Khóa luận: Thực trạng DN vừa và nhỏ trong tiến trình hội nhập

Rate this post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Thực trạng DN vừa và nhỏ trong tiến trình hội nhập hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Khóa luận: Thực trạng phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

Nội dung chính

2.1. Nhân tố đảm bảo cho sự phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế

2.1.1. Tiến trình phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ

Sự hình thành và phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam theo nhiều nguồn khác nhau:

  • Các cơ sở tiểu thủ công nghiệp có từ lâu đời, tồn tại và phát triển từ thời kỳ kinh tế kế hoạch hoá tập trung.
  • Các doanh nghiệp do Nhà nước thành lập trong cơ chế cũ (các doanh nghiệp Nhà nước trung ương và địa phương).
  • Mới thành lập trong thời kỳ đổi mới kinh tế: do sắp xếp lại quốc doanh, thành lập theo các luật ban hành từ 2010.

Quá trình phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ diễn ra theo nhiều giai đoạn với những đặc điểm khác nhau. Thời kỳ khôi phục kinh tế trước năm 1960, Việt Nam thực hiện chính sách kinh tế nhiều thành phần nhưng số doanh nghiệp lúc bấy giờ còn rất ít, chủ yếu là các cơ sở tiểu thủ công nghiệp.

Từ đầu những năm 1960 đến 2006, hình thức doanh nghiệp vừa và nhỏ chủ yếu là các doanh nghiệp nhà nước, các hợp doanh (miền bắc có 1279 xí nghiệp, miền nam có 634 xí nghiệp) với 520.000 cán bộ, công nhân, trong số đó, phần lớn là các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Ngoài ra, có hàng chục vạn hộ tiểu thủ công nghiệp với trên một triệu lao động. Sau 10 năm cải tạo xã hội chủ nghĩa, đến năm 2005, số xí nghiệp quốc doanh và công tư hợp doanh trong công nghiệp lên tới 3.220 xí nghiệp, số hợp tác xã và tổ hợp tác tiểu thủ công nghiệp lên tới 29.971, khu vực tư nhân, cá thể chỉ còn 1.951 cơ sở.

Từ năm 2006 đến nay, với chính sách đổi mới kinh tế, các thành phần kinh tế chính thức được thừa nhận và được tồn tại lâu dài. Tiếp đó một loạt văn kiện ra đời nghị quyết 16 của Bộ chính trị (2008), nghị định 27,28,29/HĐBT (2008) về kinh tế cá thể, kinh tế hợp tác xã và hộ gia đình nghị định 66/HĐBT về nhóm kinh doanh với vốn pháp định và các luật: luật doanh nghiệp tư nhân, luật công ty, luật hợp tác xã, luật doanh nghiệp Nhà nước, luật khuyến khích đầu tư trong nước… đã tạo cơ sở pháp lý và khuyến khích các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần phát triển sản xuất kinh doanh và các doanh nghiệp vừa và nhỏ thực sự đựơc quan tâm và khuyến khích phát triển. Khóa luận: Thực trạng DN vừa và nhỏ trong tiến trình hội nhập.

Thời gian qua, mặc dù số lương doanh nghiệp Nhà nước và số hợp tác xã giảm mạnh, nhưng tính chung trong toàn bộ nền kinh tế số lượng các doanh nghiệp vừa và nhỏ tăng lên nhanh chóng. Tính riêng trong công nghiệp, doanh nghiệp nhà nước giảm liên tục từ 3.141 (2006) xuống 2.072 doanh nghiệp (2014) và năm 2015 nếu tính cả xây dựng cũng chỉ có 3.291 doanh nghiệp số lượng hợp tác xã giảm rất mạnh, từ 37.649 cơ sở (2006) xuống 13.086 (2010) và 1,999 cơ sở (2015). Trong khi đó, khu vực tư nhân trong công nghiệp (cả hình thức doanh nghiệp và công ty) tăng rất nhanh từ 567 doanh nghiệp (2006) lên 959 (2011), lên 6.311 (2015). Tính đến năm 2022, tổng số doanh nghiệp của cả nước là 2.720.000 doanh nghiệp, trong đó doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm đến 2.718.000 doanh nghiệp, tương đương hơn 99% trong tổng số doanh nghiệp.

Căn cứ vào số liệu thống kê năm 2022, trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân bình quân một doanh nghiệp có 459 triệu đồng vốn, 8392 nghìn lao động. Đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ, lao động bình quân mỗi cơ sở là 2,38 người.

2.1.2 Những điều kiện kinh tế xã hội bảo đảm phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam

Về Tài Chính: là một yếu tố quan trọng và cần thiết cho sự thành lập và phát triển của doanh nghiệp kể từ khi họ bắt đầu kinh doanh, phát triển và tàn lụi. Nguồn vốn của doanh nghiệp có được chủ yếu từ nguồn vốn cá nhân được huy động từ chính cá nhân chủ doanh nghiệp hay nguồn huy động từ các thành viên gia đình của họ, từ nguồn vốn vay của ngân hàng, các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước. Số tiền huy động được từ dân cư và các tổ chức của hệ thống ngân hàng đều được đầu tư trở lại nền kinh tế thông qua các dự án của nhà nước và và cho vay kinh doanh đối với đối với các doanh nghiệp.

Thực hiện mục tiêu về trợ giúp phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ theo các Nghị quyết của Đảng và chỉ đạo của Chính phủ, trong thời gian qua ngành ngân hàng đã có những chuyển biến tích cực về tư tưởng, nhận thức và hành động trong việc đổi mới cơ chế chính sách tín dụng để tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế, nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ tiếp cận với vốn tín dụng ngân hàng phục vụ phát triển sản xuất kinh doanh, nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế. Cơ chế tín dụng ngân hàng thường xuyên được sửa đổi theo nguyên tắc của cơ chế thị trường, tiếp cận thông lệ quốc tế.

Về cơ chế cho vay: tổ chức tín dụng được xem xét cho vay tất cả các nhu cầu vốn để đầu tư, sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp mà pháp luật không cấm; thời hạn cho vay, lãi suất cho vay, mức vốn cho vay do tổ chức tín dụng và doanh nghịêp thỏa thuận phù hợp với dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh, khả năng trả nợ của doanh nghiệp và khả năng tài chính của tổ chức tín dụng. Khóa luận: Thực trạng DN vừa và nhỏ trong tiến trình hội nhập.

Cùng với hình thức cho vay truyền thống, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành cơ chế về các hình thức cấp tín dụng khác như bảo lãnh, chiết khấu, tái chiết khấu giấy tờ có giá, bao thanh toán… nhằm tạo hành lang pháp lý cho các tổ chức tín dụng mở rộng các kênh cấp tín dụng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ phù hợp với thông lệ quốc tế và không trái với pháp luật Việt Nam; trong đó, nghiệp vụ cho thuê tài chính là kênh cung cấp nguồn vốn trung và dài hạn cho các doanh nghiệp khi không có đủ điều kiện vay vốn không phải bảo đảm bằng tài sản tại các ngân hàng thương mại.

Lĩnh vực đầu tư mạo hiểm và thị trường chứng khoán chưa phát triển, đã hạn chế các kênh huy động vốn của doanh nghiệp vừa và nhỏ. Trong khi một số quỹ đầu tư mạo hiểm của nước ngoài đã bắt đầu đầu tư vào Việt Nam từ đầu những năm 2010 để đầu tư vào một số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, thì đến nay chúng ta vẫn chưa có hệ thống pháp lý cho hoạt động này

Về Quỹ Bảo lãnh tín dụng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ (theo quy định tại Nghị định 90/2021/NĐ-CP): ngay từ cuối năm 2021, Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành các văn bản hướng dẫn việc thành lập, tổ chức và hoạt động của Quỹ Bảo lãnh tín dụng, nhưng đến nay, theo báo cáo từ các địa phương mới chỉ có 2 địa phương thành lập được Quỹ này (Tây Ninh và Trà Vinh).

