Khóa luận: Thực trạng nghiệp vụ NH quốc tế của Ngân hàng BIDV

Rate this post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Thực trạng nghiệp vụ NH quốc tế của Ngân hàng BIDV hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Khóa luận: Thực trạng phát triển nghiệp vụ ngân hàng quốc tế của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

I: GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ BIDV

1. Quá trình hình thành và phát triển

Sáu năm sau ngày Ngân hàng Quốc gia của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa non trẻ được thành lập, ngày 26/04/1957, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định khai sinh Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam (tiền thân của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV)), một thành viên của hệ thống ngân hàng Việt Nam. Suốt chặng đường 49 năm qua, dù với tên gọi nào, hoạt động với mô hình nào Ngân hàng BIDV vẫn luôn là người lính xung kích trên mặt trận tài chính tiền tệ, phục vụ đầu tư phát triển đất nước.

  • Thời kỳ 1957 – 1980:

Ngày 26/4/1957, Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam tiền thân của BIDV, được thành lập trực thuộc Bộ Tài Chính với quy mô ban đầu nhỏ bé gồm 8 chi nhánh và 200 cán bộ. Nhiệm vụ cơ bản là thực hiện cấp phát, quản lý vốn kiến thiết cơ bản từ vốn ngân sách cho tất cả các lĩnh vực kinh tế xã hội.

  • Thời kỳ 1981 – 1989:

Ngày 26/4/1981, đổi tên thành Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng trực thuộc ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Nhiệm vụ cơ bản là thực hiện cấp phát, cho vay quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách cho tất cả các lĩnh vực kinh tế thuộc kế hoạch của Nhà Nước.

  • Thời kỳ từ năm 1990 – 1994:

Ngày 14/11/1990, Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam đổi tên thành Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV). Đây là thời kỳ thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước, chuyển đổi từ cơ chế tập trung sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Do vậy nhiệm vụ của BIDV được thay đổi cơ bản: tiếp tục vay vốn để cho vay dài hạn thuộc chỉ tiêu kế hoạch của Nhà nước kinh doanh tiền tệ, tín dụng và dịch vụ ngân hàng…

  • Từ năm 1995 – nay:

Ngày 1/1/1995, BIDV được phép kinh doanh đa năng như một ngân hàng thương mại, phục vụ chủ yếu cho việc đầu tư phát triển của đất nước. Từ năm 1996 đến nay, BIDV đã có những bước chuyển mình tạo đà phát triển cho những năm tiếp theo.

Tính cho đến 31/03/2006, mô hình tổ chức của BIDV gồm 4 khối lớn: khối liên doanh (4 liên doanh), khối ngân hàng (3 Sở giao dịch, 79 chi nhánh cấp I, 62 chi nhánh cấp II), khối đơn vị sự nghiệp (2 khối), khối công ty (4 công ty).

2. Phương châm và chiến lược kinh doanh của BIDV Khóa luận: Thực trạng nghiệp vụ NH quốc tế của Ngân hàng BIDV.

BIDV là một trong bốn ngân hàng thương mại lớn nhất Việt Nam hiện nay, là doanh nghiệp Nhà nước hạng đặc biệt, được tổ chức theo mô hình Tổng công ty. Mục tiêu dài hạn của BIDV đến năm 2010 trở thành một ngân hàng đa năng hiện đại, kinh doanh đa lĩnh vực, chất lượng hoạt động ngang tầm với các ngân hàng trong khu vực Đông Nam Á. Để đạt được mục tiêu đó, BIDV đã đề ra phương châm kinh doanh từ nay đến năm 2010 như sau:”Chất lượng – Tăng trưởng bền vững – Hiệu quả – An toàn”. Cụ thể:

Chất lượng: Nâng cao chất lượng hoạt động thông qua việc thực hiện phân loại nợ xấu, phấn đấu trích đủ dự phòng rủi ro đối với dư nợ tín dụng thương mại; tăng cường kiểm soát và hạn chế nợ xấu phát Nâng cao chất lượng sản phẩm cung ứng cho khách hàng.

Tăng trưởng bền vững: Mở rộng và tăng thị phần hoạt động dịch vụ, huy động vốn; đảm bảo tăng trưởng quy mô phù hợp với năng lực tài chính và khả năng kiểm soát rủi Đẩy mạnh hoạt động dịch vụ, tập trung vào các dịch vụ phi tín dụng, dịch vụ tài chính, đưa vào khai thác các sản phẩm dịch vụ mới: Gắn tăng trưởng dịch vụ với ứng dụng công nghệ hiện đại. Tiếp tục mở rộng và phát triển mạng lưới và các kênh phân phối ở các thành phố lớn, các tỉnh, vùng kinh tế động lực; có kế hoạch nâng cấp hệ thống các điểm đặt ATM, POS… để chuyển sang bán lẻ phục vụ dân cư, phục vụ tiêu dùng.

Hiệu quả: Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động thông qua việc điều chỉnh cơ cấu tài sản nợ-có theo hướng: tăng hoạt động dịch vụ, hoạt động đầu tư, tăng tín dụng ngắn hạn trong đó tập trung vào tăng tín dụng tài trợ xuất khẩu… tập trung cho các lĩnh vực, ngành nghề, địa bàn có khả năng sinh lời và nguồn thu tín dụng lớn đảm bảo tăng trưởng nhưng an toàn và hiệu quả cao.

An toàn: Tiếp tục nâng cao năng lực tài chính, phấn đấu chỉ số an toàn vốn (8%) theo đúng lộ trình quy định của Ngân hàng Nhà nước tại QĐ 457 và hướng dần theo thông lệ và chuẩn mực quốc tế.

II: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÁC NGHIỆP VỤ NGÂN HÀNG QUỐC TẾ CHỦ YẾU TẠI BIDV Khóa luận: Thực trạng nghiệp vụ NH quốc tế của Ngân hàng BIDV.

1. Cung ứng các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế để thu phí

Cung ứng các dịch vụ ngày càng được coi là tâm điểm hoạt động của BIDV. Với sự quyết tâm của toàn hệ thống, dịch vụ trong các năm qua đã có nhiều khởi sắc, phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, đánh dấu sự phát triển mới của Ngân hàng trên lĩnh vực hoạt động dịch vụ. Bên cạnh những sản phẩm, dịch vụ truyền thống như thanh toán, bảo lãnh,… BIDV đã chú trọng phát triển những sản phẩm như: dịch vụ thẻ, BIDV- Home Banking…

Chỉ tiêu thu dịch vụ ròng của BIDV tăng mạnh qua các năm, nhiều sản phẩm mới ra đời với chất lượng cao hơn và đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hàng. Kết quả của việc cung ứng các dịch vụ không chỉ thể hiện bằng con số mà nó còn thể hiện rõ nét qua các chuyển biến về nhận thức trong chỉ đạo, điều hành các hoạt động của các đơn vị thành viên, ở phong cách, thái độ giao dịch với khách hàng chuyên nghiệp hơn, văn minh hơn.

  • Bảng 1: Tổng thu dịch vụ ròng 2002 – 2005

Sau đây là một số kết quả các hoạt động dịch vụ quốc tế chính của BIDV:

  • Nghiệp vụ ngân hàng đại lý

Thời điểm hai Pháp lệnh về Ngân hàng ra đời, trao quyền tự chủ trong kinh doanh đối ngoại cho các ngân hàng thương mại quốc doanh Việt Nam cũng là thời điểm Ngân hàng BIDV bắt đầu tìm kiếm, thiết lập những ngân hàng đại lý của mình. Tính đến hết 31/12/2005, Ngân hàng BIDV đã thiết lập quan hệ đại lý với hơn 820 ngân hàng nước ngoài và có quan hệ tài khoản với hơn 40 ngân hàng trên thế giới. Mạng lưới ngân hàng đại lý của Ngân hàng BIDV được đánh giá là khá rộng đủ để phục vụ cho khách hàng.

  • Bảng 2 : Số lượng ngân hàng đại lý ở các châu lục

Có thể thấy được qua số liệu trên là Ngân hàng BIDV có quan hệ đại lý nhiều nhất với các ngân hàng ở Châu Á còn Châu Úc và Châu Phi số lượng không nhiều. Điều này phản ánh phần nào những thị trường mục tiêu mà Ngân hàng BIDV đang hướng tới và tăng cường quan hệ hợp tác kinh doanh. Khóa luận: Thực trạng nghiệp vụ NH quốc tế của Ngân hàng BIDV.

