Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản tại công ty Bia hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Khóa luận: Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản tại Tổng công ty Cổ phần Bia –Rượu – NGK Hà Nội dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
Nội dung chính
2.1. Giới thiệu chung về Tổng công ty cổ phần Bia – Rượu – NGK Hà Nội
2.1.1 Giới thiệu chung về Tổng công ty cổ phần Bia – Rượu – NGK Hà Nội
- Tên chính thức: Tổng Công ty cổ phần Bia – Rượu – Nước giải khát Hà Nội
- Tên giao dịch: Hanoi Beer Alcohol And Beverage Join Stock Corporation
- Tên viết tắt: HABECO
- Địa chỉ: 183 Hoàng Hoa Thám – Quận Ba Đình – Thành phố Hà Nội
- Vốn điều lệ: 2.318.000.000.000VNĐ (hai nghìn ba trăm mười tám tỷ đồng)
- Giấy chứng nhận CNĐKKD số: 0101376672 do Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hà Nội cấp. Đăng ký lần đầu ngày 16/06/2020. Đăng ký thay đổi lần một ngày 30/07/2022.
- Tổng số cổ phần: 231.800.000
- Cơ cấu cổ đông tại thời điểm ngày 14/2/2026:
2.1.2. Quá trình hình thành, phát triển Tổng công ty cổ phần Bia– Rượu–NGK Hà Nội
Tổng công ty Bia – Rượu – Nước giải khát Hà Nội (HABECO) có trụ sở chính tại 183 Hoàng Hoa Thám, Ba Đình, Hà Nội được thành lập ngày 16 tháng 5 năm 2015 theo Quyết định số 75/2015/QĐ – BCN của Bộ trưởng Bộ Công nghiệp (nay là Bộ Công Thương) trên cơ sở sắp xếp lại Công ty Bia Hà Nội và các đơn vị thành viên; chính thức chuyển sang tổ chức và hoạt động theo mô hình công ty mẹ – công ty con tại Quyết định số 36/2016/QĐ-BCN ngày 11/05/2016 của Bộ trưởng Bộ Công nghiệp.
Tiền thân của Tổng công ty Habeco là Nhà máy Bia Hommel có quy mô 30 nhân công, do một người Pháp tên là Hommel thành lập năm 1890 với mục đích phục vụ quân viễn chinh Pháp. Năm 1954, miền Bắc hoàn toàn giải phóng, quân Pháp rút lui, tháo dỡ toàn bộ máy móc để lại nhà máy bia Hommel ở trong tình trạng hoang phế. Năm 1957, nhà máy bia Hommel được khôi phục theo chính sách phục hồi kinh tế của Chính phủ và đổi tên thành Nhà máy bia Hà Nội.
Ngày 1 tháng 5 năm 1958, mẻ bia thử đầu tiên được thực hiện thành công do ông Vũ Văn Bộc – một công nhân lành nghề của nhà máy bia Hommel cũ kết hợp với sự giúp đỡ từ các chuyên gia bia của Tiệp Khắc.
Ngày 15 tháng 8 năm 1958, chai bia đầu tiên của Việt Nam mang nhãn hiệu Trúc Bạch ra đời, đánh dấu một bước ngoặt lớn trong ngành công nghiệp sản xuất bia tại Việt Nam. Cũng từ đây, ngày 15 tháng 8 hàng năm trở thành ngày truyền thống của Tổng công ty Bia – Rượu – Nước giải khát Hà Nội (HABECO). Năm 1993, nhà máy Bia Hà Nội chuyển đổi mô hình hoạt động, đổi tên thành Công ty Bia Hà Nội và đẩy mạnh quá trình đổi mới thiết bị nâng công suất lên 50 triệu lít/năm.
Ngày 6 tháng 5 năm 2015, Tổng công ty Bia – Rượu – NGK Hà Nội được thành lập theo quyết định số 75/2015/QĐ – BCN. Chính thức chuyển sang tổ chức và hoạt động theo mô hình công ty mẹ – công ty con theo quyết định số 36/2016/QĐ – BCN.
Vào năm 2016, hoàn thành dự án đầu tư đổi mới thiết bị nâng công suất lên 100 triệu lít/năm. Sự kiện đánh dấu bước ngoặt trong mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế là việc Tổng công ty ký kết hợp tác chiến lược với Tập đoàn bia Carlberg vào năm 2019. Ngày 28 tháng 12 năm 2019, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định số 1863/QĐ – TTg phê duyệt phương án và chuyển Tổng công ty Bia – Rượu – NGK Hà Nội thành Tổng công ty Cổ phần Bia – Rượu – NGK Hà Nội (HABECO).
Ngày 9 tháng 6 năm 2020, Đại hội đồng Cổ đông thành lập thông qua Điều lệ tổ chức hoạt động của Tổng công ty Cổ phần Bia – Rượu – NGK Hà Nội. Điều lệ sửa đổi được ĐHĐCĐ thông qua vào ngày 20 tháng 5 năm 2025.
Năm 2022, với việc hoàn thành dự án đầu tư xây dựng Nhà máy bia công suất 200 triệu lít/năm tại Mê Linh – Hà Nội, với hệ thống thiết bị đồng bộ hiện đại bậc nhất Đông nam Á đã đưa Tổng công ty đạt công suất gần 400 triệu lít bia/năm. HABECO trở thành một trong hai Tổng công ty sản xuất bia lớn nhất của Việt Nam.
Hiện tại, Tổng công ty có 25 công ty thành viên, với các sản phẩm chủ lực là Bia hơi Hà Nội, Bia chai Hà Nội 450ml nhãn đỏ, HANOI BEER Premium, Bia Hà Nội 450ml nhãn xanh, Bia Hà Nội lon, Bia Trúc Bạch, Rượu Hà Nội.
2.1.3. Cơ cấu tổ chức – nhân sự tại Tổng công ty Cổ phần Bia – Rượu – NGK Hà Nội Khóa luận: Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản tại công ty Bia.
2.1.3.1 Sơ đồ bộ máy tổ chức tại Tổng công ty Cổ phần Bia – Rượu – NGK Hà Nội
- Sơ đồ 2.1. Bộ máy tổ chức tại Tổng công ty Cổ phần Bia – Rượu – NGK Hà Nội
2.1.3.2. Chức năng, nhiệm vụ từng bộ phận tại Tổng công ty Cổ phần Bia – Rượu –NGK Hà Nội
- Đại hội đồng cổ đông
Đại hội đồng cổ đông gồm tất cả Cổ đông có quyền biểu quyết, là cơ quan quyết định cao nhất của Công ty, quyết định những vấn đề thuộc nhiệm vụ và quyền hạn được luật pháp và điều lệ Công ty quy định.
- Hội đồng quản trị
Có quyền nhân danh công ty để quyết định các vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của công ty phù hợp với luật pháp, trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội cổ đông quyết định.
- Chịu trách nhiệm trước Đại hội cổ đông.
Có trách nhiệm chỉ đạo, hỗ trợ và giám sát việc điều hành của Tổng giám đốc và các chức danh do Hội đồng quản trị trực tiếp quản lý.
Quyết định triệu tập, chuẩn bị nội dung và tổ chức đại hội cổ đông thường kỳ và bất thường.
Quyết định tiền lương, tiền thưởng của Tổng giám đốc, Phó tổng giám đốc, Kế toán trưởng và các chức danh khác thuộc quyền quản lý của hội đồng quản trị. Khóa luận: Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản tại công ty Bia.
Quyết định về quy chế tuyển dụng cho thôi việc nhân viên công ty, phù hợp với quy định của pháp luật.
Phê duyệt những phương án trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật và xem xét quyết định việc chuyển nhượng các cổ phiếu có ghi danh.
- Ban kiểm soát
Ban kiểm soát của Tổng công ty Cổ phần Bia Hà Nội bao gồm 04 thành viên do Đại hội đồng cổ đông bầu ra. Nhiệm kỳ của Ban kiểm soát là 05 năm; thành viên Ban kiểm soát có thể được bầu lại với số nhiệm kỳ không hạn chế. Ban kiểm soát có nhiệm vụ kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp, tính trung thực và mức độ cẩn trọng trong quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh, trong tổ chức công tác kế toán, thống kê và lập BCTC nhằm đảm bảo lợi ích hợp pháp của các cổ đông. Ban kiểm soát hoạt động độc lập với HĐQT và Ban Giám đốc.
- Ban giám đốc
Gồm 1 Tổng giám đốc và 4 Phó giám đốc . Chịu trách nhiệm trước Nhà nước về toàn bộ các HD SXKD của Tổng công ty Bia Hà Nội. Tổng Giám đốc là người có thẩm quyền cao nhất công ty, có trách nhiệm quản lý mọi HDSXKD và chăm lo đời sống toàn thể Cán bộ công nhân viên. Phó tổng giám đốc là người đứng sau Tổng giám đốc, có trách nhiệm giúp đỡ Tổng giám đốc theo quyền hạn và trách nhiệm được phân công, kiểm tra, đốc thúc tiến độ và tạo mối quan hệ qua lại giữa Ban giám đốc và các phòng ban – phân xưởng.
- Phòng tổ chức lao động
Lập bảng báo cáo hàng tháng về tình hình biến động nhân sự. Chịu trách nhiệm theo dõi, quản lý nhân sự, tổ chức tuyển dụng, bố trí lao động đảm bảo nhân lực cho sản xuất, sa thải và đào tạo Cán bộ công nhân viên mới. Chịu trách nhiệm soạn thảo và lưu trữ các loại giấy tờ, hồ sơ, văn bản, hợp đồng của Công ty và những thông tin có liên quan đến Công ty. Tổ chức, triển khai, thực hiện nội quy lao động của Công ty, theo dõi quản lý lao động, đề xuất khen thưởng. Thực hiện các quy định nhằm đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ đối với người lao động như lương, thưởng, trợ cấp, phúc lợi.
- Văn phòng Khóa luận: Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản tại công ty Bia.
Đảm nhận và chịu trách nhiệm trước Tổng công ty về các lĩnh vực: hành chính, quản trị văn phòng, quản trị mạng, pháp chế, thi đua khen thưởng, an ninh trật tự, an ninh quốc phòng, phòng chống cháy nổ, phòng chống lụt bão, chăm sóc sức khỏe Cán bộ công nhân viên, vệ sinh môi trường và phòng chống dịch bệnh trong Tổng công ty.
- Phòng tiêu thụ – thị trường
Chịu trách nhiệm thu thập thông tin, đánh giá tình tình thị trường, xây dựng kế hoạch tiêu thụ sản phẩm. Tham mưu cho Ban Giám đốc về giá bán sản phẩm, chính sách quảng cáo, phương thức bán hàng, hỗ trợ khách hàng, lập các hợp đồng đại lý. Tư vấn cho khách hàng về sử dụng thiết bị bảo quản, kỹ thuật bán hàng, thông tin quảng cáo. Theo dõi và quản lý tài sản, thiết bị, công cụ, dụng cụ bán hàng: keg chứa bia hơi, tủ bảo quản, vỏ bình CO2 , vỏ chai, két nhựa trong lưu thông, biển quảng cáo của Tổng công ty trên thị trường… Kết hợp với phòng Tài chính – Kế toán quản lý công nợ các đại lý và khách hàng tiêu thụ sản phẩm; quản lý hóa đơn và viết hóa đơn, thu tiền bán hàng.
- Phòng kế hoạch – đầu tư
Đảm nhận và chịu trách nhiệm trước Tổng công ty về lĩnh vực quy hoạch, kế hoạch, điều độ sản xuất, điều độ vận chuyển và công tác thống kê.
