Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn của ngân hàng hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại Việt Nam 2022-2025 dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
Nội dung chính
2.1. Tổng quan tình hình hoạt động và phát triển của NHTM Việt Nam (2022- 2024)
2.1.1. Quy mô ngành
Tính đến cuối năm 2024, thị trường Việt Nam có 101 Ngân hàng và chi nhánh NH nước ngoài, bao gồm ngân hàng thương mại (NHTM) trong nước, ngân hàng nước ngoài (NHNNN) và chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Cụ thể, có 5 NHTM quốc doanh (bao gồm cả VCB và CTG), 38 NHTM cổ phần, 53 NH 100% vốn nước ngoài và chi nhánh NHNN và 5 NH liên doanh. Trong đó, chỉ có 25.6% NHTM trong nước có vốn điều lệ trên 5000 tỷ đồng. Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới (WB), Việt Nam hiện có quá nhiều ngân hàng có qui mô nhỏ, xuất phát điểm là các NHTM nông thôn nhưng lại vươn ra hoạt động tại thành thị, do đó có tốc độ tăng trưởng tài sản và danh mục cho vay phát triển quá nóng. Kèm theo đó là hệ thống quản lý rủi ro và kỹ năng quản lý hoạt động ngân hàng còn tương đối kém, gây tác động không tốt đến sự lành mạnh của hệ thống ngân hàng.
Biểu đồ 2.1. Quy mô ngành ngân hàng 2021-2024
Tổng tài sản ngành NH tăng gấp đôi trong giai đoạn 2021 – 2024. Quy mô ngành Ngân hàng Việt Nam đã m ở rộng đáng kể trong những năm gần đây. Theo số liệu của IMF, tổng tài sản của ngành đã tăng gấp 2 lần trong giai đoạn 2021 – 2024, từ 1097 nghìn tỷ đồng (52.4 tỷ USD) lên 2690 nghìn tỷ đồng (128.7 tỷ USD). Con số này được dự báo sẽ tăng lên 3667 nghỉn tỷ đồng (175.4 tỷ USD) vào thời điểm cuối năm 2026. Việt Nam cũng nằm trong danh sách 10 quốc gia có tốc độ tăng trưởng tài sản ngành NH nhanh nhất trên thế giới theo thống kê của The Banker, đứng vị trí thứ 2 (chỉ sau Trung Quốc). Trong đó, Eximbank là NH duy nhất của Việt Nam nằm trong tốp 25 NH tăng trưởng nhanh nhất về tài sản trong 2024, đứng ở vị trí thứ 13.
Biểu đồ 2.2. Top 5 tăng trưởng ngành NH Việt nam Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn của ngân hàng.
Mặc dù tổng tài sản tăng trưởng nhanh, quy mô của các NH Việt Nam vẫn nhỏ hơn nhiều so với các nước trong khu vực. Theo số liệu của Bloomberg, trung bình 2 chỉ tiêu tổng tài sản và vốn chủ sở hữu của 8 NH niêm yết tại Việt Nam là 166844 tỷ đồng và 12574 tỷ đồng, thấp hơn mức trung bình của các nước trong khu vực như Trung Quốc, Malaysia, Ấn Độ, Thái Lan và Indonesia. Với qui mô tương đối nhỏ, các NH Việt Nam đều chịu áp lực phải tăng cường qui mô nguồn vốn nhằm đảm bảo các chỉ số an toàn hoạt động. NHNN hiện tại đang sử dụng hai công cụ chính để nâng cao khả năng an toàn vốn của các NHTM: (1) quy định về mức vốn điều lệ tối thiểu và (2) quy định về hệ số an toàn vốn tối thiểu (CAR).
Đến cuối 2024 vẫn có 10 NH chưa đáp ứng yêu cầu về vốn điều lệ tối thiểu. Tính đến thời điểm 31/12/2024, mới chỉ có 28/38 NHTMCP có vốn điều lệ từ 3000 tỷ đồng trở lên,10 ngân hàng còn lại có vốn điều lệ từ 1500-2800 tỷ đồng và không thể tăng vốn đúng thời hạn do thị trường chứng khoán diễn biến không thuận lợi. Chính vì vậy, NHNN đã phải gia hạn cho việc tăng vốn đến hết 31/12/2025.
Hầu hết các NH đều đáp ứng được tỷ lệ CAR tối thiểu 9% tại thời điểm cuối 2024. Tính đến cuối 2024, hầu hết các NHTM đã đáp ứng được yêu cầu về hệ số CAR tối thiểu 9%.
Biểu đồ 2.3. Qui mô ngành NH một số quốc gia
2.1.2. Tốc độ tăng trưởng
Tăng trưởng tín dụng và huy động luôn ở mức cao trên 20%. Với đặc trưng của một nền kinh tế mới nổi, tốc độ tăng trưởng tín dụng và huy động của Việt Nam luôn ở mức cao trên 20% trong suốt giai đoạn 2000 – 2024. Mức tăng trung bình cho tín dụng và huy động trong giai đoạn này lần lượt là 31.55% và 28.91%, trong đó đỉnh điểm là năm 2021 với 53.89% và 47.64%. Tốc độ cung tiền M2 trong giai đoạn 2019 – 2024 cũng đạt trung bình 29.19%.
So với các nước trong khu vực, tăng trưởng tín dụng và M2 của Việt Nam cao hơn nhiều so với Indonesia (14.5% và 12.4%) và Thái Lan (7% và 4%). Đây là một trong những nhân tố đóng góp vào sự phát triển nhanh của nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn này, thể hiện qua tốc độ tăng GDP trung bình là 7.1 5%, đạt đỉnh 8.5% vào năm 2021. Tuy nhiên, tăng trưởng tín dụng nóng cũng chính là một nguyên nhân dẫn đến tình trạng bong bóng tài sản mà nhiều nước mới nổi như Việt Nam mắc phải khi nguồn vốn chảy vào các lĩnh vực có rủi ro cao như bất động sản.