Ngân hàng BIDV cũng đã có chính sách ngân hàng đại lý, đã biết lựa chọn một số ngân hàng chủ chốt để phân phối các giao dịch qua các ngân hàng này, đảm bảo các hoạt động kinh doanh quốc tế của Ngân hàng được an toàn, hiệu quả; đồng thời tận dụng được các ưu đãi mà các ngân hàng đại lý dành cho Ngân hàng như: chia phí, lãi suất cho vay thấp, lãi tiền gửi cao, đào tạo cán bộ. Cho đến nay, nhiều ngân hàng quốc tế đã cung cấp cho Ngân hàng BIDV hạn ngạch giao dịch ngoại tệ, hạn ngạch xác nhận L/C, trong đó nhiều ngân hàng cam kết tài trợ với hạn ngạch không hạn chế. Nhiều ngân hàng đại lý cho phép Ngân hàng BIDV được thấu chi đến một hạn mức tiền nhất định. Chúng ta sẽ xét những kết quả Ngân hàng BIDV trên một số mặt cụ thể:

  • Về nghiệp vụ tài khoản:

Do đồng nội tệ VND không phải là loại tiền tệ mạnh để quy đổi ra ngoại tệ nên việc cung cấp tài khoản thanh toán cho ngân hàng nước ngoài rất khó phát triển. Vì vậy, BIDV mới duy trì tài khoản với 40 ngân hàng trên thế giới như: Korea Exchange bank, Lao Viet bank…. Tất nhiên, không nhất thiết Ngân hàng BIDV phải mở tài khoản tại mọi ngân hàng đại lý bởi vì làm như vậy sẽ rất tốn kém và không cần thiết và nếu quản lý tốt, Ngân hàng BIDVsẽ thực hiện tốt các hoạt động nghiệp vụ quốc tế khác.

  • Nghiệp vụ cung cấp và kiểm tra mã tài khoản (Testkey):

Thiết lập quan hệ đại lý giữa các ngân hàng cũng là thiết lập hệ thống mã khoá nhằm đảm bảo tính bảo mật giữa các ngân hàng. Mỗi ngày, BIDV cung cấp 5-10 mã khoá theo yêu cầu của các ngân hàng đại lý và thu phí. Mục đích chính của ciệc cung cấp này là xây dựng mối quan hệ mật thiết giữa các ngân hàng với nhau.

  • Nghiệp vụ đại lý uỷ thác:

Đây là một trong những nghiệp vụ ngân hàng quốc tế truyền thống, góp phần đa dạng hoá hoạt động của BIDV làm tăng tiền gửi khách hàng. Năm 2005, BIDV đã nhận thêm 16 dự án mới từ WB, NIB… với tổng trị giá đạt 436,64 triệu USD. Tổng số dự án ủy thác lên tới 242, doanh số cho vay 1344 tỷ VND, dư nợ đạt 3210 tỷ VND, lãi và phí thu được đạt 3,05 tỷ VND. (Nguồn: Báo cáo nghiệp vụ ngân hàng đại lý của BIDV năm 2005).

  • Bảng 3: Một số chỉ tiêu kết quả dịch vụ ngân hàng đại lý uỷ thác của BIDV giai đoạn 2002 – 2005

Ngoài ra, các tổ chức tài chính thế giới như WB, ADB… rất tín nhiệm BIDV do đó phần lớn các nguồn vốn viện trợ chính thức đều chuyển đến BIDV làm đại lý uỷ thác. Từ chỗ thuần tuý cho vay lại các dự án song phương và làm dịch vụ giải ngân cho một số ít các dịch vụ đa phương đến nay, BIDV đã thực hiện giải ngân phần lớn các dự án đa phương có nguồn tài trợ từ các nước và tổ chức quốc tế: Khóa luận: Thực trạng nghiệp vụ NH quốc tế của Ngân hàng BIDV.

  • Bảng 4: Thị phần hoạt động của BIDV trong hoạt động dịch vụ đại lý uỷ thác nguồn vốn ODA

Lợi ích hoạt động nghiệp vụ này mang lại cho BIDV rất to lớn: phí dịch vụ từ hoạt động này chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu lãi thuần từ dịch vụ:

  • Bảng 5: Tổng thu nhập ròng từ phí nghiệp vụ ngân hàng đại lý từ năm 2002 – 2005

Ngoài ra, nghiệp vụ này còn mang một nguồn thu nhập ngoại tệ lớn cho BIDV, góp phần đáng kể giải quyết các nhu cầu ngoại tệ của khách hàng và mở rộng dịch vụ khác phục vụ dự án cho vay tín dụng, cho vay ngắn hạn…

  • Nghiệp vụ thanh toán quốc tế

Hoạt động thanh toán quốc tế được thực hiện tại BIDV từ tháng 3/1993. Hiện nay, BIDV cung cấp các dịch vụ thanh toán quốc tế thông qua phương thức chủ yếu như thanh toán chuyển tiền, nhờ thu và tín dụng chứng từ. Các ngoại tệ được sử dụng chủ yếu như USD, EURO, SGD…

Những năm qua, doanh số nghiệp vụ thanh toán quốc tế của BIDV có tốc độ tăng trưởng cao, bình quân 25% trong giai đoạn 2000 – 2005, thị phần hoạt động thanh toán quốc tế trên cả nước ngày càng mở rộng từ 7,5% năm 2000 đã lên tới 11% năm 2005. Về mạng lưới thanh toán quốc tế, BIDV đã có những tiến bộ rất nhanh qua các năm, không ngừng được mở rộng từ 19 chi nhánh thanh toán quốc tế trực tiếp năm 1999 lên tới hơn 70 chi nhánh đến hết năm 2005. Chất lượng hoạt động thanh toán quốc tế được nâng lên, về tốc độ xử lý giao dịch, độ chính xác, trình độ chuyên môn và độ an toàn, đã góp phần nâng cao uy tín quốc tế của BIDV. Tổ chức thanh toán được hình thành và không ngừng được mở rộng, nâng cấp gồm Phòng thanh toán quốc tế và Trung tâm tài trợ thương mại Trung ương, các phòng hoặc tổ chức thanh toán quốc tế ở các chi nhánh địa phương. Quy trình thanh toán đã được chuẩn mực hoá và thực thi có hiệu quả. Liên tục trong các năm 1999 – 2005, BIDV đã được Ngân hàng Bank of New York, Citibank công nhận là ngân hàng có chất lượng thanh toán tốt nhất theo tiêu chuẩn Mỹ.

  • Bảng 6: Một số kết quả hoạt động kinh doanh nghiệp vụ thanh toán quốc tế của BIDV giai đoạn 2002 – 2005

Phương thức tín dụng chứng từ:

Phương thức tín dụng chứng từ là phương thức được sử dụng chủ yếu trong thanh toán hàng nhập khẩu cũng như thanh toán hàng xuất khẩu tại Ngân hàng BIDV.

  • Nghiệp vụ thanh toán hàng nhập bằng L/C Khóa luận: Thực trạng nghiệp vụ NH quốc tế của Ngân hàng BIDV.

Phát hành thư tín dụng nhập khẩu – đó là dịch vụ cung cấp cam kết thanh toán, nên việc thanh toán hàng nhập khẩu bằng phương thức L/C được Ngân hàng xem xét rất kỹ điều khoản ngay từ khi mở L/C. Ngoài các điều khoản về hồ sơ pháp lý, hồ sơ chứng từ liên quan đến giao dịch của khách hàng, BIDV còn phải xem xét nguồn vốn thanh toán L/C:

  • Nếu khách hàng mở L/C bằng vốn vay BIDV hoặc tài trợ uỷ thác, khách hàng không phải ký quỹ. Những giao dịch này an toàn về nguồn vốn thanh toán, chiếm tỷ trọng lớn trong giao dịch bằng L/C tại BIDV.
  • Nếu khách hàng mở L/C bằng nguồn vốn tự có hoặc của bên thứ ba, khách hàng phải ký quỹ tối thiểu 5%.

