Khóa luận: Thực trạng tình hình tài chính Công ty Minh Phúc

Rate this post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Thực trạng tình hình tài chính Công ty Minh Phúc hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Khóa luận: Thực trạng tình hình tài chính Công ty cổ phần Minh Phúc giai đoạn 2023 – 2025 dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1 Một số nét khái quát về Công ty Cổ phần Minh Phúc:

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của doanh nghiệp:

Công ty cổ phần Minh Phúc được thành lập theo giấy phép số 0203000818 ngày 28/4/2004 của Sở kế hoạch và Đầu tư thành phố Hải Phòng.

Công ty Cổ phần Minh Phúc là doanh nghiệp ngoài quốc doanh hạch toán kinh tế độc lập. Hoạt động theo giấy phép kinh doanh số 02002000818 do sở kế hoạch và đầu tư thành phố Hải Phòng cấp ngày 28 tháng 04 năm 2004 (thay đổi lần thứ 4 ngày 02/3/2009).

Tuy thời gian thành lập chưa lâu song công ty đã có tốc độ phát triển nhanh, địa bàn hoạt động rộng rãi trên khắp các thị trường, dần dần tạo được uy tín và nâng cao vị thế của mình với các doanh nghiệp trong và ngoài ngành.

Công ty áp dụng chế độ kế toán theo quy định của Bộ tài chính dành cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Năm tài chính của doanh nghiệp bắt đầu từ ngày 01/01 dương lịch và kết thúc vào ngày 31/12 hàng năm. Sổ sách kế toán của doanh nghiệp được ghi chép theo hình thức nhật ký chung và được thực hiện trên máy tính, được mở đầy đủ và giữ đúng theo quy định hiện hành, cuối mỗi năm tài chính doanh nghiệp phải lập báo cáo tài chính. Trong thời gian 90 ngày kể từ ngày kết thúc năm tài chính, báo cáo hàng năm của doanh nghiệp được gửi đến cơ quan thuế và cơ quan đăng ký kinh doanh có thẩm quyền.

2.1.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý, chức năng và nhiệm vụ từng bộ phận: Khóa luận: Thực trạng tình hình tài chính Công ty Minh Phúc.

  • Sơ đồ cơ cấu bộ máy quản lý của công ty cổ phần Minh Phúc:

Giám đốc: Là người có quyền quyết định cao nhất trong công ty. Mọi vấn đề quan trọng đều phải được thông qua giám đốc xem xét và giải quyết. Giám đốc cũng là người đại diện hợp pháp cho công ty trước pháp luật. Chịu trách nhiệm giải quyết các vấn đề phát sinh trong và ngoài doanh nghiệp.

Phòng tổ chức: Có chức năng tham mưu cho Giám đốc trong lĩnh vực quản lý nhân sự, sắp xếp tổ chức, quản lý bồi dưỡng cán bộ…thực hiện các chế độ chính sách của Nhà nước với người lao động.

Phòng kinh doanh: là phòng có nhiệm vụ tìm đối tác kinh doanh, quảng cáo và giới thiệu sản phẩm đến người tiêu dùng. Tìm hiểu thị trường, chuẩn bị nguồn hàng, lập kế hoạch kinh doanh và trình các phương án kinh doanh theo từng giai đoạn, từng phân khúc thị trường.

Phòng kỹ thuật: Tham gia quản lý kỹ thuật, giám sát chất lượng công trình, quản lý tiến độ, biện pháp thi công và an toàn lao động. Ngoài ra phòng kỹ thuật còn tham gia quản lý máy móc, thiết bị và các công cụ phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh.

Phòng tài chính kế toán: Phản ánh các nghiệp vụ kinh tế phát sinh một cách chính xác, kịp thời. Tổng hợp số liệu để lập các báo cáo tài chính, cung cấp thông tin cho các bộ phận trong và ngoài doanh nghiệp. Phân tích thông tin đề xuất ý kiến với ban lãnh đạo để đưa ra các quyết định kinh doanh.

2.1.3 Chức năng, ngành nghề kinh doanh:

  • Kinh doanh và khai thác vật liệu xây dựng, kinh doanh xăng dầu.
  • Bán, sửa chữa, lắp đặt ôtô, môtô, xe máy, máy móc thiết bị, phụ tùng.
  • Xây dựng các công trình giao thông thuỷ lợi vừa và nhỏ, đường dây trạm điện dưới 35KV.
  • Kinh doanh nhà hàng , khách sạn, du lịch lữ hành.
  • Trang trí nội ngoại thất, cảnh quan công trình.

2.1.4 Kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty Cổ phần Minh Phúc giai đoạn 2023-2025

  • Bảng 1: Một số chỉ tiêu kinh tế công ty cổ phần Minh Phúc 2023-2025

Từ các chỉ tiêu trên ta thấy tuy doanh thu của công ty cổ phần Minh Phúc giảm dần qua các năm, tuy nhiên lợi nhuận sau thuế lại có chiều hướng tăng. Cụ thể như sau: Khóa luận: Thực trạng tình hình tài chính Công ty Minh Phúc.

Về chỉ tiêu vốn kinh doanh ta thấy vốn giảm dần trong ba năm, trong năm 2024 là 25,474,028,960đ giảm 5,716,638,663đ tương đương 18% so với năm 2023. Sang đến năm 2025 tỷ lệ giảm của vốn kinh doanh là 12% so với năm 2024 tương đương với số tiền giảm là 2,981,789,805đ; đạt giá trị 22,492,239,155đ.

Vốn lưu động của doanh nghiệp năm 2024 là 18,323,615,887đ so với 2023 giảm đi một lượng là 6,200,916,398đ tương đương tỷ lệ giảm 25%, phần vốn này tiếp tục giảm nhưng lượng giảm ít hơn ở năm 2025 cụ thể là 1,950,238,505đ giá trị còn lại của vốn lưu động năm 2025 là 16,373,377,382đ. Tỷ lệ giảm vốn lưu động năm 2025 thấp hơn so với năm 2024 đạt 11%.

Về chỉ tiêu vốn cố định ta thấy có sự tăng giảm trong ba năm, cao nhất là năm 2024 với số vốn là 7,150,413,073đ. Tuy nhiên sang đến năm 2025 chỉ tiêu này chỉ đạt 6,118,861,773đ tương đương với tỷ lệ giảm là 14% nguyên nhanh là do việc đầu tư mua sắm, xây dựng các tài sản cố định và các tài sản dài hạn khác của công ty có chiều hướng giảm đi.

Lợi nhuận sau thuế cũng có sự tăng giảm qua các năm, nhưng điều đáng lưu ý ở đây là lợi nhuận của năm 2025 cao nhất với số tiền là 142,570,461đ. Như vậy, mặc dù doanh thu của năm 2025 thấp hơn so với năm 2023 nhưng do kiểm soát tốt các khoản mục chi phí nên lợi nhuận năm 2025 vẫn cao hơn so với hai năm trước đó. Đây là một dấu hiệu khả quan của công ty trong năm 2025, bởi lẽ mục đích cuối cùng của hoạt động kinh doanh là lợi nhuận.

  • Kết luận

Nhìn chung, trong ba năm qua tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tương đối tốt, tất cả các năm đều đạt được lợi nhuận. Qua việc phân tích một số chỉ tiêu kinh tế của doanh nghiệp nói trên, ta thấy được tình hình khó khăn trong hoạt động kinh doanh về cả doanh thu và lợi nhuận của công ty trong năm thời gian qua.

