Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Thực tiễn nhượng quyền kinh doanh ở doanh nghiệp hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Khóa luận: Thực tiễn hoạt động nhượng quyền kinh doanh ở các doanh nghiệp Việt Nam trong thời gian qua dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
Nội dung chính
I: Các cơ sở pháp lý điều chỉnh hoạt động nhượng quyền kinh doanh
1. Kinh nghiệm pháp luật một số nước trong việc qui định về nhượng quyền kinh doanh
Điều cốt lõi của pháp lý trong nhượng quyền chính là hợp đồng nhượng quyền. Hợp đồng này thể hiện những cam kết đòi hỏi bên nhượng quyền và bên nhận quyền phải tuân theo khi tham gia nhượng quyền kinh doanh.
Hợp đồng nhượng quyền kinh doanh, ngoài những nội dung cơ bản của một hợp đồng thương mại thường có các nội dung quan trọng khác như: qui định về các khoản thanh toán hợp đồng nhượng quyền kinh doanh, nội dung quyền thương mại được chuyển nhượng, địa điểm kinh doanh, đào tạo, duy trì tính thống nhất của mạng lưới nhượng quyền kinh doanh…
Để thể hiện các nội dung như trên, các bên ký kết hợp đồng nhượng quyền kinh doanh có thể vô tình hoặc cố ý, tạo ra quan hệ thương mại độc quyền, từ đó gây nên những trường hợp cạnh tranh không lành mạnh. Nhằm tránh tình trạng đó, tại những nước có hoạt động nhượng quyền kinh doanh phát triển mạnh, pháp luật luôn cố gắng xây dựng và cập nhật sao cho có thể góp phần tạo hiệu quả tốt nhất cho sự tồn tại và phát triển lâu dài của nhượng quyền kinh doanh.
Sau đây, chúng ta sẽ tìm hiểu một vài kinh nghiệm pháp luật về nhượng quyền kinh doanh ở Hoa Kỳ – thủ đô của nhượng quyền kinh doanh trên thế giới và ở các nước châu Âu khác. Trên cơ sở đó hiểu và rút ra những bài học trong việc xây dựng một hành lang pháp lý ở Việt Nam cho hoạt động nhượng quyền kinh doanh.
1.2. Pháp luật Hoa Kỳ về nhượng quyền kinh doanh
Hệ thống pháp luật Hoa Kỳ là hệ thống luật bất thành văn (common law). Việc xét xử không căn cứ trên Bộ luật hoặc Luật mà dựa theo những án lệ đã có từ trước. Pháp luật qui định về nhượng quyền kinh doanh ở Hoa Kỳ cũng dựa trên những án lệ và hợp đồng mẫu về nhượng quyền kinh doanh. Khóa luận: Thực tiễn nhượng quyền kinh doanh ở doanh nghiệp.
Trong hợp đồng nhượng quyền kinh doanh luôn luôn có điều khoản về quyền thương mại được chuyển nhượng, trong đó qui định nghĩa vụ của bên nhượng quyền phải giao cho bên nhận quyền quyền sử dụng một số đối tượng thuộc sở hữu công nghiệp như nhãn hiệu hàng hóa (thương hiệu), bí mật kinh doanh, bí quyết kỹ thuật… Điều khoản này dẫn đến một trong các nghĩa vụ của bên nhượng quyền là đảm bảo quyền sở hữu trí tuệ đối với các đối tượng sở hữu công nghiệp được chuyển giao và bảo vệ quyền lợi của các bên nhận quyền trước bên thứ ba, nghĩa là loại bỏ sự cạnh tranh của bên thứ ba đối với các đối tượng sở hữu công nghiệp. Về vấn đề này, hợp đồng nhượng quyền kinh doanh mẫu trong lĩnh vực nhà hàng ăn nhanh ở Hoa Kỳ có các điều khoản qui định như sau:
Bên nhượng quyền chuyển giao cho bên nhận quyền, trong thời hạn hợp đồng, quyền sử dụng, tại các địa điểm bán hàng và trong các hoạt động của nhà hàng này, các tên thương mại, cùng với các dấu hiệu khác, các biểu tượng và nhãn hiệu gắn liền với các nhà hàng nhượng quyền, mà có thể đôi khi chúng được bên nhượng quyền cho phép, và uy tín đối với khách hàng có được từ việc sử dụng trước của bên nhượng quyền.
Bên nhận quyền thừa nhận quyền độc nhất (sole right) và độc quyền (exclusive right) của bên nhượng quyền trong việc sử dụng nhãn hiệu, tên thương mại và bí mật thương mại được nêu trong hợp đồng này; bên nhận quyền đồng ý và đảm bảo rằng bên nhận quyền sẽ không trực tiếp hoặc gián tiếp phản đối, hoặc hỗ trợ việc phản đối, giá trị hoặc quyền sở hữu nhãn hiệu, hoặc không thực hiện bất cứ hành động nào để bác bỏ quyền khiếu nại của bên nhượng quyền, cả trong thời hạn hợp đồng, lẫn sau khi hết hạn hợp đồng.
Để duy trì được chất lượng của hệ thống, bên nhượng quyền thường có những điều khoản trong đó ràng buộc bên nhận quyền phải sử dụng nguồn cung cấp là bên nhượng quyền hoặc do bên nhượng quyền chỉ định. Điều khoản này sẽ rất dễ dẫn tới tranh chấp về việc vi phạm luật chống độc quyền. Khóa luận: Thực tiễn nhượng quyền kinh doanh ở doanh nghiệp.