Hiện nay, đối với giao dịch L/C trong hạn mức được duyệt, các chi nhánh đã được Hội sở chính cho phép thực hiện thanh toán quốc tế trực tiếp, tự chịu trách nhiệm xem xét hồ sơ của khách hàng, nguồn vốn thanh toán và mở L/C khi đủ điều kiện. Hội sở chính chỉ làm nhiệm vụ chuyển tiếp và xem xét lại các điều khoản L/C đối với L/C có hạn mức lớn trên mức tự động của chi nhánh. Cơ cấu hàng hoá nhập khẩu thanh toán qua BIDV thay đổi qua các năm theo xu hướng đa dạng hoá khách hàng trong hoạt động. Trước đây, mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là máy móc thiết bị thì nay, cơ cấu mặt hàng đã phong phú như hàng điện tử, vật liệu, máy móc…

  • Bảng 7: Tình hình thanh toán L/C nhập khẩu tại BIDV

Nghiệp vụ thanh toán hàng xuất khẩu bằng L/C

  • Nghiệp vụ thông báo thư tín dụng:

Nghiệp vụ này ngày càng tăng tại BIDV do số lượng hàng xuất của Việt Nam và chất lượng thanh toán của BIDV ngày càng nâng cao. Ngân hàng nước ngoài sử dụng nghiệp vụ này của BIDV để thông báo cho người thụ hưởng hoặc chuyển tiếp cho các ngân hàng khác ở Việt Nam.

Bảng 8: Số liệu giao dịch thông báo L/C hàng xuất tại BIDV

  • Nghiệp vụ gửi chứng từ hàng xuất đòi tiền theo L/C:

Đây là loại hình nghiệp vụ chiếm tỷ trọng lớn trong tổng doanh số hoạt động thanh toán hàng xuất tại BIDV và có sự tăng trưởng qua các năm. Những khách hàng giao dịch với BIDV được mở rộng ra với những đối tượng: từ những người có quan hệ tín dụng vay vốn và thanh toán tại BIDV tới những doanh nghiệp chỉ sử dụng nghiệp vụ thanh toán tại BIDV. Trong phương thức thanh toán này, vấn đề quan trọng nhất cần được xem xét về điều khoản, về khả năng đòi tiền từ ngân hàng phát hành thư tín dụng và mức độ hoàn hảo của bộ chứng từ do khách hàng lập. Vì vậy, từ khâu thông báo thư tín dụng BIDV đã tư vấn cho khách hàng để tu chỉnh những điều khoản bất lợi, đảm bảo khả năng lập được bộ chứng từ thanh toán hoàn hảo nhất.

  • Nghiệp vụ chiết khấu chứng từ hàng xuất: Khóa luận: Thực trạng nghiệp vụ NH quốc tế của Ngân hàng BIDV.

Đây là hình thức BIDV ứng trước một phần trị giá bộ chứng từ hàng xuất trước khi ngân hàng phát hành thư tín dụng tiến hành thanh toán. Hiện nay, BIDV thực hiện chiết khấu tối đa 95% trị giá bộ chứng từ thanh toán đối với L/C trả ngay, 85% trị giá bộ chứng từ đối với L/C trả chậm.

Nghiệp vụ L/C xuất khẩu thực hiện tại tất cả các chi nhánh đã thực hiện thanh toán quốc tế trực tiếp. Cơ cấu hàng hàng xuất ngày càng đa dạng, trước đây chủ yếu là hàng gia công may mặc, giầy dép… thì nay hàng xuất đã thay đổi theo cơ cấu đầu tư của Ngân hàng như hàng thuỷ sản, cà phê, cao su…

  • Bảng 9: Tình hình thanh toán L/C xuất khẩu tại BIDV

Qua bảng số liệu trên, ta thấy với nghiệp vụ thanh toán quốc tế L/C, doanh số hàng nhập khẩu cao hơn hơn hàng xuất khẩu. Trong những năm gần đây, sự chênh lệch ngày càng giảm thể hiện sự nỗ lực của BIDV trong việc cân đối hàng xuất và nhập trong hoạt động thanh toán quốc tế.

  • Phương thức chuyển tiền

Trong phương thức này, BIDV đóng vai trò trung gian thanh toán, thực hiện theo lệnh/chỉ dẫn thanh toán của người nhập khẩu. Trong trường hợp người chuyển tiền đưa ra các chỉ dẫn sai, ngân hàng chuyển tiền sẽ không chịu trách nhiệm.

  • Nghiệp vụ chuyển tiền đi

Hầu hết các khoản chuyển tiền của Ngân hàng BIDV đều được thực hiện qua SWIFT. Mọi khoản chuyển tiền ra nước ngoài tại Ngân hàng BIDV đều tuân thủ chế độ quản lý ngoại tệ ngoại hối do Nhà nước ban hành trong từng thời kỳ. Tại Ngân hàng BIDV, nghiệp vụ này gồm thanh toán cho việc thanh toán phi mậu dịch, thanh toán hàng nhập khẩu, chuyển tiền đặt cọc… Nếu chuyển tiền ra nước ngoài để thanh toán hàng hoá nhập khẩu cần thiết phải có hợp đồng nhập khẩu, hoá đơn thương mại… Trường hợp chuyển tiền phi mậu dịch cần có các giấy tờ hợp pháp chứng minh về việc chuyển tiền ra nước ngoài tuân thủ các qui định của chế độ quản lý ngoại hối. Tuy nhiên do đối tượng khách hàng trong lĩnh vực thanh toán quốc tế của Ngân hàng BIDV chủ yếu là các doanh nghiệp nên số lượng khách hàng vãng lai ít dẫn đến doanh số chuyển tiền phi mậu dịch của Ngân hàng BIDV chiếm tỷ lệ thấp.

  • Nghiệp vụ chuyển tiền đến

Nghiệp vụ này gồm: chuyển tiền thanh toán hàng xuất, chuyển tiền phi mậu dịch và chuyển tiền mục đích khác. Mọi khoản ngoại hối thanh toán qua BIDV đều được Ngân hàng chuyển vào tài khoản cá nhân/công ty tại Việt Nam theo đúng chỉ dẫn thanh toán.

Chuyển tiền thanh toán hàng xuất là hình thức phát triển khá mạnh tại Ngân hàng BIDV, khách hàng phần lớn là nhà xuất khẩu cà phê ca cao. Cùng với sự khuyến khích của Chính phủ Việt Nam trong việc thu hút kiều hối từ nước ngoài về, Ngân hàng BIDV đã thực hiện chính sách khuyến khích khách hàng chuyển kiều hối qua hệ thống của Ngân hàng. Bên cạnh việc hướng dẫn tận tình, cụ thể và rõ ràng khách hàng ở Việt Nam để người nhà của họ tại nước ngoài chuyển tiền về qua hệ thống ngân hàng, đến việc đi khảo sát, tìm kiếm đối tác là các tổ chức kiều hối ở nước ngoài, kí kết hợp đồng chuyển tiền nhanh về Việt Nam. Chính nhờ các biện pháp tích cực nên doanh số chuyển tiền kiều hối của Ngân hàng qua các năm ngày một cao. Chỉ riêng hai quý đầu năm 2006, BIDV đã ký thêm 2 hợp đồng với các đối tác đưa tổng số lên 18 hợp đồng hợp tác dịch vụ kiều hối giữa BIDV và đối tác nước ngoài. Khóa luận: Thực trạng nghiệp vụ NH quốc tế của Ngân hàng BIDV.

Nhận thức được phương thức chuyển tiền đến là hình thức quan trọng trong việc thu hút ngoại tệ nhằm đảm bảo cân đối với cơ cấu ngoại tệ trong thanh toán xuất nhập khẩu, Ngân hàng BIDV đã rất quan tâm để phát triển dịch vụ này. Doanh số chuyển tiền đến của Ngân hàng BIDV tăng mạnh qua các năm và chiếm một tỷ trọng cao trong doanh số hoạt động thanh toán quốc tế của Ngân hàng.

  • Bảng 10: Tình hình thanh toán bằng phương thức chuyển tiền tại BIDV

Phương thức nhờ thu:

  • Nghiệp vụ thanh toán hàng nhập khẩu

Khi thực hiện nghiệp vụ này, BIDV nhận thu kèm chứng từ từ ngân hàng nước ngoài hoặc từ người xuất khẩu, BIDV tiến hành thông báo cho khách hàng theo đúng chỉ dẫn.

Nghiệp vụ này trước đây không phổ biến tại BIDV vì nó phụ thuộc hoàn toàn vào quan hệ đối tác trong quan hệ buôn bán, chủ yếu được sử dụng đối với khách hàng nhập khẩu nguyên nhiên vật liệu có uy tín và có mối quan hệ mật thiết với đối tác xuất khẩu. Tuy nhiên, theo xu thế thương mại quốc tế hiện nay, phương thức này ngày càng tăng dần trong khi phương thức thanh toán bằng L/C giảm dần. Bên cạnh đó, uy tín của ngân hàng cũng là yếu tố quan trọng để các ngân hàng phục vụ người xuất khẩu lựa chọn gửi chứng từ nhờ thu. Từ khi thực hiện nghiệp vụ thanh toán quốc tế đến nay, uy tín của BIDV ngày càng được nâng cao nên số lượng các bộ chứng từ nhờ thu gửi về qua BIDV ngày càng tăng lên qua các năm.