Nguyên nhân một phần là do thì trường bất động sản đóng băng, phần lớn các công trình xây dựng bị ngừng trệ đã tác động không nhỏ tới lĩnh vực khai thác, kinh doanh vật liệu xây dựng. Bên cạnh đó, với xu thế hội nhập và phát triển của đất nước như hiện nay, sự gia tăng về số lượng cũng như chất lượng của các công ty xây dựng ngày càng lớn từ đó tạo ra sự cạnh tranh ngày càng gay gắt, quyết liệt của công ty cổ phần Minh Phúc với các công ty mới cùng ngành trên thị trường.

Mặc dù gặp nhiều khó khăn, thách thức nhưng Ban Giám đốc công ty cổ phần Minh Phúc đã tìm ra các giải pháp đưa doanh nghiệp vượt qua những khó khăn đó, bằng chứng là sự phát triển mạnh mẽ của doanh nghiệp vào năm 2025, làm cho năm 2025 trở thành năm có mức lợi nhuận cao nhất. Điều đó chứng tỏ công ty đã có những chiến lược, những kế hoạch phát triển hợp lý nhằm tối đa hóa lợi nhuận, giảm thiểu rủi ro trong hoạt động kinh doanh của mình; ngày càng góp phần củng cố vị thế của doanh nghiệp trên thị trường.

2.2 Đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp Khóa luận: Thực trạng tình hình tài chính Công ty Minh Phúc.

2.2.1 Đánh giá tình hình tài chính thông qua bảng cân đối kế toán

Bảng 2: Bảng Cân Đối Kế Toán Công ty Cổ phần Minh Phúc năm 2023-2025

  • Về cơ cấu tài sản:

Nhìn vào bảng 2 ta thấy tổng tài sản của doanh nghiệp trong ba năm qua có xu hướng giảm dần về cuối năm. Năm 2023 tổng tài sản đạt 31,190,667,623đ; chỉ tiêu này giảm xuống 25,474,028,960đ năm 2024 tương ứng với tốc độ giảm 18% và chỉ đạt 22,492,239,155đ năm 2025 (tốc độ giảm 12%).

  • Tổng tài sản giảm là do tác động của 2 nhân tố sau:

Tài sản ngắn hạn của công ty có chiều hướng giảm qua các năm, năm 2023 tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp đạt mức cao nhất là 24,524,532,285đ chứng tỏ trong năm 2023 công ty đã mạnh dạn bổ sung vốn lưu động và đầu tư ngắn hạn để mở rộng sản xuất kinh Sang tới năm 2024, 2025 chỉ tiêu này có giảm nhưng vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản của doanh nghiệp. Năm 2024 là 18,323,615,887đ chiếm 72% tỷ trọng, năm 2025 là 16,373,377,382đ chiếm tỷ trọng 73% trong tổng tài sản.

Ngược lại, tài sản dài hạn năm 2024 so với năm 2023 lại tăng lên 484,277,735đ tương ứng với tốc độ tăng 7%. Tuy nhiên sang đến năm 2025 thì chỉ tiêu này lại có xu hướng giảm từ 7,150,413,073đ năm 2024 (tỷ trọng 28%) giảm xuống còn 6,118,861,773đ năm 2025 (tỷ trọng 27%). Chỉ tiêu này chiếm tỷ trọng thứ yếu trong cơ cấu tài sản của doanh nghiệp.

  • Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp giảm là do những nguyên nhân sau:

Vốn bằng tiền của doanh nghiệp giảm dần qua các năm, năm 2023 là 5,600,427,649đ (tỷ trọng 23%), năm 2024 là 4,156,892,578đ (tỷ trọng 23%) nhưng đến năm 2025 thì nó chỉ còn 1,759,018,173đ (chiếm tỷ trọng 11% trong tài sản ngắn hạn). Năm 2023 do có kế hoạch mở rộng quy mô kinh doanh, công ty dự trữ một lượng hàng khá lớn, vì thế công ty đã dùng vốn bằng tiền để thanh toán, nên lượng tiền còn lại vào năm 2024 giảm so với năm trước là hơn 1,443,535,071đ tương ứng với tỷ lệ giảm 26%. Khóa luận: Thực trạng tình hình tài chính Công ty Minh Phúc.

Các khoản phải thu giảm cả số tuyệt đối lẫn tương đối qua các năm, đồng thời tỷ trọng của các khoản phải thu trong tổng tài sản ngắn hạn cũng giảm. Cụ thể: năm 2023 đạt mức cao nhất trong ba năm là 8,800,170,415đ chiếm 36% tỷ trọng.

Sang đến năm 2025 các khoản phải thu đã giảm xuống đáng kể chỉ còn 2,463,644,000đ làm cho tỷ trọng giảm xuống còn 15% trong tổng tài sản ngắn hạn từ 32% năm 2024 tương ứng với số tiền 5,802,595,269đ. Thực tế cho thấy trong ba năm hoạt động vừa qua, công ty đã có những biện pháp tích cực có chiều hướng tốt để quản lý các khoản phải thu, hiệu quả trong việc thu hồi những khoản vốn bị chiếm dụng. Vì vậy, công ty cần đẩy nhanh hơn nữa công tác thu hồi nợ nhằm nâng cao quá trình luân chuyển vốn đồng thời sử dụng nguồn vốn hợp lý, hiệu quả hơn.

Trái ngược với sự biến động của khoản phải thu là giá trị chỉ tiêu hàng tồn kho. Chỉ tiêu này có sự biến động lên xuống qua các năm, năm 2024 hàng tồn kho là 8,364,128,040đ chiếm 46% tỷ trọng, giảm so với năm 2023 là 1,752,142,320đ. Nhưng sang năm 2025 chỉ tiêu này lại tăng trở lại và đạt mức cao nhất trong ba năm là 11,923,858,377đ chiếm tỷ trọng cao 73% trong tài sản ngắn hạn. Với tốc tăng cao 43% và tỷ trọng chiếm lớn hơn 50% như vậy dự báo hiệu quả sử dụng hàng tồn kho sẽ không tốt. Vì vậy, công ty cần có chính sách dự trữ hàng tồn kho hợp lý.

Tài sản ngắn hạn khác của công ty cũng biến động thất thường. Năm 2024 công ty không có khoản mục này nhưng năm 2025 lại tăng lên 226,856,832đ cao hơn nhiều lần so với năm 2023 là 7,663,861đ. Tuy nhiên khoản mục này chỉ chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong tổng tài sản ngắn hạn.

Về tài sản dài hạn năm 2025 lại giảm đi so với năm trước một lượng là 1,031,551,300 đ tương ứng tỷ lệ giảm 14%. Nguyên nhân là do trong năm nay một số tài sản cố định sử dụng lâu đã bị hao mòn và không còn khả năng sử dụng do đó doanh nghiệp đem thanh lý hoặc nhượng bán và chưa có kế hoặc mua sắm thêm.

  • Đánh giá chung tình hình tài sản của doanh nghiệp:

Tình hình tài sản lưu động tương đối tốt, khoản mục tiền và các khoản tương đương tiền mặc dù có giảm nhưng vẫn nằm trong sự ổn định và hợp lý. Khoản mục khoản phải thu giảm, chứng tỏ công tác thu hồi vốn tốt. Khoản mục hàng tồn kho tăng cao vào năm 2025, công ty cần có các chính sách dự trữ hàng tồn kho một cách hợp lý hơn. Trái với tài sản lưu động, tài sản cố định không có biến động nhiều, giá trị của khoản mục tài này giảm là do khấu hao hàng năm.