Trong vụ kiện giữa bên nhận quyền Siegel và bên nhượng quyền Chicken Delight năm 1971, công ty Chicken Delight đã đề nghị với phía Siegel rằng nếu muốn trở thành đối tác nhận quyền của công ty Chicken Delight thì phải mua gia vị đặc biệt, thiết bị nấu ăn đặc biệt và bao bì của công ty Chicken Delight. Siegel đã thắng kiện trước công ty Chicken Delight vì theo phán quyết của Toà án vùng 9 Hoa Kỳ, các điều kiện trong hợp đồng nhượng quyền kinh doanh giữa hai bên đã cấu thành một thoả thuận mang tính ràng buộc, do đó vi phạm pháp luật chống độc quyền của Hoa Kỳ. Theo án lệ này, những điều khoản về thực hiện bí quyết của hệ thống nhượng quyền bị coi là vi phạm pháp luật chống độc quyền, do đó hợp đồng nhượng quyền kinh doanh trở thành vô hiệu.
Tuy nhiên, nếu bên nhượng quyền bắt buộc bên nhận quyền phải mua sản phẩm của bên nhượng quyền thì lại không phải là hành vi độc quyền bán và không vi phạm luật chống độc quyền. Trong vụ Krehl kiện Baskin-Robbins năm 1982, hiệu kem Baskin-Robbins đòi hỏi bên nhận quyền phải mua kem mang nhãn hiệu Baskin-Robbins. Tòa án Vùng 9 Hoa Kỳ đã ra phán quyết: bất cứ khách hàng nào vào một cửa hiệu của Baskin-Robbins đều có quyền được biết rằng họ đang mua kem của Baskin-Robbins. Do đó, Baskin-Robbins có quyền đòi hỏi bên nhận quyền phải mua kem mang nhãn hiệu Baskin-Robbins.
Như vậy, theo một số án lệ của pháp luật Hoa Kỳ, việc các bên ký kết điều khoản về thực hiện bí quyết của hệ thống nhượng quyền kinh doanh có là độc quyền hay không còn tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể.
Thông thường, theo qui định của hợp đồng nhượng quyền kinh doanh, mỗi bên nhận quyền đều phải tuân thủ sự phân chia thị trường theo quyết định của bên nhượng quyền. Điều khoản về phân chia thị trường thường có hai dạng:
Điều khoản về phân chia khu vực kinh doanh trong đó bên nhượng quyền cấm bên nhận quyền bán hàng hóa ngoài phạm vi của mình, cấm bên nhận quyền mở cửa hiệu thứ hai trong thời hạn hợp đồng và/hoặc sau khi hết hạn hợp đồng dưới bất kỳ hình thức nào, cấm bên nhận quyền mở cửa hiệu có đặc điểm giống hệt hoặc tương tự…
Hợp đồng mẫu về nhượng quyền kinh doanh trong lĩnh vực nhà hàng ăn nhanh của Hoa Kỳ có qui định: “Bên nhận quyền đồng ý rằng trong thời hạn hợp đồng, bên nhận quyền sẽ không kinh doanh bất cứ nhà hàng nào hoặc loại thức ăn đã chế biến nào, giống hệt hoặc tương tự kiểu kinh doanh của bên nhượng quyền. Bên nhận quyền đồng ý rằng trong thời hạn 18 tháng kể từ khi chấm dứt hợp đồng, bên nhận quyền sẽ không thực hiện bất cứ hoạt động kinh doanh nào giống hệt hoặc tương tự như kiểu kinh doanh của bên nhượng quyền, trong một khu vựa có bán kính 5 dặm Anh tính từ các địa điểm bán hàng, nếu không có sự đồng ý từ trước bằng văn bản của bên nhượng quyền”.
Điều khoản về phân chia khách hàng. Điều khoản này được thể hiện ở một số dạng:
- Hợp đồng nhượng quyền kinh doanh có những qui định về nghĩa vụ cơ bản của bên nhượng quyền, theo đó đảm bảo việc không tranh giành khách với bên nhận quyền;
- Cấm bên nhận quyền quảng cáo ngoài phạm vi của mình;
- Bên nhận quyền có nghĩa vụ chỉ bán hàng cho người sử dụng cuối cùng hoặc các bên nhận quyền khác.
1.2. Pháp luật châu Âu về nhượng quyền kinh doanh Khóa luận: Thực tiễn nhượng quyền kinh doanh ở doanh nghiệp.
Theo án lệ cơ bản của Tòa án châu Âu về nhượng quyền kinh doanh, việc hợp đồng nhượng quyền kinh doanh có qui định bên nhận quyền có nghĩa vụ chỉ được bán hàng hóa được qui định theo hợp đồng, ở các địa điểm bán hàng được bố trí và trang trí theo hướng dẫn của bên nhượng quyền là chấp nhận được. Những qui định này nhằm thiết lập sự kiểm soát cực kỳ cần thiết để duy trì tính đặc trưng và uy tín của mạng lưới nhượng quyền kinh doanh.
Về điều khoản phân chia thị trường, hợp đồng nhượng quyền kinh doanh của Vụ Pronuptia năm 1985 (Tòa án châu Âu) qui định:
Cấm bên nhận quyền mở cửa hiệu kinh doanh có đặc điểm giống hệt hoặc tương tự, trong một khu vực mà anh ta có thể cạnh tranh với một thành viên của mạng lưới nhượng quyền kinh doanh, trong thời hạn hợp đồng còn giá trị và trong một thời hạn hợp lý sau khi hết hạn hợp đồng. Theo phán quyết của Tòa án châu Âu thì qui định này có thể được coi là hợp lý với mục đích bảo vệ bí quyết của hệ thống nhượng quyền nhưng vẫn có thể bị coi là thỏa thuận hạn chế cạnh tranh giữa các thành viên của mạng lưới nhượng quyền kinh doanh;
Bên nhận quyền có nghĩa vụ không chuyển giao cửa hiệu của mình cho bên khác, nếu không có sự chấp thuận của bên nhượng quyền. Qui định này nhằm ngăn cản các đối thủ cạnh tranh hưởng lợi một cách gián tiếp từ việc cung cấp bí quyết và sự hỗ trợ của bên nhượng quyền.
