Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty Sơn

Rate this post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty Sơn hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Khóa luận: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty Cổ phần thương mại Sơn – Dầu dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

Nội dung chính

LỜI MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Trong nền kinh tế cạnh tranh quyết liệt, doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển được thì đòi hỏi doanh nghiệp phải có tiềm lực về tài chính là vốn.

Vốn là điều kiện không thể thiếu khi tiến hành thành lập doanh nghiệp và tiến hành hoạt động kinh doanh. Ở bất kỳ doanh nghiệp nào, vốn được đầu tư vào quá trình sản xuất kinh doanh nhằm tăng thêm lợi nhuận tăng thêm giá trị của doanh nghiệp.

Hoạt động trong nền kinh tế thị trường với xu thế hội nhập, đối thủ cạnh tranh của các doanh nghiệp không chỉ là các doanh nghiệp trong nước mà còn là các doanh nghiệp nước ngoài. Để có thể nắm bắt được những cơ hội và vượt lên thách thức, đứng vững trong cạnh tranh, các doanh nghiệp phải đưa ra được những quyết định đúng đắn về vấn đề tạo lập quản lý vốn nói chung và vốn lưu động nói riêng sao cho có hiệu quả nhất nhằm đem lại lợi nhuận nhiều nhất cho doanh nghiệp. Vấn đề này không còn là mới nhưng luôn là mối quan tâm của các doanh nghiệp và người quan tâm tới hoạt động kinh doanh.

Nhận thức được tầm quan trọng của việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động đối với sự phát triển của doanh nghiệp bằng những kiến thức tích lũy được trong thời gian học tập, nghiên cứu tại Trường Đại học Thăng Long cùng sự hướng dẫn của giáo viên hướng dẫn – Th.S Vũ Lệ Hằng và thời gian thực tập tại Công ty Cổ phần thương mại Sơn – Dầu, đề tài: “Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty Cổ phần thương mại Sơn – Dầu” đã được lựa chọn làm đề tài khóa luận tốt nghiệp.

2. Mục đích nghiên cứu

  • Một là trình bày những lý luận cơ bản về vốn lưu động và hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại doanh nghiệp.
  • Hai là phân tích thực trạng sử dụng vốn lưu động tại Công ty Cổ phần thương mại Sơn – Dầu và đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty. Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty Sơn.
  • Ba là đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp.
  • Phạm vi nghiên cứu: Thực trạng quản lý và sử dụng vốn lưu động tại Công ty Cổ phần thương mại Sơn – Dầu trong giai đoạn 2023 – 2025.

4. Phương pháp nghiên cứu

  • Các phương pháp: phương pháp so sánh, phương pháp phân tích được sử dụng trong khóa luận.

5. Kết cấu khóa luận

Ngoài mở đầu và kết luận khóa luận gồm 3 chương:

  • Chương 1: Cơ sở lý luận về vốn lưu động và hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp
  • Chương 2: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty Cổ phần thương mại Sơn – Dầu
  • Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty Cổ phần thương mại Sơn – Dầu

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VỐN LƯU ĐỘNG VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP

1.1. Vốn lưu động trong doanh nghiệp

1.1.1. Khái niệm vốn lưu động trong doanh nghiệp

Trong nền kinh tế thị trường, để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh bao giờ cũng cần 3 yếu tố: đối tượng lao động, tư liệu lao động và sức lao động. Có thể nói quá trình sản xuất kinh doanh chính là quá trình kết hợp các yếu tố đó để tạo ra hàng hóa dịch vụ. Khác với tư liệu lao động, đối tượng lao động khi tham gia vào quá trình sản xuất luôn thay đổi hình thái vật chất ban đầu, giá trị của nó được chuyển dịch toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm và được bù đắp khi giá trị của sản phẩm được thực hiện. Những đối tượng lao động nói trên, nếu xét về hình thái hiện vật được gọi là các Tài sản lưu động, còn về hình thái giá trị được gọi là Vốn lưu động của DN. Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty Sơn. 

“Vốn lưu động của DN là số vốn ứng ra để hình thành nên các Tài sản lưu động nhằm đảm bảo cho quá trình kinh doanh của DN được thực hiện thường xuyên, liên tục. Vốn lưu động luân chuyển toàn bộ giá trị ngay trong một lần và được thu hồi toàn bộ, hoàn thành một vòng luân chuyển khi kết thúc một chu kỳ kinh doanh.” [1, tr85]

Vốn lưu động là một yếu tố quan trọng gắn liền với toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Trong quá trình sản xuất kinh doanh, các Tài sản lưu động luôn vận động từ khâu sản xuất sang khâu lưu thông, thay thế và chuyển hóa lẫn nhau, đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được tiến hành liên tục và thuận lợi.

  • Vốn lưu động ròng

Một vấn đề khác liên quan đến Vốn lưu động là Vốn lưu động ròng. VLĐ ròng = Tài sản lưu động – Nợ ngắn hạn

VLĐ ròng phản ánh khả năng rài trợ nguồn vốn thường xuyên cho tài sản cố định của Công ty. Qua việc phân tích Vốn lưu động ròng ta có thể thấy được tính linh hoạt trong việc sử dụng Vốn lưu động ở Công ty, đồng thời thể hiện khả năng thanh toán của Công ty.

1.1.2. Đặc điểm của vốn lưu động trong doanh nghiệp

VLĐ là biểu hiện bằng tiền của Tài sản lưu động nên đặc điểm của Vốn lưu động chịu sự chi phối bởi đặc điểm của Tài sản lưu động. Vì vậy, Vốn lưu động của các doanh nghiệp không ngừng vận động qua các giai đoạn của chu kỳ kinh doanh.

VLĐ trong doanh nghiệp luôn thay đổi hình thái biểu hiện trong quá trình tuần hoàn luân chuyển. Vốn lưu động được chuyển hóa qua nhiều hình thái khác nhau, bắt đầu là tiền tệ sang hình thái vật tư, hàng hóa dự trữ. Đầu tiên, khi tham gia vào quá trình sản xuất, Vốn lưu động thể hiện dưới trạng thái sơ khai của mình là tiền tệ, qua các giai đoạn nó dần chuyển thành các sản phẩm dở dang. Giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh, Vốn lưu động được chuyển hóa vào sản phẩm cuối cùng. Khi sản phẩm này được bán trên thị trường sẽ thu về tiền tệ hay hình thái ban đầu của Vốn lưu động. Quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra liên tục, không ngừng cho nên Vốn lưu động cũng tuần hoàn không ngừng có tính chất chu kỳ tạo thành sự chu chuyển của Vốn lưu động.

VLĐ luân chuyển với tốc độ nhanh. Vốn lưu động hoàn thành một vòng tuần hoàn sau khi kết thúc một chu kỳ sản xuất kinh doanh.

1.1.3. Phân loại vốn lưu động trong doanh nghiệp Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty Sơn.

Trong DN vấn đề tổ chức và quản lý Vốn lưu động có một vai trò quan trọng. Có thể nói, quản lý Vốn lưu động là bộ phận quan trọng của công tác quản lý tài chính của DN. Quản lý Vốn lưu động nhằm đảm bảo sử dụng Vốn lưu động hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả. Do đó, muốn quản lý tốt Vốn lưu động, người ta phải tiến hành phân loại Vốn lưu động theo các tiêu thức sau:

1.1.3.1Phân loại theo hình thái biểu hiện

Theo cách phân loại này Vốn lưu động có thể chia thành:

  • Vốn bằng tiền: bao gồm các khoản vốn tiền tệ như tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, các khoản vốn trong thanh toán, tiền đang chuyển biểu hiện dưới hình thái giá trị.
  • Các khoản phải thu, phải trả: bao gồm các khoản mà doanh nghiệp phải thu của khách hàng, các khoản vốn mà doanh nghiệp phải thanh toán cho khách hàng theo hợp đồng cung cấp, các khoản phải nộp cho Ngân sách Nhà nước hoặc thanh toán tiền công cho người lao động.
  • Vốn vật tư hàng hóa: là các khoản vốn có hình thái biểu hiện bằng hiện vật cụ thể như nguyên, nhiên vật liệu, sản phẩm dở dang, thành phẩm…
  • VLĐ khác: bao gồm các khoản tạm ứng, chi phí trả trước, cầm cố, ký quỹ, ký cược…

Cách phân loại này giúp doanh nghiệp có cơ sở để tính toán và kiểm tra kết cấu tối ưu của Vốn lưu động, dự thảo những quyết định tối ưu về mức tận dụng Vốn lưu động đã bỏ ra, từ đó tìm biện pháp phát huy chức năng các thành phần của Vốn lưu động bằng cách xác định mức dự trữ hợp lý và nhu cầu Vốn lưu động. Mặt khác nó cũng là cơ sở để doanh nghiệp đánh giá khả năng thanh toán của mình.

1.1.3.2. Phân loại theo vai trò của vốn lưu động đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

  • Theo cách phân loại này Vốn lưu động của DN được phân thành 3 loại:

Vốn lưu động trong khâu dự trữ bao gồm các khoản vốn sau: Vốn nguyên vật liệu chính; vốn vật liệu phụ; vốn nhiên liệu; vốn phụ tùng thay thế; vốn vật liệu đóng gói; vốn công cụ, dụng cụ để đảm bảo sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được tiến hành liên tục. Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty Sơn.

Vốn lưu động trong khâu sản xuất bao gồm các khoản vốn: Vốn sản phẩm đang chế tạo; vốn bán thành phẩm tự chế; vốn về phí tổn đợi phân bổ được dùng trong quá trình sản xuất, đảm bảo cho quá trình sản xuất của các bộ phận sản xuất trong dây chuyền công nghệ được liên tục, hợp lý.