Tuy nhiên phân tích kết cấu trên chúng ta chỉ biết được sự hợp lý trong việc tăng giảm các khoản mục, để biết được mức độ hiệu quả của các biến động trên cần kết hợp với những phân tích chỉ số tài chính ở phần sau để có cái nhìn chính xác hơn về tình hình tài chính của công ty. Khóa luận: Thực trạng tình hình tài chính Công ty Minh Phúc.

  • Về cơ cấu nguồn vốn:

Nhìn vào bảng 2 ta thấy tổng nguồn vốn của doanh nghiệp có sự thay đổi qua các năm, năm 2025 tổng nguồn vốn là 22,492,239,155đ tỷ lệ giảm 13% so với đầu năm. Tổng nguồn vốn có sự sụt giảm như vậy là do tác động của sự thay đổi hai chỉ tiêu nợ phải trả và vốn chủ sở hữu.

Năm 2023 chỉ tiêu nợ phải trả đạt mức cao nhất là 10,537,462,377đ chiếm 34% tỷ trọng trên tổng số nguồn vốn. Nguyên nhân là do năm nay công ty mở rộng quy mô mà vốn chủ sở hữu tăng lên không kịp với tốc độ tăng của quy mô, vì vậy công ty đã tăng lượng tiền vay ngân hàng và chiếm dụng vốn của đơn vị khác làm cho chỉ tiêu này tăng cao. Năm 2025, quy mô kinh doanh có giảm xuống, bên cạnh đó hoạt động kinh doanh của công ty có hiệu quả nên công ty đã trả bớt nợ vay, làm nợ phải trả giảm xuống đáng kể còn 1,560,452,354đ, giảm 3,124,360,266đ với tốc độ giảm 67%, đồng thời tỷ trong chỉ tiêu này cũng giảm xuống còn 7% trong tổng số so với năm 2024.

Việc nợ phải trả của công ty trong năm 2023 đạt giá trị cao làm cho khả năng tự chủ về tài chính của công ty giảm. Nhưng đến hai năm sau đó tình hình đã có chiều hướng khả quan hơn, nợ phải trả giảm xuống làm cho mức độ độc lập về tài chính được nâng cao hơn qua các năm. Có thể nói đây là một xu hướng tích cực của công ty cần được phát huy trong thời gian tới.

  • Vốn chủ sở hữu tăng qua các năm, cụ thể:

Năm 2023 vốn chủ sở hữu là 20,653,205,246đ chiếm tỷ trọng 66%. Năm 2024 vốn chủ sở hữu là 20,789,216,340đ tăng 136,011,094 đ, tỷ trọng trong tổng số nguồn vốn tăng lên 82%. Năm 2025 vốn chủ sở hữu lại tiếp tục tăng và đạt giá trị là 20,931,786,801đ tăng một lượng là 142,570,461đ so với năm 2024 đồng thời tỷ trọng cũng tăng lên 93%.

Đi sâu tìm hiểu ta thấy vốn chủ sở hữu tăng qua các năm là do lợi nhuận sau thuế qua các năm tăng. Điều này được chứng minh qua chỉ tiêu lợi nhuận năm 2025 đã tăng lên 6,559,367đ so với đầu năm và đạt giá trị bằng 142,570,461đ.

So sánh giữa kết cấu giữa nợ phải trả và nguồn vốn chủ sở hữu trong ba năm thì vốn chủ sở hữu vẫn chiếm tỷ trọng cơ bản trong tổng nguồn vốn. Điều này cho thấy doanh nghiệp hoàn toàn độc lập về măt tài chính.

Tóm lại cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp trong các năm có xu hướng biến động đáng kể, doanh nghiệp cần tiếp tục đưa ra các biện pháp phù hợp để quản lý cơ cấu nguồn vốn ổn định và hiệu quả hơn.

2.2.2 Đánh giá tình hình tài chính thông qua báo cáo kết quả kinh doanh Khóa luận: Thực trạng tình hình tài chính Công ty Minh Phúc.

  • Bảng 3: Bảng Báo Cáo Kết Quả Kinh Doanh Công ty Cổ phần Minh Phúc giai đoạn 2023-2025

Doanh thu thuần năm 2023 là 38,667,449,462đ. Năm 2024, 2025 với chính sách nâng giá đầu ra các dịch vụ và thắt chặt chính sách thu tiền nên doanh thu giảm xuống còn 21,076,837,726đ năm 2024 và chỉ tiêu này đến năm 2025 còn 10,094,498,290đ tương đương với tốc độ giảm 52,11%.

Ngoài doanh thu thuần doanh nghiệp còn có khoản doanh thu khác từ hoạt động tài chính. Năm 2023 giá trị của chỉ tiêu là 2,140,773đ, năm 2024 là 2,441,482đ. Năm 2025 đạt giá trị là 209,682đ tốc độ giảm so với năm 2024 là 91,41%. Tuy giá trị của chỉ tiêu này khá thấp, không đáng kể nhưng nó cũng góp phần làm tăng nguồn doanh thu và là cơ sở để tăng lợi nhuận sau thuế cho doanh nghiệp.

Như vậy tình hình doanh thu có xu hướng giảm mạnh qua các năm, ngoài yếu tố khách quan của thị trường cạnh tranh, một nguyên nhân tác động không nhỏ là do chính sách kinh doanh của công ty có sự thay đổi. Công ty nên có những biện pháp cụ thể, hiệu quả nhằm khắc phục và cải thiện tình hình.

Giá vốn hàng bán giảm dần qua các năm và luôn chiếm tỷ trọng rất lớn trong doanh thu. Cụ thể ta thấy giá vốn hàng bán năm 2023 là 37,586,561,873đ chiếm tỷ trọng 97.2% trong doanh thu. Năm 2024 giá vốn hàng bán giảm xuống còn 20,105,341,043đ làm cho tỷ trọng của chỉ tiêu này giảm nhẹ còn 95.4%. Sang đến năm 2025 chỉ tiêu này chỉ đạt 9,409,279,636đ kéo theo tỷ trọng giảm xuống còn 93.21%. Việc chỉ tiêu này giảm kèm theo lợi nhuận gộp cũng giảm qua ba năm. Từ giá trị 1,080,937,589đ năm 2023 giảm xuống còn 685,218,654 đ năm 2025. Tốc độ giảm giá vốn hàng bán năm 2025 so với năm 2024 là 53,2%. Nguyên nhân sự sụt giảm này là do giá cả nguyên liệu đầu vào hoặc chi phí chung giảm.

Ta thấy chi phí bán hàng của doanh nghiệp có sự tăng giảm qua các năm. Cụ thể như sau: năm 2023 chi phí bán hàng là 464,323,212đ; năm 2024 chỉ tiêu này đạt giá trị cao nhất trong 3 năm nghiên cứu là 514,590,096đ. Sang tới năm 2025 trị số của chỉ tiêu này là 310,652,452đ; giảm 203,937,644đ tương ứng với tỷ lệ giảm là 39,63% so với năm trước.

Chỉ tiêu chi phí quản lý có sự tăng giảm qua các năm. Cụ thể, nếu trong năm 2023 chi phí quản lý là 198,995,662đ thì sang tới năm 2024 chỉ tiêu này tăng lên đến giá trị là 277,086,975đ.Nguyên nhân chủ yếu là do giá xăng dầu tăng cao làm cho chi phí tăng theo.Đến năm 2025 chi phí quản lý đã là 133,136,765đ giảm 143,950,210đ so với năm 2024; tương ứng với tốc độ giảm là 51,95% đạt mức thấp nhất trong ba năm qua. Chi phí quản lý của doanh nghiệp có tuy tăng cao vào năm 2024 nhưng sang đến năm 2025 chỉ tiêu này đã có sự giảm đáng kể cho thấy công ty đã có những bước đi đúng đắn, những định hướng hiệu quả cho khả năng quản lý chi phí doanh nghiệp. Khóa luận: Thực trạng tình hình tài chính Công ty Minh Phúc.

