Khóa luận: Quản lý hoạt động dịch vụ tại lễ hội Đền Hùng

Rate this post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Quản lý hoạt động dịch vụ tại lễ hội Đền Hùng hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Khóa luận: Quản lý hoạt động dịch vụ tại lễ hội Đền Hùng, tỉnh Phú Thọ dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

  • “Dù ai đi ngược về xuôi “
  • Nhớ ngày giỗ Tổ mồng mười tháng ba”

Thành thông lệ cứ đến ngày 10 tháng 3 âm lịch hàng năm, người dân bốn phương lại về trẩy hội Đền Hùng, cùng hướng về cội nguồn, hướng về Đền Hùng, dâng nén nhang thơm tưởng nhớ đến công ơn các Vua Hùng đã dựng nên nước Nam. Đền Hùng và lễ hội Hùng Vương đã trở thành biểu tượng, điểm hội tụ ý chí cộng đồng, thể hiện đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” vô cùng quý báu của dân tộc. Theo dòng lịch sử, từ thời Hùng Vương cho đến thời Bắc thuộc, Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê, Nguyễn… rồi trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, lễ hội Đền Hùng vẫn đi cùng nhân dân ta và trở thành lễ hội truyền thống. Giỗ Tổ Hùng Vương là dịp để mọi người Việt Nam đề cao niềm tự hào dân tộc, tự hào về nguồn gốc con rồng cháu tiên. Ngày giỗ Tổ cũng là dịp để cả gia đình quây quần bên nhau, thương yêu đùm bọc lẫn nhau, đồng thời tạo cơ hội giao lưu, tiếp xúc, trao đổi, sáng tạo và hưởng thụ văn hóa, làm gia tăng tính cố kết cộng đồng.

Có một thực tế rằng trên thế giới hiếm có một dân tộc có tín ngưỡng thờ chung một ông Tổ như nước Việt Nam. Đó là một nét văn hóa đặc sắc của dân tộc Việt Nam. Đền Hùng trở thành biểu tượng của tinh thần, nơi cội nguồn của dân tộc, bốn phương tụ hội, nơi con cháu thờ cúng tổ tiên. Chính bởi vậy, từ năm 2018, ngày giỗ Tổ Hùng Vương được công nhận là ngày Quốc giỗ của Việt Nam. Sau nhiều năm chuẩn bị, hoàn thành hồ sơ, ngày 06 tháng 12 năm 2023 tại kỳ họp lần thứ 7 của Uỷ ban liên Chính Phủ Công Uớc 2014 về bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể UNESCO đã chính thức công nhận hồ sơ “Tín ngưỡng thờ, cúng Hùng Vương ở Phú Thọ” là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Giỗ Tổ Hùng Vương là ngày lễ lớn trong năm, mỗi năm đón hàng triệu lượt khách, bởi vậy các hoạt động kinh tế-văn hóa diễn ra hết sức phong phú như: du lịch, dịch vụ ăn nghỉ, hoạt động vui chơi giải trí, các hoạt động liên quan đến lễ thức… Dịch vụ là hoạt động nằm trong chuỗi các hoạt động văn hóa diễn ra tại lễ hội cũng có điều kiện để phát triển. Xuất phát từ nhu cầu sinh hoạt thiết yếu như: ăn, ở, đi lại… đến hàng loạt các dịch vụ giải trí như: vui chơi, chụp ảnh… hoạt động dịch vụ ngày đa dạng, phong phú hơn. Quản lý các dịch vụ văn hóa tại Đền Hùng không chỉ đáp ứng nhu cầu của người dân trẩy hội, mà còn góp phần phát triển các hoạt động dịch vụ lành mạnh, trở thành nét văn hóa đặc sắc của lễ hội.

Tuy nhiên, với hiện tượng “bùng nổ” lễ hội như hiện nay thì công tác quản lý hoạt động dịch vụ tại Đền Hùng vẫn còn nhiều bất cập. Bên cạnh những mặt tích cực, còn kéo theo các mặt trái như: thương mại hóa lễ hội, kinh doanh buôn bán ngay tại trong đền, tệ nạn cờ bạc…. khiến “nhiều lễ hội mở rộng quy mô thái quá, bị biến thành phương tiện, cơ hội cho một số cá nhân hay tổ chức lợi dụng”. Chính bởi vậy, Ban quản lý di tích cần thắt chặt hơn nữa công tác quản lý các dịch vụ một cách khoa học, đưa các hoạt động dịch vụ phát triển theo khuôn khổ, định hướng chung, nhằm xây dựng nên một phần của lễ hội Đền Hùng mang nét riêng-nét văn hóa nơi lễ hội. Khóa luận: Quản lý hoạt động dịch vụ tại lễ hội Đền Hùng.

Nghiên cứu về Đền Hùng có các công trình nghiên cứu như: PGS.TS Văn Bằng, “Mấy nét sơ lược giới thiệu Đền Hùng” xuất bản năm 1957; PGS.TS Ngô Văn Phú “Hùng Vương và lễ hội Đền Hùng” xuất bản năm 2007, Lê Lựu “Đền Hùng–Nơi hội tụ văn hóa tâm linh” xuất bản năm 2016; T.S Nguyễn Thị Tuyết Hạnh “Đền Hùng và lễ hội Đền Hùng xưa” xuất bản năm 2019 và “Triết lý Đền Hùng và tín niệm về Quốc Tổ” xuất bản năm 2021; Nguyễn Hạnh “Khu di tích Đền Hùng” xuất bản năm 2017; PGS.TS Nguyễn Chí Bền “Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương” xuất bản năm 2023; GS. Trần Quốc Vượng “Hùng Vương và tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương, các công trình nghiên cứu” xuất bản năm 2023, ngoài ra có rất nhiều các bài đăng trên các tạp chí như: Trần Thị Tuyết Mai “Lễ hội Hùng Vương trong đời sống cộng đồng” (Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, số 5); Lê Hồng Phúc “Đền Hùng-điểm hội tụ văn hóa tâm linh của người Việt” (Tạp chí Toàn cảnh sự kiện, số 164)…

Công tác quản lý có các công trình nghiên cứu, luận văn Tiến sĩ, luận văn Thạc sĩ, khóa luận tốt nghiệp như: Nguyễn Thị Quỳnh Nga “Quản lý lễ hội truyền thống tại Phú Thọ” bảo vệ năm 2024; Bùi Tiến Thành “Quản lý lễ hội Đền Hùng tỉnh Phú Thọ” bảo vệ năm 2024. Bên cạnh đó, cũng có rất nhiều bài đăng trên các trang báo, tạp chí văn hóa khác. Các cơ quan quản lý Nhà nước cũng ban hành một số chỉ thị, quyết định như: Chỉ thị số 814/TTG của Thủ tướng Chính phủ về “Tăng cường hoạt động văn hóa và dịch vụ văn hóa, đẩy mạnh bài trừ một số tệ nạn xã hội nghiêm trọng; Nghị định số 31/2012/NĐ-CP về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa; Bộ Văn hóa-Thông tin với Thông tư số 35/2013/TT-BVHTT về “Hướng dẫn bổ sung một số quy định về hoạt động văn hóa và dịch vụ văn hóa tại nơi công cộng”. Tuy nhiên chưa có công trình nào đi sâu vào nghiên cứu công tác quản lý dịch vụ tại Đền Hùng. Chính bởi vậy tôi chọn đề tài “Quản lý hoạt động dịch vụ tại lễ hội Đền Hùng, tỉnh Phú Thọ” làm đề tài khóa luận để hoàn thành nhiệm vụ học tập của mình.