Vốn lưu động trong khâu lưu thông bao gồm các khoản vốn:

  • Vốn thành phẩm: Là giá trị những sản phẩm đã được sản xuất xong, đạt tiêu chuẩn kỹ thuật và đã được nhập kho.
  • Vốn bằng tiền: Bao gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, các khoản đầu tư ngắn hạn, các khoản thế chấp, ký cược, ký quỹ ngắn hạn…
  • Vốn trong thanh toán: là các khoản phải thu, tạm ứng phát sinh trong quá trình mua bán vật tư hàng hóa hoặc thanh toán nội bộ.

Việc phân loại Vốn lưu động theo phương pháp này giúp cho việc xem xét, đánh giá tình hình phân bổ của Vốn lưu động trong từng khâu của quá trình chu chuyển Vốn lưu động. Thông qua đó, nhà quản lý sẽ có những biện pháp thích hợp nhằm tạo ra một kết cấu Vốn lưu động hợp lý, tăng tốc độ luân chuyển Vốn lưu động, nâng cao hiệu quả sử dụng Vốn lưu động.

1.1.3.3. Phân loại theo nguồn hình thành vốn lưu động của doanh nghiệp

TSLĐ được tài trợ bởi các nguồn: vốn chủ sở hữu và nợ phải trả. Trong đó, nguồn vốn chủ sở hữu tài trợ chủ yếu cho tài sản cố định, chỉ đầu tư một phần cho nguồn lưu động của doanh nghiệp. Còn các nguồn khác đầu tư cơ bản cho Vốn lưu động.

  • Nguồn vốn chủ sở hữu Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty Sơn.

Là nguồn vốn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, doanh nghiệp có đầy đủ các quyền chiếm hữu, sử dụng, chi phối và định đoạt. Tùy theo loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau mà vốn chủ sở hữu có nội dung cụ thể riêng như: vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước; vốn do chủ doanh nghiệp tư nhân tự bỏ ra; vốn góp cổ phần trong công ty cổ phần; vốn góp từ các thành viên trong doanh nghiệp liên doanh…

Nợ phải trả:

  • Nguồn vốn đi vay: là các khoản Vốn lưu động được hình thành từ vốn vay các ngân hàng thương mại hoặc các tổ chức tài chính khác; vốn thông qua phát hành trái phiếu.
  • Nguồn vốn trong thanh toán: là các khoản nợ khách hàng, DN khác trong quá trình thanh toán.

Việc phân loại này giúp cho ta có thể thấy được kết cấu các nguồn hình thành nên Vốn lưu động của DN. Từ đó, DN có thể chủ động và đưa ra các biện pháp huy động, quản lý và sử dụng Vốn lưu động hiệu quả hơn.

1.1.3.4. Phân loại vốn lưu động theo thời gian huy động và sử dụng vốn

Theo cách này nguồn vốn lưu động được chia thành nguồn vốn lưu động tạm thời và nguồn vốn lưu động thường xuyên.

  • Nguồn vốn lưu động tạm thời là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn chủ yếu để đáp ứng nhu cầu có tính chất tạm thời về vốn lưu động phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh của các DN. Nguồn vốn này bao gồm các khoản vay ngắn hạn ngân hàng, các tổ chức tín dụng và các khoản nợ ngắn hạn khác.
  • Nguồn vốn lưu động thường xuyên là nguồn vốn có tính chất ổn định nhằm hình thành nên Tài sản lưu động thường xuyên cần thiết. Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty Sơn.

Việc phân loại nguồn Vốn lưu động như trên giúp cho nhà quản lý xem xét huy động các nguồn Vốn lưu động một cách phù hợp với thời gian sử dụng để nâng cao hiệu quả tổ chức và sử dụng nguồn Vốn lưu động trong DN mình.

1.1.4. Vai trò của vốn lưu động đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Để tiến hành sản xuất, ngoài Tài sản cố định như máy móc, thiết bị, nhà xưởng… doanh nghiệp phải bỏ ra một lượng tiền nhất định để mua sắm hàng hóa, nguyên vật liệu… phục vụ cho quá trình sản xuất. Như vậy, Vốn lưu động là điều kiện tiên quyết của quá trình sản xuất kinh doanh. Vốn lưu động là công cụ phản ánh, đánh giá quá trình mua sắm, dự trữ, sản xuất, tiêu thụ của doanh nghiệp. Nếu Vốn lưu động bị thiếu hay tốc độ luân chuyển Vốn lưu động chậm sẽ làm trì trệ hoạt động mua bán hàng hóa, làm gián đoạn sản xuất, doanh nghiệp không thể tiến hành mở rộng thị trường, dẫn đến lợi nhuận bị giảm sút, gây ảnh hưởng xấu đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

VLĐ là bộ phận cấu thành nên giá thành sản phẩm, do đặc điểm chu chuyển sẽ chuyển toàn bộ giá trị của nó vào giá trị sản phẩm theo chu kỳ sản xuất kinh doanh mà chu kỳ vận động của nó là cơ sở đánh giá khả năng thanh toán và hiệu quả sử dụng vốn.

VLĐ có đặc điểm là phân bổ trong toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đồng thời chúng lại chu chuyển nhanh nên Vốn lưu động được xem như là công cụ quản lý quan trọng của doanh nghiệp. Nó kiểm tra, kiểm soát, phản ánh tính chất khách quan của hoạt động tài chính, thông qua đó giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệp đánh giá được những điểm mạnh, điểm yếu trong kinh doanh như khả năng thanh toán, tình hình luân chuyển vật tư hàng hóa, tiền vốn từ đó để đưa ra các quyết định tối ưu cho doanh nghiệp.

VLĐ là nguồn lực quan trọng để thực hiện các chiến lược, sách lược kinh doanh. Với nền kinh tế thị trường hiện nay, DN hoàn toàn tự chủ trong sử dụng vốn kinh doanh. Vì thế, Vốn lưu động là yếu tố quyết định đến mở rộng hay thu hẹp quy mô hoạt động của DN.

Qua đây đã cho thấy, tầm quan trọng của Vốn lưu động đối với quá trình sản xuất kinh doanh của DN. Vì vậy, sử dụng và quản lý Vốn lưu động như thế nào để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và dạt được mục tiêu chung vẫn là bài toán khó đối với mỗi doanh nghiệp hiện nay.

1.1.5. Kết cấu vốn lưu động và các nhân tố ảnh hưởng đến kết cấu vốn lưu động Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty Sơn.

Kết cấu Vốn lưu động phản ánh quan hệ tỷ lệ giữa các thành phần Vốn lưu động trong tổng số Vốn lưu động của DN.

VLĐ là một bộ phận của vốn sản xuất kinh doanh, vấn đề tổ chức quản lý, sử dụng Vốn lưu động có hiệu quả sẽ quyết định đến sự tăng trưởng và phát triển của DN, nhất là trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay. DN sử dụng Vốn lưu động có hiệu quả, điều này đồng nghĩa với việc DN tổ chức được tốt quá trình mua sắm dự trữ vật tư, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, phân bổ hợp lý vốn trên các giai đoạn luân chuyển để vốn luân chuyển từ loại này thành loại khác, từ hình thái này sang hình thái khác, rút ngắn vòng quay của vốn.

Trong các DN khác nhau thì kết cấu Vốn lưu động cũng không giống nhau. Việc phân tích kết cấu Vốn lưu động của DN theo các tiêu thức phân loại khác nhau sẽ giúp DN hiểu rõ hơn những đặc điểm riêng về số Vốn lưu động mà mình đang quản lý và sử dụng. Từ đó xác định đúng các trọng điểm và biện pháp quản lý Vốn lưu động có hiệu quả hơn phù hợp với điều kiện cụ thể của DN.

  • Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến kết cấu của Vốn lưu động, tuy nhiên có thể chia làm ba nhân tố chủ yếu sau:

Các nhân tố về mặt sản xuất: Quy trình công nghệ, quy mô sản xuất; độ dài của chu trình sản xuất; trình độ tổ chức quá trình sản xuất; khả năng nguyên vật liệu phục vụ cho quá trình sản xuất; tay nghề, cán bộ công nhân viên (tay nghề thành thạo thì năng suất cao, tiết kiệm nguyên vật liệu hơn); tính phức tạp của sản phẩm (sản phẩm phức tạp đòi hỏi nhu cầu nhiều hơn về nguyên vật liệu, công cụ, dụng cụ). Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty Sơn.

Các nhân tố về việc cung ứng nguyên vật liệu và tiêu thụ sản phẩm: Phụ thuộc vào mối quan hệ giữa đơn vị cung ứng và đơn vị được cung ứng, thể hiện ở khoảng cách giữa DN với nơi cung cấp: khoảng cách giữa DN với nhà cung cấp càng xa thì việc dự trữ vật tư, hàng hóa, thành phẩm càng lớn; Uy tín: cơ sở cung cấp vật tư có uy tín, đảm bảo về thời gian cũng như chất lượng vật tư thì DN không phải dự trữ quá nhiều nguyên vật liệu, tỷ trọng nguyên vật liệu cũng ít đi và ngược lại; Khả năng cung cấp của thị trường: nếu là loại vật tư khan hiếm thì phải dự trữ nhiều và ngược lại; Kỳ hạn giao hàng và khối lượng vật tư được cung cấp mỗi lần giao hàng: nếu việc cung cấp thường xuyên và khối lượng nhiều thì dự trữ ít hơn và ngược lại; Đặc điểm của sản phẩm: nếu là sản phẩm mới tung ra thị trường thì không nên sản xuất quá nhiều và ngược lại.

