Khóa luận: Phân tích hoạt động marketing của Bavico resort & spa

Rate this post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Phân tích hoạt động marketing của Bavico resort & spa hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Khóa luận: Phân tích hoạt động marketing của Bavico resort & spa Tam Giang dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ

1. Lý do chọn đề tài

Trong thời đại ngày nay, khi xã hội ngày càng phát triển, cuộc sống dần được cải thiện, con người không còn lo lắng làm sao để ăn no mặc ấm mà thay vào đó làm sao có thể ăn ngon mặc đẹp… Đó là nhu cầu tất yếu của cuộc sống của con người. Ngoài những lo lắng thường nhật, con người luôn khao khát có được một khoảng thời gian, một không gian để nghỉ ngơi, thư giãn, để lấy lại sự cân bằng trong cuộc sống… đó cũng chính là lý do mà các khu nghỉ dưỡng, resort, chăm sóc thân thể ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu hằng ngày càng cao của con người. Việc hình thành nên các khu nghĩ dưỡng đã góp phần tạo cho ngành dịch vụ lưu trú ngắn ngày trở thành ngành công nghiệp không khói – một ngành quan trọng trong cơ cấu kinh tế chung của đất nước và đem lại hiệu quả kinh tế rất cao. Khóa luận: Phân tích hoạt động marketing của Bavico resort & spa.

Ngành dịch vụ lưu trú ngắn ngày được đánh giá là một ngành kinh tế mũi nhọn của Việt Nam ta hiện nay, được Đảng và nhà nước nhận định là có tiềm năng phát triển với sự tăng trưởng của doanh thu từ hoạt động du lịch năm 2024 tăng 399662,17 nghìn tỷ đồng tương ứng với 18,4% so với năm 2023. Sự phát triển của ngành dịch vụ lưu trú ngắn ngày không chỉ mang lại lợi ích cho hoạt động kinh doanh mà còn tạo điều kiện cho ngành khác phát triển theo. Diện mạo này của ngành dịch vụ lưu trú ngắn ngày Việt Nam có phần đóng góp không nhỏ của các khu nghỉ dưỡng, resort. Chính vì vậy càng ngày càng có nhiều khu nghỉ dưỡng, resort được cải tạo nâng cấp và xây mới nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch trong và ngoài nước. Và ngày nay hầu như không một quốc gia nào trên thế giới lại không cố gắng phát huy thế mạnh của loại hình kinh doanh này.

Tuy nhiên việc phát triển này đem lại nhiều lợi ích nhưng cũng ẩn nhiều thách thức đối với ngành dịch vụ lưu trú ngắn ngày này. Nó đòi hỏi các doanh nghiệp phải luôn không ngừng cải thiện và nâng cao chất lượng các sản phẩm dịch vụ của mình, bên cạnh đó các doanh nghiệp cũng cần chú trọng đến hoạt động marketing để giúp cho việc kinh doanh được thuận lợi và nâng cao vị thế cạnh tranh của các khu nghỉ dưỡng. Sự bùng nổ của sự phát triển của các resort, khách sạn ngày càng nhiều làm cho sự cạnh tranh giữa các nhà kinh doanh khu nghỉ dưỡng diễn ra gay gắc. Chính vì vậy, mỗi resort đều phải xây dựng cho mình thế mạnh riêng, từ các việc thiết kế sản phẩm, dịch vụ, phong cách phục vụ cho đến những chương trình khuyến mãi, các chính sách về giá, các chiến lược quảng bá, truyền thông nhằm thu hút khách du lịch. Trong đó hoạt động marketing được coi là chìa khóa thành công trong công tác cạnh tranh của các doanh nghiệp du lịch.

Để hoạt động của các khu nghỉ dưỡng resort ngày càng phát triển tốt hơn thì vấn đề chúng ta cần quan tâm hơn cả đó là các chiến lược marketing được sử dụng để nâng cao hiệu quả kinh doanh của resort. Là một sinh viên ngành quản trị kinh doanh, qua thời gian thực tập tại Bavico resort & spa Tam Giang, cùng với sự giúp đỡ của các anh chị trong công ty tôi đã chọn đề tài khóa luận “ Phân tích hoạt động marketing của Bavico resort & spa Tam Giang” để làm đề tài tốt nghiệp của mình.

Có thể bạn quan tâm đến dịch vụ:

===>>> Hỗ Trợ Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Marketing

2. Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu chung Khóa luận: Phân tích hoạt động marketing của Bavico resort & spa.

Nghiên cứu nhằm tìm hiểu về các hoạt động marketing của Bavico resort & spa Tam Giang ( resort Tam Giang ), làm rõ tính hiệu quả của các hoạt động này từ đó đề xuất giải pháp nhằm cải thiện hoạt động marketing của resort.

2.2 Mục tiêu cụ thể

  • Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về marketing cho dịch vụ khách sạn,
  • Đánh giá việc thực hiện hoạt động marketing và ảnh hưởng của nó đến chất lượng phục vụ và hiệu quả kinh doanh của resort.
  • Trên cơ sở lý luận và đánh giá chung về thực trạng của Bavico resort & spa Tam Giang, đề xuất một số giải pháp nhằm cải thiện hoạt động marketing của resort.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

  • Để tài tập trung nghiên cứu hoạt động marketing mà công ty Bavico resort & spa Tam Giang đã thực hiện.
  • Khách thể nghiên cứu ở đây chủ yếu là các khách hàng đến resort, bao gồm các khách du lịch nghỉ dưỡng đơn lẻ, các khách hàng đi theo tuor, các công ty lữ hành dẫn đoàn đến nghỉ tại Bavico resort & spa Tam Giang.

3.2 Phạm vi nghiên cứu

  • Phạm vi không gian: Việc nghiên cứu được thực hiện tại Bavico resort & spa Tam Giang Thừa Thiên Huế thuộc công ty TNHH SX- Tm & DV Bạch Việt – BachViet Co.,Ltd.
  • Thời gian nghiên cứu: Từ 05/01/2025 – 29/04/2025.

4. Phương pháp nghiên cứu Khóa luận: Phân tích hoạt động marketing của Bavico resort & spa.

Quá trình phân tích được tiến hành qua việc thu thập và xử lý số liệu thứ cấp và sơ cấp để tìm ra nguyên nhân ảnh hưởng đến hoạt động marketing từ đó đề ra các giải pháp để cải thiện.

4.1 Thu thập và xử lý dữ liệu thứ cấp

Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập để sử dụng trong bài luận văn này là các báo cáo tài chính, các báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh trong 3 năm 2022-2024.

Các lời phàn nàn của khách hàng từ quầy lễ tân và qua hệ thống bán phòng trên mạng của resort Tam Giang. Ý kiến từ phía khách hàng rất được resort quan tâm, được tổng hợp và xem xét cẩn thận. Những thông tin này giúp cho resort rất nhiều trong việc đánh giá chất lượng dịch vụ và chất lượng nhân viên.

Bên cạnh đó còn thu thập một số thông tin trên các bài viết trên sách báo, internet, khóa luận tốt nghiệp của các sinh viên khóa trước và các nghiên cứu có liên quan tiến hành trước đó.

Cơ cấu bộ máy tổ chức, tình hình nguồn nhân lực trong 3 năm 2022 –

4.2 Thu thập và xử lý dữ liệu sơ cấp

4.2.1 Nghiên cứu định tính

Dựa vào số liệu, thông tin từ phòng kinh doanh cùng với việc phỏng vấn sâu những người liên quan đến hoạt động kinh doanh tại công ty như quản lí, các nhân viên phòng kinh doanh, nhân viên các bộ phận khác như buồng phòng, nhà hàng, lễ tân để nắm được tình hình chung của hoạt động kinh doanh của công ty.

Tiến hành điều tra thử các khách hàng thông qua các câu hỏi mở khách quan để tìm hiểu về tình hình hoạt động marketing của resort Tam Giang đối với khách hàng để tiến hành hình thành nên bảng hỏi điều tra nghiên cứu định lượng.

4.2.2 Nghiên cứu định lượng Khóa luận: Phân tích hoạt động marketing của Bavico resort & spa.

Dựa vào kết quả thu được từ việc phỏng vấn các quản lý và nhân viên trong resort để tiến hành thiết kế bảng hỏi chính thức để thu thập thông tin của khách hàng. Bảng câu hỏi sẽ được điều chỉnh thông qua phỏng vấn thử 5 khách hàng, xem họ có hiểu đúng từ ngữ, ý nghĩa và mục đích của câu hỏi.

Tiếp đến tiến hành thu thập thông qua phương pháp phỏng vấn sâu cá nhân trực tiếp và thông qua bảng hỏi. Tiến hành điều tra mẫu trên những khách hàng đến resort, các khách du lịch nghĩ dưỡng đơn lẽ và các khách hàng đi theo tour đến nghĩ tại resort. Dữ liệu sau khi thu thập được sẽ được mã hóa và xử lý thông qua phần mềm SPSS 20.0.

4/3 Phương pháp chọn mẫu điều tra

Phương pháp xác định kích thước mẫu: Kích thước mẫu sẽ phụ thuộc vào việc ta muốn những gì từ những dữ liệu thu thập được và mối quan hệ ta muốn thiết lập là gì (Kumar, 2005). Vấn đề nghiên cứu càng đa dạng thì mẫu nghiên cứu càng lớn. Một nguyên tắc nữa là mẫu càng lớn thì độ chính xác của nghiên cứu càng cao. Nhằm đảm bảo tính đại diện cho tổng thể nghiên cứu đề tài xác định cỡ mẫu nghiên cứu thông qua công thức sau: z2 p(1- q) n e2

Do tính chất

  • p + q =1, vì vậy
  • p.q sẽ lớn nhất khi
  • p = q = 0, 5 nên
  • p.q = 0, 25 .

Ta tính cỡ mẫu với độ tin cậy là 95% và sai số cho phép là e=5%. Lúc đó mẫu ta cần chọn sẽ có kích cỡ mẫu lớn nhất:

n = 1.962 * 0.5 * 0.5 0.052 = 384.16

Làm tròn mẫu ta chọn kích cỡ mẫu là 384 khách hàng.

