Thực trạng thực hiện thủ tục hải quan điện tử đối với hàng hóa nhập khẩu bằng đường biển tại thành phố Hồ Chí Minh
Nội dung chính
2.1. Tổng quan về tình hình khai báo hải quan điện tử hàng hóa xuất nhập khẩu tại thành phố Hồ Chí Minh
Trong thời gian qua, việc triển khai mở rộng thủ tục hải quan điện tử được thực hiện đồng thời cả hai phương thức truyền thống và điện tử đã đáp ứng được tình hình thực tiễn và yêu cầu mở rộng, đảm bảo tính lan tỏa, phù hợp với điều kiện hiện tại và làm tiền đề để triển khai mô hình thông quan tập trung sau này. Kim ngạch xuất nhập khẩu và số lượng tờ khai thực hiện qua thông quan điện tử trong những năm qua không ngừng tăng lên. Hải quan điện tử giúp doanh nghiệp thực hiện thủ tục hải quan nhanh hơn, tiện hơn và chính xác hơn chính vì vậy mà kết quả đạt được là những con số rất đáng khích lệ, đáp ứng được yêu cầu phát triển của ngành xuất nhập khẩu TP. HCM.
2.1.1. Tổng kim ngạch hàng hoá xuất nhập khẩu khai báo hải quan điện tử tại thành phố Hồ Chí Minh trong 3 năm gần đây
Tình hình khai báo hải quan điện tử của hàng hóa xuất nhập khẩu tại TP. HCM qua các năm không ngừng tăng lên về số lượng. Cụ thể như sau:
- Bảng 2.1. Kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa qua TQĐT tại TP. HCM từ năm 2024 – 2026
- Hình 2.1. Số lượng tờ khai HQĐT tại TP.HCM giai đoạn 2024-2026
- Hình 2.2. Số thuế xuất nhập khẩu Hải quan đã nộp vào Ngân sách Nhà nước giai đoạn 2024-2026
Nhận xét:
Năm 2024, Chi cục Hải quan điện tử TP.HCM đã làm thủ tục hải quan điện tử cho 32924 tờ khai của 196/267 doanh nghiệp đăng ký; kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 4 tỷ USD, trong đó đạt 1,9 triệu USD về xuất khẩu, còn lại 2,1 triệu U SD là của nhập khẩu; số thuế thu nộp cho ngân sách là 3260 tỷ đồng.
Năm 2025, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu thực hiện tại các chi cục hải quan (trực thuộc Cục Hải quan TPHCM) đạt 46,7 tỷ USD, trong đó kim ngạch xuất khẩu đạt 19,5 tỷ USD, kim ngạch nhập khẩu đạt 27,2 tỷ USD, kim ngạch xuất nhập khẩu qua TTHQĐT đạt gần 5,15 tỷ USD, tương ứng 128,75% so với năm 2024. Tổng thuế xuất nhập khẩu Hải quan TP .HCM thu nộp ngân sách nhà nước là 5038 tỷ đồng, tăng gần 55%.
Lượng tờ khai thực hiện TTHQĐ T năm 2026 tăng từ 42.520 tờ khai lên 254.248 tờ kh ai, đạt mức tăng trưởng 598% so với năm 2025. Kim ngạch XN K qua TTHQ ĐT cũng tăng từ gần 5,15 tỷ USD năm 2025 lên 27,93 tỷ U SD năm 2026, tăng 442,33%. Năm 2026, Cục Hải quan TP. Hồ Chí Minh đã thu nộp ngân sách đạt trên 60.514 tỉ đồng, vượt chỉ tiêu hơn 13.400 tỉ đồng.
Số lượng tờ khai thực hiện hải quan điện tử đạt được trong 6 tháng đầu năm 2027 chiếm đến 60% trong tổng số gần 700.000 tờ khai đã hoàn thành thủ tục hải quan. Kim ngạch xuất nhập khẩu thực hiện hải quan điện tử trong toàn Cục cũng đạt gần 60% trong số 34 tỷ USD tổng kim ngạch xuất nhập khẩu 6 tháng đầu năm. Hải quan TPHCM tiếp tục phấn đấu đến hết năm 2027 sẽ có 80% số tờ khai và 80% kim ngạch xuất nhập khẩu thực hiện hải quan điện tử.
- Theo chiến lược phát triển Hải quan, mục tiêu của Hải quan TP. HCM từ nay cho đến hết năm 2040 chia làm hai giai đoạn:
Từ nay đến năm 2030: phấn đấu 100% các cục hải quan, chi cục hải quan tại các địa bàn trọng điểm, cảng biển, cảng hàng không, cửa khẩu quốc tế, các khu kinh tế, 60% các loại hình hải quan cơ bản, 70% kim ngạch xuất nhập khẩu, 60% DN thực hiện thủ tục HQĐT. Tỷ lệ các giấy phép xuất nhập khẩu thực hiện trong cơ chế một cửa hải quan quốc gia đến năm 2030 là 50%.
Từ năm 2030 đến năm 2040: phấn đấu đạt 100% các loại hình hải quan cơ bản, 90% kim ngạch xuất nhập khẩu, 80% DN thực hiện HQĐT. Tỷ lệ kiểm tra thực tế hàng hóa đến năm 2030 là dưới 10% và đến 2040 phấn đấu đạt dưới 7%. Tỷ lệ các giấy phép xuất nhập khẩu thực hiện trong cơ chế một cửa hải quan quốc gia đến năm 2040 là 90%.
Qua các số liệu trên cho thấy số lượng các doanh nghiệp thực hiện khai báo hải quan qua phần mềm điện tử ngày một tăng lên nhanh chóng chứng tỏ thủ tục hải quan điện tử đang ngày càng trở nên phổ biến và ngày càng được các doanh nghiệp cũng như cơ quan Bộ, ngành quan tâm phát triển. Trong tương lai không xa nữa, cùng với xu hướng phát triển của kinh tế – xã hội thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, việc xuất nhập khẩu hàng hóa sẽ ngày một dễ dàng và nhanh chóng, đạt hiệu quả kinh tế cao nhờ sự phát triển của công cụ Hải quan điện tử.