Các nhân tố về mặt thanh toán: Đây là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến kết cấu Vốn lưu động trong lưu thông. Phương thức thanh toán hợp lý, thủ tục thanh toán nhanh gọn, không để khách hàng nợ nhiều sẽ giảm tỷ trọng các khoản phải thu. Việc chấp hành kỷ luật thanh toán, thực hiện hợp đồng thanh toán tốt hay chưa tốt, lựa chọn hình thức thích hợp hay chưa cũng ảnh hưởng đến kết cấu Vốn lưu động, chẳng hạn nếu lựa chọn hình thức thanh toán bằng tiền mặt thì kết cấu vốn nghiêng về tiền mặt tại quỹ…

Ngoài các nhân tố nêu trên, kết cấu Vốn lưu động còn lệ thuộc vào tính chất thời vụ sản xuất, trình độ tổ chức và quản lý của DN.

1.1.6. Nhu cầu vốn lưu động và các phương pháp xác định nhu cầu vốn lưu động

Một nhiệm vụ cơ bản được đặt ra cho doanh nghiệp là với khối lượng sản phẩm sản xuất theo kế hoạch được dự tính theo nhu cầu thị trường làm thế nào để có được một tỷ lệ đúng đắn giữa số Vốn lưu động so với kết quả sản xuất. Điều đó có nghĩa là làm thế nào để tăng cường được hiệu quả của số Vốn lưu động bỏ ra, muốn vậy DN phải xác định được nhu cầu Vốn lưu động một cách đúng đắn hợp lý. Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty Sơn.

Để xác định nhu cầu Vốn lưu động thường xuyên cần thiết, DN có thể sử dụng các phương pháp khác nhau tùy theo điều kiện cụ thể DN có thể lựa chọn phương pháp thích hợp.

  • Phương pháp trực tiếp xác định nhu cầu Vốn lưu động

Nội dung chủ yếu của phương pháp này là căn cứ vào các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến việc dự trữ vật tư, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm để xác định nhu cầu của từng khoản Vốn lưu động trong từng khâu rồi tổng hợp lại nhu cầu Vốn lưu động của DN.

Ưu điểm của phương pháp này là xác định được nhu cầu cụ thể của từng loại vốn trong từng khâu kinh doanh, tạo điều kiện tốt cho việc quản lý, sử dụng vốn theo từng loại trong từng khâu sử dụng. Công thức như sau:

  • Trong đó: Vnc : Nhu cầu Vốn lưu động của DN
  • M: Mức tiêu dung bình quân một ngày của loại vốn được tính toán
  • N: Số ngày luân chuyển của loại vốn được tính toán

Mức tiêu hao bình quân một ngày (M) được tính bằng tổng mức tiêu dùng trong kỳ (theo dự tính chi phí) chia cho số ngày trong kỳ (360).

Số ngày luân chuyển một loại vốn (N) được xác định căn cứ vào các nhân tố liên quan về số ngày luân chuyển của loại vốn đó trong từng khâu tương ứng.

  • Phương pháp gián tiếp xác định nhu cầu vốn lưu động

Phương pháp này dựa vào thống kê kinh nghiệm để xác định nhu cầu vốn. Dựa vào tình hình thực tế sử dụng Vốn lưu động ở thời kỳ vừa qua của DN để xác định nhu cầu chuẩn về Vốn lưu động cho các thời kỳ tiếp theo.

Nội dung chủ yếu của phương pháp này là dựa vào mối quan hệ giữa các yếu tố hợp thành nhu cầu Vốn lưu động gồm: Hàng tồn kho, nợ phải thu từ khách hàng và nợ phải trả nhà cung cấp với doanh thu thuần của kỳ vừa qua để xác định tỷ lệ chuẩn nhu cầu Vốn lưu động tính theo doanh thu và sử dụng tỷ lệ này để xác định nhu cầu Vốn lưu động cho các kỳ tiếp theo.

Phương pháp này thực hiện theo trình tự sau: Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty Sơn.

  • Xác định số dư bình quân các khoản hợp thành nhu cầu Vốn lưu động trong năm báo cáo .
  • Xác định tỷ lệ các khoản trên so với doanh thu thuần trong năm báo cáo. Trên cơ sở đó xác định tỷ lệ nhu cầu Vốn lưu động so với doanh thu thuần.
  • Xác định nhu cầu Vốn lưu động cho kỳ kế hoạch.

Phương pháp ước tính nhu cầu Vốn lưu động bằng tỷ lệ phần trăm trên doanh thu

Xác định nhu cầu Vốn lưu động theo phương pháp này căn cứ vào các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến việc dự trữ nguyên vật liệu, sản phẩm và tiêu thụ sản phẩm để xác định nhu cầu cho từng khoản Vốn lưu động trong từng khâu rồi tổng hợp lại toàn bộ nhu cầu Vốn lưu động của DN. Phương pháp này tương đối phức tạp và mất thời gian, tuy nhiên nó lại tạo điều kiện tốt cho việc quản lý, sử dụng vốn theo từng loại trong từng khâu sử dụng. Các bước tiến hành phương pháp:

Bước 1: Xác định số dư bình quân hợp thành nhu cầu Vốn lưu động trong năm báo cáo. Khi xác đinh số dư bình quân cần phải phân tích tình hình để loại trừ các số liệu không hợp lý.

Bước 2: Xác định tỷ lệ phần trăm của từng khoản mục so với doanh thu thuần trong báo cáo kết quả kinh doanh. Trên cơ sỏ đó, xác định tỷ lệ nhu cầu Vốn lưu động so với doanh thu thuần.

Bước 3: Xác định nhu cầu Vốn lưu động trong năm kế hoạch.

1.2. Nội dung quản lý vốn lưu động trong doanh nghiệp Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty Sơn.

Quản lý Vốn lưu động là một hoạt động trọng yếu trong công tác quản lý tài chính DN, quản lý Vốn lưu động không những đảm bảo sử dụng Vốn lưu động hợp lý, tiết kiệm mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc giảm chi phí, đồng thời thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm và thanh toán tiền kịp thời cho nhân viên. Do đặc điểm của Vốn lưu động là luân chuyển nhanh, sử dụng linh hoạt nên góp phần quan trọng đảm bảo sản xuất ra một khối lượng hàng hóa. Vì vậy, kết quả hoạt động chủ yếu của DN tốt hay xấu một phần lớn là do chất lượng công tác quản lý Vốn lưu động quyết định.

1.2.1. Chính sách quản lý vốn lưu động

Mỗi DN có thể lựa chọn một chính sách quản lý Vốn lưu động riêng, phù hợp với cơ cấu vốn cũng như đặc điểm kinh doanh của từng DN, điều đó dẫn tới việc quản lý Vốn lưu động tại mỗi DN sẽ mang những đặc điểm khác nhau. Tuy vậy, chính sách quản lý Vốn lưu động sẽ dựa trên nguyên tắc chung đó là: kết hợp mô hình quản lý Tài sản lưu động và mô hình quản lý nợ ngắn hạn của DN. Dựa trên nguyên tắc đó, DN thường áp dụng ba chính sách quản lý Vốn lưu động cơ bản: chính sách cấp tiến, chính sách thận trọng và chính sách dung hòa.

Chính sách quản lý Vốn lưu động cấp tiến: đây là chính sách kết hợp giữa mô hình quản lý tài sản cấp tiến và nợ cấp tiến. Doanh nghiệp nguồn vốn ngắn hạn để tài trợ cho Tài sản lưu động và một phần Tài sản cố định. Ưu điểm: chi phí huy động vốn thấp hơn do các khoản phải thu khách hàng ở mức thấp, chi phí hoạt động cũng ở mức thấp; dễ huy động hơn do nguồn vốn huy động chủ yếu từ nguồn ngắn hạn (thời gian sử dụng dưới 1 năm). Nhược điểm: khả năng thanh toán ngắn hạn của công ty không được đảm bảo (công ty duy trì mức Tài sản lưu động thấp nhất) nên rủi ro trong thanh toán.

Chính sách quản lý Vốn lưu động thận trọng: là sự kết hợp giữa mô hình quản lý tài sản thận trọng và nợ thận trọng. DN luôn duy trì Tài sản lưu động ở mức tối đa và nợ ngắn hạn ở mức thấp. Do đó, DN sử dụng nguồn vốn dài hạn để tài trợ cho Tài sản cố định và một phần Tài sản lưu động. Ưu điểm: rủi ro trong thanh toán thấp vì khả năng thanh toán được đảm bảo (DN luôn duy trì Tài sản lưu động ở mức tối đa luôn đủ để trả các khoản nợ ngắn hạn). Nhược điểm: chi phí huy động vốn cao hơn do các khoản phải thu khách hàng ở mức cao nên chi phí quản lý cũng cao, lãi suất cho vay dài hạn cao hơn lãi suất cho vay ngắn hạn; khó huy động vốn (nguồn vốn dài hạn thường khó huy động).

Chính sách quản lý Vốn lưu động dung hòa: dùng nguồn vốn ngắn hạn tài trợ cho tài sản ngắn hạn, dùng nguồn vốn dài hạn tài trợ cho tài sản dài hạn (thông thường trên lý thuyết mới có). Ưu điểm: khả năng thanh toán ngắn hạn của công ty được đảm bảo, đồng thời không mất phần chênh lệch chi phí lãi suất.