Bảng 11: Tình hình thanh toán nhập khẩu tại BIDV bằng phương thức nhờ thu

  • Nghiệp vụ thanh toán hàng xuất khẩu

Đây là hình thức thanh toán được thực hiện với doanh số thấp tại BIDV vì hình thức thanh toán này không an toàn cho khách hàng nên BIDV luôn tư vấn khách hàng sử dụng nghiệp vụ thanh toán bằng L/C. Tuy nhiên, phương thức này hay áp dụng cho đối với khách hàng xuất khẩu là công ty liên doanh hay công ty con của các công ty nước ngoài. Vai trò của BIDV trong phương thức này là kinh nghiệm trong giao dịch để tư vấn khách hàng lập bộ chứng từ có khả năng đòi tiền một cách nhanh nhất.

Bảng 12 : Tình hình thanh toán xuất khẩu tại BIDV bằng phương thức nhờ thu

  • Nghiệp vụ thẻ tín dụng quốc tế Khóa luận: Thực trạng nghiệp vụ NH quốc tế của Ngân hàng BIDV.

Thẻ quốc tế là dịch vụ mới, tiềm năng có tốc độ phát triển nhanh, đang được các ngân hàng quan tâm, đầu tư và mở rộng. Chỉ tính đến cuối tháng 6/2006, trong cả nước có 5 triệu thẻ thanh toán các loại trong đó có 90% là thẻ nội địa còn 0,5 triệu thẻ (10%) là thẻ thanh toán quốc tế.

Nhận biết đây là thị trường tiềm năng mà BIDV đã bỏ ngỏ trong thời gian qua, ngày 12/9/2006, BIDV chính thức hoàn thành việc kết nối thanh toán thẻ Visa. Dự kiến vào cuối năm 2006 đầu năm 2007, BIDV sẽ xem xét khả năng chuyển đổi thẻ ATM từ công nghệ thẻ từ sang công nghệ chíp để phục vụ tốt nhất các dịch vụ tiện ích cho khách hàng của mình. Đặc biệt, vào ngày 15/6/2006, Trung tâm Thẻ của BIDV ra đời là bước đi cụ thể về chiến lược đa dạng hoá các sản phẩm dịch vụ nhằm tiến tới gần khách hàng hơn và đẩy mạnh hoạt động của ngân hàng bán lẻ trong tổng thu của Ngân hàng.

Song song với việc phát triển các sản phẩm thẻ, BIDV còn chú trọng phát triển mạng lưới chấp nhận thẻ thanh toán trong cả nước với hệ thống ATM và POS (điểm chấp nhận thẻ), là cơ sở hạ tầng để phục vụ dịch vụ thanh toán thẻ. Mạng lưới ATM lên tới 400 máy ATM và 1000 điểm chấp nhận thanh toán.

2. Hoạt động kinh doanh các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế Khóa luận: Thực trạng nghiệp vụ NH quốc tế của Ngân hàng BIDV.

Nghiệp vụ này ngày càng được chú trọng tại BIDV nhưng tập trung chủ yếu nhất vẫn là hoạt động bảo lãnh tín dụng và kinh doanh ngoại tệ, chiếm tỷ trọng chủ yếu. Còn các nghiệp vụ khác như bao thanh toán, tài trợ tín dụng xuất nhập khẩu… vẫn còn khá mờ nhạt. Ở đây chúng ta đi xem xét nghiệp vụ bảo lãnh quốc tế và kinh doanh ngoại tệ.

  • Nghiệp vụ bảo lãnh quốc tế

Trong những năm qua, hoạt động bảo lãnh của BIDV có sự tăng trưởng cả về doanh số hoạt động và phí thu từ hoạt động bảo lãnh, cụ thể BIDV cung cấp các nghiệp vụ bảo lãnh sau:

Thông báo bảo lãnh, thông báo tu chỉnh bảo lãnh: Sau khi phát hành thư bảo lãnh/các bản tu chỉnh bảo lãnh, ngân hàng thông báo sẽ tiến hành xác thực chữ ký uỷ quyền, tính hiệu lực của thư bảo lãnh. Để nâng cao hiệu quả và chất lượng hoạt động của nghiệp vụ này, BIDV còn thực hiện tư vấn miễn phí cho khách hàng khi có yêu cầu hoặc khi có giao dịch của khách hàng liên quan tới các dự án do BIDV tài trợ. Nội dung tư vấn bao gồm: điều kiện đòi tiền, thời gian bảo lãnh… Trong nghiệp vụ này, BIDV đóng vai trò là ngân hàng phục vụ người hưởng lợi trong nước, tiến hành thông báo hoặc tu chỉnh thư bảo lãnh mà không chịu trách nhiệm đối với điều khoản bảo lãnh.

  • Bảng 13: Số liệu giao dịch thông báo thư bảo lãnh tại BIDV

Dịch vụ phát hành bảo lãnh: BIDV có thể phát hành bảo lãnh theo yêu cầu của khách hàng (ngân hàng nước ngoài hoặc khách hàng trong nước). Khi nhận được đơn yêu cầu bảo lãnh từ khách hàng, BIDV tiến hành xem xét hồ sơ trên khía cạnh như: năng lực tài chính và khả năng thực hiện nghĩa vụ được bảo lãnh của khách hàng, các bảo đảm của bảo lãnh, các điều khoản của thư bảo lãnh… Thư bảo lãnh do BIDV phát hành phải đảm bảo phù hợp với thông lệ quốc tế không có điều khoản bất lợi cho khách hàng

Trong năm 2005, tổng số dư bảo lãnh đạt 22443 tỷ USD tăng 19,5% so với năm 2004 (16100 tỷ USD) trong đó bảo lãnh mở L/C là 10100 tỷ VND (chiếm 45%), bảo lãnh thực hiện hợp đồng là 5835,18 tỷ VND (chiếm 26%), bảo lãnh thanh toán 897 tỷ USD (chiếm 4%)… Ngoài ra trong năm 2005, BIDV đã bảo lãnh ứng trước cho Vinashin vay 71,75 triệu USD để đóng 6 tàu biển ra nước ngoài.

Doanh số thu phí nghiệp vụ bảo lãnh trong năm 2005 đạt 111,529 tỷ VND chiếm khoảng 21% tổng thu dịch vụ, trong đó phí hoạt động bảo lãnh nước ngoài đạt 12,41 tỷ VND.

Bảng 14: Số liệu giao dịch phát hành thư bảo lãnh nước ngoài tại BIDV

  • Nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ Khóa luận: Thực trạng nghiệp vụ NH quốc tế của Ngân hàng BIDV.

Kể từ năm 1998, Ngân hàng BIDV đẩy mạnh hoạt động kinh doanh tiền tệ đến 34 chi nhánh trong hệ thống được phép kinh doanh ngoại tệ. Bộ phận mua bán trực tiếp hoặc với nước ngoài thông qua hệ thống Dealing rom, fax, telex và được trang bị màn hình Reuters, Telerate 24/24 để theo sát tình hình biến động thế giới. Hoạt động kinh doanh ngoại tệ tiếp tục chú trọng vào các hoạt động mang tính thương mại trên cơ sở nhu cầu khách hàng. BIDV thực hiện giao dịch với trên 15 ngoại tệ khác nhau, trong đó bao gồm những đồng tiền chủ đạo như USD, EUR, GBP.. Hoạt động mua bán ngoại tệ được tập trung tại Hội sở chính theo đó các giao dịch bán buôn trên liên ngân hàng chỉ được thực hiện tại Hội sở chính. Hoạt động mua bán ngoại tệ bán lẻ phục vụ doanh nghiệp, các tổ chức xã hội, cá nhân được thực hiện tại tất cả các chi nhánh trên phạm vi toàn quốc với giao dịch như giao ngay, kỳ hạn, hoán đổi, quyền chọn.

