Khóa luận: Chất lượng tín dụng khách hàng cá nhân tại VietinBank

Rate this post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Chất lượng tín dụng khách hàng cá nhân tại VietinBank hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Khóa luận: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng khách hàng cá nhân tại ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Hồng Bàng dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

LỜI MỞ ĐẦU

Việc trở thành thành viên thứ 150 của WTO là dấu ấn quan trọng trong tiến trình đổi mới nền kinh tế của Việt Nam, mở ra cho chúng ta nhiều cơ hội tiếp cận những thị trường tài chính hàng đầu, tuy nhiên cũng đặt ra không ít thách thức khi các ngân hàng nước ngoài được phép kinh doanh bình đẳng như các NHTM trong nước.

Thị trường kinh doanh nhiều tiềm năng cùng với nguy cơ cạnh tranh ngày càng gay gắt đã đặt các NHTM Việt Nam vào thế phải thay đổi chiến lược kinh doanh, tìm kiếm cơ hội đầu tư mới, mở rộng và đa dạng hóa nhóm khách hàng mục tiêu. Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam (VietinBank) cũng không nằm ngoài xu thế đó.

VietinBank vốn là một trong những NHTM đi đầu trong thanh toán xuất nhập khẩu, cho vay bán buôn và kinh doanh ngoại tệ, nhóm khách hàng truyền thống của VietinBank chủ yếu là các doanh nghiệp lớn. Tuy nhiên, hiện nay cục diện đã có nhiều thay đổi, khi mà các NHTM đã từng bước lớn mạnh về quy mô, tiềm lực tài chính và phương thức quản lý, phục vụ đã lôi kéo nhóm khách hàng rất gay gắt. Khóa luận: Chất lượng tín dụng khách hàng cá nhân tại VietinBank.

Chính những điều kiện khách quan trên đã đặt VietinBank vào thế phải tìm kiếm cơ hội đầu tư mới, thay đổi chiến lược kinh doanh và nhóm khách hàng mục tiêu. Để có thể cạnh tranh được với các NHTM năng động trong nước cũng như các ngân hàng nước ngoài vốn có ưu thế mạnh về mảng dịch vụ bán lẻ, VietinBank đã xác định chiến lược phát triển song hành bán buôn đi đôi với bán lẻ, trong đó tín dụng cá nhân là một trong những mục tiêu quan trọng hàng đầu, do tín dụng luôn là một hoạt động chủ lực của ngân hàng. Chính vì vậy, em chọn đề tài “Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng khách hàng cá nhân tại ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Hồng Bàng” làm đề tài nghiên cứu khóa luận tốt nghiệp của mình.

Đề tài tập trung nghiên cứu các chỉ tiêu như dư nợ của tín dụng cá nhân, chất lượng tín dụng cá nhân tại VietinBank – Chi nhánh Hồng Bàng, kết hợp giữa lý luận và thực tiễn qua đó đề xuất một số giải pháp nhằm đem lại kết quả tốt hơn cho hoạt động tín dụng của ngân hàng trong thời gian tới.

Ngoài phần mở đầu và kết luận, kết cấu chuyên đề gồm 3 chương:

  • Chương I: Lý luận chung về chất lượng tín dụng – chất lượng tín dụng cá nhân của NHTM.
  • Chương II: Thực trạng chất lượng tín dụng cá nhân tại ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Hồng Bàng.
  • Chương III: Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tín dụng cá nhân tại ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Hồng Bàng.

Do kiến thức cũng như kinh nghiệm còn hạn chế nên bài viết không tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Em rất mong được sự góp ý của thầy cô để em có thể hoàn thiện bài viết của mình.

CHƯƠNG I : LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG – TÍN DỤNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1. Ngân hàng thương mại và các hoạt động chủ yếu

1.1.1 Khái niệm ngân hàng thương mại

Kinh tế hàng hóa, đỉnh cao là kinh tế thị trường, là phát kiến vĩ đại của của loài người . Tài chính – tiền tệ – ngân hàng là những phạm trù kinh tế, đồng thời cũng là phạm trù lịch sử gắn liền với nền kinh tế hàng hóa. Các Mác tổng kết rằng ngân hàng là xí nghiệp kinh doanh tư bản tiền tệ, làm môi giới giữa người đi vay và người cho vay. Chênh lệch giữa lợi tức cho vay và lợi tức nhận gửi sau khi trừ đi những chi phí về nghiệp vụ kinh doanh ngân hàng cộng với các thu nhập khác về kinh doanh tư bản tiền tệ hình thành nên lợi nhuận ngân hàng. Ngân hàng có hai nghiệp vụ chính: nhận gửi và cho vay. Nhờ có ngân hàng mà các nhà tư bản có điều kiện mở rộng sản xuất nhanh chóng hơn, có điều kiện tự do di chuyển tư bản từ ngành này sang ngành khác dễ dàng hơn, giảm được chi phí lưu thông, giảm lượng tiền mặt trong lưu thông, đẩy nhanh tốc độ vòng quay của đồng tiền.

Theo “ Luật các tổ chức tín dụng” số 47/2023/QH12 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 25/01/2024 có quy định:

Ngân hàng thương mại : là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”.

1.1.2 Hoạt động huy động vốn Khóa luận: Chất lượng tín dụng khách hàng cá nhân tại VietinBank.

Huy động vốn là hoạt động Ngân hàng nhận tiền gửi, đi vay của các cá nhân, tổ chức có tiền mặt, tài sản tạm thời nhàn rỗi chưa dùng đến và cho vay lại đối với những người thiếu vốn, có nhu cầu về vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế. Đối với các Ngân hàng thương mại thì hoạt động huy động vốn bao gồm các hoạt động sau:

1.1.2.1. Nghiệp vụ huy động tiền gửi

Tiền gửi là nền tảng cho sự thịnh vượng và phát triển của Ngân hàng. Đồng thời nó cũng là khoản mục duy nhất trên bảng cân đối kế toán giúp người đọc, các nhà nghiên cứu phân biệt với các loại hình doanh nghiệp khác trong nền kinh tế. Mặt khác nó là nguồn vốn chính cho các khoản vay, cơ sỏ hình thành nên lợi nhuận của Ngân hàng. Khi huy động tiền gửi, các Ngân hàng phải duy trì một tỷ lệ dự trữ bắt buộc để đảm bảo khả năng thanh toán, phần còn lại có thể dùng để cho vay hoặc đầu tư. Cung tiền gửi chủ yếu có được là tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi thanh toán của cá nhân, doanh nghiệp và các tổ chức trong nền kinh tế.

  • Tiền gửi tiết kiệm dân cư

Tài khoản tiền gửi tiết kiệm đựơc lập ra để thu hút nguồn vốn của những người muốn dành riêng một phần thu nhập cho những mục tiêu hay dự định trong tương lai. Lãi suất áp dụng cho loại tiền này cao hơn nhiều so với tiền gửi dùng cho giao dịch, nhưng so vơi nguồn tiền gửi giao dịch thì nó ổn định, chi phí quản lý, duy trì lại thấp hơn nhiều.

Thông thường tiền giử tiết kiệm của dân cư có thể chia thành 3 loại, kì ngắn hạn (dưới 12 tháng), trung hạn (từ 12 tháng đến 60 tháng), dài hạn (trên 60 tháng). Thực tế cho thấy tiền nhàn rỗi trong dân cư là rất lớn, đặc biệt khi mà đời sống trong dân cư ngày càng được nâng cao, cải thiện thì lượng tiền này càng tăng và nhu cầu tiết kiệm cho tương lai là một điều tất yếu. Tiền của họ bảo quản dưới nhiều hình thức khác nhau song chủ yếu là gửi vào các Ngân hàng, bởi chỉ có các két sắt của Ngân hàng mới đủ độ an toàn, uy tín và đảm bảo khả năng sinh lời cho họ.

  • Tiền gửi thanh toán Khóa luận: Chất lượng tín dụng khách hàng cá nhân tại VietinBank.