1.2.2. Quản lý vốn bằng tiền Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty Sơn.

Trong quá trình sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp luôn có nhu cầu dự trữ vốn tiền mặt ở một quy mô nhất định. Quy mô vốn tiền mặt là kết quả thực hiện nhiều quyết định kinh doanh trong thời kỳ trước. Nhiệm vụ quản trị vốn tiền mặt không chỉ là đảm bảo cho DN có đủ lượng vốn tiền mặt cần thiết để đáp ứng kịp thời các nhu cầu thanh toán mà quan trọng hơn là tối ưu hóa số vốn tiền mặt hiện có, giảm tối đa các rủi ro về lãi suất hoặc tỷ giá hối đoái và tối ưu hóa việc đi vay ngắn hạn hoặc đầu tư kiếm lời.

  • Lập dự toán ngân sách tiền mặt

Ngân sách tiền mặt là các dự án lưu chuyển tiền tệ, cho thấy thời điểm và số lượng luồng tiền mặt vào và ra trong một thời kỳ (thường là một tháng). Mục đích lập dự toán này để các nhà quản trị tài chính có khả năng tốt hơn về xác định nhu cầu tiền mặt tương lai, hoạch định để tài trợ cho các nhu cầu tái sản xuất, thực hiện kiểm soát tiền mặt và khả năng thanh toán của DN. Việc này được thực hiện dựa trên tính xác thực của những dự báo về doanh số bán và phụ thuộc rất nhiều vào một bảng kế hoạch ngân sách rõ ràng và chi tiết.

  • Xác định mức dự trữ tiền mặt hợp lý

Mức dự trữ tiền mặt hợp lý cần được xác định sao cho DN có thể tránh được các rủi ro do không có khả năng thanh toán ngay, phải gia hạn thanh toán nên bị phạt hoặc phải trả lãi cao hơn, không làm mất khả năng mua chịu của nhà cung cấp, tận dụng các cơ hội kinh doanh có lợi nhuận cao cho DN.

  • Xác định và quản lý lưu lượng tiền mặt Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty Sơn.

Dự trữ tiền mặt (tiền tại quỹ và tiền trên tài khoản thanh toán tại ngân hàng) là điều tất yếu mà DN phải làm để đảm bảo việc thực hiện các giao dịch kinh doanh hàng ngày cũng như đáp ứng nhu cầu về phát triển kinh doanh trong từng giai đoạn. Lượng tiền mặt dự trữ tối ưu của DN phải thỏa mãn được ba nhu cầu chính: chi cho các khoản phải trả phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh hàng ngày của DN như: trả cho nhà cung cấp hàng hóa hoặc dịch vụ, trả lương cho người lao động, trả thuế; dự phòng cho các khoản chi ngoài kế hoạch; dự phòng cho các cơ hội phát sinh ngoài dự kiến khi thị trường có sự thay đổi đột ngột.

  • Mức dự trữ vốn tiền mặt tối ưu

Tính toán và xây dựng các bảng hoạch định ngân sách giúp DN ước lượng được khoảng định mức ngân quỹ là công cụ hữu hiệu trong việc dự báo thời điểm thâm hụt ngân sách để DN chuẩn bị nguồn bù đắp cho các khoản thiếu hụt này.

  • Mô hình Baumol

Các DN cần có những biện pháp quản lý tiền hiệu quả và hợp lý, một trong những phương pháp quản lý tiền là áp dụng mô hình Baumol để xác định lượng tiền mặt tối ưu cần dự trữ trong DN là bao nhiêu, thông qua việc xác định chi phí giao dịch và chi phí cơ hội cho việc giữ tiền. Với các giả định sau: Nhu cầu về tiền trong DN ổn định; không có dự trữ tiền mặt cho mục đích an toàn; DN có hai hình thức dự trữ là tiền mặt và chứng khoán khả thị; không có rủi ro trong hoạt động đầu tư chứng khoán. Mô hình này xác định mức tiền mặt mà tại đó, tổng chi phí của việc giữ tiền là nhỏ nhất.

  • Tổng chi phí (TC) bao gồm chi phí giao dịch và chi phí cơ hội.
  • Chi phí giao dịch (TrC): là chi phí liên quan đến việc chuyển đổi từ tài sản đầu tư thành tiền mặt sẵn sàng cho chi tiêu.

TrC = T/C × F

Trong đó:

  • T: Tổng nhu cầu về tiền trong năm C: Quy mô một lần bán chứng khoán
  • F: Chi phí cố định của một lần bán chứng khoán
  • Chi phí cơ hội (OC): là chi phí mất đi do giữ tiền mặt, khiến cho tiền không được đầu tư vào mục đích sinh lời.

OC = C/2 × K Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty Sơn.

Trong đó: C/2: Mức dự trữ tiền mặt trung bình K : Lãi suất đầu tư chứng khoán

  • Đồ thị 1.1. Đồ thị mức dự trữ tiền

Tổng chi phí (TC): TC = TrC + OC = T/C*F + C/2*K

  • Đồ thị 1.2 Mức dự trữ tiền mặt tối ưu

Theo mô hình Baumol, khi vốn bằng tiền xuống thấp, DN bán chứng khoán để thu tiền về, từ đó DN phải mất chi phí giao dịch cho mỗi lần bán chứng khoán. Ngược lại, khi DN dự trữ vốn bằng tiền thì DN sẽ mất khoản tiền thu được do không đầu tư chứng khoán hay gửi tiết kiệm.

  • Mô hình Miller – Orr

Do mô hình Baumol áp dụng với những giả định nhất định nên không phù hợp với các DN mang tính chất thời vụ, có lượng vốn bằng tiền phát sinh không đều. Do đó, mức dự trữ trữ tiền mặt còn được xác định bằng mô hình Miller – Orr.

  • Đồ thị 1.3 Sự vận động vốn bằng tiền theo mô hình Miller – Orr

Giống như mô hình Baumol, mô hình Miller – Orr xác định tồn quỹ dựa vào chu phí giao dịch và chi phí cơ hội. Chi phí giao dịch là F: là chi phí liên quan đến việc mua bán chứng khoán ngắn hạn để chuyển đổi từ từ tài sản đầu tư cho mục đích sinh lời ra tiền mặt nhằm mục đích thanh toán. Chi phí giao dịch cố định cho mỗi lần giao dịch không phụ thuộc vào doanh số mua bán chứng khoán ngắn hạn. Chi phí cơ hội do giữ tiền mặt là K bằng với lãi suất ngắn hạn.

Khác với mô hình Baumol, trong mô hình Miller – Orr, số lần giao dịch của mỗi thời kỳ là số ngẫu nhiên, thay đổi phụ thuộc vào sự biến động của luồng thu chi tiền mặt. Kết quả là chi phí giao dịch phụ thuộc vào tồn quỹ kỳ vọng.

Với tồn quỹ thấp nhất L đã cho, giải thích mô hình Miller – Orr, chúng ta tìm được tồn quỹ mục tiêu Z và giới hạn trên H.

  • H* = 3Z* – 2L

Trong đó Z*, H* chỉ giá trị tối ưu và 𝛿2 là phương sai của dòng tiền mặt hàng ngày. Vậy tồn quỹ trung bình theo mô hình Miller – Orr là: Ctrung bình = (4Z – L)/3

Tuy nhiên, để sử dụng mô hình Miller – Orr DN cần phải làm các việc sau: Thiết lập giới hạn dưới cho tồn quỹ (Giới hạn này liên quan đến mức độ an toàn chi tiêu do ban quản lý quyết định); ước lượng độ lệch chuẩn của dòng tiền thu chi hàng ngày; quyết định mức lãi suất để xác định chi phí giao dịch hàng ngày; ước lượng chi phí giao dịch liên quan đến việc mua bán chứng khoán ngắn hạn.

1.2.3. Quản lý hàng tồn kho Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty Sơn.

Hàng tồn kho là tất cả các nguồn lực dự trữ nhằm đáp ứng cho nhu cầu hiện tại hoặc tương lai. Hàng tồn kho không chỉ có tồn kho thành phẩm mà còn có tồn kho sản phẩm dở dang, tồn kho nguyên vật liệu, linh kiện và tồn kho công cụ dụng cụ dùng trong sản xuất…

Trong một DN, hàng tồn kho bao giờ cũng là một trong những tài sản có giá trị lớn nhất trên tổng giá trị tài sản của DN đó. Chính vì lẽ đó, việc kiểm soát tốt hàng tồn kho luôn là một vấn đề hết sức cần thiết và chủ yếu trong quản lý Vốn lưu động.

  • Mô hình quản lý hàng tồn kho hiệu quả – Mô hình EOQ

Mô hình EOQ là một mô hình quản trị tồn kho mang tính định lượng, có thể sử dụng nó để tìm mức tồn kho tối ưu cho DN. Theo mô hình này, có 2 loại chi phí thay đổi theo lượng đặt hàng là chi phí lưu kho và chi phí đặt hàng. Như vậy mục tiêu của mô hình này nhằm tối thiểu hóa tổng chi phí đặt hàng và chi phí lưu kho, hai chi phí này phản ứng ngược chiều nhau.

Chi phí đặt hàng: gồm các khoản chi phí quản lý, giao dịch và vận chuyển hàng hóa. Chi phí cho mỗi lần đặt hàng giả sử như nhau không phụ thuộc vào số hàng hóa mua mà chỉ phụ thuộc vào số lần mua hàng.

Công thức tính: Chi phí đặt hàng = S/Q × O

Trong đó:

  • S: Sản lượng cần đặt (nhu cầu về hàng hóa)
  • Q: Lượng hàng đặt 1 lần
  • O: Chi phí 1 lần đặt hàng S/Q : Số lần đặt hàng

Chi phí lưu giữ hàng tồn kho: gồm các khoản chi phí hoạt động và chi phí tài chính. Những khoản này luôn thay đổi đồng biến theo sự thay đổi của hàng tồn kho.