- Bảng 2.2a. Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của TP. HCM từ 2023-2026
- Bảng 2.2b. Tỷ trọng của kinh tế trung ương và kinh tế địa phương trong kim ngạch xuất khẩu của kinh tế quốc doanh từ 2023-2026
- Hình 2.3. Tỷ trọng của kinh tế trung ương và kinh tế địa phương trong kim ngạch xuất khẩu của kinh tế quốc doanh từ 2023-2026
- Bảng 2.2c. Tỷ trọng của kinh tế trong nước và kinh tế có vốn ĐTNN trong kim ngạch xuất khẩu TP. HCM từ 2023-2026
- Hình 2.4. Tỷ trọng của kinh tế trong nước và kinh tế có vốn ĐTNN trong kim ngạch xuất khẩu TP. HCM từ 2023-2026
NHẬN XÉT:
- Giá trị và tốc độ tăng trưởng xuất khẩu từ 2023 – 2026:
Trong giai đoạn này, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu không ổn định. Cụ thể là kim ngạch xuất khẩu biến động tăng ở năm 2023 và 20 08 lần lượt là 12,4%; 24,1% tuy nhiên do tình hình kinh tế chính trị bắt đầu lâm vào khủng hoảng từ cuối năm 2024 nên kim ngạch xuất khẩu Tp.Hồ Chí Minh vào 2025 đã có sự giảm sút, cụ thể là giảm đi 16,6% so với kim ngạch cùng kỳ năm 2024 chỉ số này đã được cải thiện vào năm 2026 tốc độ tăng trưởng so với năm 2025 lại có sự tăng nhẹ (4.4%).
Theo thành phần kinh tế thì các đơn vị có vốn Đầu tư nước ngoài dần dần tăng tỷ trọng trong tổng kim ngạch xuất khẩu, từ 15,3% năm 2024 tăng lên 18,5% vào năm 2026. Ngược lại thì quốc doanh có xu hướng giảm dần tỉ trọng lần lượt là 2024 chiếm 84,7%; 2025 chiếm 84,4% và 2026 chiếm 81,5%, nguyên nhân chủ yếu là do quốc doanh Trung ương giảm tỉ trọng. Tuy vậy khu vực quốc doanh Trung ương vẫn chiếm ưu thế và có tỉ trọng cao nhất. Khu vực quốc doanh địa phương mặc dù kim ngạch xuất khẩu có giảm nhưng xét về tỉ trọng thì lại tăng lên cụ thể 2024 chiếm 24,1%; 2025 chiếm 25,6% và 2026 chiếm đến 29,4% kim ngạch xuất khẩu của thành phần kinh tế quốc doanh.
Nhìn chung, kim ngạch xuất khẩu Tp.Hồ Chí Minh có sự biến động trong giai đoạn 2023 – 2026 là do cả 2 thành phần kinh tế trong nước (bao gồm kinh tế trung ương và kinh tế địa phương) và thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đều chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ hình hình kinh tế – chính trị thế giới. Cuộc khủng hoảng kinh tế- tài chính thế giới đã đổ bộ vào nền kinh tế Việt Nam nói chung và Tp.Hồ Chí Minh nói riêng, ăn sâu vào hoạt động của tất cả thành phần kinh tế. Trong giai đoạn khó khăn này, Nhà nước cần có chính sách điều tiết kinh tế vi mô và vĩ mô hợp lý để nền kinh tế được giữ vững cũng như cải thiện tình hình xuất khẩu trong tương lai.
- Bảng 2.3. Mặt hàng xuất khẩu chính TP. HCM giai đoạn 2023-2026
- Hình 2.5a. Cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu chính giai đoạn 2023 – 2026
NHẬN XÉT:
Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu:
- Nhóm hàng khoáng sản, nhiên liệu:
Điển hình là dầu thô, đây là mặt hàng luôn chiếm tỉ trọng lớn trong kim ngạch xuất khẩu Tp.Hồ Chí Minh. Năm 2023 chiếm 30% kim ngạch xuất khẩu Tp.Hồ Chí Minh. Sản lượng dầu thô có xu hướng giảm dần trong giai đoạn 2023 – 2026. Khối lượng xuất khẩu dầu thô nhìn chung chưa ổn định, tăng rất mạnh ở năm 2024 (từ 8.487,6 triệu USD năm 2023 tăng lên 10.356,8 triệu USD năm 2024) rồi giảm dần ở các năm kế tiếp. Sở dĩ có sự sụt giảm này là do các mỏ dầu cũ dần cạn kiệt trong khi công tác thăm dò và mua lại mỏ dầu mới của các nước khác không đạt được nhiều tiến triển. Thêm vào đó, sự bành trướng của Trung Quốc trên Biển Đông hiện nay cũng gây rất nhiều trở ngại đến ngành Công nghiệp dầu khí Việt Nam. Để tiết kiệm tài nguyên và bảo vệ môi trường, trong những năm tới kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng nhiên liệu sẽ giảm dần, đồng thời phải kết hợp với triển khai các dự án xây dựng kho dự trữ dầu thô để đảm bảo an ninh năng lượng cho sự phát triển bền vững. Để góp phần giảm nhập siêu, bảo vệ nguồn dữ trữ lâu dài các mỏ dầu quốc gia Nhà nước cần phát triển công nghệ chế biến dầu thô phục vụ thị trường trong nước bên cạnh việc nhập khẩu.
