Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Hiệu quả sử dụng tài sản tại Tổng công ty Cổ phần Bia hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Khóa luận: Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản tại Tổng công ty Cổ phần Bia – Rượu – NGK Hà Nội dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
Nội dung chính
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Một Doanh nghiệp tồn tại và phát triển vì nhiều mục tiêu khác nhau, song mục tiêu lớn nhất là tối đa hóa giá trị tài sản cho các chủ sở hữu.
Để thực hiện mục tiêu tối đa hóa giá trị tài sản của chủ sở hữu, vấn đề sử dụng tài sản trở thành một trong những nội dung quan trọng trong quản trị tài chính. Sử dụng tài sản một cách hiệu quả giúp cho quá trình sản xuất kinh doanh tiến hành bình thường với hiệu quả kinh tế cao nhất, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp và làm tăng giá trị tài sản của chủ sở hữu.
Trong thời kỳ nền kinh tế thị trường, việc gia nhập tổ chức Thương mại thế giới (WTO) mở ra cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam, khi mối quan hệ giao thương giờ đây được mở rộng không chỉ trong nước mà còn phát triển ra quốc tế nhưng song hành với các cơ hội là những thách thức. Vì vậy, các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển bền vững cần phải có chiến lược và bước đi thích hợp. Trước tình hình đó, vấn đề nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản càng được đặc biệt quan tâm.
Tổng công ty Cổ phần Bia – Rượu – NGK Hà Nội (HABECO) hoạt động kinh doanh chủ yếu trong lĩnh vực sản xuất và tiêu thụ bia – rượu – nước giải khát và các dịch vụ đi kèm khác. Trong những năm qua, công ty đã quan tâm đến vấn đề hiệu quả sử dụng tài sản và đã đạt được những thành công nhất định. Nhờ đó khả năng cạnh tranh cũng như uy tín của công ty ngày càng được nâng cao. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, hiệu quả sử dụng tài sản vẫn còn thấp so với mục tiêu đề ra. Thực tế đó ảnh hưởng tiêu cực tới hiệu quả hoạt động của công ty. Vì vậy, để phát triển hơn trong môi trường cạnh tranh, nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản là một trong những vấn đề cấp thiết hiện nay đối với công ty.
Từ thực tế đó đề tài “Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản tại Tổng công ty Cổ phần Bia – Rượu – NGK Hà Nội” đã được lựa chọn nghiên cứu.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về hiệu quả sử dụng tài sản của Doanh nghiệp
- Phân tích, đánh giá thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản tại Tổng công ty Cổ phần Bia – Rượu – NGK Hà Nội.
- Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản tại Tổng công ty Cổ phần Bia – Rượu – NGK Hà Nội.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hiệu quả sử dụng tài sản hữu hình, tài sản thực của Doanh nghiệp.
- Phạm vi nghiên cứu: Hiệu quả sử dụng tài sản của Tổng công ty Cổ phần Bia –Rượu – NGK Hà Nội giai đoạn từ năm 2023-2025.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để phù hợp với nội dung, yêu cầu, mục đích của đề tài thì phương pháp được thực hiện trong quá trình nghiên cứu gồm: phương pháp so sánh, thu thập thông tin và phương pháp phân tích.
5. Kết cấu khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục viết tắt, danh mục bảng, sơ đồ và danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về hiệu quả sử dụng tài sản của Doanh nghiệp
- Chương 2: Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản tại Tổng công ty Cổ phần Bia –Rượu – NGK Hà Nội
- Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản tại Tổng công ty Cổ phần Bia – Rượu – NGK Hà Nội
Chương 1. Cơ sở lý luận về hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp
1.1. Tổng quan về Doanh nghiệp
1.1.1. Khái quát về Doanh nghiệp
1.1.1.1 Khái niệm về Doanh nghiệp
Theo Khoản 1 Điều 4 Luật doanh nghiệp số 60/2017/QH11 ban hành ngày 29 tháng 11 năm 2017: “Doanh nghiệp” là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo qui định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. Khóa luận: Hiệu quả sử dụng tài sản tại Tổng công ty Cổ phần Bia
Doanh nghiệp là một chủ thể độc lập, có tư cách pháp nhân, hoạt động kinh doanh trên thị trường làm tăng giá trị của chủ sở hữu. Doanh nghiệp là một cách thức tổ chức hoạt động kinh tế của nhiều cá nhân. Có nhiều hoạt động kinh tế chỉ có thể được thực hiện bởi Doanh nghiệp chứ không phải các cá nhân. Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi.
Theo quy định của Pháp luật, Doanh nghiệp được tự chủ đăng ký và thực hiện kinh doanh các ngành, nghề mà luật, pháp lệnh hoặc nghị định đòi hỏi phải có vốn pháp định hoặc chứng chỉ hành nghề thì Doanh nghiệp chỉ được đăng ký kinh doanh khi có đủ vốn hoặc chứng chỉ hành nghề theo quy định của Pháp luật. Mỗi Doanh nghiệp đều có những quyền và nghĩa vụ cần phải thực hiện theo đúng quy định của Pháp luật.
1.1.1.2. Phân loại Doanh nghiệp
Việc phân loại Doanh nghiệp nhằm mục đích khác nhau và được lựa chọn trên các tiêu chí khác nhau như: căn cứ vào tính chất sở hữu và mục đích hoạt động của Doanh nghiệp; phân loại theo cơ cấu của nhà đầu tư và phương thức góp vốn vào Doanh nghiệp; phân loại theo tư cách pháp lý của Doanh nghiệp…
Các Doanh nghiệp ở Việt Nam bao gồm: Doanh nghiệp Nhà nước, Công ty cổ phần, Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty hợp danh, Công ty liên doanh, Doanh nghiệp tư nhân.
Trong nền kinh tế thị trường, các Doanh nghiệp bao gồm các chủ thể kinh doanh: Kinh doanh cá thể, Kinh doanh góp vốn và Công ty. Khóa luận: Hiệu quả sử dụng tài sản tại Tổng công ty Cổ phần Bia
- Kinh doanh cá thể
Là loại hình được thành lập đơn giản nhất, không cần phải có điều lệ chính thức và ít chịu sự quản lý của Nhà nước. Doanh nghiệp này không phải trả thuế thu nhập Doanh nghiệp, tất cả lợi nhuận bị tính thuế thu nhập cá nhân. Ngoài ra, chủ Doanh nghiệp chịu trách nhiệm vô hạn đối với các nghĩa vụ và các khoản nợ, không có sự tách biệt giữa tài sản cá nhân và tài sản của Doanh nghiệp. Thời gian hoạt động của Doanh nghiệp phụ thuộc vào tuổi thọ của người chủ. Tuy nhiên, khả năng thu hút vốn bị hạn chế bởi khả năng của người chủ.
- Kinh doanh góp vốn
Việc thành lập Doanh nghiệp này dễ dàng và chi phí thành lập thấp. Theo hình thức kinh doanh này, các thành viên chính thức có trách nhiệm vô hạn với các khoản nợ. Mỗi thành viên có trách nhiệm đối với phần tương ứng với phần vốn góp. Nếu như một thành viên không hoàn thành trách nhiệm trả nợ của mình, phần còn lại sẽ do các thành viên khác hoàn trả. Doanh nghiệp tan vỡ khi một trong các thành viên khác thành viên chính thức rút vốn. Ngoài ra, lãi từ hoạt động kinh doanh của các thành viên phải chịu thuế thu nhập cá nhân. Khả năng về vốn của Doanh nghiệp này là hạn chế.
- Công ty
Là loại hình Doanh nghiệp có sự kết hợp giữa ba loại lợi ích: lợi ích của các cổ đông (chủ sở hữu), của Hội đồng quản trị và của các nhà quản lý. Theo truyền thống, cổ đông kiểm soát toàn bộ phương hướng, chính sách và hoạt động của Công ty. Cổ đông bầu Hội đồng quản trị, sau đó Hội đồng quản trị lựa chọn ban quản lý. Các nhà quản lý quản lý hoạt động của Công ty theo cách thức mang lại lợi ích tốt nhất cho cổ đông. Việc tách rời quyền sở hữu khỏi các nhà quản lý mang lại cho Công ty các ưu thế so với kinh doanh cá thể và góp vốn: Khóa luận: Hiệu quả sử dụng tài sản tại Tổng công ty Cổ phần Bia
- Quyền sở hữu có thể dễ dàng chuyển cho cổ đông mới.
- Sự tồn tại của Công ty không phụ thuộc vào sự thay đổi về số lượng cổ đông.
- Trách nhiệm của cổ đông chỉ giới hạn ở phần vốn mà cổ đông góp vào Công ty (trách nhiệm hữu hạn)
Mỗi loại hình Doanh nghiệp có những ưu và nhược điểm riêng và phù hợp với quy mô và trình độ phát triển nhất định. Hầu hết các Doanh nghiệp lớn hoạt động với tư cách là Công ty. Đây là loại hình phát triển nhất của Doanh nghiệp.
1.1.1.3. Các hoạt động cơ bản của Doanh nghiệp
- Hoạt động huy động vốn
Về mặt pháp lý: Mỗi Doanh nghiệp khi muốn có giấy phép để hoạt động SXKD thì cần phải chứng minh được một trong các yếu tố cơ bản đó là vốn – khi đó thì địa vị pháp lý của Doanh nghiệp mới được xác lập. Tuy nhiên trong quá trình kinh doanh, Doanh nghiệp luôn phải đáp ứng được mọi nhu cầu về vốn theo quy định nếu không thì Doanh nghiệp sẽ bị thu hồi giấy phép kinh doanh hay tuyên bố giải thể, phá sản hoặc sáp nhập.
