Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu ở NH Vietcombank hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Khóa luận: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
Nội dung chính
LỜI MỞ ĐẦU
I. Sự cần thiết phải nghiên cứu đề tài
Xu hướng toàn cầu hóa trên thế giới cùng với việc Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) đã mở ra một thời kỳ mới cho Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế – xã hội. Việt Nam gia nhập WTO trong bối cảnh quốc tế có nhiều thuận lợi đan xen với những thách thức khó lường. Đây là thách thức không nhỏ đối với một quốc gia đang phát triển như Việt Nam, đòi hỏi phải có sự quyết tâm và nỗ lực rất lớn, nhất là từ phía chính phủ và các ngành kinh tế chủ chốt, trong đó không thể không nhắc đến ngành ngân hàng – một lĩnh vực được đánh giá là khá nhạy cảm ở nước ta.
Khi Việt Nam gia nhập WTO, việc mở cửa thị trường tài chính, ngân hàng làm tăng số lượng các ngân hàng có tiềm lực mạnh về tài chính, công nghệ và trình độ quản lý. Áp lực cạnh tranh tăng dần theo lộ trình nới lỏng các quy định đối với các tổ chức tài chính nước ngoài. Trong khi các ngân hàng thương mại Việt Nam còn nhiều yếu kém về trình độ chuyên môn, năng lực tài chính. Đặc biệt, trong khi hoạt động tín dụng được mở rộng nhanh chóng về quy mô thì rủi ro tín dụng lại chưa kiểm soát và chưa phù hợp với chuẩn mực quốc tế cũng như yêu cầu hội nhập. Vì thế, các Ngân hàng thương mại Việt Nam sẽ có nguy cơ mất dần lợi thế cạnh tranh.
Một cuộc điều tra gần đây của chương trình phát triển Liên Hợp quốc (UNDP) phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã cho thấy: 50% doanh nghiệp và 62% dân chúng được hỏi đều trả lời rằng họ sẽ lựa chọn vay ở các ngân hàng nước ngoài hơn là ở các ngân hàng nội địa khi mà chúng ta mở cửa tài chính [24]. Lý do là các ngân hàng này có tính chuyên nghiệp cao hơn, thủ tục đơn giản hơn, dịch vụ tốt hơn, và mức độ tin cậy cao hơn. Như vậy, đối với các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu – một mảng hoạt động mang yếu tố nước ngoài, đòi hỏi tính chính xác và an toàn cao, không có gì ngạc nhiên nếu doanh nghiệp cũng có sự lựa chọn tương tự, nghĩa là sử dụng dịch vụ tín dụng xuất nhập khẩu tại các ngân hàng nước ngoài. Điều này thực sự là một mối quan ngại lớn cho các Ngân hàng thương mại Việt Nam nói chung, đặc biệt là những ngân hàng có truyền thống phát triển mạnh về hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu, và hoạt động này chiếm tỷ trọng cao trong tài sản có như Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam.
Xuất phát từ thực tế hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam trong thời gian qua, và từ yêu cầu mở cửa thị trường tài chính – dịch vụ thời kỳ hội nhập của Việt Nam, vấn đề “Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam” đã được chọn làm đề tài nghiên cứu của luận văn.
II. Mục đích nghiên cứu Khóa luận: Chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu ở NH Vietcombank.
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về tín dụng, tín dụng xuất nhập khẩu, chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu và sự cần thiết nâng cao chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam.
- Đánh giá chất lượng hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, chỉ ra những thành tựu và hạn chế trong hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam.
- Đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam.
III. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của khóa luận tốt nghiệp này là chất lượng hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam trong mấy năm gần đây (từ năm 2023 trở lại đây).
- Phạm vi nghiên cứu là hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam.
IV. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: là lý thuyết cho hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu, các văn bản pháp lý cho hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu, các quy định hoạt động của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam.
Phương pháp nghiên cứu: Luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp dưới đây:
- Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê nin.
- Phương pháp phân tích – tổng hợp; đối chiếu – so sánh.
- Phương pháp mô tả và khái quát hóa đối tượng nghiên cứu.
- Đề tài có kế thừa các kết quả nghiên cứu trước đó.
Các phương pháp trên được sử dụng kết hợp chặt chẽ trên cơ sở các quan điểm kinh doanh thương mại và pháp lý của Đảng và Nhà nước ta.
V. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn gồm 3 Chương:
- Chương I: Tổng quan về hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu và chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
- Chương II: Đánh giá chất lượng hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam
- Chương III: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam
Do kiến thức tích lũy chưa đầy đủ, kinh nghiệm thực tiễn chưa nhiều, khóa luận tốt nghiệp của em không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót. Vì vậy em rất mong nhận được sự nhận xét, đóng góp ý kiến của các thầy cô và các bạn để khóa luận tốt nghiệp này có ý nghĩa thực tiễn hơn. Khóa luận: Chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu ở NH Vietcombank.
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG XUẤT NHẬP KHẨU VÀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG XUẤT NHẬP KHẨU TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
I: HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
1. Vai trò của hoạt động xuất nhập khẩu trong nền kinh tế
Xuất nhập khẩu (XNK) hiểu theo nghĩa chung nhất là hoạt động trao đổi hàng hóa giữa các vùng, lãnh thổ khác nhau. Hoạt động Xuất nhập khẩu xuất hiện trong đời sống kinh tế từ rất lâu, nó xuất phát từ nhu cầu giao lưu, trao đổi giữa các quốc gia. Một quốc gia khi tham gia vào quá trình phân công lao động thế giới có nghĩa là quốc gia đó chỉ chuyên môn hóa vào sản xuất sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ nào đó cho quốc gia khác thông qua trao đổi, mua bán, dựa trên lợi thế tuyệt đối và lợi thế tương đối của mình. Chính nhờ có hoạt động mua bán này mà một mặt, nhu cầu đa dạng trong nước được đáp ứng một cách đầy đủ, mặt khác, thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển.
XNK thúc đẩy việc sản xuất những mặt hàng trong nước có thế mạnh để xuất khẩu (XK), bên cạnh đó, thông qua cơ chế cạnh tranh, sẽ thúc đẩy những ngành sản xuất khác phát triển, nâng cao sức sản xuất để cạnh tranh với hàng ngoại nhập.
XNK tạo mối quan hệ rộng rãi vượt qua ngoài biên giới quốc gia, trở thành cầu nối giữa nền kinh tế trong nước với nền kinh tế bên ngoài, đồng thời tạo ra động lực thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế ở mỗi khu vực và trên toàn thế giới, biến nền kinh tế thế giới thành nơi cung cấp các “yếu tố đầu vào” và tiêu thụ các “yếu tố đầu ra” cho nền kinh tế quốc dân trong hệ thống kinh tế quốc tế.
Trong thời đại ngày nay, xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế của các nước trên thế giới đang diễn ra với tốc độ ngày càng cao khiến cho các quốc gia trong khu vực và trên thế giới vận động trong mối tương quan chặt chẽ. Không một quốc gia nào muốn phát triển mà lại cho phép mình đứng ngoài cuộc chơi chung. Đứng ngoài có nghĩa là bị loại bỏ, là đánh mất cơ hội, chấp nhận chịu tụt hậu và có thể phải tự mình đối phó với những khó khăn to lớn. Chính vì vậy, Xuất nhập khẩu được thừa nhận là hoạt động kinh tế đối ngoại cơ bản, là phương tiện để phát triển đất nước.
2. Nhu cầu về tín dụng xuất nhập khẩu Khóa luận: Chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu ở NH Vietcombank.
Thị trường thương mại thế giới mở rộng không ngừng, nhu cầu về thị trường tiêu thụ hàng hóa, thị trường đầu tư đang trở thành nhu cầu cấp bách của các doanh nghiệp Xuất nhập khẩu. Do khả năng tài chính có hạn mà các doanh nghiệp Xuất nhập khẩu không phải lúc nào cũng có đủ tiền để thanh toán hàng nhập khẩu (NK) hay có đủ vốn để thu mua, chế biến, sản xuất hàng XK. Từ đó nảy sinh quan hệ vay mượn và tài trợ của các tổ chức tín dụng, trong đó chủ yếu là của các ngân hàng.
Đối với hoạt động XK, các Ngân hàng thương mại (NHTM) thường cho vay bằng VNĐ hoặc ngoại tệ để thu mua hàng XK. Tài trợ XK hiện nay chủ yếu là đáp ứng nhu cầu vốn lưu động để thu mua, chế biến, sản xuất hàng XK theo đúng L/C quy định, hợp đồng ngoại thương đã ký kết, theo đơn đặt hàng hoặc tài trợ vốn trong thanh toán hàng XK. Bên cạnh đó còn có một số hình thức khác như bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, chiết khấu bộ chứng từ và một hình thức mới là bao thanh toán.
Đối với hoạt động NK, ngân hàng thường cho vay bằng ngoại tệ để nhập nguyên vật liệu, vật tư, máy móc, thiết bị, công nghệ hoặc tài trợ dưới các hình thức bảo lãnh (bảo lãnh thanh toán)…
II. TÍN DỤNG XUẤT NHẬP KHẨU VÀ VAI TRÒ CỦA TÍN DỤNG XUẤT NHẬP KHẨU TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Khóa luận: Chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu ở NH Vietcombank.