2. Mục tiêu đề tài

  • Làm sáng tỏ lý thuyết và thực tiễn về công tác quản lý dịch vụ tại lễ hội Đền Hùng tỉnh Phú Thọ.
  • Kiến nghị, đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác quản lý dịch vụ tại Đền Hùng tỉnh Phú Thọ.

3. Đối tượng và Phạm vi nghiên cứu Khóa luận: Quản lý hoạt động dịch vụ tại lễ hội Đền Hùng.

Quản lý hoạt động dịch vụ tại lễ hội Đền Hùng, tỉnh Phú Thọ. Quản lý Nhà nước là một hoạt động khá đa dạng, phức hợp gồm nhiều hoạt động như: công tác bảo vệ và tôn tạo di tích, các hoạt động nhằm bảo tồn và phát huy giá trị khu di tích, các hoạt động nhằm bảo tồn các nghệ thuật truyền thống liên quan đến di tích… Tuy nhiên, trong bài khóa luận này tôi xin chỉ tập trung nghiên cứu về thực trạng công tác quản lý dịch vụ tại Đền Hùng, từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp góp phần nâng cao chất lượng công tác quản lý hơn. Còn các khía cạnh, các vấn đề khác tôi xin không được đề cập đến trong bài khóa luận này.

4. Phương pháp nghiên cứu

Dựa trên quan điểm chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, đường lối quan điểm của Đảng, tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa làm phương pháp luận. Đồng thời kết hợp sử dụng các phương pháp nghiên cứu chính là: quan sát; điều tra xã hội học; nghiên cứu tài liệu, phân tích, tổng hợp; phương pháp điền dã (ghi âm, chụp ảnh…)

5. Đóng góp của đề tài

Tính khoa học của đề tài: Khóa luận bước đầu nghiên cứu về công tác quản lý dịch vụ tại khu di tích lịch sử Đền Hùng. Về mặt lý thuyết, khóa luận làm sáng tỏ cơ sở lý luận quản lý hoạt động dịch vụ tại lễ hội.

Tính thực tiễn của đề tài: Thông tin được những vấn đề thực tiễn sinh động đang diễn ra trong quang cảnh của khu di tích lịch sử Đền Hùng, đồng thời đưa ra những thông điệp vừa là sự hiệu chỉnh cần thiết và cấp thiết trong việc ứng xử có văn hóa tại khu di tích Đền Hùng. Từ đó đưa ra những chuẩn mực đúng đắn nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại đây, góp phần phát huy được giá trị của quần thể khu di tích.

6. Bố cục của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo khóa luận gồm có 3 chương:

  • Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác quản lý dịch vụ tại lễ hội Đền Hùng, tỉnh Phú Thọ
  • Chương 2: Thực tiễn công tác quản lý hoạt động dịch vụ tại lễ hội Đền Hùng, tỉnh Phú Thọ
  • Chương 3: Giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động dịch vụ tại lễ hội Đền Hùng, tỉnh Phú Thọ

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ DỊCH VỤ TẠI LỄ HỘI ĐỀN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ

1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ DỊCH VỤ LỄ HỘI

1.1.1 Khái niệm lễ hội Khóa luận: Quản lý hoạt động dịch vụ tại lễ hội Đền Hùng.

Trên thế giới mỗi quốc gia đều có loại hình thức sinh hoạt văn hóa riêng, mang đậm bản sắc văn hóa của quốc gia mình, trong đó “lễ hội” là loại hình tiêu biểu nhất. Đây là loại hình văn hóa phản ánh sinh hoạt, niềm tin của người dân, hay phục dựng lại những sự kiện lịch sử. Lễ hội giữ một vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần và đời sống xã hội, nó tái dựng và phản ánh nhiều mặt của đời sống như: kinh tế, tôn giáo, tín ngưỡng… Lễ hội ở nước nào cũng có hình thức nghi lễ, diễu hành, vui chơi, nhưng mỗi lễ hội đều có nét riêng.

Lễ hội là một từ ghép, xuất phát từ chính sự đa dạng của nó nên lễ hội có rất nhiều định nghĩa từ các phương diện, khía cạnh khác nhau, dưới đây tác giả xin trích dẫn khái niệm lễ hội từ các nghiên cứu khác nhau:

Ở Việt Nam, theo thư tịch cổ, lễ hội của người Việt xuất phát từ thời Lý (thế kỷ XI), tuy nhiên nhiều ý kiến cho rằng lễ hội ở Việt Nam được hình thành và phát triển cùng với chiều dài lịch sử dân tộc, biểu hiện qua những họa tiết trang trí trên mặt trống đồng Đông Sơn, hình khắc trong các hang động…

Xưa dân gian có từ “Đám” thường đi liền với một danh từ chỉ sự việc nào đó, sẽ chỉ ra việc mọi người tụ hội để làm gì như: đám cưới, đám ma… Khi tụ hội ở đình thì được gọi là “đám đình”. Cùng với cuộc cúng tế, “đám đình” diễn ra vui vẻ náo nhiệt thì gọi chung là “hội hè đình đám”. Cụm từ “lễ hội” ngày xưa sử dụng để diễn giải “hội hè đình đám”.

Sau này, xuất hiện khái niệm “lễ” và “hội”, gốc từ tiếng Hán như: lễ gia tiên, lễ Thành hoàng…; hội chọi trâu, hội Gióng… Về sau hai hình thức sinh hoạt văn hóa này được gắn liền với nhau bao gồm phần lễ thức và hội hè, vui chơi. Theo cuốn Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh thì “lễ” là “cách bày tỏ kính ý hoặc đồ vật để bày tỏ kính ý” [1, Tr. 12-13].

