Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Giải pháp hoạt động xuất khẩu của DN nhỏ và vừa hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Khóa luận: Giải pháp đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu của Doanh nghiệp vừa và nhỏ trong thời kỳ hội nhập dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
Nội dung chính
I. VỀ PHÍA NHÀ NƯỚC
Nhà nước cần có các cơ chế chính sách hỗ trợ và tạo điều kiện cho các DNVVN phát triển. Sự hỗ trợ này phải đảm bảo các nguyên tắc sau:
- Hỗ trợ không được bóp méo cạnh tranh, hỗ trợ phải không vi phạm các quy định của WTO.
- Hỗ trợ nhưng theo hướng thúc đẩy sự tự chủ, nâng động của doanh nghiệp nhỏ và vừa
- Hỗ trợ cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên quan điểm bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, bất kỳ đó là các doanh nghiệp nhỏ và vừa thuộc khu vực tư nhân hay nhà nước đều phải đối xử như nhau.
- Những biện pháp hỗ trợ phải hướng vào việc phát triển các DNVVN một cách bền vững, mang tính lâu dài.
1. Nhóm các giải pháp về hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật
- Tiếp tục hoàn thiện và bổ sung hệ thống chính sách, pháp luật theo hướng:
1.1. Hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng minh bạch, thông thoáng, phù hợp với yêu cầu của WTO và của kinh tế thị trường.
Hệ thống pháp luật trước hết phải phù hợp với kinh tế thị trường. Nó phải tôn trọng các quy luật của kinh tế thị trường, phải tạo thuận lợi cho kinh tế thị trường phát triển. Phải xây dựng một môi trường kinh doanh bình đẳng, lành mạnh, thông thoáng trong việc tiếp cận thông tin, nguồn lực đất đai, vốn, lao động, công nghệ.
Xoá bỏ những phân biệt đối xử về tín dụng, về thuế, về thuê đất đai và các ưu đãi khác. Không được hạn chế quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp. Cần kiên quyết loại bỏ tư duy “quản lý được đến đâu thì mở ra đến đó”, nghiêm túc thực hiện và quán triệt quan điểm “doanh nghiệp được phép kinh doanh bất cứ lĩnh vực nào mà pháp luật không cấm”.
Hệ thống pháp luật phải tương thích với WTO theo hướng tự do hoá thương mại, minh bạch, ổn định, không phân biệt đối xử. Phải sớm xây dựng và vận động các nước thừa nhận Việt Nam là một nước có nền kinh tế thị trường. Quan trọng nhất là phải xây dựng một nền kinh tế thị trường có tính cạnh tranh.
Tiến hành rà soát, loại bỏ các quy định, giấy phép, thủ tục phiền hà cho doanh nghiệp. Đẩy mạnh hơn nữa công cuộc cải cách hành chính, đổi mới trong cung cách phục vụ doanh nghiệp, phải xem doanh nghiệp là đối tượng phục vụ chứ không phải là đối tượng cho xin, nền hành chính phải thực sự là “công bộc” của dân, tạo thuận lợi tối đa cho các doanh nghiệp có điều kiện làm ăn chân chính. Nhân rộng mô hình giao dịch giữa các cơ quan chính phủ và doanh nghiệp qua mạng, tăng tốc trong chiến lược xây dựng Chính phủ điện tử. Khóa luận: Giải pháp hoạt động xuất khẩu của DN nhỏ và vừa.
1.2. Cần sớm cải thiện khả năng thực thi pháp luật, đưa các nguồn luật vào cuộc sống.
Lâu nay khâu yếu kém nhất của chúng ta là chính ở khâu thực thi luật pháp. Để ra một nguồn luật đúng đắn thường tốn rất nhiều thời gian, công sức, tiền của của xã hội., nhưng có nhiều nguồn luật rất chậm đi vào cuộc sống. Điều này thể hiện qua: (i) Tình trạng luật tồn đọng chờ nghị định hướng dẫn diễn ra phổ biến. Chính phủ dường như bị quá tải trong việc đưa ra các nghị định này. Điều này kiến chúng ta rút ra hai nhận định: Một là năng lực hướng dẫn, tuyên truyền pháp luật còn kém; Hai là, ngay cả các nguồn luật đó cũng có vấn đề. Bởi thiết nghĩ rằng, nếu một nguồn luật thực sự tốt thì nó đã có khả năng áp dụng ngay vào thực tiễn chứ không quá thụ động chờ nghị định như hiện nay; (ii) Khả năng thực thi và tuân thủ pháp luật từ cả phía doanh nghiệp lẫn nhà nước còn chưa cao… Do đó cần thay đổi ngay quá trình cho ra đời và thực thi luật pháp của chúng ta. Cụ thể như sau:
- Xây dựng các văn bản hướng dẫn thi hành các văn bản Luật, đặc biệt là Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp và Luật Chứng khoán mới được ban hành để các doanh nghiệp thực sự hoạt động trong môi trường cạnh tranh, bình đẳng, công khai, minh bạch, phù hợp với các cam kết hội nhập.
- Đồng thời, tiếp tục ban hành các văn bản hướng dẫn Luật kế toán, qui định về kiểm toán độc lập và kiểm toán bắt buộc, chuẩn mực kế toán, kiểm toán, theo hướng giảm gánh nặng cho doanh nghiệp trong việc tuân thủ các qui định liên quan đến kế toán và tăng mức độ tin cậy của các báo cáo tài chính doanh nghiệp.
Các cơ quan Nhà nước cần nghiêm túc và xúc tiến đẩy nhanh tiến độ thực hiện theo tinh thần của luật doanh nghiệp thống nhất, luật đầu tư chung, nghị định 91-2020-NĐ-CP về hỗ trợ và phát triển DNVVN. Đây đều là những nguồn luật quan trọng của cộng đồng doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp nhỏ và vừa nói riêng. Chúng đều có những điểm cải cách, tiến bộ, thông thoáng.
