Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Thực trạng hoạt động xuất khẩu của DN nhỏ và vừa hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Khóa luận: Đánh giá thực trạng hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong thời kỳ hội nhập dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
Nội dung chính
I. KHÁI QUÁT HIỆN TRẠNG XUẤT KHẨU CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA Ở VIỆT NAM
1. Về số lượng doanh nghiệp nhỏ và vừa
Tính từ năm 2019 đến hết năm 2025, cả nước hiện có 207.034 doanh nghiệp dân doanh (chủ yếu là các doanh nghiệp nhỏ và vừa) đăng ký kinh doanh thành lập mới với tổng số vốn đăng ký đạt hơn 466 nghìn tỷ đồng (tương đương gần 30 tỷ USD). Trong tổng số doanh nghiệp được đăng ký kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp năm 2018, loại hình công ty TNHH chiếm tỷ trọng lớn nhất khoảng 46,9%, doanh nghiệp tư nhân chiếm 36,4%, công ty cổ phần chiếm 15,2%, còn lại là công ty hợp danh. Hoạt động theo Luật Hợp tác xã có hơn 17.000 hợp tác xã, trong đó hợp tác xã nông nghiệp chiếm 50%, hợp tác xã công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp chiếm 13,5%, hợp tác xã giao thông vận tải chiếm 8%, còn lại là các hợp tác xã thương mại – dịch vụ, tín dụng, môi trường, thuỷ sản…
Với sự phát triển vượt bậc cả về số lượng và chất lượng, doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động rộng khắp ở tất cả các vùng, miền trong cả nước. Trong đó, số lượng các doanh nghiệp nhỏ và vừa tập trung chủ yếu ở ba vùng: vùng đồng bằng sông Cửu Long 24%, vùng đồng bằng sông Hồng 21% và vùng miền Đông Nam Bộ 19%. Tiếp đó là 13% ở vùng khu Bốn cũ, 10% ở vùng Duyên hải miền Trung, 9% ở miền núi và trung du và 4% ở vùng Tây Nguyên.
- Bảng 5: Phân bố doanh nghiệp nhỏ và vừa theo vùng lãnh thổ
Hiện nay có khoảng 29.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia xuất khẩu. Giá trị xuất khẩu của khu vực này chiếm 29% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Theo Cục phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), từ nay đến 2030 cả nước ta sẽ có khoảng 320.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa được thành lập, trong đó số lượng doanh nghiệp nhỏ và vừa trực tiếp tham gia xuất khẩu chiếm từ 3 – 6%.
2. Về ngành nghề kinh doanh Khóa luận: Thực trạng hoạt động xuất khẩu của DN nhỏ và vừa.
DNNVV tham gia vào hầu hết các lĩnh vực của nền kinh tế trong đó các doanh nghiệp tập trung nhiều nhất vào thương mại, sửa chữa động cơ, xe máy (40,6% doanh nghiệp); tiếp đến là các ngành chế biến (20,9%), xây dựng (13,2%) và các ngành còn lại như kinh doanh tài sản, tư vấn, khách sạn, nhà hàng (25,3%). Điều đáng lưu ý là có 21% doanh nghiệp tư nhân hoạt động trong lĩnh vực thuỷ sản và 26% công ty cổ phần ngoài kinh quốc doanh hoạt động trong lĩnh vực tài chính tín dụng, riêng trong lĩnh vực công nghiệp chế biến có tới 37,3% số doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động trong ngành công nghiệp chế biến thực phẩm, 11% trong ngành dệt may, da giày và 18,6% trong ngành sản xuất các sản phẩm kim loại.
- Biểu 1: Cơ cấu ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp nhỏ và vừa
Về kim ngạch xuất khẩu: khu vực kinh tế ngoài quốc doanh (chủ yếu là các doanh nghiệp nhỏ và vừa) đã có những đóng góp tích cực vào việc tăng kim ngạch xuất khẩu, nhất là các mặt hàng thủ công mỹ nghệ, chế biến nông sản, thủy sản, hàng may mặc, đồ da, đồ gỗ,…Một số sản phẩm xuất khẩu của nước ta hiện nay chủ yếu do khu vực kinh tế tư nhân sản xuất như: hàng thủ công mỹ nghệ, chế biến nông sản, thủy sản, hàng may mặc, đồ da, đồ gỗ…
3. Về hình thức xuất khẩu
Việc xuất khẩu hàng hoá của các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam thường được thực hiện theo các cách sau đây:
Xuất khẩu trực tiếp đến các thị trường: các doanh nghiệp xuất khẩu hàng hoá cho các doanh nghiệp nước ngoài. Các doanh nghiệp này sẽ là người tiếp tục đưa hàng hoá của Việt Nam đến tay người tiêu dùng cuối cùng. Sản phẩm của các doanh nghiệp Việt Nam có thể là các sản phẩm được thiết kế và sản xuất trong nước, nhưng cũng có thể là do phía đối tác nước ngoài đặt gia công. Đối tác nước ngoài có thể là các nhà phân phối trực tiếp tại nước đó, cũng có thể là các nhà phân phối trung gian.
Xúc tiến xây dựng hệ thống phân phối ở nước ngoài để có thể phân phối hàng hoá trực tiếp đến tay người tiêu dùng. Điển hình cho hình thức này là các doanh nghiệp Việt Nam ở Đông Âu. Hoặc thông qua việc thành lập các văn phòng đại diện xúc tiến thương mại cho hàng Việt Nam ở các nước.
Một hình thức xuất khẩu mà các doanh nghiệp nhỏ và vừa đang hướng tới đó là: hình thức nhượng quyền thương mại như của Trung Nguyên hay Kinh Đô. Các doanh nghiệp nước ngoài sẽ được quyền kinh doanh các hàng hoá có nhãn hiệu Việt Nam tại nước ngoài.
II. THỰC TRẠNG NĂNG LỰC XUẤT KHẨU CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA Ở VIỆT NAM Khóa luận: Thực trạng hoạt động xuất khẩu của DN nhỏ và vừa.
1. Về vốn và công nghệ
1.1. Tiềm lực vốn hạn chế
- Quy mô vốn đăng ký của các doanh nghiệp nhỏ và vừa
Các doanh nghiệp nhỏ và vừa tăng nhanh về số lượng nhưng quy mô vốn của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong những năm gần đây lại rất thấp, mới ở mức trung bình trên 2 tỷ đồng/doanh nghiệp.
Qua khảo sát, điều tra hơn 63 ngàn doanh nghiệp tại 30 tỉnh thành phía Bắc cho thấy: Số vốn của các doanh nghiệp nhỏ và vừa còn rất thấp: khoảng 50% doanh nghiệp có số vốn dưới 1 tỷ đồng, gần 75% doanh nghiệp có số vốn dưới 2 tỷ đồng và có tới 90% doanh nghiệp có vốn dưới 5 tỷ đồng.
Nếu xét kết hợp tiêu chí về vốn với tiêu chí về lao động, các số liệu thống kê cho thấy, tỷ lệ bình quân mỗi doanh nghiệp có 30 lao động. Như vậy, quy mô vốn và lao động của doanh nghiệp nhỏ và vừa còn quá nhỏ so với quy mô doanh nghiệp thông thường của các nước phát triển và có nền kinh tế mới nổi. Đặc điểm này là bất lợi trong cạnh tranh khi Việt Nam hội nhập hoàn toàn vào WTO.
- Khả năng tiếp cận các nguồn lực tài chính còn hạn chế
Việc tiếp cận các nguồn lực tài chính với các doanh nghiệp nhỏ và vừa gặp phải nhiều khó khăn, hạn chế: vốn huy động từ các dự án hay nguồn tài trợ của nước ngoài là rất khan hiếm; vốn huy động từ thị trường chứng khoán thì các doanh nghiệp nhỏ và vừa không đủ điều kiện. Chính vì vậy, doanh nghiệp nhỏ và vừa chỉ có thể tiếp cận nguồn vốn tín dụng duy nhất là vốn tín dụng ngân hàng để mở rộng sản xuất và phát triển hoạt động kinh doanh. Nhưng việc tiếp cận vốn tín dụng của các ngân hàng đang gặp nhiều trở ngại. Theo điều tra về thực trạng doanh nghiệp nhỏ và vừa của Cục phát triển (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) chỉ có 32,28% các doanh nghiệp nhỏ và vừa có khả năng tiếp cận được nguồn vốn ngân hàng còn lại các doanh nghiệp nhỏ và vừa rất khó hoặc không thể tiếp cận được vốn ngân hàng. Khóa luận: Thực trạng hoạt động xuất khẩu của DN nhỏ và vừa.
Có nhiều nguyên nhân khiến các doanh nghiệp nhỏ và vừa gặp khó khăn trong việc tiếp cận với các nguồn tín dụng, trong số đó, có thể kể ra một số nguyên nhân chủ yếu sau đây:
- Thông tin của các doanh nghiệp nhỏ và vừa thường không minh bạch, việc lập kế hoạch tài chính cũng như lập các báo cáo tài chính thiếu chính xác, không trung thực.
- Chủ yếu các doanh nghiệp nhỏ và vừa không có tài sản làm đảm bảo vay vốn. Mặt khác, việc chuyển giao quyền sở hữu về vốn góp bằng tài sản chưa rõ ràng, minh bạch gây khó khăn cho ngân hàng trong quá trình thẩm định tài chính, thẩm định tài sản đảm bảo.
- Năng lực quản trị điều hành của các chủ doanh nghiệp nhỏ và vừa kém. Việc lập kế hoạch kinh doanh, phương án kinh doanh thiếu tính chuyên nghiệp.
- Các doanh nghiệp nhỏ và vừa thiếu điều kiện tiếp cận công nghệ, chưa ứng dụng được công nghệ mới, các sản phẩm đưa ra thị trường thiếu tính cạnh tranh.
- Chưa có khả năng liên kết, hợp tác giữa các doanh nghiệp nhỏ và vừa với nhau, với các hiệp hội, với phòng thương mại,…Tính thực thi các chính sách hỗ trợ của Chính phủ còn hạn chế. Dẫn đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa kém.
Đó là những lý do mà trong thời gian qua các ngân hàng chưa dám đẩy mạnh đầu tư cho vay vào cộng đồng các doanh nghiệp nhỏ và vừa vì sợ rủi ro cao.
1.2. Trình độ công nghệ lạc hậu
Xuất phát từ đặc trưng quy mô vốn nhỏ nên các doanh nghiệp hầu như bị hạn chế trong việc đầu tư công nghệ và trang thiết bị hiện đại. Có tới 57% doanh nghiệp cho rằng họ sử dụng thiết bị công nghệ trung bình. Tỷ lệ đổi mới trang thiết bị trung bình hàng năm của Việt Nam chỉ ở mức 5 – 7% so với 20% của thế giới. Công nghệ lạc hậu làm tăng chi phí tiêu hao 1,5 lần so với định mức tiêu chuẩn của thế giới. Thực trạng này dẫn đến tăng chi phí đầu vào, cao hơn 30 – 50% so với các nước ASEAN, đồng thời dẫn đến chất lượng sản phẩm giảm. Khóa luận: Thực trạng hoạt động xuất khẩu của DN nhỏ và vừa.
Bên cạnh đó, chỉ tiêu về sử dụng công nghệ thông tin cũng cho thấy, tuy số doanh nghiệp nhỏ và vừa có sử dụng máy tính lên đến hơn 60% nhưng chỉ có 11,55% doanh nghiệp có sử dụng mạng nội bộ LAN, số doanh nghiệp có website là rất thấp, chỉ 2,16%. Đây là một kết quả rất đáng lo ngại vì khả năng tham gia thương mại điện tử và khai thác thông tin qua mạng của các doanh nghiệp còn thấp, không đáp ứng được yêu cầu hội nhập hiện nay.