Đây là khoản tiền mà cá nhân, tổ chức tín dụng gửi vào tài khoản của mình tại Ngân hàng, nhở Ngân hàng thanh toán và giữ hộ. Các hình thức mà doanh nghiệp thanh toán qua hệ thông Ngân hàng thương mại rất đa dạng, phong phú như: thanh toán bằng thẻ, thanh toán bằng séc, hối phiếu, thương phiếu, uỷ nhiệm thu, uỷ nhiệm chi, thanh toán quốc tế,… điều này mang lại cho khách hàng rất nhiều thuận lợi và tiện ích, an toàn, tiết kiệm về thời gian và chi phí giao dịch so với hình thức thanh toán bằng tiền mặt. Trong quá trình đợi thanh toán, số tiền này có thể nhàn rỗi, thanh toán còn dư các Ngân hàng thương mại đều có thể sử dụng để cho các khách hàng khác vay, hoặc cho chính khách hàng đó vay dưới hình thức thấu chi. Về nguyên tắc thì tiền giử thanh toán không được hưởng lãi suất bởi chúng là nguồn vốn có tính ổn định thấp, mặt khác qúa trình thanh toán Ngân hàng đã cung cấp dịch vụ miễn phí cho khách hàng của mình, nhưng để khuyến khích người gửi tiền và cạnh tranh với các Ngân hàng khác họ thường trả cho họ một khoản lãi suất nhỏ.

  • Tiền gửi có kì hạn của doanh nghiệp, tổ chức xã hội

Mục đích sử dụng vốn của các doanh nghiệp, tổ chức trong nền kinh tế là khác nhau. Ngân hàng muốn giúp họ tránh tình trạng lãng phí vốn trong thời gian nhàn rỗi đã cung cấp họ một danh mục kì hạn tiền gửi có lãi suất cao tương đối đa dạng, từ ngắn hạn, trung hạn, đến dài hạn. Người gửi tự tính toán các kì hạn gửi tiền sao cho phù hợp với mục đích sử dụng vốn của mình. Đối với loại tài khoản này người gửi không được phép dùng như tài khoản thanh toán. Khi cần thiết họ có thể đến ngân hàng rút tiền ra nhưng khi rút lãi suất họ nhận được sẽ không cao bằng lãi suất kì hạn. Thông thường đây là các khoản tiền gửi có quy mô lớn của chính phủ, doanh nghiệp trong và ngoài nước.

  • Tiền gửi của các Ngân hàng khác

Đối với hoạt động thanh toán trong nước thì đây là khoản tiền mà các Ngân hàng thường mở tài khoản tại một Ngân hàng thương mại khác đáp ứng nhu cầu thanh toán cho các khách hàng của mình diễn ra trong ngày, đến cuối phiên giao dịch các ngân hàng thanh toán bù trừ với nhau thông qua tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước. Còn với hoạt động thanh toán quốc tế thì các Ngân hàng này phải có quan hệ đại lý thanh toán.

1.1.2.2 Nghiệp vụ đi vay của Ngân hàng thương mại

Tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi giao dịch là nguồn vốn quan trọng tạo lập nên ngân quỹ, cung cấp vốn đầu tư mang lại lợi nhuận cho Ngân hàng thương mại. Tuy nhiên, các nhà quản lý sẽ làm gì nếu sự tăng trưởng của nguồn vốn huy động trên là không mấy khả quan, không thể đáp ứng nhu cầu đi vay của khách hàng? Để khắc phục tình trạng này họ thường tiến hành các hoạt động sau:

  • Vay từ Ngân hàng trung ương Khóa luận: Chất lượng tín dụng khách hàng cá nhân tại VietinBank.

Vai trò của Ngân hàng Trung Ương là rất lớn trong nền kinh tế. Một mặt nó đóng vài trò điều tiết kinh tế vĩ mô thông qua chính sách tiền tệ, chính sách tài khoá quốc gia. Mặt khác nó là Ngân hàng của các Ngân hàng trong nền kinh tế. Ngân hàng nhà nước đưa ra tỉ lệ dự trữ bắt buộc, dự trữ thanh toán chung đối với các Ngân hàng và họ phải nộp số tiền này vào tài khoản của mình mở tại Ngân hàng Trung Ương. Trong trường hợp các Ngân hàng thương mại dự trữ thiếu, không có khả năng thanh toán họ thường vay Ngân hàng Trung Ương dưới nhiều hình thức chủ yếu là: chiết khấu, tái chiết khấu… các giấy tờ có giá. Trong trường hợp các Ngân hàng thương mại không có giấy tờ có giá thì Ngân hàng Trung ương cho họ vay dưới dạng hạn mức tín dụng. Hoạt động của Ngân hàng Trung ương không phải vì mục đích lợi nhuận, mục đích chính của họ là duy trì sự ổn định của nền kinh tế, giúp cho hệ thống ngân hàng hoạt động và phát triển bền vững tránh tình trạng đổ vỡ của hệ thống tài chính.

  • Vay từ các tổ chức tín dụng khác

Trong trường hợp các Ngân hàng không vay được từ Ngân hàng Trung ương họ có thể vay các tổ chức tín dụng khác trong nền kinh tế. Hình thức vay này diễn ra giữa các Ngân hàng thương mại với nhau. Lãi suất cho vay do các bên tự đàm phán thoả thuận, quy trình vay tương đối nhanh chóng thuận lợi, nhưng nhìn chung các Ngân hàng thương mại không mặn mà lắm với hình thức này bởi lãi suất của nó là tương đối cao, nên nó chỉ là sự lựa chọn thứ 2 sau Ngân hàng Trung ương nếu vay nóng để thanh toán.

  • Vay trên thị trường vốn

Thị trường vốn là thị trường giao dịch, mua bán các công cụ tài chính trung và dài hạn. Khác với công cụ trên thị trường tiền tệ, các công cụ trên thị trường vốn có mức độ biến động giá mạnh hơn, tính thanh khoản thấp hơn, do vậy mức độ rủi ro lớn hơn và lợi tức thường cao hơn. Ngân hàng thương mại tiến hành hoạt động vay vốn trên thị trường này thông qua các công cụ: kì phiếu, trái phiếu, tín phiếu.

1.1.2.2 Các nguồn vốn vay khác

Ngoài các nguồn vốn trên ngân hàng có thể sử dụng các nguồn vốn khác như: vốn uỷ thác : là nguồn vốn Ngân hàng có được khi nó thực hiện các dịch vụ uỷ thác: uỷ thác cho vay, uỷ thác đầu tư, …; tiền dùng thanh toán trong nước và quốc tế: séc, L/C,..

1.1.3 Hoạt động sử dụng vốn Khóa luận: Chất lượng tín dụng khách hàng cá nhân tại VietinBank.

Hoạt động chính của các Ngân hàng là huy động vốn và sử dụng các đồng vốn đó sao cho có hiệu quả, mang lại khả năng sinh lời cao nhất cho Ngân hàng. Sau đây là các hoạt động sử dụng vốn của Ngân hàng thương mại

1.1.3.1 Ngân quỹ

Ngân hàng có nhiều quỹ, mỗi quỹ đều có mục đích sử dụng riêng. Nguồn vốn mà Ngân hàng huy động được một phần dự trữ tại Ngân hàng để đảm bảo khả năng thanh toán đối vơi các khoản tiền mà khách hàng yêu cầu rút tiền không báo trước. Bên cạnh đó Ngân hàng còn gửi tiền vào các Ngân hàng khác như: giử vào tài khoản của Ngân hàng tại Ngân hàng Trung ương theo một tỷ lệ dự trự bắt buộc nhất định theo yêu cầu của Ngân hàng Trung ương, gửi tiền vào các Ngân hàng khác để đảm bảo khả năng thanh toán giữa các Ngân hàng. Đây là khoản tiền không sinh lời hoặc nếu có thì rất nhỏ bởi mục đích của việc sử dụng các đồng vốn này là đảm bảo khả năng thanh toán của Ngân hàng.