2. Các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động nhượng quyền kinh doanh ở Việt Nam Khóa luận: Thực tiễn nhượng quyền kinh doanh ở doanh nghiệp.
Mặc dù đã xuất hiện ở Việt Nam trong khoảng hơn chục năm qua nhưng nhượng quyền kinh doanh chỉ thực sự được qui định trong pháp luật Việt Nam từ Luật Thương mại (sửa đổi) năm 2024 và cũng mới chỉ được đề cập đến trong phạm vi hợp đồng nhượng quyền kinh doanh mà thôi. Hiện nay Bộ Công thương là cơ quan Nhà nước quản lý về nhượng quyền kinh doanh ở Việt Nam.
2.1. Cơ sở pháp lý điều chỉnh hoạt động nhượng quyền kinh doanh ở Việt Nam
Thực chất, hoạt động nhượng quyền kinh doanh đã phần nào được đề cập đến trong các văn bản pháp quy ở Việt Nam trước đây nhưng nằm trong những mục qui định về “hợp đồng cấp phép đặc quyền kinh doanh”. Nhưng những qui định đầu tiên về nhượng quyền kinh doanh ở nước ta lại không bắt nguồn từ các hoạt động thuộc sự điều chỉnh của Bộ Công thương như hiện nay.
Văn bản đầu tiên ghi nhận về nhượng quyền kinh doanh là Thông tư 1254/2018/TT-BKHCNMT do Bộ Khoa học, công nghệ và môi trường ban hành ngày 12/07/2018 nhằm hướng dẫn Nghị định 45/2017/NĐ-CP của Chính phủ về hoạt động chuyển giao công nghệ.
Trong thời gian đầu, khái niệm nhượng quyền kinh doanh vẫn chưa được dùng một cách thống nhất trong các văn bản pháp lý nước ta. Theo đó, việc hiểu và có những qui định nhằm điều chỉnh hoạt động đặc biệt này cũng có không ít điều chồng chéo.
Sau Thông tư 1254 nói trên, nhượng quyền kinh doanh lại được ghi nhận dưới một tên khác là “cấp phép đặc quyền kinh doanh” ở một văn bản có giá trị pháp lý cao hơn là Nghị định 11/2024/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 02/02/2024 qui định chi tiết về chuyển giao công nghệ. Nghị định này ra đời thay thế cho Nghị định 45 đã ban hành trước đó. Hoạt động nhượng quyền kinh doanh tính đến thời điểm này vẫn được xem như là một dạng hoạt động chuyển giao công nghệ và chịu sự chi phối của pháp luật về chuyển giao công nghệ thuộc thẩm quyền quản lý và quyết định của Bộ Khoa học, công nghệ và môi trường. Tuy nhiên, nhượng quyền kinh doanh với những đặc điểm riêng biệt không thể xếp cùng nhóm những hoạt động chuyển giao công nghệ. Chẳng hạn, theo Khoản 1 Điều 7 Nghị định 11 có qui định “bên nhận có quyền cải tiến, phát triển công nghệ được chuyển giao mà không phải thông báo cho bên giao biết trừ trường hợp trong hợp đồng chuyển giao công nghệ các bên có thỏa thuận khác”. Đối với hoạt động chuyển giao công nghệ thì qui định này là rất hợp lý và tiến bộ, nhưng nếu đem áp dụng cho hoạt động nhượng quyền kinh doanh thì lại mâu thuẫn với bản chất và đặc điểm của hoạt động này. Mặt khác, đối tượng của hợp đồng nhượng quyền kinh doanh là quyền thương mại, không thuộc phạm vi điều chỉnh và lĩnh vực của Bộ Khoa học, công nghệ và môi trường. Việc điều chỉnh lại Bộ ngành quản lý cũng như văn bản pháp luật qui định cho nhượng quyền kinh doanh là cần thiết.
Luật Thương mại được sửa đổi năm 2024, có hiệu lực từ ngày 01/01/2025 đã dành riêng Mục 8 để qui định về nhượng quyền kinh doanh, về những vấn đề cơ bản liên quan đến hợp đồng nhượng quyền, quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia, thủ tục đăng ký nhượng quyền. Bằng việc qui định như vậy đã cho thấy rằng nhượng quyền kinh doanh thực sự là một hoạt động thương mại độc lập và có những đặc thù riêng, không thể gán ghép dưới bất kỳ hình thức nào khác. Tuy nhiên, qui định mới về nhượng quyền kinh doanh cũng chỉ mới dừng lại ở văn bản Luật mà chưa có những Nghị định để chi tiết hóa Luật, do vậy vẫn còn khá nhiều vướng mắc trong cách hiểu và cách làm nhượng quyền kinh doanh cho các doanh nghiệp Việt Nam. Ví dụ như vấn đề đăng ký hợp đồng nhượng quyền cần được làm rõ trình tự, thủ tục… nếu đó là hợp đồng được ký kết giữa một bên Việt Nam và một đối tác nước ngoài nhằm tạo thuận lợi trong quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam thông qua kênh nhượng quyền kinh doanh. Khóa luận: Thực tiễn nhượng quyền kinh doanh ở doanh nghiệp.
Như đã phân tích ở trên, nhượng quyền kinh doanh được chia thành hai loại: nhượng quyền kinh doanh thương hiệu và nhượng quyền kinh doanh hệ thống. Vấn đề chuyển nhượng thương hiệu mà thực chất là chuyển nhượng quyền sử dụng công nghiệp đối với thương hiệu là một trong những vấn đề đang được quan tâm rộng rãi xuất phát từ thực tiễn hoạt động nhượng quyền kinh doanh ở Việt Nam hiện nay phần nhiều đang thực hiện theo mô hình này. Về mặt pháp lý, chuyển nhượng quyền sử dụng đối với thương hiệu cũng được qui định ở nhiều văn bản khác nhau.