Cuộc điều tra cũng chỉ ra một nghịch lý: trong khi trình độ về kỹ thuật công nghệ còn thấp nhưng nhu cầu đào tạo về kỹ thuật và công nghệ của doanh nghiệp nhỏ và vừa có tỷ lệ rất thấp, chỉ có 5,65% doanh nghiệp nhỏ và vừa có nhu cấu về đào tạo công nghệ. Điều này cho thấy các doanh nghiệp nhỏ và vừa chưa coi trọng đúng mức đến các vấn đề về kỹ thuật và công nghệ, mặc dù đây là yếu tố quyết định sự thành bại của doanh nghiệp trên thương trường.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự yếu kém của các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam về trình độ kỹ thuật, công nghệ trong đó có cả nguyên nhân chủ quan từ phía doanh nghiệp và nguyên nhân khách quan từ phía Nhà nước.
Vốn đầu tư của các doanh nghiệp nhỏ và vừa rất thấp so với vốn đầu tư của các loại hình doanh nghiệp khác, lại gặp rất nhiều khó khăn trong việc vay vốn tín dụng trung hạn và dài hạn cần thiết cho việc đầu tư, nâng cấp công nghệ.
Các doanh nghiệp nhỏ và vừa gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận thị trường quốc tế trong lĩnh vực công nghệ, máy móc và thiết bị, đồng thời cũng thiếu sự chủ động cần thiết trong việc tiếp cận những dịch vụ tư vấn để có sự hỗ trợ trong việc xác định công nghệ tương xứng và thích hợp với khả năng tài chính nhằm hoàn thiện trình độ sản xuất và nâng cao sức cạnh tranh của mình.
Một số nguyên tắc, chính sách và thủ tục hiện hành đang làm cho việc chuyển giao công nghệ từ nước ngoài vào Việt nam gặp nhiều khó khăn và gây tốn kém cho tất cả các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa: việc nhập khẩu máy móc và thiết bị phải chịu các mức thuế suất cao, các hợp đồng chuyển giao công nghệ phải được Chính phủ phê chuẩn cho từng trường hợp, kết hợp với những thủ tục phê chuẩn phiền hà, mất nhiều thời gian.
2. Về quản lý và nguồn nhân lực Khóa luận: Thực trạng hoạt động xuất khẩu của DN nhỏ và vừa.
2.1. Quản lý
- Về trình độ chuyên môn thấp
Theo kết quả điều tra về nhu cầu trợ giúp của doanh nghiệp nhỏ và vừa do Cục phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa tiến hành thì 30% chủ doanh nghiệp xuất thân từ công nhân viên chức thuộc khu vực kinh tế nhà nước chuyển ra. Đây là đội ngũ phần nào đã có kinh nghiệm trong sản xuất, một số ít có tay nghề và hiểu biết về quản lý kinh tế. Khoảng 60% đã từng là chủ doanh nghiệp nhỏ hoặc đã hoạt động trong khu vực kinh tế cá thể, tư nhân. Khoảng 10% là sinh viên các trường trung học, đại học có vốn hoặc vay vốn tự lập doanh nghiệp sản xuất hoặc kinh doanh.
Theo số liệu thống kê của một cuộc điều tra quy mô được Cục phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) tiến hành với sự tham gia của hơn 63.000 doanh nghiệp tại 30 tỉnh thành phía Bắc, có tới 55,63% số chủ doanh nghiệp có trình độ học vấn từ trung cấp trở xuống. Trong đó, 43,3% chủ doanh nghiệp có trình độ học vấn từ sơ cấp và phổ thông các cấp. Cụ thể, số người là tiến sĩ chỉ chiếm 0,66%; thạc sĩ 2,33%; đã tốt nghiệp đại học 37,82%; tốt nghiệp cao đẳng chiếm 3,56%; tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp chiếm 12,33% và 43,3% có trình độ thấp hơn. Hơn nữa, chỉ có 7% trong số chủ doanh nghiệp được đào tạo phù hợp với nghề hoạt động sản xuất kinh doanh.
- Thiếu năng lực quản lý doanh nghiệp
Nhìn chung, đa số các chủ doanh nghiệp nhỏ và vừa còn thiếu kiến thức và kinh nghiệm quản lý trong nền kinh tế thị trường. Số chủ doanh nghiệp là cán bộ quản lý các DNNN ra thì thường làm theo lối quản lý cũ, độc đoán và chuyên quyền, không phù hợp với sự linh hoạt của thị trường. Trong khi đó, số chủ doanh nghiệp là tư nhân thì có trình đọ học vấn thấp và thiếu kinh nghiệm trong quản lý. Điều đáng chú ý là đa số các chủ doanh nghiệp ngay cả những người có trình độ học vấn từ cao đẳng và đại học trở lên thì cũng ít người được đào tạo về kiến thức kinh doanh và quản trị doanh nghiệp. Trong khi đó, các khoá đào tạo quản lý cho các chủ doanh nghiệp thường rất đắt và bản thân các chủ doanh nghiệp vì quá bận rộn nên cũng ít quan tâm và đầu tư thời gian cho việc này.
Bên cạnh đó, khả năng hoạch định chiến lược của các nhà quản lý doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng còn rất nhiều hạn chế. Mặc dù hoạch định chiến lược là một quy trình xác định các định hướng lớn cho phép doanh nghiệp thay đổi, cải thiện và củng cố vị thế cạnh tranh của mình, nhưng việc ứng dụng quy trình này thì hầu như cho đến nay mới chỉ là “mảnh đất riêng” cho các doanh nghiệp lớn. Vẫn còn rất nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa chưa quan tâm đến công tác này, điều này được giải thích bởi nhiều lý do: Khóa luận: Thực trạng hoạt động xuất khẩu của DN nhỏ và vừa.
- Do không có thời gian, ở các doanh nghiệp nhỏ, người chủ doanh nghiệp là người điều hành trực tiếp, do đó thời gian của họ chủ yếu dành cho việc giải quyết những vấn đề tác nghiệp hàng ngày và hầu như không còn thời gian để quan tâm tới việc hoạch định dài hạn.
- Do không quen với hoạch định chiến lược hoặc họ cho rằng chiến lược không có liên quan nhiều đến tình trạng kinh doanh của họ.
- Do thiếu các kỹ năng cần thiết và hạn chế về trình độ nên tầm nhìn của các chủ doanh nghiệp bị bó hẹp, thiếu khả năng hoạch định chiến lược dài hạn cho công ty.
Chính vì thế khi tham gia vào thị trường toàn cầu, trong điều kiện thị trường cạnh tranh gay gắt và luôn biến động, các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam thường tỏ ra lúng túng và bị động, không biết rõ phải làm gì, ở khâu nào, bộ phận nào và như thế nào để đối phó tình hình. Do kế hoạch chỉ là ước tính, tổng quát nên các doanh nghiệp không đánh giá được các điểm mạnh – yếu, không biết rõ khâu nào đang kém hiệu quả và có thể làm tốt hơn. Vì vậy, doanh nghiệp không chủ động trong việc cải tiến quy trình, nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
2.2. Nguồn nhân lực
Thực trạng nguồn nhân lực của khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam không tách rời thực trạng chung của lực lượng lao động Việt Nam. Bên cạnh những ưu thế không thể phủ nhận như lực lượng lao động dồi dào, tỷ lệ lao động trẻ cao, giá cả sức lao động tương đối thấp…lực lượng lao động Việt Nam đang đối mặt với nhiều hạn chế được xem là trở ngại chính ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh, năng lực tham gia vào thương mại quốc tế của các doanh nghiệp Việt Nam nói riêng và của nền kinh tế Việt Nam nói chung.
- Tỷ lệ lao động được đào tạo nghề nghiệp và kỹ năng trong tổng lực lượng lao động còn thấp.
Đến 1/7/2025, tính chung trong cả nước, số người được đào tạo nghề nghiệp và kỹ năng (có trình độ sơ cấp hoặc có chứng chỉ nghề trở lên) chỉ chiếm có 24,62% tổng lực lượng lao đọng. Hơn thế nữa, hầu hết những người có trình độ cao đều có tâm lý muốn làm việc ở những công ty lớn do được trả lương cao.
Trình độ chuyên môn, tin học, ngoại ngữ của giám đốc và đội ngũ quản lý doanh nghiệp còn hạn chế. Chỉ có 3,5% trong tổng số lao động trong doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn sử dụng thành thạo máy vi tính. Điều này cho thấy khó có thể đáp ứng được yêu cầu của quá trình hội nhập trong thời gian tới, nhất là trong thời đại của kinh tế tri thức và công nghệ thông tin bùng nổ.
- Tác phong và kỷ luật lao động công nghiệp chưa cao
Đại bộ phận người lao động hiện nay còn chưa được đào tạo về kỷ luật lao động công nghiệp. Phần lớn lao động hiện nay là lao động thủ công, chỉ qua đào tạo nghề ngắn hạn hoặc là những lao động chuyển từ sản xuất nông nghiệp sang, còn mang nặng tác phong sản xuất của một nền nông nghiệp tiểu nông, tuỳ tiện về giờ giấc và hành vi. Người lao động hiện nay chưa được trang bị các kiến thức và kỹ năng làm việc theo nhóm, chưa có khả năng hợp tác và gánh chịu rủi ro, ngại phát huy sáng kiến cá nhân và chia sẻ kinh nghiệm làm việc.
3. Về thương hiệu và thị trường Khóa luận: Thực trạng hoạt động xuất khẩu của DN nhỏ và vừa.
3.1. Thương hiệu
- Vấn đề tạo dựng thương hiệu chưa được các doanh nghiệp nhỏ và vừa quan tâm đầu tư
Phải thừa nhận rằng trong một vài năm gần đây, khi nền kinh tế nước ta bước vào hội nhập quốc tế, nhận thức của các doanh nghiệp về vấn đề thương hiệu cũng có sự thay đổi lớn. Kết quả điều tra mới đây của Báo Sài Gòn Tiếp thị và câu lạc bộ ngành hàng Việt Nam Chất lượng ở 500 doanh nghiệp cho thấy: 57% doanh nghiệp coi việc xây dựng thương hiệu và phát triển thương hiệu là mối quan tâm hàng đầu; 43% doanh nghiệp coi thương hiệu là hình ảnh, uy tín của doanh nghiệp. Đặc biệt, kết quả này không có sự khác biệt giữa doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp Nhà nước. Điều đó chứng tỏ, dưới sức ép cạnh tranh của thị trường, các doanh nghiệp đã ý thức đến những thành quả của mình đạt được, để giữ nó thì phải nỗ lực phấn đấu khẳng định tên tuổi trên thị trường. Tuy nhiên, một thực tế đặt ra là, mặc dù các doanh nghiệp đã quan tâm đến thương hiệu nhưng phần lớn chưa quan tâm đầu tư một cách có hệ thống ngay từ khi xây dựng doanh nghiệp: trong 500 doanh nghiệp Việt Nam cho thấy, hơn 50% doanh nghiệp chưa có bộ phận chuyên trách về thương hiệu; 80% doanh nghiệp không có chức danh quản lý nhãn hiệu.
Thực tế hiện nay, kinh phí và nguồn nhân lực dành cho xây dựng, phát triển thương hiệu của nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa còn rất khiêm tốn. Bên cạnh nguyên nhân về nhận thức một nguyên nhân chủ yếu khác là phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam tiềm lực tài chính còn hạn chế dẫn đến hạn chế chi phí đầu tư tài chính cho việc xây dựng, quảng bá thương hiệu.
Bên cạnh đó, khi xây dựng thương hiệu, các doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu mới chỉ tập trung vào những ký hiệu, biểu tượng , hình vẽ mà bỏ qua những yếu tố quan trọng nhằm nâng cao giá trị thương hiệu như: uy tín, chất lượng sản phẩm, đảm bảo ổn định thời gian giao hàng, mẫu mã, chủng loại, dịch vụ khách hàng…
- Vấn đề bảo vệ thương hiệu chưa được nhận thức một cách đầy đủ
Trong giai đoạn 1990-2019, hàng năm có trung bình 4000 doanh nghiệp đăng ký nhãn hiệu và từ năm 2020 đến nay, khi Việt Nam dần hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, mỗi năm có khoảng trên 1 vạn nhãn hiệu xin đăng ký và tăng trưởng khoảng 20-25% năm. Riêng năm 2024 có 22.000 nhãn hiệu được nộp đơn đăng ký tại Cục sở hữu trí tuệ, trong đó, số doanh nghiệp Việt Nam chiếm gần 50%, số còn lại thuộc các doanh nghiệp của hơn 100 nước khác trên thế giới. Đây là một tiến bộ rất lớn về ý thức bảo hộ tài sản trí tuệ của doanh nghiệp Việt Nam. Tuy vậy, theo thống kê cũng chỉ mới có khoảng 25% doanh nghiệp Việt Nam đăng ký nhãn hiệu hàng hoá. Khóa luận: Thực trạng hoạt động xuất khẩu của DN nhỏ và vừa.