1. Khái niệm tín dụng và tín dụng xuất nhập khẩu tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
1.1. Khái niệm tín dụng ngân hàng
Tín dụng (Credit) xuất phát từ chữ Latin là credo (tin tưởng, tín nhiệm, tin cậy). Trong thực tế thuật ngữ tín dụng được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, ngay cả trong quan hệ tài chính, tùy từng bối cảnh cụ thể mà thuật ngữ tín dụng có một nội dung riêng.
- Nếu xét trên góc độ chuyển dịch quỹ cho vay từ chủ thể thặng dư tiết kiệm sang chủ thể thiếu hụt tiết kiệm thì tín dụng được coi là phương pháp chuyển dịch quỹ từ người cho vay sang người đi vay [21].
- Trong một quan hệ tài chính cụ thể, tín dụng là một giao dịch về tài sản trên cơ sở có hoàn trả giữa hai chủ thể. Phổ biến hơn cả là giao dịch giữa ngân hàng và các định chế tài chính khác với doanh nghiệp và cá nhân, thể hiện dưới hình thức cho vay, tức là ngân hàng cấp tiền vay cho bên đi vay và sau một thời gian nhất định người đi vay phải thanh toán vốn gốc và lãi [21].
Từ khái niệm trên chúng ta có thể hiểu được bản chất của tín dụng là một loại giao dịch về tài sản trên cơ sở hoàn trả và nó có các đặc điểm sau:
- Tài sản giao dịch trong quan hệ tín dụng ngân hàng bao gồm hai hình thức : cho vay (bằng tiền) và cho thuê (bất động sản và động sản).
- Xuất phát từ nguyên tắc hoàn trả: người ta cho vay khi chuyển giao tài sản cho người đi vay sử dụng phải có cơ sở để tin rằng người đi vay sẽ trả đúng hạn như đã thỏa thuận. Đây là yếu tố hết sức cơ bản trong tín dụng.
- Giá trị hoàn trả thông thường phải lớn hơn giá trị lúc cho vay hay nói cách khác người đi vay phải trả thêm phần lãi ngoài vốn gốc. Để thực hiện được nguyên tắc này, phải xác định lãi suất danh nghĩa lớn hơn tỉ lệ lạm phát, hay phải xác định lãi suất thực dương (lãi suất thực = lãi suất danh nghĩa – tỉ lệ lạm phát). Tuy nhiên vì lãi suất chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau nên trong một số trường hợp cụ thể lãi suất danh nghĩa có thể thấp hơn tỉ lệ lạm phát, trường hợp ngoại lệ này chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn. Khóa luận: Chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu ở NH Vietcombank.
- Trong điều kiện quan hệ tín dụng ngân hàng, tiền vay được cấp trên cơ sở cam kết hoàn trả vô điều kiện. Về khía cạnh pháp lý, những văn bản tín dụng như hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ… thực chất là lệnh phiếu (promissory note), trong đó bên đi vay cam kết hoàn trả vô điều kiện cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán.
1.2. Khái niệm tín dụng xuất nhập khẩu của ngân hàng thương mại
Tín dụng Xuất nhập khẩu của các Ngân hàng Thương mại là hoạt động của ngân hàng hỗ trợ về mặt tài chính cũng như cung cấp các phương tiện nhằm giúp đỡ các doanh nghiệp hoàn thành nghĩa vụ của mình khi tham gia vào hoạt động Xuất nhập khẩu. Tín dụng Xuất nhập khẩu thể hiện mối quan hệ giữa một bên là ngân hàng – bên đưa ra trợ giúp về tài chính và một bên là các doanh nghiệp Xuất nhập khẩu – bên có nhu cầu hỗ trợ về tài chính [18].
2. Phân loại tín dụng xuất nhập khẩu
2.1. Các hình thức tín dụng xuất khẩu
- Cho vay thực hiện hàng xuất khẩu theo L/C đã mở:
Trong trường hợp này, L/C không chỉ là một công cụ đảm bảo thanh toán mà còn là một công cụ tín dụng.
Mỗi lô hàng giao ra nước ngoài đều đòi hỏi một loại tài trợ nào đó trong quá trình vận chuyển. Khi nhận được L/C do ngân hàng mở L/C phát hành theo yêu cầu của nhà NK, thì nhà XK được đảm bảo thanh toán sau khi giao hàng nếu xuất trình bộ chứng từ hợp lý phù hợp với điều kiện đã ghi trong L/C. Nhà XK còn có thể dựa vào đó để nhờ ngân hàng phục vụ mình cấp một khoản tín dụng để thực hiện xuất hàng theo L/C.
L/C trả chậm cũng được sử dụng như một phương tiện đi vay. Nhà XK có thể nhận được tiền dưới dạng tín dụng chuyển nhượng toàn bộ quyền thụ hưởng L/C cho ngân hàng cấp phát tín dụng, đặc biệt thuận lợi hơn khi đó là một L/C trả chậm có xác nhận. Khóa luận: Chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu ở NH Vietcombank.
- Bao thanh toán (Factoring):
Theo quyết định số 1096/2023/QĐ-NHNN ban hành ngày 06/09/2023 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN), bao thanh toán là một hình thức cấp tín dụng của tổ chức tín dụng cho bên bán hàng thông qua việc mua bán các khoản phải thu (bao gồm các chứng từ thanh toán, các khoản nợ chưa đến hạn thanh toán) phát sinh từ việc mua bán hàng hóa giữa bên bán hàng và bên mua hàng thỏa thuận trong hợp đồng mua bán.
Cơ chế của nghiệp vụ bao thanh toán như sau:
- Nhà XK ký hợp đồng dịch vụ với đơn vị nhận bao thanh toán.
- Khi hàng được giao đi cho khách hàng, nhà XK gửi hóa đơn tới đơn vị nhận bao thanh toán.
- Đơn vị nhận bao thanh toán sẽ ứng trước cho nhà XK khoảng 80% giá trị hóa đơn (tỷ lệ này cũng có thể thay đổi tùy thuộc đơn vị nhận bao thanh toán) và sẽ thu tiền hàng từ nhà NK.
- Sau khi thu được 100% tiền hàng, đơn vị nhận bao thanh toán sẽ thanh toán hết 20% còn lại cho nhà XK.
Theo ý nghĩa bảo hiểm rủi ro thanh toán, có hai loại bao thanh toán: Bao thanh toán truy đòi và bao thanh toán miễn truy đòi.
- Bao thanh toán truy đòi: đơn vị nhận bao thanh toán có quyền đòi lại khoản tiền đã ứng trước cho nhà XK nếu nhà NK không thanh toán.
- Bao thanh toán miễn truy đòi: nếu nhà NK mất khả năng chi trả, đơn vị nhận bao thanh toán có trách nhiệm thanh toán 100% giá trị hóa đơn cho nhà XK.
Theo mức độ trách nhiệm của nhà XK, bao thanh toán có hai loại:
- Bao thanh toán tương đối: Đơn vị nhận bao thanh toán sẽ thanh toán tiền cho nhà XK, nhưng với thỏa thuận là nhà XK vẫn chịu trách nhiệm rủi ro nếu nhà NK không trả tiền.
- Bao thanh toán tuyệt đối: Đơn vị nhận bao thanh toán sẽ gánh chịu mọi rủi ro. Nếu nhà NK không thanh toán, đơn vị nhận bao thanh toán sẽ không có quyền đòi lại tiền từ nhà XK.
Trong bao thanh toán, nhà XK có vốn ngay để tiếp tục hoạt động kinh doanh của mình dù bán thu tiền ngay hay bán chịu, đồng thời nhà XK không phải bận tâm vào việc quản lý thanh toán phức tạp kéo dài. Vì vậy, nhà XK phải trả một khoản phí khá cao khi được bao thanh toán. Khóa luận: Chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu ở NH Vietcombank.
- Bảo lãnh dự thầu:
Bảo lãnh dự thầu là một hình thức tín dụng XK trong đó ngân hàng tiến hành bảo lãnh để nhà XK tham gia vào một cuộc/đợt đấu thầu cho dự án XK, cam kết thực hiện nghĩa vụ của nhà XK trong việc tham gia đấu thầu các dự án. Nếu nhà XK bị phạt do vi phạm quy định dự thầu mà không nộp hoặc không nộp đủ tiền phạt cho bên mời thầu nước ngoài thì ngân hàng sẽ thực hiện các nghĩa vụ thanh toán cho nhà XK theo như đã cam kết.
Đây là hình thức giúp cho nhà XK có đủ điều kiện để tham gia vào một giao dịch đấu thầu mà việc phải có bảo lãnh của ngân hàng là bắt buộc theo yêu cầu của chủ thầu.
Bảo lãnh dự thầu được thể hiện dưới dạng thư bảo lãnh do ngân hàng phát hành trong đó có nêu nội dung, phạm vi và các điều kiện của bảo lãnh. Bảo lãnh dự thầu từ một ngân hàng có uy tín giúp tăng độ tin cậy của khách hàng với đối tác của mình qua đó làm cho triển vọng thành công của giao dịch đấu thầu trở nên chắc chắn hơn.