- Phòng Tài chính kế toán
Chịu trách nhiệm toàn bộ thu chi tài chính của Công ty, đảm bảo đầy đủ chi phí cho các hoạt động lương, thưởng, mua máy móc, vật liệu,… và lập phiếu thu chi cho tất cả những chi phí phát sinh. Theo dõi quá trình chuyển tiền thanh toán của khách hàng qua hệ thống ngân hàng, chịu trách nhiệm quyết toán công nợ với khách hàng. Mở sổ sách, lưu trữ các chứng từ có liên quan đến việc giao nhận… Khóa luận: Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản tại công ty Bia.
- Phòng vật tư – nguyên liệu
Có nhiệm vụ, lo toàn bộ vật tư – nguyên vật liệu đầu vào của công ty. Kho nằm dưới sự chỉ đạo của phòng vật tư – xuất nhập và bảo quản toàn bộ nguyên liệu và thành phẩm.
- Phòng kỹ thuật
Quản lý, sửa chữa trang thiết bị thuộc lĩnh vực cơ điện của Công ty. Phối hợp, giám sát thực hiện việc thanh lý các loại tài sản thuộc lĩnh vực cơ điện theo nhiệm vụ và quyền hạn. Tham gia công tác an toàn lao động trong lĩnh vực cơ điện. Hướng dẫn đào tạo và nâng cao năng lực của các kỹ sự điện tại công ty.
- Phòng quản lý chất lượng
Đảm nhận và chịu trách nhiệm trước Tổng công ty về lĩnh vực quản lý chất lượng các sản phẩm mang nhãn hiệu của Tổng công ty từ quá trình sản xuất, lưu thông, đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng.
- Viện kỹ thuật Bia – Rượu – NGK Hà Nội
Đảm nhận và chịu trách nhiệm về nghiên cứu, phát triển, ứng dụng các kỹ thuật tiên tiến thuộc lĩnh vực bia – rượu – nước giải khát. Đào tạo chuyên sâu về kỹ thuật thuộc lĩnh vực bia – rượu – nước giải khát cho Cán bộ công nhân viên của Tổng công ty và các công ty thành viên. Nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới, tổ chức chuyển giao công nghệ sản xuất các sản phẩm mang nhãn hiệu của Tổng công ty.
- Xí nghiệp sản xuất 183 Hoàng Hoa Thám Khóa luận: Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản tại công ty Bia.
Tổ chức thực hiện các công đoạn công nghệ trong sản xuất gồm: nấu, lên men, lọc bia, chiết bia các loại: bia chai, bia lon, bia hơi theo kế hoạch đảm bảo chất lượng, số lượng, mẫu mã theo quy định hiện hành của Tổng công ty tại 183 Hoàng Hoa Thám. Sản xuất và cung cấp nước cho các quá trình sản xuất và phục vụ sản xuất; thực hiện xử lý nước thải trong Tổng công ty tại 183 Hoàng Hoa Thám.
- Xí nghiệp cơ điện 183 Hoàng Hoa Thám
Cung cấp điện, bảo dưỡng, sửa chữa toàn bộ máy móc, thiết bị và phục vụ sản xuất tại đơn vị Tổng công ty theo kế hoạch được giao; lắp đặt, xây dựng và sửa chữa những công trình nhỏ tại Tổng công ty. Sản xuất và cung cấp hơi nóng, lạnh, khí nén, CO2 cho các quá trình sản xuất và phục vụ sản xuất trong công ty.
Đến nay, Tổng công ty giữ vai trò công ty mẹ với nhiều công ty con, công ty liên kết, đơn vị phụ thuộc trải dài từ miền trung Quảng Bình các tỉnh, thành phía Bắc đó là: Công ty CPTM Bia Hà Nội, Công ty CP bia Hà Nội – Hải Dương, Công ty CP bia Hà Nội.
- Hải Phòng, Công ty CP bia Hà Nội – Thái Bình, Công ty CP Bia – Rượu – NGK Hà Nội
- Quảng Ninh, Công ty CP bia Hà Nội – Nam Định, Công ty CP bia Hà Nội – Thanh
Hóa, Công ty CP bia Hà Nội – Quảng Bình, Công ty CP Cồn Rượu Hà Nội, Công ty CP bao bì Rượu – NGK, Công ty CP ĐTTM HAREC, Công ty CP bia Hà Nội – Hồng Hà, Công ty CP bia Hà Nội – Quảng Trị, Công ty CP bao bì HABECO, Công ty CP Đầu tư phát triển công nghệ BRNGK Hà Nội, Công ty CP vận tải HABECO.
- Cơ cấu nhân sự tại Tổng công ty Cổ phần Bia – Rượu – NGK Hà Nội
Bảng 2.1. Cơ cấu nhân sự tại Tổng công ty Cổ phần Bia – Rượu – NGK Hà Nội
- Chế độ làm việc Khóa luận: Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản tại công ty Bia.
Đối với lao động gián tiếp, đến làm việc đúng giờ, nghỉ ngơi đúng giờ theo quy định của Chính phủ, trong giờ làm việc nghiêm túc về thời gian và ý thức trong công việc.
Đối với lao động trực tiếp không khống chế thời gian làm việc mà phụ thuộc vào khách hàng và tính chất công việc.
Lao động trực tiếp và gián tiếp Giám đốc hoặc người được Giám đốc ủy quyền, theo yêu cầu nhiệm vụ có thể huy động ngoài giờ làm việc theo quy định trên.
- Chế độ tiền lương
Thu nhập, tiền lương hàng tháng được thực hiện theo cơ chế thỏa thuận trong hợp đồng lao động – đảm bảo mức lương không thấp hơn mức lương tối thiểu do Nhà nước ban hành.
- Bảng 2.2. Thu nhập người lao động (2023-2025)
Do tiền thân của Công ty vốn là Doanh nghiệp Nhà nước trở lên nên hình thức tính lương theo bằng cấp và thâm niên cũng dựa theo thang bảng lương Nhà nước đã được Công ty sử dụng từ những ngày đầu thành lập.
2.1.4. Quy trình hoạt động sản xuất kinh doanh tại Tổng công ty Cổ phần Bia – Rượu – NGK Hà Nội Khóa luận: Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản tại công ty Bia.
- Mô tả quy trình công nghệ và tổ chức sản xuất sản phẩm tại Tổng công ty Cổ phần Bia – Rượu – NGK Hà Nội
Quy trình sản xuất bia là quy trình chế biến phức tạp kiểu kiên tục. Bắt đầu từ việc đưa nguyên liệu vào nấu ® làm lạnh ® lên men lọc chiết để thu được thành phẩm. Thành phẩm của quy trình này là ba loại: bia chai, bia lon và bia hơi. Tỷ lệ trộn nguyên liệu để đưa vào sản xuất tuỳ thuộc vào mục đích sản xuất loại thành phẩm nào mà có sự khác nhau.
- Sơ đồ 2.2. Quy trình công nghệ và tổ chức sản xuất sản phẩm tại Công ty
Sơ chế nguyên liệu: Thóc Malt (thóc đại mạch đã lên mầm), gạo tẻ làm sạch tách tạp chất qua bộ phận định lượng rồi đưa vào xay.
Thóc Malt và gạo tẻ sau khi xay đem trộn với nước, nâng nhiệt độ qua giai đoạn hồ hoá 650 rồi đưa vào hồ hoá 750, đun sôi 1200 trong vòng 1 giờ.
Một phần thóc Malt sau khi làm sạch được ngâm riêng, sau đó được cho vào xay, trộn lẫn với dịch hoá ở giai đoạn 520, 650,750 tạo thành quá trình đạm hoá. Malt sẽ dịch hoá gạo và tinh bột bình thường thành đường Malto, lấy dung dịch có độ đường 100 cho bia hơi, 10.50 cho bia chai và 120 cho bia lon.
Làm lạnh: Đường hoá học được cho qua bộ phận lọc. Sau khi tách bã bia thì cho cao hoa, hoa viên, đường kính vào đun sôi. Tiếp đó sẽ tách bã bia lần nữa rồi để cho dung dịch lắng trong ở nhiệt độ lạnh từ 50 ® 120. Bắt đầu giai đoạn lên men.
Lên men: sau khi làm lạnh dung dịch có dạng hạt. Cho khí sạch và men giống vào để bắt đầu quá trình lên men sơ bộ kéo dài khoảng 24 giờ sau đó lên men chính.
Lên men chính: trong quá trình này đường biến thành cồn và CO2 độ đường hạ từ 100 xuống còn 30. Trong quá trình từ 6 đến 9 ngày nhiệt độ của quá trình lên men chính cao nhất là 130 và thấp nhất là 30. Tiến hành thu hồi CO2 trong quá trình lên men chính. Kết thúc quá trình lên men chính chuyển sang lên men phụ.
Lên men phụ: làm ở nhiệt độ 30 ® 50 nhằm bão hoà CO2 – ổn định thành phần hoá học của bia, tạo đường và tạo hương liệu cho bia. Khóa luận: Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản tại công ty Bia.
Lọc: quá trình lọc nhằm đảm bảo độ trong và hàm lượng CO2 theo tiêu chuẩn. Ở giai đoạn này, bia bán thành phẩm sẽ được lọc ở máy lọc bia để loại ra các hợp chất hữu cơ, men có trong bia.
Chiết: sau khi lọc bia được đưa vào tầng chứa áp lực. Toàn bộ quá trình bắt đầu từ khi đưa nguyên liệu vào cho đến khi lọc bia được tiến hành trên một dây chuyền sản xuất. Riêng giai đoạn chiết bia có một dây chuyền chiết bia riêng, ở đây có các chai, lon, thùng 100 lít đã được rửa sạch, bia từng loại sẽ được chiết vào chai, lon; hay thùng 100 lít tương ứng rồi đóng nút chai, ghép mí lon và xuất bia hơi.
Sau đó bia chai và bia lon sẽ được thanh trùng ở nhiệt độ 620 đến 680 để tiêu diệt men bia và các loại vi sinh vật, tăng thời gian bảo quản cho bia. Bia chai sau khi thanh trùng sẽ dán nhãn đóng két đưa vào nhập kho. Còn bia lon sẽ được làm khô, kiểm tra đầy vơi, ghi ngày sản xuất, sấy khô rồi đem đóng hộp. Toàn bộ quy trình công nghệ sản xuất bia đã hoàn thành.
Mô tả đặc điểm chung về tổ chức công tác Kế toán tại phòng Tài chính – Kế Toán tại Tổng công ty Cổ phần Bia – Rượu – NGK Hà Nội
- Sơ đồ 2.3. Đặc điểm chung về tổ chức công tác Kế toán tại Tổng công ty
Kế toán trưởng: Là người chịu trách nhiệm cao nhất trong bộ máy kế toán của Công ty. Kế toán trưởng theo dõi tất cả các hoạt động của các kế toán viên, ký duyệt các chứng từ, sổ sách hàng tháng có trách nhiệm duyệt các báo cáo và lập các báo cáo
Phó trưởng phòng: Là người trợ giúp cho trưởng phòng trong việc hạch toán kế toán, khi trưởng phòng đi vắng phó phòng được ủy quyền làm thay các công việc của trưởng phòng. Ngoài ra, phó phòng còn phụ trách khâu kế toán tổng hợp, có nhiệm vụ trực tiếp tổng hợp số liệu kế toán, lên các báo cáo tài chính, kiểm tra, giám sát công tác kế toán của kế toán viên.
Kế toán thanh toán: Phụ trách toàn bộ các nghiệp vụ thu chi tiền mặt, ngoại tệ,các nghiệp vụ thu và thanh toán tiền gửi ngân hàng, theo dõi và thanh toán các khoản tạm ứng của cán bộ công nhân viện chức, các nguồn vốn vay ngắn hạn, vay dài hạn, các khoản nợ. Khóa luận: Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản tại công ty Bia.