- Nhóm hàng nông, lâm, thủy sản:
Các mặt hàng gạo, cà phê có kim ngạch xuất khẩu tăng lên không ngừng từ 2023 – 2026 cụ thể là gạo từ 2.043,1 nghìn USD năm 2023 tăng lên 2.545,6 nghìn USD 2026; cà phê tăng từ 37.722 nghìn USD 2023 lên 163.620 nghìn USD năm 2026 (tăng 333,7% tương đương 34 lần). Tuy nhiên cũng có 1 số sản phẩm có sự tăng trưởng không đều qua các năm như: tiêu, sữa và sản phẩm từ sữa, thủy sản, cao su. Kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng này hiện tại đang có xu hướng tăng tuy nhiên vào thời điểm 2024, 2025 lại có sự chùng xuống. Đây là những mặt hàng chịu nhiều tác động của thị trường thế giới. Trong những năm 2023 – 2026, do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới, cùng với thiên tai, mất mùa thường xuyên xảy ra trên phạm vi quốc gia, châu lục đã làm cho nhu cầu về nhóm hàng nông lâm thủy sản tăng lên. Thiên tai thường xuyên đã gây ra khó khăn cho nền sản xuất nông nghiệp Việt Nam, ảnh hưởng đến chất lượng và giá cả nông sản.
Việc gia nhập WTO đã đặt ngành xuất khẩu nông lâm thủy sản Việt Nam nói chung và Tp.Hồ Chí Minh nói riêng trước những thời cơ và thách thức mới.
Để các mặt hàng này thực sự trở thành thế mạnh của xuất khẩu Việt Nam, về lâu dài cần phát triển theo xu hướng: nâng cao dần chất lượng sản phẩm, gia tăng hàm lượng chế biến, đẩy mạnh hoạt động xây dựng và quảng bá thương hiệu, phát triển hạ tầng hợp lý.
- Nhóm hàng chế biến:
Đây là nhóm hàng gốm nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực như dệt may, giày dép, sản phẩm cơ khí, sản phẩm gỗ, sản phẩm nhựa, điện tử, thủ công mỹ nghệ… có thể phân chia các mặt hàng này làm 2 nhóm:
Hàng chế biến chính: thủ công mỹ nghệ, dệt may, giày dép, thực phẩm chế biến, hóa phẩm tiêu dùng, sản phẩm cơ khí – điện, vật liệu xây dựng, sản phẩm gỗ.
Hàng chế biến cao: điện tử và linh kiện máy tính, phần mềm. Ở đây xin được phân tích số liệu nhóm hàng xuất khẩu chính là dệt may, da giày: Tình hình xuất khẩu hàng giày dép và hàng may mặc của Tp.Hồ Chí Minh trong 4 năm qua luôn ổn định. Tốc độ tăng trưởng bình quân ngành giày dép, ngành hàng may mặc là 17.5%/ năm. Trong đó, năm 2026 được xem là năm thành công của nhiều mặt hàng xuất khẩu, dệt may đạt kim ngạch xuất khẩu đạt 1,9 tỷ USD (tăng 16,9% so với năm 2025); da giày đạt 0,5 tỷ USD (tăng 14,3% so với năm 2025)…
Hai ngành này có chung điểm là sử dụng nhiều lao động, phù hợp với lợi thế lao động giá rẻ ở Việt Nam. Những hạn chế của các ngành này là phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu của nước ngoài (60% – 70%), hao phí điện năng lớn do vậy giá trị gia tăng của sản phẩm xuất khẩu chưa cao, các Doanh nghiệp chưa thực sự chủ động trong việc ký kết hợp đồng. Nhiều sản phẩm chế biến còn mang tính chất gia công.
- Bảng 2.4a. Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa của TP. HCM từ 2023-2026
- Bảng 2.4b. Tỷ trọng của kinh tế trung ương và kinh tế địa phương trong kim ngạch nhập khẩu của kinh tế quốc doanh từ 2023-2026
- Hình 2.6. Tỷ trọng của kinh tế trung ương và kinh tế địa phương trong kim ngạch nhập khẩu của kinh tế quốc doanh từ 2023-2026
- Bảng 2.4c. Tỷ trọng của kinh tế trong nước và kinh tế có vốn ĐTNN trong kim ngạch nhập khẩu TP. HCM từ 2023-2026
- Hình 2.7. Tỷ trọng của kinh tế quốc doanh và kinh tế có vốn ĐTNN trong kim ngạch nhập khẩu TP. HCM từ 2023-2026
NHẬN XÉT:
- Giá trị và tốc độ tăng trưởng nhập khẩu từ 2023 – 2026:
Theo báo cáo của Cục thống kê Tp.Hồ Chí Minh, tổng kim ngạch Nhập khẩu Tp.HCM trong vòng 4 năm trở lại đây, từ 2023 – 2026 tăng trưởng không ổn định, nhìn chung có xu hướng tăng, nhưng bị chùng lại ở năm 2025. Kim ngạch nhập khẩu năm 2024 so với 2023 tăng 5183, 9 triệu USD (khoảng 28,64%), năm 2025 kim ngạch nhập khẩu có tốc độ giảm 16,4% sau đó lại tăng trưởng trở lại ở năm 2026 từ 19477,4 triệu USD lên 21.063,5 triệu USD (tăng 8,1%) đạt mức cao nhất.
Cũng như kim ngạch xuất khẩu, trong giai đoạn vừa qua, hoạt động nhập khẩu Tp.Hồ Chí Minh tuy tăng giá trị nhưng chưa mang tính ổn định, vẫn còn phụ thuộc nhiều vào những yếu tố bên ngoài như diễn biến giá cả, cung cầu trên thị trường thế giới, tình hình kinh tế của các nước bạn hàng…
Theo thành phần kinh tế thì các đơn vị có vốn đầu tư trong nước dần giảm tỉ trọng nhưng không đáng kể trong tổng kim ngạch nhập khẩu và chiếm tỉ trọng lớn nhất trong suốt giai đoạn từ năm 2023 đến 2026, trong đó cao nhất là 81% vào năm 2024. Trong đó quốc doanh địa phương có xu hướng tăng dần tỉ trọng. Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài có xu hướng tăng dần tỉ trọng nhưng không đáng kể trong tổng kim ngạch nhập khẩu. Năm 2025 kim ngạch nhập khẩu của khu vực này chiếm 21% tổng kim ngạch nhập khẩu, tăng 2% so với 2023, năm 2023, năm 2026 là 21,8% tăng 0,8% so với năm 2025.