Chỉ tiêu lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh là lợi nhuận còn lại sau khi lấy lợi nhuận gộp trừ chi phí quản lý và chi phí tài chính. Ta thấy lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh của công ty có sự tăng giảm qua các năm. Cụ thể, năm 2023 lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh là 190,000,000đ. Năm 2024 chỉ tiêu này giảm nhẹ còn 182,261,094đ. Năm 2025 lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh tăng lên 241,639,119đ tương ứng với tỷ lệ tăng 32,58%. Điều này một phần là do sự tác động của thu nhập khác trong năm qua của công ty đạt 120,000,000đ. Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh tăng cho thấy nguồn thu nhập chính của công ty có xu hướng phát triển tích cực. Tuy nhiên mức tăng này vẫn còn nhỏ so với sự sụt giảm doanh thu, công ty cần đẩy mạnh tỷ lệ này hơn nữa trong tương lai nhằm đạt được kết quả cao trong kinh doanh.

Lợi nhuận sau thuế là lợi nhuận cuối cùng mà công ty có được, nó bằng lợi nhuận trước thuế trừ đi thuế thu nhập doanh nghiệp (25%). Sự tăng giảm của nó tỷ lệ thuận và giống hoàn toàn với lợi nhuận trước thuế. Ta xét tỷ trọng của nó so với doanh thu, tức là 100đ doanh thu sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận. Năm 2023 lợi nhuận sau thuế là 142,500,000đ so với doanh thu là 38,667,499,462đ có nghĩa là 100đ doanh thu sẽ tạo ra 0,37đ lợi nhuận. Năm 2024, lợi nhuận sau thuế là 136,011,094đ so với doanh thu là 21,076,837,726đ, 100đ doanh thu tạo ra 0,64đ lợi nhuận. Năm 2025, lợi nhuận sau thuế đạt cao nhất là 142,570,461đ trên doanh thu là 10,094,498,290đ hay 100đ doanh thu tạo ra được 1,41đ lợi nhuận. Tuy nhiên tốc độ tăng của lợi nhuận sau thuế năm 2025 so với đầu kỳ còn khá thấp 4,82%.

Ta thấy tỷ trọng lợi nhuận sau thuế so với doanh thu qua ba năm đã có sự phát triển khá rõ, nếu như năm 2023, 100đ doanh thu chỉ thu được không quá 0,5đ lợi nhuận thì sang tới năm 2025 số đồng lợi nhuận thu về đã tăng khá cao 1,41đ.

Nhìn chung qua bảng phân tích ta thấy tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh qua các năm có xu hướng phát triển khá ổn định. Tuy vậy công ty vẫn cần có các biện pháp để tăng khả năng tiêu thụ sản phẩm bằng việc marketing hoặc một số biện pháp hợp lý khác.

  • Kết cấu các chỉ tiêu trong bảng báo cáo kết quả kinh doanh:

Qua số liệu phân tích ở bảng 3, ta thấy để có được 100đ doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ thì trong năm 2023 công ty đã phải bỏ ra 97,2đ giá vốn hàng bán; 0,59đ chi phí tài chính (trong đó chủ yếu là chi phí lãi vay); 1.2đ chi phí bán hàng và 0.51đ chi phí quản lý doanh nghiệp. Năm 2024 để có được 100đ doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ thì công ty phải bỏ ra 95,4đ giá vốn hàng bán; 2.4đ chi phí hàng bán và 1.3đ chi phí quản lý doanh nghiệp. Năm 2025 để đạt 100đ doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ công ty phải bỏ ra 93,21đ giá vốn hàng bán; 3.08đ chi phí bán hàng; 1.32đ chi phí quản lý doanh nghiệp và 1,7đ chi phí khác. Như vậy để cùng đạt được 100đ doanh thu trong mỗi năm thì giá vốn hàng bán và chi phí tài chính có xu hướng giảm đi còn chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp và chi phí khác có xu hướng tăng lên.

Năm 2023 cứ 100đ doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ thì đem về được 2,8đ lợi nhuận gộp. Năm 2024 là 4,6đ và con số này là 6,79đ ở năm 2025.Ta thấy chỉ tiêu này liên tục tăng qua các năm chứng tỏ sức sinh lời trên một đồng doanh thu của doanh nghiệp năm sau luôn cao hơn năm trước trong thời gian 3 năm nghiên cứu.

Xét tới chỉ tiêu lợi nhuận kế toán trước thuế, ta thấy chỉ tiêu này biến đổi cùng chiều với chỉ tiêu lợi nhuận gộp về từ bán hàng và cung cấp dịch vụ, nghĩa là chỉ tiêu này cũng có tốc độ tăng dần qua các năm. Cụ thể: năm 2023 cứ 100đ doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ đem lại 0,49đ lợi nhuận kế toán trước thuế, năm 2024 con số này là 0,9đ và năm 2025 tăng lên là 1,88đ. Có thể thấy được rằng hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty đã phát triển theo chiều hướng có lợi. Bên cạnh đó, công ty cần xem xét tính toán việc bỏ ra các chi phí và sử dụng chi phí hợp lý hơn.

Năm 2023 cứ 100đ doanh thu từ bán hàng và cung cấp dịch vụ đem lại 0,37đ lợi nhuận sau thuế, năm 2024 là 0.6đ và năm 2025 là 1.41đ. Chứng tỏ cuối năm thì hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty có hiệu quả hơn so với đầu năm. Đây là một kết quả tốt và công ty cần phát huy trong tương lai. Công ty cần có những biện pháp tiếp tục giảm giá vốn hàng bán, đồng thời có kế hoạch cụ thể góp phần sử dụng chi phí hợp lý và tiết kiệm, giảm chi phí tài chính, chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp nhằm tăng lợi nhuận cho công ty. Khóa luận: Thực trạng tình hình tài chính Công ty Minh Phúc.

2.2.3 Đánh giá rủi ro tài chính của doanh nghiệp

Đánh giá rủi ro tài chính của doanh nghiệp thông qua việc thực hiện nguyên tắc cân bằng tài chính

  • Bảng 4: Bảng cân đối giữa tài sản và nguồn vốn

Đi sâu vào phân tích chỉ tiêu vốn lưu chuyển của công ty cổ phần Minh Phúc trong giai đoạn 2023-2025 ta thấy:

  • Tổng tài sản và tổng nguồn vốn của doanh nghiệp luôn bằng nhau.

Giá trị vốn lưu chuyển luôn dương trong suốt giai đoạn từ năm 2023 đến năm 2025. Năm 2023, vốn lưu chuyển có giá trị là 13,987,069,908đ; năm 2024 vốn lưu chuyển là 13,638,803,267đ, năm 2025 vốn lưu chuyển đạt giá trị cao nhất trong ba năm là 14,812,925,028đ. Điều này cho thấy vốn dài hạn của doanh nghiệp đầu tư cho TSDH không những đủ mà còn thừa, đảm bảo nguyên tắc cân bằng tài chính. Nghĩa là vốn dài hạn còn dư sau khi đầu tư vào TSDH tiếp tục được đầu tư vào TSNH. Tuy điều này là an toàn nhưng lợi nhuận lại thấp. Đồng thời khi vốn lưu động ròng dương thì chỉ tiêu TSNH sẽ lớn hơn nợ ngắn hạn, điều này cũng tạo được sự an toàn cho công ty nhưng chi phí sử dụng vốn lại cao hơn. Nó cũng cho thấy TSNH có thể chuyển đổi nhanh thành tiền đủ để đáp ứng nhu cầu trả nợ ngắn hạn, cán cân thanh toán của doanh nghiệp thăng bằng và công ty có khả năng thanh toán tốt.