  • Công thức tính: Chi phí dự trữ = Q/2 × C

Trong đó:

  • Q/2 : Mức lưu kho trung bình
  • C : Chi phí dự trữ kho trong 1 đơn vị hàng lưu kho

Mô hình EOQ được xây dựng dựa trên các giả định cơ bản: Nhu cầu hàng tồn kho là đều đặn; giá mua hàng hóa mỗi lần đều bằng nhau; không có yếu tố chiết khấu thương mại; không tính đến dự trữ an toàn.

Từ đó, tổng chi phí được xác định: Tổng chi phí (TC) = Chi phí đặt hàng + Chi phí dự trữ

  • Đồ thị 1.4 Lượng hàng hóa dự trữ

Tổng chi phí tối thiểu chính là mức lưu kho tối ưu (Q*) tương đương với TCmin

Q* = √(2×S×O)/C

  • Đồ thị 1.5 Mức dự trữ kho tối ưu Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty Sơn.

Tuy nhiên, nhằm đề phòng những bất trắc xảy ra, bảo đảm cho sự ổn định sản xuất, doanh nghiệp cần tồn kho một lượng nhất định gọi là dự trữ an toàn. Lượng dự trữ an toàn này tùy thuộc vào tình hình thực tế của doanh nghiệp, tính chất của hàng tồn kho, điều kiện vận chuyển. Lượng dự trữ an toàn chính là lượng dự trữ thêm vào lượng hàng hóa dự trữ tại thời điểm đặt hàng.

  • Mô hình quản lý hàng tồn kho ABC

Đây là mô hình quản lý hàng tồn kho dựa trên cơ sở áp dụng mức độ quản lý khác nhau với các nhóm lưu kho có giá trị cao (thấp) khác nhau.

  • Đồ thị 1.6 Mô hình quản lý hàng ABC

Theo phương pháp này, các loại vật tư được chia thành ba nhóm chính:

  • Nhóm A: bao gồm những hàng hóa có giá trị hàng năm chiếm 50% so với tổng giá trị tồn kho, trong khi đó số lượng chỉ chiếm khoảng 10% lượng hàng tồn kho.
  • Nhóm B: bao gồm những hàng hóa có giá trị hàng năm chiếm 35% so với tổng giá trị tồn kho, trong khi đó số lượng chỉ chiếm khoảng 30% lượng hàng tồn kho.
  • Nhóm C: bao gồm những hàng hóa có giá trị hàng năm chiếm 15% so với tổng giá trị tồn kho, trong khi đó số lượng chỉ chiếm khoảng 60% lượng hàng tồn kho.

Phương pháp phân tích ABC cho phép ra những quyết định quan trọng liên quan đến dự trữ, mua hàng, nhà cung cấp và kiểm tra dữ liệu tồn kho. Cụ thể:

  • Quyết định về dự trữ: những sản phẩm thuộc nhóm A sẽ là đối tượng được đầu tư, lập kế hoạch thận trọng nghiêm túc hơn về nhu cầu. Những sản phẩm thuộc nhóm B có thể kiểm soát bằng cách kiểm kê liên tục, còn các sản phẩm thuộc nhóm C thì kiểm kê định kỳ.
  • Quyết định về việc mua hàng: các sản phẩm thuộc nhóm A là đối tượng tìm kiếm và để đánh giá kỹ càng người cung ứng và phải được phân tích về mặt giá trị hàng hóa. Các sản phẩm nhóm A phải giao cho những người có kinh nghiệm; còn nhóm C có thể giao cho người mới vào nghề.
  • Quyết định về nhà cung cấp: nhà cung cấp thuộc nhóm A phải được theo dõi đặc biệt. Sự so sánh ABC về khách hàng và nhà cung cấp giúp doanh nghiệp thấy được mối quan hệ tương tác.
  • Quyết định về kiểm tra dữ liệu tồn kho: Với nhóm A: kiểm kê kho 1 lần/tháng; nhóm B: kiểm kê kho 1 lần/quý; nhóm C: kiểm kê kho 1 lần/ năm.

1.2.4. Quản lý các khoản phải thu Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty Sơn.

Theo dõi và thực hiện việc thu nợ chiếm phần không nhỏ trong quản lý Vốn lưu động. Thời gian thu hồi nợ càng ngắn thì DN càng có nhiều tiền để quay vồng vốn, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.

  • Xây dựng chính sách thương mại

Nguyên tắc cơ bản để đưa ra chính sách tín dụng đó là: khi lợi ích của việc cấp tín dụng lớn hơn chi phí phát sinh thêm, DN nên cấp tín dụng. Lợi ích của việc cấp tín dụng nhỏ hơn chi phí phát sinh, DN nên thắt chặt chính sách tín dụng. Trường hợp cả lợi ích và chi phí đều giảm thì DN cần xem xét phần chi phí tiết kiệm được có đủ bù đắp cho phần lợi ích bị giảm đi không.

Khi xây dựng chính sách bán chịu, DN cần đánh giá kỹ ảnh hưởng của chính sách tới lợi nhuận của DN theo các tiêu thức sau: dự kiến quy mô sản phẩm hàng hóa dịch vụ tiêu thụ; giá bán thành phẩm nếu bán chịu hoặc không bán chịu; các chi phí phát sinh do việc tăng thêm các khoản nợ; đánh giá mức chiết khấu (thanh toán) có thể chấp nhận được.

  • Phân tích năng lực tín dụng của khách hàng

Để thực hiện việc cấp tín dụng cho khách hàng thì điều đầu tiên DN phải phân tích được năng lực tín dụng của khách hàng.

Ngoài ra, khi phân tích khả năng tín dụng của khách hàng DN cần lưu ý đến các tiêu chuẩn sau: phẩm chất, tư cách tín dụng; năng lực trả nợ; vốn của khách hàng; tình hình chung của nền kinh tế; tài sản thế chấp, cầm cố.

  • Phân tích đánh giá khoản tín dụng được đề nghị

Sau khi phân tích năng lực tín dụng của khách hàng, DN sẽ xem xét các khoản tín dụng mà khách hàng đề nghị dựa vào chỉ tiêu NPV. Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty Sơn.

  • Quyết định tín dụng khi xem xét một phương án cấp tín dụng

Sau khi tính toán chỉ tiêu NPV, DN đưa ra quyết định: NPV > 0 : cấp tín dụng

NPV < 0 : không cấp tín dụng NPV = 0 : bàng quan

  • Bảng 1.1. Quyết định khi xem xét hai phương án cấp tín dụng

Các biện pháp quản lý các khoản phải thu khách hàng:

  • Theo dõi thời gian thu tiền trung bình (ACP)

Theo dõi sự thay đổi của thời gian thu tiền trung bình sẽ giúp DN kịp thời đưa ra điều chỉnh về chính sách tín dụng và thu tiền. Tuy nhiên, đây lại là một chi tiêu chịu ảnh hưởng bởi sự thay đổi về quy mô doanh thu và quy mô các khoản phải thu, đồng thời có xu hướng ẩn đi những thay đổi cá biệt trong khách hàng nên không đạt được nhiều hiệu quả trong quản lý thu nợ.

  • Theo dõi mẫu hình phải thu

Mẫu hình phải thu là tỷ lệ phần trăm doanh thu chưa thu được trên tổng doanh thu phát sinh trong một tháng, được theo dõi trong nhiều tháng kể từ tháng phát sinh. Theo dõi sự thay đổi trong mẫu hình phải thu có thể giúp DN ghi nhận ngay sự thay đổi trong hành vi thanh toán của khách hàng do các khoản phải thu đã được chia nhỏ theo từng tháng phát sinh doanh thu.

  • Theo dõi tuổi của các khoản phải thu

Các khoản phải thu được bố trí theo độ dài thời gian để theo dõi và có biện pháp giải quyết thu nợ khi đến hạn cũng như chính sách dự phòng hợp lý.

1.3. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong doanh nghiệp Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty Sơn.

1.3.1. Khái niệm hiệu quả sử dụng vốn lưu động

Hiệu quả là một khái niệm luôn được đề cập trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp luôn hướng tới hiệu quả kinh tế; chính phủ nỗ lực đạt hiệu quả kinh tế – xã hội.

VLĐ của DN được sử dụng cho các quá trình dự trữ, sản xuất và lưu thông. Quá trình vận động của Vốn lưu động bắt đầu từ việc dùng tiền tệ mua sắm vật tư dự trữ cho sản xuất, tiến hành sản xuất và khi sản xuất xong DN tổ chức tiêu thụ để thu về một số vốn dưới hình thái tiền tệ ban đầu với giá trị tăng thêm. Mỗi lần vận động như vậy được gọi là một vòng luân chuyển của Vốn lưu động. DN sử dụng vốn đó càng có hiệu quả bao nhiêu thì càng có thể sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nhiều bấy nhiêu. Vì lợi ích kinh doanh đòi hỏi các DN phải sử dụng hợp lý, hiệu quả hơn từng đồng Vốn lưu động, làm cho mỗi đồng Vốn lưu động hàng năm có thể mua sắm nguyên, nhiên vật liệu nhiều hơn, sản xuất ra sản phẩm và tiêu thụ được nhiều hơn. Những điều đó cũng đồng nghĩa với việc DN nâng cao tốc độ luân chuyển Vốn lưu động (số vòng quay Vốn lưu động trong một năm).