Về mặt kinh tế: Khi các Doanh nghiệp đảm bảo nhu cầu về vốn thì Doanh nghiệp đó có khả năng chủ động trong các hình thức kinh doanh, thay đổi công nghệ, mua sắm trang thiết bị hiện đại phục vụ cho kinh doanh.
Với ý nghĩa quan trọng như vậy, nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu của các Doanh nghiệp là phải tìm kiếm nguồn cung ứng vốn để đảm bảo tiến hành hoạt động SXKD sao cho có hiệu quả trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc quản lý tài chính và chấp hành Pháp luật của Nhà nước. Khóa luận: Hiệu quả sử dụng tài sản tại Tổng công ty Cổ phần Bia
Trong hoạt động huy động vốn, các Doanh nghiệp cần lựa chọn phương thức huy động vốn phù hợp, xác định cơ cấu vốn tối ưu và duy trì cơ cấu vốn tối ưu cũng như xác định quy mô tối ưu của Doanh nghiệp.
- Hoạt động sản xuất kinh doanh
Trong thời đại ngày nay, hoạt động SXKD bao gồm hoạt động sản xuất và hoạt động tiêu thụ sản phẩm. Hoạt động sản xuất tạo ra của cải vật chất và dịch vụ luôn gắn liền với cuộc sống của con người, công việc sản xuất thuận lợi khi các sản phẩm tạo ra được thị trường chấp nhận tức là thị trường đồng ý sử dụng sản phẩm đó. Để được như vậy thì các chủ thể tiến hành sản xuất phải có khă năng kinh doanh:
Nếu loại bỏ các phần khác nhau nói về phương tiện, phương thức, kết quả cụ thể của hoạt động kinh doanh thì có thể hiểu kinh doanh là các hoạt động kinh tế nhằm mục tiêu sinh lời của chủ thể kinh doanh trên thị trường”.
Hoạt động kinh doanh có các đặc điểm như:
- Do một chủ thể thực hiện và gọi là chủ thể kinh doanh, chủ thể kinh doanh có thể là cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp
- Kinh doanh phải gắn với thị trường, các chủ thể kinh doanh có mối quan hệ mật thiết với nhau, đó là quan hệ với các bạn hàng, với chủ thể cung cấp đầu vào, với khách hàng, với đối thủ cạnh tranh, với Nhà nước. Các mối quan hệ này giúp cho các chủ thể kinh doanh duy trì hoạt động kinh doanh đưa Doanh nghiệp của mình này càng phát triển.
- Kinh doanh phải có sự vận động của đồng vốn: Vốn là yếu tố quyết định cho công việc kinh doanh, không có vốn thì không thể có hoạt động kinh doanh. Chủ thể kinh doanh sử dụng vốn mua nguyên liệu, thiết bị sản xuất, thuê lao động…
- Mục đích chủ yếu của hoạt động kinh doanh là lợi nhuận.
Hoạt động khác Khóa luận: Hiệu quả sử dụng tài sản tại Tổng công ty Cổ phần Bia
Trong nền kinh tế thị trường, các mối quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh ngày càng trở nên phong phú, đa dạng, góp phần tạo ra những tiền đề mới, thời cơ mới. Chính vì vậy, đòi hỏi các nhà quản trị doanh nghiệp phải hết sức năng động, linh hoạt và nhạy bén theo cơ chế thị trường, tận dụng mọi khả năng về nguồn lực sẵn có, đẩy mạnh các hoạt động khác nhằm thu về tối đa lợi nhuận cho Doanh nghiệp. Bên cạnh những hoạt động kinh doanh chính thì các Doanh nghiệp còn có những hoạt động khác như:
Hoạt động đầu tư tài sản cố định là hoạt động mua sắm, xây dựng, hiện đại hóa các nhà máy, thiết bị, … nhằm tăng quy mô sản xuất của Doanh nghiệp
Hoạt động đầu tư tài chính là các hoạt động sử dụng vốn của Doanh nghiệp đầu tư vào cổ phiếu, trái phiếu hay góp vốn liên doanh, liên kết vào các Doanh nghiệp khác nhằm tăng lợi nhuận và phân tán rủi ro cho Doanh nghiệp. Hoạt động đầu tư tài chính bao gồm đầu tư chứng khoán ngắn hạn (đầu tư mua chứng khoán có thời hạn dưới một năm hoặc trong một chu kỳ kinh doanh như: mua tín phiếu kho bạc, kỳ phiếu ngân hàng hay mua bán chứng khoán, … và đầu tư dài hạn (đầu tư mua các chứng khoán có thời hạn thu hồi trên một năm hoặc góp vốn liên doanh bằng tiền, hiện vật,…).
Hoạt động đầu tư bất động sản là đầu tư vào những tài sản gắn liền với đất đai và khó di dời được nhằm mục đích sử dụng trong sản xuất, cung cấp hàng hóa dịch vụ hoặc sử dụng cho các mục đích quản lý.
1.1.2 Tài sản của Doanh nghiệp Khóa luận: Hiệu quả sử dụng tài sản tại Tổng công ty Cổ phần Bia
1.1.2.1 Khái niệm và đặc điểm về tài sản của Doanh nghiệp
- Khái niệm về tài sản của Doanh nghiệp
Theo chuẩn mực Kế toán quốc tế (IAS) do Hội đồng chuẩn mực kế toán Quốc tế (IASC) đưa ra và được Hội đồng chú giải Chuẩn mực (SIC) giải thích: Tài sản là nguồn lực do Doanh nghiệp kiểm soát, là kết quả của những hoạt động trong quá khứ, mà từ đó một số lợi ích kinh tế trong tương lai có thể dự kiến trước một cách hợp lý.
Theo chuẩn mực Kế toán Việt Nam (VAS) được Bộ Tài chính ban hành vào ngày 31/12/2013 theo Quyết định số 149/2013/QĐ-BTC: Tài sản là nguồn lực mà Doanh nghiệp kiểm soát được và dự tính đem lại lợi ích kinh tế trong tương lai của Doanh nghiệp.
- Đặc điểm về tài sản của Doanh nghiệp
Tài sản của Doanh nghiệp là những tài sản chắc chắn mang lại lợi ích kinh tế trong tương lai cho Doanh nghiệp khi sử dụng. Giá trị của tài sản cần phải được đánh giá, đo đạc một cách chính xác, tin cậy và được so sánh với các thước đo trung gian, công khai theo quy định hiện hành. Tài sản phải còn giá trị sử dụng và đối với tài sản cố định thì giá trị sẽ bị hao mòn dần và chuyển dần từng phần vào chi phí SXKD và phải tham gia vào nhiều chu trình sản xuất.
1.1.2.2. Phân loại tài sản của Doanh nghiệp Khóa luận: Hiệu quả sử dụng tài sản tại Tổng công ty Cổ phần Bia
Trong điều kiện kinh tế hàng hóa, tài sản trong Doanh nghiệp không chỉ được biểu hiện dưới hình thái vật chất mà còn biểu hiện dưới hình thái giá trị.
Do hoạt động kinh doanh rất đa dạng, mỗi doanh nghiệp có thể tham gia một hoặc nhiều lĩnh vực sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ. Vì vậy, tài sản có nhiều loại khác nhau, được sử dụng trong các lĩnh vực hoạt động khác nhau của quá trình SXKD. Do vậy, cần được phân loại để có những biện pháp quản lý sử dụng hợp lý, có hiệu quả cao hơn.
Phân loại tài sản là việc phân chia số lượng tài sản hiện có của Doanh nghiệp nhằm phục vụ yêu cầu quản lý của Doanh nghiệp. Tài sản được phân loại như sau:
- Tài sản ngắn hạn
TSNH của Doanh nghiệp là những tài sản thuộc quyền sở hữu và quản lý của Doanh nghiệp, có thời gian sử dụng, thu hồi luân chuyển trong một năm hoặc một chu kỳ kinh doanh. TSNH của Doanh nghiệp có thể tồn tại dưới hình thái tiền, hiện vật (vật tư hàng hóa), dưới dạng đầu tư ngắn hạn và các khoản phải thu khác:
Tiền và các khoản tương đương tiền: Tiền được hiểu là tiền mặt, tiền gửi ngân hàng và tiền đang chuyển. Các khoản tương đương tiền là các khoản đầu tư ngắn hạn không quá 3 tháng, có khả năng chuyển đổi dễ dàng thành tiền và không có nhiều rủi ro trong khi chuyển đổi thành tiền.
Tài sản tài chính ngắn hạn: bao gồm các khoản đầu tư chứng khoán có thời hạn thu hồi dưới một năm hoặc trong một chu kỳ kinh doanh (tín phiếu kho bạc, kỳ phiếu ngân hàng…) hoặc chứng khoán mua vào bán ra (cổ phiếu, trái phiếu) để kiếm lời và các loại đầu tư tài chính khác không quá một năm.
