in hàng năm, phấn đấu đến năm 2025 có trên 1200 công nhân kỹ thuật in bậc 7 giỏi nghề và đến năm 2030 có trên 2.400 công nhân bậc 7 giỏi nghề đủ để tiếp nhận và điều khiển các công nghệ in mới tại từng khâu sản xuất trong các doanh nghiệp in.
Ngày nay cần tiến hành biên soạn lại giáo trình đào tạo, cần một chương trình đào tạo có khoa học và thống nhất trong hệ thống các trường đào tạo ngành in, cập nhật hóa được kiến thức hiện đại của ngành.
Đào tạo lại và bổ sung đội ngủ giảng viên, xây dựng phương pháp giảng dạy một cách khoa học để giúp những vấn đề thiết thực, có ứng dụng thực tiễn cho học viên sau khi tốt nghiệp.
Nâng cao chế độ thù lao tương xứng cho đội ngũ giảng viên, đây là mấu chốt quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy.
Bộ Văn hóa thông tin và ngành in cần tăng ngân sách Nhà nước để đầu tư cơ sở vật chất cho các trung tâm đào tạo in.
Bảng 3.4 :Kế hoạch đào tạo lao động trong các năm (2025 – 2030)
- Về đào tạo Đại học và Trung cấp ngành in cần phân bổ chuyên ngành theo xu hướng phát triển của ngành trong 10 năm tới. Khóa luận: Chiến lược phát triển các doanh nghiệp in tại HCM.
- Kế hoạch 25% đào tạo sinh viên chuyên ngành in, trong đó chú ý khâu tạo mẫu và chế bản cho các loại phương pháp in Flexco, ống đồng, các loại kỹ thuật số, chế bản không phim , v.v . . .
Kế hoạch 60% đào tạo sinh viên chuyên ngành in, cần đi sâu vào các loại máy tiên tiến như in Offset 4 màu, trên một nửa tỷ lệ này cần hướng đào tạo về máy in báo, máy in ống đồng, Flexco nhiều màu cho nhãn, bao bì, v.v . . .
Kế hoạch 15 % đào tạo sinh viên chuyên ngành thành phẩm, các khâu sau in, (thường khâu này ích được chú ý ). Vì cho rằng không quan trọng và nguyện vọng của sinh viên cũng không nhiều. Nhưng nếu muốn nâng cao chất lượng in, các sản phẩm in đạt tiêu chuẩn xuất khẩu, phải xác định lại việc đào tạo khâu sau in và chuyên sâu khâu đóng sách cao cấp và kiểm tra sách, khâu ghép màng phức hợp và dán túi thành phẩm nhãn, bao bì v.v . . .
- Về kế hoạch đào tạo tay nghề bậc thợ in:
Các trường đào tạo công nhân thường chú ý nhiều về lý thuyết, thời gian thực tập phần lớn nhà trường liên hệ với các doanh nghiệp in và giao phó mặc cho học viên cùng doanh nghiệp, ít có những buổi tổng kết hàng tuần, tháng tại trường cho học sinh. Đây chính là mấu chốt cơ bản làm cho học viên rất khó khăn tiến bộ, giỏi nghề sau khi tốt nghiệp, tiếp đến làm ảnh hưởng đến tính chuyên sâu về kỹ thuật sản xuất cho từng khóa đào tạo.
Khi xuống doanh nghiệp thực tập, các Thầy – Cô nhà trường thường ít xuống thực tiễn cùng với học viên, vì vậy việc kết hợp giữa lý thuyết và thực tiễn bị tách rời nhau. Phải nhanh chóng khắc phục khuyết điểm này, bằng cách là nhà trường và Thầy – Cô giáo phải có chương trình thực tập cho từng học viên, chương trình thực tập này là bộ khung giáo án mang tính lô gic và khoa học không được tùy tiện. Các chương trình thực tập được nhà trường trao đổi với các doanh nghiệp in để hai bên phối hợp giúp cho việc đào tạo học viên có chất lượng đúng yêu cầu.
- Đào tạo kỹ sư và công nhân cơ khí in.
Vấn đề này rất quan trọng cho một chiến lược phát triển ngành, nhưng thực tế hiện nay chưa có đào tạo chuyên ngành kỹ sư điện tử, kỹ sư cơ khí, v.v … trừ trường đại học Bách khoa, Khoa học xã hội, v.v … công tác lâu năm trong ngành in tự đào tạo trưởng thành lên. Khóa luận: Chiến lược phát triển các doanh nghiệp in tại HCM.
Theo chúng tôi, trước mắt cần tận dụng đội ngũ kỹ sư được đào tạo từ các trường Đại học về các ngành nghề liên quan, tận dụng số lượng công nhân kỹ thuật được đào tạo từ các trường dạy nghề liên quan, tận dụng số lượng công nhân kỹ thuật được đào tạo từ các trường dạy nghề, tuyển dụng hàng năm lên chương trình đào tạo bổ sung 2 năm về cơ khí in, để lấy bằng Đại học thứ hai về cơ khí ngành in hay bằng trung cấp kỹ thuật cơ khí in.Cần lên kế hoạch đào tạo và đào tạo lại gấp từ đây đến năm 2035 có từ một đến hai kỹ sư cơ khí in chuyên nghiệp cho mỗi doanh nghiệp in.
- Bồi dưỡng và đào tạo lại Cán bộ lãnh đạo và quản lý tại các doanh nghiệp
- Đào tạo công nhân kỹ thuật in
Củng cố Trường Trung học kỹ thuật in tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, xây dựng chỉ tiêu đào tạo 300 công nhân – một năm cho mỗi trường.
Tăng kinh phí đào tạo cho các trường trung học kỹ thuật trên 2,5 tỷ đồng một năm cho các trường trung cấp, tiếp tục duy trì định mức 5 triệu đồng cho việc đào tạo 01 công nhân in và định mức 4,5 triệu đồng /năm cho việc đào tạo một Cán bộ cấp kỹ thuật.
Mỗi trường trung học cần được đầu tư thêm một số thiết bị in để học tập như – máy chế bản phân màu loại nhỏ nhưng tiên tiến, v.v . đặt chỉ tiêu đến năm 2035 trang bị đầy đủ.
Mở thêm một trường trung học kỹ thuật in tại miền Trung, có thể chọn Nha Trang hoặc Đà Nẵng – Theo ý kiến đề xuất chúng tôi, không cần mở thêm nhiều trường mà tập trung vốn vào khoảng 03 trường để trang bị máy móc đầy đủ cho công nhân học tập, vì thực tiễn thời gian qua chứng minh nhiều học viên ra trường tay nghề rất yếu kém, các kỹ thuật cơ bản để thao tác trên máy cũng không đạt yêu cầu.
- Xây dựng lại chương trình học tập, cập nhật hóa giáo trình giảng dạy và đào tạo lại đội ngũ Giáo viên.
- Xây dựng nguồn kinh phí giảng dạy thêm bằng cách kết hợp với các doanh nghiệp in, đào tạo công nhân in theo yêu cầu của doanh nghiệp, tổ chức đào tạo thi lên bậc thợ hàng năm cho doanh nghiệp.
- Kết hợp với trường công nhân kỹ thuật Cao Thắng, trường trung cấp dạy nghề của Bộ giáo dục, đào tạo đội ngũ công nhân điện và cơ khí ngành in.
- Kết hợp với một số nước ngoài như Nhật bản, Malaysia, Singapore, Đức v.v . . . đang có những chương trình đào tạo công nhân kỹ thuật hổ trợ cho Việt Nam trong 15 năm. Khóa luận: Chiến lược phát triển các doanh nghiệp in tại HCM.
Đào tạo kỹ sư công nghệ in và cử nhân quản trị kinh doanh:
Đẩy mạnh chương trình đào tạo kỹ sư công nghệ in tại trường Đại học Bách khoa Hà Nội và Đại học Sư Phạm kỹ thuật Thủ Đức-Thành phố Hồ Chí Minh. Lên chỉ tiêu mỗi năm đào tạo khoảng 100 kỹ sư tại mỗi trường. Đề nghị Bộ Văn hóa cùng kết hợp với Bộ Giáo dục lên kinh phí đủ để phát triển cho nhu cầu.