- Bảo lãnh thực hiện hợp đồng:
Bảo lãnh thực hiện hợp đồng là một bảo lãnh do ngân hàng phát hành cho bên nhận bảo lãnh là nhà NK ở nước ngoài để đảm bảo thực hiện đúng, đầy đủ các nghĩa vụ của nhà XK với bên nhận bảo lãnh theo hợp đồng đã ký. Trường hợp nhà XK không thực hiện đúng và đầy đủ các nghĩa vụ trong hợp đồng XK thì ngân hàng thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đã cam kết.
- Chiết khấu bộ chứng từ XK (cho vay ứng trước):
Chiết khấu bộ chứng từ XK là hình thức ngân hàng tài trợ nhà XK thông qua việc mua lại hoặc cho vay trên cơ sở giá trị bộ chứng từ XK hoàn hảo được người XK xuất trình.
- Có 2 hình thức chiết khấu: Khóa luận: Chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu ở NH Vietcombank.
Chiết khấu miễn truy đòi (chiết khấu đóng): Ngân hàng mua lại bộ chứng từ của người XK, giá mua sẽ thấp hơn giá trị bộ chứng từ, do ngân hàng tính trừ lại chi phí chiết khấu và thời gian cần thiết trung bình để đòi tiền nhà NK nước ngoài. Chiết khấu miễn truy đòi có nghĩa là người XK bán hẳn bộ chứng từ cho ngân hàng, nhận tiền và không còn trách nhiệm hoàn trả. Trách nhiệm thu tiền và quyền sử dụng số tiền thu được hoàn toàn thuộc về ngân hàng. ở Việt Nam, các ngân hàng ít sử dụng hình thức chiết khấu này vì nó tiềm ẩn nhiều rủi ro cho ngân hàng.
Chiết khấu được phép truy đòi (chiết khấu mở): Cũng tương tự như hình thức trên nhưng trách nhiệm thanh toán hối phiếu vẫn còn đối với người chiết khấu hối phiếu (nhà XK) và giá trị chiết khấu cao hơn.
Tác dụng hoạt động chiết khấu của ngân hàng nhằm tài trợ vốn lưu động cho người XK để bảo đảm sản xuất kinh doanh liên tục, không bị gián đoạn trong thời gian chờ người NK nước ngoài thanh toán tiền hàng. Phạm vi chiết khấu bộ chứng từ thường chỉ được áp dụng trong phương thức thanh toán quốc tế tín dụng chứng từ, do phương thức này có sự ràng buộc chặt chẽ việc giao hàng của người XK và trách nhiệm thanh toán của người NK thông qua các ngân hàng phục vụ các bên, rủi ro thấp so với các phương thức thanh toán quốc tế khác.
Khi kết thúc thời hạn chiết khấu, ngân hàng sẽ đòi tiền người có nhiệm vụ trả tiền hối phiếu. Thông thường trong nghiệp vụ chiết khấu, các ngân hàng có thể gặp rủi ro trong các trường hợp sau:
- Người có nghĩa vụ trả tiền hối phiếu từ chối việc trả tiền hoặc không có khả năng thanh toán kịp thời khi hối phiếu đến hạn.
- Chiết khấu phải những hối phiếu không hợp lệ (được thành lập không trên cơ sở hành vi thương mại)
Vì thế khi tiến hành nghiệp vụ chiết khấu, ngân hàng phải xem xét một cách thận trọng để hạn chế rủi ro có thể xảy ra.
2.2. Các hình thức tín dụng nhập khẩu Khóa luận: Chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu ở NH Vietcombank.
- Tín dụng ký quỹ L/C:
Ký quỹ là một quy định của ngân hàng phát hành, phát sinh trong trường hợp khách hàng xin mở L/C. Khi đó, khách hàng sẽ phải nộp một khoản tiền nhất định vào tài khoản của họ tại ngân hàng mà họ xin mở L/C và khoản tiền đó sẽ được phong tỏa cho đến khi nghiệp vụ này của ngân hàng chấm dứt.
Thông thường khoản tiền này được tính tỷ lệ với giá trị hợp đồng mà khách hàng xin mở L/C. Trong trường hợp thiếu sự tin cậy hoặc thương vụ tiềm ẩn rủi ro cao, ngân hàng có thể yêu cầu khách hàng ký quỹ 100% giá trị hợp đồng. Đối với những khách hàng đáng tin cậy hoặc có quan hệ thường xuyên thì ngân hàng có thể chấp nhận mức ký quỹ thấp hơn so với giá trị hợp đồng.
- Việc ký quỹ có những ý nghĩa sau:
Ký quỹ nhằm hạn chế rủi ro cho ngân hàng trong quá trình thực hiện mở L/C cho khách hàng. Trường hợp ngân hàng phải thực hiện nghĩa vụ trả thay cho người được NK, tiền ký quỹ sẽ được sử dụng trước để thanh toán cho người thụ hưởng, phần còn lại ngân hàng dùng vốn của mình thanh toán sau.
Ký quỹ nhằm khẳng định khách hàng có năng lực nhất định về vốn và ràng buộc khách hàng làm tròn nghĩa vụ của người được mở L/C. Trong hợp đồng bảo lãnh thường có quy định tiền ký quỹ của khách hàng sẽ bị mất khi khách hàng vi phạm hợp đồng đã ký với ngân hàng.
Cho vay ký quỹ là hình thức tài trợ NK, trong đó do tính rủi ro của thương vụ quá cao mà ngân hàng sẽ yêu cầu khách hàng ký quỹ với giá trị lớn mà khả năng doanh nghiệp không đáp ứng được hoặc chỉ đáp ứng một phần. Điều này gây trở ngại cho khách hàng trong quá trình thực hiện thương vụ hoặc vay vốn nước ngoài, vì tiền ký quỹ là món bị phong tỏa, khách hàng không được sử dụng trong suốt thời gian được ngân hàng bảo lãnh dẫn đến vốn lưu động của doanh nghiệp bị thu hẹp. Khi đó, căn cứ vào uy tín của khách hàng, hiệu quả của thương vụ hoặc vào tài sản bảo đảm, ngân hàng có thể cho vay ký quỹ.
Cho vay ký quỹ vừa giải quyết được khó khăn về vốn lưu động cho khách hàng, tăng tính an toàn và mang lại hiệu quả cho ngân hàng về ký quỹ bảo lãnh. Tuy nhiên thông thường các ngân hàng chỉ cho vay ký quỹ đối với khách hàng thực hiện việc mở L/C và thanh toán qua chính ngân hàng cho vay. Khóa luận: Chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu ở NH Vietcombank.
Thông thường mức ký quỹ L/C phụ thuộc vào các yếu tố sau:
- Khả năng thanh toán của khách hàng
- Đối tượng khách hàng
- Loại L/C: L/C trả chậm thì mức ký quỹ thấp, L/C trả ngay thì bắt buộc mức ký quỹ cao hơn.
- Loại hàng hóa NK, khả năng tiêu thụ.
Trên cơ sở các yếu tố trên, ngân hàng sẽ quyết định mức ký quỹ. Nếu như khách hàng không có đủ số dư trên tài khoản thì phải tiến hành làm đơn xin vay ngoại tệ ký quỹ L/C.
- Tín dụng trả ngay:
Tín dụng trả ngay được áp dụng đối với các phương thức thanh toán chuyển tiền, nhờ thu trả ngay hoặc thư tín dụng trả ngay.
Theo hình thức này khách hàng phải lập phương án sản xuất kinh doanh. Đồng thời khách hàng phải lên kế hoạch tài chính nhằm xác định khả năng thanh toán khi đến thời điểm thanh toán dự kiến, xác định khả năng thanh toán khi đến thời điểm thanh toán dự kiến, xác định khoản thiếu hụt với ngân hàng tài trợ. Trên cơ sở xem xét, phân tích kế hoạch và phản ánh của khách hàng, ngân hàng sẽ ra quyết định cho vay và xác định mức ngân hàng chấp nhận cho vay.
- Tín dụng chấp nhận hối phiếu (hay tín dụng thanh toán trả chậm):
Tín dụng chấp nhận hối phiếu là khoản tín dụng mà ngân hàng ký chấp nhận hối phiếu. Người vay khoản tín dụng này chính là nhà NK và khoản vay chỉ là một sự đảm bảo về tài chính. Thực chất ngân hàng chưa phải xuất tiền thực sự cho người vay. Tuy nhiên khi đến hạn, nếu nhà NK không đủ khả năng thanh toán thì người cho vay (ngân hàng) – người đứng ra chấp nhận hối phiếu phải trả nợ thay.
Tín dụng chấp nhận hối phiếu xảy ra trong trường hợp bên bán thiếu tin tưởng khả năng thanh toán của bên mua. Họ có thể đề nghị bên mua yêu cầu một ngân hàng đứng ra chấp nhận trả tiền hối phiếu do bên bán ký phát. Nếu ngân hàng đồng ý, điều đó, điều đó cũng có nghĩa là ngân hàng đã chấp nhận một khoản tín dụng cho bên mua để họ thanh toán cho bên bán khi hối phiếu đến hạn. Khóa luận: Chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu ở NH Vietcombank.