Các khoản phải thu ngắn hạn: là các khoản phải thu của khách hàng, phải thu nội bộ ngắn hạn và các khoản phải thu ngắn hạn khác có thời hạn thu hồi hoặc thanh toán dưới một năm. Khóa luận: Hiệu quả sử dụng tài sản tại Tổng công ty Cổ phần Bia
Hàng tồn kho: bao gồm vật tư, hàng hóa, sản phẩm, sản phẩm dở
Tài sản ngắn hạn khác: Chi phí trả trước ngắn hạn, thuế GTGT được khấu trừ, thuế và các khoản phải thu của Nhà nước, tài sản ngắn hạn khác.
- Tài sản dài hạn:
Tất cả các tài sản khác ngoài TSNH được xếp vào loại TSDH. TSDH bao gồm các khoản phải thu dài hạn, tài sản cố định, bất động sản đầu tư, các khoản tài chính dài hạn và các TSDH khác.
Các khoản phải thu dài hạn: là các khoản phải thu dài hạn của khách hàng, phải thu nội bộ dài hạn và các khoản phải thu dài hạn khác có thời hạn thu hồi hoặc thanh toán trên một năm.
Bất động sản đầu tư: quyền sử dụng đất, nhà hoặc một phần nhà hoặc đất, cơ sở hạ tầng do người chủ sở hữu hoặc người đi thuê tài sản theo hợp đồng thuê tài chính nắm giữ nhằm mục đích thu lợi từ việc cho thuê hoặc chờ tăng giá mà không phải sử dụng trong sản xuất, cung cấp hàng hóa hoặc dịch vụ hay cho các mục đích quản lý hoặc bán trong kì hoạt động SXKD thông thường.
Tài sản cố định: là những tài sản có giá trị lớn, có thời gian sử dụng dài cho các hoạt động trong Doanh nghiệp và phải thỏa mãn đồng thời các tiêu chuẩn sau:
- Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó
- Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách tin cậy
- Có thời gian sử dụng từ một năm trở lên
Có giá trị từ 000.000 đồng (ba mươi triệu đồng) trở lên TSCĐ được phân chia dựa theo các tiêu chí nhất định nhằm phục vụ cho các nhu cầu của Doanh nghiệp hiện nay: Khóa luận: Hiệu quả sử dụng tài sản tại Tổng công ty Cổ phần Bia
- Căn cứ vào hình thái biểu hiện, tài sản cố định được phân ra làm hai loại:
Tài sản cố định hữu hình: Là những tư liệu lao động chủ yếu có hình thái vật chất (từng đơn vị tài sản có kết cấu độc lập hoặc là nhiều bộ phận tài sản liên kết với nhau để thực hiện một hay một số chức năng nhất định) đảm bảo bốn tiêu chuẩn của tài sản cố định, tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh, nhưng vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu như:
- Nhà cửa, vật kiến trúc: Các công trình xây dựng cơ bản như nhà cửa, vật kiến trúc, hàng rào, bể, tháp nước, sân bãi, các công trình cơ sở hạ tầng.
- Máy móc, thiết bị: Các loại máy móc, thiết bị dùng trong sản xuất, kinh doanh của đơn vị bao gồm những máy móc chuyên dùng, máy móc, thiết bị công tác, dây chuyền công nghệ và những máy móc đơn lẻ.
- Phương tiện vận tải truyền dẫn: Các loại phương tiện vận tải và các thiết bị truyền dẫn (thông tin liên lạc, điện nước, băng chuyền tải vật tư, hàng hóa)
- Thiết bị, dụng cụ quản lý: Các loại thiết bị, dụng cụ sử dụng trong quản lý kinh doanh, quản lý hành chính (máy tính điện tử, quạt trần, quạt bàn, bàn ghế, thiết bị, dụng cụ đo lường, kiểm tra chất lượng, hút ẩm, hút bụi, chống mối mọt…)
Tài sản cố định vô hình: Những tài sản này không có hình thái vật chất nhưng có thể tạo ra được những lợi thế và quyền hạn để mang lại giá trị kinh tế cho người sở hữu nó, bao gồm:
Quyền sử dụng đất: là toàn bộ các chi phí thực tế đã chi ra có liên quan trực tiếp tới đất sử dụng, bao gồm: tiền chi ra để có quyền sử dụng đất, chi phí cho đền bù, giải phóng mặt bằng, san lấp mặt bằng, lệ phí trước bạ (nếu có)…(không bao gồm các chi phí để xây dựng các công trình trên mặt đất). Khóa luận: Hiệu quả sử dụng tài sản tại Tổng công ty Cổ phần Bia
Chi phí thành lập Doanh nghiệp: là các chi phí thực tế có liên quan trực tiếp đến việc chuẩn bị cho sự khai sinh ra đơn vị, bao gồm: Các chi phí cho công tác nghiên cứu, thăm dò, lập dự án đầu tư thành lập đơn vị, chi phí thẩm định dự án, họp thành lập…
Bằng phát minh, sáng chế: là toàn bộ các chi phí thực tế đơn vị chi ra cho các công trình nghiên cứu (bao gồm cả chi phí cho sản xuất thử nghiệm, chi cho công tác thử nghiệm, nghiệm thu của nhà nước) được Nhà nước cấp bằng phát minh, bằng sáng chế, bản quyền tác giả, hợp các chi phí để đơn vị mua lại bản quyền tác giả, bản quyền nhãn hiệu, chi phí cho việc chuyển giao công nghệ từ các tổ chức và cá nhân…mà các chi phí này có tác dụng phục vụ trực tiếp hoạt động dinh doanh của đơn vị.
Chi phí nghiên cứu, phát triển: là toàn bộ các chi phí thực tế đơn vị đã chi ra để thực hiện công việc nghiên cứu, thăm dò, xây dựng các kế hoạch đầu tư dài hạn nhằm đem lại lợi ích lâu dài cho đơn vị.
Chi phí về lợi thế thương mại: là khoản chi cho phần chênh lệch đơn vị phải trả thêm ngoài giá trị của các tài sản theo đánh giá thực tế (TSCĐ, TSLĐ …) khi đơn vị mua, nhận sáp nhập, hợp nhất một đơn vị khác.
Qua cách phân loại này giúp cho nhà quản lý thấy rõ toàn bộ cơ cấu đầu tư của Doanh nghiệp để có những quyết định đúng đắn về đầu tư hoặc điều chỉnh phương án đầu tư cho phù hợp với tình hình thực tế.
Căn cứ vào tính chất của tài sản cố định trong kinh doanh, tài sản cố định được chia thành:
- TSCĐ dùng cho mục đích kinh doanh là những TSCĐ sử dụng cho mục đích kinh doanh, bao gồm TSCĐ hữu hình, TSCĐ vô hình tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào hoạt động SXKD.
- TSCĐ dùng cho mục đích sinh lợi, sự nghiệp, an ninh, quốc phòng.
- TSCĐ bảo quản hộ, giữ hộ, cất giữ hộ Nhà nước.
Qua cách phân loại này giúp Doanh nghiệp xác định phạm vi tính khấu hao đúng đắn, từ đó tính lại giá thành, lợi nhuận được chính xác. Khóa luận: Hiệu quả sử dụng tài sản tại Tổng công ty Cổ phần Bia
Căn cứ vào quyền sở hữu, tài sản cố định được chia thành:
- Tài sản tự có: là những tài sản được xây dựng, mua sắm hoặc chế tạo bằng nguồn vốn của Doanh nghiệp do ngân sách cấp; do đi vay của ngân hàng; hoặc bằng nguồn vốn tự bổ sung, nguồn vốn liên doanh; …
- Tài sản thuê ngoài: là tài sản đi thuê để sử dụng trong một thời gian nhất định theo hợp đồng đã ký kết. Tùy theo điều kiện cơ bản của hợp đồng đã ký kết, tài sản của Doanh nghiệp được chia thành:
- Tài sản thuê tài chính: là những tài sản cố định đi thuê nhưng Doanh nghiệp có quyền kiểm soát và sử dụng lâu dài theo hợp đồng thuê.
- Tài sản thuê hoạt động: là những tài sản đi thuê của doanh nghiệp nhưng để sử dụng trong một thời gian nhất định theo hợp đồng đã ký kết.
Qua phân loại trên giúp Doanh nghiệp biết được tỷ trọng của từng loại vốn cố định theo từng nguồn hình thành, từ đó mà có quyết định đầu tư hợp lý.
Căn cứ theo hình thái sử dụng, tài sản cố định được chia thành:
- Tài sản đang dùng: là tài sản mà Doanh nghiệp đang sử dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc các hoạt động phúc lợi, sự nghiệp hay an ninh quốc phòng của Doanh nghiệp.
- Tài sản chưa cần dùng: là những tài sản cần thiết cho kinh doanh hay hoạt động khác của Doanh nghiệp song hiện tại chưa cần dùng đang được dự trữ để sau này sử dụng.
- Tài sản phúc lợi: là những tài sản của Doanh nghiệp dùng cho nhu cầu phúc lợi công cộng như: nhà văn hóa, nhà trẻ, câu lạc bộ…
1.2. Hiệu quả sử dụng tài sản của Doanh nghiệp Khóa luận: Hiệu quả sử dụng tài sản tại Tổng công ty Cổ phần Bia
1.2.1. Khái quát về hiệu quả sử dụng tài sản của Doanh nghiệp
1.2.1.1 Khái niệm hiệu quả sử dụng tài sản của Doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường, Doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì vấn đề sống còn doanh nghiệp cần quan tâm là tính hiệu quả. Chỉ khi hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả Doanh nghiệp mới có thể tự trang trải chi phí đã bỏ ra, làm nghĩa vụ với ngân sách Nhà nước và quan trọng hơn là duy trì và phát triển quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh trong Doanh nghiệp. Hiệu quả kinh tế là kết quả tổng hợp của một loạt các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của các yếu tố bộ phận so với yếu tố đầu vào. Trong đó, hiệu quả sử dụng tài sản gắn liền với lợi ích của Doanh nghiệp.