Biểu đồ 2.4. Tốc độ tăng trưởng TD và HĐV của NHTM 2021-2024
Đồng thời, tăng trưởng tín dụng luôn cao hơn tăng trưởng huy động và GDP.
Tỷ lệ cho vay/huy động của Việt Nam cao nhất so với các nước trong khu vực nhưng mức độ thâm nhập của ngành vẫn chưa đạt tương ứng: Thị trường tín dụng Việt Nam phát triển rất mạnh trong những năm gần đây so với các nước khác trong khu vực Châu. Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn của ngân hàng.
Theo số liệu của BMI, tỷ lệ cho vay/huy động và cho vay/tài sản trong 2024 lên tới 130.7% và 76.6%, cao nhất trong các nước tại Châu Á. Tuy nhiên, mức độ thâm nhập của ngành thể hiện qua tỷ lệ cho vay/GDP vẫn chưa đạt được mức tương ứng, mặc dù có tăng trưởng mạnh trong giai đoạn 2019 – 2024. Tỷ lệ này tăng từ 60% trong 2019 lên 113.5% vào 2024, đứng sau một số nước ở Châu Á như Trung Quốc (126.6%), Hồng Kông (194.2%), Malaysia (119.4%) và Đài Loan (143.1%).
Tốc độ tăng trưởng tín dụng của Việt Nam cao hơn nhiều so với tốc độ tăng trưởng huy động và GDP làm tăng rủi ro thanh khoản. Tín dụng tăng trung bình 32% trong giai đoạn 2000-2024, huy động tăng 29% trong khi GDP chỉ tăng trung bình 7. 15% trong giai đoạn này. Theo ý kiến của một số chuyên gia kinh tế, với tốc độ tăng trưởng GDP khoảng 7%, mức tăng trưởng tín dụng có thể đạt mức 14-20% mà không gây ra bong bóng tín dụng. Tuy nhiên, khi tỷ lệ này vượt quá mức nêu trên sẽ ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe của nền kinh tế. Việc tín dụng tăng trưởng nhanh hơn huy động trong hầu hết các năm cũng làm tăng rủi ro thanh khoản của hệ thống ngân hàng. Đây cũng chính là lí do một loạt các tổ chức quốc tế như Fitch Rating, S&P và Moody’s hạ bậc xếp hạng tín dụng của Việt Nam trong năm 2024 với lo ngại về tăng trưởng tín dụng nóng.
2.1.3. tăng trưởng lợi nhuận và khả năng sinh lời
Hệ thống các tổ chức tín dụng duy trì tăng trưởng lợi nhuận và khả năng sinh lời tốt bất chấp khủng hoảng tài chính. Bắt đầu từ năm 2022, thị trường tài chính thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng bắt đầu gặp khó khăn do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính toàn cầu. Tuy nhiên, các NHTM Việt Nam vẫn duy trì được mức tăng trưởng lợi nhuận tốt trong giai đoạn này với trung bình tăng trưởng của 8 NHTM hàng đầu là 46% trong 2022, 59% trong 2023 và 31% trong 2024. Trong đó các ngân hàng nổi bật với mức tăng trưởng tốt như EIB, MB, TCB và MSB đều là đại diện của khối NHTMCP. CTG là đại diện duy nhất của khối NHTMQD có được mức tăng trưởng nổi bật trong giai đoạn này. Kết quả kinh doanh của khối NH nước ngoài không được công bố rộng rãi, tuy nhiên đại diện của khối này là HSBC Việt Nam đã đạt mức tăng trưởng 40% lợi nhuận sau thuế trong năm 2024. Năm 2025 tiếp tục là một năm khó khăn với ngành ngân hàng với những diễn biến kinh tế vĩ mô phức tạp, lợi nhuận của các NH tăng trưởng chậm hơn so với 2024, tuy nhiên mức trung bình vẫn được duy trì trên 20%.
Biểu đồ 2.5. Tăng trưởng lợi nhuận của một số NH 2022-2024
2.1.4. Mạng lưới hoạt động Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn của ngân hàng.
Không chỉ phát triển về số lượng, qui mô mạng lưới của các NHTM cũng tăng lên nhanh chóng. Tuy nhiên, số lượng chi nhánh, phòng giao dịch (CN, PGD) và ATM của các NH còn khá chênh lệch nhau do chiến lược phát triển và đặc trưng của từng ngân hàng. Riêng 4 NHTMQD đã chiếm 35.7% tổng số lượng ATM của toàn hệ thống.
Biểu đồ 2.6. Số lượng CN, PGD, ATM của 6 NH lớn 2024.
Số lượng CN, PGD và ATM của 6 NH lớn trong 2024.
Lượng ATM và số thẻ phát hành cũng tăng mạnh. Cùng với sự tăng trưởng về tài sản, mạng lưới ATM cũng như số lượng thẻ đã tăng lên đáng kể. Số lượng ATM tăng mạnh từ 1800 trong năm 2019 lên 11700 trong năm 2024, trong khi đó số lượng thẻ tín dụng và ghi nợ được phát hành cũng đã tăng lên gấp đôi trong giai đoạn 2022-2024, đạt 31.7 triệu thẻ. Kết quả này đạt được nhờ thu nhập bình quân mỗi hộ gia đình và nhu cầu đối với dịch vụ ngân hàng bán lẻ ngày càng gia tăng.
Biểu đồ 2.7. Thị phần doanh số thẻ và ATM năm 2024
2.2. Thực trạng tình hình huy động vốn của hệ thống NHTM (2021-2025) Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn của ngân hàng.