Theo từ điển Bách khoa Việt Nam (2016): “Lễ là hệ thống các hành vi, động tác nhằm biểu hiện lòng tôn kính của con người đối với thần linh, phản ánh những ước mơ chính đáng của con người trước cuộc sống mà bản thân họ chưa có khả năng thực hiện. Hội là sinh hoạt văn hóa, tôn giáo, nghệ thuật của cộng đồng, xuất phát từ nhu cầu của cuộc sống, từ sự tồn tại và phát triển của cộng đồng, sự bình yên cho từng cá nhân, hạnh phúc cho từng gia đình, sự vững mạnh cho từng dòng họ, sự sinh sôi nảy nở cho gia súc, sự bội thu của mùa màng mà từ bao đời nay quy tụ niềm mơ ước chung vào bốn chữ: “Nhân khang, vật thịnh”. Lễ hội là hoạt động của một tập thể người, liên quan đến tín ngưỡng và tôn giáo. Do nhận thức, người xưa rất tin vào trời đất, sông núi, vì thế ở các làng, xã thường có miếu thờ thiên thần, thổ thần, thủy thần, sơn thần, lễ hội cổ truyền đã phản ánh hiện tượng đó. Tôn giáo có ảnh hưởng đáng kể đối với lễ hội, tôn giáo thông qua lễ hội làm phương tiện phô trương thanh thế, ngược lại lễ hội thông qua tôn giáo để thần linh hóa những gì trần tục [13, Tr. 12]. Khóa luận: Quản lý hoạt động dịch vụ tại lễ hội Đền Hùng.

Một trong những giá trị của lễ hội chính là cộng cảm và cộng mệnh. Ngày lễ hội là thời gian cư dân tụ họp để tưởng nhớ vị thánh của làng. Vì thế, trong cuốn Trên đường tìm hiểu văn hóa dân gian, Đinh Gia Khánh có viết: “Lễ hội là một sinh hoạt tập thể long trọng, thường đem lại niềm phấn chấn cho tất cả mọi người, cho mỗi một con người. Những quy cách và nghi thức của lễ hội mà mọi người phải tuân theo, tạo nên niềm cộng cảm của toàn thể cộng đồng, làm cho mỗi người gắn bó chặt chẽ hơn với cộng đồng và do đó thấy mình vươn lên ở tầm vóc cao hơn, với một sức mạnh lớn hơn” [16, Tr. 180-181].

Trong cuốn Cơ sở văn hóa Việt Nam có viết: “Lễ hội còn là một bảo tàng văn hóa, một bảo tàng tâm thức lưu giữ các giá trị văn hóa, các sinh hoạt văn hóa. Đó có thể là các trò chơi, các tín ngưỡng, các hình thức diễn xướng dân gian…” [29, Tr. 99].

Trong cuốn Folkolore một số thuật ngữ đương đại đã đưa ra định nghĩa về lễ hội: “Lễ hội là một hoạt động kỷ niệm định kỳ biểu thị thế giới qua hành lễ, diễn xướng, nghi lễ và trò chơi truyền thống. Là một hoạt động hết sức phổ biến, lễ hội có thể là sự kiện có tính tượng trưng và tính xã hội phức tạp nhất, tồn tại lâu đời trong truyền thống” [13, Tr. 12].

  • Định nghĩa theo cách cụ thể, rõ ràng giữa “lễ” và “hội” Gs. Ngô Đức Thịnh đã chỉ ra:

Lễ hội là một hiện tượng tổng thể không phải một thực thể chia đôi (phần lễ và phần hội) một cách tách biệt như một số học giả đã quan niệm mà nó được hình thành trên một cơ sở cốt lõi nghi lễ tín ngưỡng nào đó (thường là tôn thờ một vị thần linh lịch sử hay một vị thần linh nghề nghiệp nào đó) rồi từ đó nảy sinh và tích hợp các hiện tượng sinh hoạt văn hóa, phái sinh để tạo nên một tổng thể lễ hội. Cho nên trong lễ hội, phần lễ là phần gốc rễ, chủ đạo, phần hội là phần phát sinh tích hợp” [25, Tr. 37].

Tuy có nhiều các phát biểu khác nhau, tùy thuộc phương diện tiếp cận, nhưng nhìn chung các nhà nghiên cứu văn hóa đều đề cập đến hai thành tố là lễ và hội là một chỉnh thể thống nhất, khổng thể tách rời. Lễ là phần đạo đức tín ngưỡng, phần tâm linh sâu xa trong mỗi con người. Hội là các trò diễn mang tính nghi thức, gồm các trò chơi dân gian phản ánh cuộc sống thường nhật của người dân và một phần đời sống cá nhân nhằm kỷ niệm một sự kiện quan trọng với cộng đồng. Dưới góc độ quản lý và giới hạn của bài, tác giả lựa chọn định nghĩa lễ hội là tổ hợp các yếu tố và hoạt động văn hóa đặc trưng của cộng đồng, xoay xung quanh một trục ý nghĩa nào đó, nhằm tôn vinh và quảng bá cho những giá trị nhất định.

1.1.2 Khái niệm dịch vụ và chức năng của dịch vụ trong đời sống Khóa luận: Quản lý hoạt động dịch vụ tại lễ hội Đền Hùng.

  • a) Khái niệm dịch vụ

Trong nền kinh tế sản xuất hàng hóa, các sản phẩm ngày càng được sản xuất ra nhiều đòi hỏi sự ra đời, hỗ trợ của các dịch vụ nhằm thúc đẩy hoạt động mua bán, tiêu thụ sản phẩm. Bởi vậy “dịch vụ” cùng với “công nghiệp” và “nông nghiệp” đóng vai trò quan trọng cấu thành nên ba thành phần kinh tế. Với xu thế mở cửa hội nhập, tự do trao đổi buôn bán thì tỷ trọng khu vực dịch vụ ngày càng tăng. Theo đà phát triển của lực lượng sản xuất xã hội và sự tiến bộ văn minh nhân loại, lĩnh vực dịch vụ phát triển hết sức phong phú, vì vậy có rất nhiều các công trình nghiên cứu khác nhau nghiên cứu về các khía cạnh của dịch vụ. Do tính đa nghĩa, cũng như sự phong phú đa dạng của các loại hình dịch vụ nên đến nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về dịch vụ. Bản thân mỗi quốc gia, cũng có những định nghĩa về dịch vụ riêng dựa trên các loại hình dịch vụ, phương thức kinh doanh của mình.

Vào cuối thế kỷ XX dịch vụ trở thành ngành kinh tế quan trọng của các quốc gia và trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà khoa học:

Dưới góc độ kinh tế học, dịch vụ được hiểu là: “Những thứ tương tự như hàng hóa nhưng là phi vật chất”.