2.2. Cơ sở pháp lý điều chỉnh vấn đề chuyển nhượng quyền sử dụng thương hiệu
Theo Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ trên thế giới (TRIPS), chủ sở hữu thương hiệu có quyền chuyển nhượng và cấp quyền sử dụng thương hiệu của mình cho người khác theo qui định sau “Các thành viên có thể qui định các điều kiện cấp quyền sử dụng và chuyển nhượng quyền sở hữu thương hiệu, trong đó không được qui định việc cấp quyền sử dụng không tự nguyện đối với thương hiệu, và chủ sở hữu thương hiệu đã đăng ký có quyền chuyển nhượng thương hiệu có hoặc không kèm theo việc chuyển nhượng cơ sở kinh doanh có thương hiệu đó”.
Tại Việt Nam, việc chuyển nhượng quyền sử dụng thương hiệu cũng được ghi nhận trong Bộ luật Dân sự năm 2024. Cụ thể, theo qui định tại Điều 751, chủ sở hữu thương hiệu có quyền cho phép người khác sử dụng thương hiệu của mình, chủ sở hữu quyền sở hữu công nghiệp đối với thương hiệu có quyền chuyển giao một phần hoặc toàn bộ quyền sử dụng thương hiệu của mình cho cá nhân, pháp nhân hoặc chủ thể khác.
Việc chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu hàng hóa phải được thực hiện thông qua hợp đồng bằng văn bản. Hợp đồng này chỉ có giá trị pháp lý khi đã được đăng ký tại Cục Sở hữu trí tuệ. Bên nhận chuyển nhượng có quyền sử dụng thương hiệu của bên nhượng quyền kể từ ngày hợp đồng được đăng ký tại Cục sở hữu trí tuệ trong phạm vi, thời hạn, và với điều kiện ghi trong hợp đồng.
Như vậy, việc chủ sở hữu một thương hiệu đã được đăng ký bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp được phép nhượng quyền sử dụng thương hiệu của mình cho một hay nhiều đối tác khác là hoàn toàn hợp pháp theo luật quốc tế cũng như luật Việt Nam
II. Tình hình nhượng quyền kinh doanh ở các doanh nghiệp việt nam trong thời gian qua Khóa luận: Thực tiễn nhượng quyền kinh doanh ở doanh nghiệp.
1. Tình hình nhượng quyền kinh doanh tại các doanh nghiệp Việt Nam trong thời gian qua
1.1. Hiểu biết của các doanh nghiệp về nhượng quyền kinh doanh và ý nghĩa của nó trong quá trình hội nhập quốc tế
Nếu như trước đây nhượng quyền kinh doanh vẫn còn là một điều xa lạ với giới kinh doanh Việt Nam thì ngày nay có thể nói hầu hết các doanh nghiệp trong nước đã khá quen thuộc với tên gọi này. Tuy nhiên, ngoại trừ những doanh nghiệp đã áp dụng kỹ thuật nhượng quyền kinh doanh thì phần lớn các doanh nghiệp còn lại trên thị trường còn có những cách hiểu rất hạn chế về mô hình này.
Một cuộc điều tra hiểu biết của các doanh nghiệp về nhượng quyền kinh doanh đã có những kết quả đáng ngạc nhiên được trình bày trong bảng 3 dưới đây.
- Bảng 3: Hiểu biết của các doanh nghiệp về khái niệm nhượng quyền kinh doanh
Theo thống kê trên, hơn 57% các doanh nghiệp được điều tra đồng nhất nhượng quyền kinh doanh với hình thức đại lý bán lẻ của công ty. Với những doanh nghiệp này, nhượng quyền kinh doanh chẳng qua chỉ là một cách gọi khác đi, thậm chí là có phần hoa mỹ hơn cho một kiểu kinh doanh đã có từ lâu là đại lý bán lẻ, các cửa hàng giới thiệu, cửa hàng trưng bày sản phẩm của công ty. Điều này chứng tỏ rằng mặc dù đã quen thuộc với tên gọi nhượng quyền kinh doanh nhưng các doanh nghiệp nước ta vẫn chưa được trang bị những nhận thức cơ bản và đúng đắn về mô hình này. Với những hạn chế trong việc nhìn nhận nhượng quyền kinh doanh như vậy, các doanh nghiệp Việt Nam chắc chắn sẽ gặp không ít khó khăn trong việc phát triển nhượng quyền kinh doanh trong nước cũng như ra nước ngoài. Khóa luận: Thực tiễn nhượng quyền kinh doanh ở doanh nghiệp.
Một số doanh nghiệp khác dù có hiểu biết tương đối hơn về nhượng quyền kinh doanh nhưng cũng chỉ dừng lại ở việc cho rằng nhượng quyền kinh doanh là một hình thức cho thuê thương hiệu. Theo đó bên đi thuê thương hiệu được phép kinh doanh và thu lợi từ thương hiệu đó và trả một khoản phí định kỳ hay thường xuyên tùy theo thỏa thuận giữa các bên. Phần lớn các doanh nghiệp được hỏi đều không có khái niệm phân biệt giữa hai loại hình nhượng quyền kinh doanh thương hiệu và nhượng quyền kinh doanh hệ thống. Việc hiểu về nhượng quyền kinh doanh ở các doanh nghiệp Việt Nam vẫn chỉ chủ yếu dựa trên việc quan sát các mô hình nhượng quyền kinh doanh nổi tiếng trên thế giới chứ chưa phải là sự đầu tư nghiên cứu mang tính học thuật.