2. Nhóm các giải pháp hỗ trợ về vốn Khóa luận: Giải pháp hoạt động xuất khẩu của DN nhỏ và vừa.
Phải tăng cường tiềm lực tài chính cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Sự hỗ trợ của Nhà nước là rất cần thiết, nhất là các doanh nghiệp nhỏ và vừa mới thành lập. Việc hỗ trợ này có thể thực hiện bằng cách:
2.1. Xác lập và triển khai chương trình tài trợ vốn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa
Tài trợ vốn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể thực hiện cho cả hai loại là tài trợ vốn ban đầu để hình thành doanh nghiệp và tài trợ vốn vay khi doanh nghiệp kinh doanh thiếu vốn. Trong trường hợp đầu, Nhà nước thông qua các định chế tài chính phi lợi nhuận để cấp vốn đầu tư cho các chủ nhân muốn thành lập doanh nghiệp nhưng chưa có đủ vốn. Nhà nước có thể hỗ trợ vốn không lãi suất từ 20% đến 50% tổng mức vốn đầu tư ban đầu để thành lập doanh nghiệp. Các doanh nghiệp sau khi bước vào kinh doanh có sản phẩm tiêu thụ sẽ hoàn trả vốn cho Nhà nước từ số lãi thu được trong thời gian từ 2 đến 5 năm hoặc lâu hơn. Để thực hiện được chính sách này, Nhà nước sẽ cho phép mỗi địa phương được lập ra các quỹ đầu tư, ngân sách địa phương sẽ đầu tư ban đầu vào quỹ này, sau đó quỹ có nghĩa vụ tiếp nhận các khoản đầu tư từ bên ngoài để bổ sung nguồn vốn hỗ trợ các chủ nhân muốn thành lập doanh nghiệp, Nhà nước sẽ cấp bù lãi suất và bảo đảm kinh phí cho hoạt động tổ chức này.
2.2. Khẩn trương triển khai, thành lập các quỹ bảo lãnh tín dụng.
Đẩy nhanh việc thành lập và vận hành các quỹ bảo lãnh tín dụng, giúp DNVVN có thể vay vốn khi gặp khó khăn về tài sản thế chấp. Quỹ bảo lãnh tín dụng có thể bảo lãnh tín dụng cho các khoản vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn cho những ý tưởng, dự án kinh doanh khả thi, đồng thời chia sẻ rủi ro giữa quỹ bảo lãnh tín dụng và doanh nghiệp với tổ chức tín dụng khi xảy ra bất khả kháng không trả được nợ.
Xây dựng, phát triển hệ thống các quỹ hỗ trợ doanh nghiệp phát triển, khuyến khích tham gia xây dựng quỹ bảo hiểm ngành hàng để trợ giúp nhau nhằm đảm bảo hạn chế rủi ro cho các doanh nghiệp nhỏ.
2.3. Cần phải đổi mới, nới lỏng điều kiện cho vay Khóa luận: Giải pháp hoạt động xuất khẩu của DN nhỏ và vừa.
Điều chỉnh chính sách về tài sản thế chấp đối với các khoản vay. Hiện nay phần lớn các doanh nghiệp nhỏ và vừa khó tiếp cận với hệ thống ngân hàng vì không có tài sản thế chấp có giá trị. Hơn nữa yêu cầu về tài sản thế chấp thường quá cao, các ngân hàng cũng thường chấp nhận thế chấp bằng gia trị quyền sử dụng đất. Thiết nghĩ rằng, trong những trường hợp nhất định ngân hàng có thể đánh giá tiềm năng và giá trị của các dự án kinh doanh khả thi để cho vay và cùng với doanh nghiệp giám sát việc thực hiện kế hoạch kinh doanh đó để giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh. Bên cạnh đó cần khuyến khích phát triển các quỹ đầu tư mạo hiểm nhất là các quỹ đầu tư nước ngoài.
2.4. Mở rộng hình thức thuê tài chính
Mở rộng hình thức thuê tài chính là giải pháp hữu hiệu giúp các doanh nghiệp khắc phục khó khăn về vốn để đầu tư cho đổi mới công nghệ. Thuê tài chính, tín dụng thuê mua là một loại hình tín dụng trung gian dài hạn, người có nhu cầu vốn không nhận tiền mua sắm thiết bị, tài sản cho mình mà nhận trực tiếp tài sản phù hợp với nhu cầu sử dụng. Người đi thuê theo định kỳ sẽ trả một khoản phí định kỳ nhất định và sau một thời gian có thể mua lại tài sản đó. Tuy nhiên tại Việt Nam về cả phía Chính phủ và doanh nghiệp vẫn chưa nhận thức được những ưu điểm của hình thức này và thuê tài chính vẫn chưa thực sự phát triển. Theo điều tra của nhóm chuyên gia nghiên cứu “Lộ trình phát triển DNVVN” thuộc dự án chuẩn bị khoản vay chương trình phát triển DNVVN ở Việt Nam cho thấy hiện vẫn còn nhiều cản trở trong việc phát triển loại hình cho thuê tài chính: (i) hệ thống khung khổ chính sách, các quy định pháp lý còn thiếu. Nguồn vốn huy động của các công ty cho thuê cũng bị hạn chế do các quy định khắt khe của NHNN, (ii) cộng đồng doanh nghiệp thiếu hiểu biết và nhận thức chưa đúng về lợi ích của hoạt động này, (iii) Thiếu cơ chế đối thoại đầy đủ giữa các công ty cho thuê và chính phủ làm cơ sở hoạch định chính sách phát triển ngành…
Với thực trạng đó, Chính phủ cần phải xem xét sửa đổi khung chính sách đảm bảo môi trường kinh doanh thuận lợi phát triển các doanh nghiệp cho thuê tài chính, góp phần giải bài toán còn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
2.5. Phát triển các dịch vụ tài chính khác
- Giải pháp thị trường hoá các khoản nợ Khóa luận: Giải pháp hoạt động xuất khẩu của DN nhỏ và vừa.