  • Bảng 15: Giao dịch ngoại tệ

BIDV là ngân hàng thương mại Nhà nước đầu tiên được phép triển khai thí điểm quyền chọn tiền tệ (Currency options) – VND từ năm 2004. Trong năm 2005, BIDV đã giới thiệu thêm tới khách hàng các sản phẩm phái sinh như quyền chọn lãi suất (Interest rate option), hoán đổi lãi suất (Interest rate swap), quản lý tài sản (Asset management). Trong thời gian tới, BIDV cũng đang xúc tiến triển khai thực hiện thêm các sản phẩm phái sinh khác như: giao dịch hàng hoá tương lai (Comodity futures), các sản phẩm cơ cấu (structure products), hoán đổi lãi suất (Interest rate swap) nhằm giúp khách hàng linh hoạt trong hoạt động quản lý rủi ro tỷ giá lãi suất đồng thời có những lựa chọn đem lại hiệu quả tối đa. Mặt khác, trong thời gian qua, hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại Hội sở chính đã từng bước được chuyên nghiệp hoá với việc áp dụng hệ thống công nghệ phần mềm có tính năng xử lý trực tuyến và theo đó các giao dịch được tự động cập nhập từ chương trình Reuters Dealing vào chương trình quản lý kiểm soát hạn mức trên máy, phê duyệt trên máy và chuyển tự động trực tuyến tới bộ phận kinh doanh.

  • Bảng 16: Doanh số kinh doanh ngoại tệ

3. Hợp tác kinh doanh ngân hàng quốc tế

Tăng cường hợp tác quốc tế trong hoạt động kinh doanh là một định hướng phát triển nhất quán của Ngân hàng BIDV trong thời kỳ đổi mới và hội nhập. Đặc biệt những năm qua đã ghi nhận những biến động phức tạp về chính trị trên thế giới kèm theo là cơn bão của SARS và cúm gia cầm H5N1 với những tác động nhất định đến tình hình kinh doanh của các ngân hàng trong khu vực, tuy nhiên trên cơ sở phát huy nền tảng hợp tác với bạn hàng trong thời gian qua, các hoạt động ngân hàng quốc tế vẫn đạt được nhiều thành quả đáng khích lệ. Các hoạt động liên doanh, liên kết tiếp tục hoạt động hiệu quả và tăng trưởng cả ở trong nước và ở nước ngoài minh chứng cho chính sách cùng hợp tác phát triển của BIDV. Đồng thời, Ngân hàng cũng đang chuẩn bị những điều kiện cần thiết để được cấp phép và có thể sớm khai trương hoạt động đại diện văn phòng tại Mỹ. Cụ thể:

  • Tham gia ngân hàng liên doanh Khóa luận: Thực trạng nghiệp vụ NH quốc tế của Ngân hàng BIDV.

Trong những năm qua, BIDV đã tham gia với các ngân hàng bạn để liên doanh, liên kết nhằm mở rộng thị trường và khai thác những nguồn lực về tài nguyên thiên nhiên, nhân lực, tài chính… Điển hình, Ngân hàng liên doanh Lào – Việt giữa BIDV và Ngân hàng Ngoại thương Lào (LVB) thành lập vào tháng 6/1999, trụ sở chính tại Viêng Chăn, Lào. Tính đến cuối tháng 12/2005, vốn điều lệ của toàn hệ thống LVB được tăng từ 10 triệu USD lên tới 15 triệu USD. Việc tăng vốn này thể hiện nỗ lực to lớn của hai bên trong việc tăng cường năng lực tài chính, phát huy vai trò chủ lực trong hoạt động kinh doanh, góp phần hoàn thành tốt nhiệm vụ kinh tế chính trị do Đảng và Chính phủ hai nước giao cho.

  • Bảng 17: Kết quả kinh doanh của Ngân hàng liên doanh Lào – Việt trong hai năm 2004 – 2005

Ngoài ra, BIDV còn liên kết với một số ngân hàng trong việc thành lập một số ngân hàng liên doanh hoạt động có hiệu quả tại Việt Nam như Ngân hàng liên doanh VID-Public Bank (hợp tác với Ngân hàng Public Bank Behard – Malaysia), công ty liên doanh tháp BIDV (hợp tác với Singapore)… Tỷ trọng đầu tư góp vốn liên doanh tuy đã được cải thiện nhưng còn nhỏ so với tổng tài sản và so với mức đầu tư tối đa cho phép của Ngân hàng Nhà nước là 30%.

Bảng 18: Tỷ trọng góp vốn liên doanh qua các năm 2002 – 2005

  • Tham gia vào các công ty cho thuê tài chính liên doanh

Với hình thức này, BIDV chưa thực sự phát triển, chủ yếu vẫn là sự hợp tác với các ngân hàng nước ngoài mở trụ sở tại Việt Nam như công ty cho thuê tài chính I và II (BLC) hoặc công ty bảo hiểm Việt – Úc nhưng đến tháng 1- 2006, quan hệ này đã tan vỡ và công ty này hoàn toàn 100% vốn của BIDV.

  • Tham gia vào các định chế tài chính phi ngân hàng

BIDV ngày càng tham gia nhiều vào các định chế tài chính, hiệp hội ngân hàng. BIDV là thành viên của hội đồng quản trị của định chế tài chính phát triển Châu Á – Thái Bình Dương (ADFIAP) vào năm 2001, đặc biệt vào ngày 11/5/2005, tại Fiji, BIDV được hiệp hội trao tặng hai giải thưởng “Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ” và ”Phát triển kinh tế địa phương”. Ngoài ra, BIDV còn là thành viên của Hiệp hội ngân hàng Châu Á (ABA), ASEAN.

III: ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG NGHIỆP VỤ NGÂN HÀNG QUỐC TẾ CỦA BIDV TRONG THỜI GIAN QUA

1. Những kết quả đạt được Khóa luận: Thực trạng nghiệp vụ NH quốc tế của Ngân hàng BIDV.

Hiện nay, nghiệp vụ ngân hàng quốc tế không còn là độc tôn của bất kỳ ngân hàng nào nữa. Muốn phát triển, BIDV phải chú trọng việc cung ứng các nghiệp vụ có hàm lượng công nghệ cao trong đó có nghiệp vụ ngân hàng quốc tế, coi đây là một chiến lược đa dạng hoá sản phẩm dịch vụ nhằm tiến tới gần khách hàng hơn, nâng cao vị thế của BIDV trong cộng đồng tài chính quốc tế.

Trong giai đoạn 2000 – 2005, các hoạt động kinh doanh quốc tế đạt được sự phát triển cả về chiều rộng (quy mô, thị trường cung cấp) và chiều sâu (chất lượng và tiện ích các nghiệp vụ cung cấp). Các nghiệp vụ này chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong tổng thu của Ngân hàng (điều này được minh chứng thông qua các bảng số liệu ở trên). Cụ thể:

Sự phát triển của nghiệp vụ ngân hàng quốc tế tạo cơ sở cho BIDV phát triển nghiệp vụ theo hướng đa dạng hoá sản phẩm. Các nghiệp vụ này tạo điều kiện cho BIDV trở thành một tập đoàn tài chính đa năng, đa lĩnh vực.

Các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế ngày càng tăng trưởng về số lượng (từ 100 loại dịch vụ 2002 lên tới 250 loại dịch vụ năm 2005) và chất lượng (là ngân hàng đầu tiên đáp ứng được tiêu chuẩn ISO 9000 – 2000 và liên tục là ngân hàng có chất lượng thanh toán tốt nhất theo tiêu chuẩn Mỹ từ năm 1999 – 2005). Từng loại dịch vụ có sự tăng trưởng qua các năm, loại hình nghiệp vụ được chú trọng đa dạng hoá (Ví dụ: nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ hơn so với ngân hàng về các sản phẩm phái sinh như quyền chọn lãi suất (Interest rate option), hoán đổi lãi suất (Interest rate swap), quản lý tài sản (Asset management).

Các nghiệp vụ ngân hàng đối ngoại truyền thống của BIDV như bảo lãnh quốc tế, thanh toán quốc tế đã dần được chuẩn hoá về quy trình nghiệp vụ, trang bị máy móc thiết bị hiện đại, kiểm soát chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9000 – 2000.

Việc phát triển nghiệp vụ ngân hàng quốc tế tạo điều kiện cho BIDV tạo lập cơ sở và mạng lưới kinh doanh gồm 79 chi nhánh cấp 1, 69 chi nhánh cấp 2, 820 ngân hàng địa lý và 40 tài khoản ngân hàng trên toàn thế giới và thiết lập được các ngân hàng liên doanh (Ngân hàng liên doanh Lào – Việt, Ngân hàng VID – Public bank…).

