Khóa luận: Hoạt động Marketing xuất khẩu sản phẩm mây tre đan

Rate this post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Hoạt động Marketing xuất khẩu sản phẩm mây tre đan hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Khóa luận: Hoạt động Marketing xuất khẩu cho sản phẩm mây tre đan của công ty TNHH Xuất Nhập Khẩu Thành Đạt sang thị trường Đức – thực trạng và giải pháp dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Mặt hàng thủ công mỹ nghệ là một lợi thế của Việt Nam bởi mặt hàng này mang đậm nét văn hoá truyển thống của dân tộc, năm 2024 kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam đạt giá trị 1,6 tỉ USD. Theo số liệu của Tổng Cục Hải Quan đến 5/2025 tổng kim nghạch xuất hàng thủ công mỹ nghệ là 918 triệu USD, trong đó các sản phẩm mây, tre, cói và thảm đạt 104,4 triệu USD chiếm khoảng 12% toàn nghành với mức tăng trưởng 8% so với cùng kỳ 5/2024. Sản phẩm mây, tre, cói của Việt Nam đã có mặt tại 18 quốc qua trên thế giới, trong đó nổi bật là thị trường Hoa Kỳ chiếm thị phần lớn, đạt 24,4% tổng kim ngạch, đạt 25,5 triệu USD. Thứ hai là Nhật Bản với 18,3 triệu USD. Xếp sau Nhật Bản là thị trường Đức với tổng kim nghạch là 13,7 triệu USD với mức tăng trưởng là 19,7% .

Một cuộc khảo sát gần đây được tiến hành bởi Viện Nghiên cứu và Phát triển ngành nghề nông thôn Việt Nam (VIRI) cho thấy, 85% doanh nghiệp sản xuất kinh doanh mặt hàng thủ công mỹ nghệ đều tham gia xuất khẩu. “Cánh cửa” mở ra đối với các doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam đang vô cùng rộng lớn không chỉ bởi nhu cầu thị trường thế giới, Việt Nam lại lợi thế về nguyên liệu và nhân công để phát triển các sản phẩm thủ công mỹ nghệ. Xuất phát từ những lợi thế đó, công ty TNHH Xuất Nhập Khẩu Thành Đạt là một công ty chuyên sản xuất và thu mua các sản phẩm mây tre đan để xuất khẩu ra thế giới, công ty đã xuất khẩu sang nhiều thị trường như Nhật Bản, Anh, Pháp, Hàn Quốc…

Hiện nay, công ty cũng đã và đang từng bước mở rộng thị trường xuất khẩu mặt hàng mây tre đan sang thị trường Đức và gặp không ít khó khăn thách thức. Trong quá trình thực tập em đã nhận thấy hoạt động Marketing của công ty thiếu đồng bộ và không đạt hiệu quả cao, cần thiết phải có những biện pháp nhằm hỗ trợ và thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm của công ty sang thị trường Đức. Xuất phát từ những tồn tại trong các hoạt động markeing của công ty, xu thế hội nhập và xuất khẩu nên em chọn đề tài: “Hoạt động Marketing xuất khẩu cho sản phẩm mây tre đan của công ty TNHH Xuất Nhập Khẩu Thành Đạt sang thị trường Đức – thực trạng và giải pháp”.

Có thể bạn quan tâm đến dịch vụ:

===>>> Hỗ Trợ Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Marketing

2. Mục tiêu nghiên cứu Khóa luận: Hoạt động Marketing xuất khẩu sản phẩm mây tre đan.

Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động Marketing xuất khẩu.

Phân tích và đánh giá hoạt động Marketing xuất khẩu đối với mặt hàng mây tre đan ở công ty TNHH Xuất Nhâp̣ Khẩu Thành Đạt trong thời gian từ năm 20232025; chỉ ra những điểm mạnh, điểm yếu, những hạn chế để khắc phục và đưa ra giải pháp hoàn thiện Marketing xuất khẩu.

3. Phương pháp nghiên cứu

Trong bài này em sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, thống kê số liệu phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động Marketing xuất khẩu hàng mây tre đan của công ty TNHH Xuất Nhâp̣ Khẩu Thành Đạt trong thời gian qua, kết hợp với tìm kiếm, thu thập những thông tin liên quan đến thị trường nhập khẩu của Đức.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu các yếu tố tác động đến hoạt động Marketing xuất khẩu tại công ty TNHH Xuất Nhập Khẩu Thành Đạt.
  • Phạm vi nghiên cứu: Hoạt động Marketing xuất khẩu sản phẩm mây tre đan của Công ty TNHH Xuất Nhập Khẩu Thành Đạt sang thị trường Đức.
  • Thời gian nghiên cứu: Trong giai đoạn từ năm 2023-2025.

5. Cấu trúc của đề tài

Kết cấu của đề tài chia thành 4 chương:

  • Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động Marketing xuất khẩu.
  • Chương 2: Khái quát chung về tổng công ty TNHH Xuất Nhâp̣ Khẩu Thành Đạt.
  • Chương 3: Thực trạng các hoạt động Marketing xuất khẩu mây tre đan của công ty TNHH Xuất Nhâp̣ Khẩu Thành Đạt sang thị trường Đức 2023-2025.
  • Chương 4: Giải pháp Marketing xuất khẩu cho giai đoạn 2026-2027 của công ty TNHH Xuất Nhâp̣ Khẩu Thành Đạt sang thị trường Đức. Khóa luận: Hoạt động Marketing xuất khẩu sản phẩm mây tre đan.