Theo nghĩa chung nhất “Hiệu quả kinh tế là một hiện tượng kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu xác định”. Như vậy, có thể hiểu hiệu quả sử dụng là một phạm trù kinh tế đánh giá trình độ sử dụng các nguồn lực về nhân lực, tài lực, vật lực và tiền vốn của Doanh nghiệp để đạt kết quả cao nhất trong quá trình sản xuất kinh doanh, tối đa hóa lợi ích của chủ sở hữu với tổng chi phí thấp nhất. Khóa luận: Hiệu quả sử dụng tài sản tại Tổng công ty Cổ phần Bia
Do đó, để đạt được mục tiêu bao trùm nhất là tối đa hóa giá trị tài sản cho chủ sở hữu, tất cả các Doanh nghiệp đều phải nỗ lực khai thác triệt để và sử dụng có hiệu quả tài sản của mình.
Như vậy, việc sử dụng hiệu quả tài sản trong Doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ, năng lực khai thác và sử dụng tài sản của Doanh nghiệp vào hoạt động sản xuất kinh doanh, nhằm mục đích tối đa hóa lợi nhuận và tăng giá trị tài sản của chủ sở hữu.
1.2.1.2. Sự cần thiết nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản của Doanh nghiệp
Mục đích kinh doanh của các Doanh nghiệp là tìm kiếm lợi nhuận cao nhất. Từ góc độ Doanh nghiệp, có thể thấy: Lợi nhuận của Doanh nghiệp là khoản tiền chênh lệch giữa doanh thu và chi phí mà Doanh nghiệp bỏ ra để đạt được thu nhập từ các hoạt động SXKD mang lại.
Lợi nhuận là chỉ tiêu chất lượng tổng hợp, phản ánh kết quả hoạt động SXKD và là nguồn tích lũy cơ bản để tái sản xuất mở rộng Doanh nghiệp. Đặc biệt trong điều kiện hạch toán kinh doanh theo cơ chế thị trường, sự tồn tại và phát triển của Doanh nghiệp hoàn toàn phụ thuộc vào kết quả kinh doanh có lợi nhuận hay không. Như vậy, lợi nhuận là “đòn bẩy” quan trọng, đồng thời là chỉ tiêu cơ bản để đánh giá hiệu quả SXKD. Lợi nhuận tác động đến tất cả các mặt hoạt động của Doanh nghiệp. Việc thực hiện được chỉ tiêu lợi nhuận là mục tiêu quan trọng đảm bảo cho tình hình tài chính của Doanh nghiệp được vững chắc.
Để đảm bảo được mục tiêu lợi nhuận, các Doanh nghiệp buộc phải tăng cường công tác quản lý sản xuất, trong đó có nội dung nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản, có như vậy mới đem lại hiệu quả cao, kết hợp với các hoạt động khác trong kinh doanh nhằm tạo ra điều kiện tốt nhất để Doanh nghiệp tái sản xuất. Ngoài ra, việc nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản của Doanh nghiệp luôn cần thiết và cấp bách, có sự ảnh hưởng rất lớn đến sự tồn tại và phát triển của Doanh nghiệp còn xuất phát từ những lí do sau: Khóa luận: Hiệu quả sử dụng tài sản tại Tổng công ty Cổ phần Bia
Tài sản gắn liền với qui mô hoạt động và khả năng cạnh tranh của Doanh nghiệp, đồng thời thể hiện trình độ trang thiết bị – cơ sở vật chất kỹ thuật của Doanh nghiệp. Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản là đảm bảo với số tài sản hiện có, bằng các giải pháp quản lý sử dụng tổng hợp nhằm khai thác triệt để thúc đẩy sản xuất phát triển. Khi chất lượng sản xuất cao sẽ thu được nhiều lãi, hoàn vốn nhanh, tạo ra vòng luân chuyển vốn, Doanh nghiệp sẽ có thêm cơ hội đầu tư – phát triển – mở rộng.
Trong sự cạnh tranh quyết liệt giữa các Doanh nghiệp với nhau thì việc nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản sẽ giúp cho Doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí từ đó tạo nên những lợi thế cạnh tranh so với các đối thủ khác trong cùng lĩnh vực hoạt động.
Tăng cường quản lý và sử dụng tài sản còn giúp cho Doanh nghiệp luôn có được trình độ SXKD phát triển, trang thiết bị, kỹ thuật được cải thiện. Việc áp dụng được kỹ thuật tiên tiến, công nghệ hiện đại sẽ tạo ra khả năng rộng lớn để nâng cao năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm. Đặc biệt, khi khai thác và sử dụng tốt được tài sản trong Doanh nghiệp sẽ cắt giảm bớt nhu cầu vay vốn cũng như việc giảm bớt về chi phí lãi vay.
Do đó, việc nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản là một vấn đề cấp thiết, là điểm đầu tiên quyết định sự tồn tại và phát triển của mọi tổ chức kinh tế hoạt động trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay.
1.2.2. Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản của Doanh nghiệp Khóa luận: Hiệu quả sử dụng tài sản tại Tổng công ty Cổ phần Bia
1.2.2.1 Các chỉ tiêu đánh giá tổng quát hiệu quả sử dụng TS
- Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA)
Chỉ tiêu thể hiện khả năng tạo ra lợi nhuận sau thuế của tài sản mà doanh nghiệp sử dụng cho hoạt động SXKD, chỉ tiêu này được tính như sau:
Chỉ tiêu này cho biết, trong một kỳ phân tích, doanh nghiệp đầu tư 100 đồng tài sản, thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp, chỉ tiêu này càng cao càng chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp là tốt, góp phần nâng cao khả năng đầu tư của chủ doanh nghiệp.
- Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE)
Trong đó: Tổng nguồn vốn CSH bình quân trong kỳ là bình quân số học của tổng nguồn vốn chủ sở hữu có ở đầu kỳ và cuối kỳ.
Chỉ tiêu này cho biết bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế được tạo ra từ một đồng vốn chủ sở hữu. Thông thường để đánh giá thì người ta so sánh với chỉ số này của năm trước đó. Chỉ số này phụ thuộc từng ngành cụ thể.
- Tỷ suất sinh lời trên doanh thu thuần (ROS)
Chỉ tiêu này cho biết với một đồng doanh thu thuần từ bán hàng và cung cấp dịch vụ sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận. Tỷ suất này càng lớn thì hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp càng cao.
- Hiệu suất sử dụng tổng tài sản
Trong đó: Tổng tài sản bình quân trong kỳ là bình quân số học của tổng tài sản có ở đầu kỳ và cuối kỳ.
Chỉ tiêu này cho biết một đơn vị tài sản tạo ra được bao nhiêu đơn vị doanh thu thuần. Chỉ tiêu này càng lớn hiệu quả sử dụng tài sản càng cao. Khóa luận: Hiệu quả sử dụng tài sản tại Tổng công ty Cổ phần Bia
- Suất hao phí của TS so với lợi nhuận
Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích để tạo ra một đồng lợi nhuận sau thuế, doanh nghiệp cần bao nhiêu đồng tài sản, chỉ tiêu này càng thấp, hiệu quả sử dụng tài sản càng cao và càng hấp dẫn các nhà đầu tư và ngược lại.
1.2.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá về hiệu quả sử dụng TSNH
- Các chỉ tiêu đánh giá chung về TSNH
- Hiệu suất sử dụng TSNH (số vòng quay của TSNH)
Trong đó: Tài sản ngắn hạn bình quân trong kỳ là bình quân số học của tài sản ngắn hạn có ở đầu kỳ và cuối kỳ.
Chỉ tiêu này cho biết mỗi đơn vị giá trị tài sản ngắn hạn sử dụng trong kỳ đem lại bao nhiêu đơn vị doanh thu thuần thể hiện sự vận động của tài sản ngắn hạn trong kỳ. Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ hiệu quả sử dụng TSNH càng cao, đó là nhân tố góp phần nâng cao lợi nhuận.
Chỉ tiêu này cho biết mỗi đơn vị tài sản ngắn hạn có trong kỳ đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Chỉ tiêu này càng cao hiệu quả sử dụng TSNH tốt, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp.
- Tỷ suất sinh lời của tài sản ngắn hạn (ROCA – Return on Current Assets)
Chỉ tiêu này cho biết mỗi đơn vị tài sản ngắn hạn có trong kỳ đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Chỉ tiêu này càng cao hiệu quả sử dụng TSNH tốt, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp.
- Thời gian một vòng quay của TSNH
Chỉ tiêu này cho biết mỗi vòng quay của TSNH bình quân mất bao nhiêu ngày. Chỉ tiêu này càng thấp, chứng tỏ TSNH vận động nhanh, góp phần nâng cao doanh thu và lợi nhuận cho doanh nghiệp.