Tuy nhiên, do thời gian và nguồn lực hạn chế nên để thuận tiện cho nghiên cứu xin tiến hành điều tra, phân tích 130 mẫu khách hàng và 30 mẫu công ty lữ hành. Khóa luận: Phân tích hoạt động marketing của Bavico resort & spa.

( Trong 130 mẫu khách hàng chủ yếu là khách hàng nội địa không có khách quốc tế do lượng khách quốc tế chiếm tỷ trọng quá thấp và do cuộc điều tra được thực hiện vào 3 tháng đầu năm ).

4.4 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu

Trên cơ sở các số liệu sơ cấp và thứ cấp thu thập được, sử dụng phương pháp tổng hợp và phần mềm SPSS 20.0 và Excel để tiến hành xử lí các số liệu đó. Các phân tích trên phần mềm này bao gồm:

  • Thống kê mô tả

Dùng để thống kê số lượng và tỷ lệ % đặc điểm của khách hàng và các công ty lữ hành được phỏng vấn cũng như ý kiến của họ về những vấn đề được nghiên cứu.

  • Kiểm tra độ tin cậy của thang đo thông qua hệ số Cronbach’s alpha

Theo tiêu chuẩn, các nhân tố có hệ số Cronbach’s alpha lớn hơn 0.6 và tương quan biến tổng lớn hơn 0.4 thì mới đảm bảo độ tin cậy để đưa vào phân tích, các nhân tố không đảm bảo tiêu chuẩn này sẽ bị loại khỏi mô hình

  • Phân tích nhân tố khám phá EFA

Dữ liệu sẽ được sử dụng để phân tích nhân tố khám phá với điều kiện: Thứ nhất hệ số KMO (Kaiser-Meyer-Olkin) ≥ 0.5, thứ hai mức ý nghĩa của kiểm định Bartlett ≤ mức ý nghĩa α.

(KMO là một chỉ tiêu dùng để xem xét sự thích hợp của EFA, 0.5≤ KMO ≤1 thì phân tích nhân tố là thích hợp. Kiểm định Bartlett xem xét giả thuyết về độ tương quan giữa các biến quan sát bằng không trong tổng thể. Nếu kiểm định này có ý nghĩa thống kê (Sig ≤α) thì các biến quan sát có tương quan với nhau trong tổng thể).

Trong nghiên cứu này phương pháp trích Principal component với phép xoay Varimax được sử dụng.

  • Kiểm định phân phối chuẩn và tương
  • Kiểm định One Sample T- Khóa luận: Phân tích hoạt động marketing của Bavico resort & spa.

5. Cấu trúc của báo cáo nghiên cứu Phần I: Đặt vấn đề

Chương này trình bày về lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, phương pháp phân tích và xử lý số liệu, và tóm tắt nghiên cứu.

Phần II: Nội dung nghiên cứu và kết quả nghiên cứu

Chương 1: Tông quan về vấn đề nghiên cứu

  • Chương này trình bày một số vấn đề về cơ sở lý luận, các khái niệm về marketing và các định nghĩa khái niệm có liên quan đến đề tài, các cơ sở thực tiễn và các nghiên cứu có liên quan.

Chương 2: Tình hình kinh doanh và thực trạng hoạt động marketing của Bavico resort & spa Tam Giang.

  • Trình bày tổng quan về công ty TNHH SX- TM & DV Bạch Việt – BachViet Co.,Ltd và Bavico resort & spa Tam Giang.
  • Những hoạt động marketing mà resort đã áp dụng được.
  • Phân tích hoạt động marketing của resort, đánh giá và xem xét mức độ tác động của các nhân tố. ( Mô hình marketing 8p theo dịch vụ du lịch).

Chương 3: Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động marketing của Bavico resort & spa Tam Giang.

  • Dựa trên các thông tin trong chương 2, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hoạt động marketing của Bavico resort & spa Tam Giang.

Phần III: Kết luận và kiến nghị

Hệ thống hóa lại nghiên cứu, đánh giá thực trạng chung hiện nay của công ty và đề xuất giải pháp, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị. Khóa luận: Phân tích hoạt động marketing của Bavico resort & spa.

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu

1.1.1 Một số định nghĩa, khái niệm cơ bản

  • Khái niêm về Marketing

Trong tất cả các hoạt động kinh doanh, mục tiêu đầu tiên phải đề cập đến là lợi nhuận. Để đạt được mục tiêu sinh lợi tất cả các doanh nghiệp phải giải quyết một số vấn đề cơ bản như: kinh tế, kỹ thuật, quản lý… đặc biệt phải chú trọng tới đầu ra của sản phẩm. Cùng với sự phát triển của xã hội, thị trường cũng thay đổi từ nhà độc quyền đến thị trường cạnh tranh hoàn hảo, tức là thị trường một người bán một người mua đến thị trường nhiều người bán ít người mua nên việc tiêu thụ hàng hóa là hoàn toàn khó khăn do đó tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ có ý nghĩa quyết định sống còn đối với doanh nghiệp. Chính vì vậy các nhà kinh doanh ngày càng quan tâm đến các phương pháp thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm. Nhưng việc bán sản phẩm lại phụ thuộc vào quan hệ cung cầu và tình hình cạnh tranh trên thị trường. Làm thế nào để bán được sản phẩm một cách hiệu quả nhất đó là câu hỏi của tất cả các nhà kinh doanh đặt ra.

Mặc khác, nhu cầu của người tiêu dùng ngày càng phát triển trở nên đa dạng phong phú và ngày càng cao cấp. Khách hàng trên thị trường không còn chỉ chấp nhận những hàng hóa mà người sản xuất kinh doanh áp đặt mà họ còn đòi hỏi phải thích ứng với nhu cầu của mình. Chính vì vậy, trước khi sản xuất và đưa sản phẩm ra thị trường người sản xuất cần xem xét sản phẩm có đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng hay không. Tất cả những điều đó cùng với tình hình cạnh tranh gay gắt trên thị trường đã làm thay đổi nhiều quan điểm, triết lý và các phương pháp kinh doanh dẫn đến sự ra đời và phát triển của khoa học và nghệ thuật kinh doanh được gọi là Marketing. Khóa luận: Phân tích hoạt động marketing của Bavico resort & spa.

Marketing xuất hiện lần đầu tiên năm 1950 trong bài giảng về “marketing sản phẩm” của W.E.Krensi tại trường đại học Pensylvania. Đến năm 1925 môn Marketing được đưa vào giảng dạy tại trường Đại Học tổng hợp California và một số trường đại học khác ở Mỹ. Đến năm 1937 hiệp hội marketing Mỹ ra đời đã góp phần phát triển về mặt lý luận cũng như thực tiễn trong hoạt động marketing.

Khi mới ra đời, marketing đơn giản chỉ là những hoạt động liên quan đến việc bán hàng, đó là marketing truyền thống – là nghệ thuật bán hàng và các hoạt động xúc tiến yểm trợ nhằm thúc đẩy việc bán hàng. Ngày nay do sản xuất hàng hóa phát triển với tốc độ cao làm cung vượt quá cầu dẫn đến thị trường bị bão hòa. Hiện tượng đó làm thay đổi vị trí, vai trò của người bán và người mua trong quan hệ mua bán trên thị trường từ thị trường của người bán sang thị trường của người mua buộc các nhà sản xuất từ chỗ làm chủ, chi phối thị trường nay phải tìm mọi cách thích ứng với thị trường, đáp ứng những yêu cầu, đòi hỏi của người mua và luôn xác định rõ vai trò của mình trong quá trình tái sản xuất xã hội.

Bên cạnh đó là một loạt các biến cố kinh tế xã hội: khủng hoảng kinh tế, các phong trào giải phóng dân tộc… làm cho thị trường ngày càng phức tạp, vấn đề thị trường ngày càng trở nên quan trọng đối với các nhà kinh doanh. Chính vì vậy người ta đưa thêm nhiều nội dung mới vào hoạt động marketing và theo quan điểm marketing hiện đại hoạt động đó không chỉ diễn ra trong khâu bán hàng mà bao gồm cả các dịch vụ trước và sau khi bán hàng. Với xu thế ngày càng đa dạng, phong phú, marketing hiện đại được nhiều nhà kinh tế quan tâm nghiên cứu nên có nhiều định nghĩa, khái niệm khác nhau, tùy thuộc vào cách nhìn nhận đối với thị trường.

Có nhiều cách định nghĩa marketing khác nhau. Marketing là quá trình tổ chức lực lượng bán hàng nhằm bán được những hàng hóa do công ty sản xuất ra. Marketing là quá trình quảng cáo và bán hàng. Marketing là quá trình tìm hiểu và thỏa mãn nhu cầu của thị trường. Hay marketing là làm thị trường, nghiên cứu thị trường để thỏa mãn nó. Chúng ta cũng có thể hiểu rằng marketing là các cơ chế kinh tế và xã hội mà các tổ chức và cá nhân sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của mình thông qua quy trình trao đổi sản phẩm trên thị trường. Khóa luận: Phân tích hoạt động marketing của Bavico resort & spa.

Theo viện nghiên cứu Marketing Anh: “Marketing là một chức năng quản lý doanh nghiệp về mặt tổ chức quản lý toàn bộ các hoạt động kinh doanh, từ việc phát hiện ra và biến sức mua của người tiêu dùng thành nhu cầu thực sự của một mặt hàng cụ thể đến việc đưa hàng hóa đó tới người tiêu dùng cuối cùng nhằm đảm bảo cho doanh nghiệp thu được lợi nhuận như dự kiến”.

Theo hiệp hội Marketing Mỹ (2008): “ Marketing là thực hiện các hoạt động kinh doanh nhằm hướng vào dòng chuyển vận hàng hóa và dịch vụ từ người sản xuất tới người tiêu thụ hoặc người sử dụng”.

Nhưng theo J.J Lambin lại nói: “ Marketing đó là quảng cáo, là kích động, là bán hàng bằng gây sức ép để chiếm lấy thị trường hiện có. Marketing cũng là toàn bộ những công cụ phân tích, phương pháp dự đoán và nghiên cứu thị trường được sử dụng nhằm phát triển cách tiếp cận những nhu cầu và yêu cầu”.