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG MARKETING XUẤT KHẨU

1.1. Marketing xuất khẩu và ảnh hưởng của Marketing quốc tế tới hoạt động Marketing xuất khẩu

1.1.1. Marketing quốc tế là gì ?

Marketing được định nghĩa: “là hoạt động kinh tế trong đó hàng hoá được đưa từ người sản xuất đến người tiêu dùng” hay là “việc tiến hành các hoạt động kinh doanh có liên quan trực tiếp đến dòng vận chuyển hàng hoá và dịch vụ từ người sản xuất đến người tiêu dùng”.

Một định nghĩa khác về Marketing nhưng theo cách tiếp cận hiện đại: “Marketing là các hoạt động liên quan đến việc hoạch định, xúc tiến, hỗ trợ, phân phối, định giá và các dịch vụ do người tiêu dùng trung gian hay người tiêu dùng trực tiếp yêu cầu”.

Marketing quốc tế là sự vận dụng những nguyên lý, nguyên tắc, các phương pháp và kỹ thuật tiến hành của Marketing thị trường nước ngoài. Định nghĩa về Marketing quốc tế là dựa trên định nghĩa chung về Marketing, chỉ khác là hàng hoá và dịch vụ được trao đổi vượt qua biên giới chính trị của quốc gia, mang hình thức từ xuất nhập khẩu đến các hoạt động liên doanh, các công trình chìa khoá trao tay, các hợp đồng quản lý, các hoạt động của các công ty đa quốc gia.

1.1.2. Marketing xuất khẩu là một bộ phận chính yếu của Marketing quốc tế

Đến nay Marketing xuất khẩu được định nghĩa như là các hoạt động nhằm nắm bắt nhu cầu thông tin để xác lập các biện pháp thỏa mãn tối đa các nhu cầu đó, qua đó mang lại lợi nhuận tối đa cho doanh nghiệp.

PGS.TS Nguyễn Đông Phong, 2020. Marketing Quốc tế. Nhà xuất bản Trường Đaị Hoc̣ Kinh Tế Thành phố Hồ Chi ́ Minh. “Marketing quốc tế là việc tiến hành hoạt động kinh doanh được thiết kế để kế hoạch, định giá, xúc tiến và hướng dòng hàng hóa dịch vụ của công ty đến người tiêu dùng hoặc người sử dụng ở hơn một quốc gia nhằm đạt lợi nhuận”. Philip Kotler (2007) cho rằng: “Hoạt động Marketing quốc tế là những quyết định về các phương thức thâm nhập thị trường có thể là xuất khẩu, liên doanh hay đầu tư trực tiếp”. Trong cuốn “Marketing Quốc tế” (NXB Thanh niên, Hà Nội, 2023) của TS. Nguyễn Xuân Vinh và các tác giả khác, cho rằng: “Marketing quốc tế bao gồm Marketing xuất khẩu, Marketing thâm nhập và Marketing toàn cầu.”

Từ những quan điểm nêu trên ta thấy khi nói đến hoạt động Marketing quốc tế, các tác giả đều đề cập đến các hoạt động Marketing nhằm đưa sản phẩm vào và tiêu thụ sản phẩm ở thị trường nước ngoài. Như vậy, hoạt động Marketing xuất khẩu là hoạt động chủ yếu trong Marketing quốc tế. Khóa luận: Hoạt động Marketing xuất khẩu sản phẩm mây tre đan.

  • Marketing xuất khẩu:

Đó là hoạt động Marketing của doanh nghiệp, của một quốc gia nhất định, ứng dụng vào việc xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ của mình ra nước ngoài và yêu cầu cơ bản là làm thích ứng các chiếu lệ Marketing nội địa với môi trường và nhu cầu của thị trường xuất khẩu.

  • Marketing thâm nhập:

Đó là Marketing của các doanh nghiệp nước ngoài nhưng được xây dựng ở một nước khác và có nhiệm vụ thực hiện Marketing ngay tại thị trường nước đó. Thực chất đó là Marketing nội địa của các hãng đa quốc gia trên thị trường của nước mà doanh nghiệp đã thâm nhập hay đã đầu tư xây dựng.

  • Marketing toàn cầu:

Đó là Marketing của một số hãng lớn theo đuổi mục tiêu hướng ra thị trường thế giới và thỏa mãn nhu cầu của thị trường quốc tế.

  • Marketing xuyên quốc gia:

Đó là sự kết hợp giữa Marketing đa quốc gia và Marketing toàn cầu theo hướng tạo ra cái “môđun” sản phẩm cho phép đạt được đồng thời cả mức chi phí thấp và mức thích nghi cao với điều kiện địa phương. Trên thực tế, doanh nghiệp có thể áp dụng chiếu lệ Marketing phân biệt (Marketing thâm nhập) hoặc Marketing không phân biệt (Marketing toàn bộ).

Từ những phân tích trên cho thấy: “Marketing xuất khẩu là một hình thái đặc biệt của Marketing thương mại, là quá trình tổ chức, quản lý và điều khiển của các hoạt động nhằm tạo ra khả năng và đạt được mục tiêu xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ của doanh nghiệp ra thị trường nước ngoài một cách có hiệu quả nhất.”

Marketing xuất khẩu là bộ phận chính của Marketing quốc tế, cụ thể là các hoạt động, cách thức nhằm thâm nhập vào thị trường nước ngoài.