Thị trường: Sự phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đặc biệt là doanh nghiệp dân doanh là động lực cho sự phát triển của xã hội, là bà đỡ cho những doanh nghiệp lớn. Thị trường đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ này bao gồm : thị trường tiêu thụ sản phẩm đầu ra, thị trường nguyên vật liệu, thị trường lao động… Trong đó, điều kiện về thị trường tiêu thụ sản phẩm, thị trường đầu ra là yếu tố quan trọng nhất quyết định sự thành bại, sự tồn tại, phát triển thịnh vượng hay thua lỗ, phá sản của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Khó khăn lớn nhất của nước ta hiện nay chính là thị trường tiêu thụ sản phẩm

Khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ được tháo gỡ rào cản để dễ dàng hơn trong việc tiếp cận tín dụng, đất đai, thị trường, các chương trình đào tạo và các dịch vụ hỗ trợ… Một trong những sự hỗ trợ đó là các doanh nghiệp vừa và nhỏ muốn cần có bệ đỡ từ phía chính phủ, chẳng hạn như việc công khai hoá các dự án mua sắm và đầu tư của Nhà Nước là hết sức cần thiết. Tại Mỹ có quy định các dự án mua sắm của chính phủ phải dành 25% cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Chỉ như vậy, thì những doanh nghiệp vừa và nhỏ này mới có cơ hội tham gia thực hiện các dự án lớn, nếu không các “đại gia” chiếm hết

Công nghệ: Cùng với yếu tố tài chính và thị trường, công nghệ là chìa khoá thành công cho nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là những doanh nghiệp vừa và nhỏ hiện nay. “Bộ ba vốn-thị trường-công nghệ” luôn là vấn đề cốt lõi của mỗi doanh nghiệp, trong đó có doanh nghiệp vừa và nhỏ. Điều kiện thiết bị công nghệ sẽ tác động trực tiếp tới năng suất, chất lượng sản phẩm, giúp cho doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường. Khóa luận: Thực trạng DN vừa và nhỏ trong tiến trình hội nhập.

Do sức ép của thị trường và cơ chế quản lý kinh tế, các doanh nghiệp vừa và nhỏ đã có những đổi mới công nghệ nhất định. Đó là việc dùng điện vào sản xuất và gắn liền với nó là thực hiện nửa cơ khí, cơ khí hoá từng phần hoặc toàn bộ quá trình sản xuất. Nhưng nhìn chung thiết bị công nghệ của các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn lạc hậu, trình độ thấp, hiệu quả chưa cao, đang gặp khó khăn đối với việc nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm. Hơn nữa, điều kiện về vốn tài chính và các điều kiện khác không cho phép các doanh nghiệp vừa và nhỏ tài trợ để đổi mới công nghệ, áp dụng một cách mạnh mẽ các loại công nghệ tiên tiến, hiện đại.

Về đất đai, nhà xưởng và mặt bằng sản xuất cho doanh nghiệp vừa và nhỏ: so với trước đây, việc trợ giúp về mặt bằng sản xuất cho doanh nghiệp vừa và nhỏ có những cải thiện đáng kể. Việc thành lập các cụm công nghiệp, khu công nghiệp nhỏ và vừa là một trong những giải pháp về mặt bằng sản xuất cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Cho đến nay, tại 36 tỉnh, thành phố đã quy hoạch và xây dựng khoảng 200 cụm công nghiệp, khu công nghiệp nhỏ và vừa để giải quyết hỗ trợ mặt bằng sản xuất cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Tuy nhiên, ở một số tỉnh và thành phố có số lượng lớn các doanh nghiệp vừa và nhỏ, nhưng quỹ đất hạn chế nên hiện nay vẫn thiếu mặt bầng sản xuất do tình trạng quá tải của các khu, cụm công nghiệp nhỏ và vừa, đồng thời các doanh nghiệp này cũng không đủ khả năng để đầu tư vào các khu công nghiệp lớn.

Đất đai là vấn đề lớn và khó giải quyết đối với các cấp chính quyền, doanh nghiệp và toàn xã hội và là một trong những cản trở lớn nhất đối với đầu tư sản xuất – kinh doanh. Do không có khả năng tiếp cận đất đai với chi phí và thủ tục hợp lý, quyền sử dụng và chuyển giao quyền sử dụng đất không được đảm bảo, các doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ không thể tiếp cận nguồn tài chính cần thiết cho tăng trưởng và nâng cao tính cạnh tranh. Khóa luận: Thực trạng DN vừa và nhỏ trong tiến trình hội nhập.

Tuy Chính phủ có quy định về việc các địa phương phải lập và công khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, nhưng hiện nay các thông tin này không được phổ biến rộng rãi và một số đối tượng đã sử dụng các thông tin này cho mục đích đầu cơ đất, làm cho giá cả thị trường đất tăng cao, bên cạnh đó chi phí đền bù, giải phóng mặt bằng cao, càng làm cho các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ gặp khó khăn khi tìm kiếm mặt bằng cho sản xuất – kinh doanh.

Luật Đất đai 2023 và các Nghị định hướng dẫn của Chính phủ số 181/2024/NĐ-CP về thi hành Luật Đất đai, Nghị định số 187/2024/NĐ-CP về việc chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần, Nghị định 197/2024/NĐ-CP về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất…, trong đó quy định một số vấn đề cụ thể nhằm tạo điều kiện giải quyết mặt bằng sản xuất cho doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp vừa và nhỏ nói riêng đã có những đổi mới đáng kể, như quy định về việc lập và công khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, doanh nghiệp được tự thoả thuận với người có đất về đất để làm mặt bằng sản xuất, hình thành Tổ chức phát triển quỹ đất có trách nhiệm giải phóng mặt bằng ngay khi có quy hoạch được duyệt và công bố, giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong việc xin giao đất, thuê đất làm mặt bằng sản xuất.

Nghị định số 188/2024/NĐ-CP của Chính phủ ngày 16 tháng 11 năm 2024 về phương pháp xác định đất và khung giá các loại đất là căn cứ để các địa phương quy định giá đất trên địa bàn. Đến nay, nhiều địa phương đã ban hành mức giá đất trên địa bàn (Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, v.v…) làm cơ sở cho việc triển khai thực hiện các quy định của Luật Đất đai 2023, tạo điều kiện cho doanh nghiệp vừa và nhỏ trong việc sử dụng đất đai, mặt bằng sản xuất.

Về lao động và đào tạo lao động kỹ thuật: Qua 10 năm thực hiện Bộ Luật lao động và các văn bản hướng dẫn cho thấy những quy định về chế độ tuyển dụng, chấm dứt hợp đồng lao động hiện nay là tương đối phù hợp với thực tiễn. Việc quy định rõ ràng quyền và nghĩa vụ của người lao động và người sử dụng lao động với các tiêu chuẩn lao động, các nguyên tắc sử dụng và quản lý lao động phù hợp đã tạo động lực to lớn cho người lao động cũng như cho người sử dụng lao động, giúp nâng cao năng suất lao động, tạo hiệu quả cao và thúc đẩy mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh. Đặc biệt là đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ đã tạo ra cơ sở pháp lý về quyền và nghĩa vụ cho người lao động, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp hoạt động tốt, thúc đẩy sản xuất. Khóa luận: Thực trạng DN vừa và nhỏ trong tiến trình hội nhập.

Công tác giáo dục, đào tạo đã đạt được một số kết quả nhất định: Hệ thống các trường, cơ sở đào tạo đã được hình thành và phát triển không ngừng về số lượng và chất lượng. Tuy nhiên, chúng ta còn thiếu đội ngũ chuyên gia, giảng viên có kinh nghiệm về đào tạo doanh nghiệp; thiếu sự quản lý của nhà nước đối với hoạt động này. Sự liên kết giữa doanh nghiệp với cơ sở, trung tâm đào tạo nghề lỏng lẻo.