Theo định nghĩa của Philip Kolter (năm 1980) thì “Marketing là quá trình tạo dựng các giá trị từ khách hàng và mối quan hệ thân thiết với khách hàng nhằm mục đích thu về giá trị lợi ích cho doanh nghiệp, tổ chức từ những giá trị đã được tạo ra”. Đó là một trong những định nghĩa có tính tổng quát về Marketing, nó bao gồm cả Marketing trong sản xuất kinh doanh và Marketing xã hội.

Theo Mc. Carthy thì “marketing là quá trình nghiên cứu khách hàng là ai, họ cần gì và muốn gì, làm thế nào để đáp ứng nhu cầu của họ nhằm tạo lợi nhuận tối đa cho doanh nghiệp bằng cách: cung cấp sản phẩm/dịch vụ mà khách hàng cần, đưa ra mức giá khách hàng chấp nhận trả, đưa sản phẩm/dịch vụ đến với khách hàng và cung cấp thông tin/giao tiếp với khách hàng”.

Tóm lại marketing dựa trên những khái niệm cốt lõi: nhu cầu, mong muốn và yêu cầu, sản phẩm, giá trị, chi phí và sự hài lòng, trao đổi, giao dịch và các mối quan hệ, thị trường, marketing và những người làm marketing. Bao gồm việc tạo dựng giá trị từ khách hàng, xây dựng mối quan hệ với khách hàng, xây dựng mô hình sản phẩm, giá cả, hệ thống phân phối và chiến dịch promotion… với mục đích nhằm tạo ra sản phẩm, dịch vụ thỏa mãn nhu cầu của một hoặc nhiều nhóm khách hàng nhất định và thu về giá trị lợi ích từ những giá trị đã được tạo ra.

  • Khái niệm về marketing cho dịch vụ resort, lưu trú ngắn ngày

Marketing đã và đang trở thành một phần không thể thiếu trong thành công của mỗi tổ chức, doanh nghiệp nhằm hướng đến mục tiêu mở rộng khách hàng và nâng cao khả năng tiêu thụ sản phẩm. Đối với du lịch marketing đã hình thành nên một tập khái niệm và các phạm trù cần nghiên cứu riêng để nâng cao tính hiệu quả trong công tác quản lý, vận hành hoạt động du lịch.

Marketing cho dịch vụ resort, lưu trú ngắn ngày hay còn gọi là marketing du lịch có khái niệm khá rộng, nó bao gồm toàn bộ hoạt động marketing nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng trong ngành du lịch. Marketing du lịch là vận dụng các lý thuyết về marketing trong lĩnh vực du lịch. Cho đến nay cũng chưa có một định nghĩa thống nhất về marketing du lịch. Sau đây là một số khái niệm về marketing du lịch: Khóa luận: Phân tích hoạt động marketing của Bavico resort & spa.

Marketing du lịch là tiến trình nghiên cứu, phân tích những nhu cầu của khách hàng, những sản phẩm, những dịch vụ du lịch và những phương thức cung ứng, hỗ trợ để đưa khách hàng đến với những sản phẩm nhằm thỏa mãn nhu cầu của họ đồng thời đạt được những mục tiêu của các tổ chức du lịch.

Theo tổ chức du lịch thế giới (UNWTO – World Tourism Organization): “Marketing du lịch là một triết lý quản trị mà nhờ đó tổ chức du lịch nghiên cứu, dự đoán và tuyển chọn dựa trên mong muốn của du khách để từ đó đem sản phẩm ra thị trường sao cho phù hợp với mong muốn của thị trường mục tiêu, thu nhiều lợi nhuận cho tổ chức du lịch đó”.

Định nghĩa về marketing du lịch của Michael Coltman: “Marketing du lịch là một hệ thống các nghiên cứu và lập kế hoạch nhằm tạo lập cho tổ chức du lịch một triết lý quản trị hoàn chỉnh với các chiến lược và chiến thuật thích hợp để đạt được mục đích”.

Theo Robert Lanquar và Robert Hollier: “Marketing du lịch là một loạt phương pháp và kỹ thuật được hỗ trợ bằng một tinh thần đặc biệt và nhằm thỏa mãn các nhu cầu không nói ra của khách hàng, có thể là mục đích tiêu khiển hoặc những mục đích khác bao gồm công việc gia đình, công tác và họp hành”.

Theo cuốn sách: “Cẩm nang marketing và xúc tiến du lịch bền vững ở Việt Nam” do Fundesco biên soạn và xuất bản thì “marketing du lịch là một quá trình trực tiếp cho các cơ quan, doanh nghiệp du lịch xác định khách hàng hiện tại và khách hàng tiềm năng, ảnh hưởng đến ý nguyện của khách hàng ở cấp độ địa phương, khu vực quốc gia và quốc tế để doanh nghiệp có khả năng thiết kế và tạo ra các sản phẩm du lịch nhằm nâng cao sự hài lòng của khách và đạt được mục tiêu đề ra”.

Kế thừa các khái niệm nói trên, từ góc độ quản lý du lịch đến góc độ kinh doanh du lịch thì marketing được hiểu như sau: “ Từ góc độ quản lý du lịch thì marketing du lịch là sự ứng dụng marketing trong quản lý du lịch. Còn từ góc độ kinh doanh thì marketing là chức năng quản trị của doanh nghiệp, nó bao gồm tất cả các hoạt động của doanh nghiệp đều phải hướng vào mong muốn của thị trường mục tiêu”.

1.1.2 Khái niệm về resort và đặc điểm kinh doanh của resort Khóa luận: Phân tích hoạt động marketing của Bavico resort & spa.

1.1.2.1 Khái niệm về resort

Trong những năm gần đây, số lượng các khách sạn đã tăng lên nhanh chóng nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của hoạt động du lịch. Bên cạnh các khách sạn thương mại, hình thức các khách sạn nghỉ dưỡng – resort cũng đã bắt đầu xuất hiện góp phần đa dạng hóa các loại hình cơ sở lưu trú du lịch. Khởi thuỷ của khái niệm “resort” là nơi chữa bệnh, là nơi dành cho những người cần được dưỡng bệnh ở những nước phát triển. Lâu dần việc này đã trở nên không còn độc quyền cho người chữa bệnh nữa mà dành cho những khách hàng của khách sạn, du khách.

Hiện nay, khái niệm về resort chưa được định nghĩa thống nhất và chưa xây dựng được tiêu chuẩn xếp hạng riêng dành cho resort nên công tác quản lý cũng như thống kê số lượng của các resort gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên, theo nghĩa chung nhất thì khách sạn nghỉ dưỡng – resort là loại hình khách sạn được xây dựng độc lập thành khối hoặc thành quần thể gồm các biệt thự, căn hộ du lịch, băng-ga-lâu (bungalow) ở khu vực có cảnh quan thiên nhiên đẹp, phục vụ nhu cầu nghỉ dưỡng, giải trí, tham quan du lịch. Các khu nghỉ dưỡng thường được xây dựng rất sang trọng theo tiêu chuẩn từ 4-5 sao. Tại đây nhà cung cấp sản phẩm cung cấp các dịch vụ cao cấp đến khách hàng. Thông thường thì resort thường đưa ra các sản phẩm trọn gói đến khách hàng ( giá trọn gói có thể gồm việc đưa đón, ăn nghỉ, vui chơi, giải trí, thẩm mỹ…). Và khách hàng thường đến resort là những khách du lịch ở dài hạn, ít di chuyển nhiều điểm và chủ yếu là nghĩ ngơi tại resort.

1.2.2.2 Đặc điểm của resort

Resort – khu du lịch sinh thái nghỉ dưỡng phục vụ nhu cầu nghỉ dưỡng, giải trí, tham quan du lịch của du khách thường được xây dựng ở những nơi có cảnh quan thiên nhiên đẹp. Resort có đặc điểm chung là yên tĩnh, xa khu dân cư, xây dựng theo hướng hòa mình với thiên nhiên, có không gian và cảnh quan rộng, thoáng, xanh. Resort khác với các cơ sở lưu trú thông thường bởi hệ thống dịch vụ liên hoàn, tổng hợp, có thể đáp ứng mọi nhu cầu của khách như dịch vụ giải trí, chăm sóc sức khỏe, làm đẹp, luyện tập thể thao. Do resort mang lại những giá trị và dịch vụ hoàn hảo hơn nên giá cũng khá đắt so với giá phòng khách sạn cùng tiêu chuẩn. Hoạt động của các resort ở Việt Nam có những đặc điểm sau:

Một là, về hình thức tổ chức kinh doanh: các resort chủ yếu là hình thức liên doanh nước ngoài hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. Nhờ vậy, tạo điều kiện cho những tập đoàn chuyên kinh doanh resort đem tới kinh nghiệm quản lý tạo điều kiện nâng cao chất lượng hoạt động của các khu resort. Khóa luận: Phân tích hoạt động marketing của Bavico resort & spa.

Hai là, về cơ sở vật chất kỹ thuật: do các khu resort được xây dựng ở các vùng biển hoặc các nơi có tài nguyên du lịch nên kiến trúc của các khu resort thường là các khu nhà thấp tầng, mang tính gần gũi với môi trường, gần gũi với thiên nhiên nhưng vẫn đảm bảo tới sự sang trọng, tiện nghi. Diện tích các resort thường từ 1 hécta tới 40 hécta và diện tích ngày càng được mở rộng vì đặc trưng của khu resort thường là các khu vực có không gian rộng rãi trong đó diện tích xây dựng thường chiếm tỷ lệ nhỏ, xung quanh khu resort có nhiều dịch vụ vui chơi giải trí như bể bơi, massage, phòng tập thể hình, khu biểu diễn nghệ thuật, ẩm thực…

Ba là, về cách thức tổ chức quản lý: thường áp dụng theo tiêu chuẩn của các tập đoàn nước ngoài, trong đó một số resort đã áp dụng bộ phận chuyên trách quản lý công tác môi trường.