Hiện nay các doanh nghiệp chiếm dụng vốn của nhau rất nhiều, khiến cho nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa rơi vào tình trạng thiếu vốn giả tạo. Nhiều khi ngân hàng thương mại cũng phải đeo đẳng các khoản nợ cho vay mà không có cách gì thu hồi vốn trước này đáo hạn. Việc thị trường hoá các khoản nợ sẽ giúp cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa thoát khỏi tình trạng áp lực về vốn lưu động, chẳng hạn thông qua việc chiết khấu các giấy tờ có giá như thương phiếu. Tại các nước trên thế giới điều này xảy ra khá phổ biến nhưng tại Việt Nam vẫn còn khá mới lạ đối với các doanh nghiệp.
Tiến hành lành mạnh hoá tình hình của các tổ chức tín dụng như tăng vốn tự có cho các tổ chức tín dụng, tạo ra tiềm lực mạnh để tăng khả năng hoạt động và ứng phó với các rủi ro. Đồng thời xử lý dứt điểm các khoản nợ đọng quá hạn thông qua việc phát triển các công ty khai thác tài sản thế chấp đáp ứng việc mua lại các tài sản khê đọng, nợ xử lý, tài sản thế chấp của các NHTM. Nghiên cứu áp dụng một hệ thống giám sát từ xa đối với thị trường tài chính theo các chuẩn mực quốc tế.
Khuyến khích phát triển dịch vụ tư vấn tài chính, kế toán, kiểm toán và những dịch vụ liên quan đến các vấn đề tài chính của các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
2.6. Chính sách tín dụng hỗ trợ
Cơ chế tín dụng cần có nhiều phương thức phục vụ tốt hơn. Cụ thể, tài trợ theo dự án; cho vay thuê mua (đã và đang được chú trọng để mở rộng khả năng đáp ứng vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa); bảo lãnh, mua hàng trả chậm, nhập máy móc, thiết bị, công nghệ; góp vốn liên doanh liên kết; phát triển mạng lưới, từng bước hiện đại hoá công nghệ thanh toán, đưa các sản phẩm, dịch vụ đến với các doanh nghiệp nhỏ và vừa; khai thông và tiếp nhận nguồn vốn từ các tổ chức tài chính quốc tế để hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa.
3. Nhóm các giải pháp về hỗ trợ phát triển công nghệ Khóa luận: Giải pháp hoạt động xuất khẩu của DN nhỏ và vừa.
Sự hội nhập của các doanh nghiệp Việt Nam vào nền kinh tế thế giới và thành công của nó trong cạnh tranh toàn cầu sẽ tuỳ thuộc rất nhiều khả năng về khoa học công nghệ. Tính chất cạnh tranh trên thị trường thế giới đang thay đổi, vai trò cuả các yếu tố truyền thống như tài nguyên thiên nhiên, sức lao động… sẽ phai nhạt đi, thay vào đó yếu tố có tính chất quyết định sẽ là năng lực về khoa học công nghệ. Bản thân việc quá ỷ lại vào sự dồi dào của tài nguyên thiên nhiên, chi phí lao động thấp cũng là các bẫy của sự lạc hậu.
Nếu muốn chuyển dịch lên phía trên trong chuỗi giá trị phải có một tầm nhìn chiến lược để đưa đất nước phát triển dựa trên một nền kinh tế tri thức, một tiềm lực khoa học công nghệ vững chắc.
3.1. Nhà nước tạo áp lực phải đổi mới công nghệ
Nhà nước cần phải tạo ra áp lực cần thiết buộc các doanh nghiệp phải đổi mới công nghệ. Bao gồm: Quy định về thời gian sử dụng công nghệ tối đa cho phép trong từng ngành. Quy định tiêu chuẩn trong nhập khẩu các công nghệ. Kiểm tra và xử nghiêm các công nghệ đã quá lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng…
3.2. Hỗ trợ tài chính đổi mới công nghệ
Nhà nước cần tăng cường ngân sách đầu tư phát triển năng lực công nghệ của quốc gia. Một trong những nguyên nhân khiến công nghệ của các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam bị lạc hậu đó chính là vấn đề tài chính. Vì vậy sự hỗ trợ về tài chính trong việc đổi mới công nghệ là rất cần thiết. Cần phải có cơ chế riêng hỗ trợ tài chính trong lĩnh vực này, nên chăng có sự ưu đãi hõ trợ sẽ tăng “luỹ tiến” theo mức độ hiện đại của công nghệ?! Phát triển loại hình thuê tài chính để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp thiếu vốn có thể tiếp cận với công nghệ hiện đại (xem thêm phần các biện pháp hỗ trợ tài chính). Hình thành và phát triển các Quỹ nghiên cứu triển khai ứng dụng công nghệ.
3.3. Tạo ra môi trường cho đổi mới công nghệ Khóa luận: Giải pháp hoạt động xuất khẩu của DN nhỏ và vừa.
Phát triển thị trường khoa học công nghệ trong nước. Cần gắn nghiên cứu với ứng dụng, khuyến khích các hoạt động triển lãm công nghệ. Khuyến khích phát triển các đơn vị kinh doanh công nghệ. Thực thi luật sở hữu trí tuệ. Xây dựng các trung tâm thông tin, tư vấn về công nghệ…
4. Nhóm các giải pháp về phát triển nguồn nhân lực
Phát triển nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở hai nhóm: Một là nhóm người lao động, hai là đội ngũ nhà quản trị doanh nghiệp.