1.1.3.2 Đầu tư

Đầu tư là một trong những hoạt động quan trọng của Ngân hàng thương mại, nó mang lại lợi nhuận rất lớn cho Ngân hàng. Danh mục đầu tư của Ngân hàng rất đa dạng, nó bao gồm một số hoạt động đầu tư sau:

  • Đầu tư chứng khoán

Chứng khoán là loại tài sản có tính thanh khoản rất cao dễ dàng chuyển sang tiền mặt nếu thấy cần thiết. Ngân hàng đầu tư vào loại tài sản này nhằm mục đích đảm bảo tính thanh khoản cho toàn hệ thống và sinh lời do sở hữu các chứng khoán đó. Các loại chứng khoán mà Ngân hàng thường giữ là: Trái phiếu của chính phủ, tín phiếu kho bạc, trái phiếu của các chính quyền địa phương,…, các loại này thường là loại trái phiếu có độ an toàn rất cao, mức độ rủi ro thấp và mức sinh lời ở mức độ vừa phải. Nó có nhiều loại được chia theo thời gian: ngắn hạn, trung hạn, dài hạn. Đầu tư vào chứng khoán của các công ty. Chứng khoán này có mức độ rủi ro cao hơn với chứng khoán của chính phủ, chứng khoán của chính quyền địa phương,… nhưng mức độ và khả năng sinh lời của nó lại cao hơn. Thông thường thì Ngân hàng thường đầu tư vào chứng khoán của các công ty hoạt động tốt, có thương hiệu trên thị trường, bởi đó là các loại chứng khoán có tính thanh khoản cao, tỷ lệ sinh lời ổn định.

  • Đầu tư công trình, dự án Khóa luận: Chất lượng tín dụng khách hàng cá nhân tại VietinBank.

Đây là hoạt động Ngân hàng tham gia góp vốn đầu tư vào các công trình, dự án,… của các công ty, tổ chức, Chính phủ. Họ phải tiến hành các hoạt động phân tích thẩm định dự án để thấy được tính khả thi, mức độ sinh lời. Khi dự án, công trình, đi vào hoạt động, kết toán, căn cứ vào tỷ lệ vốn đầu tư, Ngân hàng sẽ nhận được lợi nhuận từ kết quả của việc đầu tư đó. Hoạt động này mang lại cho Ngân hàng lợi nhuận tương đối cao so với hoạt động đầu tư chứng khoán, nhưng bên cạnh đó nó cũng chứa đựng đầy rủi ro. Nếu hoạt động thẩm định không được triển khai đồng bộ, thiếu chính xác và tất nhiên là rủi ro là điều không thể tránh khỏi.

1.1.3.3. Cho vay

Hoạt động cho vay là hoạt động chiếm từ 1/2 đến 3/4 tổng số nguồn vốn huy động của Ngân hàng. Nó tạo ra khoảng 55% – 60% lợi nhuận của ngành Ngân hàng. Tiền cho vay là: món nợ mà cá nhân, tổ chức nhân được từ Ngân hàng nhưng đối vơi các Ngân hàng nó là tài sản và họ nhận được lợi nhuận, thu nhập từ tài sản đó. Các khoản cho vay bao gồm: cho vay tiêu dùng, cho vay sản xuất, cho vay bẩt động sản, thương mại, nông nghiệp,… Ngân hàng sẵn sàng cung cấp vốn cho các cá nhân, tổ chức nếu họ thoả mãn điều kiện vay. Lợi nhuận thu về từ các món vay là rất lớn nhưng bên cạnh đó nó chưa dựng khá nhiều rủi ro, đó là rủi ro mất vốn, rủi ro lạm phát, … Vì vậy, khi cho vay Ngân hàng cần phải bám sát công tác thẩm định, giám sát thường xuyên hoạt động sử dụng vốn kinh doanh của khách hàng, lập các quỹ dự phòng nhằm hạn chế tối thiểu các tổn thấp có thể gây ra cho Ngân hàng.

1.1.4 Hoạt động khác.

Hoạt động dịch vụ trung gian bao gồm 2 hoạt động chính là hoạt động: Thanh toán, chuyển tiền và hoạt động bảo quản hộ tài sản.

1.1.4.1 Hoạt động thanh toán, chuyển tiền

Cùng với sự phát triển khoa học, kĩ thuật áp dụng vào ngành Ngân hàng thì các dịch vụ thanh toán, chuyển tiền cũng phát triển rất nhanh chóng, nó giúp cho người sử dụng có thể thanh toán, chuyển tiền một các rất nhanh chóng, tiết kiệm được chi phí vận chuyển, chi phí về thời gian và đặc biệt là rất an toàn. Hình thức này bao gồm: Séc, UNT, UNC, L/C, thanh toán bằng thẻ,… Hoạt động này rất thuận lợi cho thanh toán quốc tế phục vụ cho nhu cầu xuất nhập khẩu các hàng hoá, dịch vụ mang lại rất nhiều tiện ích cho khách hàng, còn ngân hàng thu được phí dịch vụ.

1.1.4.2 Bảo quản hộ tài sản

Là hoạt động được ngân hàng thực hiện dựa trên uy tín, trách nhiệm, khả năng bảo mật, an toàn của mình đối với khách hàng. Họ thực hiện lưu trữ vàng, các giấy tờ có giá, các tài sản khác cho khách hàng bằng két sắt của mình. Tuy nhiên ngày nay dịch vụ này ít khi được khách hàng sử dụng vì chúng không có khả năng mang lại lợi nhuận, lãi suất cho khách hàng nên họ thường đổi thành tiền mặt để gửi vào ngân hàng hưởng lãi suất.

1.2. Chất lượng tín dụng của NHTM – Tín dụng cá nhân Khóa luận: Chất lượng tín dụng khách hàng cá nhân tại VietinBank.

1.2.1 Khái niệm tín dụng – tín dụng cá nhân

Tín dụng là hình thức vay mượn có hoàn trả. Người cho vay nhường quyền sử dụng vốn cho người đi vay. Sau một thời gian nhất định người vay phải trả cả vốn và lãi cho người cho vay, như đã thảo thuận.

Tín dụng ngân hàng là quan hệ vay mượn giữa Ngân hàng với các cá nhân, tổ chức trong nền kinh tế. Ngân hàng là người cho vay, họ nhường quyền sử dụng vốn cho các cá nhân, tổ chức,…sau một thời gian sử dụng vốn của Ngân hàng họ phải trả cả vốn và lãi cho Ngân hàng như đã thoả thuận. Các hình thức tín dụng của Ngân hàng thương mại rất đa dạng.

Theo khoản 14, điều 4 Luật các tổ chức tín dụng năm 2023: “Cấp tín dụng là thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khâu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ tín dụng khác”. Như vậy tín dụng có thể thể hiện dưới các hình thức khác nhau: Tín dụng bằng tiền (cho vay), tín dụng bằng tài sản (cho thuê bằng tài chính), tín dụng bằng chữ tín (bảo lãnh). Tuy nhiên trong hoạt động tín dụng thì cho vay là hoạt động quan trọng nhất và chiếm tỉ trọng lớn nhất tại các NHTM. Do đó thuật ngữ tín dụng và cho vay thường được dùng đan xen và thay thế cho nhau.

Nếu căn cứ vào các chủ thể vay vốn, tín dụng có thể được chia làm 3 loại: Tín dụng doanh nghiệp (tín dụng bán buôn), tín dụng cá nhân (tín dụng bán lẻ), và tín dụng cho các tổ chức tài chính. Như vậy, tín dụng cá nhân là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu vốn của cá nhân hộ gia đình. Nhu cầu vốn cá nhân, hộ gia đình chủ yếu là nhu cầu về cư trú, mua sắm, sửa chữa, xây dựng nhà cửa; nhu cầu mua sắm tiện nghi: ô tô, xe máy…; nhu cầu chi tiêu hàng ngày; nhu cầu đào tạo, y tế, giáo dục; nhu cầu phát triển sản xuất kinh doanh quy mô gia đình… Khóa luận: Chất lượng tín dụng khách hàng cá nhân tại VietinBank.