Bốn là, về chất lượng lao động: hầu hết các resort là cơ sở hạng sang nên chất lượng tuyển chọn người lao động được chú trọng nhằm đảm bảo chất lượng dịch vụ của cơ sở. Sản phẩm của kinh chủ yếu là dịch vụ, mang tính chất phục vụ mà sự phục vụ này không thể cơ giới hóa được mà chỉ thực hiện được bởi những nhân viên phục vụ trực tiếp. Mặt khác lao động trong khách sạn đặc biệt là lao động trong kinh doanh lưu trú và ăn uống có tính chuyên môn hóa cao. Thời gian lao động lại phụ thuộc vào thời gian tiêu dùng của khách, thường kéo dài 24/24 mỗi giờ trên ngày. Do vậy số lượng lao động phục vụ trực tiếp sử dụng để kinh doanh resort là rất lớn và đòi hỏi resort cũng phải có nghiệp vụ chuyên môn cao.

1.2.2.3 Đặc điểm kinh doanh của resort

Kinh doanh resort cũng quan trọng và có tính mùa vụ như kinh doanh khách sạn và du lịch. Nó cũng bao gồm các hoạt động kinh doanh như khách sạn nhưng cũng có mùa vụ như kinh doanh du lịch. Đặc điểm kinh doanh resort nó cũng bao gồm các loại hình sau:

  • Kinh doanh dịch vụ lưu trú Khóa luận: Phân tích hoạt động marketing của Bavico resort & spa.

Kinh doanh dịch vụ lưu trú là hoạt động kinh doanh ngoài lĩnh vực sản xuất vật chất, cung cấp dịch vụ cho thuê buồng ngủ và các dịch vụ bổ sung khác cho khách trong thời gian lưu trú tạm thời tại điểm du lịch nhằm mục đích có lãi.

Đây là hoạt động kinh doanh chính mà một resort cần có. Cơ sở của việc kinh doanh lưu trú là quá trình cho thuê buồng ngủ và các thiết bị vật chất đi kèm tạo điều kiện cho khách thực hiện được chuyến đi của mình trong một thời gian nhất định. Hoạt động kinh doanh lưu trú là quá trình kết hợp giữa việc sử dụng cơ sở vật chất kỹ thuật và hoạt động phục vụ của đội ngũ nhân viên để thoả mãn tối đa nhu cầu của khách. Trong quá trình thực hiện kinh doanh lưu trú, doanh nghiệp không tạo ra sản phẩm mới và giá trị mới. Tuy nhiên, mức độ thoả mãn của khách hàng khi sử dụng dịch vụ lưu trú của khách sạn sẽ là yếu tố quyết định giá cả của dịch vụ và hiệu quả kinh doanh của resort trong hiện tại và tiềm năng, vị thế của resort trên thị trường trong thời gian tới.

Để thực hiện có hiệu quả hoạt động kinh doanh lưu trú, chúng ta phải xuất phát từ quá trình tìm hiểu thị hiếu, nhu cầu mong đợi của từng đối tượng khách, từ đó đưa ra kế hoạch chuẩn bị cơ sở vật chất trong resort, lựa chọn phương án bố trí sao cho hoạt động kinh doanh của resort được thực hiện một cách tốt nhất.

  • Kinh doanh dịch vụ ăn uống

Kinh doanh dịch vụ ăn uống là một quá trình thực hiện các hoạt động chế biến thức ăn, và cung cấp dịch vụ ăn uống cho thực khách, hay nói cách khác là phục vụ nhu cầu tiêu dùng các thức ăn, đồ uống và cung cấp các dịch vụ khác nhằm thoả mãn nhu cầu ăn uống giải trí cho khách nhằm mục đích có lãi.

Với cuộc sống ngày hiện đại ngày nay, thực khách không chỉ đến resort để nghĩ dưỡng mà còn muốn thõa mãn nhu cầu ăn uống, thư giãn, nghĩ ngơi tại nhà hàng của resort nhằm phục hồi sức khỏe. Một số nhà hàng còn là nơi tổ chức tiệc, hội nghị, hội thảo, sự kiện hay các cuộc họp… cho khách hàng.

Doanh thu từ hoạt động kinh doanh dịch vụ ăn uống chiếm một tỷ trọng đáng kể trong tổng doanh thu của một resort, thể hiện mức độ hoàn thiện của hệ thống dịch vụ trong resort đó. Khi ngành du lịch càng phát triển thì tỷ trọng này sẽ tăng cao trong toàn ngành.

Kinh doanh ăn uống không những mang lại lợi ích hữu hình cho resort là doanh thu và lợi nhuận mang về mà còn là cơ hội để doanh nghiệp quảng bá văn hoá của đơn vị mình, đất nước mình trong quá trình phục vụ khách. Điều này đặc biệt hiệu quả là quảng bá văn hoá ẩm thực và văn hoá ứng xử. Khóa luận: Phân tích hoạt động marketing của Bavico resort & spa.

Để nâng cao hiệu quả kinh doanh ăn uống, resort nên xuất phát từ đặc điểm về văn hoá của từng nhóm khách hàng để cung ứng được những sản phẩm phù hợp. Tiếp theo, cần phải chú trọng đến tính đa dạng của thực đơn, yếu tố dinh dưỡng, vệ sinh của từng loại sản phẩm, phong cách phục vụ và các chính sách giá cả hợp lý để thu hút khách hàng.

  • Hoạt động kinh doanh các thể loại dịch vụ khác

Kinh doanh các dịch vụ bổ sung là quá trình tổ chức các dịch vụ để đáp ứng những nhu cầu thiết yếu của khách. Mặt dù, các dịch vụ bổ sung không phải là hoạt động kinh doanh chính của resort nhưng nó là thứ cần thiết để làm cho khách cảm nhận được tính hoàn thiện trong hệ thống dịch vụ và mức độ tiện ích của resort.

Các dịch vụ bổ sung có thể được đáp ứng một cách sẵn sàng trong suốt thời gian khách lưu trú tại resort. Đó có thể là dịch vụ giặt là, dịch vụ điện thoại, dịch vụ thư giãn (ca nhạc, kịch, karaoke..), dịch vụ chăm sóc sức khoẻ (sân chơi thể thao, vật lý trị liệu, massage…), dịch vụ tài chính, ngân hàng, quầy hàng lưu niệm….

Phần lớn các dịch vụ bổ sung không trực tiếp sản xuất ra vật chất, chi phí thấp nhưng nếu được thực hiện tốt sẽ mang lại lợi nhuận cao và tạo ra khả năng thu hút khách rất lớn. Và đất là một lợi thế lớn dùng làm phương tiện cạnh tranh cho resort đối với các khách sạn và resort khác trên khu vực.

Tóm lại, kinh doanh resort là một lĩnh vực vô cùng quan trong khi thực hiện vì đây là lĩnh vực có sự cạnh tranh gay gắt do đầu tư, hay nguy cơ đóng cửa hoặc chuyển đổi hình thức kinh doanh do khả năng sinh lời thấp, v.v… Bên cạnh đó đây là một loại hình kinh doanh đa dạng, thường xuyên có sự tiếp xúc giữa khách và nhân viên nên việc người quản lý luôn phải đối phó với những khó khăn do khách và nhân viên gây ra là không lường trước được. Resort được xem như là một tổ chức phức tạp về quản lý và luôn tạo ra nhiều khó khăn không bao giờ dứt cho những người điều hành. Không những thế đây là loại hình kinh doanh cần có định hướng và chính xác nên người điều hành kinh doanh phải luôn sẵn sàng đối phó với mọi tình huống xảy ra để có thể đưa ra những quyết định nhanh chóng.

1.1.3. Chiến lược marketing mục tiêu và mô hình marketing 8P Khóa luận: Phân tích hoạt động marketing của Bavico resort & spa.

  • Chiến lược marketing mục tiêu

Trong lịch sử kinh doanh, chiến lược marketing đã trải qua các giai đoạn marketing đại trà (marketing không phân biệt), marketing đa dạng hóa sản phẩm (marketing phân biệt) và marketing mục tiêu. Mỗi chiến lược đều có những ưu điểm, nhược điểm và phù hợp trong từng điều kiện thị trường khác nhau. Tuy nhiên nhiều doanh nghiệp ngày nay đang dần từ bỏ marketing đại trà và marketing đa dạng hóa sản phẩm để chuyển sang marketing mục tiêu.

Marketing mục tiêu là việc phát triển phối thức tiếp thị riêng cho một hoặc nhiều phân khúc thị trường. Marketing mục tiêu trái ngược với marketing đại trà, là hình thức tiếp thị một sản phẩm cho toàn bộ thị trường. Hai điểm quan trọng khi lựa chọn phân khúc thị trường mục tiêu là độ hấp dẫn của thị trường và mức độ phù hợp của phân khúc với mục tiêu, nguồn lực hay năng lực của công ty.

Chiến lược marketing mục tiêu đòi hỏi nhà marketing phải qua ba giai đoạn chủ yếu: phân đoạn thị trường, lựa chọn thị trường mục tiêu và định vị thương hiệu.

  • Phân đoạn thị trường

Phân đoạn thị trường bao gồm những khách hàng có nhu cầu tương đối đồng nhất và phản ứng như nhau trước những chính sách marketing từ doanh nghiệp.

Phân đoạn thị trường là quá trình nhà marketing tiến hành phân chia thị trường tổng thể (thị trường chung) thành nhiều đoạn thị trường sao cho khách hàng có hành vi tiêu dùng tương tự nhau và khác biệt tương đối so với các đoạn khác.

Để đảm bảo việc phân đoạn thị trường có thể diễn ra hiệu quả các nhà marketing cần quan tâm đến các yếu tố sau: nhận dạng được, phân biệt được, quy mô đủ lớn, có thể tiếp cận được, ổn định và khả thi.

  • Các tiêu thức phân đoạn thị trường

Về lý thuyết, nhà marketing có thể sử dụng bát kỳ đặc trưng nào của người tiêu dùng làm tiêu thức phân đoạn. Tuy nhiên, để đảm bảo yêu cầu của việc phân đoạn thị trường, trên thực tế nhà marketing chỉ chọn những đặc trưng tiêu biểu làm cơ sở để phân đoạn thị trường. Chính các cơ sở này là những nguyên nhân tạo ra sự khác biệt về nhu cầu và đòi hỏi chiến lược marketing khác nhau. Khóa luận: Phân tích hoạt động marketing của Bavico resort & spa.