Phối hợp với Đại học Bách khoa Hà Nội và Đại học Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Cần thơ mở thêm chuyên ngành in để đào tạo kỹ sư cơ khí chuyên ngành in.
Phối hợp với các trường Đại học và bộ Giáo dục cho mở lớp Đại học bằng thứ 2 chuyên ngành in cho một số kỹ sư và cử nhân đã có bằng Đại học trước đó.
Phối hợp với trường Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội và Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, Sở Công nghệ khoa học môi trường mở các lớp bồi dưỡng chức năng Giám đốc cho các doanh nghiệp in, lên chương trình với các trường Đại học mở các lớp bồi dưỡng quản lý cho các Cán bộ quản lý doanh nghiệp của ngành.
Tranh thủ mọi nguồn đào tạo của nước ngoài, gửi Giáo viên cán bộ quản lý, Kỹ sư công nghệ để nâng cao kiến thức, bồi dưỡng thêm nghề nghiệp, mà hàng năm Nhà nước đều có chỉ tiêu phân bổ cho bộ Văn hóa và bộ Giáo dục nhưng chưa được khai thác triệt để.Vì vậy, ngành cần xây dựng một chiến lược cụ thể nguồn đào tạo này thông qua bộ ngoại giao Việt Nam đang có chương trình giúp đỡ của các nước Nhật Bản, Singapore, Hà Lan, Thụy Điển, Pháp, v.v …
Phối hợp với nguồn tài trợ nước ngoài và các doanh nghiệp in trọng điểm của Nhà nước như in Báo Nhân Dân, in Sài Gòn Giải Phóng, in Quân Đội Nhân Dân, in Bưu Điện, v.v … Nhà trường cần thành lập trung tâm thí nghiệm và ứng dụng các công nghệ in mới như công nghệ in CTP ( in không qua phim, in thẳng từ bộ phận thiết kế xuống các phân xưởng máy in ), hay công nghệ CIP3-PPF ( lưu đồ làm việc từ khâu chế bản in thành phẩm ) v.v . . .
- Xây dựng chính sách thu hút sử dụng người tài giỏi công nhân kỹ thuật cao tạo môi trường cạnh tranh nghề nghiệp công bằng và lành mạnh. Khóa luận: Chiến lược phát triển các doanh nghiệp in tại HCM.
Xây dựng chế độ chính sách lương bổng, vị trí tương xứng cho những Cán bộ quản lý công nhân kỹ thuật cao, ngoài lương cao và vị trí công việc tương xứng cần tạo cơ hội học tập trao dồi nghề nghiệp hàng năm cho đội ngũ này để ngày càng phát huy được tốt hơn.
Hiện nay, các sinh viên giỏi xuất sắc từ các trường Đại học, các công nhân kỹ thuật cao, các Cán bộ quản lý giỏi, v.v .đang có xu hướng chuyển dịch sang các doanh nghiệp có vốn người nước ngoài, vì họ được trọng dụng tốt, được bố trí chức vụ tương xứng hơn, có thu nhập cao hơn nhiều lần. Trong thực tiễn chứng minh tại các doanh nghiệp in trong nước, khi sử dụng tốt nhân tài, trọng dụng và bố trí đúng việc, các doanh nghiệp in này đều phát triển vững và có hiệu quả kinh doanh cao.
- Xây dựng chế độ tuyển dụng, đề bạt công khai, công bằng trong các doanh nghiệp in Nhà nước và các doanh nghiệp in có một phần chi phối của Nhà nước.
Một nguyên nhân quan trọng làm hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Nhà nước là do năng lực của Cán bộ quản lý còn nhiều hạn chế, còn mang nặng tính bao cấp, ngồi trông chờ – thụ động, v.v… Vì vậy, các cấp quản lý cần phải rà soát đánh giá lại và phân loại động ngủ Cán bộ quản lý hiện có, xác định nhu cầu về số lượng, chất lượng phù hợp với thời kỳ mới, từ đó có kế hoạch bồi dưỡng đào tạo và tuyển dụng lại để bố trí các vị trí chủ chốt. Xây dựng nhiều biện pháp cụ thể để thu hút những Cán bộ quản lý có tài đức, những công nhân kỹ thuật có tay nghề cao về làm việc tại doanh nghiệp.
Phương châm xây dựng chiến lược nhân tài cho các doanh nghiệp in Thành phố.
- Đối với nhân tài quản lý doanh nghiệp xây dựng thành chuyên nghiệp.
Xây dựng đội ngũ Giám đốc chuyên nghiệp, đội ngũ quản lý giỏi thông thạo về quản trị kinh doanh, am hiểu luật pháp kinh doanh trong và ngoài nước.
- Đội ngũ quản lý cần được đào tạo để cung cấp cho các doanh nghiệp in của Nhà nước và tư nhân, họ cần là những người được chuyên môn hóa, hiện đại hóa và quốc tế hóa để điều hành doanh nghiệp có sức cạnh tranh quốc tế.
- Đối với nhân tài kỹ thuật, tập hợp thu hút vào phục vụ sản xuất.
Cần xây dựng và tập hợp được đội ngũ nhân tài kỹ thuật đầu đàn, đầu ngành. Có công tác qui hoạch đào tạo từ các trường kỹ thuật, các trường Đại học, từ thực tiễn sản xuất, có chế độ chính sách tốt để phát huy sức mạnh tổng hợp.
Đẩy mạnh công tác đào tạo nhân tài khoa học kỹ thuật trẻ, cải cách chế độ quản lý và sử dụng thật hiệu quả.Xây dựng cơ chế xã hội hóa việc đánh giá nhân tài kỹ thuật chuyên nghiệp, xây dựng thang bậc chức danh, sao cho để mọi thành viên phấn đấu tốt, đưa nhân tài kỹ thuật về với sản xuất.
- Thu hút và sử dụng tốt nhân tài đang du học nước ngoài, hay các Việt kiều muốn trở về phục vụ cho đất nước, với nguyên tắc tin tưởng, mạnh dạng sử dụng, bố trí cương vị đúng tầm năng lực làm việc, xóa bỏ những hạn hữu.
- Xây dựng chế độ thu nhập và khen thưởng cao, tương xứng với năng lực và sự đóng góp vào doanh nghiệp, cần thoát dần khỏi chế độ lương bậc lâu năm lên lão làng, nhưng không có đóng góp gì cụ thể cho doanh nghiệp
- Xóa bỏ sự ngăn cách phân biệt đối sử với nhân tài đang phục vụ cho Công ty cổ phần, Công ty tư nhân, doanh nghiệp Nhà nước, vì các doanh nghiệp đều phục vụ chung cho sự phát triển nền kinh tế đất nước.
3.2.3 Các giải pháp vĩ mô Khóa luận: Chiến lược phát triển các doanh nghiệp in tại HCM.
- Giải pháp về các chính sách của Chính phủ đối với ngành in
Nghị quyết Trung ương lần thứ 3, khóa IX khẳng định: “Đẩy mạnh cổ phần hóa những doanh nghiệp Nhà nước không cần gửi 100% vốn, xem đó là khâu quan trọng để tạo chuyển biến cơ bản trong việc nâng cao hiệu quả doanh nghiệp Nhà nước”.
Chủ trương của Đảng và Nhà nước là tiến hành cổ phần hóa, nhằm“ Huy động thêm vốn, tạo thêm động lực thúc đẩy doanh nghiệp Nhà nước kinh doanh có hiệu quả, làm cho tài sản Nhà nước ngày càng tăng lên, … Việc gọi thêm cổ phần hoặc bán cổ phần cho người lao động tại doanh nghiệp, cho các tổ chức cá nhân ngoài doanh nghiệp theo từng trường hợp cụ thể, vốn huy động được phải dùng để mở rộng sản xuất kinh doanh”.
Với chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước và qua thực tiễn đã chứng minh một cách khẳng định rằng:
- Cổ phần hóa là giải pháp ưu việt trong cải cách và sắp xếp lại doanh nghiệp Nhà nước làm ăn có hiệu quả.
- Cổ phần hóa là giải pháp quan trọng, tăng khả năng cạnh tranh.
- Cổ phần hóa là giải pháp huy động vốn nhàn rỗi rất lớn để mở rộng sản xuất kinh doanh.
- Cổ phần hóa là giải pháp hữu hiệu tăng vốn để đầu tư đổi mới công nghệ.