- Bảng 2.5. Mặt hàng nhập khẩu chính TP. HCM từ 2023-2026
- Hình 2.8a. Cơ cấu các mặt hàng nhập khẩu chính giai đoạn 2023
NHẬN XÉT:
- Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu:
Sản phẩm có kim ngạch nhập khẩu nhiều nhất năm 2026 là xăng dầu (612.581 nghìn USD), vải (611.638 nghìn USD ) sữa và sản phẩm từ sữa (285,493 nghìn USD ), nguyên phụ liệu ngành may (179.939 nghìn U SD ), nguyên phụ liệu ngành giày dép(166.358 nghìn USD ),… Qua biểu trên cho thấy, trên địa bàn TP. H CM cơ cấu nhập khẩu theo nhóm hàng có những chuyển biến theo hướng gia tăng nhập khẩu nhóm hàng nguyên nhiên liệu trừ xăng dầu, phân bón. Các mặt hàng xăng dầu có sản lượng nhập khẩu giảm dần trong những năm gần đây do các mỏ dầu cũ dần cạn kiệt trong khi công tác thăm dò gặp nhiều trở ngại. Bên cạnh đó, khi nhà máy lọc dầu Dung Quất được đưa vào vận hành sẽ đáp ứng được phần nào lượng xăng dầu tiêu dùng trong nước, giảm nhập khẩu từ nước ngoài. Sản lượng xăng dầu nhập khẩu thấp nhất là 612.581 nghìn USD (năm 2026) giảm đi khoảng bốn lần so với năm 2023, phân bón nhập khẩu thấp nhất đạt 170.760 tấn vào năm 2026, giảm đi 35% so với năm 2025.
Tóm lại, những sản phẩm nhập khẩu chủ yếu vẫn là nguyên nhiên liệu phục vụ sản xuất của các ngành công nghiệp chế biến. Điều này sẽ ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất – kinh doanh của các ngành này một khi những nguồn hàng nhập khẩu trên bị sụt giảm sản lượng do tác động của giá cả, thị trường nhập khẩu và tình hình kinh tế của các nước xu ất khẩu hàng hóa cho TP. HCM nói riêng và Việt Nam nói chung.
- Hình 2.9. Xuất nhập khẩu hàng hóa TP.HCM giai đoạn 2023 – 2026
Nhận xét:
Nhập siêu xảy ra liên tục trong suốt giai đoạn 2023 – 2026, tuy nhiên giá trị nhập khẩu có xu hướng giảm, từ 23.284 triệu USD năm 2024 đã giảm xuống còn 19.477 triệu USD năm 2025, sau đó năm 2026 có tăng lên nhưng không đáng kể. Nhập khẩu giảm do cả yếu tố giá, do cả yếu tố lượng, nên kim ngạch giảm mạnh. Giảm mạnh gồm có xăng dầu, phân bón, bông, sợi, nguyên phụ liệu dệt may giày dép,…
Sự sụt giảm nhập khẩu cho thấy tình hình sản xuất hàng tiêu thụ trong nước và hàng xuất khẩu vẫn đang đứng trước những khó khăn.
Trong thời gian tới để khắc phục tình trạng nhập siêu cần đẩy mạnh xuất khẩu nhiều hơn để bù đắp thâm hụt từ hàng nhập khẩu. Tăng các rào cản thuế và phi thuế đối với hàng nhập khẩu không thiết yếu phục vụ sản xuất tiêu dùng. Bên cạnh việc đẩy mạnh xuất khẩu, thay đổi cơ cấu nhập khẩu, thì việc mở rộng sản xuất thay thế hàng nhập khẩu và chú trọng phát triển công nghiệp phụ trợ cũng rất quan trọng như: Hướng vào xuất khẩu các hàng hóa đem lại giá trị gia tăng cao như phần mềm, linh kiện điện, điện tử…; hướng vào các dịch vụ phi hàng hóa như du lịch, xuất khẩu lao động…
- Dự báo khả năng xuất nhập khẩu tại thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2040
Xuất khẩu:
- Bảng 2.6. Dự báo sản lượng xuất khẩu TP. HCM đến năm 2030
- Hình 2.10. Biểu đồ dự báo sản lượng xu ất khẩu TP. HCM đến năm 2030
NHẬN XÉT:
Trong giai đoạn 2027-2030, Thành phố Hồ Chí Minh phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng xuất khẩu bình quân là 17%/năm, tổng kim ngạch xuất khẩu 5 năm (không tính dầu thô) đạt 100 tỷ U SD ; tiếp tục giữ vững tốc độ xuất khẩu nhóm hàng có kim ngạch xuất khẩu cao, thúc đẩy tăng trưởng nhóm hàng tiềm năng và phát triển nhóm hàng dịch vụ phục vụ xuất khẩu; tăng tỷ trọng xuất khẩu vào các thị trường châu Âu, châu Mỹ, châu Á…
Theo đánh giá của các sở, ngành cơ cấu hàng xuất khẩu trên địa bàn thành phố có sự chuyển dịch tăng dần sản phẩm chế biến, sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao và thị trường xuất khẩu mở rộng, kim ngạch xuất khẩu vào các thị trường tăng.