  • Tín dụng cá nhân là một loại hình tín dụng, vì vậy nó mang đầy đủ đặc điểm chung của tín dụng.

Thứ nhất, tín dụng dựa trên cơ sở lòng tin, Ngân hàng chỉ cấp tín dụng cho khách hàng, cá nhân hay doanh nghiệp khi có lòng tin vào việc khách hàng sẽ sử dụng vốn vay đúng mục đích đã cam kết trong hợp đồng tín dụng, hiệu quả và có khả năng trả nợ (gốc và lãi) đúng hạn.

Thứ hai, tín dụng là việc chuyển nhượng một lượng giá trị có thời hạn. Ngân hàng là trung gian tài chính, vừa đóng vai trò là người đi vay, vừa đóng vai trò là người cho vay. Nguồn vốn ngân hàng sử dụng cho vay được lấy từ nguồn vốn huy động, do vậy, tất cả các khoản tín dụng ngân hàng cấp cho khách hàng đều phải có thời hạn, đảm bảo cho ngân hàng có thể hoàn trả vồn huy động. Để xác định thời hạn cho vay hợp lý, ngân hàng phải căn cứ vào tính chất có thời hạn nguồn vốn của mình và quá trình luân chuyển vốn của đối tượng cho vay. Nếu nguồn vốn của ngân hàng ổn định thì thời hạn cho vay có thể dài hơn; và ngược lại nếu nguồn vốn của ngân hàng không ổn định và kỳ hạn ngắn, ngân hàng chỉ có thể cho vay với thời hạn ngắn để đảm bảo khả năng thanh toán. Đồng thời, thời hạn cho vay phải phù hợp với chu kỳ luân chuyển vốn của đối tượng vay. Nếu thời hạn cho vay nhỏ hơn chu kỳ luân chuyển vốn của người đi vay, khi đó đến kỳ trả nợ mà khách hàng vẫn chưa có nguồn để trả nợ, gây khó khăn cho khách hàng. Nhưng nếu thời hạn vay dài hơn chu kỳ luân chuyển vốn, khách hàng rất có thể sử dụng vốn vay không đúng mục đích vay, ngân hàng rất khó có thể kiểm soát được, gây nhiều rủi ro cho ngân hàng. Đối với khách hàng cá nhân, thời hạn vay thường là ngắn và trung hạn vì các khoản vay thường nhỏ, nhắm trang trải cho các nhu cầu tiêu dùng cần thiết.

Thứ ba, tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một giá trị trên nguyên tắc hoàn trả cả gốc lẫn lãi. Đây chính là thuộc tính riêng của tín dụng. Người đi vay phải trả thêm khoản lãi ngoài gốc, là chi phí của việc sử dụng vốn vay, đây là nguồn để ngân hàng bù đắp chi phí hoạt động, cũng như tạo ra lợi nhuận. Để thực hiện nguyên tắc này, ngân hàng phải xác định lãi suất thực dương, hay lãi suất danh nghĩa phải lớn hơn tỉ lệ lạm phát (lãi suất thực = lãi suất danh nghĩa – tỉ lệ lạm phát).

  • Ngoài ra, tín dụng cá nhân còn mang một số đặc điểm như:

Quy mô: Quy mô các khoản vay nhỏ nhưng số lượng các khoản vay lớn. Các khoản tín dụng cấp cho khách hàng cá nhân tương đối nhỏ so với tín dụng cấp cho doanh nghiệp. Hầu hết khách hàng tìm đến ngân hàng khi đã có số vốn tương đối và chỉ bổ sung phần còn thiếu. Tuy nhiên đối tượng vay là tất cả các cá nhân trong xã hội với nhu cầu hết sức đa dạng. Do đó tổng quy mô các khoản tín dụng cá nhân cũng là rất lớn. Khóa luận: Chất lượng tín dụng khách hàng cá nhân tại VietinBank.

Lãi suất: Lãi suất cho vay cá nhân thường cao hơn cho vay đối với doanh nghiệp. Đối với các khoản vay cá nhân, ngân hàng thường tốn nhiều chi phí cho việc xác định thẩm định và phê duyệt vay. Số lượng các khoản vay thì rất lớn, nhưng quy mô mỗi khoản vay lại nhỏ. Để bù đắp chi phí và thu lợi nhuận, ngân hàng thường đặt ra mức lãi suất cao hơn so với cho vay doanh nghiệp . Tuy nhiên, khách hàng thường quan tâm đến số tiền mình phải trả hơn là lãi suất mà mình phải chịu.

Nhu cầu vay: Nhu cầu vay của khách hàng cá nhân thường nhạy cảm theo chu kỳ kinh tế, tăng lên khi nền kinh tế mở rộng và giảm xuống khi nền kinh tế suy thoái. Ngoài ra, nhu cầu vay còn phụ thuộc nhiều vào hai biến số là mức thu nhập và trình độ học vấn của người vay.

Nguồn trả nợ: Nguồn trả nợ của khách hàng chủ yếu phụ thuộc vào nguồn thu nhập của họ. Nguồn trả nợ này có thể có những biến động lớn, phụ thuộc vào quá trình làm việc, kỹ năng và kinh nghiệm đối với công việc của họ. Sự kiểm soát các nguồn thu này nhiều khi rất khó khăn.

Rủi ro: Các khoản vay cá nhân thường có độ rủi ro cao hơn cho vay với doanh nghiệp. Chất lượng thông tin tài chính do khách hàng cung cấp thường không cao. Tư cách khách hàng là yếu tố quan trọng, quyết định sự hoàn trả của khoản vay, song nó lại là yếu tố định tính, rất khó xác định. Ngoài ra, do nguồn trả nợ của cá nhân chủ yếu từ thu nhập của người vay, có thể có những biến động lớn. Khả năng trả nợ của khách hàng còn phụ thuộc vào tình trạng sức khỏe của khách hàng, đặc biệt nếu người vay chết ngân hàng sẽ khó có thể thu hồi nợ. Do vậy các khoản tín dụng cá nhân luôn được quản lý chặt chẽ và linh hoạt, đảm bảo an toàn cho ngân hàng và thường là các khoản vay có tài sản đảm bảo.

1.2.2. Phân loại tín dụng cá nhân Khóa luận: Chất lượng tín dụng khách hàng cá nhân tại VietinBank.

1.2.2.1 Phân loại theo hình thức cấp tín dụng

  • Cho vay

Khái niệm: Là quan hệ trong đó Ngân hàng sẽ cấp cho người vay một lượng vốn hay một tài sản nào đó, trong một thời gian nhất định người vay phải trả cả lãi và gốc. Các hình thức cho vay:

Cho vay có tài sản đảm bảo: Là hình thức mà người vay muốn vay được vốn của Ngân hàng phải có tài sản đảm bảo, cầm cố, thế chấp,…như: các giấy tờ có giá (cổ phiếu, trái phiếu, nhà cửa, đất đai,..) đồng thời các loại tài sản này là tài sản phải có tính thanh khoản, tức là phải được mua bán trao đổi trên thị trường.

Cho vay không có đảm bảo: Đây là hình hình thức tín dụng cung cấp cho khách hàng có uy tín, độ tin cậy cao, hoạt động kinh doanh ổn định, tài chính lành mạnh, kể cả khách hàng có sự bảo lãnh của bên thứ 3.

Cho vay thấu chi: Là hình thức mà qua đó Ngân hàng cho phép người vay được chi trội trên số dư tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn cho phép của Ngân hàng trong một thời gian nhất định. Khách hàng muốn thấu chi phải làm đơn xin phép, nếu được Ngân hàng cho phép thì mới được sử dụng dịch vụ này, trong qua trình chi trả nếu vượt quá hạn mức cho phép sẽ bị phạt rất nặng với lãi suất cao.