4.1. Cải tiến và đổi mới hệ thống giáo dục và đào tạo, nhất là đào tạo nghề nghiệp kỹ năng cho người lao động.
Một trong những mục tiêu lớn nhất cần đạt được để nâng cao khả năng hội nhập cho các lao động Việt Nam trong thời gian tới là đảm bảo trang bị cho người lao động có kiến thức cơ bản, làm chủ kỹ năng nghề nghiệp, nhạy cảm với cái mới, có tinh thần cải tiến, là xây dựng được đội ngũ công nhân lành nghề, đội ngũ các chuyên gia, các nhà khoa học, nhà kinh doanh, nhà quản trị giỏi đạt tầm cỡ khu vực và thế giới. Điều này chỉ có thể thực hiện được thông qua các biện pháp phát triển giáo dục và đào tạo. Thực tế trong xã hội hiện nay tồn tại một khoảng cách khá lớn về yêu cầu tuyển dụng của phía doanh nghiệp với cách thức đào tạo của hệ thống giáo dục. Điều này nói lên rằng hệ thống giáo dục đào tạo chưa tương thích với nhu cầu thực tế của thị trường lao động. Chính vì vậy:
- Cần xác định rõ ràng (theo tín hiệu của thị trường) các lĩnh vực ngành nghề đang thiếu nhân công, thiếu người lao động có trình độ, các ngành đó có yêu cầu gì về lao động tuyển dụng, cần những kiến thức nào, kỹ năng nào, tố chất nào… để làm căn cứ quy hoạch lại hệ thống giáo dục và đào tạo. Một quan điểm quán triệt là đào tạo phải xuất phát và bám sát nhu cầu thực tế, phải xử lý hài hoà quan hệ giữa đào tạo lao động có trình độ, tay nghề cao (ví dụ: trong các ngành công nghệ cao) với các ngành sử dụng nhiều lao động nhưng không đòi hỏi nhiều về trình độ học vấn như dệt may, da giày, …). Tăng cường tính liên kết giữa các trường đào tạo và khu vực doanh nghiệp.
- Tiêu chuẩn hoá các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng tay nghề.
- Tăng ngân sách cho giáo dục và đào tạo. Nâng cấp đổi mới trang thiết bị dạy và học.
4.2. Nâng cao thể chất, khả năng chịu áp lực công việc, tính kỹ luật, tác phong công nghệ cho lao động.
- Nâng cao thể lực cho người lao động. Đổi mới hệ thống y tế, tăng cường chăm sóc sức khoẻ cộng đồng, tăng cường công tác tuyên truyền về dinh dưỡng… Cần có một chiến lược cấp quốc gia phát triển sức khoẻ và thể lực, chiều cao cho người lao động.
- Cần đưa việc giáo dục ý thức kỷ luật, tác phong công nghệ vào trong chương trình đào tạo cho người lao động.
4.3. Phát triển nguồn lao động có chất xám, có trình độ chuyên môn cao, đội ngũ các nhà quản lý kinh doanh có tầm cỡ quốc tế.
Đây là một nội dung trọng tâm của sự nghiệp phát triển, đào tạo nguồn nhân lực cho cộng đồng các doanh nghiệp nhỏ và vừa và cho nước nhà. Khóa luận: Giải pháp hoạt động xuất khẩu của DN nhỏ và vừa.
Cần phát triển các mô hình “khởi sự kinh doanh”, “vườn ươm doanh nghiệp”, “tháp sáng tài năng kinh doanh”, tổ chức và tài trợ cho các cuộc thi về ý tưởng kinh doanh … Tổ chức các khoá huấn luyện, đào tạo và cập nhật thông tin một cách thường xuyên cho các giám đốc, các nhà quản lý DNVVN để xây dựng một lực lượng đông đảo các doanh nhân tài giỏi.
Cần tăng cường nghiệp vụ kinh doanh quốc tế cho đội ngũ quản lý trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa , bởi thực tế hiện nay cho thấy năng lực kinh doanh quốc tế, khả năng am hiểu thị trường, luật pháp thế giới của các nhà quản lý doanh nghiệp còn rất kém. Điều nguy hiểm nhất khi hội nhập vào thị trường thế giới đó chính là sự lạc lõng về kiến thức và thông tin.
5. Giải quyết vấn đề mặt bằng sản xuất cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa đi đôi với việc phát triển hạ tầng cơ sở
Đẩy mạnh hơn nữa việc phát triển thị trường bất động sản một cách minh bạch, lành mạnh.
Phải xây dựng được một hệ thống đăng ký, khắc phục tình trạng phân phối đất bất bình đẳng để xảy ra tình trạng đầu cơ, thao túng thị trường bất động sản. Có nhiều doanh nghiệp cần đất để sản xuất kinh doanh thì không có, trong khi số đất đai đó lại được một số thế lực khác chiếm dụng nhằm mục đích đầu cơ.
Phải khắc phục tình trạng quy hoạch đất đai một cách tuỳ tiện, thiếu tầm nhìn và tình trạng quy hoạch treo hiện nay. Các địa phương cần quy hoạch dành quỹ đất và thực hiện các chính sách khuyến khích xây dựng các cụm công nghiệp để có mặt bằng sản xuất tạp trung tạo sự thuận lợi cho các doanh nghiệp. Đi đôi với quy hoạch đất đai, phải xây dựng cơ sở hạ tầng cần thiết cho sản xuất như đường xá, điện nước, viễn thông, vận tải… Giảm bớt sự độc quyền của Nhà nước trong xây dựng cơ sở hạ tầng. Giảm giá cước vận tải, bưu chính theo mặt bằng chung của khu vực và thế giới.