Hiện nay mới chỉ có khoảng 300 đến 400 nhãn hiệu Việt Nam được đăng ký ở nước ngoài trong số 6000 doanh nghiệp nhà nước, 2019 doanh nghiệp đầu tư nước ngoài và 50000 doanh nghiệp ngoài quốc doanh, với hàng trăm nghìn nhãn hiệu hàng hoá của các doanh nghiệp Việt Nam trên cả nước. Điều này không chỉ nói lên tình trạng yếu kém, mà còn thể hiện tầm nhìn hẹp của các doanh nghiệp Việt Nam trước xu thế toàn cầu hoá hiện nay đối với vấn đề nhãn hiệu. Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ, đến nay đã có hàng chục doanh nghiệp của Việt Nam bị mất nhãn hiệu tại các thị trường lớn. Các doanh nghiệp này không hề biết nhãn hiệu của mình đã được đăng ký bảo hộ ở nước ngoài cho đến khi chính họ bị phía nước ngoài đệ đơn kiện đòi bồi thường thiệt hại do “sử dụng nhãn hiệu trái phép”, hoặc không được xuất khẩu vào thị trường đó vì nhãn hiệu đã bị đăng ký. Những doanh nghiệp lớn bị mất thương hiệu có thể kể đến: Thuốc lá Vinataba (một công ty của Indonesia nhanh chân đăng ký nhãn hiệu này tại 12 nước Châu Á), Vifon Việt Nam (tại thị trường Mỹ, một công ty Nhật đã đăng ký nhãn hiệu “Vifon” và “Vifon Acecook”), bia Hà Nội (mất thương hiệu ở thị trường Ba Lan), Petro Việt Nam (bị một tập đoàn có tên là Nguyễn Lai đăng ký quyền sở hữu ở Mỹ ngày 18-7-2021). Hầu hết các doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng chưa quan tâm đến việc đăng ký nhãn hiệu ở nước ngoài. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này:
- Thương nhân Việt Nam chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của thương hiệu hàng hoá, từ đó xem nhẹ việc đăng lý bảo hộ quyền sở hữu công nghệ đối với thương hiệu của mình, không chỉ tại thị trường nước ngoài, mà ngay cả ở thị trường trong nước.
- Các doanh nghiệp Việt Nam chưa xác định được chiến lược kinh doanh, đặc biệt là kinh doanh trong điều kiện hội nhập quốc tế và tập trung phát triển kinh doanh dài hạn tại các thị trường trọng điểm. Do đó, các doanh nghiệp thường cho khi sản phẩm đã thâm nhập được vào thị trường rồi mới đăng ký thương hiệu. Đây cũng là tâm lý làm ăn nhỏ và mang đậm nét của một nước nông nghiệp là chủ yếu.
Hiểu biết của các doanh nghiệp Việt Nam về luật pháp quốc tế trong lĩnh vực này, nhất là Luật Quyền sở hữu trí tuệ tại các quốc gia mà doanh nghiệp muốn giành thị phần để bán hàng còn hạn chế. (4) Trách nhiệm của các cơ quan chức năng nhà nước trong việc chậm tuyên truyền và hướng dẫn cho các doanh nghiệp trong vấn đề đăng ký thương hiệu quốc tế.
Tóm lại để tạo dựng thành công và sử dụng thương hiệu như công cụ để tồn tại và giấy phép thông hành thâm nhập vào thị trường quốc tế là cả một bài toán khó với các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp nhỏ và vừa nói riêng. doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam sẽ phải tìm ra một hướng đi riêng cũng nhu phải có sự liên kết trong cộng đồng các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam, cùng sự hỗ trợ từ phía Nhà nước và các tổ chức, để có thể khẳng định chỗ đứng trên thị trường toàn cầu. Khóa luận: Thực trạng hoạt động xuất khẩu của DN nhỏ và vừa.
3.2. Thị trường
Trong xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ như hiện nay ngày càng có nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia vào thị trường toàn cầu nhằm tận dụng các cơ hội mà thị trường toàn cầu mở ra. Tuy nhiên, các doanh nghiệp Việt Nam bộc lộ khá nhiều hạn chế trong việc tiếp cận thị trường.
Về thị trường xuất khẩu, các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam nói riêng cũng như các doanh nghiệp Việt Nam nói chung còn chưa thực sự chủ động trong việc tiếp cận thị trường cho các sản phẩm của mình. Theo số liệu điều tra 12 tỉnh, thành phố của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam mới đây, 51% số doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam làm hàng gia công theo các đơn đặt hàng của nước ngoài chứ chưa tìm kiếm được thị trường của riêng mình, rất nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa chỉ nhận được các đơn hàng gia công từ các DNNN có quota chứ không gia công và xuất khẩu trực tiếp, do đó rất lệ thuộc và bị động với sự thay đổi thị trường.
Cơ cấu thị trường xuất khẩu không đa dạng. Nhìn chung, các doanh nghiệp Việt Nam chưa xây dựng được chiến lược thị trường cho riêng mình. Theo một kết quả nghiên cứu do nhóm nghiên cứu về doanh nghiệp nhỏ và vừa của trường Đại học Kinh tế quốc dân cùng với Đại học Copenhaghen của Đan Mạch, 36,7% số doanh nghiệp nhỏ và vừa có được đơn hàng xuất khẩu qua việc khách hàng nước ngoài trực tiếp đến thăm doanh nghiệp, 10,2% từ việc tham gia hội chợ triển lãm, 14,3% từ các đại lý bán hàng nước ngoài của doanh nghiệp và 20,4% là qua Bộ Công thương và Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam. Qua đó thấy rằng các doanh nghiệp nhỏ và vừa còn rất thụ động trong việc tìm thị trường, khách hàng, còn phụ thuộc nhiều vào khách hàng và hầu như hoàn toàn thụ động trong việc tiếp cận thị trường và định hướng khách hàng, hiếm khi chủ động tìm kiếm khách hàng mới, nắm bắt và tham gia các hoạt động xúc tiến thương mại. Do những yếu kém trong việc nghiên cứu thị trường, doanh nghiệp nhỏ và vừa chỉ biết định giá dựa vào chi phí sản xuất và giá chào hàng của doanh nghiệp khác, dẫn đến hiệu quả hoạt động sản xuất không cao, thậm chí còn bị kiện bán phá giá ở thị trường nước ngoài.
Trong hoạt động nhập khẩu, các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam cũng tỏ ra rất kém hiểu biết về các thông tin thị trường. Vẫn biết rằng tham gia vào thị trường toán cầu mở ra cơ hội cho doanh nghiệp tiếp cận với nguồn nguyên liệu đầu vào dồi dào, giẩc phải chăng cũng như với kỹ thuật và công nghệ tiên tiến của thế giới, tuy nhiên làm thế nào để các doanh nghiệp tận dụng được cơ hội âý thì vẫn còn là vấn đề phải bàn thêm. Tình trạng nhiều doanh nghiệp Việt Nam thiếu thông tin về thị trường, không tiếp cận được nhà cung ứng gốc mà phải nhập nguyên liệu đầu vào với giá cao không phải là ít.
- Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng này, trong đó phải kể đến hai nhóm nguyên nhân chủ yếu sau: Khóa luận: Thực trạng hoạt động xuất khẩu của DN nhỏ và vừa.
DNNVV còn thiếu sự chủ động cần thiết trong việc tìm kiếm thông tin thị trường, ít doanh nghiệp Việt Nam có thói quen thu thập và xử lý thông tin trước khi ra quyết định. Hơn nữa, việc thu thập thông tin từ phía nước ngoài và đối tác là doanh nghiệp nước ngoài thường rất khó khăn đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các hệ thống thông tin do các cơ quan Nhà nước thiết lập thường không tới được và không đáp ứng đủ nhu cầu của các doanh nghiệp. Nhiều doanh nghiệp chỉ có được thông tin về khách hàng, đối thủ cạnh tranh, đặc điểm hệ thống phân phối…qua các luồng thông tin không chính thức, chắp vá nên nhiều khi thông tin họ tiếp nhận được bị sai lệch, thiếu chính xác, không đủ tin cậy, khiến cho doanh nghiệp rơi vào tình trạng bị thua thiệt về giá hoặc khó định hướng đầu tư.
Bên cạnh đó, các hiệp hội kinh doanh, các cơ quan xúc tiến thương mại của Việt Nam ở trong nước và nước ngoài cũng chưa chủ động, tích cực trong việc tiếp cận với các doanh nghiệp, chưa thực sự hỗ trợ doanh nghiệp. Các chương trình xúc tiến của Chính phủ chưa tiếp cận được với các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
III. HỖ TRỢ CỦA CHÍNH PHỦ VÀ CÁC TỔ CHỨC CHO CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TRONG THỜI GIAN QUA
1. Hỗ trợ từ phía Ngân hàng
DNNVV có vai trò đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Tuy nhiên, để phát huy tiềm năng của mình, ngoài sự chủ động, linh hoạt, các doanh nghiệp nhỏ và vừa rất cần sự hỗ trợ nhiều mặt về cơ chế, chính sách, trong đó sự hỗ trợ về vốn tín dụng ngân hàng là một trong những giải pháp có tầm quan trọng hàng đầu.
1.1. Qui mô hỗ trợ ngày càng tăng
Kết quả nghiên cứu mới đây của CIEM cho biết, 44% ngân hàng được hỏi cho doanh nghiệp nhỏ và vừa vay với tỷ trọng vốn khoảng 38% dư nợ. Phần lớn các ngân hàng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa vay với số tín dụng ngày càng gia tăng và dễ dàng hơn khi tiếp cận vay vốn. Thực tế, các doanh nghiệp nhỏ và vừa có nhiều cơ hội vay vốn hơn từ các ngân hàng thương mại. Tính riêng 04 ngân hàng thương mại (NHTM) Nhà nước đến 30/4/2025, dư nợ cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa là 141.500 tỷ đồng, chiếm 37,7% tổng dư nợ của 4 ngân hàng này. Tăng trưởng tín dụng đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong những năm gần đây luôn cao hơn mức bình quân, hiệu quả và chất lượng đầu tư tín dụng luôn được chú trọng và đã mang nhiều nhân tố mới, tích cực. Nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh có hiệu quả của các doanh nghiệp nhỏ và vừa luôn được xem xét và đáp ứng kịp thời. Các NHTM đã thực hiện nhiều biện pháp để đẩy mạnh cho vay với loại hình doanh nghiệp này cụ thể như: mở rộng mạng lưới giao dịch, thực hiện nhiều hình thức huy động vốn, cải tiến thủ tục, nâng cao trình độ cán bộ tín dụng…
Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank), từ một ngân hàng bán buôn, cũng đã chuyển dần sang mô hình bán lẻ. Theo đó, cơ hội tiếp cận vốn của ngân hàng này cũng thuận lợi hơn. Quy mô vốn dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa của Vietcombank cũng đã tăng từ 500 tỷ đồng lên 3.000 tỷ đồng…Tỷ trọng về giao dịch thanh toán xuất nhập khẩu cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong 5 năm vừa qua tăng trưởng với tốc độ rất cao, bình quân khoảng 150 – 200%/năm. Trong thời gian tới, Vietcombank vẫn xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa là đối tượng chú trọng ưu tiên.
Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn (NHNo&PTNT) cũng đặc biệt chú trọng nhiều đến phục vụ đối tượng doanh nghiệp nhỏ và vừa. Nhận thấy tầm quan trọng của khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa đối với nền kinh tế nói chung và hoạt động kinh doanh của NHNo&PTNT nói riêng, các chi nhánh của NHNo&PTNT đã tập trung tiếp cận , đầu tư vốn, cung cấp dịch vụ cho các DNNVV ngày một nhiều hơn, thể hiện qua tốc độ tăng trưởng dư nợ hàng năm khá cao.