Tiêu thức địa lý: Thị trường được chia thành các đơn vị địa lý như quốc gia, vùng, tỉnh/ thành phố, thành thị, ngoại ô hay nông thôn. Doanh nghiệp có thể phục vụ một hay một số vùng hoặc toàn bộ khu vực địa lý nhưng chú trọng vào sự khác biệt giữa các địa phương. Theo cách này, doanh nghiệp xây dựng chính sách marketing phù hợp cho từng khu vực thị trường.

Tiêu thức nhân khẩu: Theo cách này, nhà marketing sử dụng lứa tuổi, quy mô gia đình, chu kỳ sống gia đình, thu nhập, nghề nghiệp, trình độ học vấn, thế hệ, … để phân đoạn thị trường. Các tiêu thức nhân khẩu được sử dụng phổ biến vì hai lý do, một là chúng liên quan chặt chẽ đến nhu cầu và ước muốn của người tiêu dùng; hai là các tiêu chí này dễ đo lường.

Tiêu thức tâm lý: Người tiêu dùng được phân chia dựa trên điểm tâm lý, tính cách, lối sống hoặc giá trị. Công cụ đo lường tâm lý tiêu dùng phổ biến được nhà marketing vận dụng là VALS (Giá trị , thái độ và lối sống – Values, Attitudes and Lifestyles).

Tiêu thức hành vi: Nhà marketing dựa trên cơ sở về nhu cầu, lợi ích, kiến thức, thái độ và cách sử dụng (dịp, tình trạng trung thành, tình trạng người tiêu dùng, giai đoạn sẵn sàng mua, tỷ lệ sử dụng,..) để phân đoạn thị trường tiêu dùng.

Tiêu thức phân đoạn thị trường tổ chức: Về cơ bản, các cơ sở của phân đoạn thị trường tiêu dùng có thể áp dụng vào trong thị trường tổ chức. Tuy nhiên, do đặc thù của thị trường tổ chức nhà marketing tập trung vào các phân đoạn dân số, biến thể hoạt động, cách tiếp cận mua hàng, yếu tố hoàn cảnh và đặc điểm cá nhân.

  • Lựa chọn thị trường mục tiêu

Việc phân đoạn thị trường cho thấy cơ hội kinh doanh ở mỗi đoạn thị trường. Tiếp đến đó là các nhà marketing quyết định lựa chọn bao nhiêu thị trường để phục vụ và làm sao xác định được đoạn thị trường tốt nhất. Đó là việc lựa chọn thị trường mục tiêu.

  • Đánh giá đoạn thị trường

Khi đánh giá đoạn thị trường, nhà marketing thường dựa vào ba tiêu chuẩn cơ bản: quy mô và sự tăng trưởng; sức hấp dẫn của đoạn thị trường; các mục tiêu và khả năng của doanh nghiệp. Mục đích của việc đánh giá đoạn thị trường là nhận dạng được mức độ hấp dẫn của mỗi đoạn thị trường trong việc thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp.

Quy mô và sự tăng trưởng: Đoạn thị trường triển vọng phải có quy mô lớn để bù đắp những nổ lực marketing trong hiện tại và tương lai. Để đánh giá quy mô và sự tăng trưởng, nhà marketing phai thu thập và phân tích các chi tiêu như doanh số và sự thay đổi của doanh số, lợi nhuận, nhu cầu và xu hướng thay đổi của nhu cầu.

Sự hấp dẫn của đoạn thị trường: Nhà marketing sử dụng mô hình năm lực lượng cạnh tranh của Michael Porter để đánh giá sức hấp dẫn của các đoạn thị trường. Áp lực cạnh tranh tỷ lệ nghịch với mức độ hấp dẫn của thị trường.

Mục tiêu và khả năng của doanh nghiệp: Đoạn thị trường có quy mô lớn, khách hàng tăng trưởng tốt trong tương lai và hấp dẫn về lợi nhuận cũng có thể bị loại bỏ nếu năng lực của doanh nghiệp. Điều đó cho thấy, doanh nghiệp cần phải xem xét trên các phương diện như khả năng quản lý, tài chính, nhân lực, công nghệ, lợi thế khác biệt,… để có thể kinh doanh thành công trên đoạn thị trường đã lựa chọn. Khóa luận: Phân tích hoạt động marketing của Bavico resort & spa.

  • Lựa chọn thị trường mục tiêu

Thị trường mục tiêu là thị trường bao gồm những khách hàng có cùng nhu cầu, mong muốn mà doanh nghiệp có khả năng đáp ứng, đồng thời có thể tạo ra ưu thế so với đối thủ cạnh tranh và qua đó doanh nghiệp đạt được mục tiêu marketing.

Theo quan điểm của Philip Kotler, doanh nghiệp có thể tiếp cận theo bốn cách sau để lựa chọn các đoạn thị trường làm thị trường mục tiêu: Chon toàn bộ thị trường, chọn nhiều đoạn thị trường, chọn một đoạn thị trường và marketing mục tiêu.

Chọn toàn bộ thị trường: Chon toàn bộ thị trường có nghĩa là doanh nghiệp cố gắng phục vụ tất cả các nhóm kháchc hàng với tất cả các sản phẩm mà họ có thể cần. Các doanh nghiệp lớn có thể hướng đến toàn bộ thị trường. Các doanh nghiệp lớn có thể hướng đến toàn bộ thị trường theo một trong hai cách: marketing không phân biệt (marketing đại trà) và marketing phân biệt (marketing phân đoạn thị trường).

Chọn nhiều đoạn thị trường: Nhà marketing có thể chuyên môn hóa thị trường hoặc chuyên môn hóa sản phẩm. Với chuyên môn hóa sản phẩm, doanh nghiệp bán một sản phẩm nhất định đến nhiều đoạn thị trường khác nhau. Tuy nhiên, cách này làm cho doanh nghiệp có thể đối mặt với nguy cơ từ sản phẩm thay thế, đặc biệt khi công nghệ ngày càng phát triển như hiện nay. Với chuyên môn hóa thị trường, doanh nghiệp phục vụ nhiều nhu cầu của một nhóm khách hàng. Từ đó, doanh nghiệp có thể được một danh tiếng mạnh mẽ giữa các nhóm khách hàng này.

Chọn một đoạn thị trường: Doanh nghiệp tập trung nổ lực vào một đoạn thị trường, do đó thị trường của doanh nghiệp chỉ có một đoạn duy nhất. Thông qua marketing mục tiêu, doanh nghiệp hiểu biết sâu sắc và phục vụ tốt nhu cầu của khách hàng trong đoạn thị trường đó.

Marketing cá nhân: Đây là một trong hai chiến lược của marketing vi mô, bao gồm marketing địa phương hóa và marketing cá nhân. Ngày nay, khách hàng chủ động hơn trong việc xác định mua sản phẩm gì và làm thế nào để Do đó ngày nay marketing cá nhân là việc nhà marketing tùy biến sản phẩm thực tế, khó khăn trong việc thay thế phụ tùng chi tiết.

  • Định vị thương hiệu Khóa luận: Phân tích hoạt động marketing của Bavico resort & spa.

Định vị thương hiệu là một vị trí nổi bật thương hiệu hướng tới trong bối cảnh cạnh tranh để đảm bảo rằng các cá nhân tại thị trường mục tiêu có thể phân biệt thương hiệu với các đối thủ cạnh tranh. Để định vị thương hiệu tốt, nhà marketing cần xác định và chuyển tải sự giống nhau và khác nhau giữa thương hiệu của mình với đối thủ cạnh tranh.

Định vị thương hiệu bao gồm các công việc sau: Xác định tập thương hiệu cạnh tranh, xác định các điểm tương đồng và điểm khác biệt; lựa chon điểm tương đồng và điểm khác biệt và thiết kế câu thần chú thương hiệu.

Xác định tập thương hiệu cạnh tranh: Đây là công việc đầu tiên của định vị thương hiệu, xác định tập thương hiệu cạnh tranh trong thị trường mục tiêu của mình. Không phải tất cả thương hiệu trong ngành đều là thương hiệu cạnh tranh trực tiếp với doanh nghiệp. Nhà marketing xác định tập cạnh tranh trực tiếp, tức là các thương hiệu cùng cạnh tranh trong cùng thị trường mục tiêu, có giá cả như nhau và thường là cùng đẳng cấp. Việc xác định tập thương hiệu cạnh tranh chỉ mang tính tương đối và phụ thuộc vào nguồn lực và chiến lược của doanh nghiệp. Tuy nhiên, cạnh tranh không chỉ diễn ra trong ngành mà còn cạnh tranh với đối thủ tiềm ẩn và sản phẩm thay thế.

Xác định các điểm tương đồng và điểm khác biệt: Trên thị trường cạnh tranh khốc liệt như hiện nay, khác biệt hoá thương hiệu là điểm đầu tiên và trước nhất để chiếm được trái tim của người tiêu dùng. Tuy nhiên, điểm khác biệt thôi là chưa đủ để thành công trên thị trường. Một thương hiệu cần có những chức năng cơ bản như các đối thủ cạnh tranh khác trên cùng phân khúc, nhu cầu cốt lõi của thị trường mục tiêu. Đó chính là điểm tương đồng.

Lựa chọn điểm tương đồng và điểm khác biệt: Marketing thường tập trung vào lợi ích thương hiệu trong việc lựa chọn điểm khác biệt và tương đồng để định vị thương hiệu. Thuộc tính thương hiệu thường đóng nhiều vai trò bằng cách cung cấp “lý do để tin” hoặc “bằng chứng” là tại sao một thương hiệu đáng tin cậy thường cung cấp những lợi ích nhất định. Người tiêu dùng thường quan tâm đến lợi ích và những gì họ nhận được từ một sản phẩm. Nhiều thuộc tính có thể hỗ trợ một lợi ích nhất định và thay đổi theo thời gian.

Thiết kế câu thần chú thương hiệu: Việc thiết kế câu thần chú thương hiệu giúp doanh nghiệp đạt được mong muốn người tiêu dùng suy nghĩ về thương hiệu của mình như thế nào. Câu thần chú thương hiệu là phát âm của trái tim và linh hồn của thương hiệu và liên quan chặt chẽ đến hoạt động xây dựng thương hiệu như “bản chất thương hiệu” và “ lời hứa cốt lõi thương hiệu.