6. Một số giải pháp khác Khóa luận: Giải pháp hoạt động xuất khẩu của DN nhỏ và vừa.
6.1. Tăng cường công tác xúc tiến thương mại ra thị trường thế giới.
Nhà nước cần hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa xúc tiến thương mại trên thị trường trong và ngoài nước. Tổ chức các cuộc triển lãm xuất khẩu và các hội chợ cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa . Các cơ quan ngoại giao, các thương vụ Việt Nam ở nước ngoài cần đóng vai trò tích cực hơn nữa trong việc cung cấp thông tin pháp luật, thị trường, thị hiếu, yêu cầu chất lượng sản phẩm… cho các DNVVN. Các cơ quan này cũng cần tích cực phối hợp và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa tổ chức các triển lãm, quảng bá hàng Việt Nam ở nước ngoài.
6.2. Thực hiện một số biện pháp trợ cấp, bảo hộ có hiệu quả, được WTO cho phép.
Chính phủ cần khẩn trương nghiên cứu và áp dụng một số biện pháp trợ cấp bảo hộ hiệu quả và được WTO cho phép, nhất là trong những ngành có sức cạnh tranh quá yếu, dự báo sẽ có nguy cơ đổ vỡ hàng loạt. Gia nhập WTO không phải là loại bỏ hoàn toàn các yếu tố này. Mỗi ngành nghề lại có các cam kết khác nhau, có một khoảng thời gian quá độ nhất định, hơn thế nữa Việt Nam là một nước đang phát triển, được hưởng các ưu đãi (các đối xử đặc biệt và khác biệt dành riêng cho các nước đang và chậm phát triển) của WTO.
6.3. Phát triển và nâng cao hơn nữa vai trò của hiệp hội ngành hàng, khuyến khích sự liên kết giữa các doanh nghiệp nhỏ và vừa và sự liên lết của các doanh nghiệp nhỏ và vừa với các doanh nghiệp lớn.
Tại Việt Nam cũng đã có một số hiệp hội ngành hàng, tổ chức hỗ trợ cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa như hiệp hội DNVVN, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam VCCI… nhưng nhìn chung vai trò còn hạn chế, chất lượng, quy mô, nội dung hoạt động còn nghèo nàn, chưa thực sự là chỗ dựa cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Trong thời gian tới, các tổ chức này cần đi vào hoạt động thực chất hơn, chú trọng các hoạt động giao lưu, giới thiệu kinh nghiệm, cập nhật thông tin thị trường… cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Nếu tăng cường vai trò hiệp hội ngành hàng, khuyến khích các doanh nghiệp nhỏ và vừa liên kết bổ trợ lẫn nhau thì chắc chắn sức mạnh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ được nâng cao trước sức tấn công của các doanh nghiệp nước ngoài trong bối cảnh Việt Nam gia nhập WTO.
II. GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI CÁC doanh nghiệp nhỏ và vừa Khóa luận: Giải pháp hoạt động xuất khẩu của DN nhỏ và vừa.
1. Cần nâng cao năng lực nội tại
Xét cho cùng, doanh nghiệp chính là nhân vật trung tâm của hội nhập, đứng vững được hay không, điều kiện trước tiên và quyết định là năng lực của chính mình. Bài học của các doanh nghiệp nhỏ và vừa Trung Quốc và hầu hết các nước khi bước vào “sân chơi” WTO là tạo dựng cho mình một sức mạnh nội tại cần thiết, trước hết là không để bị “thôn tính” trong các cuộc cạnh tranh ngay tại thị trường nội địa, sau đó là thị trường quốc tế. Điều này càng trở nên có ý nghĩa to lớn đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam, khi mà điểm xuất phát của bản thân họ còn thấp. Bởi vậy, các doanh nghiệp nhỏ và vừa cần phải thực hiện tốt một số nội dun cơ bản sau:
1.1. Cần đổi mới công nghệ
Theo thống kê của Bộ Khoa học và Công nghệ, tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa nước ta hiện nay, thiết bị lạc hậu và rất lạc hậu chiếm tới 75%. Trong khi đó, việc đầu tư đổi mới công nghệ ở mức thấp, tính ra chi phí khoảng 0,1 – 0,2% doanh thu. Vì vậy, năng suất và hiệu quả sản xuất, kinh doanh thấp.
Tuy nhiên, đổi mới công nghệ phải được tiến hành đồng thời 4 yếu tố là: thiết bị, con người, thông tin và thiết chế. 4 yếu tố này đồng bộ thì mới phát huy được tác dụng của công nghệ (các yếu tố thông tin, con người, thiết chế nhiều khi quan trọng hơn cả thiết bị). Theo đó, nếu doanh nghiệp ở trình độ thấp thì cần nghiên cứu để nhập máy móc, công nghệ mới, phù hợp, góp phần hoàn thiện sản phẩm của mình. Tuỳ theo mức độ hiện đại của từng thiết bị trong dây chuyền sản xuất mà nên đầu tư vào từng phần hay toàn bộ. Nên đầu tư công nghệ mới vào khâu sơ chế, tạo ra sản phẩm hoặc khâu tạo bao bì, đóng gói sản phẩm. Cần đặc biệt lưu ý và tốt nhất là hạn chế chuyển giao, nhập mới các dây chuyền, công nghệ sản xuất của những nước, tổ chức mà trước mắt và lâu dài các doanh nghiệp của họ sẽ là đối thủ cạnh tranh đối với doanh nghiệp nước ta. Với doanh nghiệp có trình độ cao hơn, thì có thể mua một số công đoạn khó để nghiên cứu, cải tiến, chế tạo ra công nghệ thích hợp, có năng suất cao.