Tuy nhiên, thị trường xuất khẩu vẫn còn tồn tại nhiều khó khăn, chủ yếu là sản phẩm gia công, ngành công nghiệp phụ trợ chưa phát triển, giá trị chế biến thấp nên khó tăng mạnh về kim ngạch. Bên cạnh đó, chính sách tiền tệ bất cập, lãi suất huy động vốn trên địa bản đang điều chỉnh theo xu hướng tăng gây áp lực đối với chi phí hoạt động kinh doanh.
Ngành dệt may TP đặt mục tiêu tăng trưởng 15% trong giai đoạn 2026-2030. Giữ vững tốc độ tăng trưởng xuất khẩu và bảo đảm tỷ trọng 35% của những nhóm hàng có ưu thế như dệt may, giày dép… đồng thời nâng cao tỷ trọng và kim ngạch xuất khẩu của những mặt hàng có giá trị gia tăng lớn, giảm dần việc xuất thô nông – lâm – thủy hải sản.
Lượng dầu thô xuất khẩu của Việt Nam sẽ giảm đi khi các nhà máy lọc dầu đi vào hoạt động, và thậm chí Việt Nam có thể sẽ nhập khẩu dầu thô. Trong khi đó, việc khai thác không tiến triển nhanh, và lượng dự trữ không đủ như dự định ban đầu để bù cho sự sụt giảm tự nhiên ở các giếng dầu chính đang khai thác. Chính vì vậy mà gía trị cũng như sản lượng dầu thô xuất khẩu trong những năm tới sẽ có chiều hướng giảm xuống.
Nhập khẩu:
- Bảng 2.7. Dự báo sản lượng nhập khẩu TP. HCM đến năm 2030
- Hình 2.10. Biểu đồ dự báo sản lượng nhập khẩu TP. HCM đến năm 2030
NHẬN XÉT:
Trong giai đoạn 2001 – 2026 mức nhập siêu của Việt Nam nói chung và thành phố Hồ Chí Minh nói riêng đã tăng rất nhanh, vượt xa so với định hướng kế hoạch 2001 – 2026 của Chính phủ. Vì thế dự báo đến năm 2030 sẽ giảm tỷ lệ nhập siêu xuống còn 14% và những năm tiếp theo sẽ tiến tới cân bằng cán cân thương mại.
Theo Bộ Công Thương, Chính phủ đã chỉ đạo quyết liệt việc kiểm soát nhập siêu và cũng đã đưa ra các nhóm giải pháp lớn như ưu đãi thu hút đầu tư vào các ngành sản xuất nguyên liệu, gia công xuất khẩu để giảm dần và thay thế nguồn nguyên nhiên liệu vẫn phải nhập từ nước ngoài như xăng dầu, phân bón, nguyên phụ liệu dệt may, da… Tuy nhiên cho tới năm 2030, thành phố Hồ Chí Minh vẫn phải tăng nhập khẩu bột mì, nguyên phụ liệu tân dược, nguyên phụ liệu giàu dép và nguyên phụ liệu ngành may để đáp ứng kịp thời nhu cầu sản xuất và tiêu thụ trong nước.
Về chế biến dầu khí, Petrovietnam phấn đấu đến năm 2030, tổng công suất lọc dầu khoảng 16-17 triệu tấn/năm, đáp ứng 50-60% nhu cầu sản phẩm xăng dầu, 60 – 70% nhu cầu phân đạm, 50-60% nhu cầu nguyên liệu cho hóa dầu và các sản phẩm hóa dầu trong nước. Như vậy, sự phát triển của tập đoàn Dầu khí Việt Nam giúp dự báo xu hướng giảm nhập khẩu các mặt hàng như phân bón, xăng dầu trong thời gian tới.
2.2. Đánh giá thực trạng xuất nhập khẩu tại TP.HCM
Tuy nhập khẩu được đánh giá là cơ bản phục vụ tốt cho sản xuất hàng xuất khẩu phát triển sản xuất, đổi mới công nghệ và tiêu dùng trong nước, nhưng nhập siêu vẫn luôn duy trì trong cán cân thương mại như hiện nay ẩn chứa trong đó những nguy cơ ảnh hưởng không tốt đến nền kinh tế như gia tăng nợ công, gia tăng thất nghiệp, nhấn chìm thị trường chứng khoán trong nước,…
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng nhập siêu đạt ở mức cao trong giai đoạn 2023 – 2026, trước hết là do các giải pháp nhằm hạn chế nhập siêu chưa được triển khai quyết liệt và có hiệu quả ở các ngành và doanh nghiệp – chưa đẩy mạnh sản xuất trong nước nhóm hàng vật tư – thiết bị phục vụ xây dựng cơ bản, mở rộng sản xuất và phục vụ xuất khẩu hiện có nhu cầu lớn chưa tập trung năng lực các ngành sản xuất những mặt hàng có hàng rào thuế quan nhập khẩu, đã và sẽ giảm mạnh trong thời gian tới do cam kết hội nhập. . ., Thứ hai, hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu vẫn là gia công chế biến và nguyên liệu thô. Điều này cũng cho thấy, một mặt, nền sản xuất trong nước còn phụ thuộc rất lớn vào nguồn nguyên liệu, vật liệu, thiết bị nhập khẩu, mặt khác, tính gia công của xu ất khẩu còn rất lớn, tuy Việt Nam đã qua một chặng đường hơn 20 năm đổi mới. Bên cạnh đó nhiều dự án phục vụ cho việc sản xuất hàng tư liệu sản xuất như xăng dầu, máy móc thiết bị, bao gồm cả công nghiệp phụ trợ trong nước lại triển khai quá chậm chạp, càng làm cho nền kinh tế vốn đã phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu bên ngoài lại càng phụ thuộc thêm. Thứ ba, kể từ năm 2023 giá thế giới nhiều loại hàng hóa tăng nhanh làm cho giá trị nhập khẩu của Việt Nam tăng lên. Thêm vào đó do nhu cầu đầu tư mở rộng sản xuất và đầu tư chiều sâu tăng mạnh cùng với dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài liên tục tăng đã dẫn đến lượng hàng hóa nhập khẩu tăng mạnh. Do vậy, trong thời gian tới cán cân thương mại của Việt Nam sẽ vẫn tình trạng nhập siêu. Điều quan trọng là phải kiềm chế mức độ nhập siêu một cách phù hợp và phải phấn đấu giảm dần nhập siêu bằng cách đẩy mạnh xuất khẩu làm cho tốc độ tăng xuất khẩu nhanh hơn tốc độ tăng nhập khẩu. Hơn nữa, là thành viên của WTO Việt Nam có nhiều cơ hội để mở rộng thị trường xuất khẩu hàng hóa, các ngành và các doanh nghiệp cần phải tận dụng tốt cơ hội này.