- Cổ phần hóa là giải pháp tháo gỡ vốn tồn đọng, lành mạnh hóa tài chính tại doanh nghiệp.
Từ năm 2021 đến năm 2023, Nhà nước đã ban hành bổ sung thêm nhiều văn bản để phục vụ công tác cổ phần hoá như Nghị quyết số 58/2022/QD-TTg về tiêu chí danh mục phân loại doanh nghiệp Nhà nước và tổng công ty Nhà nước. Nghị định số 64/2022/ND-CP về chuyển doanh nghiệp Nhà nước thành công ty cổ phần. Thông tư số 80/2022-TT-BTC về hướng dẫn xác định giá trị doanh nghiệp khi chuyển thành công ty cổ phần, … Nghị định số 41/2022/ND-CP về chính sách đối với người lao động dôi dư. Thông tư số 32/2022/TT-BTC về việc giải quyết nợ thuế.
Nhìn chung bước vào cuối năm 2022 và cuối năm 2023, tiến độ cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nước đã được nhanh hơn. Bản thân các doanh nghiệp in Nhà nước cũng có nhiều tích cực, ví dụ như năm 2022, danh sách chọn cổ phần hoá chỉ có 7 doanh nghiệp in ở phía Nam, nhưng đến đầu năm 2023 số lượng được chọn và tự đăng ký thêm vào doanh sách cổ phần hoá gần 20 doanh nghiệp in. Khóa luận: Chiến lược phát triển các doanh nghiệp in tại HCM.
Với số lượng trên, ngành in vẫn là ngành có số lượng được chọn cổ phần thấp so với các ngành kinh tế khác.Chúng ta có thể khảo sát một số doanh nghiệp in Nhà nước đã thực hiện cổ phần hóa tại Thành phố Hồ Chí Minh để có thêm kinh nghiệm.
Công ty Văn hóa tổng hợp quận Tân Bình, Công ty văn hóa tổng hợp Phương Nam, là hai doanh nghiệp Nhà nước được cổ phần hoá trong đợt đầu tiên của ngành in Thành phố Hồ Chí Minh ( năm 2020 – 2021 ), cả hai doanh nghiệp này đều có hai nhiệm vụ – buôn bán sách, báo, văn hoá phẩm và in ấn, tại Công ty văn hoá tổng hợp Tân Bình tỷ trọng in ấn tương đối lớn hơn tỷ trọng buôn bán sách và văn hóa phẩm, ngược lại đối với công ty văn hoá tổng hợp Phương Nam có tỷ trọng về doanh số buôn bán sách, văn hoá phẩm lớn hơn nhiều lần doanh số Hiện nay kinh doanh có lãi.
Công ty vật tư in Sài Gòn – Doanh nghiệp cổ phần hoá năm 2021 – 2022 có hai nhiệm vụ sản xuất và bán mực in, nhiệm vụ hai là in ấn. Tỷ trọng doanh số bán mực cao hơn in.
Công ty in Phú Hưng – Doanh nghiệp cổ phần hoá năm 2021 – 2022, có một nhiệm vụ là sản xuất kinh doanh in ấn. Đây là một doanh nghiệp in nhỏ, sản lượng trang in thấp, máy móc cũ, sản phẩm thường xuyên là sách giáo dục, sách cấp thấp, nhãn bao bì loại giá trị thấp. Mọi thủ tục giấy tờ, văn bản cổ phần hoá đã hoàn tất từ đầu năm 2022, nhưng đến tháng tư 2023 vẫn chưa bán hết cổ phiếu, chưa tiến hành đại hội cổ đông được.
Trong năm 2025, theo báo cáo của Ban chỉ đạo đổi mới và quản lý doanh nghiệp Trung ương, công tác sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp Nhà nước còn triển khai chậm, chỉ đạt 38% kế hoạch. Trong đó đối với các doanh nghiệp in chỉ đạt khoảng 20%. Việc cổ phần hoá đa số doanh nghiệp in nhỏ, chiếm vị thế và thị phần không cao.
- Vì vậy, để đẩy mạnh hơn nữa công tác cổ phần hoá ngành in, chúng tôi đề nghị một số ý kiến như sau :
Xây dựng lại danh sách các doanh nghiệp in Nhà nước để tiến hành cổ phần hoá, xác định đúng theo tinh thần nghị quyết Trung ương 3 là cần lựa chọn các doanh nghiệp đang làm ăn hiệu quả, có vị thế cạnh tranh tốt, nếu không cần giữ lại sở hữu 100% Nhà nước thì cho cổ phần hoá ngay.
Các doanh nghiệp in Nhà nước đang làm ăn thua lỗ cần mạnh dạn cho phá sản, giải thể.Các doanh nghiệp quá nhỏ không có máy móc nhiều và máy cũ cho sáp nhập và bán hay khoán ra thị trường hay cổ phần hoá mà Nhà nước không cần tham gia nhiều. Phải củng cố và cơ cấu lại trước khi cổ phần hoá.
Các doanh nghiệp in Nhà nước có danh sách chọn cổ phần hoá phải có lịch trình, tiến độ hoàn thành, cần có biện pháp chế tài đối với Lãnh đạo doanh nghiệp nếu không đảm bảo về tiến độ thời gian.
Quán triệt lại tư tưởng đối với các Cán bộ quản lý Nhà nước cấp trung gian, Cán bộ lãnh đạo doanh nghiệp và công nhân viên về công tác cổ phần hoá là yêu cầu lớn của Đảng và Nhà nước. Tiếp tục cũng cố và phát huy hiệu quả của các tổ chức, các cơ quan chuyên trách về cổ phần hoá. Khóa luận: Chiến lược phát triển các doanh nghiệp in tại HCM.
Khi tiến hành bán cổ phiếu, và sau khi thực hiện bán xong cho người lao động tại doanh nghiệp với giá ưu đãi, cần khuyến khích và có chính sách rõ ràng, chấp hành đúng Nghị quyết 64, bán ra ngoài cho cả người đơn vị cung ứng vật tư nguyên liệu cho doanh nghiệp, bán cho những khách hàng đang in ấn tại doanh nghiệp, v… như vậy mới tạo được nguồn vốn mạnh và thị trường ổn định, đồng thời bán hết nhanh được cổ phiếu để tiến hành Đại hội cổ đông. Cần nâng cổ phiếu bán ra thị trường bên ngoài trên 30% tổng giá trị, trong đợt phát hành lần đầu thông qua Công ty đầu tư tài chính, Công ty môi giới, để thu hút các nhà đầu tư bên ngoài.
- Ngoài ra, cần xây dựng quy chế cho phép các Công ty nước ngoài được mua cổ phiếu tại các doanh nghiệp in Nhà nước.
Thành lập công ty mua bán nợ trong từng địa phương, trong các Tổng công ty, xây dựng chế độ chính sách thích hợp để khoanh và giải phóng các khoản nợ dây dưa trong nhiều năm. Hoặc xây dựng các chủ trương biến nợ củ doanh nghiệp thành phần hùn vốn củ Ngân hàng hay các chủ nợ có thể, để giải quyết cơ bản tình hình tài chính của doanh nghiệp cho lành mạnh, vì số nợ sẽ biến thành vốn doanh nghiệp, tỷ lệ vốn trên vốn vay, lãi xuất phải trả cho các chủ nợ giảm mạnh.
Duyệt xác định giá trị doanh nghiệp Nhà nước, trước mắt chưa nên đưa giá trị đất đai vào cổ phần hoá, đều này sẽ làm tăng giá trị doanh nghiệp quá cao nếu không thu hút các nhà đầu tư, nên cho thuê đất trong nhiều năm và trong ba năm đầu xây dựng giá thê ưu đãi.
Đối với các doanh nghiệp in chưa nằm trong đợt chọn cổ phần hoá, thì Nhà nước và quản lý ngành cần cho xây dựng những giải pháp tài chính đi trước chuẩn bị cho quá trình cổ phần hoá sau này. Vì vậy, cần buộc các doanh nghiệp phải tiến hành kiểm toán hàng năm, phải báo cáo danh sách công nợ hàng năm có xác nhận của bên nợ, có phương án hoạt động tài chính năm, v.v … tất cả đều là những bước chuẩn bị cho cổ phần hoá sau này và củng cố lại hoạt động của doanh nghiệp in Nhà nước.