Trong thời gian vừa qua, trước tác động của các yếu tố như: tình hình kinh tế biến động, các chính sách kiềm chế lạm phát của chính phủ, lãi suất huy động vốn và cho vay của các ngân hàng không ngừng thay đổi (thậm chí là từng giờ), cũng như tâm lý của người gửi tiền không ổn định,…. đã tác động mạnh lên thị trường tài chính của Việt Nam. Và hệ quả kéo theo là lượng tiền mặt huy động của các ngân hàng tăng giảm thất thường. Để tìm hiểu rõ hơn về tình hình huy động vốn của hệ thống NHTM Việt Nam chúng ta sẽ tiến hành tìm hiểu và phân tích các số liệu về kết quả huy động vốn trong giai đoạn từ 2022-2025.
Biểu đồ 2.8. Huy động vốn từ nền kinh tế 2021-2025
Nhìn chung tình hình huy động vốn của hệ thống TCTC qua các năm đều tăng, nhưng tốc độ tăng trưởng ở mỗi giai đoạn khác nhau. Cụ thể, năm 2021 tăng trưởng của toàn hệ thống tăng trưởng mạnh đạt 47.64%, đến năm 2023 huy động vốn của hệ thống ngân hàng tăng 29.88%, cao hơn so với mức 22.84% của năm 2022 (so với năm 2021). Đến năm 2024, hoạt động huy động vốn của hệ thống ngân hàng có bước tiến triển hơn so với năm 2023, tính đến cuối tháng 12/2024 tổng huy động vốn từ nến kinh tế tăng 36.24% so với cuối năm trước( đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 3.02%/tháng cao hơn mức tăng trưởng bình quân 2.49% của năm 2023). Trong vòng 4 năm t ừ 2021 đến năm 2024 tình hình huy động vốn với đặc trưng của một nền kinh tế mới nổi, tốc độ tăng trưởng tín dụng và huy động của Việt Nam luôn ở mức cao trên 20% trong suốt giai đoạn 2000 – 2024. Mức tăng trung bình cho huy động trong giai đoạn này lần lượt là 34.15% và 28.91%, trong đó đỉnh điểm là năm 2021 với 47.64%.
Tuy nhiên, đến năm 2025 trước biến động của tình hình kinh tế hoạt động huy động vốn bắt đầu chậm lại. Tính đến cuối năm 2025, huy động vốn tăng 9.89% so với năm 2024, bình quân m ỗi tháng tăng 0.84% trong khi tỷ lệ này của năm 2024 là 3.02%). Năm 2025 được xem là một năm diễn biến rất phức tạp của hoạt động huy động vốn, ngay từ quý I/2025 đã có những biến động không ngừng. Cụ thể, ngay từ tháng 1/2025 tiền gửi giảm mạnh so với 12/2024 tương ứng giảm 2.46%, trong đó tiền gửi VND giảm 4.12% và tiền gửi ngoại tệ tăng 4.43%. Nhưng đến tháng 2/2025 thì thị trường huy động vốn lại bắt đầy khời sắc trở lại, tổng tiền gửi của các TCTD tăng mạnh 5.79% so với tháng 1/2025. Bắt đầu từ tháng 2/2025 đến hết tháng 6/2025 tổng tiền gửi tại các TCTD tăng nhẹ tương ứng như sau: 5/2025 tăng 0.56% ( so với tháng 4/2025), 6/2025 tăng 1.04% ( so với tháng 5/2025). Kết thúc quý II, thị trường huy động vốn bắt đầu chuyển sang một giai đoạn mới, tổng tiền gửi tại hệ thống NHTM giảm liên tục, đặc biệt là tiền gửi VND giảm mạnh chủ yếu do tâm lý khách hàng thích nắm giữ vàng, ngoại tệ,…hơn tiền mặt. Cụ thể, tháng 7/2025 tổng tiền gửi giảm 0.25%( so với tháng 6/2025), tháng 9/2025 giảm 1.07% so với tháng 8/2025, tháng 10/2025 giảm 0.74% so với tháng trước, trong đó tiền gửi VND giảm 1.29% còn tiền gửi ngoại tệ tăng 1.73%. Tuy nhiên vào tháng 12/2025 tì thị trường huy động vốn đang dần tăng lên tương ứng với tăng 1.46% so với 11/2025, cả tiền gửi VND và ngoại tệ đều tăng tương ứng: 0.98% và 3.52%. Có thể nói năm 2025 là một trong những năm có mức tăng trưởng huy động vốn yếu nhất trong vòng 10 năm trở lại. Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn của ngân hàng.
2.2.1. Xét theo cơ cấu đồng tiền
Để biết rõ về tình hình huy động vốn theo cơ cấu đồng tiền, ta cần phải tiến hành xem xét, phân tích và đánh giá các số liệu sau :
Bảng 2.1. Tình hình HĐV theo cơ cấu đồng tiền 2021-2025
| Đồng tiền Năm | Nội tệ (tỷ đồng) | Tốc độ tăng trưởng (%) | Ngoại tệ (tỷ đồng) | Tốc độ tăng trưởng (%) | Tổng VHĐ (tỷ đồng) |
| 2021 | 850600 | 53,99 | 279700 | 41,05 | 1130300 |
| 2022 | 1032500 | 21,38 | 356000 | 27,28 | 1388500 |
| 2023 | 1342900 | 30,07 | 460500 | 29,35 | 1803400 |
| 2024 | 1900000 | 41 | 557000 | 20,95 | 2457000 |
| 2025 | 2086000 | 9,8 | 614000 | 10,23 | 2700000 |
Nguồn: www.sbv.gov.vn
Qua việc phân tích số liệu cho thấy giai đoạn từ năm 2021 -2024 tốc độ tăng trưởng của tiền gửi VNĐ tương đối cao và chiếm tỷ trọng cao hơn so với tiền gửi ngoại tệ.