  1. Mác cho rằng : “Dịch vụ là con đẻ của nền kinh tế sản xuất hàng hóa, khi mà kinh tế hàng hóa phát triển mạnh, đòi hỏi một sự lưu thông thông suốt, trôi chảy, liên tục để thoả mãn nhu cần ngày càng cao đó của con người thì dịch vụ ngày càng phát triển” [20, Tr.1].
  2. Mác đã chỉ ra nguồn gốc ra đời và sự phát triển của dịch vụ, kinh tế hàng hóa càng phát triển thì dịch vụ càng phát triển mạnh. Khóa luận: Quản lý hoạt động dịch vụ tại lễ hội Đền Hùng.

Philip Kotler cho rằng: “Dịch vụ là mọi hành động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia, chủ yếu là vô hình không dẫn đến quyền sở hữu một cái gì đó. Sản phẩm của nó có thể có hay không gắn liền với một sản phẩm vật chất” [17, Tr. 522].

Tại Việt Nam cũng có rất nhiều quan niệm về dịch vụ được đưa ra, được xem xét từ nhiều góc độ khác nhau tiêu biểu như:

Nguyễn Thị Mơ trong cuốn Lựa chọn bước đi và giải pháp để Việt Nam mở cửa về dịch vụ Thương mại (2016) đã đưa ra ý kiến: “Dịch vụ là các hoạt động của con người được kết tinh thành các sản phẩm vô hình và không thể cầm nắm được” [18, Tr.11].

PGS.TS Nguyễn Văn Thanh cho rằng: “Dịch vụ là một hoạt động lao động sáng tạo nhằm bổ sung giá trị cho phần vật chất và làm đa dạng hoá, phong phú hoá, khác biệt hoá, nổi trội hoá… mà cao nhất trở thành những thương hiệu, những nét văn hoá kinh doanh làm hài lòng cho người tiêu dùng để họ sẵn sàng trả tiền cao, nhờ đó kinh doanh có hiệu quả hơn” [23, Tr. 1].

Như vậy có thể định nghĩa một cách chung nhất: Dịch vụ là những hoạt động lao động mang tính xã hội, tạo ra các sản phẩm hàng hóa không tồn tại dưới hình thái vật thể, không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu nhằm thoả mãn kịp thời các nhu cầu sản xuất và đời sống sinh hoạt của con người.

  • b) Chức năng của dịch vụ trong đời sống

Dịch vụ cùng công nghiệp và nông nghiệp tạo nên nền cơ cấu kinh tế của quốc gia. Trong xã hội hiện nay thì dịch vụ chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong cơ cấu nền kinh tế. Dịch vụ là một phần của nền kinh tế, tạo điều kiện thúc đẩy kinh tế phát triển, bởi vậy góp phần phát triển xã hội. Vai trò của dịch vụ đối với nền kinh tế phụ thuộc vào tỷ trọng của nó trong tương quan cơ cấu nền kinh tế lớn hay nhỏ. Thông thường, ở các nước phát triển, dịch vụ chiếm ưu thế vượt trội do nó chiếm tỷ trọng cao hơn nông nghiệp và công nghiệp trong GDP quốc gia. Còn ở những nước đang phát triển, tỷ trọng của dịch vụ thường ngang với lĩnh vực công nghiệp và hơn hẳn lĩnh vực nông nghiệp. Ngày nay, dịch vụ đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế vì vậy nó cũng đóng vai trò quan trọng trong phát triển xã hội.

Dịch vụ là lĩnh vực bao gồm rất nhiều các ngành nghề như: dịch vụ văn hóa, dịch vụ giải trí, dịch vụ giáo dục, dịch vụ y tế… Các dịch vụ phát triển tạo điều kiện cho xã hội phát triển, đáp ứng nhu cầu dịch vụ của con người.

Dịch vụ văn hóa đáp ứng những nhu cầu về đời sống tinh thần của con người như nhu cầu về cái đẹp, nhu cầu vui chơi giải trí… góp phần nuôi dưỡng và hoàn thiện đời sống tâm hồn mỗi con người. Bên cạnh đó dịch vụ tạo điều kiện giải quyết các vấn đề xã hội như xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm và công bằng xã hội. Do tỷ trọng khu vực dịch vụ ngày càng tăng, đã góp phần tạo việc làm cho nhiều lao động, giảm thiếu tình trạng dư thừa lao động ở các khu vực khác và giải quyết việc làm, tạo thu nhập ổn định. Cũng do đó sẽ giảm thiểu sự chênh lệch giàu nghèo trong xã hội, góp phần đảm bảo công bằng xã hội.

Thông qua dịch vụ phân phối làm mức tiêu thụ, hưởng thụ của cá nhân và doanh nghiệp cũng tăng lên góp phần thúc đẩy sản xuất, mở rộng thị trường lao động và phân công lao động trong xã hội. Khóa luận: Quản lý hoạt động dịch vụ tại lễ hội Đền Hùng.

Trong xu thế hội nhập quốc tế, thị trường trong nước sẽ liên hệ chặt chẽ với thị trường nước ngoài thông qua hoạt động ngoại thương, điều này chỉ ra nếu dịch vụ phát triển mạnh mẽ, phong phú, đa dạng chắc chắn sẽ mở rộng được thị trường, thu hút các yếu tố đầu vào, đầu ra của thị trường. Chính vì điều này, dịch vụ thực sự là cầu nối gắn kết giữa thị trường trong nước với thị trường ngoài nước, phù hợp với xu thế hội nhập và mở cửa ở nước ta hiện nay.

Dịch vụ luôn thể hiện sự cạnh tranh giữa các chủ thể kinh doanh trên thị trường mua bán hàng hóa dịch vụ. Quan hệ giữa các chủ thể kinh doanh là quan hệ bình đẳng về mặt lý thuyết, đó là thuận mua vừa bán. Cho nên đòi hỏi các chủ thể kinh doanh luôn phải năng động, sáng tạo để không ngừng nâng cao khả năng cạnh tranh hàng hóa dịch vụ trên thị trường, góp phần thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển nhanh chóng. Điều này sẽ làm nền tảng vững chắc giúp các doanh nghiệp tồn tại và phát triển trong sự cạnh tranh khốc liệt như hiện nay.

1.1.3 Khái niệm quản lý và vai trò của quản lý trong sự phát triển

  • a) Khái niệm quản lý

Khái niệm quản lý theo nghĩa rộng bao gồm nhiều lĩnh vực: quản lý xí nghiệp, trường học, đoàn thể…; quản lý giới vô sinh, quản lý giới sinh vật, và quản lý vật nuôi cây trồng.