Doanh nghiệp cần có chính sách thoả đáng để khuyến khích tính sáng tạo của người lao động, có chính sách để giữ nhân tài; khuyến khích hình thành các nhóm nghiên cứu tự nguyện. Đi liền với nó là thực hiện hệ thống tổ chức quản lý gọn nhẹ, ít cấp, linh hoạt; lựa chọn, đề bạt, bổ nhiệm giám đốc thực sự giỏi, năng động, sáng tạo, có kiến thức kinh tế thị trường hiện đại, nắm bắt tiến bộ khoa học – công nghệ mới và có đạo đức kinh doanh theo đúng pháp luật trong nước, phù hợp với thông lệ quốc tế.
1.2. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Khóa luận: Giải pháp hoạt động xuất khẩu của DN nhỏ và vừa.
DNNVV cần có chiến lược nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nâng cao năng lực quản lý trong bối cảnh hội nhập WTO.
Một trong những điểm yếu của các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam chính là vấn đề nguồn nhân lực, thiếu đội ngũ nhân viên được đào tạo bài bản để đáp ứng đòi hỏi trong áp dụng công nghệ mới, yêu cầu về ngoại ngữ, kiến thức kinh doanh quốc tế, khả năng khai thác thông tin trên Internet…Công tác quản trị doanh nghiệp còn lạc hậu, thiếu tính khoa học và toàn diện.
Do đó chủ doanh nghiệp và đội ngũ quản lý cần vận dụng hệ thống quản lý hiện đại, chú trọng trang bị những kiến thức, hiểu biết về thị trường, về luật pháp, xây dựng văn hoá và đạo đức kinh doanh: kinh doanh trung thực, cạnh tranh lành mạnh, tuân thủ pháp luật, có trách nhiệm với người lao động và với cộng đồng, tạo dựng sự tin tưởng từ khách hàng.
Với đội ngũ lao động cần có kế hoạch đào tạo và đào tạo lại, huấn luyện, thường xuyên cập nhật thông tin, kiến thức cho họ. Cần có kế hoạch thu hút nguồn nhân lực có chất lượng cao bằng chính sách lương, thưởng, chế độ phúc lợi, cơ hội thăng tiến hợp lý,…Tạo được môi trường văn hoá doanh nghiệp lành mạnh.
1.3. Phải đảm bảo tài chính minh bạch
Tài chính là yếu tố quan trọng đảm bảo cho hoạt động của doanh nghiệp được tiến hành trôi chảy, đúng tiến độ. Doanh nghiệp sẽ không thể tiến hành sản xuất và càng không có khả năng mở rộng sản xuất nếu nguồn tài chính không được đảm bảo. Dưới đây là một số giải pháp nhằm tăng khả năng tài chính của doanh nghiệp nhỏ và vừa:
- Nâng cao uy tín với ngân hàng và các tổ chức tín dụng
Cần lập báo cáo tài chính rõ ràng, đủ độ tin cậy; loại bỏ báo cáo tài chính mang tính chất đối phó với cơ quan thuế, báo cáo chính thức thường thấp hơn tình trạng thực tế, không đảm bảo điều kiện vay vốn ngân hàng. Nâng cao năng lực, trình độ của cán bộ kế toán; loại bỏ các số liệu phản ánh không chính xác tình hình sản xuất kinh doanh và tài chính, đồng thời cố gắng giảm tỷ lệ vay quá hạn.
Hệ thống báo cáo, ghi chép và theo dõi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp phải đầy đủ, rõ ràng. Từ đó, ngân hàng có cơ sở đánh giá quyết định cho vay. Khóa luận: Giải pháp hoạt động xuất khẩu của DN nhỏ và vừa.
- Chủ động tìm kiếm các kênh huy động vố khác ngoài ngân hàng
Liên doanh, liên kết với các doanh nghiệp khác. Doanh nghiệp có thể liên doanh, liên kết với doanh nghiệp trong nước hoặc doanh nghiệp nước ngoài. Hình thức này có ưu điểm là các doanh nghiệp tham gia liên doanh, liên kết sẽ cùng nhau chia sẻ rủi ro trong trường hợp công việc kinh doanh không thuận lợi; đồng thời liên kết, liên doanh sẽ tạo được sức mạnh tổng hợp, nâng cao vị thế doanh nghiệp trên thị trường.
Khai thác tín dụng thuê mua. Đây là giải pháp hữu hiệu giúp doanh nghiệp khắc phục khó khăn về vốn để đầu tư đổi mới công nghệ, mở rộng sản xuất kinh Tín dụng thuê mua là loại tín dụng trung gian dài hạn, người có nhu cầu vay vốn không nhận tiền để mua sắm thiết bị mà nhận trực tiếp tài sản hợp với nhu cầu sử dụng. Người đi thuê sẽ thanh toán bằng tiền thiết bị đó theo phương thức trả dần và sau một thời gian sử dụng nhất định có thể mua lại chính tài sản đó.
Tham gia vào thị trường chứng khoán. Khi tham gia vào thị trường chứng khoán, cơ hội cho các doanh nghiệp tiếp cận các nguồn tài chính là rất lớn. Tuy nhiên, để có thể huy động được vốn từ thị trường chứng khoán, doanh nghiệp phải thực sự hoạt động có hiệu quả và có tiềm năng tăng trưởng mạnh.
1.4. Không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm
Đã đến lúc các doanh nghiệp cần suy tính và thúc đẩy việc chuyển dịch lợi thế so sánh, dựa trên chi phí lao động thấp và tài nguyên sang lợi thế cạnh tranh, kết hợp chi phí thấp với các yếu tố quyết định tính cạnh tranh về chất lượng trên thị trường trong và ngoài nước. Khóa luận: Giải pháp hoạt động xuất khẩu của DN nhỏ và vừa.