Năm 2021, huy động vốn bằng VND tăng 53..99%, tăng mạnh so với mức 41.15% của năm 2020, huy động bằng ngoại tệ đạt 29.66% tăng so với mức 25.31% của năm 2020. Đến năm 2022 tốc độ tăng trưởng của toàn hệ thống bị giảm sút nhiều so với năm 2021, tương ứng tốc độ tăng trưởng của huy động vốn bằng VND cũng giảm mạnh so với năm 2021 chỉ đạt 21.38%, trong khi đó huy động vốn bằng ngoại tệ giảm nhẹ hơn với mức tăng 27.28%. Năm 2023 hoạt động huy động vốn bắt đầu có tiến triển hơn so với năm 2022, Huy động vốn của hệ thống ngân hàng tăng 29.88%, cao hơn so với mức 22.84% của năm 2022. Trong đó, huy động vốn bằng VND tăng 30.07% (năm 2022: tăng 21.38%),huy động bằng ngoại tệ tăng 29.29% (năm 2022: tăng 27.74%). Năm 2024, hoạt động huy động vốn khởi sắc tăng 36.24% cao hơn năm 2023, tương ứng tiền gửi VND tăng 41%, tiền gửi ngoại tệ tăng 20.95%. Theo thống kê huy động vốn VND có tốc độ tăng trưởng nhanh dần kể từ tháng 2/2024, đến tháng 6/2024 thì đạt tốc độ tăng là 6.47%, và cao nhất vào tháng 12/2024 đạt 6.89%. Trong khi đó huy động vốn ngoại tệ vẫn giảm liên tiếp trong 8 tháng đầu năm so với tháng liền trước, cho đến tháng 9, vốn ngoại tệ mới có xu hướng tăng trưởng khá (tăng 3.49% trong tháng 10/2024, 5.67% trong tháng 11/2024, và 4.7% trong tháng 12 so với tháng liền trước) do nguồn thu từ ngoại tệ, đặc biệt là xuất nhập khẩu cao.
2.2.2. Xét theo các nhóm TCTD Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn của ngân hàng.
Việc HĐV trong nền kinh tế của các NHTMCP trong hệ thống TCTD Việt Nam khác nhau về tỷ trọng cũng như đặc điểm, để biết những đặc điểm này ta phân tích bảng thống kê sau:
Biểu đồ 2.9. tình hình huy động vốn xét theo các TCTD
- Khối NHTMQD
Các NHTMQD là các NH thuộc sở hữu của Nhà nước hoặc đã được cổ phần hóa một phần nhưng chủ sở hữu chính vẫn là Nhà nước. Hầu hết các NH trong khối này đều có lợi thế về qui mô vốn, khách hàng truyền thống của khối này là các Tổng công ty nhà nước. Thị phần huy động cũng sụt giảm từ 58.1% xuống 47.7% trong giai đoạn 2021 – 2024.
- Khối NHTMCP
Khối NHTMCP có hoạt động linh hoạt và dần chiếm lĩnh thị phần của khối NHTMQD: Các NHTMCP có cơ cấu cổ đông đa dạng hơn các NHTMQD, tập trung vào hoạt động cho vay và huy động các DN vừa và nhỏ và hoạt động ngân hàng bán lẻ. Thị phần của khối này tăng nhanh trong những năm gần đây do chiếm lĩnh được từ khối NHTMQD, chiếm 43.4% thị phần huy động vốn của toàn ngành trong năm 2024.
- Khối NHNN và liên doanh
Khối NHNN và liên doanh có những động thái tích cực nhằm thâm nhập sâu hơn vào thị trường Việt Nam: Thế mạnh của khối NH này là mảng ngân hàng bán lẻ với chất lượng dịch vụ vượt trội và sản phẩm cung cấp đa dạng hơn so với các NHTM trong nước. Đây cũng là mảng thị trường còn nhiều tiềm năng phát triển mà các NH trong nước chưa khai thác được. Trong thời gian vừa qua, các NH lớn như HSBC, Citibank (Citi), ANZ, Standard Chartered (S.C) và Deutsche Bank đều không ngừng mở rộng hoạt động của mình. Citi và S.C chính thức triển khai hoạt động ngân hàng bán lẻ tại Hà Nội vào tháng 10/2024, trong khi HSBC khai trương 2 chi nhánh mới tại Đà Nẵng và Cần Thơ trong T9.2024. Một loạt các chi nhánh NHNN khác như Huanan, Chinatrust và Mizuho cũng tăng mạnh vốn được cấp vào thời điểm cuối năm 2024. Ngoài ra, một vài NHNN và LD vẫn đang nắm giữ cổ phần tại các NHTM trong nước. Thị phần của khối NHNNg và liên doanh không có nhiều biến động, đặc biệt là thị phần huy động do các NHNN và LD bị hạn chế về huy động vốn trên mức vốn được cấp. Thị phần huy động của nhóm NH này trong 2024 lần lượt là 8.9%. Mặc dù bắt đầu từ năm 2025, hạn chế về huy động tiền gửi được xóa bỏ nhưng khối NH này sẽ cần một thời gian nhất định để có thể thay đổi miếng bánh thị phần do về tương quan qui mô mạng lưới của các NHNN và LD vẫn còn rất nhỏ so với các NHTM trong nước. Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn của ngân hàng.
Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng của từng khối qua các năm khác nhau. Năm 2021, tăng trưởng huy động vốn của khối ngân hàng cổ phần, NHNN và liên doanh mạnh nhất, đạt 101.85%, trong khi đó huy động vốn của khối NHTMQD chỉ đạt tốc độ tăng 24.45%. Đến năm 2022, huy động vốn củ khối NHTMNN tăng 18.78%, của khối NHTMCP, NHNN và LD tăng 29.92%. Đến năm 2024, huy động vốn của các khác NHTM có sự phân biệt rõ rệt, tăng mạnh tại khối các NHTMCP, trong khi chỉ tăng khá tại khối NHNN, NHNN và LD. Tính đến cuối năm 2024, tốc độ tăng trưởng của nhóm NHTMCP đạt 53.98% nhóm NHTMNN đạt 26.12%, nhóm các NHNN và LD đạt 19.9%.
2.2.3. Xét theo tính chất kỳ hạn
Vốn huy động phân theo tiêu chí này gồm có:
- Tiền gửi không kỳ hạn
Tiền gửi có kỳ hạn, bao gồm các kỳ hạn: ngắn hạn (dưới 12 tháng), trung hạn (12 tháng- 24 tháng), và dài hạn (trên 24 tháng).
Để tìm hiểu về tình hình huy động vốn theo kỳ hạn này chúng ta sẽ tiến hành điều tra và phân tích số liệu của các ngân hàng tiêu biểu trong giai đoạn 2023 -2025 như: VCB, SCB, MB. Từ đó rút ra cái nhìn tổng quát cho ngành ngân hàng nói chung.
- Bảng 2.2. Kết quả huy động vốn của Vietcombank theo tính chất kỳ hạn
- Biểu đồ 2.10. Kết quả huy động vốn của Vietcombank theo tính chất kỳ hạn
Qua bảng số liệu thống kê cho ta thấy, qua các năm nguồn vốn huy động theo kì hạn không tăng đáng kể. Trong đó, tỷ trọng của nguồn vốn không kì hạn chiếm tỷ trọng thấp hơn so với có kì hạn. Qua các năm tỷ trọng này cũng giảm dần: năm 2023 chiếm 28.27% tổng nguồn vốn, đến năm 2024 chỉ còn gần 23.93%, năm 2025 tăng lên 24.46%. Năm 2025, nguồn vốn không kì hạn tăng mạnh, cụ thể nều năm 2024 chỉ tăng tuyệt đối 1437510 (triệu đồng) tương ứng 2.95% thì đến năm 2025 tăng mạnh lên gần 12%. Việc tăng trưởng tiền gửi không kỳ hạn mạnh cho thấy ngân hàng hoạt động rất tốt các dịch vụ về hoạt động thanh toán của khách hàng. Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn của ngân hàng.
Bên cạnh đó thì nguồn vốn có kì hạn chiếm tỷ trọng cao và tương đối ổn định. Đây là loại tiền gửi có kỳ hạn dài với mục đích chủ yếu của khách hàng là sinh lợi trên số tiền nhàn rỗi. Tổng nguồn vốn có kì hạn luôn chiếm trên 70% ( 2023: 71.73%, 76.07, 75.74), và có tốc độ tăng trưởng cao năm 2024 đạt 22.52%, tuy nhiêm đến năm 2025 trước ảnh hưởng của tình hình kinh tế, và lòng tin của người dân, tốc độ tăng trưởng bị giảm mạnh chỉ còn 6.76%.
Bảng 2.3. Kết quả huy động vốn của Sacombank theo tính chất kỳ hạn
Biểu đồ 2.11. Kết quả huy động vốn của Sacombank theo tính chất kỳ hạn
Qua bảng số liệu của ngân hàng Sacombank trong 3 năm vừa qua, ta cũng thấy được phần nào những điểm chung của các ngân hàng thương mại. Chính là tỷ trọng của nguồn vốn theo kì hạn luôn chiếm cao hơn so với nguồn vốn không kì hạn. Tổng nguốn vốn có kì hạn của Sacombank chiếm trên 80% của tổng nguồn vốn, cụ thể năm 2023: 83.24%, 2024 tăng lên 84.12%, 2025: 83.96%. Tốc độ tăng trưởng lại bất ổn: 2024 tăng 23.87% so với năm 2023, tuy nhiên đến năm 2025 giảm mạnh -4.73%, tương ứng giảm hơn 2.9 (tỷ đồng). Không chỉ nguồn vốn có kì hạn, mà nguồn vốn không kì hạn cũng vậy. Chiếm một tỷ trọng thấp so với nguồn vốn có kì hạn, dưới 20% ( 2023: 16.76%. 2024: 15.88%, và 2025: 18.79%), trong năm 2024 tốc độ tăng trưởng tăng 18.79% tuy nhiên đến 2024 cũng giảm -3.44%.
- Bảng 2.4. Kết quả huy động vốn của Militarybank theo tính chất kỳ hạn
- Biểu đồ 2.12. Kết quả huy động vốn của Militarybank theo tính chất kỳ hạn
So với Vietcombank và Sacombank, thì tình hình huy động vốn của Militarybank cũng có những nét tương đồng với nhau. Nguồn vốn không kì hạn của MB tương đối cao. Chiếm tỷ trọng trên 30% trong tổng nguồn vốn, tuy nhiên dưới tác động của nền kinh tế thì nguồn vốn này cũng chịu những điểm chung: nếu 2025 tốc độ tăng trưởng đạt 27.5%, thì đến năm 2025 cũng giảm mạnh chỉ còn 18.17%. Còn đối với nguồn vốn có kì hạn cũng vậy, chiếm tỷ trọng trên 60% trong tổng nguồn vốn ( 2023: 61.95%, 2024: 66.46%, 2025: 69.53%), và cũng chịu sự tác động chung của nền kinh tế năm 2025, khi tốc độ tăng trưởng chỉ 28.9% giảm mạnh so với năm 2024 ( tốc độ tăng trưởng đạt 40.44%).