Đối với ngân hàng, kể từ khi ký chấp nhận trả tiền hối phiếu cũng chính là thời điểm bắt đầu gánh chịu rủi ro nếu như bên mua không có tiền thanh toán cho bên bán khi hối phiếu đến hạn thanh toán.
Đương nhiên nếu đến hạn thanh toán hối phiếu, bên mua không có đủ tiền thì ngân hàng thực sự không phải ứng tiền ra. Như vậy, khoản tín dụng này chỉ là hình thức, là một sự bảo đảm về tài chính. Trong trường hợp này, ngân hàng sẽ chỉ nhận được một khoản phí gánh chịu rủi ro tín dùng mà thôi.
- Giá trị của tín dụng chấp nhận hối phiếu thể hiện ở chỗ:
Với sự chấp nhận của ngân hàng, nhà XK trên cơ sở đó có được sự đảm bảo một cách chắc chắn về khả năng thanh toán và do đó có thể đem hối phiếu chiết khấu tại bất kỳ ngân hàng nào. Khả năng thương mại của hối phiếu lúc này rất lớn, tạo điều kiện thuận lợi cho nhà XK được hưởng một tỷ lệ chiết khấu ưu đãi.
Đối với nhà NK, hình thức tín dụng này đóng vai trò rất quan trọng trong nghệ thuật thương mại. Nhà NK phát hành một hối phiếu kèm theo một đơn xin vay loại tín dụng qua chữ ký yêu cầu ngân hàng ký chấp nhận hối phiếu cho dù ngân hàng không có quan hệ nợ nần gì với họ. Đó là một sự thỏa thuận ngầm, một nghệ thuật vay vốn. Sau đó, nhà NK đem hối phiếu đã được chấp nhận đến chiết khấu tại một ngân hàng khác. Với khoản thu từ chiết khấu này, nhà NK có đủ khả năng thanh toán trước hạn cho nhà XK để hưởng hoa hồng và khi đó sẽ đạt được giá mua thuận lợi.
- Bảo lãnh thanh toán:
Bảo lãnh thanh toán là một loại hình tín dụng mà ngân hàng cấp cho nhà NK trong một giao dịch mua bán, cam kết sẽ thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho bên bán trong trường hợp nhà NK không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ, đúng hạn nghĩa vụ thanh toán của mình khi đến hạn. Khóa luận: Chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu ở NH Vietcombank.
- Tín dụng bắt buộc:
Về nội dung đây cũng là loại hình cho vay thanh toán bộ chứng từ giao hàng. Tuy nhiên, tình trạng vay bắt buộc phát sinh khi người NK không thanh toán hoặc không tập trung đủ tiền để thanh toán bộ chứng từ giao hàng. Ngân hàng khi đó sẽ cho vay trên giá trị tiền hàng còn thiếu để thanh toán đúng hạn cho đối tác nước ngoài. Nhà NK nên tránh tình trạng phát sinh nợ vay bắt buộc do họ sẽ phải chịu lãi suất cho vay đối với khoản tiền này tương đương với lãi suất vay quá hạn theo quy định của ngân hàng, bởi vì tính chất của món vay bắt buộc là nợ quá hạn. Hơn nữa, thời gian vay bắt buộc thường không quá 30 ngày kể từ ngày ngân hàng trả thay, áp lực thanh toán nợ vay cho ngân hàng sẽ rất lớn. Tuy nhiên, vì món vay bắt buộc mang tính nhất thời nên khách hàng phát sinh vay bắt buộc không hẳn là khách hàng không lành mạnh, món vay phát sinh thường do họ không tính toán chính xác trong kế hoạch tài chính hoặc gặp những biến cố bất ngờ trong quá trình sản xuất kinh doanh. Có nhận thức như thế, ngân hàng sẽ có cách hành xử thích hợp với khách hàng.
3. Vai trò của hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu
Tín dụng Xuất nhập khẩu được coi là một mảng dịch vụ trong hệ thống tất cả các dịch vụ chuyên biệt của ngân hàng nhằm hỗ trợ các nhà kinh doanh Xuất nhập khẩu trong giao dịch thương mại quốc tế. Tín dụng ngân hàng nói chung và tín dụng Xuất nhập khẩu nói riêng được xem là loại hình dịch vụ tín dụng quan trọng và phổ biến nhất đối với nền kinh tế, là đầu mối tập hợp và cung ứng vốn cho toàn bộ nền kinh tế. Đây được coi là “đầu tàu” thúc đẩy các thành phần kinh tế sử dụng vốn có mục đích và hiệu quả từ đó góp phần phát triển kinh tế xã hội và tăng cường mối quan hệ giao lưu, hợp tác kinh tế của mỗi quốc gia.
Tín dụng Xuất nhập khẩu ra đời từ nhu cầu về vốn của hoạt động Xuất nhập khẩu. Cũng như nhiều hoạt động khác trong nền kinh tế, để tiến hành hoạt động Xuất nhập khẩu, chủ thể cần phải có một số vốn nhất định. Tuy nhiên, không phải doanh nghiệp nào cũng có đủ tiền để thanh toán NK hay mua chế biến hàng XK. Không những thế, việc buôn bán trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia luôn bao hàm nhiều vấn đề phức tạp và tiềm ẩn rủi ro, nhất là khâu thanh toán. Chính vì vậy, hoạt động Xuất nhập khẩu rất cần có sự hỗ trợ về vốn và uy tín của ngân hàng. Và tín dụng Xuất nhập khẩu ra đời như là một tất yếu để đáp ứng nhu cầu phong phú đa dạng của hoạt động Xuất nhập khẩu.
3.1. Đối với nền kinh tế Khóa luận: Chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu ở NH Vietcombank.
Thông qua các hình thức tín dụng Xuất nhập khẩu của các Ngân hàng Thương mại, hoạt động mua bán hàng hóa Xuất nhập khẩu theo yêu cầu của thị trường được thực hiện thường xuyên, liên tục; các sản phẩm trong nước có thể thâm nhập thị trường quốc tế dễ dàng hơn. Hoạt động tín dụng Xuất nhập khẩu góp phần nâng cao tính năng động của nền kinh tế và giúp ổn định thị trường.
Bên cạnh đó, hoạt động tín dụng Xuất nhập khẩu của ngân hàng còn giúp các doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp Xuất nhập khẩu nói riêng tồn tại và đứng vững trong cơ chế thị trường, mở rộng sản xuất kinh doanh, nâng cao uy tín và danh tiếng trên thị trường quốc tế. Và chính sự phát triển của các doanh nghiệp là động cơ thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Thông qua tín dụng Xuất nhập khẩu của ngân hàng mà các doanh nghiệp có vốn để thay đổi dây chuyền công nghệ, hiện đại hóa máy móc thiết bị nhằm tăng cường năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm, tạo ra sản phẩm phong phú đa dạng về mẫu mã chủng loại để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người dân.
Hoạt động tín dụng Xuất nhập khẩu còn giúp tạo ra công ăn việc làm cho người lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp, tạo nguồn thu ngoại tệ cho ngân sách Nhà nước, góp phần phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế của đất nước, giúp mở rộng mối quan hệ đối ngoại với các nước trên thế giới.
3.2. Đối với các ngân hàng thương mại
Tín dụng Xuất nhập khẩu đóng vai trò quan trọng đối với các Ngân hàng Thương mại bởi đây là mảng dịch vụ tạo nguồn thu phí và lãi lớn nhất trong số các dịch vụ kinh doanh đối ngoại của ngân hàng, đặc biệt là các Ngân hàng Thương mại ở những nước đang phát triển như Việt Nam. Có nhiều loại lãi suất trong quá trình cấp tín dụng như lãi suất cho vay thanh toán, lãi chiết khấu chứng từ, lãi vay bắt buộc (bằng mức lãi quá hạn)…Tiền phí và lãi ngân hàng thu được cao bởi vì giá trị tài trợ Xuất nhập khẩu thường ở mức vừa và lớn.
Thông qua hoạt động tín dụng Xuất nhập khẩu, ngân hàng còn mở rộng được quan hệ với các doanh nghiệp và ngân hàng nước ngoài, nâng cao uy tín ngân hàng trên thị trường quốc tế, đồng thời có thể phát triển hệ thống mạng lưới chi nhánh và đại lý tại các quốc gia khác, gián tiếp làm tăng nguồn thu ngoại tệ về cho ngân hàng và nâng cao được chất lượng dịch vụ mà ngân hàng cung cấp. Khóa luận: Chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu ở NH Vietcombank.