- Bảng 6: Tổng dư nợ cho vay nền kinh tế, không tính các khoản đầu tư trên thị trường liên ngân hàng của NHNo&PTNT Việt Nam Khóa luận: Thực trạng hoạt động xuất khẩu của DN nhỏ và vừa.
Số liệu cho vay qua các năm từ 2020 đến 2025 cho thấy mức tăng trưởng tín dụng của NHNo&PTNT Việt Nam luôn ở mức 25%, đây là một tỷ lệ khá lớn, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của nền kinh tế. Dư nợ cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2020 chỉ đạt 2,3 ngàn tỷ đồng, chiếm 3,83% tổng dư nợ. Đến 31/12/2024, dư nợ cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa đạt 49.088 ngàn tỷ đồng, chiếm 30,46% tổng dư nợ; đến 30/9/2025, dư nợ cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa đạt 63.074 tỷ đồng, chiếm 35,55% tổng dư nợ. Bên cạnh đó, hoạt động cho thuê tài chính tăng trưởng nhanh chóng, đối tượng khách hàng hầu hết là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Mục tiêu phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa đến 2030 đã được Chính phủ xác định là 500.000 nghìn doanh nghiệp, trong đó lực lượng doanh nghiệp nhỏ và vừa đóng vai trò chủ đạo. NHNo&PTNT cũng đưa ra mục tiêu phấn đấu cho khoảng 150.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa vay vốn, chiếm 30 – 40% tỷ trọng dư nợ của ngân hàng. Đưa lượng vốn mà ngân hàng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa vay cũng tăng lên khoảng 100.000 tỷ đồng.
Ngân hàng Công thương Việt Nam (NHCTVN) là một trong 4 ngân hàng thương mại lớn nhất Việt Nam có mạng lưới hoạt động rộng khắp cả nước. Trong những năm qua, NHCTVN đã thực sự trở thành một trong những “kênh dẫn vốn”, “điều hoà vốn” cho các ngành kinh tế trọng điểm và các thành phần kinh tế của Việt Nam.Tính đến 31/12/2025, tổng số dư đầu tư cho vay của NHCTVN đạt 125.127 tỷ đồng, tăng 21.781 tỷ đồng, đạt tỷ lệ tăng 21% so với đầu năm, riêng cho vay nền kinh tế đạt dư nợ 80.801 tỷ đồng, tăng 6.278 tỷ đồng, tỷ lệ tăng trưởng 8,4% trong đó cho vay khu kinh tế ngoài quốc doanh (mà chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ và vừa) chiếm 70% dư nợ. Từ năm 2019, NHCTVN đã đánh giá các doanh nghiệp nhỏ và vừa là đối tượng khách hàng quan trọng, là thị trường tiềm năng mà NHCTVN cần hướng tới. Điều đó đã được cụ thể hoá bằng các chương trình hành động trong kế hoạch phát triển hàng năm, kế hoạch phát triển 5 năm, 10 năm về tài trợ cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Đến nay, NHCTVN được đánh giá cao như là một trong các NHTM hàng đầu Việt Nam về cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa; số lượng khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm 50% số lượng khách hàng, dư nợ chiếm 65% trên tổng số dư nợ.
Những động thái trên của một số ngân hàng đã thể hiện sự thông thoáng, cởi mở trong việc phát triển, phục vụ các đối tượng, đồng thời là những tin tốt lành cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa đang có nhu cầu rất lớn về vốn cho mở rộng qui mô sản xuất kinh doanh, đầu tư cải tiến máy móc, trang thiết bị mới.
Mối quan hệ giữa doanh nghiệp nhỏ và vừa với Ngân hàng trong hoạt động hỗ trợ tín dụng Hiện nay, để tiến hành hoạt động xuất khẩu, các doanh nghiệp nhỏ và vừa ngoài quốc doanh qua điều tra đều có quan hệ với các Ngân hàng, trong đó Ngân hàng quốc doanh vẫn là ngân hàng chiếm ưu thế, có số lượng doanh nghiệp nhỏ và vừa quan hệ hơn hẳn các loại ngân hàng khác. Điều đó được thể hiện dưới đồ thị sau:
- Biểu 2: Tỷ lệ mối quan hệ giữa doanh nghiệp nhỏ và vừa với các ngân hàng trong hoạt
1.3. Đánh giá hoạt động tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa Khóa luận: Thực trạng hoạt động xuất khẩu của DN nhỏ và vừa.
Về lý thuyết, số lượng doanh nghiệp nhỏ và vừa đông đảo với đặc thù ít vốn chính là đối tượng khách hàng đầy tiềm năng của các ngân hàng. Bằng chứng là, ước tính có đến 80% lượng vốn cung ứng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa là từ kênh ngân hàng, song theo điều tra mới đây của Cục Phát triển doanh nghiệp (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), chỉ có 32,38% doanh nghiệp nhỏ và vừa có khả năng tiếp cận được các nguồn vốn của các ngân hàng; 35,24% khó tiếp cận và 32,38% không tiếp cận được. Nguyên nhân của tình trạng trên là vẫn chưa có tiếng nói chung giữa ngân hàng với các doanh nghiệp, đặc biệt là vấn đề cơ chế thế chấp, tín chấp trong vay vốn; ngân hàng chưa thực sự đổi mới về cách phục vụ đối tượng khách hàng này.
Một số chi nhánh ngân hàng còn thụ động trong việc tiếp cận, nắm bắt, phân tích hoạt động của doanh nghiệp nhỏ và vừa. Chính sách khách hàng chưa rõ, chưa sát, thể hiện trong quy định về xếp loại khách hàng; về cho vay, lãi suất, đều chưa có quy định cụ thể theo từng thị trường. Thêm vào đó, sản phẩm cả gói cho doanh nghiệp nhỏ và vừa còn đơn điệu, hạn chế.
Bên cạnh đó, hệ thống công nghệ lạc hậu, phân tán của một số ngân hàng không cho phép tạo ra sản phẩm mới, hiện đại, phù hợp với tính đa dạng của doanh nghiệp nhỏ và vừa…Mặt khác, ngân hàng không phải không có lý khi e ngại đối tượng khách hàng này, bởi doanh nghiệp nhỏ và vừa thường yếu về nguồn nhân lực, tài chính hay khả năng lập dự án còn yếu…
Một nguyên nhân khác là,các doanh nghiệp nhỏ và vừa thường xây dựng báo cáo tài chính mang tính chất đối phó với cơ quan thuế; báo cáo chính thức thường thấp hơn tình trạng thực tế, nên không đảm bảo đủ điều kiện vay vốn ngân hàng. Ngoài ra, do vốn kinh doanh của doanh nghiệp nhỏ và vừa ít, dẫn đến vốn tự có tham gia vào dự án ít và khi đó, ngân hàng không thể không tính đến rủi ro khi đổ vốn vào cùng doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh.
Theo các chuyên gia tài chính – ngân hàng, chìa khoá để giải bài toán này là bản thân các doanh nghiệp nhỏ và vừa phải nâng cao trình độ quản lý, kinh doanh, đặc biệt cần có cơ chế tài chính minh bạch; các NHTM cần đổi mới cung cách cho vay đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa, đẩy mạnh phát triển các sản phẩm, dịch vụ phục vụ cho doanh nghiệp, tích cực tham gia cùng doanh nghiệp từ khâu lập dự án, giám sát thực hiện, thậm chí đào tạo cho doanh nghiệp.
2. Hỗ trợ của Chính phủ Khóa luận: Thực trạng hoạt động xuất khẩu của DN nhỏ và vừa.
2.1. Nghị định 90/2020 về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa
Nghị định 90/2020 được Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 23/11/2020 đã nhận được rất nhiều sự ủng hộ từ phía doanh nghiệp nhỏ và vừa, là kim chỉ nam cho các hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam thời gian qua.
Nghị định xác đinh rõ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa là một nhiệm vụ quan trọng trong Chiến lược phát triển kinh tế- xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Nhà nước khuyến khích và tạo thuận lợi cho doanh nghiệp nhỏ và vừa phát huy tính chủ động sáng tạo, nâng cao năng lực quản lý, phát triển khoa học – công nghệ và nguồn nhân lực, mở rộng các mối liên kết với các loại hình doanh nghiệp khác, tăng hiệu quả kinh doanh và khả năng cạnh tranh trên thị trường; phát triển sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm và nâng cao đời sống cho người lao động.
Các nội dung trợ giúp nêu trong nghị định
- Ra quyết định thành lập Quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa để bảo lãnh cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa khi không đủ tài sản thể chấp, cầm cố, vay vốn của các tổ chức tín dụng.
- Về mặt bằng sản xuất: Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa có mặt bằng sản xuất phù hợp, chỉ đạo dành quỹ đất và thực hiện các chính sách khuyến khích để xây dựng các khu, cụm công nghiệp cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa có mặt bằng xây dựng tập trung cơ sở sản xuất hoặc di rời từ nội thành, nội thị ra, bảo đảm cảnh quan môi trường. doanh nghiệp nhỏ và vừa được hưởng các chính sách ưu đãi trong việc thuê đất, chuyển nhượng, thế chấp và các quyền khác về sử dụng đất đai theo quy định của pháp luật.
- Quy định nhiệm vụ cụ thể của các Bộ, ngành, địa phương trong việc trợ giúp về thị trường, tăng khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp nhỏ và vừa; về xúc tiến xuất khẩu; về thông tin, tư vấn và đào tạo nguồn nhân lực.
- Tổ chức xúc tiến phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa Khóa luận: Thực trạng hoạt động xuất khẩu của DN nhỏ và vừa.
Thành lập Cục phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trực thuộc Bộ kế hoạch và Đầu tư, giúp Bộ trưởng Bộ kế hoạch và đầu tư thực hiện chức năng quản lý nhà nước về xúc tiến phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa. Cục Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa có nhiệm vụ cơ bản bao gồm: giúp Bộ Kế hoạch và Đầu tư định hướng công tác xúc tiến doanh nghiệp nhỏ và vừa (xây dựng, tham gia xây dựng chính sách; tổng hợp xây dựng các chương trình trợ giúp, lập danh mục các đối tượng doanh nghiệp nhỏ và vừa theo ngành nghề, lĩnh vực và địa bàn hoạt động); tổ chức tập huấn nâng cao năng lực cho các cán bộ tổ chức trợ giúp doanh nghiệp nhỏ và vừa; hợp tác quốc tế về xúc tiến phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa; phối hợp với các cơ quan, tổ chức để cung cấp thông tin cần thiết cho doanh nghiệp nhỏ và vừa; phối hợp với các cơ quan, tổ chức liên quan để xúc tiến trợ giúp DNNVV trong việc tư vấn kỹ thuật và tiếp cận công nghệ, trang thiết bị mới, hướng dẫn, đào tạo vận hành quản lý kỹ thuật và quản lý doanh nghiệp.
Thành lập Hội đồng Khuyến khích phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa làm nhiệm vụ tư vấn cho Thủ tướng Chính phủ về cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Thành lập Trung tâm hỗ trợ kỹ thuật doanh nghiệp nhỏ và vừa (thuộc Cục phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa) tại thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và thành phố Đà Nẵng. Trung tâm Hỗ trợ kỹ thuật doanh nghiệp nhỏ và vừa là đơn vị sự nghiệp có thu, có chức năng tư vấn cho Cục phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, là đầu mối tư vấn về công nghệ và kỹ thuật, cải tiến trang thiết bị, hướng dẫn quản lý kỹ thuật và bảo dưỡng trang thiết bị, tạo điều kiện tiếp cận công nghệ trang thiết mới cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Chính phủ khuyến khích việc thành lập và củng cố các tổ chức trợ giúp doanh nghiệp nhỏ và vừa, khuyến khích, tạo điều kiện để các doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia các hiệp hội doanh nghiệp, câu lạc bộ doanh nghiệp.