Cũng có một số doanh nghiệp biết đến nhượng quyền kinh doanh thông qua các tài liệu hướng dẫn kinh doanh ở Việt Nam và trên thế giới. Hơn một phần ba trong số những doanh nghiệp này cho rằng nhượng quyền kinh doanh là một việc một bên cấp quyền kinh doanh sản phẩm, dịch vụ của mình dưới một thương hiệu đã có sẵn của mình cho một bên khác. Cách hiểu này về cơ bản là đúng song lại chưa đầy đủ. Số các doanh nghiệp Việt Nam theo cách hiểu này lại không phải là nhiều.
Cũng theo kết quả điều tra trên, chỉ khoảng 23% các doanh nghiệp được hỏi đưa ra được một cách hiểu đúng và đầy đủ về nhượng quyền kinh doanh. Đây là các doanh nghiệp đã thực hiện nhượng quyền kinh doanh hoặc đang tìm hiểu kỹ càng về nhượng quyền kinh doanh như là một phương thức được lựa chọn trong thời gian tới của doanh nghiệp đó.
Việc am hiểu về nhượng quyền kinh doanh có thể khác nhau nhưng tựu trung lại, sự quan tâm của các doanh nghiệp nước ta đã khiến cho nhượng quyền kinh doanh trở thành một điểm nóng đầy sức hút. Có thể thấy nhượng quyền kinh doanh ở Việt Nam đang phát triển khá mạnh mẽ ở các lĩnh vực kinh doanh thực phẩm, đồ uống, hàng tiêu dùng, thời trang… với các tên tuổi lớn như cà phê Trung Nguyên, cà phê Highland, Phở 24, Phở Vuông, chuỗi cửa hàng HaproMart, hãng thời trang Foci…
1.2. Thực trạng hoạt động nhượng quyền kinh doanh ở các doanh nghiệp Việt Nam trong thời gian qua Khóa luận: Thực tiễn nhượng quyền kinh doanh ở doanh nghiệp.
Theo điều tra của Hội đồng nhượng quyền kinh doanh quốc tế, tính đến năm 2024 Việt Nam đã có hơn 70 hệ thống nhượng quyền trên các lĩnh vực khác nhau, chủ yếu là các hệ thống của các công ty nước ngoài như KFC, Five Star Chicken, Carvel, Jollibee, Dilmah, Quatitea… Bên cạnh đó cũng có những nhà nhượng quyền nội địa tên tuổi như cà phê Trung Nguyên, Phở 24, Phở Vuông, bánh kẹo Kinh Đô…
Số lượng thương hiệu thực hiện nhượng quyền kinh doanh thương hiệu ở nước ta tăng lên một cách hết sức nhanh chóng. Theo thống kê năm 2024, thị trường Việt Nam có khoảng 530 thương hiệu được nhượng quyền.
Năm 2019 là năm đánh dấu sự có mặt của các nhà nhượng quyền khổng lồ trên thế giới ở Việt Nam như Bourbon Group, Lotteria, Medicare… Sau gần 7 năm, các tập đoàn nhượng quyền toàn cầu ngày càng phát triển và nhìn nhận Việt Nam như một thị trường tiềm năng để tiến hành nhượng quyền kinh doanh. Cà phê Trung Nguyên là doanh nghiệp nhượng quyền đầu tiên của Việt Nam bước chân sang các thị trường khác. Nếu như năm 2023 là thời điểm đầu tiên chứng kiến sự thành công của cửa hàng cà phê Trung Nguyên ở Singapore thì sau 3 năm, số lượng cửa hàng nhượng quyền của Trung Nguyên ở nước ngoài đã không ngừng tăng lên, trong khi mạng lưới hơn 1000 cửa hàng trong nước của Trung Nguyên vẫn ngày càng mở rộng.
2. Một số điển hình thành công và thất bại trong nhượng quyền kinh doanh ở Việt Nam Khóa luận: Thực tiễn nhượng quyền kinh doanh ở doanh nghiệp.
2.1. Cà phê Trung Nguyên – người đi tiên phong thành công
Hình ảnh chuỗi các cửa hàng mang biển hiệu cà phê Trung Nguyên giống hệt nhau về bài trớ và thiết kế, tương đương nhau về chất lượng và danh tiếng đó từ trở nên quen thuộc. ở những thành phố lớn, những quán cà phê mang thương hiệu Trung Nguyên đó trở thành gần gũi và là một phần khú cú thể thiếu với người dân.
Đúng như triết lý kinh doanh “cà phê Trung Nguyên khơi nguồn sáng tạo”, điều mà Trung Nguyên tạo được không phải là một sản phẩm hoàn toàn khác lạ, mà là một trào lưu tiêu dùng tại những thị trường mà nó đặt chân đến. Khách hàng đến với các cửa hàng cà phê Trung Nguyên để thưởng thức những loại cà phê phong phú về chủng loại và đặc sắc về hương vị mà Trung Nguyên cung cấp như cà phê sẻ, cà phê chồn, cà phê số 6, số 7, số 8… nhưng đồng thời họ cũng đến để khám phá một phong cách mà chỉ ở Trung Nguyên mới có. Với chiến lược lựa chọn những vị trí đẹp tại những tuyến phố trung tâm, với sự cố gắng duy trì chất lượng đồng nhất ở tất cả các cửa hàng trong hệ thống của mình, Trung Nguyên đã khơi dậy cảm hứng tiêu dùng nơi khách hàng và thuyết phục họ bằng chất lượng ổn định tại tất cả những cửa hàng mang thương hiệu Trung Nguyên.