Ngoài ra, tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề còn quá thấp 13%; việc lựa chọn ngành nghề của học sinh – sinh viên chủ yếu chạy theo thị hiếu thị trường; chất lượng giáo dục bậc cao còn yếu và ngày càng tụt hậu so với thế giới; chương trình, phương pháp giảng dạy chậm được đổi mới, chủ yếu nặng về lý thuyết mà thiếu thực hành; số lượng và chất lượng của đội ngũ giáo viên, giảng viên còn hạn chế; số lượng các cơ sở đào tạo nghề, số lượng học sinh học nghề và chất lượng đào tạo nghề thấp dẫn, cơ sở vật chất và máy móc thiết bị của các trường đào tạo nghề chậm được đổi mới; thiếu đào tạo tại chỗ trong các doanh nghiệp và thiếu cơ chế để khuyến khích đào tạo tại chỗ trong doanh nghiệp (do qui định giới hạn chi phí hợp lý cho hoạt động đào tạo của doanh nghiệp).

Về kiến thức và năng lực quản lý kinh doanh của các chủ doanh nghiệp: Sự hoạt động sản xuất-kinh doanh trên thương trường với sức cạnh tranh khốc liệt đầy cam go, đòi hỏi các chủ doanh nghiệp phải có trình độ kiến thức cao, năng lực quản lý giỏi, mới có thể thành đạt trong quản lý kinh doanh, đưa doanh nghiệp của mình ngày càng phát triển. Mỗi chủ doanh nghiệp phải biết thu thập, tổng hợp, phân tích, đánh giá các loại thông tin kinh tế, kỹ thuật, biết đề ra những chiến lược đúng đắn và đưa ra những quyết định sáng suốt, kịp thời. Đồng thời, chủ doanh nghiệp phải biết quản lý, giám sát, điều hành công việc của những người lao động một cách hợp lý, có hiệu quả, biết đánh giá, động viên, khuyến khích, thưởng phạt và trả công chính xác, tương xứng với những đóng góp của họ vào kết quả chung của xí nghiệp. Nhưng ở nước ta có nhiều bất cập với trình độ văn hoá của chủ doanh nghiệp (45 – 50 ) có trình độ cấp II, một số không nhiều có trình đồ văn hoá phổ thông trung học, cao đẳng và đại học (30-40%). Chỉ có rất ít các chủ doanh nghiệp được đào tạo kiến thức quản lý chính quy, một số ít (20-30%) được tập trung đào tạo ngắn hạn (dưới 6 tháng), còn lại đại đa số chỉ quản lý doanh nghiệp mình bằng kinh nghiệm.

Về khả năng tiềp cận thông tin và hệ thống thông tin: Hệ thống thông tin và khả năng tiếp cận thông tin, nhất là những thông tin về thị trường, giá cả, công nghệ, sản phẩm là hết sức quan trọng đối với hoạt động sản xuất-kinh doanh của các doanh nghiệp. Hệ thống thông tin ở nước ta hiện nay mặc dù so với trước đã được phổ biến khá rộng rãi, các phương tiện thông tin tương đối phong phú và hiện đại, phương pháp thu thập và cung cấp thông tin có nhiều tiến bộ.v.v…, song nhìn chung, tính chất nhanh nhạy, kịp thời, chính xác và đầy đủ, hoàn thiên của hệ thống thông tin chưa đáp ứng được những yêu cầu của sản xuất-kinh doanh trong điều kiện thị trường và cuộc cách mạnh khoa hoc-công nghệ hiện đại.

Các doanh nghiệp vừa và nhỏ không có bộ phận chuyên trách về thu thập và xử lý thông tin. Nguồn vốn tài chính có hạn, chúng không đủ kinh phí để mua sắm các thiết bị phục vụ công tác thông tin nhanh chóng, kịp thời nói riêng và chi phí cho hoạt động tiếp cận, thu thập, xử lý thông tin nói chung. Trình độ tri thức và năng lực thu thập, xử lý thông tin của các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn rất hạn chế. Cho nên, khả năng tiếp cận thông tin của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước ta hiện rất hạn chế và gặp nhiều khó khăn, rất cần sự giúp đỡ để cải thiện tình hình. Khóa luận: Thực trạng DN vừa và nhỏ trong tiến trình hội nhập.

Khung pháp lý đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ: Nghị định 90/2021/NĐ-CP ngày 23/10/2021 của Chính phủ về trợ giúp phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ: Xuất phát từ vai trò quan trọng của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong phát triển kinh tế – xã hội, Chính phủ đã ban hành Nghị định 90/2021/NĐ-CP ngày 23/11/2021 về trợ giúp phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ. Đây được coi là khung pháp lý đầu tiên về chính sách trợ giúp phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, với một số nội dung về định nghĩa doanh nghiệp vừa và nhỏ, các chương trình trợ giúp phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, cơ quan trợ giúp phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ; thành lập Quỹ Bảo lãnh tín dụng doanh nghiệp vừa và nhỏ để bảo lãnh cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ khi không có đủ tài sản thế chấp, cầm cố, vay vốn; hướng dẫn các địa phương tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ có mặt bằng sản xuất phù hợp, khuyến khích phát triển các khu, cụm công nghiệp cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ có mặt bằng sản xuất; khuyến khích các hình thức phát triển thị trường và tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp vừa và nhỏ…

Nghị định này cũng xác định hệ thống cơ quan hỗ trợ doanh nghiệp từ trung ương đến địa phương như Hội đồng khuyến khích phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, Cục Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ (trực thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư), các Trung tâm Hỗ trợ kỹ thuật doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Hà Nội, Đà Nẵng và Tp Hồ Chí Minh, các UBND cấp tỉnh, các Hiệp hội doanh nghiệp, các tổ chức trợ giúp doanh nghiệp vừa và nhỏ thuộc các cơ quan, các tổ chức chính trị, xã hội, tổ chức nghề nghiệp…

Chế độ kế toán doanh nghiệp vừa và nhỏ: Nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý kinh tế và xuất phát từ đặc điểm, yêu cầu và năng lực quản lý của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, ngày 23/12/2016 Bộ trưởng Bộ Tài chính đã ký quyết định số 1177/TC/QĐ/CĐKT ban hành chế độ kế toán áp dụng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Do chế độ kế toán đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ đã không còn phù hợp, ngày 21/12/2021 Bộ Tài chính đã ban hành quyết định số 144/2021/QĐ-BTC bổ sung sửa đổi Chế độ kế toán doanh nghiệp vừa và nhỏ ban hành kèm theo Quyết định số 1177/TC/QĐ/CĐKT. Các Quyết định này áp dụng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ thuộc các loại hình doanh nghiệp gồm Công ty TNHH, công ty cổ phần, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân và HTX (trừ HTX nông nghiệp và HTX tín dụng nhân dân).

Quyết định 169/2020/QĐ-BTC: ngày 25/10/2020 và số 131/2022/QĐ-BTC của Bộ Tài chính ban hành chế độ kế toán áp dụng cho hộ kinh doanh cá thể.

Thông tư số 09/2020/TT-BYT hướng dẫn chăm sóc sức khoẻ cho người lao động trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Tổ chức tài chính qui mô nhỏ: Ngày 9/3/2025, Chính phủ đã ban hành Nghị định 28/2025/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của tổ chức tài chính quy mô nhỏ ở Việt Nam nhằm tạo điều kiện cho các hộ gia đình, cá nhân có thu nhập thấp, đặc biệt là các hộ gia đình nghèo và người nghèo có điều kiện được tiếp cập dễ dàng hơn tới một số dịch vụ tài chính, ngân hàng nhỏ.

2.2. Vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ đối với phát triển kinh tế và xã hội của Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế Khóa luận: Thực trạng DN vừa và nhỏ trong tiến trình hội nhập.