  • Nhu cầu vốn lưu chuyển

Trên cơ sở xác định lượng vốn lưu chuyển của doanh nghiệp, ta so sánh chỉ tiêu vốn lưu chuyển với chỉ tiêu nhu cầu vốn lưu chuyển để xác định phương tiện tài trợ cũng như cách thức tài trợ mà doanh nghiệp đang sử dụng có an toàn và ổn định hay không. Công thức tính nhu cầu vốn lưu chuyển: NCVLC = Hàng tồn kho + Các khoản phải thu ngắn hạn – Các khoản phải trả ngắn hạn. Khóa luận: Thực trạng tình hình tài chính Công ty Minh Phúc.

  • Bảng 5: Vốn lưu chuyển – Nhu cầu Vốn lưu chuyển

Qua bảng phân tích trên ta thấy nhu cầu vốn lưu chuyển của doanh nghiệp có sự biến động dẫn đến chính sách tài trợ có sự thay đổi qua từng năm. Đi sâu phân tích từng chỉ tiêu:

Phân tích VLC ta thấy, VLC cuối năm 2025 tăng cao hơn so với đầu năm là do chịu ảnh hưởng của hai nhân tố:

Tài sản ngắn hạn năm 2025 giảm so với đầu năm, cụ thể: năm 2024 TSNH là 18,323,615,887đ, năm 2025 giá trị TSNH giảm xuống còn 16,373,377,382đ. Giảm một lượng là 1,950,238,505đ so với đầu năm.

Nhân tố thứ hai là nợ ngắn hạn, ta thấy nợ ngắn hạn có xu hướng giảm dần qua các năm. Năm 2023 nợ ngắn hạn là 10,537,462,377đ. Năm 2024 nợ ngắn hạn là 4,684,812,620đ nhưng sang tới năm 2025 thì nợ ngắn hạn chỉ còn 1,560,452,354đ. Giảm một lượng bằng 3,124,360,266đ so với năm trước. Tuy nhiên do lượng giảm của nợ ngắn hạn lớn hơn lượng giảm của tài sản ngắn hạn nên làm cho vốn lưu chuyển tăng lên vào năm 2025.

Phân tích nhu cầu VLC ta thấy năm 2025 nhu cầu VLC tăng lên so với đầu năm một khoản bằng 659,164,009đ. Nguyên nhân làm nhu cầu VLC năm 2025 tăng là do ảnh hưởng của các nhân tố sau:

Hàng tồn kho năm 2025 so với hàng tồn kho năm 2024 tăng một lượng bằng 3,559,730,337đ. Cụ thể: năm 2024 giá trị hàng tồn kho là 8,364,128,040đ; năm 2025 HTK là 11,923,858,377đ điều này làm cho nhu cầu vốn lưu chuyển tăng một lượng là 3,559,730,337đ.

Các khoản phải thu ngắn hạn năm 2025 giảm 3,338,951,269đ so với năm 2024 làm cho nhu cầu VLC giảm 3,338,951,269đ.

Các khoản phải trả ngắn hạn năm 2025 giảm 438,384,941đ so với năm 2024 làm cho nhu cầu vốn lưu chuyển tăng 438,384,941đ.

Do các khoản phải thu ngắn hạn giảm đồng thời các khoản phải trả ngắn hạn giảm nhỏ hơn số tăng của hàng tồn kho nên nhu cầu vốn lưu chuyển tăng.

Mặt khác ta thấy trong hai năm 2023 và 2024 chênh lệch giữa hai chỉ tiêu VLC và nhu cầu VLC đều mang giá trị âm, cụ thể: năm 2023 VLC nhỏ hơn nhu cầu VLC 671,844,498đ. Năm 2024 chênh lệch giữa hai chỉ tiêu này được rút ngắn đáng kể: VLC có giá trị nhỏ hơn nhu cầu VLC là 29,511,614đ. Điều này cho thấy VLC của doanh nghiệp trong hai năm qua không đủ để đáp ứng nhu cầu VLC, dẫn tới thiếu vốn trong sản xuất kinh doanh và làm khả năng thanh toán tức thời của doanh nghiệp thấp. Tuy nhiên tình hình này có dấu hiệu khả quan hơn về cuối năm. Khóa luận: Thực trạng tình hình tài chính Công ty Minh Phúc.

Sang tới năm 2025 tình hình này đã được công ty cải thiện đáng kể, trong năm này là năm duy nhất trong khoảng thời gian 2023-2025 chênh lệch giữa VLC và nhu cầu VLC đạt giá trị dương 485,446,138đ. Trường hợp này chứng tỏ doanh nghiệp thừa vốn lưu chuyển để có thể đáp ứng nhu cầu VLC, hay nó thể hiện khả năng thanh toán tức thời của doanh nghiệp tốt trong khi vẫn đảm bảo các nghĩa vụ thanh toán các khoản tín dụng ngắn hạn (bao gồm: vay ngắn hạn, nợ dài hạn đến hạn trả). Tuy nhiên điều này cũng cho thấy trong năm 2025 doanh nghiệp bị thừa vốn nhiều làm cho chi phí sử dụng vốn tăng cao hay có thể nói trong trong năm qua doanh nghiệp sử dụng vốn chưa hiệu quả. Vấn đề đặt ra là doanh nghiệp cần phải có những kế hoạch sử dụng nguồn vốn dư thừa của mình hợp lý và hiệu quả hơn góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh.

  • Đánh giá rủi ro tài chính của doanh nghiệp thông qua khả năng thanh toán
  • Bảng 6: Các Chỉ Tiêu Phản Ánh Khả Năng Thanh Toán Công ty Cổ Phần Minh Phúc

Hệ số thanh toán tổng quát của công ty trong ba năm qua khá cao chứng tỏ tất cả các khoản vốn huy động từ bên ngoài đều có tài sản đảm bảo, tình hình tài chính của công ty khá vững vàng. Trong năm 2023 cứ 1 đồng vay nợ của công ty có 2.96đ giá trị tài sản để đảm bảo, năm 2024 là 5.44đ, năm 2025 thì cứ 1đ vay nợ thì được đảm bảo bằng 14.41đ giá trị tài sản. Hệ số này năm 2024 cao hơn năm 2023 là 2.48đ tương ứng với tỷ lệ tăng 83.7%. Năm 2025 hệ số này tiếp tục tăng với tốc độ lớn hơn 165%, cao hơn năm 2024 một lượng là 8.98đ. Điều này là do năm 2024 mức huy động của công ty giảm đi 5.852.649.757đ với tốc độ giảm 55.5%, đồng thời tổng tài sản giảm đi 5.716.638.663đ tương ứng với tốc độ giảm 18.3%. Như vậy tốc độ giảm của tổng tài sản nhỏ hơn tốc độ giảm của tổng nợ phải trả dẫn đến hệ số khả năng thanh toán tổng quát của doanh nghiệp năm 2024 tăng lên so với năm 2023. Tương tự như vậy năm 2025 so với năm 2024 tổng tài sản của doanh nghiệp giảm 2.981.789.805đ tương ứng với tốc độ giảm 11.7%, nợ ngắn hạn giảm 3.124.360.268đ tương ứng với tốc độ giảm 66.7%. Ta thấy tốc độ giảm của tổng tài sản nhỏ hơn tốc độ giảm của nợ ngắn hạn kết quả là làm cho hệ số thanh toán tổng quát năm 2025 tăng lên so với năm trước.