2.3. Tình hình thực hiện xuất nhập khẩu hàng hóa của các loại hình doanh nghiệp tại TP. HCM
Đối với xuất – nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ, Việt Nam đã có những bước đổi mới ngay từ giai đoạn đầu cải cách với việc xoá bỏ chế độ độc quyền ngoại thương. Từ 1988 các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã được phép hoạt động xuất nhập khẩu, tiếp theo các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế tư nhân cũng được kinh doanh xuất nhập khẩu (theo Luật Công ty). Thủ tục xin giấy phép xuất nhập khẩu cũng được đơn giản hoá từng bước. Việc ban hành Nghị định 57/NĐ -CP năm 1988 có thể coi là bước ngoặt của quá trình tự do hoá ngoại thương ở Việt nam, bởi nó đã chính thức khẳng định quyền tự do kinh doanh trong lĩnh vực ngoại thương. Bên cạnh đó, Nhà nước còn thực hiện nhiều biện pháp nới lỏng về quản lý ngoại hối, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp trong quá trình thanh toán với đối tác nước ngoài. Những rào cản phi thuế quan như chế độ quota, quy định đầu mối xuất nhập khẩu cũng dần được gỡ bỏ, thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt nam.
Hiện nay nền kinh tế thị trường định hướng XHCN cho phép tất cả các loại hình doanh nghiệp tham gia vào quá trình xuất nhập khẩu hàng hóa với tư cách pháp nhân, quyền lợi và nghĩa vụ như nhau. Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng mặc dù đã đạt được một số kết quả bước đầu đáng khích lệ, song xuất nhập khẩu của Việt Nam nói riêng và TP. HCM nói riêng vẫn đang phải đối mặt với không ít những khó khăn do thiếu vắng cơ sở lý luận và các tiền lệ lịch sử. Do vậy, nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện khung thể chế cho nền kinh tế thị trường định hướng XHCN đang và sẽ tiếp tục được coi là một trong những nhiệm vụ hàng đầu của Chính phủ Việt Nam.
Hiện nay tại TP. HCM có các loại hình sau tham gia vào quá trình xuất nhập khẩu hàng hóa: Công ty cổ phần, công ty TNHH, công ty hợp doanh, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài… Tính trên tổng số 200 doanh nghiệp được khảo sát, thống kê được cơ cấu như sau: công ty cổ phần chiếm 26%, công ty TNHH chiếm 42%, công ty hợp danh chiếm 6.5%, doanh nghiệp tư nhân chiếm 12.5% và doanh nghiệp nhà nước chiếm 13%.
Doanh nghiệp một khi đã làm công việc xuất nhập khẩu thì tất nhiên luôn gắn liền với hoạt động làm thủ tục hải quan. Kể từ ngày 01/01/2027, 100% các doanh nghiệp tại TP. HCM phải thực hiện thủ tục hải quan điện tử đối với hàng hóa xuất nhập khẩu. Thông tư 222/2025/TT-BTC được ban hành ngày 25/11/2025 quy định tất cả các DN được ưu tiên như nhau, có quyền lợi và nghĩa vụ như nhau khi thực hiện quy trình này.
Một số ưu điểm của thủ tục hải quan điện tử hiện nay có thể kể ra như sau:
Đối với doanh nghiệp:
- Tiết kiệm thời gian:
Thời gian làm thủ tục trung bình cho một lô hàng theo thủ tục hải quan truyền thống là từ 4-8 giờ. Khi thực hiện thủ tục HQĐT, thời gian làm thủ tục cho một lô hàng đối với luồng xanh là từ 5 đến 10 phút, luồng vàng là từ 20 đến 30 phút, luồng đỏ là từ 1 đến 2 giờ. DN tiết kiệm được khoảng 2 đến 4 giờ cho một lô hàng. Việc thông quan hàng hóa nhanh chóng giúp cho DN chủ động trong hoạt động xuất nhập khẩu, trong sản xuất – kinh doanh, tiết kiệm nhiều chi phí hữ u hình cũng như vô hình. DN không phải đến trụ sở của cơ quan HQ mà có thể khai hải quan tại bất cứ địa điểm nào có máy tính kết nối mạng internet và được thông quan ngay đối với lô hàng thuộc diện được miễn kiểm tra hồ sơ giấy và miễn kiểm tra thực tế hàng hóa.
DN có thể khai báo hải quan bất kỳ lúc nào thay cho việc chỉ có thể khai trong giờ hành chính như trước đây và được cơ quan hải quan tiếp nhận khai báo trong giờ hành chính.
DN thực hiện thủ tục HQĐT sẽ được quyền ưu tiên thứ tự kiểm tra đối với các lô hàng phải kiểm tra chi tiết hồ sơ hoặc kiểm tra thực tế hàng hóa.