Giải quyết vấn đề nhân sự cho các doanh nghiệp in Nhà nước trong diện cổ phần hoá là hết sức quan trọng. Chính nhiều cổ đông trong doanh nghiệp và ngoài doanh nghiệp đều nhìn vào chương trình sắp xếp chỉnh đốn nhân sự này để tham gia vào mức độ đầu tư tới đâu, hay chỉ là “bình mới rựơu củ”. Khóa luận: Chiến lược phát triển các doanh nghiệp in tại HCM.
- Thành lập công ty đầu tư tài chính trong ngành in để tạo vốn cho các doanh nghiệp in
Việc thành lập một vài công ty đầu tư tài chính trong ngành in là một trong những nhu cầu cần thiết vì xuất phát từ những lý do sau:
Cần tách quyền sở hữu tài sản thiết bị ra khỏi quyền sử dụng tài sản thiết bị ở doanh nghiệp in Nhà nước, biến quan hệ giữa Nhà nước với các doanh nghiệp in Nhà nước là quan hệ giữa hai đối tác, Nhà nước là một đối tác đầu tư vào doanh nghiệp và các quan hệ sẽ chuyển từ quản lý hành chính Nhà nước sang quan hệ kinh doanh, như khế ước đầu tư đồng vốn, hợp đồng kinh doanh khai thác tài sản thiết bị giữa Nhà nước với doanh nghiệp. Trên góc độ kinh doanh sản xuất, doanh nghiệp là một pháp nhân kinh tế độc lập, có quyền chỉ đạo điều hành các yếu tố sản xuất hoàn toàn chủ đạo trong sản xuất kinh doanh mà không trái với hợp đồng, khế ước.
Số lượng doanh nghiệp in Việt Nam rất lớn, trên 500 doanh nghiệp và dự đoán trong vài năm tới sẽ tăng nhiều hơn nữa, do đó nhu cầu về đầu tư sẽ tăng cao, thêm nữa là thiết bị ngành in là các loại chuyên dùng nên việc đánh giá trị còn lại và sang bán ngoài thị trường tự do không dễ dàng, thực tiễn đã chứng minh thấy rằng các tổ chức tín dụng, các Ngân hàng có nhiều trở ngại và lo lắng trong công tác thuê mua hay thế chấp.Điều này làm kéo dài thời gian thẩm định đánh giá và thường thỏa thuận nhượng lại cho các đơn vị in ngay sau khi thời gian thuê mua chấm dứt.
Để định hướng cho chiến lược đầu tư thiết bị in của ngành in, chính công ty đầu tư tài chính ngành in là đơn vị am hiểu nhất tính năng kỹ thuật chuyên ngành, xu hướng phát triển, v.v … để cố vấn cho các doanh nghiệp in khi muốn vay vốn đầu tư đổi mới.
Đáp ứng được nhu cầu vốn phục vụ chiến lược công nghiệp hóa – hiện đại hóa ngành in. Thực hiện cả nhu cầu vay vốn lưu động cho các doanh nghiệp in, mà nguồn vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh trong các doanh nghiệp in vừa và nhỏ đang thiếu hụt rất lớn.
Trong mô hình hoạt động của Công ty mẹ – Công ty con cũng cần hình thành công ty đầu tư tài chính, vì khi có nhiều loại sản phẩm kinh doanh, nhu cầu phát triển lớn sẽ đòi hỏi về vốn càng lớn, hoạt động về vốn trở nên phức tạp và đòi hỏi chuyên nghiệp hơn, thì việc hình thành công ty đầu tư tài chính trong Công ty mẹ sẽ làm nền tài chính có hiệu quả cao hơn. Nhiệm vụ sẽ là huy động nguồn vốn trong các thành viên và cho vay lại cho các thành viên có nhu cầu kinh doanh trong các dự án lớn của Công ty mẹ, v.v … làm cho đồng vốn luân chuyển liên tục, đúng mục đích phù hợp với phương án phát triển chung, đem lại sức mạnh tổng lực cho đơn vị, từng bước hình thành tập đoàn in mạnh để cạnh tranh với thị trường thế giới – kinh nghiệm trên thế giới, việc hình thành các tập đoàn kinh tế thường dựa vào trụ cột của tư nhân công nghiệp hoặc tư bản tài chính. Tại Việt Nam, ngành cơ khí chế tạo máy in chưa phát triển được doanh nghiệp in thông qua việc hình thành đầu tư tài chính.
- Một số mô hình thành lập ban đầu
Mô hình 1: Công ty TNHH 1 thành viên sở hữu Nhà nước
- Lấy một Công ty in và Công ty cơ khí in của Bộ Văn hóa thông tin làm bộ khung thành lập Công ty đầu tư tài chính ngành in Khóa luận: Chiến lược phát triển các doanh nghiệp in tại HCM.
- Lấy một Công ty cơ khí in + Công ty cung ứng vật tư in của bộ Văn hóa thông tin làm bộ khung thành lập Công ty đầu tư tài chính ngành in.
Mô hình 2 : Công ty cổ phần đầu tư tài chính
Công ty đầu tư tài chính là một thành viên của Công ty mẹ, hạch toán nội bộ, nguồn vốn do Công ty mẹ và nhiều thành viên đóng góp.
Công ty tài chính là một thành viên của Công ty mẹ, hạch toán độc lập, có đầy đủ pháp nhân kinh tế, nguồn vốn do Công ty mẹ và các thành viên đóng góp, nhưng vốn Công ty mẹ chiếm 51 %.
- Mở rông liên doanh, thu hút vốn đầu tư nước ngoài
Chúng ta cần khẳng định, trong thời kỳ công nghiệp hoá – hiện đại hóa tại một quốc gia đang phát triển, việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài có ý nghĩa hết sức quan trọng, tất cả các ngành nghề trong nền kinh tế quốc dân đều cần vốn, kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý, v.v … để phát triển một cách vững chắc và lâu dài. Ngành in cũng không phải ngoại lệ, cho dù ngành in còn liên quan đến một số lĩnh vực đặc biệt về văn hoá, thông tin v.v … do đó cần có nhiều chính sách cầu thị, mở cửa, để thu hút những nguồn vốn đặc biệt này.
Chúng tôi đưa ra một số các ưu điểm khi thực hiện liên doanh với nước ngoài.
- Đầu tư nước ngoài góp phần làm tăng nguồn vốn cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngành in đất nước, nó bù đắp một phần quan trọng trong việc cân đối vốn để đầu tư thiết bị mới.
- Đầu tư nước ngoài góp phần nâng cao tính cạnh tranh trong các doanh nghiệp in trong nước, học hỏi được kỹ thuật mới, tiếp cận được sự phát triển hiện đại của thế giới quản lý, về công nghệ, về giao dịch ngoại thương.
- Đầu tư nước ngoài thúc đẩy ngành in phát triển mạnh thêm, nguồn thu ngân sách, kim ngạch xuất khẩu, tốc độ tăng trưởng ngành sẽ tăng lên, đóng góp lớn cho GDP đất nước , v.v …
Dĩ nhiên, bên cạnh đó chúng cũng có những mặt hạn chế cần phải khắc phục để phát triển đúng định hướng chung.Một số giải pháp nhằm thu hút vốn nước ngoài đầu tư vào ngành in như sau:
Cần xây dựng hệ thống chính sách để cải thiện môi trường đầu tư vào ngành in, khuyến khích doanh nghiệp hướng mạnh vào thị trường xuất khẩu, đa dạng hoá các hình thức đầu tư -100% vốn nước ngoài, liên doanh một phần vốn với nước ngoài, v.v…
Chọn danh sách các doanh nghiệp in và thông báo rộng rãi để mời chào, xúc tiến thương mại, chuẩn bị cơ sở hạ tầng tốt để có giá trị cao khi đưa vào đầu tư liên doanh.
Tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh, giao quyền chủ động cho địa phương, cho các khu chế xuất, các Tổng công ty được chọn đối tác để hợp tác liên doanh, các tổ chức tư nhân có đủ điều kiện cũng được chủ động quyết định liên doanh.
Phương hướng hợp tác nước ngoài cần chọn về Cơ khi in, và sản xuất những vật tư in, hiên nay ngành in cần đẩy mạnh bằng các cú hích mạnh về vốn lớn và kỹ thuật cao.Tiếp cận về công nghệ trước in và công đoạn này quyết định đến chất lượng ấn phẩm.