2.2.1. Là một động lực cho sự tăng trưởng nhanh và hiệu quả của nền kinh tế

Theo kết quả Tổng điều tra cơ sở kinh tế, hành chính, sự nghiệp của Tổng cục Thống kê, hiện có trên 2,7 triệu cơ sở sản xuất kinh doanh thu hút trên 8,3 triệu lao động. Vào thời điểm năm 2022, các doanh nghiệp vừa và nhỏ có ít hơn 300 lao động chiếm hơn 99% tổng số các cơ sở sản xuất kinh doanh và thu hút hơn 77% lực lượng lao động phi nông nghiệp. Các doanh nghiệp lớn có hơn 300 lao động chỉ chiếm 0,1% tổng số các cơ sở sản xuất kinh doanh và tạo công ăn việc làm cho 22,7% lực lượng lao động phi nông nghiệp.

Các doanh nghiệp vừa và nhỏ là động lực cho sự tăng trưởng ở chỗ, chúng chiếm đa số về mặt số lượng trong tổng số các cơ sở sản xuất kinh doanh và ngày càng gia tăng mạnh. Hơn thế nữa, doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt nam chiếm khoảng trên dưới 90 % tổng số các doanh nghiệp và tốc độ gia tăng các doanh nghiệp vừa và nhỏ nhanh hơn các doanh nghiệp lớn nên các doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ tạo động lực mạnh cho sự tăng trưởng nhanh của nền kinh tế

Bức tranh toàn cảnh doanh nghiệp của Việt Nam có một số nét tương đồng với thực tiễn quốc tế về quy mô trung bình của các doanh nghiệp nhỏ, trung bình và lớn. Trong khi mức trung bình của doanh nghiệp Việt Nam còn ở quy mô nhỏ với bình quân 3 lao động/cơ sở so với mức bình quân 9 lao động/cơ sở ở các nước EU, thì một “doanh nghiệp nhỏ” của Việt Nam cũng có mức bình quân lao động là 19 người tương đương mức bình quân 20 lao động của doanh nghiệp “nhỏ” của Châu Âu. “Doanh nghiệp vừa” của Việt Nam có 112 lao động còn ở Châu Âu là 95. Doanh nghiệp siêu nhỏ của Việt Nam thì có quy mô nhỏ hơn Châu Âu và có chưa đến 2 lao động tính theo bình quân một cơ sở. Sự khác biệt lớn nhất có thể thấy là trong trường hợp các doanh nghiệp quy mô lớn với mức bình quân 773 lao động/cơ sở tại Việt Nam và còn tại Châu Âu có mức bình quân cao hơn nhiều (1020 lao động)

2.2.2. Tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh Khóa luận: Thực trạng DN vừa và nhỏ trong tiến trình hội nhập.

Từ năm 2020 đến hết năm 2024, đã có gần 121 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, trong đó chủ yếu là doanh nghiệp vừa và nhỏ, đưa tổng số doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên cả nước đến nay lên khoảng 180.000 doanh nghiệp, cộng thêm khoảng 2,6 triệu hộ kinh doanh cá thể và khoảng 18 ngàn hợp tác xã.

Trong mấy năm gần đây, số lượng doanh nghiệp đăng ký theo Luật Doanh nghiệp tăng nhanh, với tốc độ ngày càng cao (năm 2022 có 21.535 doanh nghiệp, tăng 9% so với cùng kỳ năm trước; năm 2023 tăng 29%; năm 2024 tăng khoảng 40%); số doanh nghiệp đăng ký trung bình hàng năm tăng khoảng 4 lần so với trung bình của 9 năm trước năm 2020. Số doanh nghiệp mới đăng ký trong giai đoạn 2020-2024 cao gấp 3,5 lần so với 9 năm trước. Nếu năm 2021 trung bình cứ 964 người dân có một doanh nghiệp đăng ký kinh doanh thì năm 2025 ước tính có 1 doanh nghiệp đăng ký kinh doanh/ 500 người dân.

2.2.3. Đóng góp đáng kể vào tổng sản phẩm quốc dân và nguồn thu ngân sách nhà nước

Trong những năm qua, với sự phát triển nhanh chóng cả về số lượng và chất lượng, doanh nghiệp vừa và nhỏ đã đóng góp đáng kể vào sản lượng quốc gia cũng như nguồn thu ngân sách cả Trung ương và địa phương. Theo Kết quả Tổng điều tra cơ sở kinh tế, hành chính, sự nghiệp năm 2022, các doanh nghiệp thuộc quy mô “nhỏ” và “vừa” tạo ra được một lượng doanh thu đáng kể tính theo bình quân cơ sở và theo bình quân nhân công lao động. Kết quả Tổng điều tra cơ sở kinh tế, hành chính, sự nghiệp cũng cho thấy năng suất lao động bình quân nếu tính theo doanh thu bình quân đầu người của các doanh nghiệp nhỏ gấp 2 lần, của các doanh nghiệp vừa gấp 3 lần so với năng suất lao động của doanh nghiệp lớn

  • Bảng 2.1: Thuế và các khoản phí nộp Ngân sách Nhà nước của các doanh nghiệp vừa và nhỏ

Đóng góp vào nguồn thu ngân sách Nhà nước cũng đang có xu hướng tăng lên trong mấy năm gần đây, từ khoảng 6,4% năm 2021 lên hơn 7,4% năm 2022 (tỷ lệ tương ứng của doanh nghiệp FDI là từ 5,2% lên 21,6% và của DNNN từ 6% lên 23,4%). Thu từ thuế công thương nghiệp và dịch vụ ngoài quốc doanh năm 2022 đạt 103,6% kế hoạch và tăng 13% so với năm 2021. Năm 2023, số thu từ doanh nghiệp dân doanh chiếm khoảng 15% tổng số thu ngân sách, tăng 29,5% so với cùng kỳ các năm trước. Doanh thu từ khu vực kinh tế tư nhân năm 2024 khoảng 13.100 tỷ, chiếm khoảng 7,8% thu ngân sách.

Ngoài đóng góp trực tiếp vào ngân sách, doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp còn tích cực tham gia đóng góp xây dựng các công trình văn hoá, trường học, đường giao thông nông thôn, nhà tình nghĩa và những đóng góp phúc lợi xã hội khác ở các địa phương trong cả nước. Một số doanh nghiệp trực tiếp xây dựng nhà tình nghĩa tặng gia đình chính sách, gia đình hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, nhà văn hoá hay trường học; cung cấp học bổng cho sinh viên nghèo, v.v…

2.2.4 Tạo việc làm và thu nhập cho người lao động Khóa luận: Thực trạng DN vừa và nhỏ trong tiến trình hội nhập.

Nước ta hàng năm có thêm khoảng 1,4-1,5 triệu người đến tuổi tham gia thị trường lao động; ngoài ra, số lao động nông nghiệp có nhu cầu chuyển sang làm việc trong các ngành phi nông nghiệp cũng không nhỏ. Nhu cầu hàng năm phải tạo thêm được hàng triệu việc làm đang là một áp lực xã hội mạnh đối với Chính phủ và các cấp chính quyền địa phương. Việc tạo thêm nhiều công ăn việc làm mới không chỉ giải quyết vấn đề của xã hội, mà còn góp phần thúc đẩy sự phát triển cả về kinh tế và xã hội.

Theo ước tính, doanh nghiệp vừa và nhỏ tạo ra khoảng 49% việc làm phi nông nghiệp ở nông thôn, khoảng 25-26% lực lượng lao động cả nước. Theo Báo cáo của Tổng cục Thống kê riêng khu vực doanh nghiệp, không tính các hộ kinh doanh cá thể, mỗi năm thu hút trên dưới 45 vạn lao động với mức thu nhập bình quân gần 1,05 triệu đồng/tháng. Ngoài ra khu vực hộ kinh doanh cá thể mỗi năm tăng thêm từ 12-15 vạn cơ sở, thu hút thêm gần 40 vạn lao động với mức thu nhập bình quân từ 350.000-500.000 đồng/tháng, Tiềm năng to lớn này có ý nghĩa quan trọng trong vấn đề giải quyết việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp và ổn định xã hội hiện nay.