Theo quan điểm của điều khiển học “quản lý” là sự tác động có mục đích đến một hệ thống nào đó nhằm biến đổi nó từ trạng thái này sang một trạng thái khác.

Theo quan điểm tiếp cận hệ thống thì ở đâu có con người tham dự thì bất kỳ một tổ chức dù lớn, nhỏ đều quy về một thể thống nhất bao gồm các yếu tố bên trong và ngoài của tác động.

Mặt tâm lý học xã hội cho rằng “quản lý” là điều chỉnh toàn bộ hành vi của con người.

Hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý. Khái niệm quản lý theo nghĩa hẹp là những hoạt động có định hướng, có kế hoạch của chỉnh thể quản lý đến đối tượng quản lý trong tổ chức để vận hành tổ chức nhằm đạt mục đích nhất định.

Theo T.S. Nguyễn Bá Sơn: “Quản lý là tác động có mục đích đến tập thể những con người có tổ chức, và phối hợp hoạt động của họ trong quá trình lao động” [22, Tr.3].

Do ý nghĩa và tầm quan trọng của quản lý cho nên từ thời cổ đại đến hiện đại nhiều bậc trí giả đã đưa ra những học thuyết về quản lý. Thời Xuân Thu: Khổng Tử (551-479 TCN) đưa ra tư tưởng “đức trị”; Hàn Phi Tử (280–233 TCN) sống trong thời Chiến quốc đưa ra tư tưởng “pháp trị” [14 , Nguyễn Thị Doan, Đỗ Minh Cương, Phương Kỳ Sơn (2007), Các học thuyết quản lý, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội].

Học thuyết “quản lý” chỉ có thể phát triển mạnh mẽ từ giữa thế kỷ XVIII đến nay. Nó gắn liền với sự phát triển của công nghiệp (Jame Watt–phát minh ra động cơ hơi nước). Có thể nêu ra: Khóa luận: Quản lý hoạt động dịch vụ tại lễ hội Đền Hùng.

Thuyết quản lý khoa học đại diện là Frederids Wimslau Taylor (1856-1915); thuyết quản lý hành chính do Henry Fayol (1841-1925; thuyết quản lý quan hệ con người của Marry Foller (1886-2004); thuyết quản lý theo hành vi của GB.Watson (1878-1958); học thuyết X của Douglas MC.Gregor; thuyết quản lý tổ chức với đại diện là Chestn Irwing Barward (1886-1962); thuyết văn hóa quản lý với thuyết Z của William Ouchi, vị giáo sư Đại học California [14].

Tuy những khái niệm của các tác giả đưa ra có khác nhau, xong chúng có một số dấu hiệu chung:

  • Hoạt động quản lý được tiến hành trong một tổ chức hoặc một nhóm xã hội.
  • Hoạt động quản lý là những tác động có tính hướng đích.
  • Hoạt động quản lý là những tác động phối hợp nỗ lực của các cá nhân nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức.
  • Hoạt động quản lý là hoạt động có tính tự giác của các chủ thể và đối tượng quản lý.

b) Vai trò của quản lý trong sự phát triển

Khi xã hội loài người xuất hiện, một loạt các quan hệ như: Quan hệ giữa con người với con người, con người với tự nhiên–xã hội và chính bản thân mình, điều này làm nảy sinh quan hệ quản lý.

Ngày nay, hầu như mọi nhà nghiên cứu đều thừa nhận “quản lý” trở thành một nhân tố của sự phát triển xã hội, diễn ra ở mọi cấp độ từ vi mô đến vĩ mô, liên quan đến mọi người. Các-Mác coi quản lý là một điểm vốn có, bất biến về mặt lịch sử, đời sống xã hội. Ông chỉ rõ “Mọi lao động xã hội trực tiếp hoặc lao động chung thực hiện trên quy mô tương đối lớn, ở mức độ nhiều hay ít đều cần đến quản lý” [10, Tr.23]; “Trong những công việc mà nhiều người hợp tác với nhau thì mối liên hệ chung và sự thống nhất của quá trình tất phải thể hiện ra trong ý chí điều khiển… Cũng giống như trường hợp nhạc trưởng của một dàn nhạc vậy”[10, Tr.80].

Adam Smith, nhà kinh tế lỗi lạc cũng đã nhận xét: “Hiệu quả hoạt động chung của một nhóm người được tổ chức thành một tập thể sẽ lớn hơn hiệu quả của hoạt động riêng lẻ” [14].

Trong những năm sau chiến tranh thế giới thứ II, nhiều đoàn chuyên gia Anh sang nghiên cứu ở Mỹ trong lĩnh vực công nghiệp, họ hiểu ra rằng: “Kinh tế của Anh không lạc hậu so với Mỹ, nhưng năng suất lại rất kém so với Mỹ. Nguyên nhân chính là do trình độ tổ chức quản lý lạc hậu” [14].

Quản lý xã hội là một lĩnh vực rất phức tạp, bao gồm cả quan hệ chính thức và không chính thức (đạo đức, cá nhân, quan hệ xã hội nằm ngoài sự điều chỉnh của pháp luật).

Quản lý không chỉ diễn ra ở từng đơn vị cơ sở, quốc gia mà còn ở phạm vi toàn cầu nhằm giải quyết các vấn đề như y tế, môi trường, chiến tranh, hòa bình.

Từ thực tế lịch sử, kinh tế, xã hội của từng quốc gia và thế giới có thể rút ra luận đề: ngày nay ổn định, phát triển, rối loạn, tăng trưởng, suy giảm… đều tìm thấy nguyên nhân là “quản lý”. Nhiều quốc gia coi: quản lý và khoa học-công nghệ là trụ cột của nền sản xuất hiện đại. Quản lý thuộc phạm trù quan hệ xã hội, trong mối quan hệ sở hữu, quản lý, phân phối thì quản lý giữ vai trò trung tâm.

1.1.4 Khái niệm quản lý văn hóa Khóa luận: Quản lý hoạt động dịch vụ tại lễ hội Đền Hùng.

Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa, mỗi định nghĩa phản ánh một cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau. Từ sự đa diện và đa dạng của khái niệm văn hóa là nguyên nhân dẫn tới sự đa nghĩa về văn hóa. Chính từ sự đa dạng đó của văn hóa cho nên khái niệm quản lý văn hóa cũng mang tính tương tự.

Hoạt động văn hóa là quá trình thực hành của cá nhân và các thiết chế xã hội trong việc sản xuất, bảo quản, phân phối giao lưu và tiêu dùng những giá trị văn hóa tinh thần, nhằm trao đổi những tư tưởng ý nghĩa, những tác phẩm văn hóa của con người sáng tạo ra và cũng chính là để hoàn thiện chất lượng sống của con người trong xã hội.