Kế toán các khoản đầu tư tài chính, các khoản đi vay: Phụ trách phản ánh, theo dõi các khoản đầu tư chứng khoán ngắn hạn, bất động sản đầu tư, các khoản phải trả ngắn hạn, dài hạn.
Kế toán giá thành: Là người có nhiệm vụ tập hợp và phân bổ chi phí sản xuất cho từng loại sản phẩm, trên cơ sở đó tính đúng và tính đủ giá thành cho từng loại sản phẩm hoàn thành trong kỳ. Giám sát tình hình thực hiện các định mức và lập báo cáo chi phí sản xuất theo đúng chế độ.
Kế toán vật tư, hàng tồn kho: Tổ chức hệ thống chứng từ, đảm bảo cung cấp đầy đủ thông tin cho những người quản lý nguyên vật liệu, bảo đảm sự an toàn cho chứng từ, cập nhật vào sổ kế toán đầy đủ, kịp thời, tránh sự trùng lặp hoặc luân chuyển chứng từ qua những khâu không cần thiết và phải giảm thời gian luân chuyển chứng từ tới mức thấp nhất.
Kế toán thuế: Kiểm tra đối chiếu các hóa đơn thuế GTGT, theo dõi các khoản phải nộp ngân sách nhà nước của cty, thực hiện các nghiệp vụ lập hồ sơ báo cáo thuế, trực tiếp làm việc với cơ quan thuế khi có phát sinh
Kế toán tiêu thụ và xác định kết quả kinh doanh: Có nhiệm vụ ghi chép, phản ánh kịp thời, đầy đủ tình hình tiêu thụ sản phẩm theo từng loại. Phản ánh chính xác tình hình thu hồi tiền, tình hình công nợ và thanh toán công nợ.
Kế toán vật tư: Là người chịu trách nhiệm hạch toán các nghiệp vụ liên quan đến nhập xuất nguyên vật liệu công cụ dụng cụ. Đồng thời theo dõi quá trình thanh toán giữa Công ty với nhà cung cấp, tính ra giá trị NVL, CCDC xuất kho cho các mục đích khác nhau và giá trị tồn kho của NVL, CCDC.
Kế toán TSCĐ và xây dựng cơ bản: Có nhiệm vụ chủ yếu là ghi chép kế toán tổng hợp về TSCĐ, theo dõi TSCĐ ở các bộ phận của Tổng công ty, tính khấu hao TSCĐ, phân bổ khấu hao cho từng tháng, quý, năm sau đó lập báo cáo kế toán nội bộ về tình hình tăng giảm TSCĐ. Theo dõi, phản ánh kịp thời đầy đủ các chi phí liên quan đến xây dựng cơ bản.
Thủ quỹ: Đảm nhận việc thu, chi tiền mặt hàng ngày và quản lý quỹ tiền mặt của Tổng công ty.
2.1.5. Khái quát ngành nghề kinh doanh tại Tổng công ty Cổ phần Bia – Rượu – NGK Hà Nội Khóa luận: Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản tại công ty Bia.
2.1.5.1 Khái quát ngành nghề kinh doanh tại Tổng công ty Cổ phần Bia – Rượu –NGK Hà Nội
- Ngành nghề chủ yếu của Tổng công ty gồm:
Sản xuất và kinh doanh các loại: Bia, Rượu, Nước giải khát, cồn, vật tư, nguyên liệu, thiết bị, phụ tùng có liên quan đến ngành sản xuất bia – rượu – nước giải khát.
Dịch vụ tư vấn, đào tạo, nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, thiết kế, chế tạo, lắp đặt, xây dựng các công trình chuyên ngành bia – rượu – nước giải khát.
Kinh doanh bất động sản: trung tâm thương mại, khách sạn, văn phòng, nhà ở cho thuê; kinh doanh du lịch nhà hàng, dịch vụ ăn uống, …
Và các ngành nghề kinh doanh khác theo qui định của Pháp luật.
2.1.5.2. Giới thiệu một số sản phẩm chính của Tổng công ty Cổ phần Bia – Rượu –NGK Hà Nội
Tổng công ty Cổ phần Bia – Rượu – NGK Hà Nội phấn đấu giữ vững uy tín hàng đầu ở Việt Nam về chất lượng sản phẩm, giá cả, phương thức phục vụ khách hàng và trong tương lai sẽ trở thành một trong những Doanh nghiệp hàng đầu của Châu Á về sản xuất – kinh doanh bia. Các sản phẩm của Tổng công ty bao gồm:
- Sản phẩm Bia chai Hà Nội 450ml (HANOI BEER 450ml nhãn đỏ)
Đây là sản phẩm chủ đạo của thương hiệu Bia Hà Nội với sản lượng sản xuất hàng năm chiếm 70% tổng sản lượng của Tổng công ty Bia Hà Nội. Bia được chiết vào chai màu nâu với dung tích 450ml; có độ cồn khoảng 4,2%, hương vị đậm đà, có màu vàng mật ong đặc trưng của bia, bọt trắng mịn. Khóa luận: Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản tại công ty Bia.
- Sản phẩm Bia chai Hà Nội 330ml (HANOI BEER Premium 330ml)
Là sản phẩm có tuổi đời rất trẻ của HABECO ra đời vào năm 2017 và hướng tới đối tượng tiêu dùng cao cấp, hệ thống phân phối nhà hàng, khách sạn. Với hàm lượng cồn cao hơn các sản phẩm khác trong công ty là 5,1% – phù hợp với người tiêu dùng phía Nam. Sản lượng tiêu thụ vào năm 2019 là 2 triệu lít/năm.
- Sản phẩm Bia lon Hà Nội 330ml
Sản phẩm bia lon của Tổng công ty có dung tích 330ml được đưa ra thị trường lần đầu tiên vào năm 1992. Với độ cồn 4,6% nếu được uống kèm với đá lạnh sẽ là đồ uống giải khát nổi tiếng trong những ngày hè nóng bức.
- Sản phẩm Bia Hà Nội Lager
Là sản phẩm mới của HABECO, được sản xuất thử vào đầu năm 2019 và chính thức đưa ra thị trường vào giữa năm 2019 với độ cồn vào khoảng 4,0%.
- Sản phẩm Bia Trúc Bạch Classic
Là dòng sản phẩm cao cấp được ra đời nhằm chào mừng Đại lễ 1000 năm Thăng Long – Hà Nội. Ra đời với độ cồn 5,3% đánh dấu sự trở lại của nhãn hiệu bia Trúc Bạch nổi tiếng bao năm qua.
- Sản phẩm bia hơi
Bia hơi Hà Nội có chất lượng cao, ổn định, hương vị thơm mát. Mặc dù hơn hẳn các sản phẩm bia hơi thương hiệu khác với độ cồn 3,5% nhưng giá của bia hơi Hà Nội rất phù hợp với túi tiền của đa số người tiêu dùng.
- Sản phẩm bia tươi
Là sản phẩm mới của HABECO được sản xuất thử và được đưa ra thị trường vào năm 2019.
2.2. Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản tại Tổng công ty Cổ phần Bia – Rượu –NGK Hà Nội trong giai đoạn 2023-2025 Khóa luận: Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản tại công ty Bia.
2.2.1. Thực trạng tài sản của Tổng công ty Cổ phần Bia – Rượu – NGK Hà Nội
Để đánh giá được thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty, trước hết ta tìm hiểu thực trạng tài sản của Công ty trong những năm qua. Trong quá trình kinh doanh, Công ty đã có những thay đổi về quy mô và tỷ trọng của tài sản và được thể hiệu ở các bảng sau:
Cơ cấu tổng tài sản
- Bảng 2.3. Cơ cấu tài sản giai đoạn 2023-2025
- Biểu đồ 2.1. Cơ cấu tài sản giai đoạn 2023-2025
Qua bảng 2.4, cho thấy quy mô tổng tài sản tăng dần theo từng năm. Năm 2023, tổng tài sản là 7.647.371 triệu đồng và trong hai năm tiếp theo tổng tài sản vẫn tiếp tục tăng lần lượt là 2,81% vào năm 2024 – tương đương với 7.862.090 triệu đồng và tăng 2,61% ở mức 8.067.584 triệu đồng trong năm 2025. Qua con số trên, chứng tỏ rằng dù nền kinh tế thị trường gặp nhiều khó khăn, thay đổi nhưng Công ty vẫn đầu tư để mở rộng sản xuất kinh doanh.
Cùng với sự thay đổi về quy mô tài sản thì cơ cấu tài sản cũng có sự thay đổi theo. Nhìn vào biểu đồ 2.1, có thể dễ dàng nhận thấy cả ba năm, tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn có sự tăng giảm khá chênh lệch do công ty hoạt động trong lĩnh vực thực phẩm – đồ uống nói chung và lĩnh vực bia – rượu – nước giải khát nói riêng nên nhu cầu mở rộng quy mô vào tài sản dài hạn phục vụ cho các hoạt động kinh doanh tăng cao. Trong cả ba năm, tỷ trọng tài sản dài hạn gấp đôi so với tỷ trọng của tài sản ngắn hạn. Vào năm 2023, trong khi tài sản ngắn hạn chỉ đạt 28% (tương đương với 2.177.555 triệu đồng) thì tài sản dài hạn đạt khoảng 72% (tương đương với 5.469.816 triệu đồng) trên tổng tài sản. Sang đến năm 2024, tỷ trọng tài sản ngắn hạn tăng lên 35% và tỷ trọng tài sản dài hạn giảm xuống còn 65% so với năm 2023, nguyên nhân là năm 2024 Công ty đầu tư thêm tài sản cố định dẫn đến tiền và các khoản tương đương tiền giảm còn tài sản cố định tăng. Bước sang năm 2025, ta thấy tài sản ngắn hạn tiếp tục tăng thêm 2%, và tài sản dài hạn lại giảm đi một lượng nhỏ là 3% so với năm 2024 do giá trị hao mòn tài sản cố định lớn.
- Cơ cấu tài sản ngắn hạn Khóa luận: Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản tại công ty Bia.
Trong Công ty, tài sản ngắn hạn là một bộ phận quan trọng và có sự biến đổi nhanh chóng trong tổng tài sản của Doanh nghiệp. Quy mô và cơ cấu trong tài sản ngắn hạn phụ thuộc vào nhiều yếu tố và nó sẽ tác động lớn đến kết quả kinh doanh nói chung và hiệu quả sử dụng tài sản nói riêng của Doanh nghiệp.
Đối với Tổng công ty Cổ phần Bia – Rượu – NGK Hà Nội, trong những năm qua, quy mô và cơ cấu của tài sản ngắn hạn đã có sự thay đổi, nó phụ thuộc vào chiến lược phát triển của Công ty và sự tác động của môi trường kinh doanh.
- Bảng 2.4. Cơ cấu tài sản ngắn hạn giai đoạn 2023-2025
Thông qua bảng 2.4, ta có thể thấy quy mô tài sản ngắn hạn của Tổng công ty Cổ phần Bia – Rượu – NGK Hà Nội có sự tăng đều qua từng năm:
Trong năm 2024, các khoản tiền và các khoản tương đương tiền tăng cao đột ngột lên tới 119,12% tương đương 1.344.314 triệu đồng so với năm 2023 dẫn đến quy mô tổng tài sản ngắn hạn tăng lên 26,52%. Ngoài ra, các khoản phải thu ngắn hạn cũng tăng 34,75%; trong đó, khoản phải thu khách hàng từ 427.044 triệu đồng lên đến 575.439 triệu đồng (tăng 140%). Sang năm 2025, khoản tiền và các khoản tương đương tiền tăng nhẹ 26,68%; bên cạnh đó còn có sự gia tăng của hàng tồn kho từ 735.726 triệu đồng lên đến 814.547 triệu đồng (tăng 10,71%) đã làm cho quy mô tài sản ngắn hạn tăng lên 11,69% tương đương 3.077.323 triệu đồng. Khóa luận: Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản tại công ty Bia.