  • Mô hình Marketing -mix 8P trong kinh doanh dịch vụ du lịch / dịch vụ lưu trú

Do đặc thù của sản xuất và tiêu dùng du lịch dịch vụ, cần phải quan tâm hơn các yếu tố trong marketing mix truyền thông và kết hợp đồng bộ các yếu tố này vào thị trường mục tiêu. Khóa luận: Phân tích hoạt động marketing của Bavico resort & spa.

Marketing mix là một khái niệm cơ bản trong marketing, là tập hợp các công cụ tiếp thị được doanh nghiệp sử dụng để đạt được trọng tâm tiếp thị trong thị trường mục tiêu. Là một công cụ kinh doanh được sử dụng trong marketing và bởi các chuyên gia marketing. Marketing mix thường rất quan trọng khi quyết định một sản phẩm hoặc thương hiệu. Thuật ngữ marketing mix lần đầu tiên được sử dụng vào năm 1953 khi Neil Borden, là chủ tịch của hiệp hội Marketing Hoa Kỳ lấy ý tưởng công thức thêm một bước nữa và đặt ra thuật ngữ Marketing hỗn hợp. Một nhà tiếp thị nổi tiếng, E. Jerome McCarthy, đề nghị phân loại theo 4P năm 1960, mà nay đã được sử dụng rộng rãi. Tuy nhiên, trong marketing dịch vụ, 4P đã được mở rộng thành 7P hoặc 8P nhắm vào các bản chất khác nhau của dịch vụ.

Marketing du lịch 8P bao gồm: sản phẩm (product), giá (price), phân phối (place), con người ( people), quy trình ( process), đối tác (partnership), thương hiệu và logo (package), xúc tiến (promotion).

Sản phẩm (product): Một đối tượng hữu hình hoặc một dịch vụ vô hình đó là khối lượng sản xuất hoặc sản xuất trên quy mô lớn với một khối lượng cụ thể của đơn vị. Sản phẩm vô hình là dịch vụ như ngành du lịch và các ngành công nghiệp khách sạn, resort hoặc mã số các sản phẩm như nạp điện thoại di động và tín dụng.

Price (Giá cả): Giá bán là chi phí khách hàng phải bỏ ra để đổi lấy sản phẩm hay dịch vụ của nhà cung cấp. Nó được xác định bởi một số yếu tố trong đó có thị phần, cạnh tranh, chi phí nguyên liệu, nhận dạng sản phẩm và giá trị cảm nhận của khách hàng với sản phẩm. Việc định giá trong một môi trường cạnh tranh không những vô cùng quan trọng mà còn mang tính thách thức. Nếu đặt giá quá thấp, nhà cung cấp sẽ phải tăng số lượng bán trên đơn vị sản phẩm theo chi phí để có lợi nhuận. Nếu đặt giá quá cao, khách hàng sẽ dần chuyển sang đối thủ cạnh tranh. Quyết định về giá bao gồm điểm giá, giá niêm yết, chiết khấu, thời kỳ thanh toán,…

Place (Phân phối, địa điểm): việc lựa chọn địa điểm, kênh phân phối sản phẩm, dịch vụ mà doanh nghiệp lựa chọn chiếm phần lớn hiệu suất trong kết quả doanh thu kinh doanh. Đây là một yếu tố khác tạo ra giá trị cho khách hàng. Không ai lại đi hàng chục cây số để đến một nhà hàng dùng bữa, vì vậy địa điểm phù hợp sẽ tạo sự tiện lợi và giúp khách hàng tiết kiệm thời gian. Một nguyên tắc là vị trí càng gần khách hàng thì khả năng khách hàng đến sử dụng dịch vụ càng cao.

People (Con người): Đây là yếu tố hàng đầu của marketing 8P dịch vụ du lịch. Con người tạo ra sản phẩm, tạo ra dịch vụ và cũng chính con người ảnh hưởng tốt, xấu đến kết quả sự việc. Bởi đây là yếu tố mang tầm quyết định chủ chốt do đó việc tuyển chọn, đào tạo nhân sự luôn là mối quan tâm hàng đầu của tất cả doanh nghiệp.

Process (Quy trình): Trước tiên cần phải đảm bảo chất lượng sản phẩm cung cấp phải đồng nhất và bảo đảm, đồng thời tiêu chuẩn dịch vụ cũng cần thực hiện theo quy trình đồng bộ ở tất cả các địa điểm, kênh phân phối thuộc thương hiệu công ty. Thực hiện tốt quy trình này sẽ giảm thiểu được các sai sót, phối hợp hiệu quả cung ứng sẽ thu về phản ứng tốt từ phía khách hàng. Đây là yếu tố được phản ánh rõ ràng nhất trong các yếu tố thuộc 8P trong marketing dịch vụ du lịch.

Package (Nhãn hiệu, logo): Đối với khách hàng sản phẩm tuyệt hảo là không đủ. Thương hiệu, nhãn hiệu cũng phải tuyệt hảo ở cấp độ trải nghiệm của khách hàng. Đối với các khách hàng, không chỉ hai yếu tố trên tạo ấn tượng với họ, sự tương xứng giữa giá cả và giá trị cũng rất quan trọng.

Parnership (Đối tác): Quan hệ giữa resort và các đối tác là các công ty lữ hành rất quan trọng trong việc xây dựng thương hiệu, đóng vai trò rất quan trọng trong việc tạo nên hình ảnh cho thương hiệu và định hình nhận thức của xã hội về resort. Nó cũng giúp truyền đi những thông điệp và các đặc trưng quan trọng trong việc tạo lập tính cách, hình ảnh và giá trị cảm xúc của thương hiệu mà các phương tiện khác và các chữ P khác không thể thực hiện được.

Promotion (Quảng cáo): các cách thức, các kênh tiếp cận khách hàng nhằm giới thiệu, quảng bá sản phẩm, dịch vụ của resort. Và theo sự phát triển xã hội, khi phương pháp và kênh tiếp thị hiện tại không còn thịnh hành thì cần phải xây dựng chiến lược mới. Khóa luận: Phân tích hoạt động marketing của Bavico resort & spa.

Bên cạnh đó việc thực hiên marketing du lịch dịch vụ còn phụ thuộc vào môi trường dịch vụ của resort. Đó là một yếu tố khác ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng. Đặc điểm của dịch vụ là sự trừu tượng nên khách hàng thường phải tìm các yếu tố “hữu hình” khác để quy chuyển trong việc đánh giá.

Môi trường marketing của tổ chức du lịch

  • Môi trường vi mô

Môi trường vi mô của doanh nghiệp du lịch là phân tích 6 môi trường thành phần bao gồm: nhà cung ứng, bản thân doanh nghiệp, đối thủ cạnh tranh, trung gian marketing, khách du lịch, dư luận của các nhóm lợi ích.

Nhà cung ứng: Là tổ chức, cá nhân được xã hội cho phép cung cấp các nguồn lực cần thiết cho doanh nghiệp và các đối thủ cạnh tranh, tạo ra sản phẩm và các dịch vụ du lịch. Tất cả những người tham gia vào việc cung cấp nguồn lực trong du lịch và ngoài du lịch đều được coi là nhà cung ứng của doanh nghiệp du lịch.

Bản thân doanh nghiệp: Gồm các bộ phận như lãnh đạo, bộ phận sản xuất, bộ phận nhân lực, bộ phận tài chính, bộ phận kế toán, bộ phận marketing… Trong đó cần tập trung đến các mục tiêu chiến lược marketing, tổ chức bộ máy marketing, các hoạt động marketing trong tổ chức, chính sách marketing mix, từ đó xác định các điểm mạnh, điểm yếu của doanh nghiệp.

Đối thủ cạnh tranh: Phân tích đối thủ cạnh tranh, bao gồm phân tích cạnh tranh hiện tại, cạnh tranh tiểm năng, cạnh tranh của sản phẩm thay thế.

Trung gian marketing: là nhóm chuyên môn hóa trực tiếp hoặc gián tiếp tiêu thụ sản phẩm của tổ chức du lịch, giúp cho doanh nghiệp thực hiện các chiến lược và mục tiêu marketing. trung gian thị trường du lịch bao gồm các trung gian phân phối, đại lý dịch vụ marketing và trung gian markreting.

Khách du lịch: Là người tiêu dùng cuối cùng. Đây là yếu tố dễ nhận thấy cơ hội hay nguy cơ cho tổ chức du lịch. Khi phân tích khách du lịch phải làm rõ số lượng khách du lịch hiện tại và từ đâu đến.

Dư luận của các nhóm lợi ích (còn gọi là dư luận xã hội): Đây là chính kiến của một nhóm bất kỳ trước các quyết định này có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến lợi ích của nhóm. Khóa luận: Phân tích hoạt động marketing của Bavico resort & spa.

  • Môi trường vĩ mô

Môi trường vĩ mô của tổ chức doanh nghiệp du lịch là phân tích 6 môi trường thành phần: Nhân khẩu, tự nhiên, công nghệ, chính trị – luật pháp và văn hóa.

Môi trường nhân khẩu: Đây là nội dung đầu tiên mà người làm marketing phải quan tâm, bởi thị trường là do con người hợp lại mà thành. Cần phải chú ý đến các xu thế nhân khẩu sau đây: Mức tăng (giảm) dân số, tỷ lệ sinh đẻ, hiện tượng già hóa dân cư…

Môi trường kinh tế: Sức mua (cầu thị trường) phụ thuộc và chịu sự quyết định của thu nhập và giá cả. Nhà phân tích cần chú ý đến đến các nội dung tăng trưởng kinh tế, cơ cấu kinh tế và phân phối thu thập…

Môi trường tự nhiên: Khi đề cập đến môi trường tự nhiên bao gồm vị trí, địa hình, thời tiết, khí hậu, động thực vật, nguồn nước, sự gia tăng ô nhiễm môi trường. Những điều này không những chỉ ra tính hấp dẫn của tài nguyên du lịch đối với khách mà còn làm rõ sự thuận lợi hay khó khăn của các yếu tố đầu vào.

Môi trường chính trị – luật pháp: Đây là nội dung không thể xem nhẹ khi nói đên môi trường vĩ mô. Ngành du lịch là ngành rất nhạy cảm với các sự kiện như ổn định chính trị, thể chế chính trị, quan hệ quốc tế, đường lối đối ngoại.