Việc phát triển nghiệp vụ ngân hàng quốc tế đã góp phần nâng cao vị thế của BIDV. Ngày càng có nhiều doanh nghiệp lớn, nhất là các tổng công ty Nhà nước Việt Nam và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trở thành khách hàng của BIDV (Vinashin, Tổng công ty điện lực Việt Nam, Public Bank…). Đặc biệt các tổ chức quốc tế (WB, IMF, ADB…) rất tín nhiệm BIDV cho nên phần lớn các nguồn vốn ODA đều được chuyển đến BIDV làm đại lý uỷ thác. Trong quan hệ tín dụng, thanh toán quốc tế thì BIDV là ngân hàng thương mại được xếp loại uy tín, đặc biệt đối với các nước trong khu vực và Châu Á, liên tiếp được trao giải ngân hàng có chất lượng thanh toán tốt nhất. Khóa luận: Thực trạng nghiệp vụ NH quốc tế của Ngân hàng BIDV.

Tuy đầu tư cho công nghệ mới ở mức ban đầu so với thế giới nhưng BIDV được đánh giá là ngân hàng thương mại Việt Nam đi đầu trong việc phát triển công nghệ. Trung bình mỗi năm, BIDV đầu tư gần 130 tỷ USD cho việc trang bị máy móc, cải tiến và nâng cấp các chương trình công nghệ thông tin. Mức độ tin học hoá ở BIDV khá cao so với toàn ngành ngân hàng, nhờ đó nâng cao hiệu suất làm việc, phục vụ nhanh và tốt hơn nhu cầu khách hàng. BIDV đã mạnh dạn triển khai hệ thống giao dịch bán lẻ SIBS do Silverlake cung cấp, áp dụng các giải pháp phần mềm tiên tiến cho phép kết nối trực tiếp với mạng lưới giao dịch toàn cầu Reuters Dealing.

Thời gian qua, BIDV đã có nhiều đổi mới trong công tác tổ chức và đào tạo cán bộ. Trình độ, năng lực, kinh nghiệm của cán bộ, nhân viên của BIDV cũng ngày càng được nâng cao do được đầu vào cao, đào tạo bài bản hơn, yêu cầu thực tế ngày càng cao và phát sinh các nghiệp vụ mới. So sánh mặt bằng chung trong ngành ngân hàng, cán bộ BIDV có chất lượng tốt hơn trong các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế.

  • Bảng 19: Số lượng và cơ cấu lao động của BIDV

2. Những tồn tại

Cơ cấu sản phẩm chưa đa dạng: Mặc dù trong thời gian gần đây, BIDV có hướng đầu tư các sản phẩm mới theo bước hiện đại hoá ngân hàng, từ 100 loại dịch vụ năm 2002 lên tới hơn 250 loại dịch vụ năm 2005. Thế nhưng con số này còn quá nhỏ bé so với 6000 loại dịch vụ mà một ngân hàng hiện đại có thể cung cấp. BIDV vẫn chỉ tập trung chủ yếu vào các sản phẩm nghiệp vụ ngân hàng truyền thống như bảo lãnh quốc tế, thanh toán quốc tế, nghiệp vụ ngân hàng đại lý, nhiều sản phẩm đã có nhưng tiện ích còn nghèo nàn như quyền chọn lãi suất, hoán đổi lãi suất, dịch vụ ngân hàng điện tử, tài trợ xuất nhập khẩu… hoặc chưa có như bao tín dụng, biên lai tín thác… chưa đáp ứng được nhu cầu khách hàng trong và ngoài nước. Một số sản phẩm triển khai chưa được đồng bộ khắp các đơn vị thành viên trong khi thực tế có thể triển khai được như dịch vụ ngân hàng điện tử. Do đó, BIDV cần phải nỗ lực nhiều trong việc xoá bỏ thế “độc canh sản phẩm”.

Phát triển không đồng đều: Tốc độ phát triển nghiệp vụ ngân hàng quốc tế còn chậm và không đồng đều giữa các chi nhánh trong toàn bộ hệ thống của BIDV. Số lượng các chi nhánh làm nghiệp vụ ngân hàng quốc tế chỉ chiếm 2/3 tổng số các chi nhánh và tập trung ở các thành phố lớn. Các văn phòng đại diện của BIDV ở nước ngoài còn ít hầu, như không có hoặc có nhưng chỉ mang tính hình thức và hoạt động kém hiệu quả. Đó cũng là thực trạng chung của các văn phòng đại diện ở nước ngoài của các ngân hàng Việt. Khóa luận: Thực trạng nghiệp vụ NH quốc tế của Ngân hàng BIDV.

Doanh số thấp: Doanh số hoạt động và thu nhập từ nghiệp vụ ngân hàng quốc tế còn nhỏ bé, tính chất chuyên môn hoá chưa cao, chưa khai thác hết lợi thế có sẵn của BIDV mặc dù BIDV đã có nỗ lực đáng kể trong việc mở rộng các quan hệ đại lý, liên doanh hợp tác, đầu tư trang thiết bị nâng cao chất lượng công nghệ ngân hàng.

Kênh phân phối không phát triển: Các sản phẩm của BIDV chủ yếu được cung cấp qua kênh phân phối truyền thống. Các giao dịch chuyển tiền, uỷ thác đầu tư… được thực hiện chủ yếu tại các cơ sở: quầy giao dịch, các chi nhánh ngân hàng. BIDV mới đang ở trong giai đoạn đầu của phát triển ngân hàng điện tử (dịch vụ Home Banking, BSMS…). Trong khi đó các ngân hàng Ngoại thương, Công thương… đã và đang tích cực cho ra đời các sản phẩm dịch vụ ngân hàng hiện đại từng bước chiếm lĩnh thị trường. Khá nhiều sản phẩm dịch vụ đã được các ngân hàng triển khai, trở thành phổ biến được khách hàng chấp nhận trong khi đó BIDV mới đang trong giai đoạn đầu phát triển như nghiệp vụ thẻ tín dụng quốc tế,… chỉ là thành viên của Visa Card trong khi đó Ngân hàng Ngoại thương đã trở thành viên của tổ chức này từ lâu hoặc việc thanh toán liên ngân hàng Banknet vẫn chưa được áp dụng, thẻ ATM của BIDV mới chỉ để dùng rút tiền tại chính điểm giao dịch của BIDV trong khi thẻ của các ngân hàng khác có thể rút ở quầy giao dịch của nhau. Đó là chưa kể đến dịch vụ thanh toán Forfeiting, Factoring, biên lai tín thác, tín dụng trọn gói… mới là chỉ ý tưởng, trong khi các nghiệp vụ này đã được triển khai tại ngân hàng bạn.

Hoạt động Marketing chưa được chú ý: Chưa làm nổi bật thương hiệu của BIDV trong nghiệp vụ ngân hàng quốc tế, đặc biệt ở lĩnh vực bán lẻ và các nghiệp vụ có ngân hàng có hàm lượng công nghệ cao. Khi nói đến nghiệp vụ thanh toán quốc tế, các hoạt động liên quan đến nghiệp vụ ngân hàng phục vụ ngoại thương, trong tiềm thức người dân luôn nghĩ đến Ngân hàng Ngoại thương; nghiệp vụ thẻ, séc, khách hàng luôn nhớ tới Ngân hàng Ngoại thương, Ngân hàng ACB. Trong năm 2005, doanh số thẻ tín dụng của Ngân hàng Ngoại thương đạt hơn 100 triệu USD chiếm khoảng 40% tổng thị phần tín dụng thẻ Việt Nam. Trong đó doanh số thẻ tín dụng ở nước ngoài chiếm 70% chủ yếu là thanh toán hàng hoá, dịch vụ. Ngân hàng Ngoại thương có mạng lưới chi nhánh ở hầu hết các thành phố lớn do vậy họ có điều kiện xây dựng mạng lưới chấp nhận thẻ và ngân hàng đại lý rộng khắp (hơn 1000 ngân hàng đại lý so với con số 820 của BIDV). Ngân hàng BIDV quá chậm trễ, đến tháng 9/2006 mới bắt đầu triển khai thẻ tín dụng quốc tế Visa.

Cơ cấu khách hàng sử dụng nghiệp vụ này còn chưa hợp lý: Số khách hàng sử dụng nghiệp vụ này chủ yếu tập trung vào các doanh nghiệp có quan hệ tín dụng. Chỉ trong vài năm gần đây, BIDV mới tập trung nguồn lực để phát triển nghiệp vụ ngân hàng bán lẻ hiện đại như thẻ ATM, thẻ Visa… cho đối tượng khách hàng cá nhân. Hoạt động Ngân hàng còn mang tính dàn trải, chưa mang tính quyết định hướng vào thị trường tiềm năng.