- Biểu đồ 2.2. Cơ cấu tài sản ngắn hạn giai đoạn 2023-2025
Nhìn vào biểu đồ 2.2, có thể thấy trong cơ cấu tài sản ngắn hạn của Công ty, năm 2023 hàng tồn kho chiếm tỷ trọng cao nhất (khoảng 50%), nhưng sang đến năm 2024 và 2025 thì có sự thay đổi yếu tố các khoản tiền và tương đương tiền chiếm tỷ trọng lớn hơn. Cụ thể năm 2024 là 48,8% và năm 2025 tăng lên 55,34%.
Trước hết, tiền và các khoản tương đương tiền có xu hướng tăng dần trong ba năm. Nếu trong năm 2023, tổng lượng tiền và các khoản tương đương tiền là 613.492 triệu đồng thì sang đến năm 2024 thì con số này đã tăng cao tương đương 1.344.314 triệu đồng, chiếm 48,8% trên tổng tài sản ngắn hạn. Nguyên nhân là do vào năm 2024, tổng lượng tiền gửi vào ngân hàng tăng đáng kể 1.007.170 triệu đồng so với năm 2023. Tuy nhiên, sang đến năm 2025, tổng lượng tiền gửi vào ngân hàng chỉ còn 432.846 triệu đồng (giảm khoảng 574.324 triệu đồng) nhưng số lượng tiền mặt và các khoản tương đương tiền tăng từ 337.144 triệu đồng lên đến 1.262.985 triệu đồng. Vì vậy, so với năm 2024, tổng lượng tiền và các khoản tương đương tiền vẫn tăng ở mức 26,68% – chiếm 55,34% tổng tài sản ngắn hạn. Hiện này việc quản lý tiền tại Công ty được giao cho một kế toán chuyên biệt có kinh nghiệm và kỹ năng để tổng hợp, ghi chép các nghiệp vụ, nhật ký chi trả, tập hợp các chứng từ có liên quan đến các hoạt động SXKD thường ngày. Kế toán quản lý có trách nhiệm tổng kết một báo cáo lên kế toán trưởng mỗi ngày. Nếu phát hiện sai sót thì kế toán trưởng và kế toán phụ trách tiền phải rà soát chi tiết và báo cáo lên cấp trên để có phương án giải quyết. Quản lý tiền tại công ty hiện không dựa trên bất kỳ mô hình nào mà chủ yếu dựa trên phân tích xu hướng, tức là Công ty tiến hành kiểm kê luồng tiền ra vào hàng năm và dựa trên chiến lược kinh doanh của Công ty để dự báo, ước lượng khoản tiền cần dự trữ trong quỹ tại Công ty. Điều này cho thấy Công ty luôn cân đối lượng tiền mặt hợp lý để đảm bảo khả năng thanh toán các khoản chi phí phát sinh tức thời.
Thứ hai, các khoản phải thu ngắn hạn có xu hướng tăng giảm khác nhau. Vào năm 2023, các khoản phải thu tăng 34,75% từ 427.044 triệu đồng lên đến 575.439 triệu đồng –chiếm 20,9% tổng tài sản ngắn hạn trong năm 2024.
Nguyên nhân là do khoản phải thu nợ của khách hàng nhiều hơn mặc dù khoản tiền trả trước cho người bán cũng như các khoản phải thu khác đều giảm. Qua tìm hiểu cho thấy, lý do của việc tăng các khoản phải thu khách hàng xuất phát từ sự biến động của môi trường kinh doanh trong những năm gần đây, trước sự cạnh tranh gay gắt từ các Doanh nghiệp cùng ngành như Tổng công ty Cổ phần Bia – Rượu – NGK Sài Gòn (SABECO), Công ty Cổ phần bia và nước giải khát Việt Hà hay Công ty Bia Huế (HUDA BEER),… buộc Công ty phải tăng khả năng tín dụng cho khách hàng nhằm thu hút khách hàng, tăng cường doanh thu. Để có được điều này, Công ty đã áp dụng chính sách tín dụng thương mại cho những đối tượng khách hàng khác nhau:
- Với khách hàng nhỏ lẻ: Công ty yêu cầu thanh toán ngay khi giao nhận hàng hóa.
- Với những khách hàng lớn, thời gian hợp tác lâu dài: công ty sẽ đưa ra chiết khấu thanh toán phù hợp, thường là 2/10 net 30 hoặc 2/10 net 45 với những đơn hàng lớn. Cụ thể, khách hàng nếu thanh toán ngay trong 10 ngày thì được hưởng 2% chiết khấu trên tổng đơn hàng, nếu không khách hàng phải đảm bảo trả đầy đủ nợ cho công ty trong vòng 30 hoặc 45 ngày. Khóa luận: Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản tại công ty Bia.
Tuy nhiên các khoản phải thu ngắn hạn cao quá cũng dễ gây đến kinh doanh kém hiệu quả nên sang đến năm 2025, Công ty đã thay đổi và sử dụng chính sách thương mại thắt chặt ở mức vừa phải giúp cho khoản phải thu ngắn hạn này đã giảm nhẹ xuống 42,02% tương đương với 333.622 triệu đồng và chỉ còn chiếm 10,84% trên tổng tài sản ngắn hạn.
Từ đó ta thấy chính sách chiết khấu thanh toán là đòn bẩy cần thiết để thu hút các khách hàng tiềm năng đến với Doanh nghiệp. Tuy nhiên Công ty cũng cần tính toán hợp lý khoản chiết khấu mà khách hàng nhận được để tránh ảnh hưởng đến doanh thu, nếu không Doanh nghiệp sẽ tốn không ít tiền chi cho khoản chi phí để thúc đẩy bán hàng này. Mặt khác, công tác thu hồi nợ cũng cần được đẩy mạnh tích cực để thu hồi vốn về cho Công ty trong thời gian cho phép để không ảnh hưởng đến chu trình kinh doanh của Công ty.
Thứ ba, lượng hàng tồn kho tăng lên vào năm 2023 (chiếm 50% trên tổng tài sản ngắn hạn) là do chi phí sản xuất kinh doanh dở dang tăng lên đáng kể, cũng như số lượng nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ đầu vào đều chưa có sự hợp lý. Vào ngày 15/1/2023, Công ty tiến hành mua bổ sung một số máy móc thiết bị như: bơm định lượng hóa chất Prominent, thiết bị lọc CO2, thiết bị khử cặn, băng tải xích đầu gòong chiết bia,… Sang đến năm 2024, tỷ trọng hàng tồn kho đã giảm còn 26,7% (tương đương giảm 126.840 triệu đồng) và tăng nhẹ từ 735.726 triệu đồng đến 814.547 triệu đồng vào năm 2025 –chiếm 26,47% tổng tài sản ngắn hạn. Trong thời kì lạm phát, hàng lưu kho tăng còn làm tăng lợi ích của Công ty, tuy nhiên cần phải giữ mức hàng tồn kho ở mức hợp lý nhất nhằm tránh đội chi phí kho bãi, bảo quản. Thường xuyên theo dõi biến động của thị trường hàng hóa. Từ đó dự đoán và quyết định điều chỉnh kịp thời lượng hàng hóa trong kho.
Thứ tư, tài sản ngắn hạn khác: năm 2024 tăng 67,48% từ 34.630 triệu đồng lên 57.998 triệu đồng và năm 2025 giảm 28,47% còn 41.484 triệu đồng. Nguyên nhân của sự sụt giảm này là do sự khó khăn của nền kinh tế cũng như thắt chặt tín dụng của các ngân hàng đã dẫn đến số lượng bia tiêu thụ được giảm, từ đó làm giảm thuế giá trị gia tăng được khấu trừ.
- Cơ cấu tài sản dài hạn Khóa luận: Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản tại công ty Bia.
Đối với mỗi Doanh nghiệp, ngoài việc đầu tư vào tài sản ngắn hạn, Doanh nghiệp còn tập trung vào tài sản dài hạn bởi tài sản dài hạn luôn chiếm vị trí hết sức quan trọng trong hoạt động sản xuất – kinh doanh. Nó thể hiện quy mô năng lực sản xuất – kinh doanh của Doanh nghiệp.
Tỷ trọng của tài sản dài hạn trong tổng số tài sản của Doanh nghiệp phụ thuộc vào tỷ trọng của các khoản phải thu dài hạn, tài sản cố định, bất động sản đầu tư, các khoản đầu tư tài chính dài hạn và tài sản dài hạn khác.
- Bảng 2.5. Cơ cấu tài sản dài hạn giai đoạn 2023-2025
- Biểu đồ 2.3. Cơ cấu tài sản dài hạn 2023-2025
Nhìn vào biểu đồ 2.3 ta thấy tỷ trọng các loại tài sản dài hạn thay đổi qua các năm. Tuy nhiên, tài sản cố định luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng tài sản dài hạn. Tài sản cố định vào năm 2023 chiếm 86,74%; vào năm 2024 chiếm 86,17% và vào năm 2025 con số này giảm nhẹ còn 84,85%. Các khoản đầu tư dài hạn và các loại tài sản dài hạn khác chiếm tỷ trọng không đáng kể trong tổng tài sản dài hạn của Công ty.
Qua bảng 2.5, có thể thấy rằng quy mô tổng tài sản dài hạn giảm dần qua từng năm. Năm 2024 tổng tài sản dài hạn giảm 6,63% tương ứng 5.106.968 triệu đồng nguyên nhân là do trong năm có sự cắt giảm của tài sản cố định xuống 7,24% và tài sản dài hạn khác giảm xuống 28,07%. Điều này cho thấy công ty đã giảm sự chú trọng vào việc đầu tư cơ sở vật chất nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm – dịch vụ của Công ty. Sang đến năm 2025, tổng tài sản dài hạn sụt giảm 2,28% tương ứng 4.990.261 triệu đồng. Có sự sụt giảm này là do khoản mục tài sản cố định tiếp tục giảm 3,78% còn 4.234.691 triệu đồng và ảnh hưởng trực tiếp của sự gia tăng giá trị hao mòn lũy kế. Cụ thể, giá trị hao mòn lũy kế năm 2025 tăng 502.728 triệu đồng, tương ứng tăng 16,95% so với năm 2024. Tuy nhiên trong năm 2025, tài sản dài hạn khác của Công ty cũng tăng 29,65% đã khiến cho mức giảm về tài sản dài hạn chỉ ở mức 2,28% tương ứng việc giảm từ 5.106.968 triệu đồng xuống còn 4.990.261 triệu đồng.
Đầu tiên là về tài sản cố định: Ngày nay, thị trường của Công ty sản xuất bia và mức tiêu thụ của người tiêu dùng ngày càng cao, thiết bị sản xuất phải hiện đại để theo kịp tốc độ phát triển của thị trường và đáp ứng tốt hơn trong xu thế cạnh tranh quyết liệt. Chính vì vậy, việc đầu tư vào TSCĐ là điều cần thiết. Trong 3 năm gần đây, TSCĐ có sự thay đổi cả về giá trị lẫn tỷ trọng. Năm 2023, giá trị của TSCĐ ở mức 4.745.007 triệu đồng tương ứng 86,74% tổng giá trị tài sản dài hạn. Sang năm 2024, giá trị TSCĐ giảm 343.881 triệu đồng, tỷ trọng giảm 0,57% từ 86,74% xuống còn 86,17%. Đến năm 2025, tài sản cố định tiếp tục giảm 3,78% xuống còn 4.234.691 triệu đồng vì sự hao mòn lũy kế của các TSCĐ. Trong tương lai, quy mô kinh doanh sản xuất của Công ty sẽ tiếp tục được mở rộng thì cần đầu tư thêm vào trang thiết bị, TSCĐ và các tài sản khác. Bên cạnh đó, cần phải có các biện pháp để làm giảm hao mòn TSCĐ, hướng tới mục tiêu đảm bảo chất lượng, lợi nhuận lâu dài.