3.2.4 Hoàn thiện vai trò của Nhà nước đối với ngành in Khóa luận: Chiến lược phát triển các doanh nghiệp in tại HCM.
- Thống nhất quản lý ngành
Theo quy định Bộ Văn hóa Thông tin là Bộ quản lý Nhà nước về ngành in, nhưng thực tế không phải Bộ chủ quản – Cơ quan chủ quản của các doanh nghiệp in trong cả nước do nhiều Bộ, Ngành, Đoàn thể, tổ chức và các địa phương khác nhau, đã hình thành các doanh nghiệp in hoạt động với nhiều mục tiêu khác nhau, phương án sản xuất khác nhau, v.v… và không chịu sự hướng dẫn, phối hợp thống nhất trong toàn ngành. Ngay cả những doanh nghiệp được thành lập với mục tiêu là kinh doanh, nhưng cơ quan chủ quản lại đề nghị là doanh nghiệp công ích, v.v… Trên góc độ phát triển ngành, tất cả những tồn tại này đã làm suy yếu tính cạnh tranh chung của ngành, gây sự lãng phí trong đầu tư, gây sự phát triển không ổn định v.v…
Căn cứ vào Luật Xuất bản, Luật Doanh nghiệp và một số quy định khác liên quan đến đặc thù của ngành in, ngày 26/8/2017 Bộ Văn hóa Thông tin đã ra quyết định 2607/VHTT – QĐ, XBI đã ban hành quy chế về tổ chức và hoạt động in, xác định ngành in có 04 loại hình tổ chức bao gồm:
- Cơ sở in là doanh nghiệp Nhà nước độc lập.
- Cơ sở in là bộ phận phụ thuộc doanh nghiệp Nhà nước.
- Cơ sở in nội bộ.
- Cơ sở in tư nhân, tập thể.
Vì vậy, để phát huy hiệu lực của Quyết định này, cần phải tổ chức lại quy chế hoạt động của ngành in thật nhanh và nghiêm túc.
- Sắp xếp, tổ chức lại toàn bộ các doanh nghiệp in Nhà nước, chuyển sang hoạt động sản xuất kinh doanh nếu đủ điều kiện cho phép, nếu không đủ điều kiện (nhu cầu nội bộ của ngành nghề đặc thù, Cán bộ kỹ thuật và Cán bộ quản lý) thì kiên quyết trình lại Chính phủ cho xóa bỏ. Khóa luận: Chiến lược phát triển các doanh nghiệp in tại HCM.
- Xây dựng chiến lược phát triển ngành cho 05 năm, 10 năm, định hướng chiến lược sản phẩm, chiến lược đầu tư thiết bị và quy chế khuyến khích doanh nghiệp in mọi thành phần sở hữu phát triển đầu tư đúng hướng.
- Bộ Văn hóa Thông tin cần kết hợp với Bộ Đầu tư và Sở Đầu tư các địa phương về quy chế thành lập mới và đầu tư thiết bị trong từng giai đoạn phát triển 5 năm của nền kinh tế xã hội. Thống nhất công tác quản lý ngành bằng Luật Xuất bản.
- Hình thành Hiệp hội in theo địa bàn khu vực, hay theo khu vực sản xuất để bảo vệ quyền lợi của các doanh nghiệp in hợp pháp, nâng cao vị thế cạnh tranh trong khuôn khổ Luật pháp và đạt hiệu quả sản xuất.
- Đẩy mạnh công tác cải tổ, sắp xếp lại các doanh nghiệp in sở hữu Nhà nước.
Số lượng các doanh nghiệp in có phần sở hữu của Nhà nước chiếm tỷ trọng rất lớn trong ngành in (gần 90%), về sản lượng chiếm hơn 90%. Các doanh nghiệp in Nhà nước có nhiều mặt bằng rộng lớn, địa thế thuận lợi, và một số trang bị nhiều máy móc thiết bị hiện đại đắt tiền, mà các doanh nghiệp in tư nhân hay có vốn nước ngoài đầu tư đều chưa đạt được. Vì vậy, hiệu quả của các doanh nghiệp in Nhà nước ảnh hưởng rất lớn đến quá trình phát triển của ngành in Việt Nam nói chung và in Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng.
Nghị quyết lần thứ 3 Trung ương IX đã chỉ đạo phải cơ bản hoàn thành việc sắp xếp lại các doanh nghiệp Nhà nước, thực hiện chế độ công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên đối với doanh nghiệp Nhà nước chiếm 100% vốn; cổ phần hóa các doanh nghiệp mà Nhà nước không cần giữ 100% vốn; sáp nhập, giải thể, phá sản những doanh nghiệp hoạt động không có hiệu quả; giao, bán, khoán kinh doanh, cho thuê các doanh nghiệp có quy mô nhỏ, .v.v…
- Thành lập Tổng công ty in hoạt động theo cơ chế Công ty mẹ – Công ty con.
Đề xuất giải pháp thành lập từ hai đến ba Công ty mẹ cho ngành in. Trong xu thế hội nhập của nền kinh tế, việc xây dựng các Tổng công ty, Công ty mẹ để khả năng cạnh tranh là rất cần thiết. Thời gian vừa qua, Nhà nước đã chủ trương thành lập nhiều Tổng công ty theo mô hình 90, 91. Tuy nhiên sự ràng buộc, liên kết giữa các công ty thành viên với Tổng công ty để tạo nên sức mạnh còn bị nhiều vướng mắc, nên có nhiều kiến nghị cần thay đổi mô hình hoạt động của Tổng công ty.
Việc thay đổi không phải là thay chiếc áo bọc bên ngoài, mà phải thực chất phát huy được sức mạnh của các doanh nghiệp, việc hình thành Tổng công ty để tách chức năng quản lý kinh doanh của doanh nghiệp khỏi chức năng quản lý Nhà nước, góp phần phát huy sự năng động, sáng tạo và quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh.
3.3 Một số hạn chế của mô hình Tổng công ty 90 và 91. Khóa luận: Chiến lược phát triển các doanh nghiệp in tại HCM.
- Mối quan hệ liên kết chưa chặt chẽ.
Mối liên kết giữa Tổng công ty với các thành viên về tài chính, công nghệ, đầu tư phát triển, chiến lược kinh doanh, đào tạo, .v.v… không có sự ràng buộc. Thực chất mối quan hệ trong thời gian qua chỉ là mối quan hệ mang tính chất hành chính, chưa thực sự ràng buộc về trách nhiệm và quyền lợi, chưa thực sự là một thực thể kinh tế thống nhất, do đó chưa phát huy hết được sức mạnh tổng hợp của toàn Tổng công ty.
- Sức cạnh tranh không cao, không huy động được vốn.
Năng lực cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh của các Tổng công ty không cao, chưa đúng tầm vóc của một đơn vị kinh doanh lớn, không huy động được nguồn vốn tổng lực của các thành viên. Trong thực tế, việc thành lập và cơ chế hoạt động của tổng công ty chỉ là sự lắp ghép cơ học, chưa tạo một sự thay đổi về chất trong hoạt động kinh doanh của các thành viên, vì vậy đã không khai thác được ưu thế cạnh tranh của một doanh nghiệp kinh tế lớn.
Tổng công ty chưa thực hiện được việc điều hòa vốn giữa các đơn vị thành viên, chưa tập trung được vốn để thực hiện chiến lược sản xuất kinh doanh trong từng thời điểm cần thiết. Còn rất nhiều nguyên nhân khác như nguyên nhân về cơ chế tổ chức quản lý, nguyên nhân về cơ chế tài chính, về tổ chức Cán bộ lãnh đạo, Cán bộ quản lý khung…
Với thực trạng còn nhiều hạn chế trong hoạt động của Tổng công ty 90, 91, nên chúng tôi đề xuất ngành in cần thiết hình thành mô hình Công ty mẹ – Công ty con, để từng bước phát huy được và nâng cao sức cạnh tranh của ngành in Việt Nam nói chung, in Thành phố Hồ Ch1 Minh nói riêng.. Khóa luận: Chiến lược phát triển các doanh nghiệp in tại HCM.