2.2. Hỗ trợ về vốn và công nghệ Khóa luận: Thực trạng hoạt động xuất khẩu của DN nhỏ và vừa.
- Hỗ trợ về vốn
Như đã phân tích ở trên, vốn luôn là vấn đề bức xúc nhất đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia thị trường toàn cầu. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể tiếp cận với hai Quỹ tín dụng, đó là Quỹ bảo lãnh tín dụng dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa và Quỹ tín dụng hỗ trợ xuất khẩu.
- Quỹ bảo lãnh tín dụng dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa
Trong nghị định 90/2020 ngày 23/11/2020 về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định thành lập Quỹ bảo lãnh tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa để bảo lãnh cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa khi không đủ tài sản thể chấp, cầm cố, vay vốn của các tổ chức tín dụng.
Tiếp theo đó quy chế thành lập, tổ chức và hoạt động Quỹ bảo lãnh tín dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa đã ban hành từ 20/12/2020 theo quyết định 193/2020/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, được các doanh nghiệp nhỏ và vừa rất đồng tình ủng hộ.
Ngay sau khi Quyết định 193 có hiệu lực, các địa phương đã triển khai những biện pháp chuẩn bị cho việc thành lập các Quỹ bảo lãnh tín dụng. Tuy nhiên, đã 5 năm trôi qua, cho đến nay toàn quốc mới chỉ có 3 tỉnh là Yên Bái, Trà Vinh và Đồng Tháp thành lập được Quỹ bảo lãnh tín dụng, hai thành phố lớn nhất cả nước là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh và 60 tỉnh, thành khác chưa thành lập được Quỹ bảo lãnh tín dụng.
- Quy chế tín dụng hỗ trợ xuất khẩu
Ngày 10/9/2020 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định 133/2020/QĐ-TTg về việc ban hành Quy chế tín dụng hỗ trợ xuất khẩu áp dụng với các thành phần kinh tế bao gồm: DNNN, công ty cổ phần, công ty TNHH, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân, hợp tác xã và liên hiệp hợp tác xã, hộ gia đình và các nhân có đăng ký kinh doanh.
Có hai hình thức tín dụng hỗ trợ xuất khẩu, đó là Tín dụng hỗ trợ xuất khẩu trung và dài hạn và Tín dụng hỗ trợ xuất khẩu ngắn hạn. Khóa luận: Thực trạng hoạt động xuất khẩu của DN nhỏ và vừa.
Tín dụng hỗ trợ xuất khẩu trung và dài hạn có 3 nội dung hỗ trợ chính là: (1) Cho vay đầu tư trung và dài hạn; (2) Hỗ trợ lãi suất sau đầu tư (áp dụng với đơn vị có dự án thoả mãn các điều kiện vay ưu đãi đầu tư trung dài hạn, nhưng chưa được vay ưu đãi đầu tư; (3) Bảo lãnh tín dụng đầu tư.
Tín dụng hỗ trợ xuất khẩu ngắn hạn: có hai nội dung chính là: (1) Cho vay ngắn hạn; (2) Bảo lãnh dự thầu và bảo lãnh thực hiện hợp đồng.
- Hỗ trợ về cồng nghệ
Theo Nghị định 90/2020, Trung tâm hỗ trợ kỹ thuật doanh nghiệp nhỏ và vừa (thuộc Cục phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa) được thành lập tại 3 thành phố lớn là thành phố Hà Nôị, thành phố Hồ Chí Minh và thành phố Đà Nẵng. Trung tâm Hỗ trợ kỹ thuật doanh nghiệp nhỏ và vừa là đơn vị sự nghiệp có chức năng tư vấn cho Cục phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, là đầu mối tư vấn về công nghệ và kỹ thuật, cải tiến trang thiết bị, hướng dẫn quản lý kỹ thuật và bảo dưỡng trang thiết bị, tạo điều kiện tiếp cận công nghệ trang thiết mới cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
2.3. Hỗ trợ về quản lý và nhân lực
DNNVV có vai trò quan trọng trong Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, góp phần thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Tuy nhiên, hiện tại, năng lực của các doanh nghiệp nhỏ và vừa còn nhiều hạn chế, việc đào tạo bồi dưỡng nhân lực quản lý cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa còn chưa đáp ứng được yêu cầu; trong khi đó, nhu cầu đào tạo của doanh nhân và các nhà quản lý các doanh nghiệp nhỏ và vừa ngày càng tăng. Nhận thức được tính cấp thiết của việc trợ giúp các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong đào tạo nguồn nhân lực, ngày 10 tháng 8 năm 2023, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 143/2023/QĐ-TTg, phê duyệt Chương trình trợ giúp đào tạo nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn 2023-2027.
Mục tiêu tổng thể của chương trình là nhằm thúc đẩy và tạo điều kiện để các doanh nghiệp nhỏ và vừa tăng khả năng cạnh tranh, đóng góp ngày càng nhiều cho sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của đất nước; phát triển cả về số lượng và chất lượng hệ thống các nhà cung cấp dịch vụ hỗ trợ và phát triển kinh doanh, đăc biệt là dịch vụ tư vấn và đào tạo nguồn nhân lực quản lý để trợ giúp các doanh nghiệp nhỏ và vừa tăng trưởng bền vững. Cụ thể, chương trình cung cấp những kiến thức cần thiết cho chủ doanh nhân, cán bộ quản lý các doanh nghiệp nhỏ và vừa; trợ giúp nhà quản lý các doanh nghiệp nhỏ và vừa kiến thức và kỹ năng xây dựng chiến lược kinh doanh, mở rộng thị trường trong và ngoài nước đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.
2.4. Hỗ trợ về thương hiệu và thị trường Khóa luận: Thực trạng hoạt động xuất khẩu của DN nhỏ và vừa.
- Hỗ trợ về thương hiệu
Nhận thức được tầm quan trọng của thương hiệu trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, ý thức được thực trạng năng lực xây dựng thương hiệu của các doanh nghiệp Việt Nam còn tương đối yếu, chương trình “Thương hiệu quốc gia Việt Nam” với biểu trưng “Vietnam Value Inside” (Giá trị Việt Nam) đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 253/QĐ-TTg ngày 25-11-2022 được kéo dài đến năm 2030. Chương trình “Thương hiệu quốc gia” cho phép các doanh nghiệp được dán biểu trưng bằng tiếng Anh “Vietnam Value Inside” trên các sản phẩm của mình nếu các sản phẩm đó đã có thương hiệu riêng và đạt được các tiêu chí về chất lượng do chương trình quy định. Như vậy, bên cạnh thương hiệu riêng của sản phẩm, các doanh nghiệp đủ tiêu chuẩn sẽ được dán thêm biểu tượng của thương hiệu quốc gia Việt Nam. Theo Cục xúc tiến Thương mại, Bộ Công thương thì mục đích của chương trình là nhằm tăng cường sự nhận biết của các nhà nhập khẩu trên thế giới đối với các sản phẩm mang nhãn hiệu Việt Nam, làm cho các nhà nhập khẩu và người tiêu dùng bên ngoài có một thái độ nhìn nhận tích cực hơn và ưa chuộng hàng Việt Nam hơn.
Nhằm xúc tiến nhanh cho chương trình được đưa vào thực tế, bên cạnh những hoạt động có tính gợi mở giúp doanh nghiệp làm quen với sự cạnh tranh trên thị trường thế giới, trong năm nay, Hội đồng tư vấn quốc gia của chương trình đang xây dựng một “danh sách” các doanh nghiệp đã có thương hiệu mạnh thuộc một số lĩnh vực xuất khẩu chính của Việt Nam như thuỷ sản, giầy dép, dệt may, đồ gỗ… bên cạnh đó, chương trình cũng xúc tiến thực hiện các giải thưởng xuất khẩu của Thủ tướng Chính phủ và các giải thưởng cho công tác xây dựng và phát triển thương hiệu. Đặc biệt đáng chú ý là một loạt các hoạt động đã được tổ chức trong năm 2024 như: Bình chọn 10 nhà quản trị thương hiệu xuất sắc, giải thưởng thiết kế đồ gỗ và nội thất Việt Nam 2024, giải thưởng thiết kế bao bì nông sản thực phẩm 2024, nhà quảng cáo trong năm và công ty quảng cáo trong năm, phim quảng cáo, mẫu quảng cáo in, mẫu quảng cáo ngoài trời hay nhất 2024…
- Hỗ trợ về thị trường
Ngày 01 tháng 8 năm 2020, Bộ tài chính đã ban hành thông tư số 61/2020/TT-BTC hướng dẫn các khoản chi hỗ trợ từ Quỹ hỗ trợ xuất khẩu cho hoạt động phát triển thị trường, đẩy mạnh xúc tiến thương mại tại doanh nghiệp bao gồm: (1) thu nhập thông tin về thị trường, khách hàng và hàng hoá xuất khẩu; (2) thuê tư vấn kinh tế thương mại; (3) hoạt động tìm kiếm thị trường xuất khẩu; (4) tổ chức gian hàng hội chợ, triển lãm tại nước ngoài; (5) đặt trung tâm xúc tiến thương mại Việt Nam ở nước ngoài; (6) đặt văn phòng đại diện doanh nghiệp và Hiệp hội ngành hàng tại Việt Nam ở nước ngoài.
Đối tượng được hỗ trợ là các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh xuất khẩu (thuộc mọi thành phần kinh tế) có số thực thu ngoại tệ hàng năm (ngoại trừ doanh nghiệp hoạt động dịch vụ tổ chức các hoạt động xúc tiến thương mại).
3. Hỗ trợ của các tổ chức nước ngoài Khóa luận: Thực trạng hoạt động xuất khẩu của DN nhỏ và vừa.
3.1. Hỗ trợ về vốn và công nghệ
3.1.1.1 Hỗ trợ về vốn
Vốn là vấn đề quan trọng hàng đầu trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia vào thị trường toàn cầu. Chính vì thế, hàng loạt các chương trình hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa được nhiều tổ chức triển khai. Có thể kể ra một số chương trình tiêu biểu sau đây:
- Quỹ phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEDF)
Quỹ phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEDF) do Liên minh Châu Âu tài trợ và được quản lý bởi Quỹ Hỗ trợ phát triển. Mục tiêu của SMEDF là nhằm cung cấp tín dụng và cải thiện các dịch vụ tài chính cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa và do đó góp phần tạo việc làm và làm tăng thu nhập cho các doanh nghiệp trong nước. Hoạt động cho vay được thực hiện qua các ngân hàng thương mại như Ngân hàng Công thương (ICB), Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ngân hàng Á Châu (ACB), Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam (BIDV).
- Chương trình tài trợ cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa của JBIC
Chương trình này do ngân hàng Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JBIC) tài trợ vốn và được kế hoạch bởi Bộ Kế hoạch và Đầu tư (MPI) và Ngân hàng Nhà nước (SBV). Mục tiêu của chương trình là cung cấp các khoản vay trung và dài hạn đến các doanh nghiệp nhỏ và vừa qua các Ngân hàng trung gian bao gồm: Ngân hàng Công thương, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, Ngân hàng Đông á và Ngân hàng Á Châu.
- Chương trình Phát triển Dự án Mekong (MPDV)
Chương trình phát triển dự án Mekong (MPDF) được thành lập năm 2016 nhằm hỗ trợ phát triển cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam, Lào và Campuchia; đặc biệt hỗ trợ phát triển cho các công ty tư nhân tại Việt Nam. Mặc dù MPDF không cung cấp tài chính, chương trình Hỗ trợ Tư vấn doanh nghiệp (CAA) có thể hỗ trợ cho các nguồn tài trợ vốn đầu tư thông qua việc giúp đỡ chuẩn bị kế hoạch kinh doanh và làm đơn xin vay vốn, tìm ngân hàng cho vay hoặc quỹ đầu tư và hỗ trợ trong việc đàm phán với các tổ chức tài chính, bao gồm các ngân hàng trong và ngoài nước, các công ty cho thuê tài chính và các quỹ đầu tư tư nhân. Khóa luận: Thực trạng hoạt động xuất khẩu của DN nhỏ và vừa.