Tóm lại, qua việc thống kê và phân tích tình hình huy động vốn theo kì hạn của 3 ngân hàng trên giúp ta nhìn thấy được những điểm chung của ngành ngân hàng trong 3 năm gần đây. Từ đó rút ra những kết luận như sau:
- Đối với nguồn vốn không kì hạn. Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn của ngân hàng.
Nguồn vốn này chủ yếu là của các tổ chức kinh tế dùng trong thanh toán, và tài khoản của các cá nhân có nhu cầu sử dụng thường xuyên. Đây là loại tiền gửi không ổn định, nên không thể chủ động trong việc sử dụng nguồn vốn này, và lãi suất loại tiền gửi này thường rất thấp. Trong vòng 3 năm tỷ lệ tăng giảm không đáng kể, chiếm tỷ trọng thấp trong tổng nguồn vốn của các ngân hàng. Tuy nhiên, việc huy động nguồn vốn này cao thể hiện các khâu thanh toán của ngân hàng phát triển tốt. Có một điều chung chính là năm 2025, tốc độ tăng trưởng của nguồn vốn này tăng nhưng giảm ít hơn so với nguồn vốn có kì hạn. Điều này cho thấy, mặc dù tổng huy động vốn có giảm nhưng các nhu cầu về thanh toán hằng ngày của khách hàng vẫn ổn định, và các nghiệp vụ về thanh toán của các ngân hàng ngày càng phát triển.
- Đối với nguồn vốn có kì hạn:
Đây là nguồn vốn chiếm tỷ trọng chính trong cơ cấu vốn theo kỳ hạn. Là loại tiền gửi có kỳ hạn dài với mục đích chủ yếu của khách hàng là sinh lợi trên số tiền nhàn rỗi, cung cấp nguồn vốn lâu dài và ổn định cho hoạt động của ngân hàng. Chính vì chiếm tỷ trọng lớn nên trước sự tác động của môi trường thì nguồn vốn nà cũng có thay đổi lớn, năm 2024 tốc độ tăng trưởng khá cao nhưng đến năm 2025: kinh tế lạm phát, chi tiêu của người dân bị cắt giảm, tâm lý chuyển đổi từ tiền mặt sang các loại khác như vàng, USD,…đã làm cho nguồn vốn này bị giảm mạnh. Đây là một trong những vấn đề rất khó khăn đối với ngành ngân hàng, bởi lẻ không ổn định được nguồn vốn có kì hạn thì các ngân hàng rất khó khăn trong việc chủ động nguồn vốn, vòng quay tiền mặt và khả năng thanh khoản của mình.
2.2.4. Xét theo thành phần kinh tế Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn của ngân hàng.
Các thành phần kinh tế trong xã hội là một trong những yếu tố quan trọng trong hoạt động huy động vốn của hệ thống ngân hàng, là chủ thể chủ yếu gửi tiền vào ngân hàng. Việc phân tích, xác định kết quả cũng như các yếu tố, nguyên nhân tác động đến các thành phần này sẽ giúp cho các ngân hàng xác định được những giải pháp phù hợp để nâng cao nguồn vốn huy động trong nền kinh tế.
Bảng 2.5. Kết quả hình động vốn theo TPKT của Vietcombank
Theo bảng số liệu tình hình huy động vốn theo thành phần kinh tế của VCB, ta thấy trong khoản thời gian 2023 -2024 các TCKT chiếm tỷ trọng cao, trên 50% trong tổng nguồn vốn( 2023: 54%, 2024: 51.4%). Tuy nhiên, tỷ trọng này cao nhưng không ổn định và tiếp tục giảm mạnh trong năm 2025 chỉ chiếm 46.4%, đạt tốc độ tăng trưởng 0.8% so với năm 2024. Trong khi đó tỷ trọng tiền gửi của cá nhân ngày càng tăng, nếu như năm 2023 chỉ chiếm tỷ trọng 46% trong tổng nguồn vốn thì đến năm 2025 đã tăng lên đến 53.6%, và luôn đạt tốc độ tăng trưởng cao qua các năm: năm 2024 tăng 28.47% so với năm 2023, năm 2025 tăng 22.96% so với năm 2024. Điều này cho thấy cơ cấu nguồn vốn huy động đang có xu hướng dịch chuyển dần sang khu vực dân cư và cá nhân_ đây chính là một nguồn vốn ổn định và màu mỡ cho các ngân hàng.
Bảng 2.6. Kết quả hình động vốn theo TPKT của Militarybank
Theo tình hình thống kê của MB cũng cho thấy, nếu như tỷ trọng nguồn vốn của TCKT rất cao trong năm 2023, 2024 lần lượt chiếm 60.31%, 60.87% thì đến năm 2025 tỷ trọng này cũng sụt giảm một cách đáng kể chỉ chiếm 26.73%, tốc độ tăng trưởng giảm 40.94% so với năm 2024 tương ứng với giảm 14925 tỷ đồng. Trong khi đó, thì tỷ trọng của cá nhân ngày càng tăng nhanh chóng, năm 2024 tăng 54.28% so với năm 2023, chiếm 39.13%, đến năm 2025 tăng trưởng với tốc độ rất cao với 151.79%, tương ứng tăng 35577 tỷ đồng. Như vậy, tổng nguồn vốn huy động năm 2025 tăng lên là nhờ vào sự đóng góp mạnh từ dân cư, cá nhân trong nền kinh tế.
- Nhận xét
Tóm lại, dựa trên phân tích tình hình của một số ngân hàng, và những số liệu thống kê của ngành trong thời gian qua ta có thể rút kết một số điểm sau: Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn của ngân hàng.