1.1.3. Vai trò và chức năng của Marketing xuất khẩu Khóa luận: Hoạt động Marketing xuất khẩu sản phẩm mây tre đan.

Có vai trò làm thích ứng các nghiệp vụ kinh doanh xuất khẩu của doanh nghiệp khi hoạt động trong môi trường quốc tế. Xuất phát từ sự khác biệt giữa thị trường nước ngoài với thị trường nội địa và giữa các thị trường nước ngoài với nhau, để đảm bảo lợi ích tối đa cho doanh nghiệp, Marketing xuất khẩu thực hiện những chức năng cơ bản:

  • Thiết lập hệ thống quan sát hữu hiệu, tập hợp các thị trường để nhận biết một cách nhanh chóng các biến động và nếu có thể thì dự báo trước các biến động đó.
  • Xác lập khả năng phản ứng nhanh đối với các điều kiện đặc biệt và đồng thời là khả năng thích nghi nhanh chóng từ phía dịch vụ hành chính.
  • Thiết lập hệ thống theo dõi kết quả và kiểm tra hiệu quả các hoạt động đã cam kết bất chấp những khó khăn phát sinh do sự khác biệt về môi trường kế toán, sự biến động về tiền tệ và khác biệt về văn hóa quản lý doanh nghiệp.
  • Hình thành khả năng sáng tạo và áp dụng những thay đổi trong kỹ thuật thu thập, xử lí thông tin và kĩ thuật hoạt động trên thị trường để bao quát được mọi trường hợp riêng biệt.

Thực hiện những chức năng trên là điều kiện cần thiết cho sự phát triển quốc tế lâu dài và có hiệu quả của doanh nghiệp.

1.2. Nội dung của hoạt động Marketing xuất khẩu Khóa luận: Hoạt động Marketing xuất khẩu sản phẩm mây tre đan.

1.2.1. Nghiên cứu thị trường xuất khẩu

Mỗi quốc gia luôn tồn tại một môi trường kinh doanh nhất định, môi trường kinh doanh luôn khác nhau và thay đổi theo từng thời kỳ. Vì vậy, việc tìm hiểu, phân tích môi trường bên ngoài sẽ giúp doanh nghiệp so sánh, lựa chọn được quốc gia, thị trường để tiến hành các hoạt động kinh doanh phù hợp. Môi trường bên ngoài được phân tích, đánh giá từ môi trường thành phần như môi trường địa lí, kinh tế, chính trị, pháp luật, văn hóa, thể chế, công nghệ… Việc phân tích môi trường phải trên quan điểm toàn diện và phát triển của các quan hệ kinh tế quốc tế trên toàn khu vực. Việc nghiên cứu tổng quát thị trường được tiến hành đối với những thị trường mục tiêu, với mục đích xác định được các thị trường tiềm năng về cơ bản tương đồng với doanh nghiệp về điều kiện và mục tiêu kinh doanh, nhằm giảm bớt sự phân tán của doanh nghiệp trong việc quyết định lựa chọn thị trường xuất khẩu. Công việc bao gồm:

  • Nghiên cứu cơ cấu, quy mô thị trường

Việc xác định cơ cấu, quy mô của thị trường rất có ích cho các công ty xuất khẩu khi họ tham gia vào thị trường hoàn toàn mới, vì qua việc nghiên cứu này giúp công ty xác định được tiềm năng của thị trường đó thông qua các nội dung:

  • Cầu tổng quát thị trường: tức là số lượng người tiêu dùng, người sử dụng.
  • Cung tổng quát: là khối lượng hiện vật hàng hóa tiêu thụ.
  • Doanh số bán thực tế
  • Phần thị trường mà công ty có thể tham gia cung ứng.
  • Nghiên cứu khái quát xu thế vận động của thị trường

Trên cơ sở số liệu các năm đã qua và điều kiện thực tế tại những thị trường đang nghiên cứu, công ty phải rút ra được quy luật biến động cũng như triển vọng của thị trường, từ đó giúp công ty đưa ra quyết định kinh doanh hiệu quả nhất cho hoạt động xuất khẩu trong thời gian tới.

  • Nghiên cứu các yếu tố về môi trường ở nước ngoài

Khi công ty tiến hành hoạt động kinh doanh ở một nước khác sẽ phát sinh nhiều vấn đề phức tạp. Điều này phát sinh do môi trường cạnh tranh và đặc điểm của thị trường có sự khác biệt nhất định và đòi hỏi các chính sách, chiến lược Marketing phải có sự thích nghi. Mặt khác, sự ổn định hay bất ổn định về kinh tế; chính sách kinh tế của các quốc gia, khu vực tác động trực tiếp đến hoạt động và hiệu quả của hoạt động kinh doanh của công ty nói chung và hoạt động xuất khẩu của công ty nói riêng. Vậy nên, đối với công ty kinh doanh quốc tế cần nghiên cứu một số vấn đề như:

Cấu trúc công nghiệp nước sở tại: định hình các nhu cầu về sản phẩm, dịch vụ, mức lợi tức và mức độ sử dụng nhân lực.

Sự phân bổ thu nhập: thu nhập phản ánh khả năng thanh toán và sử dụng của người tiêu dùng.

Tốc độ tăng trưởng kinh tế của nước nhập khẩu: ảnh hưởng đến tổng cầu thị trường và tổng mức nhập khẩu sản phẩm hàng hóa của quốc gia đó. Nó được biểu hiện qua GNP, GDP bình quân đầu người, tốc độ tăng trưởng, sự ổn định kinh tế…

Xu thế phát triển và hội nhập kinh tế vùng và trên biên giới: giảm bớt các rào chắn thương mại giữa các quốc gia thành viên, thúc đẩy các di chuyển trên thị trường quốc tế về đầu tư, nhân tố đầu vào và các chính sách kinh tế, tài chính, tỷ giá hối đoái… Hội nhập cũng có ảnh hưởng đến lợi ích các quốc gia tham gia khối kinh tế, đến các thay đổi quan trọng trong các quốc gia thành viên. Quan trọng nhất là tăng áp lực về cạnh tranh đối với sản phẩm xuất khẩu.