Hệ số thanh toán ngắn hạn của công ty thể hiện mức độ đảm bảo tài sản lưu động với các khoản nợ phải thanh toán trong kỳ. Như vậy, trong năm 2023 thì cứ 1đ nợ ngắn hạn thì được đảm bảo bởi 2.33đ tài sản lưu động, năm 2024 là 3.91đ, năm 2025 là 10.49đ. Chỉ số này tăng chứng tỏ việc quay vòng vốn của doanh nghiệp chưa hiệu quả. So với năm 2023 thì khả năng thanh toán ngắn hạn năm 2024 của công ty đã tăng 1.58đ tương ứng với tỷ lệ tăng 68.1%. Năm 2025 khả năng thanh toán ngắn hạn tăng 6.58đ so với năm 2024 tương ứng với tỷ lệ tăng hơn 160%. Nguyên nhân là do các khoản mục tài sản lưu động và nợ ngắn hạn của công ty đều có xu hướng giảm nhưng tốc độ giảm của tài sản lưu động luôn nhỏ hơn tốc độ giảm của nợ ngắn hạn dẫn đến hệ số thanh toán hiện hành năm sau luôn cao hơn năm trước trong giai đoạn 2023-2025.

Khả năng thanh toán nhanh của công ty năm 2023 đạt 1.37 có nghĩa là cứ 1đ nợ ngắn hạn thì được đảm bảo bằng 1.37đ tài sản ngắn hạn (không có khoản mục hàng tồn kho), đến năm 2024 cứ 1đ nợ ngắn hạn thì được đảm bảo bằng 2.13đ tài sản ngắn hạn, năm 2025 con số này là 2.85đ. Như vậy, ta thấy hệ số khả năng thanh toán nhanh của công ty trong những năm gần đây ngày càng cao. Điều này cho thấy khả năng thanh toán công nợ của công ty cao, tạo thuận lợi trong việc thanh toán, vì vào lúc cần công ty có thể dễ dàng trả các khoản nợ đến hạn. Khóa luận: Thực trạng tình hình tài chính Công ty Minh Phúc.

Ta thấy khả năng thanh toán tức thời của doanh nghiệp năm 2023 là 0.53 tức là trong năm 2023 công ty có 0.53đ tiền và tương đương tiền để đảm bảo cho 1 đồng nợ đến hạn. Năm 2024 và năm 2025 con số này tăng lên đáng kể, cụ thể: năm 2024 khả năng thanh toán tức thời của doanh nghiệp là 0.89% cho thấy cứ 1 đồng nợ đến hạn của doanh nghiệp thì được đảm bảo bằng 0.89 đ tiền và các khoản tương đương tiền.Năm 2025 cứ 1đ nợ đến hạn thì được đảm bảo bằng 0.36đ tiền và các khoản tương đương tiền, chỉ tiêu này sơ với năm 2024 tăng 0.24đ tương ứng với tốc độ tăng 34.1%.

Qua phân tích chỉ tiêu thanh toán ta đã thấy được phần nào khả năng thanh toán của công ty cổ phần Minh Phúc: khả năng thanh toán tổng quát cao, khả năng thanh toán ngắn hạn và khả năng thanh toán tức thời tốt; khả nang thanh toán nhanh của doanh nghiệp cao với giá trị tăng dần qua các năm và đều lớn hơn 1 cho thấy công ty có thể sẵn sàng đáp ứng các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ yêu cầu thanh toán nhanh.

2.2.4 Đánh giá tình hình tài chính thông qua báo cáo lưu chuyển tiền tệ:

  • Bảng 7: Bảng số liệu phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ Công ty cổ phần Minh Phúc năm 2024-2025

Phân tích kết cấu lưu chuyển các dòng tiền thuần của doanh nghiệp

Theo bảng số liệu trên ta thấy rằng, nguồn tiền chính trong các năm 2024 và năm 2025 của công ty là từ hoạt động kinh doanh. Luồng tiền chính công ty thu về qua các năm chủ yếu là các khoản thu từ bán hàng và cung cấp dịch vụ và doanh thu khác. Năm 2024 lượng tiền công ty thu được là 27,031,695,989đ nhưng sang tới năm 2025 con số này giảm 8,509,968,396đ chỉ còn 18,521,727,593đ. Ngoài ra năm 2025 còn có khoản thu khác từ hoạt động kinh doanh là 710,986,630đ.

Tiền thu được từ hoạt động kinh doanh của năm 2025 lớn hơn so với các chi phí đầu tư mua sắm và xây dựng TSCĐ chứng tỏ công ty dễ dàng tài trợ bằng tiền cho các khoản đầu tư phục vụ mục đích kinh doanh của mình.

  • Phân tích các khoản phải thu – chi trong hoạt động sản xuất kinh doanh

Năm 2024 và 2025, Công ty cổ phần Minh Phúc đã chấp hành đóng đủ khoản thuế cho Nhà nước, không trì hoãn việc nộp thuế cho thấy doanh nghiệp đã chấp hành nghiêm chỉnh những quy định theo pháp luật đề ra.

Năm 2025 khoản mục tiền và tương đương tiền của doanh nghiệp giảm mạnh so với năm 2024: từ 4,156,892,578đ năm 2024 giảm xuống còn 1,759,018,173đ ở năm 2025. Điều này cho thấy khả năng thanh khoản của công ty đã bắt đầu có xu hướng giảm.

2.2.5 Phân tích nhóm chỉ tiêu phản ánh cơ cấu tài chính Khóa luận: Thực trạng tình hình tài chính Công ty Minh Phúc.

  • Bảng 8: Các Chỉ Tiêu Phản Ánh Cơ Cấu Tài Chính Công Ty Cổ Phần Minh Phúc

Hệ số nợ là một chỉ tiêu tài chính phản ánh trong 1đ vốn hiện nay của doanh nghiệp sử dụng thì có mấy đồng vốn đi vay. Nếu hệ số này càng cao chứng tỏ tính độc lập của doanh nghiệp càng kém. Theo dõi các giá trị của hệ số nợ qua 3 năm ta có: năm 2023 hệ số nợ là 33.78% tức là cứ 100đ vốn đang sử dụng thì có 33.78đ đi vay, năm 2024 trong 100đ vốn đang sử dụng thì có 19.2đ đi vay, năm 2025 con số này giảm xuống còn 6.94đ đi vay trên 100đ vốn đang sử dụng. Nhìn chung hệ số nợ của doanh nghiệp có chiều hưởng giảm qua các năm với tốc độ giảm tương đối lớn 63.86% (2025). Nguyên nhân là do tốc độ giảm của tổng nợ phải trả năm 2024 và 2025 lần lượt là 53,13% và 68.4% luôn lớn hơn tốc độ giảm của tổng nguồn vốn là trong hai năm 2024-2025 lần lượt là 17.51% và 12.58%. Điều này làm cho hệ số nợ của công ty năm sau luôn thấp hơn năm trước, cho thấy công ty có khả năng độc lập về mặt tài chính cao, không lệ thuộc vào vốn vay.