Môi trường công nghệ: Là cơ sở quan trọng để nâng cao vị thế cạnh tranh của tổ chức (doanh nghiệp) du lịch. Dựa trên sự phát triển của tri thức, sử dụng mạng phát triển dữ liệu điểm đến… Giúp doanh nghiệp du lịch quyết định chính sách đầu tư thích hợp để tạo ra lợi thế cạnh tranh.

Môi trường văn hóa: Là cơ sở để tạo ra các sản phẩm du lịch và tìm hiểu hành vi tiêu dùng của khách du lịch. Dựa trên các chuẩn mực và giá trị văn hóa, ngôn ngữ, tôn giáo, sắc tộc… các giá trị văn hóa cần tập trung các khía cạnh về thái độ của con người đối với bản thân mình, thái độ trong các mối quan hệ giữa con người với nhau.

1.1.4. Chức năng, vai trò và tầm quan trọng của hoạt động marketing đối với resort

  • Chức năng của hoạt động marketing đối với resort Khóa luận: Phân tích hoạt động marketing của Bavico resort & spa.

Ngày nay không một doanh nghiệp nào bắt tay vào kinh doanh lại không muốn gắn kinh doanh của mình với thị trường. Không còn thời, các doanh nghiệp hoạt động sản xuất theo hệ thống chỉ tiêu pháp lệnh. mà hoạt động theo cơ chế thị trường tự do canh tranh do đó hoạt động marketing tồn tại và được xem như là hoạt động tất yếu của mỗi doanh nghiệp.

Hoạt động marketing trong du lịch hiện nay đã trở thành một tổng hợp các phương pháp quảng cáo du lịch ngày càng hoàn chỉnh để sử dụng vào việc đầu tư và cải tạo những thị trường du lịch, đặc biệt là những thị trường giàu tiềm năng. Marketing đã thực sự trở nên cần thiết hơn bao giờ hết để đáp ứng nhu cầu đi du lịch của mọi người.

Hoạt động marketing giữ một chức năng độc lập đối với các chức năng khác của doanh nghiệp. Nó là đầu mối mọi hoạt động của doanh nghiệp với thị trường, đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp hướng theo thị trường, lấy thị trường làm cơ sở cho mọi quyết định kinh doanh.

Việc thực hiện hoạt động marketing trong kinh doanh là vô cùng cần thiết vì nó giúp nhà kinh doanh xác định được thị trường, khảo sát thị trường, phân tích nhu cầu và dự đoán triển vọng trong tương lai. Từ đó tìm ra phương hướng kích thích cải tiến sản xuất để thích nghi với biến động của thị trường và khách hàng nhằm thỏa mãn ngày càng cao nhu cầu khách hàng. Tăng cường hiệu quả hoạt động kinh doanh.

  • Vai trò của hoạt động marketing đối với resort

Với một nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển, để đáp ứng nhu cầu của khách hàng một cách tốt nhất thì cần có khả năng cạnh tranh cao. Cạnh tranh vừa là động lực thúc đẩy, vừa là công cụ đào thải, chọn lựa khắt khe của thị trường. Vì vậy, muốn tồn tại và phát triển các resort phải định hướng theo thị trường một cách năng động, linh hoạt. Khi khách hàng trở thành người phán quyết cuối cùng đối với sự sống còn của resort thì các resort phải nhận thức được vai trò của khách hàng. Lợi nhuận chỉ thu được khi làm hài lòng, thoả mãn nhu cầu khách hàng và khi đó hoạt động marketing trở thành yếu tố then chốt để đi đến thành công của resort. Khóa luận: Phân tích hoạt động marketing của Bavico resort & spa.

Hoạt động kinh doanh không thể tách khỏi thị trường, nó cũng không hoạt động một cách đơn lẻ mà diễn ra trong quan hệ với thị trường, với môi trường bên ngoài của resort. Do vậy bên cạnh các chức năng như: tài chính, sản xuất, quản trị nhân sự hoạt động marketing trong doanh nghiệp đóng vai trò quyết định đến vị trí của doanh nghiệp trên thị trường.

Hoạt động marketing giúp cho doanh nghiệp hoạt động nhịp nhàng, không bị ngưng trệ, nắm bắt được thị hiếu nhu cầu của khách hàng đồng thời xác định vị trí của doanh nghiệp trên thị trường.

Hoạt động marketing làm thúc đẩy nhu cầu người tiêu dùng cho nên nhiệm vụ cơ bản đối với marketing là sản sinh ra nhiệt tình của con người tiêu dùng đối với sản phẩm. dịch vụ.

Hoạt động marketing làm thõa mãn nhu cầu mong muốn của người tiêu dùng và tạo ra những sản phẩm và dịch vụ hiệu quả với mức giá mà người tiêu dùng có thể thanh toán được.

  • Tầm quan trọng của hoạt động marketing đối với resort

Ngày nay bất kỳ doanh nghiệp nào muốn thành công đều phải đặt nhiệm vụ marketing lên hàng đầu bên cạnh các hoạt động sản xuất sản phẩm hay cải tiên chất lượng dịch vụ. Lịch sử phát triển của các dịch vụ du lịch nghĩ dưỡng ngày càng phát triển, trải qua quá trình thay đổi quan trọng và có thế nói rằng hoạt động marketing là hoạt động mang tính quyết định trong việc đương đầu với những thay đổi đó.

Với bất kỳ lĩnh vực kinh doanh nào thì khả năng đáp ứng tốt được nhu cầu của thị trường, tạo ra những sản phẩm đáp ứng chính xác nhu cầu của thị trường là yếu tố quyết định sự thành công của tổ chức kinh doanh. Để thõa mãn tốt nhu cầu của khách hàng cần tiến hành khuếch trương, quảng bá sản phẩm của mình để thu hút khách. Hơn thế việc thực hiện tốt hoạt động marketing cũng là đặc tính quan trọng trong việc thu hút khách ở xa các sản phẩm dịch vụ.

Bên cạnh đó sức ép cạnh tranh trong thời buổi kinh tế thị trường càng chứng tỏ việc dự trù các chiến lược marketing là một công việc cần thiết và có ý nghĩa sống còn với doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch. Các resort phải đối phó với cạnh tranh trong ngành, sản phẩm dịch vụ không phải là một sản phẩm thiết yếu, vì thế các du khách có thể dễ dàng từ bỏ quyết định đi du lịch của mình trước sự hấp dẫn của các ngành khác (điện ảnh, thời trang, tiết kiệm, v.v…) Hơn nữa, số lượng các resort mọc lên ngày càng tăng do các doanh nghiệp lớn đầu tư ở lĩnh vực du lịch dịch vụ mong muốn chuyển sang kinh doanh trong lĩnh vực này vì đây là lĩnh vực vốn được tiếng là lợi nhuận cao. Nhờ đó việc hoạt động marketing là vô cùng quan trọng đối với các resort. Nó có thế giúp các nhà quản trị tránh được các rủi ro, nắm bắt được thị hiếu của khách hàng để nâng cáo lợi nhuận. Ngoài ra hoạt động marketing còn đóng vai trò cầu nối giữa resort với khách hàng và resort với kênh phân phối. Thông qua hoạt động marketing, đơn vị kinh doanh dịch vụ có thể hiểu rõ về bản thân mình và đối thủ cạnh tranh, marketing cũng là hạt nhân trong việc lôi cuốn thu hút khách đến tiêu dùng sản phẩm của resort. Nhờ có hoạt động marketing mà các resort có thể tránh được nhiều rủi ro, nắm bắt được nhu cầu thị hiếu của khách hàng để nâng cao lợi nhuận.

Ngoài ra, hoạt động marketing còn đóng vai trò như cầu nối giữa khách hàng với khách sạn. Thông qua hoạt động marketing, đơn vị kinh doanh dịch vụ có thể hiểu rõ về bản thân mình và đối thủ cạnh tranh. Hoạt động marketing cũng là hạt nhân trong việc lôi cuốn thu hút khách đến tiêu dùng sản phẩm của resort. Vì những lý do trên mà không ai có thể phủ nhận vai trò quan trọng của hoạt động marketing đối với hoạt động kinh doanh của một resort.

1.2. Cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu Khóa luận: Phân tích hoạt động marketing của Bavico resort & spa.

1.2.1. Tình hình phát triển của ngành dịch vụ du lịch ngắn ngày ở Thừa Thiên Huế

  • Tình hình du lịch tỉnh Thừa Thiên Huế

Trong xã hội hiện nay, du lịch trở thành một nhu cầu không thể thiếu trong đời sống văn hóa – xã hội. Bên cạnh đó, du lịch được xem là một trong những ngành kinh tế quan trọng hàng đầu vì những lợi ích to lớn về kinh tế – xã hội mà nó đem lại. Nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, đã xem du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đẩy mạnh tăng trưởng và phát triển xã hội. Sở hữu nguồn tài nguyên thiên nhiên và nhân văn đa dạng, Thừa Thiên Huế thật sự là vùng đất của du lịch. Và du lịch là một ngành kinh tế quan trọng ở Thừa Thiên Huế, du lịch đã có các bước phát triển mạnh mẽ và đạt nhiều thành tựu to lớn trên nhiều mặt kinh tế – xã hội, góp phần cải thiện đời sống người dân, đồng thời giới thiệu và quảng bá hình ảnh Huế, con người Huế đến với bạn bè trong và ngoài nước. Du lịch văn hóa gần đây được xem là loại sản phẩm đặc thù của các nước đang phát triển, thu hút nhiều du khách quốc tế. Du lịch văn hóa là xu hướng của nhiều nước và loại hình này rất phù hợp với bối cảnh của nước ta.