  • Nghiên cứu các yếu tố về môi trường tài chính quốc tế Khóa luận: Hoạt động Marketing xuất khẩu sản phẩm mây tre đan.

Môi trường này có tác động lớn đến hoạt động xuất nhập khẩu của công ty, những quyết định về tài chính tiền tệ quốc tế có vai trò quan trọng đối với hiệu quả của hoạt động kinh doanh quốc tế nói chung và xuất nhập khẩu nói riêng. Sự biến động trong vận hành của các thị trường ngoại hối là mối quan tâm trực tiếp của hầu hết những công ty khi tham gia kinh doanh quốc tế.

  • Nghiên cứu các yếu tố về môi trường luật pháp – chính trị

Môi trường luật pháp chính trị quốc tế là yếu tố bất cứ công ty kinh doanh quốc tế nào cũng phải xem xét cho các quyết định kinh doanh. Sẽ thuận lợi nếu công ty kinh doanh tại một quốc gia bình ổn về chính trị, có hệ thống pháp luật nhất quán từ trên xuống dưới, ngược lại nếu không đảm bảo sẽ dẫn đến các bất lợi khó lường trước được.

  • Nghiên cứu các yếu tố về môi trường văn hóa – xã hội

Văn hóa định hình hành vi mua sắm và tiêu dùng có thể chấp nhận được cho cả nhập khẩu và bên xuất khẩu. Các nhà Marketing phải có sự nghiên cứu về văn hóa – xã hội để đưa ra quyết định Marketing-mix phù hợp. Những vấn đề văn hóa ảnh hưởng đến quyết định kinh doanh của công ty như:

Ngôn ngữ giao tiếp: ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp gồm có hai loại: ngôn ngữ bằng lời và ngôn ngữ không bằng lời. Am hiểu ngôn ngữ của nước chủ nhà sẽ giảm được hiểu lầm phát sinh không nên có và sẽ thắt chặt mối quan hệ hợp tác kinh doanh.

Quá trình tư duy nhận thức: thường có sự chênh lệch giữa các quốc gia nên dễ khó khăn trong quá trình tiến hành hoạt động kinh doanh, nhất là đối với các nghành kỹ thuật cao.

Giá trị và các quy tắc chủ đạo: làm tiêu chuẩn về ứng xử, quan niệm sống được thừa nhận trong đời sống xã hội.

  • Nghiên cứu các yếu tố về môi trường cạnh tranh quốc tế

Cạnh tranh là điều không tránh khỏi khi một công ty tham gia kinh doanh trên thị trường, đối với kinh doanh quốc tế nói chung và hoạt động xuất nhập khẩu nói riêng thì cạnh tranh lại càng khốc liệt. Do đó, để thắng lợi trong điều kiện kinh doanh hiện nay, nhà kinh doanh cần nắm bắt một số vấn đề: cơ cấu cạnh tranh, số lượng và loại đối thủ cạnh tranh, nhân tố tác động lên cạnh tranh.

1.2.2. Lựa chọn thị trường xuất khẩu Khóa luận: Hoạt động Marketing xuất khẩu sản phẩm mây tre đan.

Trong khi lựa chọn thị trường nước ngoài, để quốc tế hóa hoạt động của mình, doanh nghiệp có thể lựa chọn giữa hai cách tiếp cận khác nhau: tiếp cận chủ động và tiếp cận thụ động:

Tiếp cận thụ động: là việc doanh nghiệp chỉ phản ứng lại cầu thị trường nước ngoài một cách không có kế hoạch. Một nhà xuất khẩu trong nước, một nhà nhập khẩu nước ngoài hay một chính quyền nước ngoài khởi xướng các đơn đăt hàng và yêu ̣ cầu doanh nghiệp thực hiện các đơn đặt hàng đó. Cách tiếp cận này thường nảy sinh từ các cuộc điều tra từ những doanh nghiệp nước ngoài, thông qua những mối quan hệ đã được thiết lập bởi các trung gian gián tiếp hoặc qua các hội chợ triển lãm trong nước và quốc tế.

Tiếp cận chủ động: doanh nghiệp tự mình đặt ra mục tiêu quốc tế hóa hoạt động của mình và chủ động lựa chọn thị trường cũng như cách thức thâm nhập vào các thị trường đó. Các doanh nghiệp lớn thường lựa chọn cách tiếp cận này để đảm bảo những bước đi chắc chắn hơn, theo một kế hoạch được dự kiến trước. Do đó, sẽ đảm bảo được sự thâm nhập chắc chắn và lâu dài vào thị trường mới. Ở trường hợp này, chi phí bỏ ra sẽ cao hơn và doanh nghiệp theo đuổi những lợi nhuận lâu dài hơn là lợi nhuận trước mắt.

1.2.3. Lựa chọn phương thức thâm nhập

Sau khi nghiên cứu và lựa chọn được thị trường sẽ tiến hành hoạt động kinh doanh xuất khẩu, công việc tiếp theo của doanh nghiệp sẽ là tiếp cân thị trường ̣ để tiến hành hoạt động kinh doanh. Thông thường, nhà quản trị doanh nghiệp có thể lựa chọn trong hai phương thức thâm nhập thị trường bằng con đường xuất khẩu sau:

  • Xuất khẩu trực tiếp Khóa luận: Hoạt động Marketing xuất khẩu sản phẩm mây tre đan.