Tỷ suất tự tài trợ được tính bằng vốn chủ sở hữu chia cho tổng nguồn vốn, và chỉ tiêu này biến động ngược chiều với hệ số nợ. Nếu hệ số nợ có xu hướng giảm xuống qua các năm thì tỷ suất tự tài trợ lại có xu hướng tăng lên. Năm 2023 cứ 100đ vốn sử dụng thì có 66.22đ vốn chủ sở hữu. Tỷ suất tự tài trợ năm 2024 là 80.8% nghĩa là trong 100đ vốn sử dụng thì có 80.8đ vốn chủ sở hữu, giá trị này tăng 14.59đ so với năm trước đạt tốc độ tăng 22.03%. Năm 2025 chỉ tiêu này đạt giá trị cao nhất trong ba năm là 93.06% tăng 12.26%, tỷ lệ tăng là 15,17%. Nghĩa là trong năm 2025 cứ 100đ vốn sử dụng thì có 93.06đ vốn chủ sở hữu. Ta thấy nguyên nhân tỷ suất tự tài trợ tăng cao như vậy là do vốn chủ sở hữu có xu hướng tăng lên còn tổng nguồn vốn có xu hướng giảm dần qua các năm. Có thể kết luận rằng tỷ suất tự tài trợ của công ty trong 3 năm qua đều rất cao điều đó phần nào chứng tỏ rằng công ty có nhiều vốn tự có, có tính độc lập cao với các chủ nợ đồng thời mức độ tài trợ của công ty với nguồn vốn kinh doanh của mình cũng rất tốt.

Hệ số đảm bảo nợ năm 2023 của công ty là 196% tức là cứ 100đ vay nợ thì có 196đ vốn CSH đảm bảo trả nợ, năm 2024 cứ 100đ vay nợ thì có 420.39đ vốn CSH đảm bảo, năm 2025 là 1341.39đ. Như vậy ta thấy hệ số đảm bảo nợ của công ty tăng cao qua các năm về cả số tuyệt đối và số tương đối. Năm 2024 tăng 224.93đ tương đương tốc độ tăng 114.76% so với năm 2023. Năm 2025 tăng 920.46đ tương đương với tốc độ tăng 218.67% so với năm 2024. Nguyên nhân của sự gia tăng này là do nợ phải trả có xu hướng giảm và vốn chủ sở hữu có xu hướng tăng qua các năm. Việc hệ số đảm bảo nợ tăng dần và đạt giá trị cao cho thấy khả năng an toàn trong việc đảm bảo nợ và uy tín với chủ nợ của công ty.

2.2.6 Phân tích nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn

  • Bảng 9: Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn Khóa luận: Thực trạng tình hình tài chính Công ty Minh Phúc.

Chỉ tiêu hiệu quả sử dụng toàn bộ vốn (Hs) là chỉ tiêu cho biết bình quân một đồng vốn tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh thì tạo ra được bao nhiêu đồng giá trị sản xuất hoặc doanh thu hay lợi nhuận trước thuế. Nếu chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp càng cao và ngược lại.

Theo bảng9 ta thấy chỉ tiêu Hs của công ty Minh Phúc có sự tăng giảm qua các năm. Cụ thể: năm 2023 hiệu quả sử dụng toàn bộ vốn là 0.69% có nghĩa là trong năm 2023 cứ 100 đồng vốn tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh thì tạo ra được 0.69đ lợi nhuận trước thuế. Chỉ tiêu này sang hai năm sau đó là 0.67% và 0.79%, hay năm 2024 khi 100 đồng của công ty tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh đã tạo ra được 0.67đ lợi nhuận trước thuế, con số này là 0.79đ vào năm 2025. Năm 2025 so với đầu kỳ đã tăng 0.12% tương đương với tốc độ tăng là 17.9%.

Nguyên nhân khiến hiệu quả sử dụng vốn tăng qua các năm là do lợi nhuận sau thuế của công ty vào cuối kỳ thường tăng lên so với đầu kì đồng thời nguồn vốn bình quân của doanh nghiệp có dấu hiệu giảm xuống. Tuy nhiên giá trị của chỉ tiêu này chưa cao chứng tỏ công tác sử dụng tổng vốn của doanh nghiệp chưa hiệu quả.

Chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn vay (Hsv) cho biết bình quân doanh nghiệp sử dụng một đồng vốn vay vào quá trình sản xuất kinh doanh thì tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế. Nếu Hsv càng lớn chứng tỏ mức sinh lời trên một đồng vốn vay càng cao và ngược lại.

Ta thấy hiệu quả sử dụng vốn vay của doanh nghiệp càng về cuối năm càng cao. Cụ thể: năm 2023 chỉ tiêu Hsv của doanh nghiệp là 2.92% có nghĩa là trong năm qua cứ bình quân 100 đồng vốn vay được sử dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh thì tạo ra được 2.92đ lợi nhuận trước thuế. Chỉ tiêu này có giá trị cao hơn vào các năm 2024 và 2025. Năm 2024 bình quân 100 đồng vốn vay được sử dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh thì tạo được 3.22đ lợi nhuận trước thuế tăng 10.27% so với năm 2023. Năm 2025 bình quân cứ 100 đồng vốn vay được sử dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh thì tạo ta được 6.19đ lợi nhuận trước thuế tăng 2.86% tương ứng với tốc độ tăng hơn 90% so với đầu kỳ. Điều này cho thấy mức sinh lời trên một đồng vốn vay của công ty tuy chưa đạt được giá trị cao như mong đợi nhưng đang có dấu hiệu tiến triển tốt chứng tỏ công tác sử dụng vốn vay của doanh nghiệp đã có những chuyển biến tích cực.

Sang tới chỉ tiêu cuối cùng trong nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp. Chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu (Hsc), chỉ tiêu này cho biết bình quân một đồng vốn chủ sở hữu tham gia trong quá trình sản xuất kinh doanh thì tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Nếu chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ mức sinh lời trên một đồng vốn chủ sở hữu càng cao và ngược lại.

Theo bảng 9 ta thấy chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn chủ không có nhiều biến động lớn, giá trị trong ba năm nghiên cứu không có sự chênh lệch nhiều. Cụ thể: năm 2023 Hsc đạt giá trị 0.68%, năm 2024 Hsc là 0.66% và năm 2025 là 0.68%. Nguyên nhân là do hai chỉ tiêu ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu là lợi nhuận sau thuế và vốn chủ sở hữu bình quân không có sự thay đổi nào đáng kể trong khoảng thời gian 3 năm nghiên cứu. Tuy nhiên qua phân tích ta thấy giá trị của hiệu quả sử dụng vốn chưa cao và không có dấu hiệu tăng điều này phản ánh mức sinh lời trên một đồng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp chưa cao, doanh nghiệp nên đưa ra cho mình các giải pháp nhằm cải thiện tình trạng trên.

2.2.7 Phân tích nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động Khóa luận: Thực trạng tình hình tài chính Công ty Minh Phúc.

  • Bảng10: Các Chỉ Tiêu Phản Ánh Hiệu Quả Hoạt Động Công Ty Cổ Phần Minh Phúc

Số vòng quay hàng tồn kho có xu hướng giảm. Năm 2023 là 3.67 vòng, năm 2024 là 2.18 vòng, năm 2025 là 0.93 vòng. Chỉ tiêu này được tính bằng giá vốn hàng bán chia cho hàng tồn kho bình quân. Do đó nguyên nhân số vòng quay HTK năm 2025 giảm mạnh so với hai năm trước là do giá vốn hàng bán năm 2025 giảm mạnh với tốc độ giảm 53.2% đồng thời tốc độ tăng của hàng tồn kho bình quân lại tăng lên 9.78% so với năm 2024. Chỉ tiêu này càng giảm cho thấy hiệu quả chính sách quản lý hàng tồn kho của công ty chưa được cao.