- Tỷ trọng nguồn vốn của TCKT giảm do một số nguyên nhân sau:
Thị trường chứng khoán sụt giảm, giá cổ phiếu trên thị trường OTC xuống quá thấp, hàng loạt nhà đầu tư thua lỗ, thụt vốn. Bởi vậy tiền của các nhà đầu tư gửi tại ngân hàng thương mại cũng sụt giảm theo. Bên cạnh đó số dư trên tài khoản của nhà đầu tư tại các công ty chứng khoán cũng giảm, đồng thời hàng loạt công ty chứng khoán bị thua lỗ trong nhiều danh mục đầu tư trong năm 2025.Ha i nhân tố này làm giảm số dư tiền gửi của công ty chứng khoán tại các ngân hàng thương mại.
Thị trường chứng khoán sụt giảm, thị trường bất động sản chững lại, giá hạ nhưng cũng rất ít giao dịch. Chứng khoán và bất động sản không bán được, tiền không trở lại với nhà đầu tư, tất nhiên tiền sẽ không còn để gửi vào ngân hàng.
Riêng bộ phận tiền gửi dân cư trong năm qua liên tục tăng và đạt tốc độ tăng trưởng cao (năm 2025 tăng 11.84% so với năm 2024) do lãi suất tiền gửi hấp dẫn, là kênh đầu tư an toàn và hấp dẫn so với chứng khoán, vàng, bất động sản,..
Nhìn tình hình tổng quan của nền kinh tế có thể nói hoạt động huy động vốn của hệ thống ngân hàng đang ngày càng tiến triển, bởi lẽ một số vốn lớn từ người dân đã được huy động vào ngân hàng, giúp cho hoạt động thanh khoản của hệ thống ngân hàng ngày càng ổn định.
2.3. Đánh giá Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn của ngân hàng.
2.3.1. Ưu điểm
Ngân hàng thương mại trong những năm gần đây ngày càng đa dạng hóa các hình thức huy động vốn, từ tiết kiệm các kỳ hạn đến kỳ phiếu, trái phiếu, vô danh, ghi danh, chứng chỉ tiền gửi, đến các hình thức rút gốc, rút lãi linh hoạt cộng với các chương trình khuyến mãi, dự thưởng, ….
Khoản mục tiền gửi không kỳ hạn và ngắn hạn, tiền gửi thanh toán, tiền gửi của tổ chức trong danh mục nguồn vốn của các NHTM được thực hiện một cách bài bản, có chiến lược rõ rang và tổ chức chặt chẽ. Tỷ trọng tiền gửi không kỳ hạn có xu hướng gia tăng vì việc thanh toán không dùng tiền mặt ở nước ta ngày càng phổ biến. Tuy việc sử dụng vốn trong loại vốn này không cao, và thường biến động nhưng đây là loại huy động với lãi suất thấp, góp phần làm giảm bình quân lãi suất đầu vào, chi phí huy động vốn thấp.
Với quá trình ứng dụng hiện đại hóa công nghệ ngân hàng với các NHTM đã mang lại cho khách hàng đã giúp cho khách hàng có nhiều tiện ích. Nổi bất nhất là dịch vụ thanh toán và dịch vụ liên quan kèm theo hoạt động huy động vốn. Trong đó hình thức chuyển tiền điện tử, thanh toán trực tuyến, thanh toán thẻ,…là kết quả của quá trình hiện đại hóa hoạt động ngân hàng. Vì vậy, hoạt động huy động vốn của NHTM ngày càng có hiệu quả.
Các NHTM đang phát triển nhiều lại hình dịch vụ mới, cung cấp nhiều sản phẩm dịch vụ cho khách hàng và nền kinh tế, theo đó hoạt động HĐV ngày càng đa dạng. Các NHTM không ngừng hoạt động và nâng cao các dịch vụ truyền thống: hoạt động huy động vốn, hoạt động kinh doanh ngoại hối, các hoạt động kinh doanh khác. Đồng thời, phát triển thêm các dịch vụ mới mang đặc điểm của ngân hàng điện tử: dịch vụ chuyển tiền điện tử, Internet banking, Phone banking, dịch vụ thanh toán bằng điện thoại di động, dịch vụ đầu tư và tư vấn tài chính, dịch vụ quyền lựa chọn tiền tệ, những dịch vụ này đang ngày càng được khách hàng ưu chuộng.
Hoạt động dịch vụ của các NHTM mang lại hiệu quả kinh tế cao: hiệu quả mà các NHTM mang lại cho khách hàng v à nền kinh tế là rất lớn, đáp ứng nhu cầu vốn, thanh toán, phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng và nền kinh tế. Đặc biệt, hoạt động dịch vụ thanh toán, với khả năng ứng dụng công nghệ hiện đại cao cho ra nhiều sản phẩm tiện ích mang lại lợi ích to lớn nhờ tính chất nhanh chóng, an toàn, bảo mật, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tuần hoàn và chu chuyển vốn của khách hàng, của nền kinh tế được liên tục và nhanh chóng, mang lại hiệu quả kinh tế nhằm giảm chi phí và thời gian thanh toán.
2.3.2. Nhược điểm Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn của ngân hàng.
Tình hình huy động vốn của ngân hàng tuy có phát triển nhưng bên cạnh đó vẫn còn một số nhược điểm, dẫn đến việc xuất hiện một số vấn đề khó khăn nhất định.
Sau khi ngân hàng Nhà nước (NHNN) áp trần lãi suất huy động VND, làm tình hình thanh khoản tại các NHTM nhỏ ngày càng trở nên nghiêm trọng. Dòng tiền gửi tiết kiệm đã ít nhiều chảy sang các NHTM lớn vốn được coi là an toàn hơn. Tiếp đến, tiền gửi uỷ thác bị chặn đứng, các NHTM thay nhau rút tiền gửi về thông qua các công ty con. Nhiều người gửi tiền đã chia nhỏ khoản tiền của mình ra gửi tại nhiều NHTM khác nhau, do lo ngại luật Bảo hiểm tiền gửi chỉ bảo đảm cho các khoản nhỏ hơn hoặc 50 triệu đồng. Điều này không những khiến dòng tiền càng bất ổn mà còn khiến chi phí huy động tăng lên đáng kể.