Xuất khẩu trực tiếp là hoạt động kinh doanh xuất khẩu của doanh nghiệp, khi mà họ tự mình thực hiện các nghiệp vụ về xuất khẩu để có thể đưa sản phẩm của mình ra nước ngoài, đến tay bên nhập.

Hình thức xuất khẩu này thường được các công ty đã có uy tín trên thị trường áp dụng. Bởi vì, xuất khẩu theo con đường này sẽ giảm bớt được các chi phí phát sinh, tăng lợi nhuận, hơn nữa doanh nghiệp sẽ không phải chịu sức ép từ phía trung gian ủy thác.

  • Xuất khẩu gián tiếp

Khi các doanh nghiệp không tự mình thực hiện nghiệp vụ xuất khẩu bởi một lý do nào đó, họ thường tìm đến các trung gian có đầy đủ khả năng thay họ đưa sản phẩm của mình đi tiêu thụ ở thị trường nước ngoài. Vậy xuất khẩu gián tiếp là hoạt động diễn ra khi: một doanh nghiệp thực hiện hành vi đưa sản phẩm ra thị trường nước ngoài bằng cách ủy thác cho các trung gian (có thể là thể nhân, pháp nhân, tổ chức,…) thay mình thực hiện.

Xuất khẩu gián tiếp thường được các doanh nghiệp mới đi vào hoạt động trên thị trường quốc tế sử dụng, mục đích của họ là giảm bớt rủi ro phát sinh do thiếu kinh nghiệm hoặc tiêu thụ được sản phẩm nhờ những “tên tuổi lớn” mà họ không đủ sức mạnh cạnh tranh trên thị trường của họ. Tuy nhiên, sử dụng cách tiếp cận này doanh nghiệp thường phải chia sẻ phần lợi nhuận cho bên trung gian, và đó là lý do các doanh nghiệp không thích hình thức tiếp cận này.

1.2.4. Chính sách sản phẩm xuất khẩu

Sản phẩm là bất cứ thứ gì có thể đưa vào một thị trường để đạt được sự chú ý, sự chấp nhận, sử dụng hoặc tiêu thụ, có khả năng thoả mãn được một ước muốn hay một nhu cầu.

Một sản phẩm được cấu thành ở bốn mức độ: sản phẩm cốt lõi, sản phẩm cu ̣ thể, sản phẩm gia tăng và sản phẩm tiềm năng.

  • Sản phẩm cốt lõi là phần thể hiện lợi ích hoặc dịch vụ cụ thể của sản phẩm đó.
  • Sản phẩm cụ thể là dạng cơ bản của sản phẩm đó, bao gồm 5 yếu tố: đặc điểm, nhãn hiệu, bao bì, chất lượng, kiểu dáng của sản phẩm. Khóa luận: Hoạt động Marketing xuất khẩu sản phẩm mây tre đan.
  • Sản phẩm gia tăng bao gồm những dịch vụ và lợi ích phụ thêm để phân biệt với sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh, đó là các vật phẩm trang bị thêm nơi phục vụ, dịch vụ sau bán, bảo hành, giao hàng và cho hưởng tín dụng.
  • Sản phẩm tiềm năng là những sáng tạo vượt ra khỏi cung cách cạnh tranh thông thường, nó vạch ra tương lai mới cho sự phát triển của sản phẩm.

Sản phẩm theo quan điểm Marketing là bất cứ thứ gì mà có thể chào hàng trên một thị trường thu hút sự chú ý, giành được, sử dụng hoặc tiêu thụ và nhờ đó có thể thỏa mãn một mong muốn hoặc nhu cầu. Các quyết định về sản phẩm bao gồm các quyết định liên quan tới tên gọi; nhãn hiệu; bao bì; các dịch vụ sau bán; phát triển dải sản phẩm; cải tiến chất lượng, đặc điểm, ứng dụng; hợp nhất dải sản phẩm; định vị,… Với đặc thù là sản phẩm xuất khẩu thì các quyết định trên có vai trò vô cùng quan trọng vì trên thị trường quốc tế, thường có áp lực lớn đối với các công ty về việc mở rộng sản phẩm hỗn hợp và kéo dài chiều dài, chiều sâu của các tuyến sản phẩm. Tùy theo chiến lược phát triển của công ty hướng tới là duy trì, củng cố hay làm mới mà công ty có quyết định về hướng sản phẩm có thể khác nhau. Đồng thời, các vấn đề có liên quan đến hoạt động hiện đại hóa, loại bớt và tạo ra những đặc điểm nổi bật cho tuyến sản phẩm sẽ được tiến hành thường xuyên hơn ở các công ty kinh doanh xuất nhập khẩu.

1.2.5. Chính sách giá xuất khẩu Khóa luận: Hoạt động Marketing xuất khẩu sản phẩm mây tre đan.

Giá là số lượng đơn vị tiền tệ cần thiết mà khách hàng phải bỏ ra để có được một sản phẩm với một chất lượng nhất định, vào một thời điểm nhất định, ở một nơi nhất định. Chiến lược định giá của công ty kinh doanh quốc tế thường hướng vào các mục tiêu như sau: thâm xuất thị trường, phát triển thị phần và doanh số bán, duy trì thị trường. Công ty kinh doanh quốc tế có nhiều lựa chọn liên quan đến định giá sản phẩm cho khách hàng quốc tế. Những lựa chọn này có thể chia ra làm 4 loại: chi phí đầy đủ, chi phí cộng thêm biến đổi, thị trường và toàn cầu.