Sự thiên lệch hàng nhập, hàng xuất lợi bất cập hại: Thoạt nhìn, sự thiên lệch này có vẻ bình thường và dễ hiểu vì bao lâu nay, nước ta nhập siêu triền miên. Song tình trạng này nếu kéo dài sẽ dẫn tới tình trạng mất cân đối ngoại tệ, gây sức ép cho hoạt động thanh toán quốc tế. Các khách hàng của BIDV chủ yếu thực hiện nghiệp vụ hàng nhập, trông chờ chủ yếu việc bán ngoại tệ của BIDV trong khi lượng khách xuất hàng và bán ngoại tệ lại cho BIDV không nhiều.

Tồn tại trong lĩnh vực công nghệ: tuy được đánh giá là ngân hàng trong nước đi đầu trong lĩnh vực công nghệ nhưng lĩnh vực này còn tồn tại một số nhược điểm lớn như: nền tảng công nghệ còn thấp kém so với các nước trong khu vực; chưa đủ trình độ thiết kế tổng thể, còn nhiều hệ thống ứng dụng tự phát và mang tính tạm thời phục vụ trong kinh doanh; ngại thí điểm triển khai những phần mềm trong nước có chất lượng tốt hơn nước ngoài và giá thành rẻ, chỉ mua những phần mềm có sẵn của nước ngoài do đó giá thành cao do tâm lý sính ngoại; thiếu những kỹ sư “key person” am hiểu về công nghệ ngân hàng và nghiệp vụ…

3. Nguyên nhân của tồn tại Khóa luận: Thực trạng nghiệp vụ NH quốc tế của Ngân hàng BIDV.

3.1 Nguyên nhân khách quan

  • Một là: Môi trường pháp lý còn thiếu, nhiều trói buộc và bất cập.

Tại các nước có nền kinh tế phát triển, người ta quản lý xã hội trên tinh thần tôn trọng luật pháp. Luật pháp được soạn thảo theo tư tưởng chủ đạo là được phép thực hiện những hành vi mà pháp luật không cấm. Ở Việt Nam thì ngược lại, pháp luật lại đặt ra một hành lang mà mọi người phải đi theo trên tinh thần làm gì đã có quy định do đó vô hình chung đã trói chân và sự năng động, sáng tạo của các doanh nghiệp và ngân hàng. Luật ngân hàng ra đời vào năm 1988 đă trải qua nhiều sửa đổi nhưng còn nhiều điều bất cập. Đặc biệt chỉ có một số ít văn bản pháp quy quy định và hướng dẫn thi hành vài nghiệp vụ ngân hàng quốc tế như thanh toán quốc tế, bảo lãnh quốc tế còn các nghiệp vụ khác chưa ban hành quy chế, quy định văn bản dưới luật tại Việt Nam hoặc có ban hành nhưng thường chậm, nhiều văn bản pháp lý chưa được thi hành đã lạc hậu so với thực tế. Ví dụ bảo lãnh có quy chế nhưng không có quy định bảo lãnh cho các đối tác nước ngoài. Hiện tại, các bên tham gia vào nghiệp vụ ngân hàng quốc tế vẫn áp dụng pháp luật quốc tế như Incoterm 2000, UCP 500, URC 522… làm căn cứ quy định quyền hạn trách nhiệm của các bên trong khi những văn bản trên chỉ là thông lệ quốc tế. Các quốc gia khác đều có luật quy định cụ thể về nghiệp vụ ngân hàng quốc tế trên cơ sở thông lệ quốc tế có tính đến đặc thù của họ. Như vậy, hành lang pháp lý cho hoạt động ngân hàng nói chung và nghiệp vụ ngân hàng quốc tế nói riêng còn thiếu và nhiều bất cập, không hỗ trợ cho nghiệp vụ ngân hàng quốc tế phát triển.

  • Hai là: Các cơ chế quản lý vĩ mô liên quan tới xuất nhập khẩu không ổn định và hay thay đổi.

Nghiệp vụ ngân hàng quốc tế có đặc thù gắn liền với cơ chế xuất nhập khẩu, hải quan và thuế quan. Nếu những cơ chế này thay đổi ảnh hưởng hiệu quả kinh tế lẫn số lượng giao dịch của doanh nghiệp sẽ gây ảnh hưởng tới nghiệp vụ ngân hàng quốc tế của ngân hàng. Ví dụ: quy định về nhập khẩu ô tô cũ vừa qua là một ví dụ điển hình. Các doanh nghiệp đã nhập khẩu ô tô cũ về nhưng không được thông quan nhập khẩu do các đơn vị hải quan không có văn bản hướng dẫn chi tiết về xác định giá trị thật của ô tô cũ, họ mất nhiều thời gian để chờ văn bản hướng dẫn. Do đó, các doanh nghiệp này quá hạn thanh toán với ngân hàng. Khó khăn này khiến cho không ít doanh nghiệp điêu đứng buộc các ngân hàng phục vụ người nhập khẩu phải thanh toán cho ngân hàng nước ngoài. Khóa luận: Thực trạng nghiệp vụ NH quốc tế của Ngân hàng BIDV.

  • Ba là thiếu sự hỗ trợ của thị trường tài chính và các công cụ đặc trưng.

Thị trường ngoại hối Việt Nam chưa phát triển, đang ở dạng sơ khai là thị trường ngoại tệ liên ngân hàng. Đó là do cơ chế cho thị trường vẫn còn nhiều bất cập, tỷ giá không linh hoạt vẫn còn cứng nhắc, quỹ ngoại tệ vẫn còn phân tán ở doanh nghiệp và nhân dân. Liên thông tầm quốc tế là đặc tính của thị trường đúng nghĩa thế nhưng chắc chắn không có ở nước ta do đồng tiền của nước ta chưa được tự do chuyển đổi. Thị trường tiền tệ còn thiếu một mảng hoạt động quan trọng đó là tín dụng thương mại với công cụ đặc trưng là kỳ phiếu thương mại. Hoạt động bằng bản tệ chưa phát triển mạnh chưa thể thúc đẩy nghiệp vụ ngân hàng quốc tế đi lên được. Hơn nữa, các nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ trên thị trường chưa phát triển, chủ yếu dừng lại mua bán giao ngay, các giao dịch khác vẫn dừng ở mức thăm dò. Điều này tạo khó khăn cho việc tính toán hiệu quả kinh doanh và tránh rủi ro tỷ giá biến động cho doanh nghiệp khi tham gia vào thị trường quốc tế.

  • Bốn là tỷ lệ tiền mặt trong lưu thông vẫn còn chiếm một tỷ lệ lớn.

Việt Nam hiện nay vẫn là thị trường thanh toán chủ yếu bằng tiền mặt cho dù đã có một số giao dịch dùng phương thức thanh toán không dùng tiền mặt như thẻ tín dụng, séc… Việc thanh toán trong dân cư với nhau phổ biến vẫn là bằng tiền mặt. Thu nhập của người dân nói chung vẫn ở mức thấp, những sản phẩm thoả mãn nhu cầu thiết yếu vẫn chủ yếu được mua sắm ở thị trường tự do cộng với thói quen sử dụng tiền mặt đơn giản, thuận tiện bao đời nay không dễ nhanh chóng thay đổi. Theo điều tra, Việt Nam có mười triệu thẻ nhưng chỉ có một triệu thẻ dùng để rút tiền, như vậy mất bốn năm để hình thành mạng lưới ATM ở các thành phố lớn quả là uổng. Người dân luôn nghĩ rằng thẻ ATM chỉ dừng ở mức rút tiền chứ không phải là để thanh toán trong giao dịch hàng ngày. Như vậy, với lượng tiền mặt lưu thông quá lớn đã cản trở đến khả năng các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế mang tính chất bán lẻ như thanh toán bằng thẻ, séc quốc tế…

  • Năm là trình độ nghiệp vụ của các đơn vị xuất nhập khẩu còn thấp.

Các doanh nghiệp Việt Nam bước ra từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp, vốn nhỏ, kinh nghiệm và sự thông hiểu các tập quán quốc tế còn nhiều hạn chế. Điều đó dẫn tới họ thiếu kinh nghiệm trong các hợp đồng ký kết ngoại thương, không xem xét kỹ các điều khoản thanh toán nên thường gặp rủi ro rất lớn. Phần lớn thực lực tài chính của các doanh nghiệp đều yếu kém nên hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đều dựa vào vốn vay của ngân hàng. Vì vậy, khi họ bị lừa đảo, mất hết vốn và không có khả năng trả nợ thường ảnh hưởng tới hoạt động bảo lãnh, thanh toán quốc tế của ngân hàng.