Công ty mẹ – Công ty con là một hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh, nhằm hợp nhất các nguồn lực của một nhóm doanh nghiệp, đồng thời thực hiện sự phân công, hợp tác về chiến lược dài hạn cũng như kế hoạch ngắn hạn trong sản xuất kinh doanh giữa các doanh nghiệp để tạo ra sức mạnh chung và nâng cao hiệu quả hoạt động. Sự liên kết giữa Công ty mẹ và các Công ty con là liên kết về vốn, hình thức liên kết là Công ty mẹ giữ vai trò trung tâm, đầu tư vốn vào các Công ty con, theo tỷ lệ vốn đầu tư mà chi phối các Công ty con theo nhiều cấp độ khác nhau. Các Công ty con đều có pháp nhân đầy đủ liên kết với Công ty mẹ theo nhiều cấp độ chặt chẽ hay nữa chặt chẽ, thông qua sự chi phối về vốn và phân công hợp tác của Công ty mẹ.
- Sơ đồ mô hình của Công ty mẹ – Công ty con đề xuất
Bộ khung hình thành Công ty mẹ theo đề xuất
- Công ty in + Công ty in + Công ty
- Công ty in + Công ty Xuất nhập khẩu cung ứng vật tư.
- Công ty in + Công ty Phát hành sách + Công ty Cung ứng vật tư.
- Công ty in + Công ty Phát hành sách + Nhà xuất bản + ……
- Công ty in + Công ty Phát hành + Nhà xuất bản + Ngân hàng…
- Công ty in + Công ty Phát hành + Công ty cơ khí in + …
Bộ khung tổng hợp
- Sơ đồ 3.1: Mô hình Công ty mẹ – Công ty con
Công ty con A, B, C, D, E là bộ khung hình thành nên Công ty mẹ, hạch toán báo sổ trong lòng Công ty mẹ, Công ty mẹ là đơn vị hạch toán kinh doanh độc lập, có 5 sản phẩm kinh doanh là A, B, C, D, E.
Các Công ty con thành viên M, N, O, P, Q, G, H … là các đơn vị hạch toán kinh doanh độc lập, có nhiều loại hình kinh doanh như TNHH một thành viên, cổ phần, liên doanh trong nước và liên doanh với nước ngoài.
Mối quan hệ giữa Công ty mẹ và Công ty con thông qua vốn, đầu tư của Công ty mẹ vào Công ty con. Vốn đầu tư càng lớn mối quan hệ càng chặt chẽ. Khóa luận: Chiến lược phát triển các doanh nghiệp in tại HCM.
- Mối quan hệ thông qua định hướng chiến lược Sản xuất kinh doanh của Công ty mẹ.
Với quan điểm cần thành lập từ hai đến ba mô hình Công ty mẹ – Công ty con, lý do như sau:
- Không tạo thế mạnh duy nhất, dễ sinh ra sự bất bình đẳng trong cạnh tranh.
Với số lượng 500 doanh nghiệp in, vài trăm đơn vị xuất bản, phát hành và các nhà cung ứng vật tư in, việc hình thành 2 mô hình Công ty mẹ không phải nhiều, mà sẽ tạo nên sức mạnh chung cho cả ngành.
- Phát triển các doanh nghiệp in vừa và nhỏ
Với đặc điểm của ngành công nghiệp in, với sự tiến bộ về kỹ thuật hiện nay, chúng tôi xin đề nghị tiêu chí xếp loại như sau:
Doanh nghiệp in qui mô nhỏ:
- Lao động dưới 100 người
- Vốn dưới 5 tỷ đồng
- Doanh số dưới 10 tỷ đồng/năm
Doanh số in qui mô vừa:
- Lao động dưới 300 người
- Vốn dưới 50 tỷ đồng
- Doanh số dưới 100 tỷ đồng/năm.
Việc đưa ra tiêu chí tương đối này cũng chỉ để xem xét và đánh giá các doanh nghiệp in thường chiếm đa số ở 2 loại dạng trên. Vì theo Nghị định 50/CP của Chính phủ ban hành qui mô của Tổng Công ty phải có mức vốn từ 100 tỷ trở lên.
- Một số giải pháp nâng cao sức cạnh tranh các doanh nghiệp in vừa và nhỏ.
Thành lập quỹ hỗ trợ tín dụng cho các doanh nghiệp in vừa và nhỏ, để hỗ trợ hiện đại hóa về quản lý và công nghệ in với chi phí thấp, nhiều biện pháp hỗ trợ như hỗ trợ về đào tạo cán bộ, công nhân, hổ trợ về nghiên cứu thiết kế, về lãi vay thấp và về quảng cáo,v.v… Khóa luận: Chiến lược phát triển các doanh nghiệp in tại HCM.
Thành lập Hiệp hội in theo từng khu vực địa lý, để các doanh nghiệp tận dụng được thế mạnh của nhau, tiết kiệm chi phí, giảm giá thành, tạo ưu thế cạnh tranh của sản phẩm, để tạo sự phân công, chuyên môn hóa, hợp tác hóa nhằm tạo thế mạnh cho các doanh nghiệp in vừa và nhỏ của từng khu vực.
Thành lập tổ chức xúc tiến mậu dịch với thị trường nước ngoài, để giúp các doanh nghiệp nhỏ và vừa các thông tin về thị trường, kinh nghiệm kinh doanh quốc tế, ưu điểm và khuyết điểm của sản phẩm trong nước với đặc điểm riêng của từng quốc gia.
Thực hiện chính sách tài chính bình đẳng, vì số lượng doanh nghiệp tư nhân chiếm rất lớn trong tổng số doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Bản thân các doanh nghiệp vừa và nhỏ phải nổ lực cải tiến trong công nghệ sản xuất, quản lý sản xuất, trong công tác tiếp thị, v.v…
3.4 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
3.4.1 Đối với Nhà nước
Nhà nước cần đẩy mạnh công tác cổ phần hóa các doanh nghiệp in Nhà nước- Tốc độ cổ phần hóa các doanh nghiệp in trong thời gian qua rất chậm vì còn vướng một số quan điểm và phương cách lựa chọn, do vậy khi lên danh sách cổ phần hóa phải đúng tiêu chí là lựa chọn các doanh nghiệp in đang làm ăn hiệu quả, nhưng thực tiễn vừa qua lại trái ngược hẳn – cấp chủ quan thường lựa chọn các doanh nghiệp in nhỏ và các doanh nghiệp in còn khó khăn vào danh sách tiến hành cổ phần hóa trước vì chưa có các biện pháp chế tài.
Về thời gian cụ thể, phải hoàn tất cổ phần hóa đối với doanh nghiệp. Do đó, để đẩy mạnh công tác cổ phần hóa Nhà nước cần xây dựng lại danh sách các doanh nghiệp cổ phần hóa, xây dựng các biện pháp chế tài nghiêm minh về số lượng doanh nghiệp và thời gian hoàn tất cổ phần hóa.
Đề xuất chính sách bổ sung thêm các đối tượng được mua cố phần tại các doanh nghiệp in là Việt kiều, người nước ngoài, các tổ chức nước ngoài có tiềm lực về kinh tế và kỹ thuật cao.
Nhà nước cần có chính sách khuyến khích, động viên các doanh nghiệp in vừa và nhỏ phát triển mạnh. Bổ sung cơ chế chính sách về kinh doanh cho đồng bộ để tạo sự bình đẳng cho tất cả thành phần kinh tế, chú ý các doanh nghiệp in vừa và nhỏ không thuộc sở hữu Nhà nước, đây là một trong các yêu tố quan trọng góp phần huy động vốn đầu tư, tạo ra sự linh hoạt và sôi động trong thị trường in ấn, tạo ra sự cạnh tranh cao, thúc đẩy các oanh nghiệp in Thành phố Hồ Chí Minh phát triển.
Cần tuyên truyền giáo dục xóa bỏ quan điểm không đúng đắn là phát triển các doanh nghiệp in ngoài quốc doanh sẽ ảnh hưởng đến hệ thống thiết chế văn hóa thông tin xã hội chủ nghĩa của nước ta. Nhà nước chúng ta còn có Luật pháp, các chính sách và công cụ quản lý vĩ mô khác ngăn chặn và điều chỉnh nhiều hiệu quả hơn.