Thứ hai, về các khoản đầu tư tài chính dài hạn: có sự tăng và giảm nhẹ qua các năm. Năm 2023 khoản mục này là 379.296 triệu đồng, tăng 47.861 triệu đồng, tương ứng 12,61% trong năm 2024. Sang năm 2025, giảm nhẹ 3% xuống 414.348 triệu đồng, đồng thời rút ngắn tỷ trọng xuống còn 8,3% trên tổng tỷ trọng tài sản dài hạn.
Thứ ba, về tài sản dài hạn khác: Tài sản dài hạn khác có xu hướng giảm vào năm 2024 và tăng trong năm 2025. Nguyên nhân chủ yếu của sự tăng giảm thất thường là sự thay đổi của chi phí trả trước dài hạn. Năm 2023, chi phí trả trước dài hạn là 324.525 triệu đồng và giảm 28,07% vào năm 2024 là 233.249 triệu đồng. Sang năm 2025 khoản mục này tiếp tục gia tăng 29,65% lên mức 302.418 triệu đồng. Khoản chi phí này bao gồm: lợi thế kinh doanh từ cổ phần hóa; chi phí chai, két cần phân bổ; chi phí công cụ, dụng cụ; chi phí thuê đất; chi phí đền bù giải phóng mặt bằng; …
2.2.2. Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản của Tổng công ty Cổ phần Bia – Rượu –NGK Hà Nội Khóa luận: Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản tại công ty Bia.
Để có thể đánh giá thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản của Tổng công ty Cổ phần Bia – Rượu – NGK Hà Nội một cách đầy đủ và chính xác, chúng ta cần đi sâu phân tích cơ cấu về tài sản bằng các chỉ tiêu. Qua việc phân tích sẽ cho thấy tình hình sử dụng tài sản tại Công ty, những thành tựu đã đạt được, những hạn chế cần khắc phục cũng như nguyên nhân của những hạn chế này. Trên cơ sở đó, những giải pháp thích hợp sẽ được đưa ra để nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty.
2.2.2.1 Chỉ tiêu đánh giá tổng quát hiệu quả sử dụng tổng tài sản
Bảng 2.6. Phân tích khả năng sinh lời của Tổng công ty Cổ phần Bia – Rượu – NGK Hà Nội
- Theo bảng 2.6, ta thấy:
Hiệu suất sử dụng tổng tài sản: Nhìn vào bảng phân tích số liệu ta có thể thấy được hiệu suất sử dụng tổng tài sản đang có xu hướng giảm dần vào năm 2025. Bên cạnh đó thì doanh thu thuần và tổng tài sản bình quân cũng đang có sự biến động không nhỏ. Điều này cho thấy rằng việc sử dụng tài sản đang của Công ty vẫn chưa đạt được hiệu quả như mong muốn. Cụ thể như sau:
Năm 2023-2024: Năm 2023, hiệu suất sử dụng của tổng tài sản là 0,82 lần; sang năm 2024 là 0,83 lần tăng 0,01 lần. Ở đây có thể hiểu rằng một đồng tài sản đưa vào hoạt động kinh doanh thì thu được 0,83 lần đồng doanh thu thuần. Chỉ số này tăng do doanh thu thuần tăng lên (6,52%) và tổng tài sản bình quân tăng (4,36%).
Năm 2024-2025: Việc tiếp tục đầu tư vào tài sản tăng lên 2,71% nhưng doanh thu bị giảm xuống nên hiệu suất sử dụng tài sản giảm xuống chỉ còn 0,81 lần. Tức là năm 2025, một đồng tài sản bỏ ra đầu tư chỉ thu được 0,81 đồng doanh thu thuần. Nguyên nhân là do vào 31/12/2025, Công ty Cổ phần Bia Thanh Hóa – một công ty con của Tổng công ty, đã hoàn thành việc mua lại 100% vốn cổ phần của Công ty Cổ phần Thương mại Bia Thanh Hóa, trước đây là công ty liên kết của Công ty Cổ phần Bia Thanh Hóa. Việc mua lại này có ảnh hưởng không nhỏ tới tổng tài sản và nợ phải trả của Công ty. Doanh thu giảm
19.554 triệu đồng, bên cạnh đó là các khoản giảm trừ doanh thu trong hoạt động bán hàng đã làm mất một lượng doanh thu; thêm vào đó là sự bổ sung khá mạnh của hàng tồn kho khiến cho tổng tài sản bình quân tăng lên. Điều này chính là nguyên nhân làm giảm hiệu suất sử dụng tài sản cố định trong năm. Khóa luận: Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản tại công ty Bia.
Vậy hiệu quả sử dụng tài sản trong ba năm vừa qua đang giảm dần trong thời gian gần đây và trung bình là 0,02 lần cho thấy việc sử dụng tài sản chưa thật sự hiệu quả.
Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA – Return on Assets): Từ năm 2023 đến năm 2025, tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản có xu hướng tăng giảm thất thường.
Năm 2023, tỷ suất lợi nhuận trên tài sản của Công ty là 0,11 lần nhưng đến năm 2024 thì tỷ suất này tăng nhẹ lên 0,13 lần (tăng so với năm 2023 là 0,02 lần), tức là cứ một đồng tài sản được đầu tư thì Công ty thu về 0,13 đồng lợi nhuận ròng. Nguyên nhân của sự tăng lên này là do tổng tài sản bình quân năm 2024 tăng 4,36% trong khi lợi nhuận trước thuế và lãi vay tăng với tốc độ khá mạnh (tăng từ 1.014.284 triệu đồng trong năm 2023 lên đến 1.338.095 triệu đồng trong năm 2024, tương đương tăng 31,92%). Điều này chứng tỏ việc sử dụng tài sản trong năm 2024 đã được quan tâm và một đồng tài sản đã tạo ra nhiều đồng lợi nhuận trước thuế và lãi vay hơn trước. Sang năm 2025, tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản này lại giảm 0,03 lần xuống còn 0,10 lần. Tức là cứ một đồng tài sản đầu tư thì Công ty chỉ thu về được 0,10 đồng lợi nhuận ròng. Việc giảm khả năng sinh lời trên đã cho thấy, nhìn chung với số vốn Công ty bỏ ra thì việc thu lại lợi nhuận ròng năm 2025 giảm với tốc độ 15,35% trong khi tốc độ tăng của tổng tài sản bình quân là 2,71%. Nhìn chung, so với chỉ tiêu ROA của ngành Hàng tiêu dùng (Thực phẩm và Đồ uống) vào cuối năm 2025 do công ty Cổ phần chứng khoán Tân Việt (TVSI) cung cấp là 7,14% thì có thể thấy chỉ tiêu này trong Công ty còn thấp.
Trong thời gian tới, Công ty cần có những biện pháp khai thác năng lực sản xuất của tài sản. Những phân tích trên về khả năng sinh lời của tài sản cho thấy sự tăng giảm thất thường qua các năm. Điều này chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sản vẫn chưa được quan tâm một cách hợp lý. Ngoài ra, khả năng sinh lời của tài sản còn chịu tác động bởi cấu trúc nguồn vốn. Mà cấu trúc nguồn vốn của Công ty qua các năm lại không giống nhau và chi phí sử dụng vốn vay cũng khác nhau.
Tỷ suất sinh lời trên doanh thu (ROS – Return on Sales): Đây là tỷ suất quan trọng đối với các nhà quản trị vì nó cho biết khả năng kiểm soát các chi phí hoạt động cũng như phản ánh tính hiệu quả của quá trình hoạt động kinh doanh, nó cho biết lợi nhuận do doanh thu tiêu thụ sản phẩm đem lại. Qua bảng phân tích ta có thể thấy tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu đang có xu hướng tăng giảm thất thường mặc dù mức độ tăng (giảm) còn ít. Đây là dấu hiệu cho thấy chi phí các hoạt động đang tăng hoặc giảm dần theo doanh thu. Cụ thể: Khóa luận: Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản tại công ty Bia.
Năm 2023 tỷ suất sinh lời trên doanh thu là 0,13 lần tăng so với năm 2022 là 0,01 lần. Điều này cho ta biết cứ một đồng doanh thu thuần tạo ra được 0,13 đồng lợi nhuận. Trong năm, doanh thu thuần đã tăng từ 5.083.064 triệu đồng năm 2022 lên đến 6.069.972 triệu đồng năm 2023. Sự gia tăng của giá vốn và các chi phí chậm hơn sự gia tăng của lợi nhuận sau thuế, nguyên nhân này đã làm tăng tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu trong năm.
Năm 2024, tỷ suất sinh lời trên doanh thu ở mức 0,15 lần. Cụ thể là trong năm lợi nhuận của công ty tăng từ 793.117 triệu đồng lên 981.433 triệu đồng tương ứng với tỷ lệ 23,74%, trong khi doanh thu thuần tiếp tục tăng đã khiến tỷ suất tăng là 0,15 lần. Tức là cứ 1 đồng doanh thu tạo ra 0,15 đồng lợi nhuận sau thuế. Đây là một dấu hiệu cho hấy sự khởi sắc trong giai đoạn 2023-2024 nhưng vẫn đòi hỏi công ty cần phát huy hơn nữa để tạo lợi nhuận tốt hơn cho những kỳ kinh doanh sau.
Năm 2025 với doanh thu giảm nhẹ xuống 19.554 triệu đồng (giảm 0,03% so với năm 2024) đã làm lợi nhuận gộp giảm, bên cạnh đó chi phí quản lý kinh doanh cũng gia tăng nên lợi nhuận sau thuế trong năm cũng giảm với tỷ lệ giảm là 15,35%. Việc này làm cho tỷ suất sinh lời trên doanh thu của năm 2025 giảm so với năm 2024.
Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE – Return on Equity): Nhìn vào bảng phân tích ta có thể dễ dàng nhận thấy tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu đang có xu hướng giảm dần vào năm 2025. Cụ thể:
Năm 2024 tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu là 25% tăng so với năm 2023 là 3%, tức là cứ 100 đồng vốn chủ sở hữu được đầu tư thì Công ty thu về 25 đồng lợi nhuận. Nhưng sang năm 2025, tỷ suất này giảm mạnh 16% xuống còn 0,09%. Nguyên nhân của việc tỷ suất sinh lời có xu hướng đi xuống là do lợi nhuận trong giai đoạn 2024-2025 giảm 0,30%. Bên cạnh đó nguồn vốn chủ sở hữu lại tăng giai đoạn 2024-2025 là 10,71% dẫn đến tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu giảm vào cuối kỳ. Từ tỷ số ROE giảm xuống này ta nhận thấy rằng Công ty chưa cân đối hài hòa giữa vốn đầu tư của chủ sở hữu và vốn đi vay để khai thác lợi thế cạnh tranh trong quá trình huy động vốn phục vụ cho mục đích mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh.
Suất hao phí của tài sản so với lợi nhuận: Nhìn vào bảng phân tích ta có thể nhận thấy chỉ tiêu này có xu hướng giảm trong năm 2024 và tăng trong năm 2025, cho thấy đây không phải là dấu hiệu của việc kinh doanh có hiệu quả. Nguyên nhân của việc chỉ tiêu này tăng là do tổng tài sản bình quân qua các năm đều tăng mà lợi nhuận hàng năm lại tăng không tương xứng.