  • Sáu là sự cạnh tranh gay gắt thiếu lành mạnh giữa các ngân hàng.

Vì mục đích giành giật khách hàng trước mắt, gia tăng thêm thị phần của mình trên thị trường mà nhiều ngân hàng sử dụng nhiều biện pháp cạnh tranh không lành mạnh như hạ phí, lãi suất tiền vay… điều này đã cản trở đến chính các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế của chính bản thân ngân hàng. Mặt khác giữa các ngân hàng không có sự liên kết với nhau trong công nghệ. Các ngân hàng đua nhau bỏ ra hàng triệu USD để mua các phần mềm công nghệ, các công nghệ mới…trong khi những công nghệ ngân hàng thì nhanh chóng bị lạc hậu. Đơn cử chỉ tính riêng việc đầu tư một máy ATM, ngân hàng phải bỏ ra 30.000 USD và phải phủ kín 64 tỉnh thành phố và như vậy ảnh hưởng tới nguồn tài chính vốn rất eo hẹp của ngân hàng. Nên chăng, các ngân hàng có sự liên kết về thanh toán liên ngân hàng thông qua ATM và có sự hợp tác về nghiên cứu và trao đổi công nghệ thông tin, tránh tình trạng mình thiệt mà những người thầu được lợi.

  • Bảy là, năng lực tài chính của BIDV yếu. Khóa luận: Thực trạng nghiệp vụ NH quốc tế của Ngân hàng BIDV.

Năng lực tài chính quyết định tới hoạt động ngân hàng nói chung và hoạt động nghiệp vụ ngân hàng quốc tế nói riêng. Dựa vào năng lực tài chính của ngân hàng mà khách hàng có quyết định sử dụng dịch vụ ngân hàng đó không. Tình trạng phổ biến của các ngân hàng Việt Nam là quy mô vốn còn nhỏ bé, hệ số an toàn vốn (CAR) quá thấp.

  • Bảng 20: Hệ số an toàn vốn của BIDV

Trung bình trong giai đoạn từ năm 2001 – 2005, hệ số an toàn vốn trung bình của BIDV 5,65% tuy có cao so với ngân hàng khác nhưng còn thua xa con số 8% theo thông lệ quốc tế. Nguyên nhân của CAR thấp là do cơ chế chính sách của Nhà nước còn bất cập, vốn tự có cơ bản được cấp từ ngân sách Nhà nước eo hẹp…

3.2 Nguyên nhân chủ quan

  • Một là, hệ thống văn bản quản lý, hướng dẫn nghiệp vụ ngân hàng quốc tế chưa hoàn thiện.

Tuy nghiệp vụ ngân hàng quốc tế ở BIDV đã đi vào hoạt động được gần 14 năm, nhưng hệ thống các văn bản quy định hoạt động của các nghiệp vụ truyền thống như thanh toán quốc tế, bảo lãnh, đại lý uỷ thác… của BIDV vẫn chưa hoàn chỉnh, các văn bản vẫn còn ở dưới dạng vừa làm vừa xây dựng. Còn các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế mới như thẻ quốc tế, séc du lịch quốc tế… thì hiện tại chưa xây dựng và ban hành quy trình thực hiện nghiệp vụ cũng như các văn bản quản lý nghiệp vụ.

  • Hai là chưa có chiến lược tổng quát và định hướng phát triển nghiệp vụ ngân hàng quốc tế.

Các chiến lược mà BIDV xây dựng còn quá chung chung, mơ hồ chỉ dừng lại ở khía cạnh tốc độ tăng trưởng thu dịch vụ ròng, tốc độ tăng trưởng tổng tài sản… cần đạt được là bao nhiêu trong khi những giải pháp cụ thể để thực hiện mục tiêu này còn chưa được xác định rõ. BIDV lại chưa đầu tư khảo sát, đánh giá phân tích khả năng phát triển nghiệp vụ ngân hàng quốc tế tại những địa bàn có tiềm năng phát triển.

  • Ba là hoạt động nghiệp vụ ngân hàng quốc tế chưa được quan tâm đầu tư thích đáng.

Mảng kinh doanh chủ yếu của BIDV hiện nay vẫn là tín dụng trong khi mảng nghiệp vụ ngân hàng quốc tế vẫn chưa được coi trọng và phát huy đặc biệt các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế mới như thẻ quốc tế, séc du lịch, bảo lãnh hàng hải… Các sản phẩm của nghiệp vụ ngân hàng quốc tế còn đơn điệu, nghèo nàn trong khi tiêu chí đánh giá một ngân hàng có phát triển, hiện đại và tham gia vào mức độ quốc tế hoá sâu rộng hay không phụ thuộc vào khả năng của ngân hàng đó trong việc cung ứng các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế Khóa luận: Thực trạng nghiệp vụ NH quốc tế của Ngân hàng BIDV.

  • Bốn là, chưa có một chiến lược công nghệ thông tin rõ ràng.

Việc xây dựng một chiến lược công nghệ thông tin rõ ràng mang tính chất xuyên suốt có tính dài hạn có ý nghĩa quyết định đến việc ứng dụng thông tin có hiệu quả hay không. Chiến lược công nghệ thông tin của BIDV chẳng qua chỉ vẫn tập trung vào việc lồng ghép hiện đại hoá ngân hàng. Do đó điều dễ nhận thấy, công nghệ ngân hàng vẫn còn lạc hậu so với thế giới, trình độ ứng dụng công nghệ tin học trong cung cấp dịch vụ, đặc biệt là phát triển nghiệp vụ có tính cạnh tranh còn thấp hơn mức trung bình của ngân hàng trong khu vực. Các cơ chế quy trình nghiệp vụ còn chậm chưa được xây dựng, ban hành, sửa đổi hoàn chỉnh tính ổn định không cao.

  • Năm là, hoạt động Marketing chưa được đầu tư xứng đáng.

Trong điều kiện cạnh tranh như ngày nay, các ngân hàng đều ra sức phát triển để hội nhập kinh tế quốc tế thì vấn đề cạnh tranh diễn ra hết sức gay gắt. Các ngân hàng bên cạnh việc không ngừng nỗ lực tung ra các sản phẩm mới có chất lượng tốt mà còn ra sức quảng bá hình của ảnh mình tới khách hàng. Chính vì vậy, hoạt động Marketing cần được chú ý. Thế nhưng, thương hiệu của BIDV trong nghiệp vụ ngân hàng quốc tế còn quá mờ nhạt bên cạnh các đại gia như Vietcombank, ACB… BIDV chưa đề ra một chính sách, kế hoạch xây dựng một hình ảnh riêng thông qua các hoạt động tuyên truyền quảng cáo, chất lượng hoạt động của chính ngân hàng mình, chưa có chiến lược khách hàng hợp lý, …

  • Sáu là, nguồn nhân lực hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng quốc tế còn thiếu và yếu.

Còn tồn tại một bộ phận cán bộ nghiệp vụ bất cập về trình độ, chuyên môn. Một số cán bộ còn mang nặng tư duy bao cấp cũ, chưa năng động sáng tạo, chưa nhận thức hết vị trí trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền hạn của mình trong tác nghiệp cũng như trong quan hệ với khách hàng. Bên cạnh đó, sự phối hợp giữa các phòng ban, giữa Hội sở chính với các chi nhánh trong nghiệp vụ quốc tế còn chồng chéo, nặng tính hành chính, thiếu linh hoạt. Đó cũng là tình trạng phổ biến ở các ngân hàng thương mại Việt Nam khi việc phân định rõ chức năng, nhiệm vụ và thực hiện cơ chế phân quyền chưa được chú trọng. BIDV còn thiếu nhiều chuyên gia trên các nghiệp vụ mũi nhọn, lĩnh vực công nghệ ngân hàng hiện đại. Tóm lại, nguồn nhân lực của BIDV chưa đủ chưa tinh, cơ cấu chưa hợp lý còn nhiều bất cập, chưa theo kịp các yêu cầu nhiệm vụ. Nếu xét về trình độ chính trị, quản lý kinh tế và kiến thức kinh doanh ngân hàng hiện đại để đáp ứng yêu cầu hội nhập thì cần đào tạo và bồi dưỡng nhiều mặt trên diện rộng. Khóa luận: Thực trạng nghiệp vụ NH quốc tế của Ngân hàng BIDV.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>> Khóa luận: Giải pháp nghiệp vụ NH quốc tế của Ngân hàng BIDV

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Contact Me on Zalo
0877682993
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x