1.2.5.1. Chiến lược giá chi phí đầy đủ:

Sẽ cộng thêm vào toàn bộ chi phí cố định và chi phí biến đổi liên quan tới sản phẩm (nội địa và quốc tế) cộng thêm chiết khấu và chia cho tổng quá trình sản xuất.

Chi phí liên quan tới xuất khẩu thường cao hơn chi phí nội địa bởi vì sự cao hơn của chi phí vận chuyển, thuế, chi phí phân phối…

Chiến lược này có ý nghĩa đối với công ty kinh doanh quốc tế lần đầu tiên tham gia vào thị trường nước ngoài và bản thân họ chưa khảo sát tỉ mỉ những thay đổi trên  thị trường đó. Tuy nhiên, chiến lược này không phải là hoàn hảo bởi vì xuất khẩu sẽ có khuynh hướng định giá thấp và giá bán trong nước sẽ bị định giá cao. Mặt khác, chiến lược này sẽ không thích hợp khi giá nội địa thấp do hoàn cảnh bất thường như cạnh tranh dữ dội…

1.2.5.2. Chiến lược định giá chi phí cộng thêm biến đổi:

Chiến lược định giá chi phí cộng thêm biến đổi nghĩa là chia trên mỗi đơn vị chi phí giữa các thị trường và cộng thêm chiết khấu để đi đến giá cuối cùng. Toàn bộ chi phí cố định và chi phí biến đổi đều được tính đến, như vậy là giá xuất khẩu sẽ cao hơn giá nội địa vì chi phí ban đầu cho việc hoạch định và tổ chức thâm xuất thị trường tăng lên đáng kể cũng như nguy cơ tiềm năng sẽ tăng lên khi kinh doanh trên thị trường nước ngoài, do có sự bất ổn về chính trị và kinh tế và những rủi ro cần phải bù đắp thông tin do việc thiết lập mức giá cao.

Chiến lược này thường được áp dụng với những sản phẩm chưa được người tiêu dùng biết đến hoặc do cạnh tranh về giá trên thị trường nước ngoài rất mạnh mẽ (do chi phí lao động thấp hoặc trợ cấp của chính phủ).

1.2.5.3. Chiến lược giá thị trường Khóa luận: Hoạt động Marketing xuất khẩu sản phẩm mây tre đan.

Chiến lược giá thị trường là kết quả của việc định giá dựa vào giá của các đối thủ cạnh tranh và điều kiện thị trường hơn là chi phí.

Chiến lược giá thâm nhập thị trường: đòi hỏi công ty định giá thấp hơn đối thủ cạnh tranh để chắc chắn rằng khách hàng dùng thử sản phẩm của mình. Các công ty áp dụng chiến lược thâm xuất thị trường trong các điều kiện: chi phí sản xuất thấp, tồn tại quan hệ rõ nét giữa chi phí và khối lượng, độ co giãn của cầu so với giá cao, cạnh tranh về giá mạnh, khách hàng mua sản phẩm chủ yếu dựa trên cơ sở chi phí.

1.2.5.4. Chiến lược định giá toàn cầu:

Chiến lược giá đồng nhất: là công ty định cùng một giá ở tất cả các quốc gia mà nhà xuất khẩu sẽ phải chịu cước phí và thuế xuất khẩu. Chiến lược này có lợi thế là cực kỳ đơn giản vì không cần có những thông tin về cạnh tranh và các điều kiện thị trường cụ thể của từng thị trường khi tiến hành thực hiện. Chiến lược này có thể gặp một số trở ngại như: thuế, mức lợi nhuận, hải quan.

Chiến lược định giá đa tâm: cho phép nhà quản lý khu vực ra quyết định về giá cho tất cả các quốc gia trong khu vực của họ.

Chiến lược định giá địa tâm: là giá được quyết định phụ thuộc vào cơ sở chính nhưng thay đổi theo từng nước (cho phép trợ cấp ngang nếu sự cạnh tranh đặc biệt khắc nghiệt với một số địa phương). Cho dù công ty lựa chọn chiến lược giá nào đi chăng nữa thì cũng phải xem xét đến những yếu tố mang tính quyết định giá cả.

Đối với sản phẩm hiện tại, công ty có thể thay đổi giá thông thường như: giảm giá, thay đổi điều kiện, thời hạn thanh toán để lôi kéo khách hàng nhạy cảm về giá. Tuy nhiên, đối với sản phẩm mà mối quan hệ giá cả – chất lượng rất được coi trọng thì việc giảm giá lại không tỏ ra có hiệu quả.

1.2.6. Chính sách phân phối

Phân phối trong Marketing là một quá trình chuyển đưa sản phẩm từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng, thể hiện qua phương thức và hoạt động khác nhau. Kênh phân phối sản phẩm là tập hợp các tổ chức và cá nhân làm nhiệm vụ chuyển đưa sản phẩm từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng.

Mặc dù phân phối chỉ là một nhân tố trong 4P của Marketing-Mix nhưng tầm quan trọng chiến lược của nó không thể không được biết đến do những nguyên nhân sau: Khóa luận: Hoạt động Marketing xuất khẩu sản phẩm mây tre đan.