Nhà nước cần đẩy nhanh việc xây dựng các mô hình Tổng công ty in hoạt động theo cơ chế mới, để giữ vai trò chủ đạo trong ngành in, để góp phần củng cố sắp xếp lại trật tự kinh doanh in ấn, để hướng dẫn, định hướng ngành in phát triển một cách ổn định và vững chắc. Khóa luận: Chiến lược phát triển các doanh nghiệp in tại HCM.
Các mô hình Tổng công ty in sẽ giúp các doanh nghiệp in Thành phố Hồ Chí Minh có vị thế cạnh tranh trên thương trường quốc tế và chuẩn bị kịp thời quá trình tích tụ tập trung tư bản, có điều kiện đầu tư trở lại ngành in ngang tầm phát triển với ngành in của các nước trên thế giới trong môi trường điều kiện mới đang diễn ra.
Khi Tổng công ty hình thành, Nhà nước có quy chế rõ để phân định chức năng hoạch định chính sách thuộc cơ quan quản lý Nhà nước, còn chức năng kinh doanh thuộc tổ chức doanh nghiệp. Các Tổng Giám đốc, Giám đốc chịu trách nhiệm xây dựng chiến lược và kế hoạch sản xuất kinh doanh trình Hội đồng quản trị phê chuẩn, chịu trách nhiệm thực hiện.
Cho phép và đẩy nhanh xây dựng qui chế, chính sách thuê Giám đốc và Tổng Giám đốc điều hành kinh doanh, xem đây là nghề chuyên môn, để tận dụng được và phát huy nguồn nhân tài có hiệu quả.
Sửa đổi chính sách, các qui định tài chính cho phép các doanh nghiệp được thuê tư vấn, nhà điều hành trong và ngoài nước về chiến lược đầu tư, chuyển giao công nghệ, v.v … được hạch toán vào giá thành như một khoản chi phí.
Đối với các doanh nghiệp Nhà nước, hay có sở hữu của Nhà nước chi phối cần ban hành qui chế giao quyền chủ động cho Giám đốc, quyền chủ động và chịu trách nhiêm về hiệu quả sản xuất kinh doanh, giao quyền quyết định về việc sử dụng và bố trí tất cả nhân viên trong doanh nghiệp.
Quyền hạn và trách nhiệm của Giám đốc doanh nghiệp Nhà nước cần được cụ thể hóa trên mọi lĩnh vực điều hành kinh doanh.
Ban hành chế độ kiểm toán định kỳ (ngoài chế độ duyệt kế toán hàng năm) đối với tất cả các doanh nghiệp Nhà nước, để xác định chính xác tình hình sản xuất kinh doanh, các nguồn lực kinh doanh được sử dụng và bảo toàn như thế nào.
- Về chính sách thuế
Nhà nước cần chú ý đến những loại ấn phẩm nhãn, bao bì, sách bào Việt Nam đang có lợi thế cạnh tranh và xuất khẩu ra nước ngoài, hoàn thuế nhanh, kịp thời cho các doanh nghiệp in.
- Thống nhất việc tính thuế đối với các khâu gia công thành phẩm in.
Do đặc thù của ngành in, hiện này hình thành và tồn tại rất nhiều hộ gia đình, cơ sở gia công đang làm vệ tinh cho các doanh nghiệp in để thực hiện các công việc nhỏ trong một qui trình sản xuất lớn mà các doanh nghiệp in thường không trang bị đầy đủ, lý do về giá thành, về quản lý lao động; như các công việc đóng giấy sách, mạ vàng, gấp xếp tay sách, sắp chữ vi tính , v.v … thường sử dụng hóa đơn trực tiếp theo hộ khoán, không sử dụng hóa đơn giá trị gia tăng.
Về đào tạo sử dụng nguồn nhân lực – là nguồn gốc động lực quan trong để nâng cao lợi thế cạnh tranh, đề nghị Nhà nước tăng kinh phí đào tạo cho các trường Đại học và trường đào tạo công nhân kỹ thuật ngành in, có chính sách thu nhập cao cho đội ngũ Giáo viên.
Xây dựng qui chế liên kết giữa cơ sở đào tạo các doanh nghiệp in, dùng chi phí của các doanh nghiệp và chi phí đầu tư về đào tạo của Nhà nước để nâng cao cơ sở vật chất cho nhà trường đủ điều kiện đào tạo ra các công nhân kỹ thuật giỏi.
Song song đó, Nhà nước cần có chính sách nâng cao năng lực quản lý cho các nhà quản trị doanh nghiệp. Cấp chứng chỉ hành nghề chẳng hạn cho những người muốn ứng cử hay muốn đề bạt vào chức vụ kinh doanh chủ chốt, hay các doanh nhân muốn mở và làm chủ điều hành doanh nghiệp.
3.4.2 Đối với Ngành Khóa luận: Chiến lược phát triển các doanh nghiệp in tại HCM.
Đối với các doanh nghiệp, Ban Giám đốc cần xây dựng qui chế, chính sách thu hút nhân tài – các công ty kỹ thuật lành nghề, các kỹ sư đầu đàn, các nhà quản lý giỏi, các nhà khoa học, nhà nghiên cứu, v.v…Sử dụng đúng người đúng việc, đúng vị trí chế độ thu nhập thỏa đáng.
Các doanh nghiệp cần xây dựng chiến lược sản xuất kinh doanh dài hạn 5 năm, 3 năm và chiến lược từng năm, đây là vấn đề rất quan trọng trọng sản xuất kinh doanh, để có những bước đi vững chắc, không thể tồn tại quan niệm sản xuất nhỏ làm năm nào biết năm đó, thiếu thông tin về môi trường, chỉ đạo sản xuất kinh doanh theo kinh nghiệm lối mòn.Vì vậy Giám đốc doanh nghiệp phải hình thành các nhóm nghiên cứu chiến lược và đề ra giải pháp để thực hiện.
Các doanh nghiệp cần chú trọng xây dựng hệ thống thông tin báo cáo khoa học trong hoạt động sản xuất, để có cơ sở chỉ đạo ra quyết định đúng đắn kịp thời.
Cần gấp rút xây dựng chiến lược tăng tốc đổi mới thực sự toàn diện để chuẩn bị điều kiện đủ trong thị trường cạnh tranh cao và hội nhập quốc tế.
Trong đầu tư công nghệ, với phương châm là đi thẳng vào công nghệ hiện đại, đuổi kịp đối thủ bằng phương pháp đi tắt, đón đầu, cần tạo ra nhiều sản phẩm mới có giá trị cao để đáp ứng nhu cầu đòi hỏi của thị trường, chú ý các sản phẩm có giá trị cao đòi hỏi hàm lượng tri thức trong ấn phẩm có tỷ lệ cao. Vì vậy, phải trọng dụng xứng đáng những Cán bộ khoa học, Cán bộ quản lý, Cán bộ kỹ thuật đầu đàn.
Về tiếp thị, Giám đốc doanh nghiệp cần hình thành nhóm thực hiện, có năng lực để hình thành một chương trình kế hoạch tiếp thị khoa học, không thể quan niệm đơn giản về tiếp thị là lôi kéo khách hàng, chào hàng bán hàng, là hạ giá bán.
- Cần phải nghiên cứu, phân tích thị trường trong và ngoài nước.
- Xác định phân khúc thị trường, khách hàng và nhu cầu cụ thể để đáp ứng.
- Đánh giá được khả năng của đối thủ trên từng khúc thị trường, từng sản phẩm.
- Biết cách tạo ra nhu cầu mới, sản phẩm mới phù hợp với điều kiện của doanh nghiệp và xu hướng chuyển biến của thị trường.
KẾT LUẬN CHƯƠNG III Khóa luận: Chiến lược phát triển các doanh nghiệp in tại HCM.
Trong chương này, chúng tôi tập trung đề xuất chiến lược phát triển các doanh nghiệp in tại Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2035, dựa trên những điều kiện đặc thù của ngành in Việt Nam và môi trường in ấn thế giới, cũng như xu hướng phát triển trong những năm sắp tới.
- Nội dung cụ thể như sau:
Một, xác định xây dựng nhiệm vụ, mục tiêu của các doanh nghiệp in tại Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2035, dựa trên các tiền đề về môi trường quốc tế, về chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam đối với nhiệm vụ phát triển đất nước và ngành in đất nước.
Hai, chúng tôi đưa ra các giải pháp chiến lược để phát triển các doanh nghiệp in tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Giải pháp 1: Giải pháp quản lý ngành.