- Giảm bớt nhân sự cho việc làm thủ tục:
Do đơn giản trong việc khai báo, lập bộ hồ sơ chứng từ và DN có thể khai báo từ cơ quan DN, một nhân viên có thể khai báo nhiều tờ khai cùng một lúc, khai báo ở nhiều cửa khẩu khác nhau mà không cần phải đến các cửa khẩu để nộp hồ sơ như TTHQTT cho nên nhân sự phục vụ cho việc làm thủ tục của các DN sẽ giảm. Số lượng giảm là từ 1- 3 người/ công ty.
- Tiết kiệm chi phí làm thủ tục:
Do giảm được thời gian và nhân sự cho việc làm thủ tục và không phải tiếp xúc với nhiều bộ phận hải quan như đăng ký, tính thuế, giá, kiểm tra, giám sát kho bãi cho nên hạn chế rất nhiều tiêu cực phát sinh, đồng thời do giải phóng hàng nhanh nên DN cũng giảm được chi phí kho bãi, chi phí bốc xếp, lãi vay ngân hàng.
DN được sử dụng tờ khai điện tử in từ hệ thống của DN, có chữ ký và đóng dấu của DN thay cho tờ khai giấy và các chứng từ kèm theo để đi nhận hàng và làm chứng từ vận chuyển hàng hóa trên đường (nếu lô hàng thuộc diện được miễn kiểm tra hồ sơ giấy và miễn kiểm tra thực tế hàng hóa).
Doanh nghiệp cũng được sử dụng Lệnh thông quan in ra từ hệ thống khai HQĐT theo Mẫu phiếu giải phóng hàng hóa đã đăng ký với cơ quan hải quan (không cần đóng dấu, chữ ký của đại diện DN) đối với những lô hàng đã được cơ quan chấp nhận thông quan.
Được sử dụng hóa đơn in ra từ hệ thống, đóng dấu, ký tên của đại diện DN để thông quan hàng hóa trường hợp Hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan có sự cố, tạm dừng hoạt động.
Các DN được hỗ trợ và hướng dẫn kịp thời về thủ tục HQ, thông qua cơ quan VAN và Chi cục HQĐT mà không phải tốn bất kỳ khoản chi phí nào giúp doanh nghiệp giảm thiểu chi phí, lượng giấy tờ phải nộp và xuất trình; rút ngắn thời gian thông quan hàng hóa; hạn chế sự tiếp xúc trực tiếp giữa hải quan và doanh nghiệp.
- Tăng doanh thu, tăng lợi nhuận:
Với việc giảm thời gian làm thủ tục, thông quan hàng hóa nhanh, giảm bớt các khoản chi phí như đã nêu trên thì việc tăng doanh thu của DN là điều tất yếu.
- Tăng uy tín thương hiệu doanh nghiệp:
Ngoài những lợi ích như đã nêu trên, việc tham gia thủ tục của các DN còn là dịp để giới thiệu thương hiệu của mình. Do thủ tục HQĐT là một sự kiện nổi bật chưa từng có nên rất được nhiều người, được các cơ quan truyền thông đại chúng (truyền thanh, truyền hình, báo chí, báo điện tử…) trong nước cũng như nước ngoài quan tâm. Sự xuất hiện hình ảnh, thông tin về các DN này trên các phương tiện thông tin đại chúng là cơ hội để các DN quảng bá thương hiệu của mình mà không phải tốn kém chi phí cho việc quảng cáo.
Việc tham gia thủ tục HQĐT giúp cho DN làm quen với loại hình thủ tục mới. Đây cũng là bước chuẩn bị, là cơ hội để các DN tự khẳng định mình trong lĩnh vực thương mại điện tử. Việc tham gia trước của các DN sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các DN trong quá trình cạnh tranh đối với các đối thủ khác khi Việt Nam chính thức tham gia WTO.
DN thực hiện thủ tục HQĐT sẽ được cơ quan HQ cung cấp thông tin về quá trình xử lý hồ sơ HQĐT thông qua hệ thống xử lý dữ liệu điện tử HQ .
Việc áp dụng việc kê khai tự tính thuế, tự lưu giữ các chứng từ, hồ sơ và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật đã nâng cao vai trò trách nhiệm của các DN trong hoạt động xuất nhập khẩu.
Thực hiện thủ tục HQĐT giúp thông tin giữa hệ thống của HQ và DN được quản lý đồng bộ trên máy tính, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tra cứu, tìm kiếm thông tin.
Thực hiện thủ tục HQĐT, DN còn được hưởng thêm nhiều lợi ích khác so với thủ tục HQ truyền thống đó là:
- DN thực hiện thủ tục HQ ĐT sẽ đư ợc cơ quan HQ hỗ trợ đào tạo, cung cấp phần mềm khai báo HQ ĐT và tư vấn trực tiếp miễn phí.
- D oanh nghiệp được lựa chọn hình thức nộp lệ phí (theo tháng hoặc theo từngtờ khai) thay vì chỉ có thể nộp theo từng t ờ khai như t hủ tục hải quan truy ền thống.
- Hồ sơ thanh khoản hợp đồng gia công và nhập nguyên liệu sản xuất XK đơn giản hơn, thay vì phải nộp hoặc xuất trình tờ khai, báo cáo thanh khoản và chứ ng từ bằng giấy thì DN được sử dụng hồ sơ điện tử để thanh khoản.
- DN có thể đăng ký thực hiện thủ t ục HQ ĐT tại bất kỳ Chi cục H QĐ T nào và được chấp nhận làm thủ tục H QĐ T ở các Chi cục khác thay vì việc phải làm đăng ký tại từng Chi cục HQĐ T như trư ớc đây.
- Thực hiện thủ tục HQĐT giúp DN giảm thời gian, chi phí làm thủ tục HQ do DN có thể chủ động trong quá trình khai báo HQ và sắp xếp thời gian đi nhận hàng và xuất hàng.