Hiệu quả sử dụng Vốn lưu động của doanh nghiệp là tiêu chí phản ánh kết quả hoạt động Sản xuất kinh doanh, được thể hiện bằng mối quan hệ so sánh giữa kết quả kinh doanh với số Vốn lưu động mà DN đã đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Kết quả thu được càng cao so với chi phí bỏ ra thì hiệu quả sử dụng vốn càng cao.

Hiệu quả sử dụng Vốn lưu động là hiệu quả thu được sau khi đẩy nhanh tốc độ luân chuyển Vốn lưu động qua các giai đoạn của quá trình sản xuất (tốc độ này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn càng lớn và ngược lại).

Để đánh giá hiệu quả sử dụng Vốn lưu động chúng ta có thể sử dụng nhiều chỉ tiêu khác nhau nhưng tốc độ luân chuyển Vốn lưu động là chỉ tiêu cơ bản và tổng hợp nhất phản ánh trình độ sử dụng Vốn lưu động của DN.

1.3.2. Các chỉ tiêu đánh giá tổng hợp hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong doanh nghiệp Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty Sơn.

1.3.2.1 Nhóm chỉ tiêu về khả năng thanh toán

Khả năng thanh toán của DN phản ánh mối quan hệ giữa các khoản phải thanh toán trong kỳ với tiềm lực tài chính của DN, bao gồm các chỉ tiêu:

  • Khả năng thanh toán hiện hành

Chỉ tiêu này phản ánh khả năng chuyển đổi trong ngắn hạn các Tài sản lưu động thành tiền để chi trả các khoản nợ ngắn hạn và được xác định bằng công thức:

Chỉ tiêu này cho biết một đồng nợ ngắn hạn được đảm bảo bởi bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn. Tỷ số này của DN được chấp thuận hay không tùy thuộc vào sự so sánh với giá trị trung bình ngành mà DN đang kinh doanh. Khi hệ số này có giá trị cao cho thấy DN có khả năng thanh toán các khoản vay cao. Tuy nhiên, nếu hệ số này quá cao sẽ làm giảm hiệu quả hoạt động do DN đầu tư quá nhiều vào Tài sản lưu động.

  • Khả năng thanh toán nhanh

Chỉ tiêu này đo lường khả năng nhanh chóng đáp ứng của Vốn lưu động trước những khoản nợ ngắn hạn, vì vậy mà hàng tồn kho được loại trừ (Do đây là khoản mục có tính thanh khoản thấp nhất trong số các Tài sản lưu động).

Chỉ tiêu này cho biết một đồng nợ ngắn hạn sẽ được đảm bảo bởi bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn không bao gồm kho. Cũng như chỉ tiêu khả năng thanh toán hiện hành, độ lớn hay nhỏ của chỉ tiêu này còn phụ thuộc vào từng ngành nghề kinh doanh cụ thể để kết luận là có tích cực hay không tích cực. Tuy nhiên, nếu hệ số này quá nhỏ, DN sẽ gặp khó khăn trong việc thanh toán nợ ngắn hạn.

  • Khả năng thanh toán tức thời Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty Sơn.

Chỉ tiêu này cho biết khả năng thanh toán nợ ngắn hạn ngay tại thời điểm xác định tỷ lệ, không phụ thuộc vào các khoản phải thu và hàng tồn kho.

Chỉ tiêu này phản ánh một đồng nợ ngắn hạn của DN được đảm bảo bằng bao nhiêu đơn vị tiền tệ. Nếu chỉ tiêu này cao, DN có khả năng thanh toán nhanh chóng do giữ lượng lớn Vốn lưu động dưới dạng tiền mặt và đầu tư tai chính ngắn hạn. Ngược lại, nếu chỉ tiêu này thấp DN sẽ mất nhiều thời gian để đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn.

1.3.2.2. Nhóm chỉ tiêu về khả năng sinh lời

Để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của DN một cách chung nhất người ta thường sử dụng một số chỉ tiêu tổng quát sau:

  • Tỷ suất lời trên doanh thu (ROS)

Tỷ suất sinh lời trên doanh thu (ROS): là tỷ lệ giữa số lợi nhuận ròng chia cho doanh thu thuần.

Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng doanh thu có thể tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận. Chỉ tiêu này càng cao thì hiệu quả sản xuất kinh doanh của DN càng cao. Nhưng không phải lúc nào giá trị của chỉ tiêu này cao cũng là tốt vì tỷ suất này cao do giá thành giảm thì tốt nhưng cao do giá bán tăng lên trong trường hợp cạnh tranh không đổi thì không tốt vì tính cạnh tranh của DN sẽ bị giảm dẫn đến việc tiêu thụ giảm, từ đó làm cho doanh thu và lợi nhuận cũng giảm theo.

  • Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty Sơn.

Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA): là một chỉ số thể hiện tương quan giữa mức sinh lợi của một công ty so với tài sản của nó. ROA sẽ cho ta biết hiệu quả của công ty trong việc sử dụng tài sản để kiếm lời.

Chỉ tiêu này cho biết một đồng đầu tư vào tài sản có thể tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. ROA càng cao thì chứng tỏ công ty càng tạo ra được nhiều lợi nhuận hơn trên lượng đầu tư ít hơn.

Theo phương pháp DuPont (một chỉ số sẽ được tách ra thành 2 hay nhiều chỉ số khác) thì ROA cũng được tính bằng:

Từ mô hình chi tiết ở trên có thể thấy được các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của tài sản như sau:

Thứ nhất là hiệu suất sử dụng tổng tài sản bình quân càng cao chứng tỏ sức sản xuất của các tài sản càng nhanh, đó là nhân tố tăng sức sinh lời của tài sản, cụ thể hơn số vòng quay của tổng tài sản bình quân lại bị ảnh hưởng bởi hai nhân tố là tổng doanh thu thuần và tổng tài sản bình quân. Nếu doanh thu thuần lớn và tổng tài sản bình quân nhỏ thì số vòng quay lớn.

Thứ hai là, tỷ suất sinh lời trên doanh thu càng cao thì sức sinh lời của tài sản càng tăng. Tuy nhiên có thể thấy rằng sức sinh lời của doanh thu ảnh hưởng bởi hai nhân tố là doanh thu và chi phí, nếu doanh thu cao và chi phí thấp thì tỷ suất sinh lời trên doanh thu tăng và ngược lại.

  • Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE)

Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE): là tỷ lệ giữa lợi nhuận ròng so với vốn chủ sở hữu bình quân.

Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn chủ sở hữu có thể tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu tốt, góp phần nâng cao khả năng đầu tư của DN, điều đó sẽ giúp nhà quản trị DN tăng vốn chủ sở hữu phục vụ cho mục đích sản xuất kinh doanh. Có thể nói, bên cạnh các hệ số tài chính khác thì ROE là thước đo chính xác nhất để đánh giá một đông vốn bỏ ra và tích lũy được tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận. Để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu, các nhà phân tích có thể sử dụng mô hình Dupont dưới đây: = ROS × Hiệu suất sử dụng Tổng TS× Hệ số đòn bẩy tài chính Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty Sơn.

Để tăng hiệu quả kinh doanh (tức là gia tăng ROE) DN có ba sự lựa chọn cơ bản là tăng một trong ba yếu tố: hiệu suất sử dụng tổng TS, hệ số đòn bẩy tài chính. Thứ nhất, DN có thể gia tăng khả năng cạnh tranh nhằm nâng cao doanh thu và đồng thời tiết giảm chi phí nhằm gia tăng lợi nhuận ròng biên. Thứ hai, DN có thể nâng cao hiệu quả kinh doanh bằng cách sử dụng tốt hơn các tài sản sẵn có của mình nhằm nâng cao vòng quay tài sản. Hay nói một cách dễ hiểu hơn là DN cần tạo ra nhiều doanh thu hơn từ những tài sản sẵn có. Thứ ba, DN có thể nâng cao hiệu quả kinh doanh bằng cách nâng cao đòn bẩy tài chính hay nói cách khác là vay nợ thêm vốn để đâu tư. Nếu mức lợi nhuận trên tổng tài sản của DN cao hơn mức lãi suất cho vây thì việc vay tiền để đầu tư của DN là hiệu quả.

1.3.2.3. Nhóm chỉ tiêu về khả năng quản lý tài sản

  • Hiệu suất sử dụng tổng tài sản

Tỷ số này phản ánh hiệu quả sử dụng tổng tài sản của DN nói chung. Tỷ số này cho biết một đồng tài sản của DN có thể tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu.

Hiệu suất sử dụng tổng tài sản càng cao càng tốt, chứng tỏ các tài sản vận động nhanh, góp phần tang doanh thu và là điều kiện để nâng cao lợi nhuận cho DN.

1.3.2.4. Nhóm chỉ tiêu về quản lý nợ

“Nợ” là từ mà bất cứ nhà quản trị tài chính nào cũng cần phải quan tâm tới khi đánh giá tình hình tài chính của DN, đó là con dao hai lưỡi, một mặt sẽ làm tăng lợi nhuận cho DN, mặt khác là một nguyên nhân dẫn đến tình trạng phá sản nếu quản lý không tốt. Vì vậy quản lý nợ là một trong những công việc quan trọng của nhà tài chính.

  • Tỷ số nợ trên tài sản

Tỷ số nợ trên tài sản được tính bằng cách lấy tổng nợ của DN trong một thời kỳ nào đó chia cho giá trị tổng tài sản trong cùng kỳ. Công thức tính như sau:

Tỷ số này cho biết có bao nhiêu tài sản của DN là từ đi vay nợ. Qua đây biết được khả năng tự chủ tài chính của DN. Tỷ số này quá nhỏ, chứng tỏ DN vay ít, có khả năng tự chủ tài chính cao. Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty Sơn.