Cho vay trực tiếp từng lần : Là hình thức cho vay đối với các khánh hàng có nhu cầu không thường xuyên về vốn, không có điều kiện để hạn mức thấu chi, vốn của ngân hàng chỉ tham gia nhất định vào một chu kì kinh

Cho vay luân chuyển : Là hình thức cho vay dựa trên sự luân chuyển hàng hóa. Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, mua bán hàng hoá dịch vụ, doanh nghiệp thiếu vốn có thể vay Ngân hàng. Ngân hàng chỉ tiến hành thu nợ khi doanh nghiệp bán được hàng hoá dịch vụ. Khi vay khách hàng chỉ cần gửi các chứng từ, hoá đơn chứng minh số tiền cần vay cho Ngân hàng. Ngân hàng sẽ cho vay và trả tiền cho người bán. Các khoản phải thu và hàng hoá của khách hàng là vật đảm bảo cho khoản vay. Hình thức vay này đa số chỉ áp dụng cho các doanh nghiệp thương mại, các doanh nghiệp có chu kì sản xuất ngắn, có quan hệ thường xuyên với Ngân hàng .

Cho vay gián tiếp : Là hình thức cho vay của Ngân hàng thông qua một tổ chức nào đó có uy tín trong xã hội làm trung gian đứng ra bảo lãnh, bảo đảm cho người vay. Khóa luận: Chất lượng tín dụng khách hàng cá nhân tại VietinBank.

Cho vay trả góp : Là hình thức vay mà Ngân hàng cho phép khách hàng của mình có thể trả gốc và lãi làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng. Hình thức cho vay này thường được áp dụng đối với tín dụng tiêu dùng, tài trợ cho các tài sản có giá trị lớn, lâu bền như: cho vay mua nhà, xe hơi,…

  • Cho thuê

Khái niệm: Cho thuê là hình thức kí hợp đồng giữa hai hay nhiều bên liên quan đến một hay nhiều tài sản. Người cho thuê (chủ sở hữu tài sản) chuyển giao tài sản cho người đi thuê ( người sử dụng tài sản) độc quyền sử dụng và hưởng lợi từ việc sử dụng tài sản đó. Còn người đi thuê có nghĩa vụ trả tiền thuê cho người sở hữu theo thoả thuận. Đặc trưng nổi bật của hoạt động cho thuê là quyền sử dụng tách rời quyền sở hữu. Các hình thức cho thuê:

  • Thuê ngắn hạn

Theo hình thức này thì thời gian thuê so với thời gian hữu ích của tài sản là rất ngắn. Hợp đồng thuê kí kết giữa các bên và họ có thể huỷ hợp đồng mà chỉ cần báo trước một thời gian ngắn.

Người cho thuê phải chịu mọi chi phí vận hành của tài sản như: chi phí bảo hành sửa chữa, bảo hiểm,… và các chi phí khác. Bên cạnh đó người cho thuê được hưởng tiền thuê và sự gia tăng giá trị của tài sản hay quyền lợi khác do sở hữu tài sản mang lại còn người thuê có quyền hưởng lợi do tài sản đó mang lại và trả tiền cho người sở hữu. Khi hợp đồng hết hạn, chủ sở hữu có thể bán tài sản đó cho người thuê hoặc kí hợp đồng cho thuê tiếp.

  • Thuê dài hạn

Đây là hình thức tài trợ dài hạn không được huỷ ngang. Người cho thuê thường thường mua máy móc thiết bị, tài sản mà người vay cần và cho họ thuê lại theo các điều kiện đã thoả thuận trong hợp đồng. Trong quá trình thuê người thuê phải chụi toàn bộ chi phí liên quan đến bảo trì, vận hành, bảo hiểm và mọi rủi ro khác có liên quan đồng thời số tiền mà người thuê trả, phải bù đắp được toàn bộ chi phí và đảm bảo lợi nhuận đối với người cho thuê, còn người thuê được hưởng mọi lợi ích từ việc sử dụng máy móc thiết bị. Khi thời gian thuê đáo hạn người thuê có quyền lựa chọn một trong những hình thức mua lại tải sản với giá trị hợp lý hoặc kí hợp đồng thuê tiếp tục, làm đại lý bán tài sản đó theo sự uỷ quyền của người cho thuê.

  • Chiết khấu

Khái niệm: Chiết khấu là một nghiệp vụ tín dụng của Ngân hàng thương mại. Người sở hữu mang thương phiếu chưa đến ngày đáo hạn đến Ngân hàng để nhận một số tiền nhất định theo thoả thuận với Ngân hàng, thông thường số tiền này bằng mệnh giá thương phiếu trừ đi lãi suất chiết khấu, phí giao dịch và hoa hồng. Đến khi đáo hạn Ngân hàng là người tiến hành thu nợ, số tiền mà họ thu được bằng đúng với mệnh giá thương phiếu. Khóa luận: Chất lượng tín dụng khách hàng cá nhân tại VietinBank.

  • Bảo lãnh.

Khái niệm: Là hình thức cam kết của Ngân hàng dưới dạng hình thức bảo lãnh về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng của mình khi khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ cam kết. Bảo lãnh gồm có 3 bên, bên bảo lãnh, bên được bảo lãnh và bên hưởng bảo lãnh. Các hình thức bảo lãnh:

1.2.2.2 Phân loạt tín dụng theo thời gian

Phân loại tín dụng theo thời gian có ý nghĩa rất quan trọng đối với các Ngân hàng thương mại vì nó liên quan đến khả năng sinh lời và mức độ rủi ro của khoản tiền cho vay, theo cách phân loại này người ta chia thành:

  • Tín dụng ngắn hạn

Tín dụng ngắn hạn là các khoản vay mà Ngân hàng cung cấp cho khách hàng của mình có thời gian sử dụng vốn dưới 12 tháng trở xuống. Khoản tín dụng này chủ yếu cung cấp cho những người không có nhu cầu sử dụng vốn thường xuyên, chỉ sử dụng vốn vay trong trường hợp đột xuất và đa số là sử dụng tài trợ cho tài sản lưu động. Với tín dụng cá nhân nói riêng, tín dụng ngắn hạn là hình thức tín dụng chủ yếu, vì nó thường phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng cần thiết của cá nhân và hộ gia đình. Rủi ro cho ngân hàng là khá nhỏ khi cho vay ngắn hạn, vì trong thời gian ngắn ít có biến động xảy ra và nếu có ngân hàng có thể dự tính được.

  • Tín dụng trung hạn, dài hạn

Tín dụng trung hạn: Là khoản tín dụng thường có thời hạn tài trợ từ 12 tháng đến 60 tháng. Đa số các hoạt động này tài trợ cho các nhu cầu vốn như mua ô tô, xây dựng nhà cửa…

Tín dụng dài hạn: Là khoản tín dụng có thời gian tài trợ trên 60 tháng trở lên tài trợ cho các nhu cầu mua sắm đất đai, nhà cửa…

Tuỳ theo từng khách hàng mà Ngân hàng thương mại có thời gian tài trợ vốn khác nhau đồng thời áp dụng các mức lãi suất khác nhau. Đối với các doanh nghiệp, tổ chức, Chính phủ các hình thức tài trợ chủ yếu là mua trái phiếu, công trái,…còn đối với người tiêu dùng thì hình thức cho vay chủ yếu là cho vay trả góp.

Việc xác định thời hạn chỉ là tương đối bởi vì trong thực tế có nhiều khoản cho vay không xác định được thời hạn cho vay một các chính xác. Trên thực tế cũng cho thấy các khoản cho vay tín dụng ngắn hạn của các Ngân hàng thương mại thường chiếm tỷ trọng cao hơn các khoản cho vay trung và dài hạn đồng thời nó cũng có lãi suất thấp hơn vì các khoản vay trung và dài hạn là các khoản có độ rủi ro cao hơn, nguồn vốn đắt hơn, khan hiếm hơn.

1.2.2.4 Phân loại theo mục đích tín dụng Khóa luận: Chất lượng tín dụng khách hàng cá nhân tại VietinBank.

Căn cứ vào mục đích của sử dụng vốn vay của Ngân hàng trong từng lĩnh vực của nền kinh tế người ta chia thành:

  • Cho vay bất động sản:

Là loại tín dụng được đảm bảo bằng bất động sản, nó bao gồm:

  • Tín dụng ngắn hạn cho xây dựng và mở rộng đất đai.
  • Tín dụng trung hạn để mua đất đai nhà cửa, căn hộ, tiêu dùng mua sắm hàng hoá sử dụng lâu bền.