Đ ối với cơ quan hải quan:
Thủ tục hải quan điện tử là giúp cơ quan hải quan thêm minh bạch và chuyên nghiệp, đáp ứng yêu cầu phát triển, hiện đại hóa, hội nhập với khu vực và quốc tế; tạo nhiều thuận lợi trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và n âng tiềm lực kinh tế cho doanh nghiệp. Bư ớc đầu đã h ình thành được một đội ngũ cán bộ, công chức tại các Cục hải quan tỉnh, thành phố có kỹ năng và kiến thức thự c hiện thủ tục hải quan điện tử làm tiền đề cho việc triển khai mở rộng thủ tục hải quan sâu, rộng trong giai đoạn tới.
Việc thự c hiện thủ tục HQĐT thể hiện rõ quyết tâm đổi mới, cải cách thủ tục hành chính, thay đổi phương thức quản lý của Cục HQ TPHCM nói riêng và ngành HQ nói chung. Áp dụng phương pháp QLRR dựa trên nền tảng trang thiết bị hiện đại thay thế cho phương pháp quản lý thủ công truyền thống. Chuyển từ kiểm tra trước, kiểm tra trong thông quan (t iền kiểm) sang KTSTQ (hậu kiểm), tạo điều kiện t huận lợi cho DN trong việc giải phóng nhanh hàng hóa.
Việc thực hiện thủ tục HQĐT và ra đời Chi cục H QĐ T đã làm giảm m ột phần áp lực công việc cho các Chi cục HQ CK . Toàn bộ công việc được xử lý thông qua hệ thống máy tính giúp cho việc quản lý được hiệu quả, khoa học; hạn chế sự tiếp xúc giữa DN và cơ quan HQ và h ạn chế tình trạng tiêu cực xãy ra.
Với bộ m áy tổ chức gọn nhẹ, quy trình thủ tục đơn giản, ít sử dụng hồ sơ giấy, một công chức HQ có thể xử lý nhiều công việc khác nhau. T hông qua hệ thống, các khâu nghiệp vụ được tuần tự tiến hành, tiết kiệm thời gian luân chuyển và trình ký hồ sơ. Do đó, thời gian thông quan hàng hóa nhanh hơn so với quy trình thủ công truyền t hống.
Đảm bảo tính công khai, minh bạch, công bằng trong quản lý. Toàn bộ các thông tin yêu cầu của cơ quan HQ đối với DN được thể hiện trên hệ t hống, giúp cho DN chủ động trong việc làm thủ tục, hạn chế việc đi lại nhiều lần, gây phiền hà cho DN .
Xây dựng được hình ảnh đẹp của cơ quan HQ về cơ sở vật chất, trang bị hiện đại, tác phong làm việc văn minh lịch sự, thái độ, tinh thần phục vụ DN trong hoạt động XNK.
Nhữngthành công bước đầu của việc thực hiện thủ tục HQĐT tại đơn vị là tiền đề cho việc phát triển thủ tục H QĐ T trong tương lai. Qua đó, Cục HQ TPHCM , TCHQ rút ra đư ợc nhiều kinh nghiệm trong việc chỉ đạo t hực hiện TQĐT thời gian qua, định hư ớng cho công tác TQĐ T thời gian tới, thự c hiện thành công N ghị qu yết Số: 222/2025/TT-BTC ngày 25 tháng 11 năm 2025 của Thủ tư ớng Chính phủ và t ạo ra động lự c cho 64 việc cải cách, hiện đại hóa thủ tục HQ. Đ ây cũng là tiền đề, bài học kinh nghiệm cho việc triển khai dự án hiện đại hóa HQ theo vốn vay của N gân hàng thế giới (W orld Bank) sau này.
- Đối với xã hội:
Đây là sự kiện quan tr ọng đư ợc sự q uan tâm đặc biệt của Chính phủ, các bộ ngành và sự ủng hộ của cộng đồng DN, xã hội.
Là m ột trong những sự kiện nổi bật trong năm 2021 mà m ột số báo đã bình chọn (được Bộ Thương mại, báo điện tử Viet namN et và công ty FPT bình chọn là một trong 10 sự kiện thương mại năm 20 05).
Xây dựng lực lượng hải quan đạt trình độ chuyên nghiệp, chuy ên sâu, có trang thiết bị, kỹ thuật hiện đại, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả góp phần tạo thuận lợi cho các hoạt động thư ơng mại hợp pháp, phát triển du lịch, thu hút đầu tư nước ngoài, bảo đảm an ninh quốc gia, an toàn xã hội, bảo vệ lợi ích nư ớc, quyền và nghĩa vụ hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
2.4. Phạm vi đánh giá thực trạng quy trình thủ tục HQĐT đối với hàng hóa xuất nhập khẩu bằng đường biển tại TP.HCM
K hóa luận tập trung vào điều tra thự c trạng quy trình thủ tục H QĐT tại TP.HCM thông qua bảng câu hỏi khảo s át tại các doanh nghiệp hiện đang thực hiện nghiệp vụ này tại TP. H CM năm 2027.
Việc triển khai mở rộng thủ tục hải quan điện tử đã m ang lại lợi ích thiết thực cho doanh nghiệp, đáp ứng các yêu cầu về cải cách thủ tục hành chính theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ. Thời gian thông quan đối với các lô hàng thực hiện thủ tục hải quan điện tử giảm đáng kể so với thủ tục thông thường và khai từ xa; danh m ục các chứng từ trong bộ hồ sơ hải quan điện tử giảm đáng kể so với thủ tục hải qu an truyền thống. Qua điều tra, lấy ý kiến của các Cục hải quan tỉnh, thành phố hầu hết các doanh nghiệp đều đồng tình, ủng hộ chủ trư ơng mở rộng thủ tục hải quan điện tử và đánh giá cao phương thức này.

Dịch Vụ Viết Luận Văn Thạc Sĩ 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietthuethacsi.com/ – Hoặc Gmail: dicvuluanvanthacsi@gmail.com