Muốn văn hóa phát triển đúng định hướng đòi hỏi phải có một chính sách quản lý, quy trình thực hiện thao tác quản lý cụ thể, bởi vậy khái niệm “quản lý hoạt động văn hóa” trở nên cần thiết.

Như vậy, khái niệm quản lý văn hóa có thể hiểu văn hóa và quản lý văn hóa là những hiện tượng song hành. Nếu văn hóa theo quan niệm ở trên là sự sáng tạo của con người trong tiến trình lịch sử, thì quản lý văn hóa là hoạt động có ý thức nhằm tổ chức bảo tổn, phát huy và sáng tạo ra các giá trị văn hóa trong đời sống để thỏa mãn nhu cầu văn hóa của con người. Do vậy, có thể định nghĩa quản lý văn hóa: là hoạt động tự giác của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý, nhằm huy động, tổ chức, điều phối, điều chỉnh, giám sát, kiểm tra, đánh giá một cách có hiệu quả các nguồn lực văn hóa (nhân lực, tài lực, vật lực… ) phục vụ cho mục tiêu văn hóa.

1.1.5 Khái niệm quản lý dịch vụ lễ hội

Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người từ thời mông muội cho đến nền văn minh hiện đại thì tri thức, sức lao động và quản lý là những yếu tố rõ nét nhất. Trong đó, quản lý được xem là sự kết hợp giữa tri thức và sức lao động. Nếu kết hợp tốt hai yếu tố này thì xã hội sẽ phát triển và tiến bộ, còn ngược lại xã hội sẽ trở nên rối ren và chậm phát triển.

Ngay từ khi Nhà nước ra đời, văn hóa đã được các thể chế chính trị quản lý bằng nhiều phương pháp khác nhau. Xuất phát từ vai trò của văn hóa đối với sự phát triển của xã hội, nhất là trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay đặt ra vấn đề cần quản lý sự phát triển của văn hóa theo định hướng của Đảng và Nhà nước đã đề ra.

Quản lý văn hóa là một công việc khó khăn, phức tạp và vô cùng nhạy cảm, sự vận động của quản lý biến đổi cùng sự phát triển của văn hóa. Quản lý văn hóa được hiểu là hoạt động quản lý của các cơ quan hành chính Nhà nước từ Trung ương đến địa phương đối với lĩnh vực văn hóa, là hoạt động thực thi các quan điểm đường lối của Đảng, Nhà nước, các văn bản về lĩnh vực này do cơ quan lập pháp ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực văn hóa. Đồng thời, bằng việc xây dựng và ban hành các văn bản pháp quy, cơ quan hành chính Nhà nước từ Trung ương đến địa phương tác động có tổ chức và điều chỉnh trên cơ sở quyền lực của Nhà nước đối với các quá trình xã hội, hành vi hoạt động của con người, nhằm thực hiện chức năng và nhiệm vụ quản lý văn hóa của Nhà nước trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Khóa luận: Quản lý hoạt động dịch vụ tại lễ hội Đền Hùng.

Lễ hội là một mảng của đời sống văn hóa, nó góp phần chăm lo, nuôi dưỡng đời sống tinh thần của nhân dân. Lễ hội lành mạnh thì tinh thần người dân sáng, lễ hội với hủ tục, tệ nạn khiến tâm thức của người dân cũng bị ảnh hưởng. Lễ hội có nhiều loại hình thực hiện như: lễ hội truyền thống, lễ hội lịch sử cách mạng, lễ hội tôn giáo, lễ hội văn nghệ… Bên cạnh những hoạt động nghi lễ chính thức, còn những hoạt động hưởng ứng không trực tiếp phản ánh ý nghĩa và mục tiêu của lễ hội, nhưng nó lại mang tính thiết yếu, điều kiện cho một lễ hội cũng như thỏa mãn nhu cầu tinh thần, vật chất, giải trí thuần túy và các thiết yếu sinh lý khác cho người tham gia lễ hội. Tổng thể các hoạt động đó được gọi chung là các dịch vụ lễ hội.

Dịch vụ lễ hội có thể hiểu là các hoạt động đáp ứng những điều kiện của cả chủ thể (người tổ chức) và khách thể (người tham dự) liên quan tới hoạt động kinh tế của lễ hội. Trước đây, lễ hội thường ở quy mô nhỏ, giới hạn trong lũy tre làng thì những hoạt động này không có giá trị kinh tế đáng kể, đơn thuần chỉ là phục vụ nhu cầu cho người dân tham gia lễ hội. Sản phẩm dịch vụ ban đầu cũng đơn giản, chỉ là sản vật đồng quê, trò chơi dân gian. Ngày nay, ở nhiều lễ hội, nhất là các lễ hội tầm quốc gia và khu vực, hoạt động dịch vụ được coi là mục quan trọng khi tổ chức lễ hội. Quy mô mở rộng, hệ thống dịch vụ cũng đa dạng hơn đáp ứng đầy đủ nhu cầu của du khách, thậm chí nó còn tạo nên màu sắc, không khí cho lễ hội. Bước sang những năm 80 của thế kỷ XX, năm của những lễ hội, kéo theo sự phát triển mạnh mẽ của các dịch vụ tại đây. Hoạt động dịch vụ chiếm vai trò ngày càng lớn, mang lại nhiều lợi ích kinh tế. Tuy nhiên, lợi nhuận nhiều, đồng nghĩa xuất hiện mặt trái với nhiều hệ quả không lường như: thương mại hóa lễ hội, tệ nạn cờ bạc… Đứng trước thực trạng trên, đòi hỏi cần có những định hướng, quy định, quy chế và những giải pháp quản lý, tiến hành thực hiện và kiểm tra các hoạt động dịch vụ tại lễ hội.

Từ các khái niệm về Lễ hội, Quản lý, Dịch vụ được tìm hiểu ở trên, có thể khái quát lại quản lý hoạt động dịch vụ lễ hội là hoạch định, tổ chức, điều khiển, kiểm tra các nguồn lực và hoạt động mang tính xã hội trong lễ hội. Những hoạt động lao động này tạo ra các sản phẩm hàng hóa không tồn tại dưới hình thái vật thể, không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu mà chỉ nhằm thoả mãn kịp thời các nhu cầu của con người tại lễ hội.

1.2 QUAN ĐIỂM, CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VỀ QUẢN LÝ DỊCH VỤ LỄ HỘI Khóa luận: Quản lý hoạt động dịch vụ tại lễ hội Đền Hùng.