Thêm vào đó, đây còn là hình thức cho vay mang lại an toàn, đảm bảo sử dụng vốn đúng mục đích và thời gian thu hồi vốn nhanh. Do gắn liền với thời hạn thực hiện thương vụ nên kỳ hạn tài trợ thường ngắn (dưới 1 năm), vì vậy nó phù hợp với kỳ hạn huy động vốn của ngân hàng, giúp ngân hàng tránh các rủi ro về thanh khoản. Thông qua việc cấp tín dụng Xuất nhập khẩu, các ngân hàng có thể kiểm soát các giao dịch của doanh nghiệp, tránh tình trạng doanh nghiệp được tài trợ vốn sử dụng vốn sai mục đích, giúp cho ngân hàng tránh rủi ro tín dụng.
3.3. Đối với các doanh nghiệp
Nhờ có sự tài trợ của ngân hàng, đáp ứng nhu cầu về vốn của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp có thể tồn tại và đứng vững trong cơ chế thị trường, mở rộng sản xuất kinh doanh, tạo công ăn, việc làm cho người lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp, đồng thời hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế cho ngân sách Nhà nước.
Thông qua tín dụng Xuất nhập khẩu của ngân hàng mà nhu cầu tài chính cho các thương vụ lớn của các thương nhân được đáp ứng. Trong kinh doanh quốc tế, có những thương vụ ngoại thương đòi hỏi một nguồn vốn rất lớn để thanh toán tiền hàng mà nguồn vốn lưu động của doanh nghiệp nhiều khi không đáp ứng kịp thời cho nhu cầu thanh toán hàng nhập hoặc chuẩn bị hàng xuất. Chính nhờ hoạt động tài trợ của ngân hàng mà doanh nghiệp có thể thực hiện những hợp đồng lớn này.
Bên cạnh đó, hiệu quả của doanh nghiệp trong quá trình thực hiện hợp đồng tăng lên nhờ có tài trợ ngoại thương. Đối với doanh nghiệp XK, vốn tài trợ giúp doanh nghiệp thu mua hàng đúng thời vụ: gia công chế biến và giao hàng đúng thời điểm.
Đối với doanh nghiệp NK, vốn tài trợ của ngân hàng giúp doanh nghiệp mua được lô hàng lớn, giá cả thấp hơn. Cả hai trường hợp này đều giúp tăng hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Tín dụng Xuất nhập khẩu của ngân hàng còn giúp cho doanh nghiệp nâng cao uy tín trên thị trường quốc tế. Nhờ có bảo lãnh của ngân hàng, các doanh nghiệp có thể thực hiện các hợp đồng lớn trôi chảy, quan hệ làm ăn với các khách hàng lớn trên thế giới, từ đó không ngừng nâng cao uy tín doanh nghiệp trên thị trường quốc tế.
4. Các loại rủi ro trong tín dụng xuất nhập khẩu Khóa luận: Chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu ở NH Vietcombank.
4.1. Rủi ro tín dụng xuất nhập khẩu
Rủi ro tín dụng Xuất nhập khẩu là những tổn thất tiềm ẩn có thể xảy ra ngay khi ngân hàng cung cấp một khoản tín dụng Xuất nhập khẩu cho khách hàng. Rủi ro tín dụng Xuất nhập khẩu phát sinh khi khách hàng nhận khoản vốn vay nhưng không thực hiện, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ tài chính hoặc nghĩa vụ theo hợp đồng đối với ngân hàng, bao gồm cả việc không thực hiện thanh toán nợ, cho dù đó là nợ gốc hay nợ lãi khi khoản nợ đến hạn, gây tổn thất cho ngân hàng.
Trong tín dụng Xuất nhập khẩu, nguy cơ lớn nhất đối với các ngân hàng là sự gian lận khi người mua và người bán cùng thông đồng với nhau ngay từ đầu để lừa ngân hàng. Đó là những gian lận tiềm ẩn, lâu dài, thường được thực hiện bởi các khách hàng đã có uy tín với ngân hàng.
Rủi ro tín dụng có loại chính sau:
- Rủi ro đọng vốn: Đó là rủi ro khi khách hàng sai hẹn trong nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng bao gồm vốn gốc và/hoặc lãi vay. Sự sai hẹn này là do trễ hạn.
- Rủi ro mất vốn: Đó là rủi ro khi khách hàng sai hẹn trong nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng bao gồm vốn gốc và/ hoặc lãi vay. Sự sai hẹn này là do không thanh toán.
4.2. Rủi ro ngoại hối
Xu hướng tự do hóa, toàn cầu hóa kinh tế và quốc tế hóa các luồng tài chính đã làm thay đổi căn bản hệ thống ngân hàng. Hoạt động kinh doanh Xuất nhập khẩu ngày càng trở nên phức tạp, mức độ rủi ro đối với ngân hàng do đó mà tăng lên rất nhiều. Đối tượng kinh doanh của ngân hàng là tiền tệ – loại hàng hóa đặc biệt nhạy cảm với rủi ro. Rủi ro về ngoại hối cũng là một rủi ro lớn mà các ngân hàng khi cấp tín dụng Xuất nhập khẩu cần đề phòng. Đó là rủi ro do sự biến động tỷ giá do đánh giá các yếu tố kinh tế tác động đến tỷ giá không chính xác dẫn đến thiệt hại tài sản cho ngân hàng.
4.3. Các rủi ro truyền thống khác
Bên cạnh đó, tín dụng Xuất nhập khẩu cũng chứa đựng các rủi ro truyền thống của hoạt động tín dụng nói chung. Việc định giá khoản vay được thực hiện một cách cảm tính hoặc cứng nhắc dựa vào mức lãi suất áp dụng chung cho tất cả mọi khách hàng, việc lượng hóa độ rủi ro của khách hàng, dự án vẫn còn là một vấn đề rất khó khăn ở Việt Nam khi các ngân hàng không có phần mềm và đầy đủ thông tin để định giá. Các thông số của thị trường dùng trong đo lường như xếp hạng tín dụng chưa có cơ quan chuyên nghiệp để xác định. Do vậy, mỗi ngân hàng cần hoạch định cho mình các biện pháp quản lý rủi ro nhằm hạn chế tổn thất.
III. CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG XUẤT NHẬP KHẨU TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM Khóa luận: Chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu ở NH Vietcombank.
1. Khái niệm chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu
Chất lượng tín dụng Xuất nhập khẩu của Ngân hàng Thương mại là sự đáp ứng một cách tốt nhất yêu cầu của khách hàng (người được cấp tín dụng Xuất nhập khẩu), đảm bảo an toàn trong việc thu hồi vốn và lãi thông qua sự phát huy hiệu quả của phương án Xuất nhập khẩu được hình thành từ khoản tín dụng đó, đồng thời hạn chế thấp nhất rủi ro về vốn, tăng lợi nhuận của ngân hàng, phù hợp và phục vụ sự phát triển kinh tế – xã hội.
- Chúng ta có thể nhìn nhận khái niệm này dưới 3 góc độ:
Xét trên góc độ hoạt động kinh doanh của ngân hàng: Chất lượng tín dụng Xuất nhập khẩu là sự đảm bảo an toàn, hiệu quả, sử dụng đúng mục đích, phù hợp với chính sách tín dung của ngân hàng, hoàn trả gốc và lãi đúng thời hạn, đem lại lợi nhuận cho ngân hàng với chi phí nghiệp vụ thấp, tăng khả năng cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường trong nước và quốc tế.
Xét trên góc độ lợi ích của khách hàng: Khoản tín dụng Xuất nhập khẩu có chất lượng là khoản tín dụng đáp ứng được nhu cầu về vốn và dịch vụ tài chính phục vụ sản xuất kinh doanh của các cá nhân, hộ sản xuất, tổ chức, các doanh nghiệp…với mức lãi suất và kỳ hạn hợp lý, thủ tục tín dụng đơn giản, thuận tiện. Khách hàng có nhu cầu được cấp tín dụng Xuất nhập khẩu là thường là các doanh nghiệp tham gia vào hoạt động ngoại thương. Đặc thù của các doanh nghiệp này là hoạt động trong môi trường quốc tế với những biến động liên tục về giá cả, tỷ giá giữa các đồng tiền cùng với sự cạnh tranh gay gắt của các đối thủ có tiềm lực lớn trên thị trường. Do đó, nếu các doanh nghiệp Xuất nhập khẩu mà không có đủ vốn kịp thời để sản xuất, kinh doanh, họ sẽ rất dễ dàng bỏ lỡ cơ hội kinh doanh. Chính vì vậy, khi tiếp cận với nguồn vốn của ngân hàng, điều đầu tiên mà họ quan tâm là lãi suất, kỳ hạn, quy mô, phương thức giải ngân và phương thức thu nợ có thỏa mãn với nhu cầu của họ hay không, làm sao để các thủ tục giải quyết được nhanh gọn, tiết kiệm, thời gian và chi phí hợp lý nhưng vẫn đảm bảo nguyên tắc tín dụng.
Xét trên góc độ sự phát triển của nền kinh tế: Hoạt động tín dụng Xuất nhập khẩu có chất lượng phải đảm bảo hỗ trợ cho hoạt động kinh doanh, cho quá trình sản xuất và lưu thông hàng Xuất nhập khẩu, làm giảm giá thành hàng XK, tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm XK trên thị trường thế giới, đẩy nhanh chu trình hàng NK đến tay người tiêu dùng hoặc nhà sản xuất, tăng kim ngạch Xuất nhập khẩu của đất nước, giải quyết việc làm, thúc đẩy quá trình tích tụ tập trung sản xuất.