- Các chỉ tiêu đánh giá về thành phần TSNH
- Khả năng thanh toán tổng quát
Là chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán chung của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo. Chỉ tiêu này cho biết với tổng số tài sản hiện có, doanh nghiệp có bảo đảm trang trải được các khoản nợ phải trả hay không.
- Khả năng thanh toán hiện hành Khóa luận: Hiệu quả sử dụng tài sản tại Tổng công ty Cổ phần Bia
Đây là một trong những thước đo khả năng thanh toán của một doanh nghiệp, được sử dụng rộng rãi nhất là hệ số thanh toán hiện hành.
Hệ số thanh toán hiện hành cho thấy doanh nghiệp có bao nhiêu tài sản có thể chuyển đổi thành tiền mặt để đảm bảo thanh toán các khoản nợ ngắn hạn. Hệ số này đo lường khả năng trả nợ của Doanh nghiệp.
Nếu hệ số thanh toán hiện hành giảm cho thấy khả năng thanh toán giảm, đó là dấu hiệu báo trước những khó khăn về tài chính sẽ xảy ra. Nếu hệ số nợ này cao, điều đó có nghĩa là Doanh nghiệp luôn sẵn sàng thanh toán các khoản nợ. Tuy nhiên, nếu hệ số này cao quá sẽ giảm hiệu quả hoạt động vì doanh nghiệp đầu tư quá nhiều vào tài sản ngắn hạn.
- Khả năng thanh toán nhanh
Hệ số thanh toán nhanh được tính toán trên cơ sở những tài sản lưu ngắn hạn có thể nhanh chóng chuyển đổi thành tiền, đôi khi chúng còn được gọi là tài sản có tính thanh khoản, tài sản có tính thanh khoản bao gồm tất cả tài sản ngắn hạn trừ hàng tồn kho. Do đó, hệ số thanh toán nhanh cho biết khả năng hoàn trả các khoản nợ ngắn hạn không phụ thuộc vào hàng tồn kho. Độ lớn của hệ số này phụ thuộc vào ngành nghề kinh doanh và kỳ hạn thanh toán các món nợ trong kỳ. Đối với ngành công nghiệp “Thực phẩm – Đồ uống” thì hệ số thanh toán nhanh có ngưỡng là 1,10.
- Thời gian thu nợ trung bình
Hệ số thu nợ cho biết các khoản phải thu quay lại bao nhiêu lần, thời gian thu nợ trung bình cho biết bình quân Doanh nghiệp mất bao nhiêu thời gian để thu hồi các khoản tín dụng cấp cho khách hàng.
- Thời gian trả nợ trung bình Khóa luận: Hiệu quả sử dụng tài sản tại Tổng công ty Cổ phần Bia
Hệ số trả nợ cho biết số lần trả nợ của doanh nghiệp trong một chu kỳ kinh doanh, hệ số này càng thấp chứng tỏ Doanh nghiệp chiếm dụng được các khoản nợ dài. Tuy nhiên, chiếm dụng các khoản nợ này quá dài có thể gây ảnh hưởng đến uy tín của Doanh nghiệp.
- Vòng quay tiền
Vòng quay tiền trung bình cho biết Doanh nghiệp mất bao lâu để thu hồi một khoản tín dụng. Nếu vòng quay tiền ngắn tức là Doanh nghiệp thu hồi nhanh các khoản tiền trong kinh doanh, chiếm dụng được các khoản nợ dài. Tuy nhiên vòng quay tiền của từng Doanh nghiệp là khác nhau, phụ thuộc vào ngành nghề kinh doanh và lĩnh vực hoạt động.
1.2.2.3. Các chỉ tiêu đánh giá về hiêu quả sử dụng TSDH
- Các chỉ tiêu đánh giá chung về TSDH
- Hiệu suất sử dụng TSDH
Trong đó: Tài sản dài hạn bình quân trong kỳ là bình quân số học của tài sản dài hạn có ở đầu kỳ và cuối kỳ.
Chỉ tiêu này cho biết một đơn vị giá trị tài sản dài hạn trong kỳ tạo ra bao nhiêu đơn vị doanh thu. Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sản dài hạn càng cao, đó là nhân tố góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động kinh doanh.
- Hệ số sinh lợi của TSDH
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lợi của tài sản dài hạn. Nó cho biết mỗi đơn vị giá trị tài sản dài hạn có trong kỳ đem lại bao nhiêu đơn vị lợi nhuận sau thuế. Khóa luận: Hiệu quả sử dụng tài sản tại Tổng công ty Cổ phần Bia
- Các chỉ tiêu đánh giá chung về thành phần TSDH
- Suất hao phí của TSCĐ
Chỉ tiêu này cho biết doanh nghiệp muốn có 1 đồng doanh thu thuần trong kỳ thì cần bao nhiêu đồng nguyên giá TSCĐ, đó là căn cứ để đầu tư TSCĐ cho phù hợp nhằm đạt được doanh thu như mong muốn.
- Tỷ suất sinh lời của TSCĐ
Chỉ tiêu này là sự so sánh giữa lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp với TSCĐ sử dụng trong kỳ.
Chỉ tiêu này cho biết cứ một đơn vị nguyên giá (hoặc giá trị còn lại) của TSCĐ tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh thì tạo được bao nhiêu đồng lợi nhuận. Chỉ tiêu này càng lớn càng tốt, tức là khả năng sinh lợi càng cao, hiệu quả sử dụng tài sản cố định của doanh nghiệp càng cao và ngược lại.
- Hệ số hao mòn TSCĐ hữu hình
Khi hệ số hao mòn này càng lớn (càng tiến về 1) thì chứng tỏ TSCĐ hữu hình càng cũ, lạc hậu và cần được đổi mới, thay thế.
Những chỉ tiêu tổng hợp và chỉ tiêu phân tích ở trên nhằm phục vụ cho việc kiểm tra tài chính đối với từng loại tài sản của Doanh nghiệp. Khi đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản, Doanh nghiệp rất cần kết hợp các loại chỉ tiêu trên từ đó rút ra kết luận và có quyết định đúng đắn trong việc điều chỉnh, đầu tư về tài sản trong Doanh nghiệp của mình.
Ngoài ra, vì tài sản có nhiều loại, Doanh nghiệp cũng cần quan tâm xét đến chỉ tiêu định mức kinh tế kỹ thuật của từng loại tài sản.
1.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng tài sản của Doanh nghiệp Khóa luận: Hiệu quả sử dụng tài sản tại Tổng công ty Cổ phần Bia
Để đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản, ngoài việc đánh giá bằng các chỉ tiêu trên, Doanh nghiệp cũng cần hiểu rõ các nhân tố tác động đến hiệu quả sử dụng tài sản. trên cơ sở đó, Doanh nghiệp sẽ đưa ra các chiến lược và kế hoạch phù hợp để phát huy hiệu quả sử dụng tài sản tối đa để giúp cho Doanh nghiệp đạt được những mục tiêu đã đề ra.
1.3.1. Các nhân tố chủ quan
1.3.1.1 Trình độ cán bộ quản lý và tay nghề của công nhân
Có thể nói, con người là thành tố quan trọng trong bất cứ hoạt động nào. Trong hoạt động SXKD cũng vậy, con người đóng vai trò quyết định đến hiệu quả hoạt động nói chung và hiệu quả sử dụng tài sản nói riêng, đặc biệt là trình độ cán bộ quản lý và tay nghề người công nhân.
Trước hết, về trình độ cán bộ quản lý: Trình độ cán bộ quản lý thể hiện ở trình độ chuyên môn nhất định, khả năng tổ chức, quản lý và ra quyết định. Nếu cán bộ quản lý có trình độ chuyên môn nghiệp vụ vững vàng, khả năng tổ chức, quản lý tốt đồng thời đưa ra được những quyết định đúng đắn, phù hợp với tình hình Doanh nghiệp và tình hình thị trường thì hiệu quả sử dụng tài sản cao, mang lại nhiều lợi ích cho Doanh nghiệp. Và nếu ngược lại, cán bộ quản lý không có đủ khả năng tổ chức cũng như quản lý, quyết định sai lầm thì tài sản sẽ không được sử dụng một cách hiệu quả dẫn đến Doanh nghiệp có thể thua lỗ, thậm chí phá sản, Vì vậy trình độ cán bộ quản lý vô cùng quan trọng đối với việc nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản trong Doanh nghiệp.
Do đó, yêu cầu đói với cán bộ ở bộ phận này là có chuyên môn nghiệp vụ vững vàng, có tinh thần trách nhiệm cao, năng động, sáng tạo nhằm đưa ra quyết định đúng đắn, kịp thời cho Doanh nghiệp.
Thứ hai, về trình độ tay nghề của công nhân: bộ phận công nhân là bộ phận trực tiếp tạo ra sản phẩm, dịch vụ, trực tiếp sử dụng tài sản của Doanh nghiệp. Đối với công nhân sản xuất có tay nghề cao, có khả năng tiếp thu công nghệ mới, phát huy được tính sáng tạo, tự chủ trong công việc, có ý thức giữ gìn và bảo quản tài sản trong quá trình vận hành thì tài sản sẽ được sử dụng hiệu quả hơn đồng thời sẽ tạo ra sản phẩm, dịch vụ chất lượng cao, hạ giá thành góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh cho Doanh nghiệp. Khóa luận: Hiệu quả sử dụng tài sản tại Tổng công ty Cổ phần Bia
1.3.1.2. Tổ chức sản xuất – kinh doanh
Một quy trình sản xuất – kinh doanh hợp lý sẽ khắc phục được tình trạng chồng chéo chức năng, nhiệm vụ giữa các khâu, góp phần tiết kiệm nguồn lực, tăng năng suất lao động, giảm chi phí bất hợp lý, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản, hiệu quả hoạt động của Doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, một Doanh nghiệp có chiến lược kinh doanh tốt, có nhiều giải pháp thực hiện trong từng thời kỳ và phù hợp với nhu cầu thị trường thì hiệu quả sử dụng tài sản sẽ cao.