Vào thời điểm năm 2022, có khoảng hơn 2,66 triệu doanh nghiệp siêu nhỏ; đại đa số các doanh nghiệp siêu nhỏ này (trên 97%) đến thời điểm năm 2022 đăng ký các hoạt động kinh doanh là các hộ kinh doanh cá thể và hoạt động rộng khắp trên toàn quốc.

Nhóm doanh nghiệp có quy mô từ 1-5 người có hơn 97% là các hộ kinh doanh cá thể. Trong nhóm doanh nghiệp có quy mô từ 6-9 người, trên 37% đăng ký theo Luật Doanh nghiệp. Tổng điều tra năm 2022 cho thấy bình quân các doanh nghiệp có từ 6 -9 người tạo ra lượng doanh thu có giá trị gấp nhiều lần các doanh nghiệp có ít hơn 5 người. Các doanh nghiệp này cũng trả mức lương cao hơn nhiều so với nhóm doanh nghiệp quy mô nhỏ hơn, nguồn vốn hoạt động và mức đóng góp vào nguồn thu ngân sách nhà nước thông qua thuế và phí cũng cao hơn nhiều.

Các doanh nghiệp siêu nhỏ đăng ký theo Luật Doanh nghiệp tạo ra lượng doanh thu lớn hơn hẳn, đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhiều hơn và đóng góp lớn hơn nhiều cho ngân sách Nhà nước. Hơn nữa, các doanh nghiệp siêu nhỏ này có lực lượng lao động có kĩ năng hùng hậu hơn và sử dụng số lượng máy tính lớn hơn trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Trong các doanh nghiệp có quy mô nhỏ và siêu nhỏ, tỷ suất đầu tư trung bình cho 1 chỗ làm là 65 đến 170 triệu đồng; trong khi đó đối với DN lớn, thì số tương ứng là 285 triệu đồng. Khóa luận: Thực trạng DN vừa và nhỏ trong tiến trình hội nhập.

2.2.5 Tham gia tích cực vào khu vực sản xuất chế biến, bán lẻ và dịch vụ; góp phần cân bằng ngoại tệ thông qua xuất khẩu

Các doanh nghiệp vừa và nhỏ khá năng động và nhanh nhạy trong hầu hết các lĩnh vực sản xuất kinh doanh. Với ưu thế về vốn và sự năng động sẵn có, thương mại tư nhân (chủ yếu là doanh nghiệp vừa và nhỏ) chi phối hầu hết hoạt động bán lẻ trên thị trường, không chỉ ở khu vực thành thị mà còn ở thị trường nông thôn (tỷ trọng năm 2023 xấp xỉ 80%) cao hơn so với năm 2021 (78%). Tốc độ tăng về hàng hoá bán lẻ và doanh thu dịch vụ của thương mại tư nhân ở mức trung bình 18-20%/năm luôn cao hơn mức tăng trung bình của toàn xã hội (12%/năm) và luôn cao hơn so với các thành phần kinh tế khác. Phần lớn doanh nghiệp vừa và nhỏ có khả năng đáp ứng nhanh nhạy nhu cầu tiêu dùng đa dạng của các tầng lớp dân cư và của sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, làm cho thị trường ngày càng sôi động, tác động đáng kể đến quá trình sản xuất và nâng cao đời sống của nhân dân.

Trong lĩnh vực xuất nhập khẩu, với chính sách mở rộng và khuyến khích thương mại quốc tế, tạo điều kiện cho mọi thành phần kinh tế tham gia kinh doanh xuất nhập khẩu, doanh nghiệp vừa và nhỏ đã năng động đầu tư vào các ngành nghề có nhiều lợi thế, chủ động tìm kiếm và khai thác thị trường quốc tế qua đó góp phần tích cực tăng kim ngạch xuất khẩu, thu ngoại tệ cho đất nước, chủ yếu qua hình thức xuất khẩu gián tiếp, nhất là các doanh nghiệp kinh doanh mặt hàng thủ công mỹ nghệ, chế biến nông sản, thuỷ sản. Khóa luận: Thực trạng DN vừa và nhỏ trong tiến trình hội nhập.

Theo một điều tra gần đây về 1.400 doanh nghiệp vừa và nhỏ trong lĩnh vực sản xuất chế biến có số nhân công ít hơn 100 lao động, chỉ có khoảng 3% số doanh nghiệp tham gia xuất khẩu trực tiếp, dù thực tế là Việt Nam có mức tăng trưởng xuất khẩu cao nhất trên thế giới trong những năm cuối thập niên 90 và thậm chí còn vượt cả mức của Trung Quốc tại thời kỳ tăng trưởng xuất khẩu mạnh nhất vào cuối thập niên 80. Tỉ lệ các doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia trực tiếp hay gián tiếp vào các hoạt động xuất khẩu được đánh giá có thể đạt mức 17%. Kết quả thu nhận được cũng cho thấy các doanh nghiệp tại các trung tâm đô thị lớn (Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh) với lượng nhân công lớn hơn 300 lao động (theo tiêu chuẩn doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam) và được thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần thường có khả năng tham gia vào xuất khẩu nhiều hơn. Các doanh nghiệp tham gia xuất khẩu thường sản xuất thực phẩm chế biến, hàng hoá phi kim, hàng may mặc và các đồ thủ công mỹ nghệ.

Theo số liệu hết ngày 31/10/2024, số lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia kinh doanh xuất khẩu chiếm 80,6%, nhập khẩu chiếm 84,2% tổng số doanh nghiệp tham gia kinh doanh xuất nhập khẩu trên cả nước. Điều đáng ghi nhận ở đây là các doanh nghiệp vừa và nhỏ / khu vực tư nhân đã vươn lên dẫn đầu về xuất khẩu hải sản với 740 triệu đôla, chiếm 39% tổng kim ngạch mặt hàng này; hạt điều với 141 triệu đôla, chiếm 42% tổng kim ngạch mặt hàng này. Với xu thế phát triển như hiện nay, khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ là nguồn thu ngoại tệ tích cực cho đất nước trong tương lai.

2.2.6 Góp phần khôi phục, giữ gìn và phát triển các làng nghề thủ công truyền thống

Các làng nghề thủ công truyền thống tạo ra lượng sản phẩm hàng hoá đa dạng, phong phú về chủng loại với chất lượng, kỹ – mỹ thuật ngày càng cao, có khả năng cạnh tranh trên thị trường khu vực và thế giới, phát triển các sản phẩm hàng hoá, dịch vụ cho các thị trường có dung lượng nhỏ mà các doanh nghiệp lớn không quan tâm. Chính vì vậy các làng nghề này có tầm quan trọng trong việc tạo công ăn việc làm và xuất khẩu

2.2.7 Bước đầu tham gia vào quá trình hình thành mối liên kết doanh nghiệp vừa và nhỏ với các doanh nghiệp lớn

Mối liên kết giữa các doanh nghiệp vừa và nhỏ và các doanh nghiệp lớn, kể các các tập đoàn xuyên quốc gia đã bước đầu được hình thành và phát triển trong thời gian vừa qua. Trong thời gian qua, các doanh nghiệp vừa và nhỏ đã có quan hệ liên kết với các doanh nghiệp lớn trong việc cung ứng nguyên vật liệu, thực hiện thầu phụ, dần hình thành mạng lưới công nghiệp bổ trợ và đặc biệt là tạo ra mạng lưới vệ tinh phân phối sản phẩm. Có thể nói, đây là mối quan hệ hai chiều, ràng buộc lẫn nhau, các doanh nghiệp lớn bảo đảm vững chắc cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ về thị trường, tài chính, công nghệ, tiêu chuẩn kỹ thuật và kinh nghiệm quản lý. Ngược lại, các doanh nghiệp vừa và nhỏ đảm bảo cho các doanh nghiệp lớn về công nghiệp bổ trợ, mạng lưới tiêu thụ sản phẩm rộng khắp cả nước.