Do vòng quay HTK giảm dẫn tới số ngày 1 vòng quay HTK tăng cao. Năm 2023 số ngày 1 vòng quay HTK là 98 ngày, năm 2024 là 165 ngày, năm 2025 số ngày 1 vòng quay đã tăng lên đến 388 ngày. Điều này là một dấu hiệu không tốt bởi vì nếu chỉ tiêu này càng tăng chứng tỏ HTK không được giải phóng nhanh, dẫn tới ứ đọng vốn, ảnh hưởng xấu tới hiệu quả hoạt động kinh doanh.

Số vòng quay các khoản phải thu năm 2023 của công ty là 2.96 vòng, năm 2024 là 2.89 vòng, năm 2025 là 2.44 vòng. Chỉ tiêu này cho biết tốc độ chuyển đổi các khoản phải thu thành tiền mặt của công ty. Chỉ tiêu này giảm là do doanh thu thuần và các khoản phải thu bình quân có dấu hiệu giảm qua các năm, tốc độ giảm của doanh thu lớn hơn tốc độ giảm của các khoản phải thu bình quân. Số vòng quay các khoản phải thu tương đối thấp và giảm dần qua các năm làm cho số ngày cần thiết để thu được các khoản phải thu dài ra và tăng lên qua các năm. Điều đó chứng tỏ công ty bị chiếm dụng vốn, khó thu hồi được nợ dẫn tới hiệu quả sử dụng vốn không cao.

Tương tự như vậy, do vòng quay các khoản phải thu giảm làm cho kỳ thu tiền bình quân của công ty tăng lên. Số ngày cần thiết để thu được các khoản phải thu trong 3 năm 2023-2025 lần lượt là 121.43 ngày, 124.71 ngày, 147.4 ngày. Kỳ thu tiền bình quân tăng cho thấy công tác thu hồi nợ của công ty trong thời gian qua là chưa tốt, gây ảnh hưởng xấu tới hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty. Ta thấy số vòng quay VLĐ có xu hướng giảm trong 3 năm gần đây điều đó kéo theo số ngày 1 vòng quay VLĐ tăng lên. Năm 2023 số vòng quay VLĐ là 1.45 vòng tức là cứ 100đ VLĐ bình quân tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh thì thu được 1.45đ doanh thu ứng với số ngày 1 vòng quay VLĐ là 248.48 ngày. Năm 2024 cứ 100đ VLĐ bình quân được chi ra thì thu về 0.98đ doanh thu tương ứng với số ngày 1 vòng quay VLĐ là 365.93 ngày. Năm 2025 cứ 100đ VLĐ bình quân được chi ra thì công ty thu về được 0.58đ doanh thu tương ứng với số ngày 1 vòng quay VLĐ là 618.7 ngày. Qua phân tích trên có thể thấy hiệu quả trong công tác sử dụng VLĐ của công ty trong thời gian qua chưa tốt. Vì vậy trong thời gian tới công ty cần có những biện pháp phù hợp nhằm đẩy nhanh tốc độ luân chuyển VLĐ giúp nâng cao hơn hiệu quả sử dụng vốn.

Nhìn chung, qua phân tích về các hệ số trên ta thấy được hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp trong thời gian qua chưa cao đồng thời chính sách trong quản lý hàng tồn kho cũng chưa có được những kết quả tốt. Trong thời gian tới công ty cần phải tìm biện pháp để cải thiện các vấn đề nêu trên nhằm đạt kết quả tốt hơn trong kinh doanh.

2.2.8 Đánh giá khả năng sinh lời của doanh nghiệp

  • Bảng 11: Các Chỉ Tiêu Phản Ánh Khả Năng Sinh Lời Khóa luận: Thực trạng tình hình tài chính Công ty Minh Phúc.

Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (ROS) là chỉ tiêu cho biết lợi nhuận chiếm bao nhiêu phần trăm trong doanh thu. Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu của công ty năm 2024 là 0.65% tăng 0.28% so với năm 2023 tương ứng với tốc độ tăng 75.11%. Năm 2025 con số này là 1.41% tăng 0.77% so với năm 2024 tương ứng với tốc độ tăng 118.86%. Tuy tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu có tăng lên nhưng giá trị tăng vẫn còn thấp. Nguyên nhân làm cho tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu năm 2025 tăng lên là do lợi nhuận sau thuế của công ty tăng 6.559.367đ tương ứng với tốc độ 4.82% trong khi đó doanh thu thuần của doanh nghiệp lại bị giảm đi so với năm 2024 là 10.982.339.436đ tương ứng với tốc độ giảm 52.11%.

Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) là chỉ tiêu dùng để đo lường khả năng sinh lợi trên mỗi đồng tài sản của công ty. Nhìn chung tỷ suất lợi nhuận ròng trên tổng tài sản của công ty tăng đều trong 3 năm gần đây. Cụ thể: năm 2024 ROA là 0.48% tăng 0.05% với năm 2023, tốc độ tăng là 12.45% có nghĩa là trong năm 2024 cứ 100đ tài sản đưa vào sử dụng thì tạo ra được 0.48đ lợi nhuận sau thuế, cao hơn năm 2023 0.05đ. Sang đến năm 2025, cứ 100đ tài sản đưa vào sử dụng thì doanh nghiệp thu được 0.59đ lợi nhuận sau thuế, tốc độ tăng so với năm 2024 là 23.83%. Tuy ROA có tăng lên trong ba năm nhưng nhìn chung giá trị và tốc độ tăng của chỉ tiêu này còn rất thấp, chưa tạo ra nhiều lợi nhuận cho doanh nghiệp.

Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ (ROE) là chỉ tiêu dùng để đo lường khả năng sinh lợi trên mỗi đồng vốn chủ sở hữu, đây cũng là chỉ tiêu quan trọng nhất đối với các chủ doanh nghiệp và nhà đầu tư. Trong 3 năm 2023-2025 chỉ tiêu này đều thấp và không có nhiều biến động đáng kể. Năm 2023 ROE của công ty đạt 0.69%, năm 2024 giảm 5.2% so với năm trước và đạt 0.66%, năm 2025 chỉ tiêu này có sự tăng nhẹ với tốc độ tăng 4.12% đạt giá trị 0.68%. Nguyên nhân ROE tăng nhẹ trong năm 2025 là do trong năm vốn chủ sở hữu và lợi nhuận sau thuế của công ty tăng tuy nhiên tốc độ tăng rất thấp, 0.67% với vốn chủ sở hữu và 4.82% với lợi nhuận sau thuế.

Nhìn chung, trong 3 năm gần đây các chỉ tiêu ROA, ROE của doanh nghiệp đều tăng lên so với đầu kỳ, điều này chứng tỏ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cuối năm tốt hơn đầu năm. Tuy nhiên giá trị của các chỉ tiêu này còn rất nhỏ, công ty cần có các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn hơn nữa nhằm đạt được lợi nhuận cao hơn trong kinh doanh. Khóa luận: Thực trạng tình hình tài chính Công ty Minh Phúc.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>> Khóa luận: Biện pháp tình hình tài chính tại Công ty Minh Phúc

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Contact Me on Zalo
0877682993
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x