Như vậy, chất lượng tín dụng Xuất nhập khẩu được quan tâm trên nhiều góc độ. Tuy nhiên, trong phạm vi đề tài này, chất lượng tín dụng Xuất nhập khẩu được tập trung nghiên cứu trên góc độ hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Thương mại.
2. Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu Khóa luận: Chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu ở NH Vietcombank.
Chất lượng tín dụng Xuất nhập khẩu là một chỉ tiêu tương đối và không có một chỉ tiêu tổng hợp nào phản ánh nó một cách chính xác. Thông thường, để đánh giá chất lượng tín dụng Xuất nhập khẩu của một Ngân hàng Thương mại, người ta dùng một tập hợp các chỉ tiêu khác nhau, nhưng về cơ bản gồm có các nhóm chỉ tiêu sau:
2.1. Các chỉ tiêu định tính
- Sự tuân thủ các nguyên tắc tín dụng
Các quy định, quy chế và nguyên tắc tín dụng là những quy chuẩn mà ngân hàng đặt ra nhằm định hướng hoạt động một cách an toàn và hiệu quả. Việc tuân thủ nguyên tắc tín dụng hạn chế đến mức thấp nhất những rủi ro có thể xảy ra cho ngân hàng, đồng thời đảm bảo các chính sách xã hội của Nhà nước trong từng thời kỳ.
Đây là những quy định có tính bắt buộc. Nó cụ thể hóa toàn bộ quy trình tín dụng, từ khâu tiếp xúc khách hàng, hướng dẫn khách hàng làm bộ hồ sơ, tiếp nhận hồ sơ…cho đến khi thu hồi được cả vốn lẫn lãi. Do vậy, một hợp đồng tín dụng Xuất nhập khẩu có chất lượng cao trước hết phải tuân thủ một cách chặt chẽ và tuyệt đối các nguyên tắc, quy định có tính pháp quy về hoạt động tín dụng do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và bản thân mỗi ngân hàng đề ra.
Để thực hiện cấp một khoản tín dụng Xuất nhập khẩu, ngân hàng phải tiến hành một cách có quy củ, trình tự các bước như: thẩm định tư cách pháp nhân, năng lực hành vi, năng lực pháp lý của khách hàng; thẩm định hồ sơ về tài sản bảo đảm, thẩm định tình hình sản xuất kinh doanh,khả năng tài chính, phương án sử dụng tiền vay và kế hoạch trả nợ của khách hàng. Việc kiểm soát chặt chẽ tình hình sử dụng vốn vay phải được tiến hành sao sát và liên tục suốt cả quá trình trong và sau khi cấp tín dụng. Khóa luận: Chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu ở NH Vietcombank.
- Mức độ đáp ứng kịp thời nhu cầu của khách hàng
Chất lượng tín dụng Xuất nhập khẩu thể hiện qua uy tín của ngân hàng đối với các khách hàng truyền thống, sự hài lòng của khách hàng đối với các dịch vụ tín dụng ngân hàng cung ứng về quy mô tín dụng, lãi suất cho vay, phí dịch vụ cũng như thủ tục, thời gian tiến hành cấp tín dụng.
Hoạt động tín dụng đảm bảo chất lượng bắt nguồn ngay từ khâu điều tra tình hình sản xuất kinh doanh của địa bàn ngân hàng hoạt động, đánh giá và nhận biết khách hàng tiềm năng, đến quá trình thuyết phục khách hàng đem lại cho khách hàng cảm giác tin cậy.
Ngoài những tiêu chí nói trên, các chỉ tiêu định lượng dựa trên số liệu về tình hình hoạt động tín dụng của ngân hàng sẽ giúp ta đánh giá chính xác hơn chất lượng tín dụng Xuất nhập khẩu của ngân hàng.
2.2. Các chỉ tiêu định lượng
- Doanh số tín dụng xuất nhập khẩu
Đây là chỉ tiêu phán ánh quy mô hoạt động tín dụng Xuất nhập khẩu của ngân hàng, được tính bằng tổng số tiền cho vay của ngân hàng trong một thời kỳ nhất định.
Doanh số tín dụng lớn chứng tỏ ngân hàng đã đáp ứng nhu cầu vốn cho các doanh nghiệp trong hoạt động Xuất nhập khẩu. Và khi doanh số tín dụng lớn thì ngân hàng mới có khả năng nâng cao mức sinh lời trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng, từ đó nâng cao chất lượng tín dụng Xuất nhập khẩu. Do vậy, chất lượng tín dụng của ngân hàng không thể được đánh giá là tốt khi các khoản cho vay có độ an toàn cao song mức độ sinh lời thấp vì doanh số cho vay thấp. Điều này chứng tỏ rằng ngân hàng không có khả năng mở rộng quy mô hoạt động tín dụng Xuất nhập khẩu, khả năng tiếp thị khách hàng kém, trình độ của đội ngũ cán bộ tín dụng không cao. Tuy nhiên, đây không phải là yếu tố duy nhất để đánh giá chất lượng tín dụng Xuất nhập khẩu. Không thể chỉ căn cứ vào chỉ tiêu này để đưa ra kết luận là chất lượng tín dụng Xuất nhập khẩu của ngân hàng có tốt hay không.
Chỉ tiêu doanh số tín dụng là một chỉ tiêu mang tính thời kỳ nên nó có khả năng đánh giá việc giải ngân vốn huy động của ngân hàng trong một thời kỳ nhất định, do đó nếu ta kết hợp được doanh số cho vay nhiều thời kỳ thì có thể đánh giá được phần nào xu hướng hoạt động tín dụng Xuất nhập khẩu cũng như sự thay đổi về chất lượng tín dụng Xuất nhập khẩu của ngân hàng qua các thời kỳ đó. Khóa luận: Chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu ở NH Vietcombank.
- Dư nợ tín dụng xuất nhập khẩu
Nếu như doanh số tín dụng là chỉ tiêu phản ánh chất lượng tín dụng mang tính thời kỳ thì dư nợ tín dụng lại mang tính thời điểm.
Dư nợ tín dụng Xuất nhập khẩu phản ánh lượng vốn mà ngân hàng đang cho vay trong lĩnh vực Xuất nhập khẩu tại một thời điểm nào đó, thường là cuối năm (= doanh số – số tiền khách hàng đã trả). Chỉ tiêu này được đo bằng số tuyệt đối, phản ánh quy mô và xu hướng của việc đầu tư của ngân hàng là mở rộng hay thu hẹp. Dư nợ thấp nếu không phải ngân hàng đang có chính sách thu hẹp tín dụng nhằm mục đích nào khác thì điều đó chứng tỏ ngân hàng không có khả năng mở rộng hoạt động tín dụng, đặc biệt uy tín trong giai đoạn đó của ngân hàng là thấp. Từ đó, không tạo cơ sở để ngân hàng nâng cao chất lượng tín dụng. Tuy nhiên, không phải bất kỳ thời điểm nào chỉ tiêu này cao cũng là tốt, do vậy, khi đánh giá chất lượng tín dụng của ngân hàng, ta phải đặt nó trong mối quan hệ với nguồn vốn, điều kiện kinh doanh của các doanh nghiệp, đồng thời sử dụng kết hợp với các chỉ tiêu khác.
- Tỷ lệ nợ quá hạn trong tín dụng xuất nhập khẩu
Nợ quá hạn được hiểu là những khoản nợ đã đến kỳ hạn trả nợ thỏa thuận trên hợp đồng tín dụng mà khách hàng không trả được nợ. Nợ quá hạn là một chỉ tiêu báo hiệu rủi ro đối với ngân hàng. Nợ quá hạn cao dẫn đến rủi ro không thu hồi được vốn lớn. Ngân hàng có chỉ số nợ quá hạn cao đồng nghĩa bị chiếm dụng vốn nhiều sẽ gặp khó khăn trong kinh doanh, dẫn đến mất khả năng thanh toán và nguy cơ mất uy tín với khách hàng.
- Nợ quá hạn được chia làm hai loại:
Nợ quá hạn có khả năng thu hồi được: là những khoản nợ mà người vay vốn có thể tiếp tục trả nợ ngân hàng sau khi quá hạn. Lý do của những khoản nợ bị chậm trễ có thể là do sự thay đổi về cơ chế, luật pháp, chính sách hoặc do những thay đổi trên thị trường dẫn đến những thay đổi trong môi trường kinh tế làm cho dòng ngân quỹ của khách hàng không ăn khớp với thời hạn trả nợ đã quy định trước. Kết quả là khách hàng không có khả năng trả nợ đúng hạn nhưng vẫn có khả năng thanh toán các khoản vay sau đó. Khóa luận: Chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu ở NH Vietcombank.
Nợ quá hạn không có khả năng thu hồi (Nợ khó đòi): là những khoản nợ quá hạn mà ngân hàng không có khả năng thu nợ từ người vay hoặc khả năng thu nợ là rất nhỏ. Nợ quá hạn không có khả năng thu hồi xảy ra khi người vay lừa đảo hoặc làm ăn thua lỗ và mất khả năng trả nợ, khi đó ngân hàng bị mất vốn.