Như vậy, nhìn chung doanh nghiệp vừa và nhỏ năng động và thích ứng nhanh với những thay đổi của thị trường, góp phần gìn giữ và phát triển các ngành nghề truyền thống, tạo việc làm và thu nhập cho người lao động, góp phần xoá đói giảm nghèo và ổn định xã hội. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển đúng hướng và góp phần xây dựng một nền sản xuất lớn. Khuyến khích phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ là nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước.

2.2.8. Làm cho nền kinh tế năng đông, hiệu quả hơn Khóa luận: Thực trạng DN vừa và nhỏ trong tiến trình hội nhập.

Do có số lượng doanh nghiệp lớn và mức tăng nhanh, nên làm tăng tính cạnh tranh giảm bớt độ rủi ro trong nền kinh tế. Đồng thời làm tăng số lượng và chủng loại hàng hoá, dịch vụ trong nền kinh tế. Ngoài ra, các doanh nghiệp vừa và nhỏ có khả năng thay đổi mặt hàng, công nghệ và chuyển hướng kinh doanh nhanh làm cho nền kinh tế năng động hơn. Sự có mặt của các doanh nghiệp vừa và nhỏ có tác dụng hỗ trợ cho các doanh nghiệp lớn kinh doanh có hiệu quả hơn: làm đại lý, thầu phụ, vệ tinh cho các doanh nghiệp lớn. Ví dụ: Tại Thái Lan có 600 nhà chuyên sản xuất các chi tiết và cấu kiện khác tại Nhật Bản đã nâng số lượng nhà phát triển công nghiệp tham gia chế tạo linh kiện cho TOYOTA lên tới hàng nghìn, giúp các doanh nghiệp lớn tiêu thụ hàng hoá cung cấp các đầu vào như nhiên liệu, thâm nhập mọi ngõ ngách thị trường mà các doanh nghiệp lớn không với tới được.

Một điều quan trọng là vốn của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong đó phần lớn là khu vực tư nhân chủ yếu chỉ đầu tư vào các ngành ngề có hiệu quả cao hơn trong tương lai gần. Tuy nhiên cần lưu ý là, nếu doanh nghiệp có quy mô quá nhỏ thì hiệu quả kinh tế sẽ khó tăng lên được.

2.2.9. Khai thác tiềm năng rất phong phú trong dân

Hiện nay có nhiều tiềm năng trong dân chưa được khai thác: tiềm năng trí tuệ, tay nghề tinh xảo, lao động, vốn, điều kiện tự nhiên, bí quyết nghề nghiệp, quan hệ huyết thống. Việc phát triển các doanh nghiệp sản xuất các ngành nghề truyền thống ở nông thôn là một trong những hiệu quả quan trọng để sử dụng tay nghề tinh xảo của các nghệ nhân, mà hiện nay đang có xu hướng bị mai một dần, nhằm thu hút lao động nông thôn và phát huy lợi thế của từng vùng để phát triển kinh tế.

2.3. Thực trạng phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. Khóa luận: Thực trạng DN vừa và nhỏ trong tiến trình hội nhập.

2.3.1. Thực trạng về sản lượng

Theo đánh giá của các chuyên gia sản lượng của các doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm tỷ trọng khoảng 60 – 99% trong giá trị tổng sản lượng tuỳ thuộc lĩnh vực và thành phần kinh tế.

Sản lượng của cả nước năm 2025, các doanh nghiệp nhà nước đạt 416.863 nghìn tỷ đồng; trong đó, sản lượng của doanh nghiệp nhà nước đạt 143.071 chiếm gần 35% tổng sản lượng của toàn nền kinh tế, sản lượng của doanh nghiệp tư nhân (chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam) đạt 118.858 chiếm 28.5% tổng sản lượng toàn nền kinh tế.

  • Bảng 2.2: Giá trị giá trị tổng sản lượng theo hình thức doanh nghiệp

Ở nước ta hiện nay có hơn 120,000 doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm 96% tổng số doanh nghiệp. Nếu chỉ căn cứ vào tiêu chí vốn thì doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm 87,53% doanh nghiệp vừa và nhỏ, khoảng 95% tổng số doanh nghiệp ngoài quốc doanh (trong đó 99,19% doanh nghiệp tư nhân, 95,79% hợp tác xã, 89,93% công ty TNHH, 74,54% công ty cổ phần). Hàng năm, doanh nghiệp vừa và nhỏ tạo ra khoảng 25% GDP, thu hút 64,8% lực lượng lao động, bình quân mỗi năm giải quyết việc làm khoảng 700.000 lao động. Riêng năm 2023, doanh nghiệp vừa và nhỏ tạo ra được 1 triệu chỗ làm mới.

  • Bảng 2.3: Cơ cấu nội bộ nhóm doanh nghiệp siêu nhỏ chia theo quy mô

2.3.2. Thực trạng về tốc độ phát triển sản xuất Khóa luận: Thực trạng DN vừa và nhỏ trong tiến trình hội nhập.

Tốc độ phát triển sản xuất được thể hiện thông qua tốc tăng trưởng giá trị tổng sản lượng. Tuy số lượng các doanh nghiệp nhà nước giảm mạnh do chính sách cổ phần hoá và chuyển đổi hình thức sở hữu doanh nghiệp cũng như mô hình quản lý doanh nghiệp nhưng doanh thu của các doanh nghiệp này lại tăng 9,46%. Các doanh nghiệp nhà nước ở địa phương có mức tăng trưởng sản lượng năm 2025 giảm 0,74% so với năm 2024 khiến tốc độ tăng trưởng kinh tế của toàn bộ hệ thống doanh nghiệp nhà nước chỉ còn 9,46% giảm 3,44% so với năm 2024. Nhưng mức tăng trưởng của khu vực doanh nghiệp nhà nước không thấm vào đâu so với mức độ tăng trưởng 24% của khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh.

  • Bảng 2.4: Tốc độ phát triển tổng sản lượng theo hình thức doanh nghiệp

Tuy nhiên sự phát triển của các khu vực kinh tế vẫn chủ yếu theo chiều rộng (tăng giá trị sản lượng chủ yếu là do tăng số doanh nghiệp). Sự đầu tư phát triển theo chiều sâu còn hạn chế. Theo số liệu thống kê, mức độ phát triển của các doanh nghiệp trong nền kinh tế không cao: 59% số doanh nghiệp không tăng quy mô vốn sản xuất, chỉ có 6,2% số doanh nghiệp tăng quy mô vốn gấp đôi. Mức độ phát triển chiều sâu của khu vực ngoài quốc doanh (chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ) lại càng thấp hơn: gần 70% doanh nghiệp tư nhân và 61% số hợp tác xã không tăng quy mô vốn. Nhìn chung, xu thế phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong những năm qua thể hiện ở 3 xu hướng nổi bật như sau:

Số lượng doanh nghiệp ngoài quốc doanh mà phần lớn số đó là doanh nghiệp vừa và nhỏ tăng lên nhanh chóng trong khi khu vực kinh tế tập thể, doanh nghiệp nhà nước được sắp xếp theo xu hướng giảm về số lượng. Về cơ cấu theo loại hình doanh nghiệp thì doanh nghiệp tư nhân có tốc độ tăng nhanh nhất so với các loại hình doanh nghiệp khác, nếu không kể đến nhóm và hộ kinh doanh dưới vốn pháp định. Theo số liệu năm 2022 có đến 120.430 doanh nghiệp dân doanh trong tổng số 120.743 doanh nghiệp

Bộ phận chủ yếu của khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ là khu vực kinh tế ngoài quốc doanh. Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh trong những năm qua có tốc độ tăng trưởng GDP khoảng 6,5 – 7%/năm thấp hơn mức trung bình của cả nước. Điều đó phần nào phản ánh tình trạng chưa huy động tốt tiềm năng của khu vực ngoài quốc doanh, trong đó phần lớn là danh nghiệp và và nhỏ.