Cà phê Trung Nguyên được thành lập từ giữa năm 2015 và bắt đầu phát triển cửa hàng nhượng quyền đầu tiên vào tháng 10/2017. Sau gần 10 năm tiến hành nhượng quyền, đến nay hệ thống kinh doanh của Trung Nguyên đã nhân rộng đến hơn 1000 cửa hàng ở 64 tỉnh, thành phố trên cả nước. Hơn 90% trong số các quán cà phê ký hợp đồng nhượng quyền kinh doanh trực tiếp của Trung Nguyên đã ký tiếp hợp đồng với nhà nhượng quyền chính đã chứng tỏ sự thành công của mô hình nhượng quyền ở Trung Nguyên. Thương hiệu Trung Nguyên hiện nay được đánh giá là một trong những thương hiệu mạnh nhất Việt Nam. Ngay từ những năm 2019, một công ty Hồng Kông khi chứng kiến sự tăng trưởng và tiềm năng của mô hình nhượng quyền kinh doanh Trung Nguyên đã định giá thương hiệu Trung Nguyên với mức 3 triệu USD.
Không chỉ vậy, Trung Nguyên là đơn vị nhượng quyền đầu tiên ở Việt Nam đi tiên phong trong việc nhượng quyền ở thị trường nước ngoài. Tháng 9/2020, quán nhượng quyền đầu tiên của Trung Nguyên ở nước ngoài được khai trương tại Tokyo – Nhật Bản. Hiện nay Trung Nguyên đã có mặt ở Singapore, Nhật Bản, Thái Lan, Trung Quốc, Campuchia và vẫn đang có kế hoạch khai thác những thị trường khác trên thế giới. Theo dự kiến, trong năm 2026 này, Trung Nguyên sẽ tiến hành nhượng quyền cho các đối tác tại Đức, Hoa Kỳ và Australia. Khóa luận: Thực tiễn nhượng quyền kinh doanh ở doanh nghiệp.
Sở dĩ Trung Nguyên có thể thành công được ngay từ những ngày đầu tiên bắt tay vào làm nhượng quyền kinh doanh là vì “Trung Nguyên đã kinh doanh một cách không bài bản”, trích theo lời của ông Đặng Lê Nguyên Vũ – chủ tịch Hội đồng công ty cà phê Trung Nguyên. Nói một cách khác là Trung Nguyên đã khéo léo tạo được một cách thức nhượng quyền phù hợp với thị trường Việt Nam vào thời điểm đó, khi mà hầu như chưa có ai quan tâm và biết đến nhượng quyền kinh doanh là cái gì. Chính việc am hiểu thị trường và quyết định không làm nhượng quyền kinh doanh theo mô hình chuẩn, hay thực chất là việc chỉ lựa chọn theo hình thức bên ngoài của nhượng quyền kinh doanh lại là một hướng nghĩ và cách làm hiệu quả nhất mà Trung Nguyên đã tạo ra.
Nhượng quyền mà Trung Nguyên đã ứng dụng từ những ngày đầu mang hơi hướng của loại hình nhượng quyền kinh doanh thương hiệu nhưng lại có sự điều chỉnh nhỏ. Bên nhận quyền chỉ cần trả một số tiền nhỏ để có được biển hiệu Trung Nguyên, và Trung Nguyên sẽ cung cấp cho họ sản phẩm cùng công thức pha chế cà phê. Không đề cập đến những thủ tục pháp lý phức tạp, không có những yêu cầu cao về các khoản phí, không đòi hỏi nhiều cam kết… chiến lược đơn giản hóa đó đã mang lại cho Trung Nguyên khả năng lan tỏa rộng, trở thành một biểu tượng mới trong giới kinh doanh trên cả nước.
Tuy nhiên, sự phát triển của Trung Nguyên không phải là hoàn toàn dễ dàng và bằng phẳng. Chính cách làm sơ khai đó đã khiến Trung Nguyên gặp phải những rắc rối không nhỏ. Sự nhân rộng quá nhanh nhưng lại thiếu kiếm tra thường xuyên về chất lượng một cách thường xuyên và nghiêm ngặt, cùng với sự thiếu đồng nhất trong cách bài trí, phục vụ, và hệ thống sản phẩm cung cấp đã tạo nên những hoài nghi của người tiêu dùng một khi đã mất niềm tin chỉ ở một cửa hàng trong chuỗi hệ thống cà phê Trung Nguyên. Mặt khác, việc phát triển một cách ồ ạt đã vô tình tạo nên ấn tượng về một thương hiệu bình dân ở các quán cà phê Trung Nguyên. Những điều này đã dẫn tới sự đổ vỡ của một số đáng kể những cửa hàng cà phê Trung Nguyên trong năm 2021. Số cửa hàng Trung Nguyên vào thời gian này đã giảm đi chỉ còn một nửa. Thực tế đã chứng minh nhu cầu của khách hàng ngày càng cao hơn, họ không chỉ mua sản phẩm với nghĩa đơn thuần là mua giá trị sử dụng của sản phẩm ấy mà họ còn muốn mua sự hài lòng đối với sản phẩm, điều này chỉ đến từ chất lượng sản phẩm và dịch vụ đi kèm đều tốt. Với yêu cầu đó thì việc nhượng quyền kinh doanh thương hiệu của Trung Nguyên đã phần nào không còn phù hợp nữa.
Nhận thấy được vấn đề trong hệ thống của mình, Trung Nguyên đã nỗ lực thay đổi dù là “hơi chậm và muộn”, theo lời của ông Nguyên Vũ. Để thiết kế lại hệ thống nhượng quyền kinh doanh theo hướng bài bản hơn và chuyên nghiệp hơn, Trung Nguyên bỏ ra 3 triệu đô la Mỹ để nhờ đến một công ty tư vấn nhượng quyền kinh doanh của New Zealand. Những quán cà phê không đạt tiêu chuẩn đã bị xóa khỏi hệ thống, đồng thời những cửa hàng còn lại đều được thiết kế theo một công thức chuẩn. Các yêu cầu của Trung Nguyên đối với bên nhận quyền cũng đã được bổ sung thêm nhiều chi tiết nhằm thúc đẩy hệ thống Trung Nguyên chuyển dần sang nhượng quyền kinh doanh hệ thống.