  • Hệ thống phân phối là mối liên kết chính giữa một công ty và các khách hàng của nó.
  • Hệ thống phân phối tiêu tốn rất nhiều thời gian và đầu tư để xây dựng nó và biến đổi nó không thể nhanh chóng và dễ dàng.
  • Hệ thống phân phối có ảnh hưởng quan trọng đến khả năng phát triển các thị trường mới và mở rộng các thị trường cũ của công ty.

Mặc dù các trung gian phân phối thực hiện các chức năng khác nhau và cung cấp các dịch vụ khác nhau nhưng các hoạt động của họ có ảnh hưởng nhiều đến công ty. Vì vậy khi bổ sung thêm vào một tuyến sản phẩm hiện thời hoặc khi mở rộng thị trường cần phải xem xét năng lực tiêu thụ và cung cấp dịch vụ, nguồn tài chính, sự chuyên môn hoá của phân đoạn thị trường của các thành viên kênh ở địa phương.

Quá trình phân phối xuất khẩu được biểu hiện trong sơ đồ sau:

Hình 1. 1: Quá trình phân phối xuất khẩu

Chính sách phân phối xuất khẩu phải đồng thời đề ra các mục tiêu thị phần, doanh số, lợi nhuận cho từng thị trường dựa trên cơ sở các thế vị xâm nhập thị trường, mức độ công ty mong muốn tham gia vào hệ thống phân phối, mức quyền sở hữu các trung gian mong muốn.

  • Các chiến lược phân phối:

Chiến lược phân phối nước ngoài: là kế hoạch nhằm đạt các mục tiêu phân phối của công ty ở thị trường nước ngoài. Một chiến lược phân phối nước ngoài bao gồm những quyết định gắn liền với việc lựa chọn, phát triển và kiểm soát các thành viên kênh để đáp ứng được các điều kiện và mục tiêu môi trường, thị trường và cạnh tranh ở nước chủ nhà.

Chiến lược phân phối quốc tế: là một kế hoạch mục tiêu nhằm đạt được mục tiêu phân phối giữa các quốc gia của công ty. Bao gồm việc lựa chọn và quản lý các thành viên kênh quốc tế và ra các quyết định về nguồn cung cấp, dữ trự, vận chuyển gắn liền với sự phát triển và kiểm soát một hệ thống hậu cần có khả năng hỗ trợ các hoạt động và mục tiêu Marketing nước ngoài của công ty.

Chiến lược phân phối toàn cầu: là một kế hoạch mục tiêu nhằm đạt được đồng thời các mục tiêu phân phối thị trường toàn cầu và nước ngoài của tập đoàn. Nó bao gồm đưa ra quyết định về nguồn cung cấp, dữ trữ, vận chuyển và kênh địa phương gắn liền với sự phát triển và kiểm soát của một hệ thống phân phối đan chéo quốc gia và một tập hợp các hệ thống phân phối nước ngoài có khả năng hỗ trợ đồng thời các mục tiêu toàn cầu và nước ngoài của công ty.

1.2.7. Chính sách xúc tiến sản phẩm xuất khẩu Khóa luận: Hoạt động Marketing xuất khẩu sản phẩm mây tre đan.

Xúc tiến là những nỗ lực của doanh nghiệp để thông tin, thuyết phục, nhắc nhở, khuyến khích khách hàng mua sản phẩm cũng như hiểu rõ về doanh nghiệp.

Nhờ xúc tiến mà doanh nghiệp có thể bán ra nhanh hơn và nhanh hơn. Hiện nay các công ty thường thực hiện các hoạt động truyền thông Marketing đến khách hàng, các giới trung gian và những giới công chúng khác qua một hỗn hợp truyền thông Marketing (Marketing Commuanication mix).

Một hỗn hợp xúc tiến bao gồm năm công cụ chủ yếu sau đây:

Quảng cáo Quảng cáo trên các phương tiện nghe nhìn, bao gói sản phẩm, thư quảng cáo, tranh ảnh quảng cáo, tập gấp giới thiệu, các tờ rơi, các thư mục, biển hiệu quảng cáo, trưng bày hàng hoá, biển quảng cáo tại gian trưng bày, các phương tiện nghe nhìn nội bộ, biểu tượng.
Khuyến mại Trò chơi, đánh cá, dự đoán, xổ số, thi tìm hiểu, quà tặng, phần thưởng, hàng mẫu, hội chợ, triển lãm, chiết-giảm giá, tín dụng lãi suất thấp, trò chơi giải trí, giảm giá đặc biệt (theo mùa, hàng hoá kém chất lượng, khuyến khích trung gian…), phòng trưng bày và giới thiệu sản phẩm, khuyến khích mua kèm.
Tuyên truyền Ấn phẩm, diễn văn, bài phát biểu, hội thảo, báo cáo thường niên, đóng góp từ thiện, quan hệ công chúng (với báo chí, truyền hình, với các nhóm ảnh hưởng, khách hàng, hiệp hội, đối nội, đối ngoại, vận động hậu trường, tư vấn về các vấn đề xã hội).
Bán hàng cá nhân Thuyết trình và giới thiệu sản phẩm, gặp gỡ khách hàng, Marketing từ xa, hàng mẫu phát tận nhà, bán hàng cá nhân tại hội chợ, triển lãm.
Marketing trực tiếp Marketing bằng thư, Marketing bằng điện thoại, mua bán qua máy tính, mua bán qua ti vi.

1.2.7.1. Một số yếu tố ảnh hưởng đến xúc tiến Marketing quốc tế

  • Những khác biệt về mặt ngôn ngữ Khóa luận: Hoạt động Marketing xuất khẩu sản phẩm mây tre đan.

Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người, chính vì vậy sự khác biệt về ngôn ngữ trong hoạt động xúc tiến cần được các công ty kinh doanh quốc tế hết sức quan tâm để khắc phục. Những khó khăn nảy sinh từ sự khắc phục  ngôn ngữ không chỉ ở phạm vi dịch thuật, điều này có nghĩa là khó khăn về ngôn ngữ không thể được khắc phục một cách hoàn toàn ngay khi chúng ta có những chuyên gia giỏi về ngôn ngữ. Nguyên nhân cơ bản của điều này là do ngôn ngữ, thực chất là sự khác nhau của văn hoá và tư duy. Ngay trong phạm vi dịch thuật, các công ty gặp rất nhiều khó khăn trong việc phiên dịch tên nhãn hiệu, sản phẩm, khẩu hiệu, tài liệu giới thiệu sản phẩm, giao tiếp, khuyếch trương, nội dung quảng cáo trên các phương tiện khác nhau… sang ngôn ngữ.

  • Những khác biệt về mặt văn hoá

Văn hoá là một phạm trù rộng lớn sâu sắc và phức tạp, sự khác biệt về văn hoá giữa các nền văn hoá khác nhau rất đa dạng. Nếu không được nghiên cứu chu đáo thì bất kỳ một yếu tố nào được sử dụng trong quảng cáo như màu sắc, hình ảnh, âm thanh, ngôn từ, cử chỉ, hành động… đều có thể gây nên những tác động ngược không thể lường trước được.

  • Những khác biệt về mặt xã hội

Sự khác biệt về thái độ với giao tiếp – khuyếch trương, trong đó đặc biệt là quảng cáo, có nguyên nhân sâu xa từ những định kiến mang tính lịch sử và xã hội.

  • Những khác biệt về mặt kinh tế

Các điều kiện kinh tế có những ảnh hưởng quan trọng tới hoạt động giao tiếp, trình độ phát triển kinh tế và công nghiệp hoá, mức độ đô thị hoá, mức sống… của một quốc gia và ảnh hưởng rất lớn tới những tác nghiệp cụ thể của hoạt động giao tiếp- khuyếch trương.

  • Những khác biệt về mặt quy định – luật pháp

Những quy định và luật lệ địa phương tạo ra rất nhiều ràng buộc cho các hoạt động giao tiếp – khuyếch trương, đặc biệt là về phương tiện truyền thông, nội dung các tài liệu và các thực hành giao tiếp – khuyếch trương được phép.

  • Những khác biệt về mặt cạnh tranh Khóa luận: Hoạt động Marketing xuất khẩu sản phẩm mây tre đan.

Bản chất cạnh tranh trong phạm vi quốc gia, khu vực hay toàn cầu có những ảnh hưởng quan trọng tới hoạt động giao tiếp – khuyếch trương của công ty. Trong đó, các khía cạnh của cạnh tranh cần quan tâm đặc biệt bao gồm mức độ gay gắt của cạnh tranh, phạm vi cạnh tranh, chiến lược và những phản ứng cạnh tranh của các đối thủ chính.

1.2.7.2. Quá trình Marketing xúc tiến quốc tế:

Hình 1. 2: Các yếu tố của quá trình Marketing xúc tiến

Trong mô hình trên, hai yếu tố đại diện cho các bên tham gia giao tiếp là Người phát và Người nhận. Hai yếu tố khác đại diện cho các phương tiện giao tiếp chủ yếu là Thông điệp và Kênh truyền thông. Bốn yếu tố Mã hoá, Giải mã, Đáp ứng, Phản hồi còn lại là những chức năng chính của giao tiếp.

  • Người gửi (nguồn phát thông tin): là công ty với hàng hoá hay dịch vụ của nó.
  • Mã hoá: là quá trình chuyển hoá ý tưởng thành dạng biểu tượng.
  • Thông điệp: là tập hợp các biểu tượng mà Người gửi sẽ truyền đi.
  • Kênh truyền thông: là phương tiện truyền thông mà qua đó Thông điệp được chuyển từ Người gửi tới Người nhận.
  • Giải mã: là quá trình Người nhận giải thích ý nghĩa thông điệp của Người gửi.
  • Người nhận (nguồn thu thông tin): là bên tiếp nhận thông điệp, có thể là khách hàng, công chúng, các tổ chức ảnh hưởng,…
  • Đáp ứng: là tập hợp các phản ứng của Người nhận sau khi tiếp nhận và giải mã thông tin.
  • Phản hồi: là một phần sự đáp ứng của Người nhận được truyền ngược trở lại tới Người gửi.
  • Nhiễu: là những biến dạng hay sai lệch về thông điệp ngoài mong muốn trong quá trình truyền thông, do vậy làm cho Người nhận nhận được thông điệp không giống với thông điệp đã được Người gửi gửi đi.

Để thông điệp truyền đi có hiệu quả, quá trình mã hoá của Người gửi phải phù hợp với quá trình giải mã của Người nhận. Quá trình nhận thức của Người nhận cũng như quá trình mã hoá của Người gửi phụ thuộc rất nhiều vào kinh nghiệm, vì vậy Người gửi phải cố gắng truyền tới Người nhận những “tín hiệu” càng quen thuộc càng tốt. Khóa luận: Hoạt động Marketing xuất khẩu sản phẩm mây tre đan.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>> Khóa luận: Thực trạng hoạt động Marketing xuất khẩu mây tre đan

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Góp ý
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993