3.1.1.2 Hỗ trợ về công nghệ
- Tổ chức Dịch vụ chuyên gia cao cấp (SES) của Đức
SES là một tổ chức phi lợi nhuận, được tài trợ bởi Bộ hợp tác và Phát triển kinh tế của Cộng hoà Liên bang Đức. SES tạo điều kiện cho các chuyên gia kỹ thuẫt và các nhà quản lý đã nghỉ hưu người Đức làm công tác tư vấn cho các doanh nghiệp địa phương trong một thời gian ngắn trên tinh thần tự nguyện. Chương trình này bắt đầu tại Việt nam năm 2019 và đã đưa nhiều chuyên gia sang làm việc ở nhiều ngành nghề khác nhau như dệt, nhựa và nông nghiệp. Tất cả các công ty đều có thể tham gia chương trình trong đó các doanh nghiệp nhỏ và vừa thuộc khu vực tư nhân được đặc biệt ưu tiên.
- Tổ chức cung cấp dịch vụ cố vấn hải ngoại của Vương quốc Anh (BESO)
BESO được sự hỗ trợ từ Bộ phát triển quốc tế của chính phủ Anh, chuyên cung cấp chuyên gia tư vấn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa tư nhân và các tổ chức nhà nước ở các nước kém phát triển. Tuỳ theo yêu cầu trợ giúp nhận được, BESO sẽ tìm chuyên gia tự nguyện có kinh nghiệm để thực hiện công tác tư vấn ngắn ngày, từ 2 tuần đến 6 tháng. BESO không yêu cầu tổ chức xin trợ giúp phải trả chi phí ngoại trừ chi phí ăn, ở, đi lại của các chuyên gia tình nguyện trong thời gian làm việc. BESO có khoảng 3.500 chuyên gia trong đó chủ yếu là các nhà chuyên môn đã nghỉ hưu giàu kinh nghiệm và kỹ năng trong nhiều lĩnh vực như: xây dựng, sản xuất đồ gỗ, thủ công mỹ nghệ,…
3.2. Hỗ trợ dịch vụ phát triển kinh doanh
- Hỗ trợ GTZ cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa
GTZ là một tổ chức của chính phủ Đức hoạt động dưới hình thức một công ty dịch vụ hợp tác quốc tế. Tại Việt Nam, GTZ phối hợp làm việc với Trung tâm xúc tiến Thương mại và Dịch vụ (BPSC), phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường và Chất lượng (STAMEQ). Website của GTZ tại Việt Nam.
Các chương trình của GTZ nhằm đạt các mục tiêu sau: Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và vừa; đẩy mạnh các dịch vụ phát triển kinh doanh trong 1 số lĩnh vực đào tạo và tư vấn quản lý, các dịch vụ thông tin internet, quản lý chất lượng, quản lý môi trường và lao động. Khóa luận: Thực trạng hoạt động xuất khẩu của DN nhỏ và vừa.
- Chương trình Phát triển Dự án Mekong (MPDP)
Ngoài các dịch vụ trợ giúp liên quan đến tài chính MPDP tập trung vào các lĩnh vực như: Đào tạo quản lý, cải thiện dịch vụ ngân hàng qua Trung tâm Đào tạo Ngân hàng, hỗ trợ các hiệp hợp doanh nghiệp và hỗ trợ xây dựng cho các nhà tư vấn quản lý.
3.3. Hỗ trợ xúc tiến xuất khẩu
- Chương trình phát triển Khu vực tư nhân (PSD) của DANIDA
Chương trình PSD được tổ chức Viện trợ Phát triển quốc tế Đan Mạch (DANIDA) tài trợ. Chương trình PSD tập trung vào việc thiết lập các mối quan hệ hợp tác lâu dài cùng có lợi giữa các công ty Đan Mạch và các công ty địa phương. Các tiêu chuẩn lựa chọn cho các công ty Việt Nam muốn tham gia chương trình là: (1) Là doanh nghiệp nhỏ và vừa; (2) Các nhà máy sản xuất trong bất kỳ ngành nào; (3) Các công ty TNHH và cổ phần (trừ các công ty liên doanh với công ty nước ngoài); (4) Có lợi nhận trong 2-3 năm vừa qua.
- Tổ chức Xúc tiến Thương mại của Nhật (JETRO)
JETRO được chính phủ Nhật thành lập nhằm giúp các doanh nghiệp nước ngoài phát triển thương mại và những cơ hội kinh doanh khác với các doanh nghiệp Nhật Bản. Mục tiêu của JETRO là: (1) Hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong các hoạt động thương mại và đầu tư quốc tế; (2) Giúp đỡ các nước đang phát triển nhằm phát triển mạng lưới cung cấp linh kiện cho các công ty Nhật Bản; (3) Tạo hội chợ ảo trên mạng của JETRO nhằm giúp đỡ các doanh nghiệp ở các nước đang phát triển sử dụng internet để trưng bày sản phẩm một cách có hiệu quả và liên lạc với các khách hàng tiềm năng tại Nhật; (4) Tổ chức các hội thảo và các lớp đào tạo tại Nhật cho những người cho cả khu vực tư nhân và nhà nước của các nước đang phát triển.
- Chương trình Xúc tiến Nhập khẩu của Thuỵ Sĩ (SIPPO)
Chương trình Xúc tiến Nhập khẩu của Thuỵ Sĩ (SIPPO) nhằm đẩy mạnh xuất khẩu vào Thuỵ Sĩ và các nước Liên minh Châu âu từ các nước đang phát triển.
Ngân sách của chương trình cho Việt Nam là 300.000 USD cho mỗi năm. Chương trình hợp tác với Cục Xúc tiến Thương mại (Vietrade) nhằm hỗ trợ cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam để có thể vào được thị trường Thuỵ Sĩ và Châu Âu thông qua các hoạt động như: Tạo điều kiện gặp gỡ giữa các nhà nhập khẩu Thuỵ Sĩ và xuất khẩu Việt Nam; Cung cấp thông tin về thị trường cho nhiều ngành nghề kinh doanh; Tổ chức các phái đoàn tiếp cận và mua bán; Dịch vụ tư vấn cho việc phát triển sản phẩm và tiếp thị; Hợp tác với Vietrade và các hiệp hội ngành nghề khác trong việc đẩy mạnh xuất khẩu; Xây dựng năng lực cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong việc quản lý chất lượng, tiếp thị và quản lý xuất khẩu.
IV. THỜI CƠ VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TRONG XUẤT KHẨU KHI VIỆT NAM GIA NHẬP WTO
1. Thời cơ và vận hội đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong xuất khẩu khi Việt Nam gia nhập WTO Khóa luận: Thực trạng hoạt động xuất khẩu của DN nhỏ và vừa.
1.1. WTO mở ra cơ hội một cách toàn diện về thị trường hàng hoá, thị trường dịch vụ, thị trường vốn, thị trường công nghệ cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa
- Tạo cơ hội mở rộng thị trường hàng hoá và dịch vụ
Từ lâu nay, thiệt thòi lớn nhất đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam chính là rất khó khăn trong việc tiếp cận thị trường thế giới. Khó khăn đó một phần nguyên nhân là do sự cản trở của các cơ chế chính sách trong nước nhưng nguyên nhân lớn nhất là vì Việt Nam chưa phải là thành viên của WTO. Nhưng khi chúng ta đã gia nhập tổ chức này thì sẽ mở ra một cánh cửa rộng lớn với vô số cơ hội cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Điều đầu tiên mà bất kỳ doanh nghiệp nào cũng nhận thấy khi gia nhập WTO là Việt Nam sẽ được tiếp cận với thị trường toàn cầu trên cơ sở cạnh tranh bình đẳng, không bị rào cản của thuế quan và phi thuế quan, điểm mà doanh nghiệp nào cũng mong muốn. Trong thị trường rộng lớn đó, các doanh nghiệp mặc sức tung hoành với những chiến thuật, chiến lược kinh doanh của mình để khuếch trương qui mô và thu về những nguồn lợi khổng lồ.
Theo qui định của tổ chức thương mại thế giới, các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam sẽ được hưởng các quyền lợi sau:
- Thuế quan và các hàng rào phi thuế quan vào các nước WTO sẽ được giảm đáng kể .
- Không bị phân biệt đối xử thông qua việc được hưởng quy chế tối huệ quốc (MFN) và quy chế đối xử quốc gia (NT).
- Được hưởng ưu đãi, đối xử đặc biệt dành cho các nước đang phát triển. Các quy định đó sẽ mang lại những lợi ích cụ thể sau:
Tăng cường xuất khẩu thông qua việc giả quyết vấn dề tiếp cận thị trường của các thành viên WTO
Khi Việt Nam gia nhập WTO, các doanh nghiệp vừa và nhỏ có nhiều cơ hội hợp tác kinh doanh với nhiều bạn hàng hơn. Bởi lẽ, gia nhập WTO là một “điểm cộng” đối với các doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế trong con mắt của cộng đồng thế giới. Với một môi trường kinh doanh lành mạnh, tuân thủ các quy tắc chung của luật pháp quốc tế, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ nâng cao được uy tín, sự tin tưởng và tính hấp dẫn trong việc hợp tác kinh doanh với đối tác nước ngoài.
Cơ hội mở rộng thị trường xuất khẩu sẽ kéo theo những ảnh hưởng tích cực với các ngành kinh tế trong nước, sản xuất sẽ được mở rộng và tạo ra nhiều công ăn việc làm, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
- Việt Nam sẽ được hưởng một số ưu đãi miễn trừ dành riêng cho các nước đang phát triển góp phần tạo ra lợi thế cạnh tranh cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa Khóa luận: Thực trạng hoạt động xuất khẩu của DN nhỏ và vừa.
Có nhiều hiệp định của WTO đều dành những khoản ưu đãi riêng cho các nước đang phát triển, kém phát triển, các nước có nền kinh tế chuyển đổi (tất cả chiếm 3/4 số thành viên của WTO), chúng gọi là các đối xử đặc biệt và khác biệt. Những ưu đãi dành riêng cho nhóm các nước này được nêu trong các hiệp định về thương mại hàng hoá (liên quan đến: (i) thuế quan, (ii) các biện pháp phi thuế quan như: hạn chế định lượng; trợ cấp và các biện pháp hỗ trợ xuất khẩu của chính phủ trong nông nghiệp, công nghiệp; định giá hải quan; hàng rào kỹ thuật, (iii) các biện pháp tự vệ trong thương mại…), các hiệp định về Thương mại dịch vụ, các hiệp định về thương mại liên quan đến đầu tư…Chúng thường mang tính chất giảm nhẹ so với nghĩa vụ và cam kết chung mà WTO đề ra. Ví dụ như: miễn không phải thực hiện một nghĩa vụ nào đó; mức độ cam kết thấp hơn; các doanh nghiệp cũng cỏ thể chỉ phải chịu một mức thuế xuất khẩu thấp vào thị trường các nước phát triển nếu như nước đó cho Việt Nam hưởng ưu đãi phổ cập GSP,…Các ưu đãi này sẽ góp phần tạo ra lợi thế cạnh tranh nhất định cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa trước các đối thủ cạnh tranh đến từ các nước phát triển.
Tuy nhiên việc được hưởng các ưu đãi này phụ thuộc rất nhiều vào quá trình đàm phán với các đối tác và cách thức vận dụng các quy định ưu đãi của Nhà nước. Và cũng cần phải nhấn mạnh rằng các doanh nghiệp nhỏ và vừa không nên ỷ lại hay trông chờ quá nhiều vào các ưu đãi này, vì trên thực tế chúng ta đã biết các nước thành viên đều gây áp lực để các nước gia nhập phải mở cửa nhiều nhất có thể, hơn nữa các ưu đãi này nếu được hưởng thì cũng có điều kiện, có thời hạn. Điều quan trọng nhất là các doanh nghiệp nhỏ và vừa phải tận dụng được cơ hôị xâm nhập, chiếm lĩnh và mở rộng thị trường bằng cách chủ động nâng cao năng lực cạnh tranh của mình.