Doanh nghiệp cần chú ý đến tất cả các khâu, từ nghiên cứu sản phẩm mới, thiết kế đến tạo sản phẩm, tiêu thụ; có một hệ thống quản lý chất lượng tốt, bảo đảm về mặt kinh tế (các chi phí thấp), thẩm mỹ và an toàn vệ sinh kỹ thuật (cần chú ý bộ tiêu chuẩn ISO.9000, ISO.14000 và quy định SA.8000). Kiểm soát chất lượng chặt chẽ, đánh giá chất lượng nghiêm túc, đảm bảo các yếu tố đầu vào tốt, gắn nhãn hiệu và nhãn sản phẩm đúng quy chế của Bộ Công thương. Bên cạnh đó, cần xây dựng chỉ tiêu chất lượng sản phẩm có đặc điểm riêng (tính khác biệt), độc đáo.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp cần đầu tư cho việc nghiên cứu để thường xuyên có những cải tiến về mẫu mã, chủng loại sản phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng, duy trì ưu thế cạnh tranh cuả doanh nghiệp trên thị trường.
1.5. Cần đẩy mạnh việc xây dựng, quảng bá thương hiệu
Đối với doanh nghiệp thương hiệu là chìa khoá để mở ra những cơ hội kinh doanh mới. Do đó, xây dựng thương hiệu là việc làm không thể thiếu, nó phải nằm trong chiến lược marketing tổng thể, xuất phát từ nghiên cứu kỹ thị trường, xác định đối tượng khách hàng mục tiêu, kết hợp với chiến lược sản xuất, quảng bá, chính sách giá cả, phân phối hợp lý, nhằm tạo cho doanh nghiệp và những sản phẩm của họ một ấn tượng trong tâm trí, nhận thức của khách hàng trong tương quan với đối thủ cạnh tranh.
Vì vậy ngay từ bây giờ các doanh nghiệp nhỏ và vừa cần phải có một chiến lược phát triển thương hiệu cho mình. Các vấn đề quan trọng các doanh nghiệp cần phải làm là:
Thứ nhất, cần có nhận thức đúng đắn và đầy đủ về thương hiệu, xem thương hiệu là tài sản quý của doanh nghiệp cần phải bảo vệ, quảng bá và phát triển nó, coi việc phát triển thương hiệu là việc sống còn của doanh nghiệp, là hành động mang tính chiến lược trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Thứ hai, Không ngừng nâng cấp đổi mới công nghệ, tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao, mẫu mã đẹp, giá rẻ phù hợp với thị hiếu từng phân khúc thị trường nhằm tạo ra hình ảnh đẹp về thương hiệu sản phẩm và khi đã tạo được thương hiệu thì tiến hành đăng ký thương hiệu ở thị trường trong nước, thị trường nước ngoài và cả thị trường tiếm năng mà doanh nghiệp sắp hướng tới để tránh trường hợp thương hiệu bị đánh cắp.
Thứ ba, đào tạo đội ngũ chuyên gia về xây dựng thương hiệu, giỏi về kinh doanh, hiểu biết về sản phẩm và có kiến thức về sở hữu công nghiệp.
Thứ tư, tích cực tham gia các hội chợ thương mại trong và ngoài nước nhằm quảng bá sản phẩm của mình đến với người tiêu dùng, không ngừng mở rộng mạng lưới bán hàng, không ngừng bảo vệ và nâng cao uy tín thương hiệu.
Thứ năm, chủ động tham gia chương trình Thương hiệu quốc gia doanh nghiệp sẽ có điều kiện hưởng những ưu đãi dành riêng cho các thành viên (xem hộp I – 1).
2. Xây dựng chiến lược sản xuất, kinh doanh theo hướng gắn chặt với thị trường trong nước và ngoài nước Khóa luận: Giải pháp hoạt động xuất khẩu của DN nhỏ và vừa.
Chiến lược sản xuất, kinh doanh giữ vai trò rất quan trọng, làm cho hoạt động của doanh nghiệp đạt hiệu quả cao. Chiến lược đúng là điều cơ bản để doanh nghiệp thắng lợi trong cạnh tranh.
Trong điều kiện hội nhập, cần thay đổi tư duy và phương pháp hoạch định chiến lược. Cụ thể là việc xác định chiến lược sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp không thể dựa trên phương pháp trực giác, kinh nghiệm chủ nghĩa mà thay vào đó, cần áp dụng các phương pháp hoạch định khoa học. Các doanh nghiệp cần áp dụng sớm phương pháp phân tích ma trận SWOT (phân tích điểm mạnh – điểm yếu, cơ hội – thách thức), để hoạch định chiến lược sản xuất, kinh doanh của mình. Trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, phải bám sát thị trường, xem nhu cầu họ thực sự cần gì, yêu cầu chất lượng, công dụng, kiểu dáng ra sao, số lượng bao nhiêu (trong cả hiện tại và tương lai).
Các doanh nghiệp cần có thông tin đầy đủ, tin cậy và kịp thời về thị trường, sản phẩm, dịch vụ hỗ trợ, điều kiện và xúc tiến thương mại. Trên cơ sở đó, xây dựng những kế hoạch ngắn, trung và dài hạn thích hợp với từng loại sản phẩm, đối tượng và thị trường tiêu dùng. Trong đó chú ý tập trung vào sản xuất, kinh doanh các sản phẩm có thế mạnh hoặc thị trường đang có nhu cầu lớn.