1.3.1.3. Đặc điểm sản xuất – kinh doanh
Đây là nhân tố có ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp. Doanh nghiệp có đặc điểm khác về ngành nghề kinh doanh sẽ đầu tư vào tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn khác nhau. Tỷ trọng tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn khác nhau. Tỷ trọng tài sản ngắn hạn và các tài sản dài hạn khác nhau nên hệ số sinh lợi của tài sản cũng khác nhau. Doanh nghiệp có đặc điểm hàng hóa khác nhau và đối tượng khách khác nhau nên chính sách tín dụng thương mại cũng khác nhau đến tỷ trọng khoản phải thu khác. Như vậy, đặc điểm sản xuất – kinh doanh của Doanh nghiệp, tác động quan trọng đến hiệu quả sử dụng tài sản, ảnh hưởng trực tiếp tới cơ cấu tài sản, vòng quay và hệ số sinh lợi của tài sản.
1.3.1.4. Năng lực quản lý tài sản của doanh nghiệp
Quản lý tài sản một cách khoa học, chặt chẽ sẽ góp phần làm tăng hiệu quả sử dụng tài sản của Doanh nghiệp. Quản lý tài sản của Doanh nghiệp được thể hiện trên các nội dung: quản lý tiền mặt, quản lý dự trữ – hàng tồn kho, quản lý các khoản phải thu, quản lý các khoản đầu tư tài chính dài hạn, quản lý TSCĐ … Khóa luận: Hiệu quả sử dụng tài sản tại Tổng công ty Cổ phần Bia
- Quản lý tiền mặt
Việc xác định lượng tiền mặt dự trữ chính xác giúp cho Doanh nghiệp đáp ứng các nhu cầu về: giao dịch, dự phòng, đầu cơ do chủ động trong hoạt động thanh toán chi trả. Đồng thời Doanh nghiệp có thể đưa ra các biện pháp thích hợp đầu tư những khoản tiền nhàn rỗi nhằm thu lợi nhuận như đầu tư chứng khoán ngắn hạn. Điều này đòi hỏi nhà quản lý phải có năng lực phân tích và phán đoán tình hình trên thị trường tiền tệ, thực trạng tình hình tài chính của Doanh nghiệp; từ đó có sự lựa chọn để đưa ra quyết định sử dụng ngân quỹ đúng đắn, làm giảm tối đa các rủi ro về lãi suất hoặc tỷ giá hối đoái, tối ưu hóa việc đi vay ngắn hạn, tăng hiệu quả sử dụng tổng tài sản.
- Xác định mức dự trữ tiền tối ưu
Sử dụng mô hình Baumol để xác định lượng tiền mặt tối ưu cần dự trữ trong doanh nghiệp là bao nhiêu, thông qua việc xác định chi phí giao dịch và chi phí cơ hội cho việc giữ tiền. Với các giả định sau: Nhu cầu về tiền trong doanh nghiệp là ổn định; Không có dự trữ tiền mặt cho mục đích an toàn; Doanh nghiệp có hai hình thức dự trữ là tiền mặt và chứng khoán khả thị; Không có rủi ro trong hoạt động đầu tư chứng khoán.
Mô hình này xác định mức tiền mặt mà tại đó, tổng chi phí của việc giữ tiền là nhỏ nhất. Tổng chi phí bao gồm chi phí giao dịch và chi phí cơ hội.
Chi phí giao dịch là chi phí liên quan đến việc chuyển đổi từ tài sản đầu tư thành tiền.
Trong đó:
- T: Tổng nhu cầu tiền về tiền trong năm C: Quy mô một lần bán chứng khoán
- F: Chi phí cố định của một lần bán chứng khoán
- Chi phí cơ hội là chi phí mất đi do giữ tiền mặt khiến cho tiền mặt không dùng để đầu tư sinh lời.
Trong đó:
- C/2: Mức dự trữ tiền mặt trung bình K: Lãi suất đầu tư chứng khoán
- Đồ thị 1.1. Mức dự trữ tiền mặt
- Vậy, tổng chi phí (TC):
- TC = TrC + OC
Tổng chi phí là một hàm của C. Để tổng chi phí là nhỏ nhất thì đạo hàm cấp một của TC phải bằng 0 và mức dự trữ tiền tối ưu là:
Trong đó: C* là mức dự trữ tối ưu. Vậy, tại mức C = C* ta được TCmin.
- Quyết định thu chi tiền mặt Khóa luận: Hiệu quả sử dụng tài sản tại Tổng công ty Cổ phần Bia
Trong quản lý thu chi tiền mặt, một nguyên tắc tất yếu đó chính là “tăng thu – giảm chi”, tức là nhà quản lý cần tăng tốc độ thu hồi những khoản tiền nhận được và chậm chi những khoản tiền cần phải chi trả. Tăng thu là Doanh nghiệp tích cực thu hồi được các khoản nợ từ khách hàng để sớm có vốn quay vòng đầu tư vào các hoạt động của Doanh nghiệp, đảm bảo thông suốt quá trình giao dịch kinh doanh. Giảm chi là tận dụng thời gian chênh lệch của các khoản thu, chi, chậm trả lương để càng có nhiều tiền nhàn rỗi đầu tư sinh lời.
Để chọn một phương thức hiệu quả, nhà quản lý cần so sánh giữa lợi ích và chi phí tăng thêm của các phương thức thu – chi sao cho lợi ích đem lại là lớn nhất đối với Doanh nghiệp. Ta có thể dựa trên cơ sở dưới đây để thực hiện so sánh, đánh giá:
Trong đó:
- ΔB = Δt* TS*I*(1-T) ΔC = (C2-C1)*(1-T)
- ΔB: Lợi ích tăng thêm khi áp dụng phương thức đề xuất
- ΔC: Phần chi phí tăng thêm khi áp dụng phương thức đề xuất
- Δt: Số ngày thay đổi khi áp dụng phương thức đề xuất
- Đối với phương thức thu tiền: là số ngày được rút ngắn
- Đối với phương thức chi tiền: là số ngày tăng thêm TS: Quy mô chuyền tiền
- I: Lãi suất đầu tư
- T: Thuế suất thuế TNDN
- C1: Chi phí của phương thức đang sử dụng C2: Chi phí của phương thức đề xuất
Dựa vào kết quả tính toán theo mô hình trên, nhà quản lý có thể đưa ra quyết định như sau:
- ΔB > ΔC: Chuyển sang phương thức đề xuất vì lợi ích thu được cao hơn chi phí tăng thêm
- ΔB = ΔC: Bàng quan với cả hai phương thức do áp dụng phương thức đề xuất không đem lại lợi ích tăng thêm cho Doanh nghiệp. Khóa luận: Hiệu quả sử dụng tài sản tại Tổng công ty Cổ phần Bia
- ΔB < ΔC: Giữ nguyên phương thức cũ do phương thức mới không đem lại lợi ích lớn hơn mà Doanh nghiệp còn phải bỏ ra chi phí để bù đắp cho hình thức này.
Quản lý dự trữ, tồn kho
Trong quá trình luân chuyển vốn ngắn hạn phục vụ cho SXKD thì hàng hóa dự trữ, tồn kho có ý nghĩa to lớn cho hoạt động của Doanh nghiệp. Hàng hóa dự trữ, tồn kho giúp cho Doanh nghiệp giảm thiệt hại trước những biến động của thị trường. Tuy nhiên, nếu dự trữ quá nhiều sẽ làm tăng chi phí lưu kho, chi phí bảo quản và gây ứ đọng vốn. Vì vậy, căn cứ vào kế hoạch SXKD, khả năng sẵn sàng cung ứng của nhà cung cấp cùng với những dự đoán biến động của thị trường, Doanh nghiệp cần xác định một mức tồn kho hợp lý nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn cho Doanh nghiệp, góp phần nâng cao hiệu quả của Doanh nghiệp.
- Mô hình quản lý hàng tồn kho hiệu quả – Mô hình EOQ
Mô hình quản lý hàng tồn kho nhằm đạt đến mục đích đạt được tổng chi phí tồn kho là nhỏ nhất. Trong điều kiện giá mua hàng ổn định, tổng chi phí tồn kho chỉ xét đến hai loại là chi phí đặt hàng và chi phí lưu kho.