Quy mô vốn đăng ký của doanh nghiệp mới thành lập giảm đi, nhất là đối với hai loại hình: doanh nghiệp tư nhân và công ty TNHH. Điều này cho phép suy ra rằng càng ngày tỷ lệ doanh nghiệp vừa và nhỏ trong số doanh nghiệp ngoài quốc doanh mới thành lập càng lớn

  • Bảng 2.4: Số lượng đăng ký kinh doanh mới từ năm 2020

Quan điểm chung cho rằng trong những năm qua giới đầu tư nhất là các nhà đầu tư tư nhân chủ yếu tập trung vào các ngành cần ít vốn, thu hồi vốn nhanh như thương mại, du lịch, nhà hàng. Chỉ khoảng 30% vốn đầu tư ban đầu được dành cho các ngành công nghiệp, và cũng chỉ tập trung chủ yếu vào các nghành chế biến lương thực thực phẩm và sản xuất hàng tiêu dùng.

2.3.3. Về hoạt động sản xuất kinh doanh Khóa luận: Thực trạng DN vừa và nhỏ trong tiến trình hội nhập.

Về số vốn huy động: Số lượng vốn huy động được qua đăng ký thành lập mới và mở rộng quy mô kinh doanh cũng tăng mạnh mẽ và được phân bố rộng khắp trên toàn quốc.

Nếu như giai đoạn 2011-2019 tổng số vốn đăng ký chỉ là 25.742 nghìn tỷ đồng thì trong 4 năm 2020-2024 số vốn đăng ký lên đến 213.039 nghìn tỷ, đưa tổng số vốn đầu tư của doanh nghiệp khu vực ngoài quốc doanh lên 229.383.903 tỷ đồng, trong đó: năm 2022 là 38.530 nghìn tỷ đồng, tăng 50% so với cùng kỳ năm trước; năm 2023 là 58.199 nghìn tỷ đồng (tăng 49%); năm 2024 là 76.636 nghìn tỷ đồng (tăng 31%).

Tổng vốn đăng ký mới giai đoạn 2020-2024 cao hơn gấp 7,9 lần so với 9 năm trước đây (2011-2019). Tỷ trọng đầu tư của doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân (phần lớn là doanh nghiệp vừa và nhỏ) trong tổng đầu tư toàn xã hội đã tăng từ 20% năm 2020 lên 23% năm 2021, 25% năm 2022, trên 27% năm 2023. Vốn đầu tư thực hiện của doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân trong nước đã lớn hơn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Khác với đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vốn chỉ đầu tư vào các vị trí thuận lợi tập trung ở một số ít tỉnh, thành, thì đầu tư của các doanh nghiệp khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ được thực hiện ở tất cả các vùng, các tỉnh, thành phố với nhiều điều kiện khác nhau.

Mức vốn đăng ký đầu tư trung bình/doanh nghiệp cũng đang có xu hướng tăng lên. Thời kỳ 2011 – 2019 vốn đăng ký bình quân/doanh nghiệp là gần 0,57 tỷ đồng, năm 2020 là 0,96 tỷ đồng, năm 2021 là 1,3 tỷ đồng, năm 2022 là 1,8 tỷ đồng; trong 7 tháng đầu năm 2023 là 2,12 tỷ đồng. Doanh nghiệp đăng ký vốn thấp nhất là khoảng 5 triệu đồng và cao nhất là 200 tỷ đồng (hơn 13 triệu USD). Điều này thể hiện sự gia tăng không ngừng về quy mô doanh nghiệp.

Cho đến nay chưa có điều tra đầy đủ để so sánh số vốn đăng ký với số vốn thực tế đầu tư. Tuy nhiên, khảo sát thực tế ở một số khu, cụm công nghiệp cho thấy doanh nghiệp vừa và nhỏ đang là các nhà đầu tư chủ yếu. Chỉ riêng số vốn đầu tư thực tế của các doanh nghiệp vừa và nhỏ thực hiện tại các khu, cụm công nghiệp đó đã cao hơn số vốn đăng ký ở địa phương trong cùng thời kỳ. Kết quả Tổng điều tra cơ sở kinh tế, hành chính, sự nghiệp năm 2022 cũng cho thấy số vốn đầu tư bình quân đầu người của một doanh nghiệp nhỏ (có 10-49 người) vào khoảng 169 triệu đồng cao hơn vốn bình quân chung (149 triệu đồng). Bên cạnh đó, số vốn đầu tư bình quân đầu người của một doanh nghiệp vừa (có từ 50-299 người) là khoảng 424 triệu đồng, gấp rưỡi mức bình quân của doanh nghiệp quy mô lớn (285 triệu đồng). Khóa luận: Thực trạng DN vừa và nhỏ trong tiến trình hội nhập.

Về kết quả kinh doanh: Hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong những năm qua đã có nhiều bước tiến đáng kể. Doanh thu bình quân trên một lao động mỗi năm của các doanh nghiệp quy mô vừa (50 – 299 lao động) là 42,806 triệu đồng / năm, doanh nghiệp quy mô vừa trên một lao động là 382 triệu đồng / năm.

  • Bảng 2.5: Doanh thu của các doanh nghiệp vừa và nhỏ

Đặc trưng doanh nghiệp vừa và nhỏ: Điểm nổi bật nhất của hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt nam là sự khác biệt lớn giữa các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở thành thị và nông thôn. Thu nhập (hơn 1,8 lần), tài sản (hơn 2,7 lần) và quy mô trung bình đều lớn hơn rõ rệt ở các khu vực thành thị. Điều này một phần là do sự khác biệt trong sự phân phối các hình thức sở hữu giữa các tỉnh, thành trong cả nước.

  • Bảng 2.6: Đặc trưng của doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam

2.4. Đánh giá chung về thực trạng doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam

2.4.1. Những thành tựu đã đạt được của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế

Tuy quy mô nhỏ là chủ yếu nhưng với số lượng lớn, doanh nghiệp vừa và nhỏ đã tạo thành mạng lưới kinh doanh rộng khắp, kể cả địa bàn nông thôn, là lực lượng chủ yếu, có vai trò quan trọng trong việc mở đầu kênh tiêu thụ nông sản, kết thúc kênh phân phối vật tư và hàng công nghiệp tiêu dùng cho nông dân. Với ưu thế về vốn và sự năng động sẵn có, thương mại tư nhân (chủ yếu là doanh nghiệp vừa và nhỏ) chi phối hầu hết hoạt động bán lẻ trên thị trường, nhất là thị trường nông thôn (tỷ trọng năm 2023 xấp xỉ 80%) cao hơn so với năm 2021 (78%).

Tốc độ tăng về hàng hoá bán lẻ và doanh thu dịch vụ doanh nghiệp vừa và nhỏ ở mức 18-20%/năm luôn cao hơn mức tăng trung bình của toàn xã hội (12%/năm) và luôn cao hơn so với các thành phần kinh tế khác. Phần lớn doanh nghiệp vừa và nhỏ có khả năng đáp ứng nhanh nhạy nhu cầu tiêu dùng đa dạng của các tầng lớp dân cư và của sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, làm cho thị trường ngày càng sôi động, tác động đáng kể đến quá trình sản xuất và nâng cao đời sống nhân dân. Đối với hoạt động xuất nhập khẩu, doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia ngày càng nhiều (ước tính trong năm 2022, doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm 25% trong tổng kim ngạch xuất khẩu, 23% tổng kim ngạch nhập khẩu).

Hoạt động của các doanh nghiệp vừa và nhỏ đã góp phần tạo nên sự sôi động của thị trường. Thương mại tư nhân, thương mại tập thể (chủ yếu là doanh nghiệp vừa và nhỏ) chiếm gần 80% tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ xã hội, là lực lượng chủ yếu tiêu thụ nông sản cho nông dân. Tạo ra khá nhiều việc làm và thu nhập cho dân cư. Một đặc điểm cần lưu ý là hiệu quả tạo việc làm của khu vực này khá cao nhờ chi phí bằng vốn và giá trị tài sản còn thấp.