  • Tỷ số nợ trên vốn chủ sở hữu

Tỷ số này được xác định theo công thức sau:

Tỷ số này cho biết bình quân một đồng vốn DN đang sử dụng có bao nhiêu đồng vay nợ. Tỷ số này cao chứng tỏ DN mạnh dạn sử dụng nhiều vốn vay trong cơ cấu vốn, đây là cơ sở để có lợi nhuận cao. Tỷ số này cao là một chứng minh về uy tín của DN đối với chủ nợ.

  • Khả năng thanh toán lãi vay

Hệ số khả năng thanh toán lãi vay cho biết mức độ lợi nhuận đảm bảo khả năng trả lãi như thế nào, được xác định bằng công thức:

Hệ số này cho biết khả năng trả phần lãi của khoản đi vay. Nếu hệ số này lớn hơn 1 là tốt, chứng tỏ DN hoàn toàn có khả năng trả lãi vay. Nếu nhỏ hơn 1 thì DN đã vay quá nhiều so với khả năng của DN, hoặc kinh doanh kém hiệu quả.

1.3.3. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng từng bộ phận cấu thành vốn lưu động

1.3.3.1 Chỉ tiêu về tốc độ luân chuyển vốn lưu động

Để đánh giá hiệu quả sử dụng Vốn lưu động của DN ta có thể dựa vào các chỉ tiêu đánh giá để có sự phân tích, đánh giá một cách khách quan tình hình sử dụng vốn qua các năm hoạt động của công ty, cùng với đó là so sánh các chỉ tiêu này với các DN trong và ngoài nước để đưa ra những nhận định chính xác và hiệu quả nhất.

  • Vòng quay vốn lưu động

Vòng quay Vốn lưu động được xác định theo công thức sau:

Chỉ tiêu này cho biết, trong kỳ phân tích của DN, trung bình một đồng tài sản lưu động tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sản lưu động càng lớn.

  • Hệ số đảm nhiệm vốn lưu động Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty Sơn.

Hệ số đảm nhiệm Vốn lưu động phản ánh số Vốn lưu động cần có để đạt được một đồng doanh thu thuần. Hệ số này càng nhỏ càng phản ánh hiệu quả sử dụng Vốn lưu động của DN càng cao. Nếu Dn bỏ ra càng ít Vốn lưu động mà doanh thu thu về càng cao thì chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn của DN đó rất tốt.

  • Tỷ suất sinh lời của vốn lưu động

Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của Vốn lưu động, một đồng Vốn lưu động có thể tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Chỉ tiêu này càng cao cho biết DN đã sử dụng Vốn lưu động có hiệu quả, ngược lại chỉ tiêu này càng thấp có nghĩa là lợi nhuận trên một động vốn là nhỏ.

  • Mức tiết kiệm vốn lưu động

Mức tiết kiệm Vốn lưu động có được do tăng tốc độ luân chuyển vốn được biểu hiện bằng hai chỉ tiêu: mức tiết kiệm tương đối và mức tiết kiệm tuyệt đối.

Mức tiết kiệm tuyệt đối: nếu quy mô kinh doanh không thay đổi, việc tăng tốc độ luân chuyển Vốn lưu động đã giúp DN tiết kiệm được một lượng Vốn lưu động có thể rút ra khỏi luân chuyển dùng vào việc khác.

Mức tiết kiệm tương đối: Nếu quy mô kinh doanh được mở rộng, việc tăng tốc độ luân chuyển Vốn lưu động giúp DN không cần tăng thêm Vốn lưu động hoặc bỏ ra số Vốn lưu động ít hơn so với trước.

Trong đó: Vtktd: Vốn lưu động tiết kiệm tuyệt đối Vtktgd: Vốn lưu động tiết kiệm tương đối M0, M1: Doanh thu thuần kỳ trước, kỳ này

V0, V1: Hiệu suất sử dụng Vốn lưu động kỳ trước, kỳ này

  • Thời gian 1 vòng luân chuyển vốn lưu động Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty Sơn.

Thời gian một vòng luân chuyển Vốn lưu động cho biết trong khoảng thời gian bao nhiêu ngày thì Vốn lưu động luân chuyển được một vòng. Chỉ tiêu này càng bé cho thấy tốc độ lưu chuyển Vốn lưu động càng nhanh. Đây là một chỉ tiêu rất quan trọng để đánh giá hiệu quả tài chính của Vốn lưu động, phản ánh tốc độ quay vòng của Vốn lưu động.

1.3.3.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng từng bộ phận cấu thành vốn lưu động

  • Chỉ tiêu đánh giá tốc độ luân chuyển hàng lưu kho

Số vòng quay hàng tồn kho (hệ số lưu kho): phản ánh số lần hàng hóa tồn kho bình quân luân chuyển trong kỳ. Hệ số này cao nghĩa là hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có hiệu quả và ngược lại. Tuy nhiên, chỉ số này quá cao cũng không tốt vì như vậy nghĩa là lượng dự trữ hàng tồn kho không nhiều, có thể làm gián đoạn sản xuất, không đáp ứng kịp khi có nhu cầu thị trường tăng đột ngột.

Thời gian lưu kho trung bình cho biết số ngày trung bình của một vòng quay kho hay số ngày hàng hóa được lưu tại kho. Thời gian lưu kho càng nhỏ thì cho thấy hoạt động sản xuất kinh doanh của DN có hiệu quả vì hàng hóa tiêu thụ nhanh, tránh được tình trạng lỗi thời, hao hụt tự nhiên. Tuy nhiên, thời gian lưu kho trung bình quá ngắn cũng không tốt vì DN không dự trữ đủ hàng trong kho để đáp ứng nhu cầu thị trường, có thể làm gián đoạn hoạt động sản xuất kinh doanh, mất doanh thu do mất khách hàng khi không đủ hàng hóa để cung ứng.

  • Chỉ tiêu đánh giá tốc độ luân chuyển các khoản phải thu

Hệ số thu nợ: phản ánh tốc độ chuyển đổi các khoản phải thu thành tiền mặt. Chỉ số này càng cao thì tốc độ thu hồi các khoản nợ của DN càng tốt, DN càng ít bị chiếm dụng vốn.

Thời gian thu nợ trung bình cho biết một đồng bán chịu chi ra sau bao lâu sẽ thu hồi được; phản ánh hiệu quả và chất lượng quản lý các khoản phải thu. Chỉ tiêu này càng ngắn càng tốt cho DN khi không bị chiếm dụng vốn quá lâu, có thời gian để tiến hành các hoạt động đầu tư, tìm kiếm lợi nhuận.

  • Chỉ tiêu đánh giá các khoản phải trả Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty Sơn.

Vòng quay các khoản phải trả là số lần trong một kỳ DN tiến hành trả các khoản nợ, số vòng quay càng thấp chứng tỏ thời gian DN chiếm dụng các khoản nợ càng dài. DN luôn muốn giữ số vòng quay các khoản phải trả ở mức thấp nhất có thể tận dụng nguồn vốn đầu tư vào tài sản. Tuy nhiên, nếu giữ thời gian trả nợ ở mức quá cao sẽ ảnh hưởng đến uy tín của bản thân DN, do các khoản vốn này mang tính chất là các khoản nợ trong ngắn hạn.

  • Thời gian quay vòng tiền

Thời gian quay vòng tiền là sự kết hợp của ba chỉ tiêu đánh giá công tác quản lý hàng lưu kho, khoản phải thu, khoản phải trả. Thời gian quay vòng tiền ngắn chứng tỏ DN sớm thu hồi được tiền mặt trong hoạt động sản xuất kinh doanh, quản lý hiệu quả khi giữ được thời gian thời gian quay vòng hàng tồn kho và các khoản phải thu ở mức thấp, chiếm dụng được thời gian dài đối với các khoản nợ. Tuy nhiên cũng tùy vào đặc điểm của ngành nghề kinh doanh mà DN hoạt động.

Chỉ tiêu này cho biết bao nhiêu ngày thì số vốn DN được quay vòng để tiếp tục hoạt động sản xuất kinh doanh kể từ khi DN bỏ vốn ra.

1.4. Những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong doanh nghiệp Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty Sơn.

Hoạt động Sản xuất kinh doanh của DN chịu ảnh hưởng rất lớn của các nhân tố khác nhau. Những nhân tố này gây ra ảnh hưởng tích cực lẫn tiêu cực. Vì vậy, để nâng cao hiệu quả Sản xuất kinh doanh của DN nói chung và hiệu quả sử dụng Vốn lưu động nói riêng, nhà quản trị phải xác định và xem xét những nhân tố tác động tới quá trình sản xuất, kinh doanh của DN, từ đó đưa ra được các giải pháp cụ thể. Các nhân tố này có thể xem xét dưới các góc độ.