Lễ hội là loại hình sinh hoạt văn hóa cộng đồng quan trọng trong đời sống, được Đảng, Nhà nước chú trọng và quan tâm. Diễn trình lễ hội thường gắn với một không gian (địa điểm) và thời gian (nhiều ngày hoặc ít ngày) do sự kiện của lễ hội quy ước. Sự quản lý của Nhà nước đối với lễ hội không dừng ở việc bảo tồn, bảo tàng các di tích, mà còn hướng tới mở rộng, phát triển các hoạt động diễn ra trong lễ hội như hoạt động dịch vụ phục vụ lễ hội.

Từ khi đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường, mọi người đều tập trung chú trọng phát triển các hoạt động kinh tế, công tác quản lý hoạt động kinh doanh dịch vụ bị buông lỏng, một số hoạt động dịch vụ bị thương mại hóa, mê tín, tệ nạn cờ bạc… tái diễn. Những hiện tượng này trở thành vấn đề nhức nhối, làm hao mòn các giá trị truyền thống, phá hoại thuần phong mỹ tục, ảnh hưởng xấu tới đời sống tinh thần của người dân. Nhận thấy thực trạng như vậy, Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam đã ban hành Chỉ thị số 27-CT/TW ngày 12/01/2009 về việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội [4, Tr. 1]. Bộ Chính trị đã quyết định mở cuộc vận động sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân với định hướng:

  • Lành mạnh, tiết kiệm, tránh xa hoa lãng phí, phiền nhiễu.
  • Chống khuynh hướng kinh doanh, vụ lợi.
  • Xoá bỏ hủ tục, bài trừ mê tín dị đoan.

Chỉ thị chỉ rõ các hoạt động lễ hội nói chung, kinh doanh dịch vụ lễ hội nói riêng là hoạt động nhạy cảm, khó kiểm soát, đây không phải là công việc của riêng một cơ quan hay tổ chức nào. Để thực hiện được định hướng, nhiệm vụ trên là công việc của các cấp bộ, ngành. Mọi công tác thanh, kiểm tra phải được triển khai một cách hệ thống, cả về chiều sâu, cũng như chiều rộng trong bộ máy quản lý. Khóa luận: Quản lý hoạt động dịch vụ tại lễ hội Đền Hùng.

Ngày 22/07/2020 Ban chấp hành Trung ương đã ban hành Kết luận số 51-KL/TW về thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội [5, Tr. 3]. Kết luận chỉ rõ những hạn chế sau nhiều năm thực hiện nếp sống văn minh trong lễ hội, vẫn còn nhiều kẻ lợi dụng, lừa đảo, xuyên tạc, gây rối trật tự. Kết luận cũng đưa ra một số biện pháp, trong đó có hoạt động “Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động thị trường các sản phẩm văn hóa, xử lý nghiêm minh tập thể, cá nhân sản xuất, kinh doanh, phát tán sản phẩm độc hại, phi văn hóa.

Năm 2026 sẽ là năm du lịch, bởi vậy mới đây nhất, trong Chỉ thị số 41–CT/TW, thể hiện rõ sự quan tâm của Đảng trong công tác quản lý dịch vụ [2, Tr.2]. Trong chỉ thị vạch rõ “Tăng cường các biện pháp giữ gìn, bảo vệ di tích, danh lam thắng cảnh; bảo đảm an ninh, trật tự an toàn xã hội, phòng, chống cháy nổ, an toàn giao thông; khắc phục, giải quyết dứt điểm tình trạng ùn tắc giao thông; đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh cảnh quan môi trường tại các lễ hội. Thực hiện nếp sống văn minh trong sinh hoạt văn hoá, tín ngưỡng và lễ hội. Quản lý chặt chẽ các hoạt động dịch vụ, niêm yết công khai giá dịch vụ; kiểm tra, ngăn chặn các hành vi gian lận thương mại về giá, phí dịch vụ, lệ phí, lưu hành ấn phẩm văn hoá trái phép; xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật đối với các tổ chức, cá nhân lợi dụng lễ hội để tăng giá, ép giá”. Đảng đặc biệt nhấn mạnh đến các nhiệm vụ trọng tâm, những tồn đọng từ mùa lễ hội trước, yêu cầu các cơ quan quản lý trực tiếp tại các khu di tích, lễ hội có những biện pháp ứng phó để lễ hội ngày càng hoàn thiện hơn, văn minh hơn.

Bên cạnh các công văn, nghị định của Đảng, Nhà nước cũng ban hành nhiều thông tư nhằm tăng cường công tác quản lý dịch vụ lễ hội:

Ngày 22/12/2006 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 87/CP về tăng cường quản lý các họat động văn hóa và dịch vụ văn hóa, đẩy mạnh bài trừ một số tệ nạn nghiêm trọng [11, Tr. 2]. Tại điều 2 của nghị định chỉ rõ: “Cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang và mọi cá nhân có trách nhiệm chấp hành nghiêm chỉnh những quy định của pháp luật về ngăn chặn và phòng chống văn hoá độc hại, tệ nạn xã hội đã được ban hành và quy chế, quy định ban hành kèm theo nghị định này; tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm trong hoạt động văn hoá và dịch vụ văn hoá, phòng chống tệ nạn xã hội phải bị xử lý nghiêm minh theo pháp luật”. Khóa luận: Quản lý hoạt động dịch vụ tại lễ hội Đền Hùng.

Chỉ thị 09/2011/CT-TTg về tiến hành kiểm tra hoạt động dịch vụ văn hóa và kinh doanh văn hóa phẩm [27, Tr. 1]. Trong chỉ thị có viết: “Giao Bộ Văn hoá-Thông tin chủ trì, phối hợp với Bộ Công an, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, Bộ Thương mại, Bộ Tài chính, Tổng cục Du lịch và các Bộ, ngành liên quan cùng với Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, tiến hành đợt kiểm tra, chỉnh đốn các hoạt động dịch vụ văn hoá và kinh doanh văn hoá phẩm trên phạm vi cả nước; đồng thời phát hiện, truy quét, ngăn chặn và triệt phá các tệ nạn xã hội trong lĩnh vực này.”

Trong Công địên số 229/CĐ-TTg về tăng cường công tác quản lý và tổ chức lễ hội [28, Tr. 2], Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tập trung chỉ đạo thực hiện tốt một số nhiệm vụ trong đó “Nghiêm cấm hoạt động đổi tiền lẻ hưởng phí chênh lệch, đặc biệt là trong khuôn viên di tích và lễ hội”. Dịch vụ đổi tiền lẻ là hoạt động phổ biến tại các khu di tích, quy định về việc cấm đổi tiền lẻ đã được nhắc đến trong rất nhiều chỉ thị, quyết định, nhằm ngăn chặn tình trạng ăn chênh lệch mệnh giá tiền nhỏ; đối với Bộ Văn hóa Thể Thao và Du lịch có nhiệm vụ “Tiến hành thanh tra hoạt động quản lý và tổ chức lễ hội”.