Các NHTM nhỏ tất yếu phải tìm mọi phương cách để có thể huy động được vốn. Với việc NHNN mạnh tay trừng phạt các NHTM vượt trần, một số NHTM đã phải vay ngược lại từ phía các doanh nghiệp với tài sản đảm bảo là các giấy tờ có giá (trái phiếu). Cái giá cho việc đi vay này không hề rẻ, vì các công ty tài chính rủng rỉnh tiền cho các NHTM vay thường định giá giấy tờ có giá của các NHTM chỉ ở mức 50 – 60%, thậm chí 30% giá trị thực.
Đỉnh điểm cho hoạt động huy động vốn bằng mọi phương cách là việc các NHTM đồng loạt hâm nóng lãi suất huy động vàng và một loạt các ngoại tệ “ngoài USD”. Hành động này được coi là khá khôn khéo vì tránh được trần lãi suất cho VND và trần cho USD. Nó cũng giúp cho các NHTM đa dạng được nguồn tiền huy động. Tuy nhiên, do mục đích chính là thanh khoản nên các NHTM sẽ khó tránh khỏi rủi ro về tỷ giá, vì hầu hết các NHTM nhỏ đều thiếu kinh nghiệm trong quản lý các tỷ giá ngoại tệ ngoài USD. Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn của ngân hàng.
Mục đích cuối cùng của các NHTM trong việc đẩy mạnh lãi suất huy động vàng và các loại ngoại tệ ngoài USD thực chất vẫn là huy động nguồn VND. Có hai cách để các NHTM chuyển nguồn huy động các ngoại tệ này thành VND. Cách thứ nhất là các NHTM bán các ngoại tệ n ày để có tiền đồng. Hay nói cách khác, NHTM sẽ tạm thời âm trạng thái ngoại tệ ngoài USD và sẽ chịu rủi ro về biến động tỷ giá. Bởi khi người gửi tiền rút tiền, các NHTM sẽ phải mua lại ngoại tệ đã bán trước đó trả cho người gửi tiền theo “tỷ giá tại thời điểm mua”. Cách thứ hai là đem thế chấp ở các NHTM lớn để vay trên thị trường liên ngân hàng. Tuy cách này giúp các NHTM giảm căng thẳng thanh khoản tránh được rủi ro tỷ giá nhưng lại phải trả một khoản lãi suất khá lớn lên đến 15 – 16%/năm trong thời gian gần đây trên thị trường liên ngân hàng.
Tỷ giá ngoại tệ khác so với tiền VND thông thường được các NHTM tính toán thông qua tỷ giá USD/VND. Tỷ giá của một đồng ngoại tệ so với VND sẽ bị phụ thuộc vào cả tỷ giá của ngoại tệ đó so với đồng USD trên thị trường quốc tế và tỷ giá USD/VND ạit Việt Nam. Hiện tại, các NHTM đang có lý do để yên tâm vì NHNN cam kết đến cuối năm giữ tỷ giá USD/VND sẽ tăng không quá 1%. Nhưng tỷ giá các ngoại tệ khác so với USD trên thị trường quốc tế lại đang biến động hết sức thất thường. Có thể dễ dàng nhận thấy sự biến động rất mạnh của các ngoại tệ trong giai đoạn bất ổn gần đây. Tỷ giá EUR/USD giảm gần 10% chỉ trong tháng 9/2025 từ mức 1,4548 ngày 29.8.2025 về mức 1,3173 ngày 3.10.2025, hay như tỷ giá USD/JPY tăng hơn 5% từ mức 75,56 lên mức 79,52 trong ngày 31.10.2025. Giá vàng cũng có những bước nhảy ngoạn mục khi chỉ trong bốn phiên giao dịch đã giảm từ mức 1.816 USD/ounce ngày 21.9.2025 còn 1.532 USD/ounce ngày 26.9.2025. Điều này có nguồn gốc từ cuộc khủng hoảng nợ lan rộng tại châu Âu, sự hồi phục chậm chạp của kinh tế Mỹ, và nguy cơ nền kinh tế Trung Quốc khó có thể hạ cánh an toàn. Nhiều quốc gia như Nhật Bản đã buộc can thiệp trực tiếp vào thị trường ngoại hối khiến tỷ giá biến động thất thường, thậm chí Thuỵ Sĩ còn bất ngờ ấn định tỷ giá tối thiểu cho cặp tỷ giá EUR/CHF. Vì các loại ngoại tệ ngoài USD thường có biến động về tỷ giá lớn nên thông thường các NHTM chỉ chấp nhận huy động chúng với mức lãi suất thấp, thường dưới 1% tổng lượng tiền gửi. Những rủi ro về tỷ giá sẽ còn tăng lên gấp bội khi cam kết giữ vững tỷ giá USD/VND của NHNN không quá 1% sắp hết hạn. Vào thời điểm cuối năm 2025 và đầu 2026, đến thời điểm phải trả tiền cho người gửi, nếu các tỷ giá ngoại tệ và tỷ giá USD/VND có những biến động bất lợi thì các ngân hàng sẽ lại lâm vào hoàn cảnh hết sức khó khăn. Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn của ngân hàng.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>> Khóa luận: Giải pháp hoạt động huy động vốn của Ngân hàng

Dịch Vụ Viết Luận Văn Thạc Sĩ 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietthuethacsi.com/ – Hoặc Gmail: dicvuluanvanthacsi@gmail.com
[…] ===>> Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn của ngân hàng […]