Hoạt động của ngân hàng ẩn chứa nhiều rủi ro, đặc biệt là trong hoạt động tín dụng Xuất nhập khẩu. Vì vậy mục tiêu của ngân hàng là làm sao điều chỉnh rủi ro ở mức chấp nhận được.
- Để xét nợ quá hạn, cần đánh giá nó theo công thức sau:
Theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Việt Nam, nếu tỉ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ của ngân hàng nào lớn hơn 3% thì ngân hàng đó được xem là có chất lượng tín dụng kém, tỷ lệ nợ quá hạn nhỏ hơn 3% và ngày càng giảm là xu hướng tốt, thể hiện chất lượng tín dụng ngày một tăng lên. Vì đây là chỉ tiêu hiện nay thường được sử dụng khi phân tích đánh giá chất lượng tín dụng của một ngân hàng nên các Ngân hàng Thương mại luôn cố gắng hạ đến mức thấp nhất tỷ lệ nợ quá hạn dưới 3% là mức có thể chấp nhận được.
Chỉ tiêu lợi nhuận tín dụng xuất nhập khẩu:
- Chỉ tiêu 1:
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của các khoản tín dụng Xuất nhập khẩu của ngân hàng. Nó cho biết một đồng dư nợ tín dụng Xuất nhập khẩu sẽ mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận. Tỷ lệ này càng cao chứng tỏ lợi nhuận càng lớn, đó là một trong những nhân tố tạo nên hiệu quả tín dụng của ngân hàng.
- Chỉ tiêu 2:
Chỉ tiêu này phản ánh mức độ đóng góp của hoạt động tín dụng Xuất nhập khẩu vào toàn bộ KQKD của ngân hàng có được hầu hết là từ hoạt động cho vay Xuất nhập khẩu. Điều đó chỉ có thể có được khi quy mô tín dụng Xuất nhập khẩu của ngân hàng chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu tài sản của ngân hàng, đồng thời hiệu quả do hoạt động này mang lại cũng cao. Tuy nhiên điều này cũng đồng nghĩa với việc ngân hàng chấp nhận đối mặt với những nguy cơ rủi ro tiềm ẩn.
- Chỉ tiêu vòng quay vốn tín dụng xuất nhập khẩu
Vòng quay vốn tín dụng là một chỉ tiêu thường được các Ngân hàng Thương mại tính toán hàng năm để đánh giá khả năng tổ chức quản lý vốn tín dụng và chất lượng tín dụng trong việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng, giải quyết hợp lý giữa 3 lợi ích: khách hàng, ngân hàng và Nhà nước. Vòng quay vốn tín dụng được xác định bằng công thức:
- Số vòng quay vốn tín dụng Xuất nhập khẩu = Doanh số tín dụng Xuất nhập khẩu / Dư nợ bình quân
Tỉ số này phản ánh số vòng chu chuyển của vốn tín dụng Xuất nhập khẩu (thường là 1 năm). Hệ số này càng tăng phản ánh tình hình tổ chức quản lý vốn tín dụng Xuất nhập khẩu càng tốt, chất lượng tín dụng ngày càng cao và ngược lại, nếu hệ số này thấp, chứng tỏ khả năng thu hồi vốn của ngân hàng kém, chất lượng tín dụng thấp.
3. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu Khóa luận: Chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu ở NH Vietcombank.
3.1. Các nhân tố chủ quan
Trình độ, tầm nhìn của các nhà quản trị, điều hành, trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ tín dụng, trình độ công nghệ quản lý, khả năng tài chính, quy mô và cơ cấu tổ chức mạng lưới của Ngân hàng Thương mại…Đây là nhóm nhân tố mang tính chủ quan của các Ngân hàng Thương mại có ý nghĩa quyết định đến khả năng kiểm soát và quản lý của Ngân hàng Thương mại nhằm nâng cao chất lượng tín dụng Xuất nhập khẩu.
- Chiến lược phát triển, chính sách tín dụng và năng lực tín dụng của ngân hàng
Có thể nói chiến lược kinh doanh là nhân tố đầu tiên ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng Xuất nhập khẩu của các Ngân hàng Thương mại. Một chiến lược kinh doanh sáng suốt, có hiệu quả sẽ giúp ngân hàng có một phương hướng phát triển nhất quán, giúp cho ngân hàng khai thác tốt nhất năng lực hiện có của mình, đồng thời ngân hàng có thể thích ứng một cách nhanh nhất những biến đổi trong môi trường kinh doanh.
Nếu chiến lược kinh doanh của ngân hàng quan tâm, chú trọng tới việc mở rộng tín dụng Xuất nhập khẩu thì chất lượng của hoạt động này cũng do đó mà không ngừng được cải thiện và nâng cao. Chiến lược mở rộng tín dụng được thực hiện trên cơ sở: tăng doanh số tín dụng, tăng dư nợ tín dụng, đa dạng hoá các hình thức tín dụng và đơn giản hoá, thuận tiện hoá thủ tục tín dụng nhằm tạo sự hài lòng cho khách hàng…Ngoài ra, do hoạt động tín dụng Xuất nhập khẩu có quan hệ mật thiết với hoạt động thanh toán quốc tế, nên việc ngân hàng đạt chất lượng thanh toán quốc tế cao hoặc có chiến lược mở rộng dịch vụ này sẽ tạo cơ hội cho tín dụng Xuất nhập khẩu phát triển. Trên cơ sở mở rộng về quy mô tín dụng, lợi nhuận thu được từ hoạt động này sẽ tăng lên, từ đó phản ánh sự nâng cao của chất lượng tín dụng Xuất nhập khẩu.
Chính sách tín dụng của ngân hàng là một hệ thống các biện pháp liên quan đến việc mở rộng hay hạn chế nhằm đạt được các mục tiêu của ngân hàng trong từng thời kỳ. Chính sách tín dụng ngân hàng bao gồm định hướng chung trong việc cho vay, chế độ tín dụng, các quy định bảo đảm tiền vay, về khách hàng, quy trình xét duyệt thẩm định dự án cho vay, lãi suất…
Chính sách tín dụng cung cấp một khuôn mẫu cho quá trình quản lý tín dụng. Nó có tác động tới tính đúng hướng của hoạt động tín dụng, góp phần quyết định tới sự thành công hay thất bại của một ngân hàng. Chính sách tín dụng đồng bộ, đầy đủ, đúng đắn sẽ là kim chỉ nam định hướng cho cán bộ tín dụng thực hiện nhiệm vụ của mình, nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội của hoạt động tín dụng. Ngược lại, chính sách tín dụng cứng nhắc trở thành vật cản cho việc mở rộng thị trường hoặc chính sách tín dụng lỏng lẻo tạo ra kẽ hở cho người sử dụng vốn lợi dụng, không đem lại hiệu quả lợi ích kinh tế và sẽ gây nên rủi ro tín dụng.
Trong giai đoạn hiện nay, chính sách tín dụng càng đặc biệt quan trọng bởi các NH phải thích ứng với sự phức tạp về môi trường pháp lý, môi trường kinh doanh đầy mới mẻ, đối mặt với nhiều thách thức, thậm chí có những rủi ro trước nay chưa hề lường hoặc quan tâm đến. Chính sách tín dụng phải làm sao vừa đem lại sự thoả mãn cao nhất cho khách hàng vừa đảm bảo 2 mục tiêu: Tỷ suất sinh lời cao nhất và mức độ rủi ro chấp nhận được cho ngân hàng.
Năng lực tín dụng của ngân hàng được hiểu là khả năng cung ứng vốn vay cho doanh nghiệp. Năng lực tín dụng Xuất nhập khẩu phụ thuộc vào nguồn vốn huy động của ngân hàng. Ngân hàng có nguồn vốn huy động lớn sẽ là điều kiện cần thiết để mở rộng hoạt động tín dụng. Ngược lại, khi nguồn vốn huy động của ngân hàng khan hiếm thì cho dù doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn, ngân hàng cũng không có nguồn để giải ngân. Vì vậy, khả năng cung ứng vốn của ngân hàng cũng là một nhân tố tác động tới chất lượng tín dụng Xuất nhập khẩu của Ngân hàng Thương mại.
- Năng lực của cán bộ tín dụng Khóa luận: Chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu ở NH Vietcombank.
Có lẽ đây là nhân tố quan trọng nhất trong quá trình nâng cao chất lượng tín dụng. Chất lượng nhân sự ở mỗi ngân hàng biểu hiện ở sự năng động sáng tạo trong công việc, tinh thần trách nhiệm tốt trong một giới hạn nhất định sẽ bù đắp cho ngân hàng những hạn chế về mặt công nghệ, kỹ thuật, nhờ đó mà ngân hàng có thể tồn tại và phát triển được so với các đối thủ cạnh tranh có tiềm lực mạnh hơn về trang thiết bị, cơ sở vật chất hiện đại. Cán bộ tín dụng có đạo đức nghề nghiệp, giỏi về chuyên môn sẽ giúp ngân hàng ngăn ngừa được những sai sót có thể xảy ra trong cả một quá trình cho vay.