Trong đó:
- CP1: Chi phí đặt hàng CP2: Chi phí dự trữ
- S: Số lượng hàng cần đặt
- Q: Lượng hàng cần đặt 1 lần S/Q: Số lần đặt hàng
- O: Chi phí một lần đặt hàng
- C: Chi phí dự trữ kho tính cho 1 đơn vị hàng lưu kho Q/2: Mức lưu kho trung bình
Từ đó, ta có tổng chi phí: TC = CP1 + CP2
Tổng chi phí tối thiểu là mức lưu kho tối ưu tương đương TCmin:
- Thời gian dự trữ tối ưu (T*):
- Vậy ta có điểm đặt hàng tối ưu (OP – Order point)
- Điểm đặt hàng = Thời gian chờ đặt hàng x Số lượng hàng sử dụng trong ngày
Mô hình EOQ được xây dựng trên các giả định cơ bản: Nhu cầu hàng tồn kho đều đặn; giá mua hàng mỗi lần đều bằng nhau; không có yếu tố chiết khấu thương mại, không tính đến dự trữ an toàn.
Chu kì của hàng tồn kho thể hiện qua đồ thị 1.2 như sau:
- Đồ thị 1.2. Lượng hàng hóa dự trữ
- Mô hình quản lý hàng tồn kho ABC
Đây là mô hình quản lý hàng tồn kho được phát triển dựa trên một nguyên lý do một nhà kinh tế học Italia vào thế kỉ 19 là Pareto tìm ra. Mô hình quản lý hàng tồn kho ABC phân loại toàn bộ hàng dự trữ của doanh nghiệp thành 3 nhóm: A, B, C, căn cứ vào mối quan hệ giữa giá trị dự trữ hàng năm với số lượng chủng loại hàng.
Giá trị hàng hóa dự trữ hàng năm được xác định bằng tích số giữa giá bán một đơn vị dự trữ với lượng dự trữ hàng năm.
- Đồ thị 1.3. Mô hình quản lý hàng tồn kho ABC Khóa luận: Hiệu quả sử dụng tài sản tại Tổng công ty Cổ phần Bia
Theo đồ thị minh họa trên, các loại vật tư chia làm ba nhóm chính:
Nhóm A: bao gồm những hàng hóa có giá trị hàng năm cao nhất, chiếm từ 70 – 80% so với tổng giá trị hàng dự trữ, trong khi đó số lượng chỉ chiếm khoảng 15% tổng số chủng loại hàng dự trữ.
Nhóm B: bao gồm những hàng hóa có giá trị hàng năm chiếm từ 15 – 25% so với tổng giá trị hàng dự trữ, trong khi đó số lượng chiếm 30% lượng hàng dự trữ.
Nhóm C: bao gồm những hàng hóa có giá trị hàng năm nhỏ chỉ chiếm 5% so với tổng giá trị hàng dự trữ, trong đó số lượng chiếm 55% lượng hàng dự trữ.
Phương pháp phân tích ABC cho phép ra những quyết định quan trọng liên quan đến dự trữ, mua hàng, nhà cung cấp và kiểm tra dữ liệu hàng tồn kho.
- Quản lý các khoản phải thu
Trong nền kinh tế thị trường, việc mua bán chịu hay còn gọi là “tín dụng thương mại” là một hoạt động không thể thiếu đối với Doanh nghiệp. Quản lý khoản phải thu khách hàng rất quan trọng bởi nếu không thu được tiền đúng hạn doanh nghiệp sẽ thiếu một khoản thu, tốc độ quay vòng vốn chậm lại, doanh nghiệp lại phát sinh thêm chi phí quản lý, chi phí thu hồi nợ,… Nói cách khác đây cũng chính là một rủi ro trong thanh toán mà doanh nghiệp phải đối mặt. Chính vì vậy, để đảm bảo giảm thiểu rủi ro thấp nhất Doanh nghiệp thường xây dựng một chính sách tín dụng thông qua các bước sau:
- Điều khoản bán trả chậm Khóa luận: Hiệu quả sử dụng tài sản tại Tổng công ty Cổ phần Bia
Mỗi Doanh nghiệp hoạt động trong một ngành nghề, lĩnh vực khác nhau đều cung cấp tín dụng thương mại nhưng có sự khác biệt giữa các điều khoản. Nếu hàng hóa được sản xuất theo đơn đặt hàng thì khách hàng thường xuyên yêu cầu tạm ứng một khoản tiền. Còn nếu đơn hàng là không thường xuyên hoặc có rủi ro thì doạnh nghiệp sẽ yêu cầu khách hàng trả tiền ngay. Nếu việc cấp tín dụng là thường xuyên và kéo dài thì thời gian thanh toán có thể kéo dài thêm, thường là 30 – 60 ngày. Để khuyến khích khách hàng của mình thanh toán sớm, doanh nghiệp thường cung cấp chiết khấu thanh toán. Nếu Công ty bán hàng với điều khoản tín dụng 2/10 net 30 tức là nếu khách hàng thanh toán trong 10 ngày sẽ được hưởng chiết khấu thanh toán 2%, còn nếu không thì khách hàng phải đảm bảo trả nợ trong vòng 30 ngày. Một đặc điểm trong điều khoản bán chậm đó là nghi ngờ khả năng thanh toán của khách hàng, doanh nghiệp có thể áp dụng công cụ hối phiếu -một loại giấy quy định cụ thể thời hạn trả tiền của người mua vào một thời điểm nhất định.
- Phân tích năng lực tín dụng của khách hàng
Để thực hiện việc cấp tín dụng cho khách hàng thì điều đầu tiên doanh nghiệp phải phân tích được năng lực tín dụng của khách hàng. Ngoài ra khi phân tích khả năng tín dụng của khách hàng doanh nghiệp cần lưu ý đến các tiêu chuẩn sau: Phẩm chất, tư cách tín dụng; năng lực trả nợ; vốn của khách hàng; tình hình chung của nền kinh tế và ngành; tài sản thế chấp, cầm cố. Sau khi phân tích năng lực tín dụng của khách hàng, doanh nghiệp sẽ xem xét các khoản tín dụng mà khách hàng đề nghị dựa vào chỉ tiêu NPV.
- Quyết định tín dụng khi xem xét một phương án cấp tín dụng
Trong đó:
- NPV = CFt/k – CF0
- CF0 = VC * S * ACP/365
- CFt = [S * (1-VC) – S * BD – CD] * (1 – T)
- CFt : dòng tiền sau thuế mỗi giai đoạn
- CF0 : giá trị doanh nghiệp đầu tư vào khoản phải thu khách hàng VC : tỷ lệ chi phí biến đổi trên doanh thu
- S : doanh thu dự kiến mỗi kì
- ACP : thời gian thu tiền bình quân tính theo ngày BD : tỷ lệ nợ xấu trên dòng tiền từ bán hàng
- CD : luồng tiền ra tăng thêm của bộ phận tín dụng T : thuế suất thuế thu nhập Doanh nghiệp
- K : tỉ lệ thu nhập yêu cầu sau thuế
Sau khi tính toán NPV, Doanh nghiệp quyết định dựa trên cơ sở: NPV>0: cấp tín dụng
NPV=0: bàng quan NPV<0: không cấp tín dụng
- Quản lý các khoản đầu tư tài chính dài hạn Khóa luận: Hiệu quả sử dụng tài sản tại Tổng công ty Cổ phần Bia
Kết quả tài chính cuối cùng của hoạt động đầu tư tài chính dài hạn là tổng mức lợi nhuận. Tổng mức lợi nhuận là phần chênh lệch giữa tổng doanh thu và tổng chi phí. Các Doanh nghiệp phải đánh giá, phân tích và xem xét trong số các hoạt động đầu tư tài chính, hoạt động nào mang lại lợi ích kinh tế cao nhất, nhằm lựa chọn đúng hướng đầu tư, quy mô đầu tư, danh mục đầu tư hợp lý nhất và đạt kết quả cao nhất.
- Quản lý tài sản cố định
Để đạt được các chỉ tiêu về hiệu quả sử dụng tài sản cố định, Doanh nghiệp phải xác định qui mô và chủng loại tài sản cần thiết cho quá trình sản xuất kinh doanh. Đây là vấn đề thuộc đầu tư xây dựng cơ bản, đòi hỏi Doanh nghiệp cần phải cân nhắc kĩ càng các quyết định về đầu tư dựa trên cơ sở các nguyên tắc và qui trình phân tích dự án đầu tư. Nếu mua nhiều TSCĐ mà không dùng hết gây ra sự lãng phí vốn, song nếu phương tiện không đủ so với lực lượng lao động thì năng suất sẽ giảm. Trên cơ sở một lượng TSCĐ đã mua sắm, một mặt Doanh nghiệp phải tận dụng tối đa thời gian và hiệu suất của máy, thực hiện an toàn, cố gắng khấu hao nhanh để sớm đổi mới và áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật tiên tiến. Điều đó sẽ tạo tiền đề cho Doanh nghiệp luôn luôn đổi mới theo hướng tích cực, hiện đại, cung cấp những sản phẩm phù hợp với nhu cầu thị trường và mang tính cạnh tranh cao.
1.3.1.5. Công tác thẩm định dự án
Công tác thẩm định dự án và đặc biệt là thẩm định tài chính dự án có vai trò rất quan trọng đối với hiệu quả đầu tư của Doanh nghiệp, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng tài sản của Doanh nghiệp.
1.3.1.6. Khả năng huy động vốn và cơ cấu vốn
Vốn là điều kiện không thể thiếu được để một doanh nghiệp được thành lập và tiến hành các hoạt động sản xuất – kinh doanh. Vốn là nguồn hình thành nên tài sản. Vì vậy, khả năng huy động vốn cũng như cấn đề cơ cấu vốn sẽ có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả sử dụng tài sản của Doanh nghiệp.