2.2. Phở 24 – một dấu ấn nhượng quyền ở Việt Nam Khóa luận: Thực tiễn nhượng quyền kinh doanh ở doanh nghiệp.
Ra đời muộn hơn cà phê Trung Nguyên nhưng ngay từ khi xuất hiện trờn thị trường, Phở 24 đó được định vị là một mục chuyển nhượng quyền kinh doanh hệ thống đầu tiên ở Việt Nam được thực hiện một cách bài bản.
Xuất phát từ ý tưởng nâng tầm một nét văn hóa ẩm thực của Việt Nam – một món ăn truyền thống có mặt ở cả 3 miền Bắc Trung Nam, Phở 24 đã ra đời và nhanh chóng được ưa chuộng trên cả nước. Không ít du khách nước ngoài cũng ấn tượng với Phở Việt Nam và do đó không có lý do gì để không mang Phở 24 tới bạn bè thế giới. Thành lập tháng 6/2022 nhưng chỉ hết năm 2023, Phở 24 đã phát triển được 12 cửa hàng nhượng quyền trong cả nước. Hiện nay, công ty đã có 35 cửa hàng trên cả nước và 3 cửa hàng tại nước ngoài (2 cửa hàng ở Indonexia và 1 cửa hàng ở Philippines).
Khác với Trung Nguyên, xác định hướng đi nhượng quyền kinh doanh hệ thống ngay từ khi mới đi vào hoạt động, tiêu chí chọn đối tác nhận quyền của Phở 24 rất nghiêm ngặt. Theo ông Lý Quý Trung, Giám đốc điều hành Công ty An Nam – Phở 24, việc chọn bên nhận quyền là rất quan trọng, phải chọn đối tác có khả năng quản lý, điều hành và quản trị, cũng như phải trung thành với hệ thống. Tiếp nối kết quả đã đạt được, Phở 24 dự kiến có 80 cửa hàng vào năm 2026 và 100 cửa hàng vào năm 2027, đồng thời sẽ Phở 24 sẽ mở rộng mô hình kinh doanh của mình đến Singapore, Malaysia, Thái Lan, Đài Loan, Hồng Kông, Hàn Quốc và Nhật Bản. Khóa luận: Thực tiễn nhượng quyền kinh doanh ở doanh nghiệp.
Doanh thu từ hệ thống nhượng quyền kinh doanh của Phở 24 đến từ doanh thu hoạt động của những cửa hàng thuộc sở hữu 100% của Tập đoàn An Nam – Phở 24 và khoản phí mà các bên nhận quyền phải trả cho nhà nhượng quyền khi tham gia vào hệ thống Phở 24. Khoản phí nhượng quyền này gồm hai phần, phí nhượng quyền ban đầu là 7.000 đô la Mỹ đối với các đối tác nhận quyền trong nước, 12.000 đô la Mỹ đối với các nhà nhận quyền nước ngoài, và khoản phí trả thêm hàng năm với tỉ lệ 3% trên doanh thu của từng cửa hàng nhận quyền.
2.3. Chuỗi cửa hàng bán lẻ điện thoại di động Nettra – một bài học về nhượng quyền kinh doanh
Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đầu tư và Thương mại Hệ thống quốc tế (Nettra) được cấp giấy phép hoạt động từ ngày 16/3/2025 với vốn điều lệ là 150 tỷ đồng. Nettra kinh doanh trong các lĩnh vực cung cấp điện thoại di động, bất động sản, xây dựng hệ thống phân phối bán lẻ. Trong đó, việc đầu tư vào hệ thống bán lẻ điện thoại di động Nettra đã trở thành tâm điểm của sự chú ý trong giới kinh doanh nhượng quyền gần đây.
Mở cửa vào đầu năm 2025, thời điểm mà điện thoại di động đó gần như trở thành nhu cầu thường xuyên và hàng ngày của người dân Việt Nam, Nettra hi vọng rằng sẽ tạo được chỗ đứng như một nhà phân phối lẻ điện thoại di động lớn nhất Việt Nam.
Thực tế những gì Nettra đã tạo được khiến không ít người ngỡ ngàng với hàng loạt các siêu thị điện thoại di động xuất hiện nhanh như vũ bão ở từng ngõ ngách các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng và được thiết kế nổi bật với gam màu cam rực rỡ. Trong khi thị trường bán lẻ điện thoại di động Việt Nam vẫn còn đang manh mún, thiếu tính chuyên nghiệp thì Nettra đã tạo ra một dấu ấn trong nhận thức người tiêu dùng như một “cơn lốc màu da cam”. Sau gần 1 năm phát triển, Nettra đã xây dựng cho mình hệ thống bán lẻ gồm 115 siêu thị điện thoại trên toàn quốc, trong đó có 66 siêu thị tại Thành phố Hồ Chí Minh, 44 siêu thị tại Hà Nội và 3 siêu thị tại Đà Nẵng. Điều đáng chú ý là các siêu thị bán lẻ điện thoại của Nettra không thể hiện logo của bất kỳ nhà sản xuất nào mà chỉ có biểu tượng của mình, với mục tiêu sẽ trở thành nhà phân phối điện thoại di động hàng đầu ở Việt Nam. Nhưng kết quả thu được thì lại không được như mong đợi. Sau một năm kinh doanh không có lãi, lại luôn ở trong tình trạng thừa cửa hàng mà thiếu khách, không thể cứ hoạt động cầm chừng mãi Nettra cũng đã phải đưa ra quyết định chính thức rút lui khỏi thị trường điện thoại di động Việt Nam và nhường lại hệ thống nhượng quyền của mình cho một đối tác khác. Khóa luận: Thực tiễn nhượng quyền kinh doanh ở doanh nghiệp.