- Cơ hội tiếp cận nguồn vốn dồi dào từ bên ngoài
Hầu hết các doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện nay hoạt động chủ yếu là vốn tự có hoặc có chăng chỉ là vay từ bạn bè, người thân quen, bản thân người lao động trong doanh nghiệp và các tổ chức tài chính phi chính thức. Trong khi đó việc tiếp cận các nguồn vốn từ các tổ chức tín dụng chính thức của nhà nước, từ các ngân hàng là rất khó khăn. Các ngân hàng, các tổ chức tín dụng đua nhau tăng lãi suất huy động khiến mặt bằng lãi suất cho vay rất cao, thêm vào đó là điều kiện cho vay thường rất chặt chẽ, các doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng thường bị phân biệt đối xử so với các doanh nghiệp nhà nước. Vốn huy động từ các dự án hay nguồn vốn tài trợ của nước ngoài là rất khan hiếm. Vốn huy động từ thị trường chứng khoán thì các doanh nghiệp nhỏ và vừa không đủ điều kiện. Có thể nói, đa phần các doanh nghiệp nhỏ và vừa có quy mô sản xuất kinh doanh nhỏ lại luôn trong tình trạng thiếu vốn, “khát vốn” cho mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, đầu tư cải tiến máy móc, trang thiết bị mới. Đây là một trở ngại rất lớn đối với sự phát triển của các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Việt Nam không thiếu các nhà kinh doanh giỏi, giàu ý tưởng. Thế nhưng, sự hạn hẹp về nguồn vốn là yếu tố hàng đầu kìm hãm sự phát triển đó.
Gia nhập WTO các doanh nghiệp nhỏ và vừa có nhiều cơ hội trong việc tiếp cận các nguồn vốn để đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh hơn. Mặt khác, khi Việt Nam gia nhập WTO các doanh nghiệp cũng có thể tiếp cận nhiều chương trình, dự án hỗ trợ của các nước và các định chế tài chính quốc tế như: Ngân hàng thế giới (WB), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng phát triển Châu á (ADB),… Khóa luận: Thực trạng hoạt động xuất khẩu của DN nhỏ và vừa.
- Cơ hội tiếp cận với kỹ thuật, công nghệ hiện đại, nâng cao trình độ quản lý và chất lượng nguồn nhân lực
Hội nhập vào WTO cũng đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam có điều kiện làm quen, tiếp cận và ứng dụng các kỹ thuật công nghệ cao cũng như các phương thức, tác phong công nghiệp của các nước công nghiệp phát triển như Hoa kỳ, EU, Nhật Bản. Khoa học, kỹ thuật, công nghệ và cả nguồn nhân lực đều có cơ hội giao lưu tham gia vào sự phân công lao động toàn cầu. Cùng với tăng trưởng mạnh hơn trong thương mại, các hoạt động chuyển giao công nghệ, di chuyển sức lao động, di chuyển vốn sẽ diễn ra sôi động hơn, thuận lợi hơn.
Về vấn đề nhân lực, hội nhập kinh tế quốc tế cũng mang lại cơ hội nâng cao tay nghề cho người lao động và trau dồi kiến thức, nâng cao kinh nghiệm quản lý cho người điều hành quá trình sản xuất. Sức ép của hội nhạp buộc tự thân người lao động phải nâng cao trình độ. Mặt khác thị trường lao động trong những năm tới cũng sẽ phải vận hành lành mạnh hơn, tương thích với các yêu cầu của hội nhập. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng sẽ thuận lợi hơn trong việc thuê và tuyển dụng lao động trong và ngoài nước có chất lượng cao…
1.2. Gia nhập WTO sẽ đem lại cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam tư cách pháp lý đầy đủ và bình đẳng hơn trong thương mại thế giới
Dù quy mô của nền kinh tế Việt Nam so với các nền kinh tế lớn trên thế giới hay quy mô của các doanh nghiệp nhỏ và vừa so với các doanh nghiệp trên thế giới có nhỏ bé đến đâu đi chăng nữa thì các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam cũng sẽ được đối xử bình đẳng trong các tranh chấp thương mại trên thị trường thế giới.
- Được hưởng quy chế MFN và NT:
Một khi đã là thành viên của WTO, chúng ta sẽ được hưởng quy chế tối huệ quốc và đối xử quốc gia một cách vô điều kiện. Theo MFN – Quy chế tối huệ quốc có nghĩa là tất cả các hàng hoá dịch vụ và công ty của các thành viên WTO đều được hưởng một chính sách chung bình đẳng. Theo NT – Quy chế đối xử quốc gia (đãi ngộ quốc gia) là không có sự phân biệt đối xử giữa hàng hoá dịch vụ và các công ty của mình với hàng hoá dịch vụ và các công ty của nước ngoài trên thị trường nội địa. Như vậy, mặt pháp lý các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam sẽ được bình đẳng, không bị phân biệt đối xử với doanh nghiệp ở thị trường nước sở tại hoặc doanh nghiệp của một nước thứ ba.
- Tránh được tình trạng bị xử ép trong các tranh chấp thương mại quốc tế
Việt Nam sẽ có lợi thế hơn trong giải quyết tranh chấp với các đối tác thương mại chính, do tiếp cận được hệ thống giải quyết tranh chấp công bằng và hiệu quả của WTO, tránh tình trạng bị các nước lớn gây sức ép trong các tranh chấp thương mại quốc tế. WTO là diễn đàn thương mại mà ở đó mọi thành viên đều có quyền bảo vệ mình khi có xảy ra tranh chấp. Những luật lệ đã được đưa vào thế giới thương mại, một thế giới mà trước đây những nước yếu không đủ sức kháng cự những nước mạnh. Trở thành thành viên của WTO có nghĩa là các nước còn yếu như Việt Nam có quyền khiếu nại và thương lượng một cách công bằng hơn với các cường quốc dự trên những luật lệ chung đó.
1.3. Môi trường kinh doanh được cải thiện theo hướng tự do, minh bạch, bình đẳng hơn, tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa đầu tư mở rộng sản xuất Khóa luận: Thực trạng hoạt động xuất khẩu của DN nhỏ và vừa.
Bên cạnh những lợi ích kể trên, việc tăng cường hội nhập và gia nhập WTO cũng sẽ tạo điều kiện và tạo áp lực để Việt Nam cải cách chính sách, thể chế luật pháp với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, hoàn thiện cơ chế chính sách…Điều này không chỉ mang lại hiệu quả trong hiện tại mà còn là tiền đề thúc đẩy tăng năng suất và hiệu quả của cả nền kinh tế trong trung hạn và dài hạn. Tác động của việc lành mạnh hoá môI trường kinh doanh mang lại có thể khó lượng hoá được nhưng có thể nói nó mang lại những lợi ích vô cùng to lớn cho các doanh nghiệp.
Đứng trước yêu cầu và sức ép của phát triển kinh tế, toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế và gia nhập WTO thì cùng với hệ thống pháp luật, cơ chế chính sách hiện tại của Việt Nam, nền hành chính quốc gia buộc phải được cải cách và đổi mới theo hướng tương thích và phù hợp với các quá trình này. Điển hình gần đây nhất là sự ra đời của Luật Đầu tư chung, Luật Doanh nghiệp thống nhất, Luật Hải quan, các luật thuế sửa đổi và các cải cách hành chính, cơ chế chính sách. Các doanh nghiệp được mở rộng, tự do, tự chủ kinh doanh và cạnh tranh một cách bình đẳng hơn trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm. Như nhiều chuyên gia nhận định, đây thực sự là việc “cởi trói” cho các doanh nghiệp.
1.4. Tham gia vào WTO sẽ tạo ra sức ép, môi trường và động lực thúc đẩy cho sự phát triển và lớn mạnh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam
Tham gia vào WTO sẽ tạo ra sức ép buộc các doanh nghiệp nhỏ và vừa phải đổi mới, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, tích cực áp dụng các thành tựu khoa học công nghệ và cung cách quản lý, làm ăn mới.
Thông qua việc phải cạnh tranh khốc liệt ngay tại thị trường trong nước và trên thị trường thế giới sẽ buộc các doanh nghiệp nhỏ và vừa phải đuổi kịp và vượt qua các đối thủ cạnh tranh về chất lượng, giá cả, hàng hoá…Chính trong quá trình khó khăn đó, các doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ trưởng thành hơn, bản lĩnh hơn, năng động hơn trong thương mại quốc tế. Và cũng chính trong môi trường cạnh tranh gay gắt, quy luật đào thải sự yếu kém, lạc hậu sẽ không loại trừ bất cứ một doanh nghiệp, một ngành nghề lĩnh vực nào. Đó là một quá trình sàng lọc tự nhiên theo đó, những ngành không có lợi thế đương nhiên sẽ bị phá sản, những doanh nghiệp làm ăn thua lỗ sẽ bị thay thế bởi các doanh nghiệp trong và ngoài nước có đủ khả năng. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ phải tính toán lựa chọn những ngành nghề mà mình có lợi thế so sánh và hệ quả tất yếu là nền sản xuất trong nước sẽ hiệu quả hơn, các nguồn lực sẽ được phân bố hợp lý hơn.
2. Những thách thức đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong xuất khẩu khi Việt Nam gia nhập WTO Khóa luận: Thực trạng hoạt động xuất khẩu của DN nhỏ và vừa.
Hội nhập chỉ là phương tiện phục vụ cho sự nghiệp phát triển chứ không phải là mục đích cuối cùng. Những thoả thuận vừa mới đạt được chỉ là bề nổi, chỉ là vật cản trước mắt trên lộ trình hội nhập. Đồng hành với những cơ hội luôn là những thách thức. Cơ hội càng tốt bao nhiêu thì thách thức càng cam go bấy nhiêu. Sẽ là sai lầm và nguy hiểm nếu chúng ta cho rằng, hậu WTO sẽ chỉ tốt mà thôi. WTO không tự mang lại cơ hội “đổi đời” cho các doanh nghiệp Việt Nam. Trước mắt chúng ta còn bao nhiêu thách thức cần phải vượt qua, nếu không chuẩn bị kỹ sẽ thất bại. “ Cũng như một con tàu, khi ra biển lớn sẽ thênh thang hơn nhưng ắt cũng phải chịu sóng to gió lớn”. Những thách thức đặt ra đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể bắt nguồn từ bên ngoài những cũng có thể bắt nguồn từ chính những điểm yếu của các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam hiện nay.
2.1. Hội nhập WTO trong bối cảnh nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa chưa chuẩn bị đầy đủ hành trang cần thiết
Hội nhập WTO trong bối cảnh nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa còn yếu kém và hạn chế một cách toàn diện về vốn, công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực, tên tuổi thương hiệu, không có được thông tin, kiến thức đầy đủ về WTO, không có nhiều kinh nghiệm kinh doanh trong một thị trường cạnh tranh có tính chất toàn cầu. Thế và lực của các doanh nghiệp nhỏ và vừa còn yếu tại thị trường trong và ngoài nước. Đó là thách thức lớn nhất của các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam.
- Năng lực hội nhập của nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa còn yếu
Năng lực hội nhập của một doanh nghiệp thể hiện qua các yếu tố quan trọng sau: Năng lực về vốn, năng lực công nghệ, năng lực nguồn nhân lực/con người, năng lực tiếp cận thị trường và tạo thương hiệu…
Năng lực hội nhập của mộ quốc gia đều xuất phát từ năng lực hội nhập của doanh nghiệp. Một nền kinh tế có khả năng cạnh tranh cao phải có nhiều doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh tốt và một nền kinh tế muốn hội nhập thành công phải có nhiều doanh nghiệp có khả năng hội nhập. Khóa luận: Thực trạng hoạt động xuất khẩu của DN nhỏ và vừa.
Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của WTO, tham gia vào một sân chơi tầm cỡ toàn cầu nhưng điều đáng lo ngại là các doanh nghiệp nhỏ và vừa (chiếm trên 90% tổng số các doanh nghiệp được thành lập) chưa ý thức được những nguy cơ mà sân chơi đó mang lại, chưa trang bị cho mình một hành trang cần thiết, thậm chí coi công việc hội nhập là công việc của Nhà nước, của các doanh nghiệp lớn.