- Giải pháp 2: Giải pháp về vốn đầu tư để nâng cao năng lực ngành.
- Giải pháp 3: Giải pháp tăng cường đầu tư.
- Giải pháp 4: Giải pháp về nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp in Thành phố Hồ Chí
- Giải pháp 5: Giải pháp về việc thực hiện chiến lược Marketing
- Giải pháp 6: Giải pháp về cung ứng nguyên vật liệu cho các doanh nghiệp in Thành phố Hồ Chí
Ba, một số kiến nghị với cấp quản lý Nhà nước và cấp quản lý doanh nghiệp để các giải pháp trên đạt hiệu quả thêm.
Những giải pháp nêu trên có mối quan hệ biện chứng với nhau, là tiền đề, là điều kiện thúc đẩy các doanh nghiệp in tại Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, ngành in Việt nam nói chung, phát triển bền vững trong tương lai.
KẾT LUẬN
Trãi qua một chặng đường dài trên nữa thế kỷ, từ các cơ sở in còn phân tán, máy móc thiết bị lạc hậu, các doanh nghiệp in tại Thành phố Hồ Chí Minh đã trãi qua nhiều khó khăn, thử thách của từng giai đoạn lịch sử. Đến nay, các doanh nghiệp in tại Thành phố Hồ Chí Minh đã có những bước phát triển lớn mạnh, với những trang thiết bị hiện đại, công nghệ tiến tiến và một đội ngũ lao động kế thừa đông đảo, đáp ứng phần lớn các nhu cầu in ấn của trong và ngoài nước. Đặc biệt trong 15 năm đổi mới, các doanh nghiệp in tại Thành phố Hồ Chí Minh đã có nhiều thay đổi to lớn về nhiều phương diện, được xem là một trong những đơn vị đi đầu trong đầu tư đổi mới công nghệ nhanh chóng, đi trực tiếp đến công nghệ hiện đại.
Luận văn “Chiến lược phát triển các doanh nghiệp in Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2035”, được nghiên cứu với mong muốn đưa ra các giải pháp cơ bản giúp cho các doanh nghiệp in tại Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục ổn định và vững chắc trong nền kinh tế thị trường, trước xu thế hội nhập kinh tế thế giới và sự nghiệp công nghiệp hóa của đất nước.
Trên cơ sở kết hợp lý luận khoa học với thực trạng quá trình phát triển của các doanh nghiệp in Thành phố Hồ Chí Minh, luận văn đã giải quyết được một số vấn đề về lý luận và thực tiễn như sau:
- Quan điểm cơ bản của luận văn là khi Việt Nam chuyển sang nền kinh tế thị trường và trước xu thế hội nhập kinh tế thế giới, các doanh nghiệp trong ngành in Việt Nam nói chung và của các doanh nghiệp in tại Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, cần phải có chiến lược phát triển và các giải pháp chiến lược đúng đắn, sáng tạo để giúp các doanh nghiệp phát triển ổn định và lâu dài khai thác được các cơ hội, sử dụng hiệu quả các nguồn lực tổng hợp để đạt được mục tiêu kinh doanh tốt nhất, nhanh nhất. Khóa luận: Chiến lược phát triển các doanh nghiệp in tại HCM.
- Qua phân tích quá trình phát triển các doanh nghiệp in tại Thành phố Hồ Chí Minh, dựa trên cơ sở khoa học đánh giá việc xây dựng ngành in trong những năm tương lai trở thành một trong các ngành công nghiệp quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, có vị trí cạnh tranh ngang tầm với ngành in của các nước phát triển trong khu vực là yêu cầu đúng đắn trong những năm tới. Điều này cũng phù hợp với quan điểm của Đảng và nhà nước về đường lối phát triển kinh tế, phấn đấu đến năm 2020 trở thành một nước công nghiệp phát triển.
- Trong luận văn đã đề xuất các giải pháp để phát triển các doanh nghiệp in tại Thành phố Hồ Chí Minh, bao gồm những nội dung sau:
Muốn phát triển các doanh nghiệp in tại Thành phố Hồ Chí Minh có hiệu quả, cần chú trọng phát huy năng lực tiềm tàng của tất cả loại hình doanh nghiệp in, trên mọi quy mô phù hợp với thực tiễn lịch sử phát triển, thuộc tất cả các thành phần kinh tế, với lợi thế cạnh tranh sẵn có. Trong đó chú ý xu hướng chiến lược lâu dài là xây dựng vài Tổng công ty in Nhà nước để làm chủ đạo, hướng dẫn phát triển ngành và là đối tác có trọng lượng, đủ sức cạnh tranh trên thị trường in ấn quốc tế.
Các giải pháp về tạo nguồn vốn, về phát triển công nghệ in đầu phải dựa vào tình hình thực tiễn của từng doanh nghiệp in mà vận dụng thực hiện cho có hiệu quả. Các giải pháp được đặt ra đều phải trên cơ sở xác định các nhiệm vụ, mục tiêu của ngành, của các doanh nghiệp in. Nhiệm vụ và mục tiêu là kim chỉ nam hướng dẫn tới mục đích cần đạt dược trong từng mốc thời gian ngắn hạn hoặc dài hạn, gắn với môi trường đang kinh doanh phân tích chính xác.
Giải pháp về nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp in- nhấn mạnh đến vai trò quan trọng của con người, điều này từ cơ sở lý luận đến thực tiễn đã chỉ ra con người là yếu tố, là động lực sản xuất quan trọng nhất. Trong một phút chốc, trong một thời gian nào đó các nhà quản lý đã để quên yếu tố này hay đã vắt kiệt sức yếu tố này mà không gây nguồn tái tạo cho nó, thì chắc chắn sẽ gặp nhiều trở ngại và thất bại trong quá trình phát triển.
Qua nghiên cứu kinh nghiệm phát triển ngành in của các nước trên thế giới, sự thiếu hụt công nhân kỹ thuật cao, các Lãnh đạo quản lý ngành in, đã trở thành vấn đề đáng quan tâm nhất hiện nay.Vì vậy, họ đã phải xây dựng và hiệu chỉnh liên tục chiến lược nguồn nhân lực, đã dành quỹ đầu tư cho đào tạo nhân lực lớn gấp nhiều lần quỹ đầu tư thiết bị sản xuất.
Giải pháp đổi mới công tác quản lý doanh nghiệp in theo hướng hiện đại hóa nhằm sử dụng và khai thác triệt để những tiện ích ưu việt của công nghệ thông tin trong quản lý, sử dụng các phương pháp quản lý khoa học để giảm bớt lãng phí, hư hao trong sản xuất, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao vị thế cạnh tranh của các doanh nghiệp in tại Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và của ngành in Việt Nam nói chung. Cuối cùng là hướng tới sản xuất các ấn phẩm có giá trị cao trong tổ chức sản xuất kinh doanh công nghiệp hiện đại.
Giải pháp về Marketing nhằm mở rộng phát triển thị trường in ấn Việt Nam, nâng cao vị thế cạnh tranh cho từng doanh nghiệp in và ngành in Việt Nam tại thị trường trong và ngoài nước.
- Bản luận văn cũng đã đề xuất các kiến nghị với Nhà nước và cấp quản lý doanh nghiệp in những vấn đề về chính sách quản lý, thuế, sử dụng con người, v.v…để giúp cho các doanh nghiệp in phát triển thuận lợi.
Việc nghiên cứu đề tài này, chắc chắn còn rất nhiều thiếu sót và nhất là trước xu thế – môi trường chuyển động liên tục không ngừng, nên nhiều chỗ cần phải cập nhật và bổ sung kịp thời. Kính mong đón nhận được sự quan tâm, đóng góp chân thành của Quý Thầy – Cô, các đồng nghiệp và toàn thể các Anh – Chị quan tâm. Khóa luận: Chiến lược phát triển các doanh nghiệp in tại HCM.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>> Khóa luận: Chiến lược nhằm dựng xây ngành in Thành phố HCM

Dịch Vụ Viết Luận Văn Thạc Sĩ 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietthuethacsi.com/ – Hoặc Gmail: dicvuluanvanthacsi@gmail.com
[…] ===>> Khóa luận: Chiến lược phát triển các doanh nghiệp in tại HCM […]