Nhiều người vẫn không khỏi băn khoăn tại sao mô hình nhượng quyền kinh doanh ở Nettra lại thất bại trong khi nó đã được xây dựng một cách khá bài bản và công phu theo kỹ thuật nhượng quyền kinh doanh hệ thống? Có nhiều lý do khác nhau, mà chủ yếu xuất phát từ việc thiếu sự nghiên cứu kỹ càng thị trường trong nước.
Thứ nhất, Nettra đã sai lầm khi chọn điện thoại di động làm sản phẩm trong hệ thống nhượng quyền kinh doanh của mình. Để thành công thì trước hết hệ thống nhượng quyền cần phải có một sản phẩm phù hợp, đó là những sản phẩm được tiêu dùng hàng ngày, có mức độ phổ biến rộng rãi và tần suất sử dụng cao. Nhờ đó mà hệ thống nhượng quyền mới có đủ khách hàng và nhu cầu để đáp ứng. Mặc dù theo điều tra thỉ tỉ lệ thuê bao di động trên số dân ở Việt Nam là 20% và nhu cầu dùng điện thoại trong năm 2026 được dự báo là sẽ tăng đến khoảng 30 triệu số thì điện thoại di động vẫn chưa thể xếp vào nhóm hàng tiêu dùng hàng ngày ở Việt Nam. Theo ước tính trung bình thì mỗi cá nhân chỉ có nhu cầu thay hoặc mua mới 1 lần trong 1 năm đối với điện thoại di động. Như vậy, khi chọn điện thoại di động là sản phẩm tiêu thụ trong hệ thống nhượng quyền kinh doanh, vô hình chung Nettra đã tự đẩy mình vào tình thế khó khăn là không thể tìm được thị trường khách hàng thường xuyên – điều vô cùng cần thiết để duy trì bất kỳ một hệ thống kinh doanh nào.
Một nghiên cứu được tiến hành trong phạm vi các siêu thị của Nettra ở Thành phố Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng Nettra thiếu khách hàng trầm trọng. Phần đông người tiêu dùng trẻ – đối tượng khách hàng tiềm năng mà Nettra hướng tới tại thành phố Hồ Chí Minh có thu nhập trung bình khá (3-10 triệu đồng/tháng) nhưng khi mua một điện thoại hạng trung (có giá từ 1-1,5triệu đồng/sản phẩm) cũng phải cân nhắc khá kỹ càng. Vẻ ngoài bắt mắt là lý do khiến cho nhiều người vào tham quan các siêu thị của Nettra. Một khách hàng ở Hà Nội cho biết “tôi chỉ định vào siêu thị để tham khảo các loại điện thoại trước khi mua nhưng có lẽ do vắng khách nên nhất cử nhất động của khách đến xem đều được các nhân viên ở đây chăm sóc nhiệt tình. Cứ xem mãi mà không mua gì thì thấy rất ngại nên nếu không xác định là sẽ mua điện thoại thì tôi không bao giờ vào Nettra”. Đây là tâm lý khá phổ biến với người tiêu dùng Việt Nam. Dù nhu cầu về điện thoại ngày một nhiều hơn thì sở hữu một chiếc điện thoại mới vẫn là điều khá xa xỉ, và do đó cũng là dễ hiểu khi hơn 100 siêu thị của Nettra gần như phải bù lỗ hoàn toàn trong năm đầu tiên đi vào hoạt động.
Thứ hai, bất hợp lý trong việc thiết kế hình ảnh cho chuỗi siêu thị điện thoại của Nettra cũng là một trong những nguyên nhân dẫn tới thất bại. Theo nghiên cứu của nhúm sinh viên trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh vào đầu năm 2026, trong 300 người được có tới 54,5% trả lời rằng các siêu thị của Nettra giống với các cửa hàng bán đồ giải khát chứ không phải là một nơi trưng bày và bán các sản phẩm cao cấp. Theo đánh giá chung, các siêu thị Nettra đẹp, trẻ trung, có phong cách nhưng tông màu và cách thiết kế lại dễ gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng và không phù hợp với kinh doanh điện thoại di động.
Ngoài ra, việc thiếu sự đánh giá mô hình một cách thường xuyên và kỹ lưỡng cũng góp phần dẫn tới hậu quả sụp đổ của Nettra. Điều này thể hiện ở việc Nettra đã ồ ạt cho phép mở hàng loạt các siêu thị điện thoại của mình trong một thời gian ngắn mà không hề để ý hoặc quá lạc quan về việc những điểm bán hàng đã có cũng vẫn luôn ở trong tình trạng thừa hàng thiếu khách.
Tóm lại, sự kiện Nettra là một bài học kinh nghiệm cho thấy rằng thành công trong mô hình nhượng quyền kinh doanh không chỉ đến từ việc có sự đầu tư thích đáng về mặt phương pháp nhượng quyền mà còn cần phải có sự cộng hưởng với những bước đi phù hợp với thị trường, trong đó quan trọng nhất là có dòng sản phẩm phù hợp và có đối tượng khách hàng tiềm năng. Khóa luận: Thực tiễn nhượng quyền kinh doanh ở doanh nghiệp.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>> Khóa luận: Giải pháp nhượng quyền kinh doanh ở doanh nghiệp

Dịch Vụ Viết Luận Văn Thạc Sĩ 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietthuethacsi.com/ – Hoặc Gmail: dicvuluanvanthacsi@gmail.com