Năm 2023 tài sản bình quân là 7.430.419 triệu đồng sang năm 2024 tài sản tăng lên 7.754.731 triệu đồng tương đương tăng 20,06%; trong khi đó lợi nhuận đồng thời tăng 793.117 triệu đồng (năm 2023) lên đến 981.433 triệu đồng (năm 2024) tương ứng tăng 23,74% nên suất hao phí của tài sản so với lợi nhuận đã giảm xuống còn 7,9 lần so với năm 2023. Sang năm 2025 tài sản bình quân vẫn tiếp tục tăng và đạt 7.964.837 triệu đồng bên cạnh đó lợi nhuận sau thuế giảm 15,35% chỉ còn 830.805 triệu đồng. Chính vì sự tăng giảm đối nhau của tài sản và lợi nhuận nên suất hao phí của tài sản so với lợi nhuận có xu hướng tăng.
Để giảm tỷ suất này Công ty cần có các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ để tăng lượng sản phẩm bán ra, giữ nguyên hoặc tăng được giá bán, tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm để tăng lợi nhuận.
2.2.2.2. Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn Khóa luận: Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản tại công ty Bia.
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, tài sản ngắn hạn luân chuyển không ngừng. Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn là một trong những chỉ tiêu tổng hợp dùng để đánh giá chất lượng công tác quản lý và sử dụng tài sản kinh doanh nói chung của Doanh nghiệp. Do cấu tạo phức tạp nếu để đánh giá chính xác hơn tính hợp lý của các khoản mục trong tài sản ngắn hạn nên khi phân tích cơ cấu tài sản ngắn hạn, Khóa luận sẽ phân tích các chỉ tiêu chung về tài sản ngắn hạn theo như bảng sau:
- Bảng 2.7. Phân tích các chỉ tiêu đánh giá chung về hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn
Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn: Có thể thấy hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn có xu hướng giảm từ năm 2023 đến 2025. Cụ thể:
Năm 2024, hiệu suất sử dụng TSNH là 2,75 lần, thấp hơn so với năm 2023 là 0,21 lần. Con số này có ý nghĩa là 1 đồng TSNH được đưa vào hoạt động kinh doanh thì sẽ thu được 2,75 đồng doanh thu thuần. Ngược lại với hiệu suất sử dụng tài sản, suất hao phí của tài sản ngắn hạn so với doanh thu lại tăng từ 0,34 lần (năm 2023) lên 0,36 lần (năm 2024). Chỉ tiêu này cho biết để có một đồng doanh thu thì Doanh nghiệp phải bỏ ra 0,34 đồng.
Năm 2024-2025: Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn trong thời gian này vẫn tiếp tục giảm và giảm xuống mức 2,21 lần tức là một đồng TSNH bỏ ra chỉ thu được 2,21 đồng doanh thu thuần. Và suất hao phí của TSNH so với doanh thu thuần tăng lên đến 0,45 lần, tức là để có 1 đồng doanh thu thì công ty phải bỏ ra 0,45 đồng TSNH. Bên cạnh đó, trong 2 năm này, khoản phải thu khách hàng chiếm một phần nhỏ trong cơ cấu TSNH và sự cắt giảm được các khoản phải thu so với các năm trước khiến cho nguồn vốn này không bị ứ đọng và sẽ đạt hiệu suất cao nhất khi sử dụng.
Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn có xu hướng giảm từ năm 2023-2024 (0,21 lần) nhưng từ 2024-2025 vẫn chưa có sự kiểm soát và nằm ở mức cao hơn là 0,54 lần. Năm 2025, doanh thu thuần giảm với mức là 0,3% thấp hơn tốc độ giảm của lợi nhuận sau thuế là 15,34% trong đó tốc độ tăng của TSNH bình quân tăng 24%. Như vậy, có thể thấy rằng việc sử dụng TSNH tại Công ty đã đạt được hiệu quả. Công ty cần tăng cường đẩy mạnh tiến độ giảm khoản phải thu hơn nữa để đưa lượng vốn vào hoạt động sản xuất giúp tăng hiệu suất sử dụng TSNH. Khóa luận: Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản tại công ty Bia.
Thời gian vòng quay của TSNH: Chỉ tiêu này ở mức cao, trung bình mỗi vòng quay của TSNH bình quân mất từ 120 ngày đến 163 ngày. Điều này chứng tỏ TSNH của Công ty vận động chậm, làm giảm tăng trưởng của doanh thu và lợi nhuận của Doanh nghiệp trong các năm gần đây.
Năm 2024 thời gian quay vòng TSNH tăng từ 122 ngày trong năm 2023 lên 131 ngày. Điều đó cho thấy TSNH vận động ngày càng chậm, hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn thấp, hạn chế việc nâng cao doanh thu và lợi nhuận cho Công ty.
Năm 2025, hàng tồn kho đột ngột tăng mạnh chủ yếu là do sự gia tăng của số lượng sản phẩm và các thành phẩm dở dang, đầu vào nguyên vật liệu chưa hợp lý. Trong thời kì lạm phát, hàng lưu kho tăng còn làm tăng lợi ích của Công ty, tuy nhiên cần phải giữ hàng tồn kho ở mức hợp lý nhất nhằm tránh gia tăng chi phí lưu kho bãi và bảo quản. Vì vậy, trong năm 2025, phải mất đến 163 ngày mới hết một vòng quay tài sản ngắn hạn.
Tỷ suất sinh lời của tài sản ngắn hạn (ROCA – Return on Current Assets): Trong năm 2024, lợi nhuận sau thuế tăng trong khi TSNH bình quân tăng. Điều này dẫn tới sức sinh lời của tài sản ngắn hạn cũng tăng 3%. Có nghĩa là trong năm 2024, Doanh nghiệp đầu tư 1 đồng tài sản ngắn hạn thì tạo ra 0,41 đồng lợi nhuận sau thuế. Trong khi năm 2023 chỉ tạo ra 0,38 đồng lợi nhuận sau thuế. Sức sinh lời tăng đồng nghĩa với việc doanh nghiệp sử dụng tài sản ngắn hạn hiệu quả hơn so với năm 2023, góp phần làm tăng hiệu quả kinh doanh của Doanh nghiệp.
Sang đến năm 2025, sức sinh lời của TSNH giảm xuống mức 13%. Đó là do tốc độ giảm của lợi nhuận sau thuế là 15,34% không chênh lệch quá lớn với tốc độ tăng của TSNH bình quân 24%. Điều này chứng tỏ hiệu quả sử dụng TSNH của công ty trong năm 2025 đã giảm đi sự cải thiện so với năm 2023-2024.
Nhìn chung trong 3 năm, tỷ suất sinh lời của TSNH đạt trung bình khoảng 35,67% và có xu hướng giảm. Năm 2023, lợi nhuận sau thuế tăng với tốc độ 23,74% so với năm 2022 và tốc độ tăng cao hơn tốc độ tăng của TSNH bình quân nên tỷ suất sinh lời của TSNH năm 2023 là 0,38%. Tuy nhiên đến năm 2024, thị trường với nhiều biến động do hậu khủng hoảng kinh tế năm 2023, tuy nhiên nhu cầu tiêu dùng của người dân vẫn làm doanh thu thuần của Công ty tăng trưởng hơn trước. Mặc dù các chi phí quản lý và bán hàng tăng hơn vẫn khiến lợi nhuận sau thuế tăng 23,74% so với năm 2023.
Ngoài ra, để đánh giá kỹ hơn về hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn thì trong Khóa luận sẽ đánh giá hiệu quả sử dụng qua các chỉ tiêu đánh giá các thành phần của tài sản ngắn hạn. Khóa luận: Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản tại công ty Bia.
Chỉ tiêu đánh giá tình hình các khoản phải thu:
- Bảng 2.8. Các chỉ tiêu đánh giá tình hình các khoản phải thu
Vòng quay khoản phải thu: Phản ánh tốc độ biến đổi của các khoản phải thu thành tiền mặt hay chỉ số này dùng để đo lường hiệu quả và chất lượng khoản phải thu thông qua thời gian thu nợ trung bình. Thông qua bảng 2.8, ta thấy số vòng quay các khoản phải thu giảm dần vào năm 2023-2024 nhưng đến năm 2024-2025 con số này lại tăng lên. Cụ thể như sau:
Trong năm 2024, số vòng quay các khoản phải thu đạt 18,42 vòng giảm 23,98 vòng so với năm 2023. Điều này đã làm thời gian thu nợ trung bình tăng lên 19,54 ngày (tăng 10,87 ngày so với năm 2023). Nhưng sang đến năm 2025, vòng quay các khoản phải thu đã tăng lên 58,56 vòng đi kèm với con số này thì thời gian thu nợ trung bình đã giảm được 13,4 ngày. Tỷ số này chứng tỏ tốc độ thu hồi các khoản phải thu của Công ty đang trong tầm kiểm soát và đang có xu hướng đi lên.
Trong ba năm các chỉ tiêu về tình hình các khoản phải thu tăng giảm nhưng vẫn trong tầm kiểm soát. Chỉ số này của Công ty giữ ở mức trung bình là 39,5 vòng tương ứng với kỳ thu tiền trung bình là 11,45 ngày, chứng tỏ công tác thu hồi nợ của Doanh nghiệp được đánh giá vẫn đang ở mức khá tốt và Doanh nghiệp có khả năng đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn bởi các khoản phải thu. Như vậy, chỉ số vòng quay khoản phải thu đang có xu hướng tăng lên và kỳ thu tiền bình quân có xu hướng giảm xuống – đây có thể coi là một tín hiệu tốt trong quá trình kinh doanh nên trong thời gian tới Công ty cần phải có những biện pháp để giữ vững được xu hướng trên; đồng thời nỗ lực hơn nữa để làm cho chỉ tiêu này tăng và dần ổn định trong thời gian tới.
Chỉ tiêu đánh giá tình hình các khoản phải trả:
- Bảng 2.9. Các chỉ tiêu đánh giá tình hình các khoản phải trả
Thông qua bảng 2.9, ta có thể thấy hệ số trả nợ có xu hướng giảm qua các năm. Khoản mục này phản ánh khả năng trả nợ của doanh nghiệp hay cho biết khả năng chiếm dụng vốn của Công ty với các nhà cung cấp. Có thể thấy rõ, trong năm 2023, doanh nghiệp ít chiếm dụng được vốn do hệ số trả nợ lên tới 42,31 vòng, tương ứng cứ khoảng hơn 8 ngày là doanh nghiệp phải trả một khoản nợ cho nhà cung cấp. Chỉ số này cũng cho thấy mức độ uy tín của doanh nghiệp khi sang năm 2024 và 2025, công ty chiếm dụng được vốn dài hơn với thời gian trả nợ trung bình là 19,75 ngày và 28,35 ngày. Chính khoảng thời gian chiếm dụng vốn này có thể giúp Doanh nghiệp tận dụng cho các khoản cần chi trả gấp hơn.
Chỉ số vòng quay tiền là tổng hợp của các chỉ tiêu cho thấy thời gian Doanh nghiệp thu hồi tiền trong sản xuất kinh doanh. Có chỉ số thấp nhất trong 3 năm, năm 2023 Doanh nghiệp thu hồi được tiền nhanh nhất là trong 7,22 ngày nhờ vào tình hình kinh tế tốt và chính sách nới lỏng tín dụng có hiệu quả, Doanh nghiệp chiếm dụng được nhiều vốn từ nhà cung cấp và bán được hàng khá trôi chảy. Đây là dấu hiệu tốt đối với Công ty, ngược lại năm 2024 và năm 2025 tình hình kinh tế khó khăn, kinh doanh không thuận lợi dẫn đến hàng hóa lưu thông kém làm cho doanh nghiệp mất trung bình gần 28 ngày để thu hồi tiền trong kinh doanh.
Chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh toán: Khóa luận: Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản tại công ty Bia.
- Bảng 2.10. Phân tích khả năng thanh toán của Tổng công ty Cổ phần Bia – Rượu –NGK Hà Nội
Khả năng thanh toán của một Doanh nghiệp là yếu tố rất quan trọng góp phần vào sự phát triển ổn định của một doanh nghiệp. Khi đảm bảo được khả năng chi trả, Doanh nghiệp sẽ có nhiều thuận lợi trong quá trình giao thương, buôn bán với các đối tác khác trên thị trường. Thông qua bảng 2.10, ta có thể đánh giá được khả năng thanh toán của Tổng công ty Cổ phần Bia – Rượu – NGK Hà Nội, cụ thể như sau:
Khả năng thanh toán hiện hành: Hay còn gọi là khả năng trả nợ của Doanh nghiệp trong vòng một năm hay một chu kỳ kinh doanh. Trong ba năm 2023, 2024 và 2025, doanh nghiệp luôn duy trì được tỷ số này cao hơn 1, tức là tổng TSNH luôn cao hơn nợ ngắn hạn của Công ty. Tuy nhiên Công ty lại không duy trì được khả năng này trong năm 2024, con số này lại giảm 0,07 đơn vị xuống còn 1,28 lần. Lý giải cho việc giảm khả năng thanh toán này là do năm 2024, dù tổng TSNH bình quân tăng 14,68% so với năm 2023 nhưng độ tăng lại thấp hơn mức tăng của nợ ngắn hạn (từ 1.525.585 triệu đồng lên 1.843.397 triệu đồng) tương ứng 20,83%. Không giống như năm 2024, trong năm tiếp theo tổng TSNH bình quân tăng 23,96% trong khi đó thì nợ ngắn hạn giảm xuống 10,12%; chính vì vậy, khả năng thanh toán hiện hàng của Công ty tăng lên 1,76 lần (tăng 0,48 đơn vị so với năm 2024 và tăng 0,41 đơn vị so với năm 2023).
Khả năng thanh toán nhanh: Chỉ tiêu này tăng dần qua các năm và chỉ số này luôn nằm trong mức khả quan (lớn hơn 0,5). Năm 2024, chỉ số này tăng lên 0,87 lần do TSNH đã tăng lên 57.757 triệu đồng (tương đương 26,52%). Lượng hàng lưu kho giảm 14,7% nhưng nợ ngắn hạn trong giai đoạn này lại tăng 20,83%.
Đặc biệt là vào năm 2025, khả năng thanh toán nhanh của Công ty đạt mức cao là 1,27 lần. So sánh chỉ số này với Doanh nghiệp cùng ngành như: Tổng công ty Cổ phần Bia – Rượu – NGK Sài Gòn (SABECO) chỉ đạt 1,12 lần (trong đó TSNH là 8.481.709 triệu đồng, hàng tồn kho là 1.686.954 triệu đồng và nợ ngắn hạn là 6.146.682 triệu đồng) và so với ngưỡng của ngành “Thực phẩm – Đồ uống” là 1,10. Chỉ tiêu này cho thấy Tổng công ty Cổ phần Bia – Rượu – NGK Hà Nội có thể thanh toán các khoản nợ bằng tài sản ngắn hạn có thể chuyển đổi thành tiền mặt một cách nhanh nhất.
- Sử dụng đẳng thức Dupont để thấy sự tác động đến khả năng thanh toán:
Như vậy qua việc triển khai chỉ tiêu ROE có thể thấy chỉ tiêu này được cấu thành bởi ba yếu tố: lợi nhuận ròng, tổng tài sản và đòn bẩy tài chính. Trong đó, lợi nhuận sau thuế đạt 830.805 triệu đồng trong khi đó tổng tài sản lên tới 8.067.584 triệu đồng. Với lượng tài sản lớn, Công ty sẵn sàng bán dưới giá trị sổ sách các khoản hàng tồn kho để chuyển thành tiền mặt thật nhanh để tiến hành tái đầu tư. Khóa luận: Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản tại công ty Bia.
Nhìn chung, Doanh nghiệp hầu như chi trả được các khoản nợ phát sinh trong ngắn hạn do tình hình thanh toán tương đối khả quan tuy nhiên cũng cần chú ý rằng khi Công ty dự trữ khá nhiều tiền và các khoản tương đương tiền để có thể chi trả cũng có thể làm vòng quay tiền giảm, kéo theo hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn giảm.
Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản dài hạn:
- Bảng 2.11. Phân tích các chỉ tiêu đánh giá chung về hiệu quả sử dụng tài sản dài hạn
Hiệu suất sử dụng TSDH: Chỉ tiêu này cho biết cứ 1 đồng TSDH được sử dụng thì tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần trong kỳ. Trong ba năm qua, chỉ tiêu này có xu hướng tăng dần. Trong năm 2024, TSDH bình quân giảm 1,68% cùng với sự gia tăng của doanh thu 6,52% đã làm cho hiệu suất sử dụng TSDH tăng lên từ 1,13 lần lên 1,22 lần.
Hệ số sinh lời của TSDH: Trong năm 2024, lợi nhuận sau thuế tăng trong khi TSDH bình quân lại giảm. Điều này dẫn tới sức sinh lời của tài sản dài hạn năm 2024 tăng 0,03 lần so với năm 2023. Có nghĩa là so với năm 2023, trong năm 2024 Doanh nghiệp đầu tư 1 đồng TSDH thì tạo ra 0,18 đồng lợi nhuận sau thuế. Sức sinh lời tăng đồng nghĩa với việc Doanh nghiệp sử dụng TSDH hiệu quả hơn so với 2023, góp phần làm tăng hiệu quả kinh doanh của Doanh nghiệp.
Sang đến năm 2025, sức sinh lời của TSDH giảm nhẹ 0,02 lần và ở mức 0,16 lần. So sánh chỉ tiêu này với Tổng công ty Cổ phần Bia – Rượu – NGK Sài Gòn (SABECO) ta thấy: TSDH bình quân là 10.190.427 triệu đồng trong khi lợi nhuận sau thuế của Công ty là 2.495.394 triệu đồng (giảm 10,42% so với năm 2024) nên sức sinh lời của Công ty SABECO trong thời điểm này là 0,24 lần. Điều này chứng tỏ hiệu quả sử dụng TSDH của SABECO tốt hơn so với HABECO. Như vậy có thể thấy rằng, Công ty hiệu quả sử dụng TSDH trong năm 2025 chưa được cải thiện. Nhìn chung từ năm 2023-2025, TSDH bình quân có xu hướng giảm và lợi nhuận sau thuế giảm đây chính là nguyên nhân làm giảm tỷ suất sinh lời trên TSDH.
Tỷ suất sinh lời trên TSCĐ: Trong năm 2023, cứ 100 đồng chỉ tạo ra 0,12 đồng lợi nhuận, đến năm 2024 tạo được 0,14 đồng lợi nhuận, tăng nhẹ 0,02 đồng so với 2023. Đến năm 2025, tỷ suất sinh lời của TSCĐ lại giảm xuống còn 0,11%, tức là cứ 100 đồng TSCĐ thì tạo ra được 0,11 đồng. Đây là dấu hiệu không tốt cho Công ty, cho thấy trong những năm này Công ty đã khai thác máy móc thiết bị chưa tốt. Do đó, đã làm cho tốc độ tăng của lợi nhuận luôn thấp hơn rất nhiều tốc độ tăng của nguyên giá TSCĐ. Nhìn chung, tỷ suất sinh lời của TSCĐ có xu hướng giảm trong những năm gần đây, đạt giá trị trung bình là 0,12% tức là trung bình 100 đồng TSCĐ bỏ ra thì thu được 0,12 đồng lợi nhuận sau thuế. Điều này cũng có nghĩa là hiệu quả của việc sử dụng tài sản này cũng có xu hướng giảm. Khóa luận: Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản tại công ty Bia.
- Suất hao phí tài sản cố định
Suất hao phí tài sản cố định các năm được thể hiện qua biểu đồ sau:
- Biểu đồ 2.4. Suất hao phí của tài sản cố định
Năm 2023 suất hao phí của TSCĐ là 1,07 lần tức là để có 1,07 đồng doanh thu thuần, Công ty cần phải có 1 đồng nguyên giá TSCĐ bình quân. Năm 2024, suất hao phí TSCĐ là 1,09 lần và vào năm 2025 là 1,13 lần. Như vậy mỗi năm suất hao phí TSCĐ lại tăng dần, cho thấy trong giai đoạn 2023-2025, công ty đã bị giảm hiệu quả sử dụng TSCĐ. Mặc dù đã được đầu tư nâng cấp các thiết bị phục vụ nhưng Công ty không sử dụng hiệu quả dẫn đến suất hao phí tăng dần qua mỗi năm.
2.3. Đánh giá thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản của Tổng công ty Cổ phần Bia –Rượu – NGK Hà Nội
2.3.1. Kết quả
Sau khi phân tích chi tiết thực trạng quản lý và sử dụng tài sản tại Tổng công ty Cổ phần Bia – Rượu – NGK Hà Nội, ta có thể thấy Công ty đã chú trọng đến phát triển doanh nghiệp theo hướng lâu dài và cố gắng duy trì doanh nghiệp trong giai đoạn kinh tế bất ổn và khó khăn như hiện nay. Tổng tài sản liên tục tăng trong các năm gần đây. Trong đó, tài sản dài hạn đang giảm dần tỷ trọng và năm 2025 chiếm khoảng 62% tổng tài sản, do các khoản đầu tư vào việc xây dựng thêm nhà xưởng phục vụ cho quá trình sản xuất; tài sản cố định kèm theo các khoản chi phí thu mua, sửa chữa, bảo dưỡng;…đều giảm.
Bên cạnh việc điều chỉnh đầu tư vào tài sản dài hạn thì tài sản ngắn hạn cũng được Ban lãnh đạo Công ty chú trọng. Tài sản ngắn hạn luôn được đảm bảo trong quá trình kinh doanh của Công ty. Không để xảy ra tình trạng khan hiếm sản phẩm trong năm, đặc biệt là mùa hè – mùa cao điểm (từ tháng 4 đến tháng 8); hoặc ngay cả khi thị trường có biến động lớn về giá cả. Trong những tháng cao điểm về tiêu thụ sản phẩm Công ty có các chủ trương dự trữ hàng để đảm bảo yếu tố cung cho khách hàng. Qua đó đảm bảo chỉ tiêu doanh thu và lợi nhuận đề ra. Cùng với đó, để tạo điều kiện nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản, Công ty đã đầu tư mới vào phần mềm kế toán, đã góp phần giảm nhẹ khối lượng công việc và hiệu quả của công tác kế toán tại Công ty. Hệ thống trang thiết bị cũng được đầu tư thêm đáp ứng quy mô sản xuất tăng lên. Mục tiêu đầu tư của Công ty nhằm đáp ứng cho chiến lược phát triển cao về quy mô và sản lượng sản xuất, tăng sức cạnh tranh với các đối thủ trên thị trường như: Công ty Bia Việt Hà, Tổng công ty Cổ phần Bia –Rượu – NGK Sài Gòn (SABECO), Công ty Bia Sài Gòn Bình Tây hay Công ty Bia Huế (HUDA BEER), ….