1.4.1. Nhân tố khách quan

Hiệu quả sử dụng Vốn lưu động của các DN chịu ảnh hưởng của các nhân tố như:

  • Lạm phát: ở mỗi thời điểm mặt bằng giá cả có sự khác nhau ảnh hưởng đến giá trị thực tế của đồng vốn. Lạm phát có thể dẫn tới sự mất giá của đồng tiền làm cho vốn của các doanh nghiệp bị mất dần theo tốc độ trượt giá của tiền tệ hay các nhân tố tác động đến cung cầu đối với hàng hóa của DN, nếu nhu cầu hàng hóa giảm xuống sẽ làm cho hàng hóa của DN khó tiêu thụ, tồn đọng gây ứ đọng vốn và hiệu quả sử dụng vốn lưu động cũng bị giảm xuống.
  • Rủi ro: Do những rủi ro bất thường trong quá trình sản xuất kinh doanh mà các DN thường gặp phải trong điều kiện kinh doanh có nhiều thành phần kinh tế cùng tham gia cạnh tranh với nhau. Ngoài ra, DN còn gặp phải những rủi ro do thiên tai gây ra như hạn hán, lũ lụt… mà các DN khó có thể lường trước được làm ảnh hưởng xấu đến hiệu quả kinh doanh của DN.
  • Các chính sách vĩ mô của Nhà nước: Khi Nhà nước có sự thay đổi chính sách pháp luật, thuế… làm ảnh hưởng đến điều kiện hoạt động Sản xuất kinh doanh của DN thì tất yếu Vốn lưu động cũng bị ảnh hưởng.

1.4.2. Nhân tố chủ quan Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty Sơn.

Ngoài những nhân tố khách quan nêu trên còn rất nhiều nhân tố chủ quan của chính bản than DN làm ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng Vốn lưu động cũng như toàn bộ quá trình hoạt động Sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Việc xác định nhu cầu Vốn lưu động: Do xác định nhu cầu Vốn lưu động thiếu chính xác dẫn đén tình trạng thừa thiếu vốn trong hoạt động Sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp làm ảnh hưởng không tốt tới hoạt động Sản xuất kinh doanh của DN cũng như hiệu quả sử dụng vốn của DN.

Việc lựa chọn dự án đầu tư: là nhân tố cơ bản ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả sử dụng Vốn lưu động của Nếu dự án lựa chọn là khả thi, phù hợp với điều kiện của thị trường và khả năng của DN thì sản phẩm sản xuất ra được tiêu thụ nhanh, từ đó làm tăng vòng quay của Vốn lưu động và ngược lại.

Trình độ quản lý: Trình độ quản lý của DN mà yếu kém sẽ dẫn đến thất thoát vật tư hàng hóa trong quá trình mua sắm, dự trữ sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, dẫn đến sử dụng lãng phí Vốn lưu động, hiệu quả sử dụng Vốn lưu động thấp.

Ngoài các nguyên nhân chủ yếu trên còn có một số nguyên nhân khác ảnh hưởng đến công tác tổ chức và quản lý Vốn lưu động của DN. Để hạn chế những tiêu cực ảnh hưởng không tốt tới hiệu quả tổ chức và sử dụng Vốn lưu động, các DN cần nghiên cứu và xem xét một cách kỹ lưỡng sự ảnh hưởng của từng nhân tố, tìm ra nguyên nhân của những mặt tồn tại trong việc tổ chức sử dụng Vốn lưu động nhằm đưa ra những biện pháp hữu hiệu nhất, để hiệu quả của đồng Vốn lưu động mang lại là cao nhất.

1.5. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong doanh nghiệp Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty Sơn.

1.5.1. Sự cần thiết nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong doanh nghiệp

Dù là loại hình DN nào thì việc nâng cao hiệu quả sử dụng Vốn lưu động bao giờ cũng là một biện pháp quan trọng giúp DN đạt được mục tiêu lợi nhuận và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.

Đảm bảo cho DN sản xuất kinh doanh được ổn định. Do đặc điểm của Vốn lưu động là cùng một lúc Vốn lưu động có các thành phần vốn ở khâu dự trữ, sản xuất và lưu thông cho nên nếu quản lý tốt, Vốn lưu động sẽ được vận động, luân chuyển liên tục, thời gian Vốn lưu động lưu lại ở các khâu ngắn. Nếu quản lý không tốt thì Vốn lưu động sẽ không luân chuyển được hoặc sẽ luân chuyển chậm làm cho quá trình sản xuất gặp nhiều khó khăn.

Việc nâng cao hiệu quả sử dụng Vốn lưu động còn đáp ứng yêu cầu bảo toàn vốn lưu động với hoạt động sản xuất kinh doanh của DN. Mục tiêu sản xuất kinh doanh của DN là thu được lợi nhuận và lợi ích xã hội chung, nhưng bên cạnh đó một vấn đề quan trọng đặt ra cho các DN là bảo toàn Vốn lưu động.

1.5.2. Kế hoạch hóa vốn lưu động

Xác định nhu cầu Vốn lưu động cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh của DN, từ đó lập kế hoạch tổ chức huy động vốn đáp ứng cho hoạt động kinh doanh của DN. Hạn chế thấp nhất tình trạng thiếu vốn gây gián đoạn sản xuất kinh doanh hoặc phải đi vay vốn ngoài kế hoạch với mức lãi suất cao, làm giảm lợi nhuận của DN. Nếu thừa vốn cũng phải có biện pháp linh hoạt như đầu tư mở rộng sản xuất hoặc cho vay.

Lựa chọn hình thức huy động vốn phù hợp sao cho đáp ứng đử nhu cầu cho sản xuất. Tổ chức khai thác triệt để nguồn vốn bên trong DN, đồng thời tính toán lựa chọn huy động các nguồn vốn bên ngoài DN với mức độ hợp lý của từng nguồn, nhằm giảm mức thấp nhất chi phí sử dụng vốn.

Lựa chọn cơ cấu vốn hợp lý phù hợp với đặc điểm kinh tế kỹ thuật ngành. Cần xây dựng tỷ trọng của từng phần một cách hợp lý, đảm bảo đầy đủ vốn cho sản xuất kinh doanh. Cụ thể: đảm bảo tỷ trọng hợp lý giữa Vốn lưu động và vốn cố định trong tổng nguồn vốn của DN; đảm bảo tính đồng bộ giữa các công đoạn trong quá trình sản xuất.

1.5.3. Tổ chức quản lý vốn lưu động Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty Sơn.

Quản lý Vốn lưu động gắn liền với quản lý Tài sản lưu động bao gồm: quản lý tiền mặt và các chứng khoán thanh toán; quản lý dự trữ tồn kho; quản lý các khoản phải thu. Để quản lý Vốn lưu động cần sử dụng các mô hình quản lý, các nhà quản trị cần phải lựa chọn mô hình cho phù hợp với điều kiện hoạt động kinh doanh của DN. Khi vận dụng các mô hình, DN cần phải biết kết hợp các mô hình tạo ra sự thống nhất trong quản lý tổng thể Vốn lưu động của DN. Quản lý tốt Vốn lưu động sẽ tạo điều kiện cho DN chủ động, kịp thời đưa ra những biện pháp giải quyết các vấn đề phát sinh, đảm bảo việc thực hiện kế hoạch Vốn lưu động tránh thất thoát, lãng phí; giúp nâng cao hiệu quả sử dụng Vốn lưu động.

1.5.4. Áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất

Chu kỳ kinh doanh của DN phụ thuộc vào độ dài thời gian của cac khâu: dự trữ, sản xuất và lưu thông. Khi DN áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất sẽ đảm bảo sản xuất ra những sản phẩm có chất lượng cao, năng suất cao, giá thành thấp. Điều này đồng nghĩa với việc thời gian của khâu sản xuất sẽ được rút ngắn. Mặt khác, với hiệu quả nâng cao trong sản xuất sẽ ảnh hưởng tích cực đến khâu dự trữ và lưu thông, từ đó DN sẽ chủ động hơn trong dự trữ, tạo ra sự luân chuyển Vốn lưu động nhanh hơn.

1.5.5. Tăng cường bồi dưỡng, nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý công ty

Nguồn nhân lực luôn được coi là yếu tố quan trọng quyết định sự thành công của mỗi DN. SỬ dụng Vốn lưu động là một phần trong công tác quản lý tài chính của DN và được thực hiện bởi các cán bộ tài chính. Do đó, năng lực và trình độ của những cán bộ này có ảnh hưởng trực tiếp đến công tác quản lý tài chính nói chung và hiệu quả sử dụng Vốn lưu động nói riêng.

Tóm lại, qua quá trình phân tích ta thấy được vai trò của Vốn lưu động và sự cần thiết nâng cao hiệu quả sử dụng Vốn lưu động trong DN. Có nhiều biện pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng Vốn lưu động của DN. Tuy nhiên, trên thực tế do các DN thuộc những ngành nghề kinh doanh , lĩnh vực kinh doanh khác nhau, nên mỗi DN cần căn cứ vào các giải pháp chung để từ đó đề ra cho mình những biện pháp riêng cụ thể, có tính khả thi nhằm không ngừng nâng cao hiệu quả sử dụng Vốn lưu động của DN mình.

  • Kết luận chương 1

Chương 1 đã trình bày một cách khái quát về cơ sở lý luận về Vốn lưu động và hiệu quả sử dụng Vốn lưu động trong DN. Chương này gồm có các khái niệm về Vốn lưu động, đặc điểm, phân loại Vốn lưu động, nội dung quản lý Vốn lưu động trong DN, các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng Vốn lưu động. Dựa vào những cơ sở lý luận, hiểu được tầm quan trọng của việc phân tích hiệu quả sử dụng Vốn lưu động, cũng như các nhân tố tác động đến hiệu quả sử dụng Vốn lưu động. Từ đó, đưa ra các giải pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng Vốn lưu động trong DN. Dựa vào các cơ sở lý luận trên, để thực hiện đánh giá thực trạng sử dụng Vốn lưu động của Công ty Cổ phần thương mại Sơn – Dầu tại chương 2. Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty Sơn.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>> Khóa luận: Thực trạng sử dụng vốn lưu động tại Công ty Sơn

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

1 Bình luận
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
trackback

[…] ===>> Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty Sơn […]

Contact Me on Zalo
0877682993
1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x