Cho vay tiêu dùng

Cho vay tiêu dùng là loại cho vay nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu chi tiêu và mua sắm tiện nghi sinh hoạt gia đình nhằm nâng cao đời sống dân cư. Khách hàng vay là những người có thu nhập không cao nhưng ổn định. Số lượng khách hàng vay thường rất đông.

  • Cho vay sản xuất kinh doanh:

Cho vay SXKD là loại cho vay nhằm bổ sung vốn thiếu hụt trong hoạt động sản xuất kinh doanh của những cá nhân hay hộ gia đình sản xuất kinh doanh cá thể với quy mô nhỏ. Số lượng khách hàng có nhu cầu vay khá lớn, nhưng doanh số cho vay không cao lắm do trình độ và thời gian của khách hàng thường hạn chế nên nhiều khi các khách hàng ngại tiếp xúc với ngân hàng. Muốn đẩy mạnh loại hình này, ngân hàng cần có đội ngũ nhân viên tín dụng năng động và linh hoạt, có thể đến tận nơi tiếp xúc khách hàng, thay vì thụ động ngồi chờ khách hàng tìm đến.

1.2.3. Chất lượng tín dụng của NHTM – chất lượng tín dụng cá nhân

1.2.3.1 Khái niệm

Chất lượng tín dụng được hiểu là chất lượng của từng khoản vay. Chất lượng tín dụng của từng khoản vay là chất lượng tín dụng của tất cả hoạt động tín dụng của Ngân hàng. Một khoản vay có chất lượng là khoản vay khi Ngân hàng đã cho vay thì họ phải thu hồi được cả gốc và lãi đúng hạn, theo quy định trong hợp đồng tín dụng đã kí kết. Tổng tất cả các khoản vay có chất lượng này hình thành nên chất lượng tín dụng của Ngân hàng.

1.2.3.2 Nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng

  • Nhân tố khách quan

Môi trường thể chế pháp luật, chính sách Khóa luận: Chất lượng tín dụng khách hàng cá nhân tại VietinBank.

Tài chính – Ngân hàng là mạch máu không thể thiếu của nền kinh tế, nó đóng vai trò vô cùng quan trọng đối vơi sự phát triển và tăng trưởng. Vì vậy, tất cả các hoạt động kinh doanh của Ngân hàng đều chụi sự giám sát chặt chẽ của Ngân hàng Trung ương và Chính phủ. Tuỳ theo mục đích kinh tế trong từng thời kì, giai đoạn khác nhau mà các cơ quan này đưa ra các chính sách kinh tế sao cho phù hợp. Nó có thể bao gồm: Chính sách ưu đãi, chính sách tỷ giá, chính sách lãi suất, các quy định về tỷ lệ dự trữ bắt buộc,…

Các yếu tố thuộc môi trường kinh tế cũng ảnh hưởng rất nhiều đến chính sách tín dụng của Ngân hàng thương mại. Nó bao gồm các yếu tố: thu nhập dân cư, chi tiêu Chính phủ, sự ổn định kinh tế, văn hóa, trình độ kỹ thuật,… Khi nền kinh tế tăng trưởng và phát triển ổn định, GDP bình quân hàng năm tăng làm cho thu nhập bình quân tính trên đầu người cũng tăng theo dẫn đến tích luỹ tiêu dùng dân cư tăng đây là điều hết sức thuận lợi để Ngân hàng có thể huy động vốn từ nguồn tiết kiệm này. Doanh nghiệp cũng cần nhiều vốn hơn đáp ứng nhu cầu đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh đó là cơ hội hết sức thuận lợi thực hiện kế hoạch tín dụng của Ngân hàng thương mại.

Thói quen sử dụng và cất trữ tiền mặt, địa lý cũng tác động rất lớn đến hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại, đặc biệt là ở những nước đang phát triển như Việt Nam. Trình độ dân cư thấp, hiểu biết của dân cư về các tổ chức tín dụng còn hạn chế, chưa đầy đủ, thói quen dữ trữ, sử dụng tiền mặt quá nhiều gây khó khăn cho hoạt động huy động vốn. Công nghệ của ngành Ngân hàng còn lạc hậu, chưa thể triển khai mạng lưới hoạt động đến các nơi vùng sâu, vùng xa, hải đảo gây khó khăn cho hoạt động cấp và thu hồi tín dụng.

  • Do biến động của tài chính thế giới.

Hoạt động tín dụng của các Ngân hàng thương mại chụi ảnh hưởng rất lớn của tài chính quốc tế. Xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hoá làm cho những tác động này càng biểu hiện sắc nét. Luồng di chuyển vốn giữa các quốc gia và các nền kinh tế trong khu vực liên tục không ngừng biến đổi làm cho hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng thay đổi mạnh mẽ, đặc biệt là những thay đổi về chất lượng dịch vụ, công nghệ làm cho khoảng cách giữa các quốc gia, vùng lãnh thổ bị thu hẹp dần, vốn tín dụng không chỉ đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn vươn ra cả thế giới. Tuy nhiên, bên cạnh đó nó cũng chụi những tác động tiêu cực từ thị trường tài chính thế giới.

Nhân tố vĩ mô là những nhân tố luôn biến động không ngừng mà Ngân hàng không thể kiểm soát được. Vì vậy, các Ngân hàng luôn phải cập nhật thông tin, đổi mới công nghệ, bám sát thực tế để đưa ra quyết định điếu chỉnh phù hợp với nhu cầu thực tiễn.

Nhân tố chủ quan Khóa luận: Chất lượng tín dụng khách hàng cá nhân tại VietinBank.

  • Nhóm nhân tố khách hàng

Đối tượng tín dụng của Ngân hàng gồm 2 nhóm chính là: Cá nhân và doanh nghiệp. Tuỳ theo nhu cầu sử dụng vốn, mục đích khác nhau mà họ tiếp cận với tín dụng Ngân hàng. Do đó, để nâng cao hiệu quả tín dụng họ cần phải đưa ra các chính sách, quy trình tín dụng sao cho phù hợp vời từng nhóm khách hàng, đảm bảo khả năng sinh lời, hạn chế tối đa được rủi ro tín dụng:

Đối với nhóm khách hàng cá nhân cần phải chú ý đến: thu nhập cá nhân, mục đích vay vốn của họ là tiêu dùng hay đầu tư, trình độ văn hoá, tuổi tác, số nhân khẩu mà người đó phải nuôi dưỡng,…

Đối với nhóm khách hàng doanh nghiệp cần chú ý: Mục đích vay vốn, tính khả thi của các dự án khi doanh nghiệp vay vốn đầu tư, đối thủ cạnh tranh, tài sản thế chấp, khả năng sinh lời và rủi ro tiềm năng của khách hàng vì nó là nhân tố quyết định tính an toàn và sinh lợi của hoạt động tín dụng…

Khách hàng là thượng đế mang lại lợi nhuận cho ngân hàng. Vì vậy, cần phải thiết lập mối quan hệ thân thiết, lâu bền đưa ra các cơ chế, chính sách nhằm thu hút khuyến khích, tạo niềm tin cho khách hàng.

  • Nhóm nhân tố Ngân hàng

Đây là nhân tố chủ quan, nội tại ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng, nó hoàn toàn có thể kiểm soát và hạn chế được rủi ro tín dụng. Các yếu tố này bao gồm: trình độ quản lý, công nghệ, quy mô cơ cấu, tính ổn định của các khoản tiền gửi, khả năng vay mượn của Ngân hàng,… Nếu như trình độ quản lý, công nghệ là nhân tố ảnh hưởng đến thương hiệu, uy tín của Ngân hàng thì quy mô cơ cấu là nhân tố ảnh hưởng đến khả năng cấp vốn, tài trợ,… Quy mô vốn nhỏ, năng lực tài chính yếu, tính thanh khoản không cao,… sẽ ảnh hưởng rất lớn đế chính sách tín dụng, không thu hút được khách hàng lớn, khả năng sinh lời không cao, làm mất uy tín, khả năng cạnh tranh trên thương trường. Ngược lại quy mô vốn lớn, cho phép ngân hàng theo đuổi chính sách tín dụng mạo hiểm, nghiêng về lợi nhuận điều nay làm tăng thu nhập cho họ, thu hút được khách hàng lớn, song rủi ro mất vốn có thể sảy ra nếu công tác thẩm định, đảm bảo tín dụng không đúng, không chính sác với thực tế.