Doanh nghiệp vừa và nhỏ tạo ra thu nhập cao hơn nhiều so với lao động nông nghiệp, góp phần nâng cao đời sống, ổn định tình hình xã hội. Riêng khu vực doanh nghiệp do tăng thêm các doanh nghiệp vừa và nhỏ, mỗi năm thu hút trên dưới 45 vạn lao động với mức thu nhập bình quân gần 1,05 triệu đồng/tháng. Ngoài ra khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ mỗi năm tăng thêm từ 12-15 vạn cơ sở, thu hút thêm gần 40 vạn lao động với mức thu nhập bình quân từ 350.000-500.000 đồng/tháng, điều này có ý nghĩa rất lớn trong vấn đề giải quyết việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp và ổn định xã hội hiện nay.

Ngoài ý nghĩa về việc làm và xã hội, phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ thời gian qua đã góp phần vào tăng trưởng kinh tế chung của cả nước, khai thác tiềm năng tại chỗ, phục vụ nhu cầu tiêu dùng tại các địa phương, tham gia mở rộng mặt hàng và thị trường xuất khẩu nhất là các mặt hàng thủ công mỹ nghệ và chế biến nông sản, thuỷ sản như: gốm sứ, đồ gỗ, mây tre đan, may mặc, chế biến nông sản, chế biến thuỷ sản … Khóa luận: Thực trạng DN vừa và nhỏ trong tiến trình hội nhập.

Trong ngành xây dựng, các công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân thường có bộ máy quản lý gọn nhẹ, với bộ khung cơ bản là các sáng lập viên cùng các thành viên trong gia đình. Những đối tượng này thường có hợp đồng lâu dài, ổn định các chế độ, ngoài ra doanh nghiệp chủ yếu sử dụng lực lượng lao động khác theo dạng hợp đồng ngắn hạn hoặc thời vụ khi có công việc. Các hợp tác xã trung bình từ 15-20 xã viên. Các doanh nghiệp trung bình tử 20-30 công nhân, cá biệt có doanh nghiệp có hàng trăm công nhân (các công ty cổ phần và ở thành phố lớn).

2.4.2 Những vấn đề còn tồn tại của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế

Phần lớn các doanh nghiệp vừa và nhỏ không nhận thức được mức độ ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hoá, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực tới nền kinh tế trong nước, tới hoạt động sản xuất – kinh doanh của các doanh nghiệp, kể cả doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu lẫn doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng trong nước. Trên thực tế, quá trình hội nhập đòi hỏi các nền kinh tế nói chung và các doanh nghiệp nói riêng phải nhận thức sâu sắc mức độ ảnh hưởng của nó, không ngừng phấn đấu nâng cao năng lực cạnh tranh để tồn tại và phát triển.

Hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ có quy mô nhỏ, vốn thấp, số lượng lao động ít, hoạt động phân tán, rải rác khắp cả nước, không đủ kỹ năng để tham gia cạnh tranh hiệu quả trong các thị trường với mức tự do hoá ngày càng gia tăng.

Hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ thiếu thông tin về thị trường đầu vào như thị trường vốn, thị trường lao động, thị trường nguyên vật liệu, thị trường thiết bị công nghệ, thông tin về chế độ chính sách và quy định của Nhà nước dẫn tới việc các doanh nghiệp chưa thực sự nắm bắt được những cơ hội kinh doanh tốt, trình độ hiểu biết, ý thức tuân thủ pháp luật chưa cao. Đây là nguyên nhân hạn chế các doanh nghiệp vừa và nhỏ xây dựng được các dự án đầu tư hiệu quả.

Khả năng tiếp cận thị trường hạn chế, khối lượng sản phẩm do các doanh nghiệp vừa và nhỏ sản xuất ra còn manh mún, chủ yếu là phục vụ tiêu dùng trong nước, thậm chí trong một địa phương hẹp; thị trường xuất khẩu tuy đã được mở rộng nhưng còn nhiều hạn chế, đa số hợp đồng là ngắn hạn, theo thời vụ, thiếu ổn định.

Phần lớn các doanh nghiệp vừa và nhỏ có trình độ khoa học công nghệ, trang thiết bị kỹ thuật lạc hậu; suất tiêu hao nguyên liệu, nhiên liệu cao; tay nghề công nhân thấp, do vậy, chất lượng sản phẩm, hàng hoá dịch vụ không cao, khả năng cạnh tranh yếu, sản phẩm khó tiêu thụ trên thị trường trong nước và xuất khẩu đồng thời gây thiệt hai cho tài nguyên môi trường và hệ sinh thái do thường không chú trọng đến vấn đề môi trường, ý thức sản xuất kinh doanh gắn liền với bảo vệ môi trường chưa cao. Mức độ đầu tư đổi mới công nghệ của doanh nghiệp còn rất thấp so với yêu cầu phát triển. Dù chưa có minh chứng cụ thể nhưng dường như khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ hầu như chưa có các hoạt động nghiên cứu và triển khai nào. (R&D).

Chính sách bảo hộ còn bất hợp lý, môi trường kinh doanh chưa bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, cơ chế bao cấp, nhiều đặc quyền còn tồn tại đối với một bộ phận doanh nghiệp và sự bất ổn định trong cơ chế chính sách là những yếu tố làm cho các doanh nghiệp Việt Nam có xu hướng muốn tìm kiếm những đặc quyền từ chính sách để có được lợi ích ngắn hạn hơn là xây dựng chiến lược kinh doanh dài hạn Khóa luận: Thực trạng DN vừa và nhỏ trong tiến trình hội nhập.

Khả năng liên kết giữa các đơn vị sản xuất kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế theo ngành và khu vực còn nhiều hạn chế. Sự hợp tác giữa các doanh nghiệp lớn và các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn chưa chặt chẽ, dẫn đến sự hạn chế trong chất lượng, hiệu quả kinh doanh và sức cạnh tranh của cả doanh nghiệp vừa và nhỏ và doanh nghiệp lớn, chưa khai thác được lợi thế nhờ quy mô của hai khu vực này.

Quản lý nội bộ của các doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn còn yếu, kém phát triển, không chuyên nghiệp và chủ yếu dựa vào kinh nghiệm cá nhân của các chủ doanh nghiệp. Chưa có sự tách bạch rõ ràng giữa tài sản của doanh nghiệp và tài sản của chủ doanh nghiệp, người chủ doanh nghiệp đồng thời là người quản lý doanh nghiệp. Vì vậy, không có sự phân biệt rõ ràng về mặt pháp lý quyền và nghĩa vụ của người sử dụng lao động và người lao động. Phần lớn các doanh nghiệp thiếu chiến lược và kế hoạch kinh doanh dài hạn, và phải triển khai hoạt động với đội ngũ cán bộ nghiệp vụ phần lớn chưa được qua đào tạo.

Quản lý tài chính trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ thường còn thiếu minh bạch, số liệu báo cáo chưa phản ánh đúng thực trạng tài chính của doanh nghiệp, thiếu độ tin cậy. Việc đăng ký thuế, kê khai thuế, nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác ở một số doanh nghiệp còn lúng túng, chưa thực sự chủ động trong việc kê khai, thiếu trung thực, chưa đầy đủ và còn chậm chễ. Báo cáo không đầy đủ các kết quả tài chính và tình trạng thiếu minh bạch khiến doanh nghiệp vừa và nhỏ chưa tạo được niềm tin của ngân hàng khi xem xét cho vay, nhất là cho vay không có bảo đảm thông qua các công cụ cho vay chính sách. Khóa luận: Thực trạng DN vừa và nhỏ trong tiến trình hội nhập.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>> Khóa luận: Giải pháp DN vừa và nhỏ trong tiến trình hội nhập

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

1 Bình luận
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
trackback

[…] ===>> Khóa luận: Thực trạng DN vừa và nhỏ trong tiến trình hội nhập […]

Contact Me on Zalo
0877682993
1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x