2.3.2. Hạn chế và nguyên nhân Khóa luận: Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản tại công ty Bia.
2.3.2.1 Hạn chế
Bên cạnh những kết quả đạt được, việc sử dụng tài sản một cách hiệu quả tại Công ty vẫn còn tồn tại một số hạn chế. Qua việc phân tích số liệu về tình hình sử dụng tài sản của Công ty trong thời gian qua cho thấy nhìn chung các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản của Công ty đều sụt giảm trong năm 2025. Mặc dù trong thời gian vừa qua cũng đã có rất nhiều sự đầu tư nhưng trong Công ty vẫn còn nhiều thiết bị cũ, lạc hậu do vậy cần có sự đổi mới hơn nữa để nâng cao hiệu suất sử dụng tài sản của Công ty. Cụ thể:
- Hiệu suất sử dụng tài sản thấp và thiếu sự ổn định, hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn có xu hướng giảm (năm 2023 là 2,96 lần đến năm 2025 chỉ còn 2,21 lần).
- Tỷ suất sinh lợi của tài sản thấp và không ổn định, giảm mạnh vào năm
- Khả năng thanh toán chưa tốt, Công ty chưa tận dụng được khả năng sinh lời của tài sản trong khi đó khả năng thanh toán vào năm 2025 quá cao (khả năng thanh toán hiện hành đạt 1,76 lần và khả năng thanh toán nhanh đạt 1,27 lần).
- Cơ cấu tài sản chưa phù hợp, quản lý tài sản chưa được tốt.
2.3.2.2. Nguyên nhân
- Nguyên nhân chủ quan Khóa luận: Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản tại công ty Bia.
Nguyên vật liệu dự trữ quá nhiều: Việc tăng mức dự trữ nguyên vật liệu đầu vào trong thời gian qua là chưa hợp lý. Tốc độ tăng nguyên vật liệu dự trữ 10,71% lớn hơn nhiều so với việc gia tăng doanh thu. Thậm chí vào năm 2025, doanh thu còn giảm đi 0,3% so với năm trước. Điều này góp phần làm giảm hiệu quả sử dụng TSNH. Nguyên nhân là do tình hình lập đơn đặt hàng đôi khi không sát với thực tế, có những trường hợp dư thừa nhiều do không sử dụng tới. Ngoài ra, một số nguyên vật liệu nhập về không đủ tiêu chuẩn chất lượng, sai quy cách, giá cả còn cao so với các nhà cung cấp khác. Bên cạnh đó thị trường nguyên vật liệu biến động thường xuyên làm cho các công tác quản lý hàng tồn kho còn gặp nhiều khó khăn.
Tiền mặt dự trữ chưa hợp lý: Công ty chưa áp dụng mô hình quản lý tiền mặt cũng như chính sách quản lý ngân quỹ để giúp cho hoạt động sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả hơn. Lượng tiền mặt tồn quỹ còn khá lớn nên không tiết kiệm được chi phí, do đó làm giảm hiệu quả sử dụng tài sản, tiền không đươc đưa vào đầu tư sản xuất kinh doanh. Lợi nhuận thuần từ hoạt động sản xuất kinh doanh và các hoạt động tài chính khác vào năm 2024 tăng trưởng không đáng kể so với năm 2023, thậm chí sang đến năm 2025 con số này còn giảm 0,3%.
Việc đầu tư thêm TSCĐ còn nhiều hạn chế: Số tiền chi cho công tác đổi mới những tài sản được đầu tư mua về chưa hẳn là hiện đại nhất, nó cũng có nhiều điều không phù hợp khi vận hành trong nước do vậy khi vận hành gặp nhiều khó khăn và mất chi phí nghiên cứu và đao tạo công nhân để có thể sử dụng được gia tăng chi phí như: máy in phun Video Jet và bộ đồng tốc, bơm định lượng hóa chất Prominent, tháp giải nhiệt TSC.. So với công suất thiết kế khi mua về Công ty không thể sử dụng hết được công suất máy móc nên gây ra sự lãng phí (máy nén khí cho DC 30.000 ch/h, biến tần DANFOSS cho DC 30.000, hệ thống máy phát điện DIEZEN…). Phần lớn máy móc nhập khẩu từ nước ngoài nên khi bị hỏng không có đồ thay thế trong nước vì vậy phải đặt mua hoặc mời chuyên gia sửa chữa ở nước ngoài làm mất thời gian và tốn kém chi phí sửa chữa. Công ty đầu tư vào tài sản cố định và chỉ quan tâm đầu tư mua sắm mới trang thiết bị mà chưa quan tâm đến việc phải sử dụng như thế nào cho đúng với mức hiệu quả tối đa mà tài sản đó có thể mang lại. Khóa luận: Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản tại công ty Bia.
Công tác quản lý TSCĐ chưa hiệu quả: Là một Công ty nằm trong lĩnh vực sản xuất hàng tiêu dùng (Thực phẩm – Đồ uống) nên TSCĐ là một bộ phận đóng vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động kinh doanh của Công Vào năm 2025, mặc dù có sự đổi mới, sửa chữa, nâng cấp nhưng việc đầu tư này là chưa có hiệu quả cụ thể. Giá trị TSCĐ có sự giảm đi nhiều – phần lớn là do hao mòn và giá trị TSCĐ đầu tư mới nhỏ hơn giá trị TSCĐ thanh lý, nhượng bán như: bộ điều khiển tự động lên men, biến tần cho DC KEG, tăng hầm chứa, nhà lò dầu… Phần lớn, TSCĐ đều không còn mới, năng suất không cao, giá trị còn lại rất nhỏ so với nguyên giá. Điều này dẫn đến chất lượng TSCĐ ngày càng giảm đồng thời làm tăng chi phí sửa chữa, bảo dưỡng trong quá trình hoạt động dẫn đến tăng chi phí đầu vào. Bên cạnh đó, chính sách quản lý tài sản chưa phù hợp, chưa có quy định rõ ràng trong việc phân cấp tài sản để quản lý góp phần làm cho hiệu quả sử dụng tài sản chưa cao.
Khả năng huy động vốn còn hạn chế, chưa thiết lập và duy trì cơ cấu vốn tối ưu: Qua 3 năm, nguồn vốn tăng lên không đáng kể. Trong năm 2024-2025 vốn chủ sở hữu chỉ tăng từ 4.178.218 triệu đồng lên 4.539.085 triệu đồng. Sự hạn chế về vốn dẫn đến khó khăn trong việc mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh cũng như việc tăng cường doanh thu, phát triển lợi nhuận của Công ty. Bên cạnh đó, Công ty chưa quan tâm đến vấn đề xác lập và duy trì cơ cấu vốn tối ưu dẫn đến chi phí vốn lớn gây ảnh hưởng không tốt đến hiệu quả hoạt động sản xuất của Công ty làm giảm hiệu quả sử dụng tài sản.
Các khoản phải thu ngắn hạn chiếm một tỷ trọng cao trong tổng tài sản (chiếm tới 20,90% tổng tài sản năm 2024) trong đó chủ yếu là khoản phải thu khách hàng chiếm 12,74% tổng tài sản năm 2024. Trong năm 2024, tỷ lệ các khoản phải thu khách hàng gia tăng cả về giá trị lẫn tỷ trọng trong tổng tài sản ngắn hạn và đặc biệt là tăng lên so tốc độ gia tăng doanh thu làm hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn giảm. Nguyên nhân là do công tác sàng lọc và quản lý khách hàng chưa thực sự hiệu quả, việc quản lý công nợ chưa được chặt chẽ. Khách hàng thường xuyên chậm thanh toán, khâu thủ tục, giấy tờ trong thanh toán cũng chậm. Do đó, quản lý công nợ của Công ty còn chứa đựng nhiều rủi ro. Các khoản phải thu của công ty còn nhiều đôi khi phải huy động nhiều nhân viên để đi đòi nợ làm mất thời gian công sức. Lượng vốn ứ đọng và luân chuyển bị ảnh hưởng làm cho chỉ tiêu về sử dụng tài sản ngắn hạn chưa cao.
Dự trữ là khâu quan trọng trong quá trình kinh doanh của Công ty, dự trữ nhằm đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của Công ty được liên tục, đáp ứng yêu cầu kịp thời của khách hàng, nếu dự trữ ở mức hợp lý sẽ góp phần đem lại hiệu quả sử dụng vốn, giảm được chi phí dự trữ hàng tồn kho. Vòng quay hàng tồn kho là chỉ tiêu kinh doanh khá quan trọng bởi vì sản xuất dự trữ hàng hóa để tiêu thụ nhằm đạt mục đích doanh số và lợi nhuận như mong muốn trên cơ sở đáp ứng nhu cầu đa dạng của thị trường. Nhìn chung qua ba năm, số lần quay vòng của hàng hóa không lớn chứng tỏ tình hình lưu thông hàng hóa vẫn chưa tốt. Năm 2023, hàng lưu kho quay vòng khoảng 4,34 lần trong một năm nên thời gian lưu kho trung bình của hàng hóa là cao (khoảng 83 ngày); sang năm 2024 con số này giảm xuống còn 71,57 ngày lưu kho hàng hóa nhưng sang năm 2025, thời gian lưu kho tăng 0,14% (tương đương với 72 ngày). Nguyên nhân là do tất cả các sản phẩm được sản xuất ra đều được lưu lại tại kho, khi Công ty ký kết các đơn hàng cho Công ty Cổ phần Bia Hà Nội – Kim Bài, Công ty TNHH Thủy tinh Sanmiguel Yamamura Hải Phòng,… thì mới tiến hành xuất kho thành phẩm trong kho nên số vòng quay hàng lưu kho năm 2023 – 2025 ít và thời gian dự trữ hàng tồn kho cao. Khóa luận: Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản tại công ty Bia.
- Nguyên nhân khách quan
Nền kinh tế biến động bất lợi: Sự biến động của nền kinh tế luôn có ảnh hưởng trực tiếp đến sự biến động về nhu cầu đối với ngành sản xuất hàng tiêu dùng (Thực phẩm – Đồ uống). Thách thức từ thị trường cho tới chính sách, khiến cho nhiều hãng bia bị thu hẹp thị phần. Chính vì vậy, Công ty đã gặp khó khăn về sản xuất kinh doanh. Bên cạnh đó, Công ty còn cạnh tranh với các đối thủ lớn đang chiếm lĩnh thị trường như: SABECO (bia Sài Gòn, bia 333), HUDA BEER (bia Huế), VBL (Heineken, Tiger…) và Carlsberg.
Nguyên vật liệu đầu vào tăng cao: Các Công ty bia ở Việt Nam đều bị ảnh hưởng nhiều bởi giá nguyên vật liệu đầu vào. Malt (mạch nha) và hops (hoa bia) là những nguyên vật liệu đầu vào chính của sản xuất bia hiện phải nhập khẩu hoàn toàn. Trong năm 2024, giá malt và hops có sự biến động mạnh do mất mùa và mất cân đối cung cầu. Theo dự báo của Bewers Supply Group, thị trường malt thế giới còn tiếp tục có xu hướng tăng giá giai đoạn từ năm 2025 đến năm 2027.
Thị trường chứng khoán biến động: Trong giai đoạn vừa qua, thị trường chứng khoán có nhiều biến động, tiềm ẩn nhiều rủi ro, giá cả nhiều loại cổ phiếu không phản ánh thực chất giá trị nên việc phát hành cổ phiếu của Công ty cũng gặp nhiều khó khăn do số lượng cổ phiếu không bán được như mong muốn. Do đó, việc huy động vốn cho các dự án đầu tư bị hạn chế. Công ty buộc phải bổ sung các khoản này bằng nguốn vốn vay ngân hàng và từ Quỹ đầu tư. Điều này cũng gây ra ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả của Công ty. Khóa luận: Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản tại công ty Bia.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>> Khóa luận: Giải pháp hiệu quả sử dụng tài sản tại công ty Bia

Dịch Vụ Viết Luận Văn Thạc Sĩ 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietthuethacsi.com/ – Hoặc Gmail: dicvuluanvanthacsi@gmail.com