Bên cạnh đó còn nhiều yếu tố liên quan như: hoạt động Marketing tín dụng, mối quan hệ Ngân hàng với khách hàng; trình độ, đạo đức nhân viên tín dúng; chiến lược khách hàng,… Khóa luận: Chất lượng tín dụng khách hàng cá nhân tại VietinBank.

1.2.3.3 Các chỉ tiêu đánh giá

Đối với các Ngân hàng thương mại, cho vay có vai trò quan trọng trong phát triển hoạt động kinh doanh của Ngân hàng. Nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động tín dụng, mỗi Ngân hàng phải tìm biện pháp nâng cao chất lượng đối với các khoản cho vay của mình. Thực tế chất lượng tín dụng là một khái niệm tương đối và không có một chỉ tiêu tổng hợp nào có thể phản ánh nó một cách chính xác, thông thường để đánh giá chất lượng hoạt động tín dụng của một Ngân hàng thương mại, người ta dùng một tập hợp các chỉ tiêu khác nhau, nhưng về cơ bản chất lượng tín dụng của một Ngân hàng thương mại được đánh giá qua các chỉ tiêu sau:

  • Chỉ tiêu định tính

Ngân hàng cần tạo được ấn tượng đầu tiên tốt đẹp trong lòng khách hàng, cho khách hàng cảm giác an tâm khi đến giao dịch với Ngân hàng. Ngân hàng phải có bảo vệ, có bãi gửi xe; nhân viên Ngân hàng cư xử lịch sự, đón tiếp niềm nở, tận tình, chu đáo…. Nếu Ngân hàng có sơ đồ làm việc của các phòng ban sẽ giúp khách hàng không bị bỡ ngỡ và đỡ tốn thời gian.

Cách bố trí sắp xếp trong phòng làm việc của Ngân hàng, trang phục của nhân viên, đặc biệt là thái độ của cán bộ tín dụng ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng tín dụng của Ngân hàng. nếu chất lượng tín dụng cao thì chắc chắn Ngân hàng sẽ có nhiều khách mới.

Uy tín của Ngân hàng cũng góp phần tạo nên chất lượng tín dụng cho Ngân hàng.

Như vậy, qua các chỉ tiêu định tính đã phần nào biểu hiện được chất lượng tín dụng của Ngân hàng thương mại.

  • Chỉ tiêu định lượng

Doanh số cho vay và tổng dư nợ

Doanh số cho vay phản ánh khối lượng tín dụng tài trợ trong một thời kỳ nhất định, thường là 1 năm.Tổng dư nợ là một chỉ tiêu phản ánh khối lượng tiền Ngân hàng cấp cho nền kinh tế tại một thời điểm. Tổng dư nợ bao gồm dư nợ cho vay ngắn, trung và dài hạn. Doanh số cho vay và tổng dư nợ thấp chứng tỏ hoạt động Ngân hàng yếu kém, khả năng tiếp thị của Ngân hàng kém. Tuy nhiên không phải chỉ tiêu này càng cao thì chất lượng tín dụng của Ngân hàng càng cao bởi lẽ đằng sau những khoản tín dụng đó còn những rủi ro tín dụng mà Ngân hàng phải chịu. Khóa luận: Chất lượng tín dụng khách hàng cá nhân tại VietinBank.

Hệ số sử dụng vốn vay Hệ số sử dụng vốn vay = Tổng dư nợ/ Tổng nguồn vốn huy động

Hệ số này phản ánh kết quả sử dụng nguồn vốn để đầu tư của Ngân hàng thương mại. hệ số này luôn nhỏ hơn 1. Nếu hệ số sử dụng vốn gần bằng 1 thì Ngân hàng thương mại phải chú ý tăng trưởng nguồn vốn để đề phòng mất khả năng thanh toán. Nếu hệ số sử dụng vốn vay mà quá thấp thì chứng tỏ chất lượng tín dụng của Ngân hàng thấp, Ngân hàng mất uy tín đối với khách hàng. Ngân hàng phải điều chỉnh các hệ số này phù hợp, vừa đảm bảo tận dụng được nguồn vốn, vừa đảm bảo an toàn trong khả năng thanh toán.

Chỉ tiêu tỉ lệ nợ quá hạn- nợ xấu Tỷ lệ nợ quá hạn = Nợ quá hạn / Tổng dư nợ

Nợ quá hạn là hiện tượng phát sinh từ mối quan hệ tín dụng không hoàn hảo khi người đi vay không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ của mình cho Ngân hàng đúng hạn.

Xét về mặt bản chất, tín dụng là sự hoàn trả, do đó tính an toàn là yếu tố quan trọng bậc nhất để cấu thành chất lượng tín dụng. Khi một khoản vay không được trả đúng hạn như đã cam kết thì nó sẽ bị chuyển sang nợ quá hạn với lãi suất cao hơn lãi suất bình thường. Trên thực tế, những khoản nợ quá hạn là những khoản nợ có độ rủi ro rất cao, Ngân hàng rất dễ bị mất vốn. chính vì vậy, tỷ lệ nợ quá hạn mà càng cao thì hoạt động tín dụng của Ngân hàng có độ rủi ro càng cao, Ngân hàng càng gặp khó khăn trong kinh doanh, như vậy chất lượng tín dụng của Ngân hàng càng thấp. Tỷ lệ nợ xấu = Nợ xấu / Tổng dư nợ

Nợ của NHTM được chia thành 5 nhóm nợ như sau:

Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn):

  • Các khoản nợ trong hạn và tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn;
  • Các khoản nợ quá hạn dưới 10 ngày và tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ gốc và lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ gốc và lãi đúng thời hạn còn lại;

Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm:

  • Các khoản nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày;
  • Các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu (đối với khách hàng là doanh nghiệp, tổ chức thì tổ chức tín dụng phải có hồ sơ đánh giá khách hàng về khả năng trả nợ đầy đủ nợ gốc và lãi đúng kỳ hạn được điều chỉnh lần đầu).

Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm:

  • Các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày;
  • Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu, trừ các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu phân loại vào nhóm 2.
  • Các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng

Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: Khóa luận: Chất lượng tín dụng khách hàng cá nhân tại VietinBank.

  • Các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày;
  • Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu;
  • Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai.

Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm:

  • Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày;
  • Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu;
  • Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai;
  • Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn;

Các khoản nợ khoanh, nợ chờ xử lý;

Nợ xấu là các khoản nợ thuộc nhóm 3, 4 và 5. Tỷ lệ nợ xấu cho biết trong 100 đồng tổng dư nợ có bao nhiêu đồng là nợ xấu. Nợ xấu phản ánh khả năng thu hồi vốn khó khăn, vốn của ngân hàng lúc này không còn ở mức độ rủi ro thông thường nữa mà là nguy cơ mất vốn. Với các khoản nợ xấu, tổ chức tín dụng phải thực hiện phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng cho từng nhóm nợ cụ thể. Do vậy làm tăng chi phí và làm giảm lợi nhuận của ngân hàng.

  • Chỉ tiêu vòng quay vốn Vòng quay vốn tín dụng = Doanh số thu nợ

Chỉ tiêu này phản ánh số vòng quay tín dụng trong một thời gian nhất định. Vòng quay vốn tín dụng lớn chứng tỏ vốn Ngân hàng đã luân chuyển nhanh tham gia nhiều vào quá trình sản xuất kinh doanh và lưu thông hàng hoá. Với số lượng vốn nhất định nhưng nếu tốc độ quay vòng vốn càng nhanh thì lượng vốn đó sẽ được đem ra sử dụng càng nhiều vì vậy hiệu quả sử dụng vốn càng cao, do đó chất lượng tín dụng càng cao.