Thực hiện tiết kiệm triệt để ở tất cả các khâu trong dây chuyền sản xuất, tận dụng cao nhất nguyên liệu trong nước có chất lượng tương đương, nhưng giá rẻ hơn. Đồng thời, rà soát để giảm tới mức hợp lý các chi phí dịch vụ đầu vào như giá lưu kho, lưu bãi, dịch vụ hàng hải, dịch vụ ngân hàng, phí cầu đường, lệ phí hải quan…, từ đó, hạ giá thành sản phẩm.
Quan tâm tới cả hai kênh phân phối sản phẩm, trong đó, ở thời gian thâm nhập thị trưòng cần chú ý cho kênh phân phối gián tiếp (thông qua hệ thống đại lý). Bên cạnh đó, cần có những biện pháp giảm thiểu rủi ro trong sản xuất, kinh doanh như thâm nhập vào thị trường từng bước, đa dạng hoá sản phẩm, thực hiện mua bảo hiểm, hình thành các nguồn dự trữ…
3. Chú trọng công tác nghiên cứu thị trường
Doanh nghiệp cần nhận thức được tầm quan trọng của công tác nghiên cứu thị trường, từ đó lựa chọn phương thức nghiên cứu thị trường thích hợp. Doanh nghiệp có thể lựa chọn tự mình nghiên cứu thị trường hoặc thuê dịch vụ nghiên cứu thị trường của các công ty chuyên nghiên cứu thị trường. Doanh nghiệp nên tìm đến các công ty nghiên cứu thị trường lớn có tầm hoạt động toàn cầu để đảm bảo rằng các công ty này hiểu được các thị trường nước ngoài.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp có thể tìm kiếm thông tin về thị trường và bạn hàng qua Internet. Doanh nghiệp có thể ứng dụng công nghệ thông tin để khuyếch trương, giới thiệu sản phẩm của mình. Để khai thác hiệu quả công cụ này, doanh nghiệp nên xây dựng cho mình một website của doanh nghiệp, sau đó triển khai các biện pháp để quảng bá cho website của doanh nghiệp. Đưa tên website vào các danh bạ doanh nghiệp, trang vàng, trang trắng điện tử để giới thiệu sản phẩm, dịch vụ của mình, giới thiệu trên các trang web về hội chợ, triển lãm là một số các biện pháp cơ bản, hiệu quả, nhanh và tiết kiệm chi phí để đạt mục tiêu này. Khóa luận: Giải pháp hoạt động xuất khẩu của DN nhỏ và vừa.
Doanh nghiệp cũng có thể tìm người mua hàng của doanh nghiệp tại các thị trường cụ thể theo khu vực địa lý hoặc theo ngành hàng, mặt hàng mà doanh nghiệp quan tâm qua mạng Internet.
4. Coi trọng liên kết, hợp tác trong sản xuất kinh doanh
Bất kỳ doanh nghiệp nào cũng phải hoạt động trong mối “quan hệ ngang” với các doanh nghiệp khác, “đầu ra” của doanh nghiệp này là “đầu vào” của doanh nghiệp kia và ngược lai. Thêm vào đó, trong điều kiện sự hỗ trợ của Nhà nước cũng có những giới hạn, vì vậy các doanh nghiệp cần liên kết với nhau, thông qua hiệp hội, ngành hàng để nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá, dịch vụ bằng các yếu tố thị trường, như: chất lượng tốt hơn, giá cả cạnh tranh hơn, dịch vụ hậu mãi thuận tiện và hoàn hảo nhất.
Liên doanh, liên kết trong cung cấp nguyên liệu, vật tư thiết bị, sản xuất và tiêu thụ với các đơn vị liên quan, cùng ngành hoặc khác ngành. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa nên hợp tác với các đối tác mạnh là các doanh nghiệp nước ngoài; tái cơ cấu, thay đổi hình thức quản lý, linh hoạt trong việc tiếp cận đối tác, thị trường nước ngoài để tận dụng các nguồn lực bên ngoài Doanh nghiệp hãy thay đổi quan niệm, thay vì ai thắng ai thua, các doanh nghiệp hãy hướng tới việc cả hai cùng chiến thắng (hợp tác win – win) và đôi bên cùng có lợi.
KẾT LUẬN
Nhìn chung, xu hướng toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế ngày một lớn mạnh, bao trùm hầu hết các nền kinh tế, mở ra cơ hội, đồng thời cũng đặt ra những thách thức cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở các nước nói chung và doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam nói riêng. Vấn đề đạt ra là làm thế nào để doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể tận dụng được những cơ hội, đối phó với những thách thức để có được chỗ đứng trong thương mại quốc tế.
Trong khuôn khổ khoá luận, người viết đã tiến hành phân tích thực trạng năng lực xuất khẩu của các doanh nghiệp nhỏ và vừa khi tham gia vào thị trường toàn cầu và đưa ra một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao năng lực cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa, giúp doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể chủ động hơn khi tham gia vào thương mại quốc tế. Tuy nhiên, từ lý luận đến thực tiễn là cả một hành trình dài và không dễ dàng, rất cần sự ủng hộ từ phía chính phủ, nhân dân, sự nỗ lực của bản thân mỗi doanh nghiệp cũng như tinh thần đoàn kết của các doanh nghiệp nhỏ và vừa nói riêng và các doanh nghiệp Việt Nam nói chung để các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam có thể tăng trưởng bền vững trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, góp phần đóng góp vào phát triển kinh tế đất nước. Khóa luận: Giải pháp hoạt động xuất khẩu của DN nhỏ và vừa.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>> Khóa luận: Đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu của DN nhỏ và vừa

Dịch Vụ Viết Luận Văn Thạc Sĩ 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietthuethacsi.com/ – Hoặc Gmail: dicvuluanvanthacsi@gmail.com