- Các doanh nghiệp nhỏ và vừa chưa nắm được thông tin, kiến thức đầy đủ về WTO
Với các doanh nghiệp Việt Nam, do chưa được thông tin đầy đủ nên không phải ai cũng sẵn sàng tận dụng thời cơ và thách thức khi hội nhập. Thậm chí không ít doanh nghiệp còn giữ cách nghĩ việc thành công trong kinh doanh là do một số mối quan hệ nào đó mang lại. Với một nền kinh tế hội nhập, đó là một nhầm lẫn.
Đến thời điểm này lẽ ra đã phải tính toán cho những kế hoạch, chiến lược hậu WTO, tuy nhiên, vừa qua tại buổi toạ đàm doanh nhân Việt Nam và những vấn đề mới khi gia nhập WTO do Trung tâm xúc tiến thương mại TP HCM tổ chức, nhiều chuyên gia đã khẳng định, hiện nay đa số các doanh nghiệp chưa có sự hiểu biết sâu sắc về WTO, đồng thời cũng đồng nhất ý kiến cần phải tăng cường hơn nữa cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa hiểu biết về tổ chức thương mại lớn này.
2.2. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ phải đối mặt với áp lực cạnh tranh gay gắt
Thách thức lớn nhất của Việt Nam sẽ vẫn là ở khả năng cạnh tranh của nền kinh tế. Khi Việt Nam gia nhập WTO chắc chắn sức ép cạnh tranh lên toàn bộ nền kinh tế nói chung và các doanh nghiệp nhỏ và vừa nói riêng sẽ tăng lên gấp bội.
Trên thị trường thế giới với nhiều rào cản hữu hình và vô hình vẫn còn tồn tại, có hàng ngàn đối thủ với đủ loại phương thức và thủ đoạn cạnh tranh. Vì vậy việc xâm nhập và chiếm lĩnh thị trường trên thế giới là điều không hề dễ dàng. Nó có thể tạo cơ hội để các doanh nghiệp nhỏ và vừa giải bài toán về thị trường thông qua đẩy mạnh xuất khẩu từ đó mở rộng đầu tư sản xuất kinh doanh nhưng thị trường thế giới cũng đầy rẫy những cạm bẫy và hiểm nguy có thể nhấn chìm bất cứ một doanh nghiệp nào.
Vấn đề đặt ra là các doanh nghiệp cần phải nhìn nhận, phân tích thấu đáo những thuận lợi và bất lợi khi Việt Nam gia nhập WTO. Theo đó, chuẩn bị cho mình những bước đi hợp lý. Vào WTO, Việt Nam sẽ phải thực hiện mở cửa, tự do hoá thương mại, có nghĩa là phải giảm thuế, bỏ hàng rào phi thuế, rồi thực hiện đối xử theo quy chế tối huệ quốc…Khi tất cả các “hàng rào” dựng lên để bảo hộ doanh nghiệp trong nươc không còn, thì việc cạnh tranh với các đối thủ “nặng ký” không phải là điều dễ chịu chút nào. Trước sự thay đổi này, nếu các doanh nghiệp chuẩn bị cho mình trước thì sự thành công trong kinh doanh sẽ rõ rệt hơn. Nhưng nếu doanh nghiệp không có sự chuẩn bị trước, cứ giữ cung cách quản lý như cũ – chờ bao cấp, chờ bảo hộ thì sẽ phải nhiều thua thiệt, thậm chí không thể trụ lại được. Khóa luận: Thực trạng hoạt động xuất khẩu của DN nhỏ và vừa.
2.3. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa phải đối mặt với nguy cơ bị thôn tính từ các công ty lớn
Bước vào sân chơi WTO, các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam sẽ phải chịu áp lực thôn tính không chỉ từ các doanh nghiệp trong nước mà còn từ các doanh nghiệp nước ngoài, khi mà những cam kết mở cửa theo qui định của WTO (hiệp định TRIMS) buộc Việt Nam phải dỡ bỏ sự khống chế về tỷ lệ tham gia của nhà đầu tư nước ngoài từ 49% lên 100%. Thực sự là tầm vóc của các doanh nghiệp Việt Nam quá nhỏ bé so với tiềm lực (tài chính, khoa học kỹ thuật…) quá mạnh của các tập đoàn nước ngoài. Một số vụ thôn tính chỉ nhằm mục đích tạo lợi nhuận tài chính nhanh chóng cho những doanh nghiệp đi thôn tính, nhưng phần lớn các vụ thôn tính công khai được thực hiện cho những mục tiêu chiến lược nhằm chiếm lĩnh thị trường trong nước. Chắc chắn việc thôn tính, sáp nhập, mua lại là một hiện tượng mà chúng ta sẽ được chứng kiến thường xuyên khi Việt Nam gia nhập WTO.
2.4. Thách thức trong việc tuân thủ và đáp ứng các quy định của pháp luật thế giới
- Hệ thống pháp luật thế giới rất phức tạp
Hệ thống pháp luật thế giới vô cùng phức tạp. Trong phạm vi quốc tế các mối quan hệ xã hội phát sinh thường và chủ yếu được chia thành hai nhóm: Nhóm quan hệ xã hội phát sinh giữa các quốc gia với quốc gia và nhóm quan hệ xã hội phát sinh giữa các doanh nghiệp với nhau.
Tổng hợp tất cả các quy tắc điều chỉnh mối quan hệ về thương mại giữa các quốc gia chính là pháp luật thương mại quốc tế. Pháp luật thương mại quốc tế là một bộ phận của công pháp quốc tế nhưng lại có tác động rất lớn đến các doanh nghiệp.
Tổng hợp tất cả các quy tắc điều chỉnh mối quan hệ phát sinh từ hoạt động kinh doanh thương mại của các doanh nghiệp của các nước với nhau là pháp luật kinh doanh quốc tế, nó là một bộ phận của tư pháp quốc tế.
Nguồn luật điều chỉnh quan hệ giữa các bên trong thương mại quốc tế bao gồm bản thân chính thoả thuận của các bên (ví dụ: hợp đồng), nguồn luật quốc gia, các điều ước quốc tế về thương mại hoặc các tập quán thương mại quốc tế hoặc thậm chí là các án lệ.
Phần lớn thương mại trên thế giới hiện nay chịu sự điều chỉnh bởi các luật lệ của WTO. Gia nhập WTO, chính phủ và các doanh nghiệp phải tuân thủ và chấp hành các quy định của WTO một cách vô điều kiện. Mặt khác, các doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng phải hiểu biết và tuân thủ pháp luật của các nước. Dù chịu sự điều chỉnh chung của các hiệp định trong WTO, nhưng hệ thống pháp luật của mỗi nước lại có những điểm phức tạp khác nhau…
Như vậy vấn đề đặt ra là càng xâm nhập thị trường quốc tế thì doanh nghiệp cũng phải thông hiểu luật lệ, càng chịu sự điều chỉnh của nhiều nguồn luật. Việc đáp ứng các yêu cầu này không hề đơn giản.
- Phải đáp ứng các yêu cầu minh bạch hoá trong kinh doanh
Đây là một thách thức đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện nay, vốn vẫn còn quen với cách làm ăn nhỏ lẻ, ít nhiều còn mang dấu ấn của tư duy và cung cách quản trị lạc hậu. Bản thân chủ các doanh nghiệp nhỏ và vừa và người lao động cũng phải nâng cao trình độ, năng lực, nhất là kiến thức về hội nhập. Khóa luận: Thực trạng hoạt động xuất khẩu của DN nhỏ và vừa.
Khi gia nhập WTO, khái niệm thị trường trong nước và ngoài nước cũng sẽ thay đổi, biên giới hay lãnh thổ quốc gia không thể ngăn cản được dòng chu chuyển giao lưu buôn bán, phạm vi hoạt động của các doanh nghiệp vì thế cũng rộng hơn, sức ép mạnh hơn, yêu cầu cao hơn. Vấn đề đặt ra là nhà quản trị trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa phải làm thế nào để đủ tầm bao quát quản lý trong môi trường kinh doanh rộng lớn đó. Muốn trụ vững được không có cách nào khác doanh nghiệp phải nâng cao được năng lực và “sức chiến đấu” của mình.
- Một thách thức rất lớn khác là tuân thủ các hiệp định trong WTO nhất là vấn đề quyền sở hữu trí tuệ
Tuân thủ chấp hành các quy định về sở hữu trí tuệ trong hiệp định TRIPs là một thách thức chung của các nước thành viên đang và chậm phát triển trong WTO. Lẽ đương nhiên về lâu dài việc bảo vệ sở hữu trí tuệ sẽ khuyến khích tự do sáng tạo, có lợi cho các nước. Nhưng trong thời điểm hiện nay, TRIPs đang có xu hướng bất lợi cho các nước đang và chậm phát triển, bởi vì hiện nay thông qua các tập đoàn kinh tế, các công ty xuyên quốc gia, các nước phát triển đang nắm giữ các phát minh sáng chế, công nghệ hiện đại của thế giới. Chi phí để có được các công nghệ hiện đại này thường rất tốn kém, nó nằm ngoài tầm tay của các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Hơn nữa, tiềm lực nhỏ bé không cho phép các doanh nghiệp nhỏ và vừa tự đầu tư mạnh cho nghiên cứu phát triển R&D. Công nghệ của các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và của các doanh nghiệp nhỏ và vừa nói riêng vốn đã lạc hậu rất nhiều so với thế giới lại càng có nguy cơ lạc hậu hơn.
2.5. Thách thức trong việc vượt qua các hàng rào phi thuế quan trong thương mại quốc tế
Gia nhập WTO, hàng rào thuế quan vốn là công cụ gây cản trở thương mại một khi đã được dỡ bỏ sẽ thúc đẩy hoạt động giao lưu buôn bán qua các nước của các doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ trở nên thuận lợi hơn. Tuy nhiên trong thực tế điều này không phải bao giờ cũng đúng. Sự thực là các nước, đặc biệt là các nước phát triển một mặt luôn đi đầu trong việc đòi hỏi phải đàm phán mở cửa thị trường, kêu gọi dỡ bỏ hàng rào thuế quan, cổ xuý cho tự do hoá thương mại nhưng mặt khác lại dung nên những hàng rào bảo hộ tinh vi, phức tạp hơn để bảo hộ sản xuất trong nước họ, trong đó phải kể đến hàng rào kỹ thuật – thứ vũ khí bảo hộ được coi là hiệu quả nhất và lại được phép trong thương mại quốc tế. Chúng đã trở thành hàng rào phi thuế quan hàng đầu cản trở xuất khẩu của các nước đang phát triển. Một điều trớ trêu là càng những nước phát triển thì hàng rào kỹ thuật lại càng tinh vi. Hoa kỳ, Nhật Bản, EU là ba nền kinh tế lớn nhất – đầu tầu thế giới nhưng lại chiếm đa số các hàng rào kỹ thuật. Hàng rào kỹ thuật bao gồm: các quy định về kỹ thuật (các yêu cầu đặc trưng sản phẩm, yêu cầu mã hiệu, nhãn mác, đóng gói, giám định và kiểm dịch…); hàng rào kỹ thuật màu xanh (các biện pháp bảo vệ môi trường); tiêu chẩn về lao động, trách nhiệm xã hội;…
Khi mà thuế quan giảm xuống theo các cam kết của WTO thì hàng rào kỹ thuật sẽ được các nước tích cực sử dụng cho mục đích bảo hộ. Với tính chất phức tạp và tinh vi của mình, các hàng rào kỹ thuật sẽ là một vật cản không nhỏ cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa khi xâm nhập vào thị trường thế giới. Khóa luận: Thực trạng hoạt động xuất khẩu của DN nhỏ và vừa.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>> Khóa luận: Giải pháp hoạt động xuất khẩu của DN nhỏ và vừa

Dịch Vụ Viết Luận Văn Thạc Sĩ 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietthuethacsi.com/ – Hoặc Gmail: dicvuluanvanthacsi@gmail.com
[…] ===>> Khóa luận: Thực trạng hoạt động xuất khẩu của DN nhỏ và vừa […]