  • Chỉ tiêu lợi nhuận thu được từ hoạt động tín dụng

Ngân hàng thương mại hoạt động với mục đích quan trọng nhất là lợi nhuận. chỉ tiêu này chỉ ra trong tổng thu nhập của Ngân hàng thì phần đóng góp này là bao nhiêu. lợi nhuận thu được từ hoạt động tín dụng càng lớn khẳng định chất lượng tín dụng càng cao. Khóa luận: Chất lượng tín dụng khách hàng cá nhân tại VietinBank.

Tuy nhiên các chỉ tiêu trên khi đánh giá chất lượng tín dụng chỉ phản ánh chất lượng tín dụng trên một khía cạnh. Muốn đánh giá chất lượng tín dụng một cách chính xác nhất chúng ta cần phải sử dụng kết hợp các chỉ tiêu này

  • Tỷ lệ lãi thu được từ hoạt động tín dụng
  • Lãi thu từ hoạt động tín dụng
  • Tỷ lệ lãi thu được từ hoạt động TD =
  • Dư nợ bình quân x 100

Tỷ lệ này cho biết cứ 100 đồng vốn ngân hàng đưa vào hoạt động tín dụng trong kì sẽ thu được bao nhiêu đồng lãi.

Như vậy, đánh giá chất lượng tín dụng của Ngân hàng không chỉ dựa trên một chỉ tiêu nào đó mà phải dựa vào tất cả các chỉ tiêu thì mới có được đánh giá toàn diện hiệu quả, chính xác. Đồng thời phải so sánh giữa các thời kì với nhau, có thể là kì kế hoạch hoặc kì gốc theo chỉ tiêu ngành,… kết hợp với việc phân tích đinh lượng từ đó mới có thể đưa ra các lời nhận xét chính sác về chất lượng tín dụng của Ngân hàng là Tốt hay Xấu.

1.3. Vai trò của tín dụng cá nhân

1.3.1 Vai trò của tín dụng cá nhân đối với khách hàng

Nhu cầu đa dạng và phong phú luôn vượt quá khả năng tích lũy trong hiện tại. việc đáp ứng các nhu cầu giúp cho đời sống con người không chỉ được cải thiện mà còn dần được nâng cao, có khả năng tạo ra một năng suất lao động mới cao hơn.

Mở rộng tín dụng cá nhân qua các ngân hàng làm giảm hiện tượng cho vay nặng lãi. Đối với các nước có hệ thống ngân hàng chậm phát triển như nước ta hiện nay , cho vay nặng lãi vẫn đang tồn tại để đáp ứng không chỉ nhu cầu sản xuất của cá nhân mà còn đáp ứng nhu cầu tiêu dùng nhất là cá nhu cầu thiết yếu nhất như: y tế, giáo dục…

Trong truyền thống Á Đông , nhất là sau khi trải qua các năm tháng chiến tranh, đói nghèo người dân có xu hướng tiết kiệm cao để đề phòng các rủi ro trong tương lai, hoặc chuẩn bị một nền giáo dục tốt nhất cho con cái.

1.3.2 Vai trò của tín dụng cá nhân đối với ngân hàng Khóa luận: Chất lượng tín dụng khách hàng cá nhân tại VietinBank.

Nhằm tăng cường mối quan hệ với khách hàng, từ đó ngân hàng có thể mở rộng các dịch vụ khác với khách hàng cá nhân như tăng khả năng huy động tiền gửi, dịch vụ thanh toán, tư vấn…Đây là kênh marketing hiệu quả đối với ngân hàng, tăng khả năng cạnh tranh giành thị phần của ngân hàng trên thị trường tài chính.

Tạo điều kiện đa dạng hóa hoạt động kinh doanh, nhờ đó nâng cao lợi nhuận và phân tán rủi ro của ngân hàng. Các khoản vay cá nhân tuy có quy mô nhỏ nhưng số lượng lại khá lớn, do vậy tổng quy mô tài trợ cũng rất lớn. Đồng thời lãi suất áp dụng đối với khách hàng cá nhân thường cao hơn so với khách hàng doanh nghiệp để bù đắp chi phí cho vay nên các khoản vay cá nhân đóng góp một phần lợi nhuận không nhỏ trong tổng lợi nhuận của ngân hàng.

Đặc biệt với các ngân hàng nhỏ hoặc mới thành lập, việc cạnh tranh với các ngân hàng lớn, lâu đời trong việc giành các khách hàng doanh nghiệp lớn ( thường là các khách hàng có nhu cầu vốn lớn để phục vụ sản xuất kinh doanh) là rất khó khăn, hoặc khi đã có khách nhưng ngân hàng thì quy mô vốn của ngân hàng cũng không đủ đáp ứng để cho vay. Vì vậy, mảng tín dụng cá nhân sẽ là mảng kinh doanh đầy tiềm năng đối với ngân hàng.

1.3.3 Vai trò của tín dụng cá nhân đối với nền kinh tế

Góp phần luân chuyển vốn, tăng lưu thông hàng hóa, kích cầu, nhờ đó tạo điều kiện thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, cải thiện đời sống dân cư, góp phần thực hiện xóa đói giảm nghèo…Xét trên góc độ kinh tế vĩ mô: Dịch vụ ngân hàng bán lẻ đẩy nhanh quá trình lưu thông tiền tệ, tận dụng tiềm năng lớn trong dân cư để phát triển kinh tế, cải thiện đời sống người dân, hạn chế dùng tiền mặt và tiết kiệm thời gian và tiền bạc cho xã hội.

1.4. Tính tất yếu phải mở rộng tín dụng cá nhân Khóa luận: Chất lượng tín dụng khách hàng cá nhân tại VietinBank.

Cùng với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế là sự cải thiện đáng kể trong mức sống của dân cư đặc biệt là dân cư thuộc khu vực thành thị. Nhu cầu tiêu dùng, sản xuất của dân cư ngày càng tăng, để thỏa mãn nhu cầu của mình trong khi tiết kiệm chưa đủ thì giải pháp đi vay các TCTD sẽ được hướng đến. Ngược lại với suy nghĩ của một số người khi thu nhập cao sẽ giảm vay tiêu dùng do khả năng thỏa mãn nhu cầu bằng với nguồn vốn thu nhập hiện hữu. Thực tế, người có thu nhập càng cao thì có nhiều nhu cầu phát sinh, các nước phát triển có mức tín dụng chiếm 30-40% dư nợ vay của các TCTD trong khi nước nghèo, nước chậm phát triển thì tỷ trọng này rất thấp.

Với thu nhập và chi tiêu tăng nhanh của các hộ gia đình ở khu vực thành thị cho thấy mức sống của người dân ngày càng được cải thiện, nhu cầu về các vật dụng sinh hoạt hiện đại, nhà ở…ngày càng phong phú. Đó chính là thị trường rộng mở cho các ngân hàng phát triển các dịch vụ trong lĩnh vực tín dụng các nhân.

Việt Nam được đánh giá là nước có nền chính trị ổn định vào bậc nhất Châu Á, nền kinh tế phát triển với tốc độ khá cao thu hút mạnh mẽ vốn đầu tư nước ngòai. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, tăng thu nhập trong tầng lớp dân cư cũng đang có những bước phát triển mạnh mẽ, chắc chắn sẽ cung cấp được nhiều dịch vụ trong đó tín dụng cá nhân phù hợp với từng nhu cầu khách hàng. Khóa luận: Chất lượng tín dụng khách hàng cá nhân tại VietinBank.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>> Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng cá nhân tại VietinBank

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

1 Bình luận
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
trackback

[…] ===>> Khóa luận: Chất lượng tín dụng khách hàng cá nhân tại VietinBank […]

Contact Me on Zalo
0877682993
1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x