Nếu Doanh nghiệp có khả năng huy động vốn lớn sẽ là cơ hội để mở rộng sản xuất -kinh doanh, đa dạng hóa các hoạt động đầu tư làm tăng doanh thu cho doanh nghiệp và từ đó làm tăng hiệu suất sử dụng tổng tài sản… Bên cạnh đó, nếu Doanh nghiệp duy trì được cơ cấu vốn hợp lý thì chi phí vốn sẽ giảm, góp phần làm giảm chi phí kinh doanh, tăng lợi nhuận và do đó hệ số sinh lợi tổng tài sản sẽ tăng.
1.3.2. Các nhân tố khách quan Khóa luận: Hiệu quả sử dụng tài sản tại Tổng công ty Cổ phần Bia
1.3.2.1 Môi trường kinh tế
Nhân tố này thể hiện các đặc trưng của hệ thống kinh tế trong đó các doanh nghiệp tiến hành hoạt động sản xuất – kinh doanh như: Chu kỳ phát triển kinh tế, tăng trưởng kinh tế hệ thống tài chính tiền tệ, tình hình lạm phát, tỷ lệ thất nghiệp, các chính sách tài chính – tín dụng của Nhà nước.
Hệ thống tài chính tiền tệ, lạm phát, thất nghiệp và các chính sách tài khóa của chính phủ có tác động lớn tới quá trình ra quyết định sản xuất – kinh doanh và kết quả hoạt động của Doanh nghiệp. Nếu tỷ lệ lạm phát cao thì hiệu quả sử dụng tài sản thực của doanh nghiệp sẽ khó có thể cao được do sự mất giá của đồng tiền.
Trong điều kiện nền kinh tế mở cửa, doanh nghiệp còn chịu tác động của thị trường quốc tế. Sự thay đổi chính sách thương mại của các nước, sự bất ổn của nền kinh tế các nước tác động trực tiếp đến thị trường đầu vào và đầu ra của Doanh nghiệp.
Như vậy những thay đổi của môi trường kinh tế ngày càng có tác động mạnh đến hoạt động sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp, tạo cho Doanh nghiệp những thuận lợi đồng thời cả khó khăn. Do đó, Doanh nghiệp phải luôn đánh giá và dự báo những thay đổi đó để có thể đưa ra biện pháp thích hợp nhằm tranh thủ những cơ hội và hạn chế những tác động tiêu cực từ sự thay đổi của môi trường kinh tế.
1.3.2.2. Cơ chế quản lý và các chính sách kinh tế của Nhà nước
Nhà nước bằng pháp luật và hệ thống chính sách kinh tế, thực hiện chức năng quản lý và điều tiết các nguồn lực trong nền kinh tế. Trên cơ sở pháp luật kinh tế và các biện pháp kinh tế, Nhà nước tạo môi trường và hành lang cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh và hướng các hoạt động đó theo kế hoạch kinh tế vĩ mô.
Một trong những chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước như chính sách thuế. Thuế là công cụ quan trọng của Nhà nước để điều tiết kinh tế vĩ mô nói chung và hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nói riêng. Bởi vì mức thuế cao hay thấp sẽ làm cho phần lợi nhuận sau thuế nhiều hay ít, do đó ảnh hưởng đến thu nhập và khả năng sinh lời của tài sản..
Chính sách tiền tệ một mặt là cung cấp đầy đủ phương tiện thanh toán cho nền kinh tế, mặt khác phải giữ ổn định giá trị đồng bản tệ. Khóa luận: Hiệu quả sử dụng tài sản tại Tổng công ty Cổ phần Bia
Vì vậy đứng trước các quyết định đầu tư, tổ chức doanh nghiệp luôn phải xét tới các chính sách của Nhà nước. Trong nền kinh tế thị trường, vai trò của Nhà nước là hết sức quan trọng. Sự can thiệp ở mức độ hợp lý của Nhà nước vào hoạt động sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp là cần thiết và tập trung ở các nội dung như: duy trì sự ổn định kinh tế, chính trị; định hướng phát triển kinh tế, kích thích phát triển kinh tế thông qua hệ thống pháp luật, phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội.
1.3.2.3. Chính trị – Pháp luật
Trong nền kinh tế thị trường, vai trò của Nhà nước là rất quan trọng. Sự can thiệp ở mức độ hợp lý của Nhà nước vào hoạt động sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp là cần thiết và tập trung ở các nội dung như: duy trì sự ổn định kinh tế – chính trị, định hướng phát triển kinh tế, kích thích phát triển kinh tế thông qua hệ thống Pháp luật, phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội.
1.3.2.4. Khoa học – Công nghệ
Khoa học – Công nghệ là một trong những nhân tố quyết định đến năng suất lao động và trình độ sản xuất của nền kinh tế nói chung và của từng Doanh nghiệp nói riêng. Sự tiến bộ của khoa học – công nghệ sẽ tạo điều kiện cho các Doanh nghiệp nâng cao năng lực sản xuất, giảm bớt chi phí, tăng khả năng cạnh tranh. Tuy nhiên, tiến bộ khoa học – công nghệ cũng có thể làm cho tài sản của Doanh nghiệp bị hao mòn vô hình nhanh hơn. Có những máy móc, thiết bị, quy trình công nghệ… mới chỉ nằm trên các dự án, các dự thảo, phát minh đã trở nên lạc hậu trong chính thời điểm đó.
1.3.2.5. Thị trường
Thị trường là nhân tố có ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt SXKD của Doanh nghiệp, đặc biệt là thị trường đầu vào, thị trường đầu ra và thị trường tài chính. Khóa luận: Hiệu quả sử dụng tài sản tại Tổng công ty Cổ phần Bia
Khi thị trường đầu vào biến động, giá cả nguyên vật liệu tăng lên sẽ làm tăng chi phí đầu vào của Doanh nghiệp và do đó làm tăng giá bán gây khó khăn cho việc tiêu thụ sản phẩm. Nếu giá bán không tăng lên theo một tỷ lệ tương ứng với tỷ lệ tăng của giá cả nguyên vật liệu đầu vào cùng với sự sụt giảm về số lượng sản phẩm tiêu thụ sẽ làm giảm lợi nhuận của Doanh nghiệp.
Nếu thị trường đầu ra sôi động, nhu cầu lớn kết hợp với sản phẩm của Doanh nghiệp có chất lượng cao, giá bán hợp lý, khối lượng đáp ứng nhu cầu thị trường thì sẽ làm tăng doanh thu và lợi nhuận cho Doanh nghiệp.
Thị trường tài chính là kênh phân phối vốn từ nơi thừa vốn đến nơi có nhu cầu. Thị trường tài chính bao gồm thị trường tiền và thị trường vốn. Thị trường chứng khoán bao gồm cả thị trường tiền, là nơi mua bán các chứng khoán ngắn hạn và thị trường vốn, nơi mua bán các chứng khoán trung và dài hạn. Như vậy thị trường tài chính và đặc biệt là thị trường chứng khoán có vai trò quan trọng trong việc huy động vốn, mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nếu thị trường hoạt động hiệu quả sẽ là kênh huy động vốn hữu hiệu cho các Doanh nghiệp. Tuy nhiên, nếu các Doanh nghiệp tập trung quá nhiều vào đầu tư chứng khoán sẽ đẫn dến tình trạng cơ cấu tài sản mất cân đối làm gián tiếp giảm hiệu quả sử dụng tài sản.
1.3.2.6. Đối thủ cạnh tranh
Đây là một yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tồn tại, phát triển của Doanh nghiệp. Nhân tố cạnh tranh bao gồm các yếu tố và điều kiện trong nội bộ ngành sản xuất có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình kinh doanh của Doanh nghiệp như khách hàng, nhà cung cấp, các đối thủ cạnh tranh,các sản phẩm thay thế… Các yếu tố này sẽ quyết định tính chất, mức độ cạnh tranh của ngành và khả năng thu lợi nhuận của Doanh nghiệp.
1.3.2.7. Đơn vị cấp trên
Đơn vị cấp trên cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng tài sản của Doanh nghiệp thông qua những định hướng, chính sách phát triển. Nếu các chính sách, chiến lược, qui hoạch định hướng đầu tư dài hạn của đơn vị cấp trên được xây dựng một cách nhất quán, đúng hướng sẽ tạo cho Doanh nghiệp những thuận lợi trong việc hoạch định kế hoạch sản xuất trong tương lai.
Tài sản là một trong những yếu tố đóng vai trò quan trọng trong hoạt động SXKD. Vì vậy sử dụng hiệu quả tài sản là một vấn đề cấp bách trong bất kì Doanh nghiệp nào. Phần cơ sở lý luận về hiệu quả sử dụng tài sản của Doanh nghiệp trên đã trình bày một cách khái quát về nội dung tài sản, hiệu quả sử dụng và các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản cũng như các nhân tố gây ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng tài sản trong Doanh nghiệp. Khóa luận: Hiệu quả sử dụng tài sản tại Tổng công ty Cổ phần Bia
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>> Khóa luận: Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản tại công ty Bia

Dịch Vụ Viết Luận Văn Thạc Sĩ 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietthuethacsi.com/ – Hoặc Gmail: dicvuluanvanthacsi@gmail.com
[…] ===>> Khóa luận: Hiệu quả sử dụng tài sản tại Tổng công ty Cổ phần Bia […]