Đội ngũ cán bộ nhân viên ngân hàng nói chung và cán bộ tín dụng nói riêng được coi như diện mạo cuả ngân hàng. Vì vậy, ngoài những yêu cầu cần thiết đã đề cập trên thì họ không những phải tinh thông kỹ thuật nghiệp vụ ngoại thương mà còn phải có sự am hiểu về luật pháp, phong tục tập quán trong và ngoài nước để có thể đưa ra được các quyết định tài trợ đúng đắn.
- Yếu tố thông tin
Thông tin tín dụng là vấn đề không thể thiếu và là yếu tố quan trọng trong quản lý tín dụng. Trên cơ sở những thông tin đã thu thập được, người quản lý có thể đề ra những quyết định đúng đắn về việc đầu tư tín dụng hoặc biện pháp cần thiết liên quan đến việc theo dõi, quản lý thu hồi nợ.
Không chỉ ở lĩnh vực ngân hàng, thông tin là yếu tố căn bản tối cần thiết cho công tác quản lý ở bất kỳ lĩnh vực nào. Để thẩm định một dự án, thẩm định khách hàng, trước hết cán bộ tín dụng cũng cần những thông tin về khách hàng, thông tin về phương án sản xuất kinh doanh, ngành nghề khách hàng kinh doanh…để kịp thời ra quyết định cho vay, tổ chức công tác giám sát hoạt động tín dụng, theo dõi việc sử dụng vốn vay, tiến độ giải ngân và trả nợ của khách hàng.
Ngoài ra, thông tin tín dụng chính xác, kịp thời còn giúp cho ngân hàng xây dựng kế hoạch kinh doanh cho hợp lý. Chính sách tín dụng linh hoạt phù hợp với thực tế, chất lượng tín dụng từng món vay được nâng cao.
- Kiểm soát nội bộ Khóa luận: Chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu ở NH Vietcombank.
Hệ thống kiểm soát nội bộ có một vai trò quan trọng, quyết định đến sự thành bại của một doanh nghiệp nói chung và một tổ chức tín dụng nói riêng. Hệ thống kiểm soát nội bộ là tập hợp bao gồm các chính sách, quy trình, quy định nội bộ, các thông lệ, cơ cấu tổ chức của ngân hàng, được thiết lập và được tổ chức thực hiện nhằm đạt các mục tiêu của ngân hàng, đảm bảo phòng ngừa, phát hiện và xử lí kịp thời các rủi ro xảy ra.
Hệ thống kiểm soát nội bộ bao gồm 5 cấu phần, cụ thể là: môi trường kiểm soát, hệ thống quản lý và đánh giá rủi ro, hệ thống thông tin và cơ chế trao đổi thông tin, cơ chế giám sát hoạt động kiểm soát.
Hệ thống kiểm soát nội bộ được thiết lập nhằm các mục tiêu:
- Bảo đảm cho ngân hàng hoạt động tuân thủ pháp luật và các quy định, quy trình nội bộ về quản lý và hoạt động, các chuẩn mực đạo đức do ngân hàng đặt ra.
- Bảo đảm mức độ tin cậy và tính trung thực của các thông tin tài chính và phi tài chính.
- Bảo vệ, quản lý và sử dụng tài sản và các nguồn lực một cách kinh tế, hiệu quả.
- Hỗ trợ thực hiện các mục tiêu do Ban lãnh đạo ngân hàng đề
Nếu ngân hàng có hệ thống kiểm soát nội bộ tốt, đội ngũ cán bộ kiểm tra giỏi nghiệp vụ, có chuyên môn, trung thực, có đạo đức nghề nghiệp, cơ cấu khen thưởng nhân viên hợp lý sẽ giảm thiểu sai sót phát sinh, phát hiện và điều chỉnh sai sót trong quá trình cho vay, góp phần nâng cao chất lượng tín dụng đem lại an toàn cao cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
- Trang thiết bị phục vụ cho hoạt động ngân hàng
Cơ sở vật chất là yếu tố rất quan trọng không chỉ góp phần giúp ngân hàng hỗ trợ khách hàng, mở rộng cho vay mà còn giúp ngân hàng đánh bóng thương hiệu, tạo niềm tin với khách hàng khi đến vay.
Một ngân hàng có trang thiết bị hiện đại, mô hình giao dịch với sự trợ giúp của phương tiện kĩ thuật hiện đại sẽ tạo điều kiện đơn giản hoá, rút ngắn thời gian giao dịch mang lại sự thuận tiện khi tiết kiệm thời gian cho cả khách hàng và bản thân ngân hàng. Bên cạnh đó với sự hỗ trợ đắc lực của yếu tố công nghệ còn giúp ngân hàng thu thập thông tin nhanh chóng chính xác để xây dựng chính sách cho vay hợp lý.
3.2. Các nhân tố khách quan Khóa luận: Chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu ở NH Vietcombank.
- Nhân tố thuộc về khách hàng
Doanh nghiệp Xuất nhập khẩu là chủ thể đi vay trong quan hệ tín dụng, là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng Xuất nhập khẩu. Tình hình tài chính, trình độ quản lý, năng lực kinh doanh, khả năng cạnh tranh…của doanh nghiệp góp phần quyết định chất lượng tín dụng tốt hay xấu. Nếu doanh nghiệp có năng lực kinh doanh kém, không am hiểu pháp luật và thị trường Xuất nhập khẩu quốc tế khiến cho doanh nghiệp không dự đoán được những rủi ro có thể xảy ra, làm ăn thua lỗ hoặc cố ý lập bộ chứng từ giả trong thanh toán quốc tế thì chắc chắn sẽ không có khả năng trả nợ ngân hàng, gây thiệt hại cho ngân hàng, tất yếu sẽ khiến cho chất lượng tín dụng của ngân hàng giảm sút. Đặc biệt trong lĩnh vực Xuất nhập khẩu, đối tác là doanh nghiệp nước ngoài, thông tin khách hàng cung cấp cho ngân hàng về đối tác cần đặc biệt trung thực và chính xác.
- Hành lang pháp lý và cơ chế chính sách của Nhà nước
Mọi thành phần kinh tế đều có quyền tự chủ về hoạt động sản xuất kinh doanh nhưng phải đảm bảo trong khuôn khổ pháp luật. Hoạt động tín dụng Xuất nhập khẩu của Ngân hàng Thương mại cũng phải tuân theo những quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, luật các tổ chức tín dụng và các quy định khác. Nếu những quy định của luật pháp không rõ ràng, đồng bộ, kịp thời thì rất khó khăn cho ngân hàng trong hoạt động tín dụng và cho doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh vì họ sẽ không yên tâm hoạt động trong môi trường pháp lý như vậy. Ngược lại, những văn bản pháp luật rõ ràng, đầy đủ và đồng bộ, ổn định sẽ là một hành lang pháp lý vững chắc góp phần vào sự cạnh tranh lành mạnh giữa các ngân hàng giải quyết các khiếu nại, tố cáo khi có tranh chấp xảy ra trong hoạt động tín dụng. Điều đó giúp chất lượng tín dụng của ngân hàng được nâng cao.
- Môi trường kinh tế – xã hội, chính trị Khóa luận: Chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu ở NH Vietcombank.
Mức độ và trạng thái phát triển của nền kinh tế xã hội quy định năng lực phổ biến của mỗi chủ thể trong nền kinh tế, quy định độ tin cậy của các thông tin, vì vậy có tác động đến chất lượng tín dụng Xuất nhập khẩu. Về phương diện tổng thể nền kinh tế ổn định sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động tín dụng. Nền kinh tế ổn định làm cho quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp ổn định, tạo điều kiện cho khả năng trả nợ đầy đủ, đúng hạn, đúng kế hoạch.
Đối với hoạt động Xuất nhập khẩu, môi trường chính trị ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng tín dụng của Ngân hàng Thương mại. Nếu giữa các quốc gia có mâu thuẫn chính trị thì việc thực hiện hợp đồng giữa người bán và người mua sẽ gặp rất nhiều khó khăn, làm cho người mua không thể nhận được hàng hoá và người bán thì không XK được. Do đó, việc thanh toán sẽ không được thực hiện. Các doanh nghiệp sẽ khó có khả năng trả nợ đầy đủ và đúng hạn cho ngân hàng.
Ngoài ra, chất lượng tín dụng trong thanh toán Xuất nhập khẩu còn chịu ảnh hưởng của môi trường tự nhiên như lũ lụt, thiên tai, hoả hoạn… Đây là những yếu tố bất khả kháng. Nếu những rủi ro này xảy ra sẽ gây thiệt hại cho khách hàng và làm giảm chất lượng tín dụng trong thanh toán Xuất nhập khẩu của ngân hàng. Khóa luận: Chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu ở NH Vietcombank.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>> Khóa luận: Đánh giá chất lượng tín dụng XNK tại Vietcombank

Dịch Vụ Viết Luận Văn Thạc Sĩ 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietthuethacsi.com/ – Hoặc Gmail: dicvuluanvanthacsi@gmail.com