Hội tụ những giá trị văn hóa-lịch sử vật thể và phi vật thể được công nhận là “di sản văn hóa thế giới” có nhiều thắng cảnh thiên nhiên đẹp cả rừng và bờ biển… Thừa Thiên Huế có nhiều ưu thế đặc biệt để phát triển du lịch. Trong cách nhìn của nhiều người, thế mạnh phát triển dịch vụ của Thừa Thiên Huế được hiểu chính là du lịch và trong thực tế, hiệu quả mà ngành du lịch mang lại cũng đã đáp ứng được kỳ vọng đó. Tính đến năm 2024, tổng lượng khách du lịch đến Thừa Thiên Huế đạt 3.3 triệu lượt khách, tăng 4,21 % so với năm 2023, trong đó lượt khách lưu trú đạt 1.74 triệu lượt, tăng 4,06%, trong đó khách quốc tế đạt 728 ngàn lượt khách, ngày lưu trú đạt 2 ngày và doanh thu ước tính đạt được 3.203 tỷ đồng, tăng 7,75 %.

Trong năm tới, du lịch Thừa Thiên Huế phấn đấu đạt khoảng 3,5 – 3,7 triệu lượt khách, tăng khoảng 10% -12% so với năm 2024 (trong đó, khách quốc tế chiếm 45% – 50%); khách lưu trú kỳ vọng đạt khoảng 2,1 – 2,2 triệu lượt, tăng khoảng 15% so với cùng kỳ. Doanh thu tăng khoảng 15%, ước đạt 3.700 – 3.800 tỷ đồng. Dự báo ngành du lịch Huế sẽ triển khai nhiều nhiệm vụ và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, như: triển khai đồng bộ các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật, tập trung phát triển và nâng cao chất lượng sản phẩm, đẩy mạnh công tác xúc tiến quảng bá du lịch, chú trọng đào tạo, phát triển nguồn nhân lực du lịch, hoàn thiện môi trường du lịch và cải cách, tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch, dịch vụ… Thừa Thiên Huế từ trước đến nay luôn được đánh giá là nơi hội tụ đầy đủ các yếu tố để không chỉ trở thành trung tâm văn hóa, ẩm thực đặc sắc của cả nước mà còn cả về du lịch. Làm mới các sản phẩm du lịch di sản, kết nối với các loại hình du lịch, tăng cường các công tác quảng bá cũng như đào tạo nguồn nhân lực tại chỗ, tạo những điểm nhấn riêng, đặc sắc của Huế…, đó là những việc làm cần thiết và trước mắt để phát triển du lịch Thừa Thiên Huế.

Nhưng hiện nay, việc khai thác, phát triển những giá trị vốn có vẫn chưa tương xứng với tiềm năng của tỉnh. Nhằm tạo bước đột phá Huế trở thành thành phố “di sản” theo nguyên lý cốt lõi là sụ kết hợp hài hòa giữa cái xưa và cái mới, giữa truyền thống và hiện đại, nâng cấp đẳng cấp quốc tế của thương hiệu “Điểm đến 05 di sản”, UBND tỉnh Thừa Thiên Huế đã ban hành Nghị quyết số 03-NQ/TU về phát triển du lịch, dịch vụ Thừa Thiên Huế giai đoạn 2024 – 2020 và tầm nhìn đến năm 2030. Nghị quyết ra đời đã trở thành kim chỉ nam và tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động của du lịch Thừa Thiên Huế trong năm 2025 và các năm về sau. Khóa luận: Phân tích hoạt động marketing của Bavico resort & spa.

Bảng 1: Tình hình du lịch tỉnh Thừa Thiên Huế qua 3 năm 2022-2024

  • Tình hình kinh doanh khách sạn resort tại Thừa Thiên Huế

Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các ngành kinh tế khác thì du lịch đang dần khẳng định vị thế là ngành kinh tế mũi nhọn trong xu hướng phát triển kinh tế của nước ta nói chung và của Tỉnh Thừa Thiên Huế nói riêng. Với sự quan tâm và chỉ đạo kịp thời từ trung ương đến các cấp lãnh đạo của Tỉnh nên ngành du lịch Tỉnh Thừa Thiên Huế đã không ngừng phát triển và đạt được những thành tựu nổi bật. Du lịch Huế đã từng bước đa dạng hóa các sản phẩm du lịch, không chỉ dừng lại ở việc khai thác các tour du lịch văn hóa thuần túy mà còn tập trung mở rộng nhiều loại hình du lịch văn hóa chất lượng cao kết hợp du lịch biển, du lịch sinh thái, thể thao mạo hiểm, nghỉ dưỡng, tỉnh Thừa Thiên Huế đã tập trung phát triển du lịch theo hướng bền vững, trên cơ sở giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống, bảo vệ tốt môi trường và cảnh quan. Trong thời gian qua, tỉnh Thừa Thừa Huế đã có những đầu tư đáng kể cho việc phát triển du lịch tỉnh nhà. Bằng nhiều chương trình quảng bá du lịch như Festival Huế, Lăng Cô huyền thoại biển, nhiều khu du lịch đã được du khách biết đến như du lịch biển Lăng Cô, du lịch rừng nguyên sinh Bạch Mã hay du lịch nghỉ dưỡng nước nóng Mỹ An, Thanh Tân, du lịch sinh thái Nam Đông, đầm phá Tam Giang, du lịch tâm linh phía tây nam thành phố, du lịch cộng đồng tại A Lưới, Phước Tích, du lịch tìm hiểu văn hóa ẩm thực Huế… đã làm tăng khả năng thu hút khách du lịch đến Huế.

Với những tiềm năng du lịch tự nhiên và nhân văn phong phú, hấp dẫn, với quần thể di tích cố đô và nhã nhạc cung đình Huế được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa của nhân loại, Thừa Thiên Huế đã xác định và nhận thức được thế mạnh tiềm năng du lịch tự nhiên từ đó hoạt động kinh doanh khách sạn, resort, dịch vụ lưu trú phát triển. Tính đến đầu năm 2024, tổng số khách sạn, resort của tỉnh Thừa Thiên Huế đã đặt 325 cơ sở , trong đó có 7 khách sạn, resort đạt chuẩn 5 sao và 29 khách san, resort đạt chuẩn 4 sao. Trong tương lai, Huế sẽ có nhiều dự án phát triển kinh doanh du lịch có quy mô lớn, đầu tư phát triển đô thị theo định hướng “đô thị di sản, văn hóa, sinh thái, cảnh quan và thân thiện với môi trường”. Bên cạnh đó tỉnh Thừa Thiên Huế quyết tâm đầu tư xây dựng và phát triển đô thị Huế, áp dụng các chế chính sách đặc thù cho di tích Huế, cho phép kinh doanh Casino dành cho người nước ngoài tại Khu nghỉ dưỡng Laguna Lăng Cô Huế, nâng cấp, mở rộng Cảng Hàng không quốc tế Phú Bài, bổ sung quy hoạch một số sân golf dọc biển, quan tâm định hướng các nhà đầu tư chiến lược đến đầu tư trên địa bàn tỉnh, góp phần tạo sức bật cho địa phương, nhất là đối với các dự án trọng điểm của tỉnh… Cùng với đó là việc khắc phục làm sạch môi trường biển, tiếp tục có chính sách hỗ trợ kịp thời cho người dân, chính sách đối với lĩnh vực du lịch biển, hỗ trợ đầu tư hạ tầng phát triển công nghiệp vùng ven biển, đầm phá, mở ra triển vọng phát triển trong một giai đoạn mới, hứa hẹn khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên du lịch phong phú của địa phương.

1.2.2. Các nghiên cứu và mô hình có liên quan Khóa luận: Phân tích hoạt động marketing của Bavico resort & spa.

  • Các đề tài nghiên cứu liên quan

Thuật ngữ marketing trong những năm gần đây đã khá quen thuộc đối với các nhà nghiên cứu trong nước cũng như trên thế giới các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch cũng đang ngày càng nhận thức rõ hơn tầm quan trọng của vấn đề này đối với sự tồn tại của doanh nghiệp mình. Dưới đây, nghiên cứu sẽ đề cập đến một số công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước nổi bật và có liên quan với đề tài này.

Đối với các công trình nghiên cứu ở trong nước, nghiên cứu nhận thấy có một số đề tài nghiên cứu liên quan, rất cần thiết trong việc xây dựng hướng nghiên cứu cho đề tài như:

  • Chiến lược marketing tại hội an Beach Resort (Huỳnh thị Phương Giang, NHD: Lê Văn Huy – Đại học đà nẵng – 2020):

Đề tài chủ yếu hướng đến việc hình thành các chiến lược marketing trong lĩnh vực kinh doanh resort. Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu: Phương pháp thống kê, phương pháp phân tích, phương pháp so sánh đồng thời cũng dựa vào các đinh hướng kinh tế của chính phủ và xuất phát thực tiễn để làm sáng tỏ các vấn đề nghiên cứu. Các chiến lược marketing đề cập đến là phân đoạn thị trường, sáng tạo giá trị, cung ứng giá trị, truyền thông giá trị và định vị. Bên cạnh đó đề tài đã đưa ra các cơ hội từ tự nhiên, tài nguyên môi trường, điểm mạnh, điểm yếu và thách thức của resort, các định hướng mục tiêu kinh doanh cho tương lai.

  • Phân tích hoạt động marketing mix Công ty xăng dầu Bến tre:

Đề tài nêu lên được tầm quan trọng của xăng dầu trong thời đại ngày nay và đề tài đã dựa vào các cơ sở lý luận là các khái niệm về marketing. Tuy nhiên điểm thiếu sót là đã không đưa ra các cơ sở thực tiễn. Đề tài chủ yếu tập trung phân tích marketing mix (4p) và mô hình SWOT từ đó đưa ra các chiến lược kinh doanh.

1.2.3. Mô hình đề xuất Khóa luận: Phân tích hoạt động marketing của Bavico resort & spa.

Qua quá trình thực tập tại resort và tham khảo từ các tài liệu liên quan đến marketing du lịch và các đề tài có liên quan nên đã quyết định chon mô hình sử dụng cho việc nghiên cứu là mô hình 8P của Marketing du lịch. Bên cạnh đó còn phân tích thêm về nguồn nhân lực; phương pháp thu thập và xử lý thông tin; các chiến lược, chính sách mà công ty áp dụng cho khách hàng và đối tác; ý nghĩa thực tiễn của hoạt động marketing và đối thủ cạnh tranh, thị trường, khách hàng của resort.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>> Khóa luận: Thực trạng hoạt động marketing Bavico resort & spa

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Góp ý
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993