Trong nhiều năm qua Bộ Văn hóa Thể Thao và Du lịch đã ban hành nhiều quyết định, quy chế hướng dẫn nhằm quy định và cụ thể hóa các hoạt động dịch vụ lễ hội.

Không chỉ chú trọng công tác phát triển các hoạt động, Bộ Văn hóa Thể Thao và Du lịch ban hành các thông tư, chỉ thị quy định kinh doanh dịch vụ văn hóa. Ví dụ: Thông tư số 04/2020/TT-BVHTTDL ngày 16/12/2020 [7, Tr.4] ban hành có quy định rõ: “Cấm các hoạt động văn hoá và kinh doanh dịch vụ văn hoá có nội dung kích động bạo lực, truyền bá các hành vi tội ác; cấm những hoạt động có nội dung làm mê hoặc người khác, trái với tự nhiên, gây tác động xấu về nhận thức, bao gồm: cúng khấn trừ tà ma, chữa bệnh bằng phù phép, lên đồng phán truyền, xem bói, xin xăm, xóc thẻ, truyền bá sấm trạng, phù chú, cầu lợi cho mình gây hại cho người khác bằng cách yểm bùa, đốt đồ mã ở nơi công cộng và các hình thức mê tín dị đoan khác”.

Thông tư số 35/2013/TT–BVHTT [6, Tr. 4] quy định về hoạt động văn hóa và dịch vụ văn hóa nơi công cộng có nội dung: “Điều 8: Xây dựng nếp sống văn minh trong lễ hội. Yêu cầu không tổ chức, tham gia đánh bạc, giữ gìn vệ sinh môi trường, an ninh trật tư,….”.

Công văn số 556/BVHTTDL-VHCS [8, Tr. 2-3] của Bộ Văn hóa Thể Thao và Du lịch cũng đề cập đến công tác quản lý hoạt động dịch vụ: Khóa luận: Quản lý hoạt động dịch vụ tại lễ hội Đền Hùng.

Điều 4: Tăng cường đảm bảo vệ sinh môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm. Niêm yết công khai giá hàng hoá, phí dịch vụ phục vụ lễ hội, giải quyết triệt để hiện tượng tranh giành đeo bám khách tăng giá, ép khách.

Điều 5: Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, ngăn chặn, xử lý kịp thời các biểu hiện tiêu cực trong hoạt động lễ hội, đặc biệt là hành vi lợi dụng di tích, lễ hội để hoạt động trục lợi, tuyên truyền mê tín dị đoan, cờ bạc trá hình, lưu hành văn hoá phẩm trái phép và các hành vi vi phạm pháp luật”.

  • Quyết định số 39/2012/QĐ-BVHTT ngày 23/08/2022 [9, Tr. 4] ban hành quy chế tổ chức lễ hội:

Điều 13: Ban tổ chức lễ hội chịu trách nhiệm quản lý, điều hành lễ hội theo đúng chương trình đã báo cáo hoặc xin phép, đảm bảo trật tự, an toàn, an ninh, tổ chức dịch vụ ăn nghỉ, vệ sinh chu đáo, bảo vệ tốt di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh, môi trường và quản lý việc thu, chi trong lễ hội.

  • Điều 15: Tổ chức dịch vụ trong khuôn viên di tích phải theo quy định của ban tổ chức lễ hội

Cùng với chủ trương của Đảng, sự quan tâm của Nhà nước qua việc ban hành các quy định hoạt động kinh doanh, các chính sách khuyến khích phát triển đã tạo điều kiện cho hoạt động kinh doanh dịch vụ lễ hội có bước tiến triến, đóng góp tích cực cho xã hội, tạo nên màu sắc, không khí cho phần hội. Thực hiện chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, các cấp bộ, ngành, Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ cũng rất quan tâm đến mảng dịch vụ tại lễ hội, đặc biệt là tại lễ hội Đền Hùng.

Tỉnh Phú Thọ dựa trên các công văn, nghị định, thông thư… tiến hành cụ thể hóa, hướng dẫn cơ quan cấp dưới thực hiện và điều chỉnh cho phù hợp thực tế lễ hội tại địa phương mình.

Ngày 29/05/2010 Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ đã công bố Quyết định số 1199/2010QĐ/UB về quản lý, bảo vệ khu di tích lịch sử Đền Hùng [31, Tr. 3-4]:

Chương II Điều 11: Các tổ chức, tập thể và cá nhân làm dịch vụ kinh doanh trong khu vực một và khu vực hai (285 ha), chỉ được làm dịch vụ kinh doanh ở những điểm theo quy hoạch và theo hướng dẫn của ban quản lý khu di tích Đền Hùng. Mọi trường hợp bán hàng rong, tranh giành khách, vi phạm quy hoạch làm mất trật tự nơi công cộng thì ban quản lý khu di tích Đền Hùng phải lập biên bản vi phạm và chuyển giao cho các cơ quan có thẩm quyền xử lý theo pháp luật hiện hành.

Người trong tỉnh hành nghề kinh doanh quay phim, chụp ảnh trong khu di tích phải đăng ký và công khai giá dịch vụ quay phim, chụp ảnh, kinh doanh do Sở Văn hóa tỉnh Phú Thọ quy định. Khóa luận: Quản lý hoạt động dịch vụ tại lễ hội Đền Hùng.

Quyết định 547/2018/QĐ-UBND [32, Tr. 2] về quản lý hoạt động tại di tích lịch sử Đền Hùng do tỉnh Phú Thọ ban hành. Tại Điều 4 quy định: Các tổ chức, cá nhân hoạt động kinh doanh, dịch vụ, học tập, nghiên cứu khoa học, hoạt động văn hóa, tham quan, du lịch, thăm viếng, hành lễ… trong di tích lịch sử Đền Hùng phải chấp hành quy định này. Trong trường hợp vi phạm, tùy theo mức độ sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật.

Xuất phát từ thực tiễn khách quan đòi hỏi Đảng, Nhà nước, Bộ Văn hóa Thể thoa và Du lịch, cùng các ban ngành chức năng có thẩm quyền nhanh chóng bổ sung hoàn thiện hệ thống văn bản pháp quy và các quy định điều chỉnh kinh doanh các hoạt động văn hóa.

Để tăng cường công tác quản lý và tổ chức lễ hội, bảo đảm an ninh trật tự, an toàn cho du khách, phát huy giá trị truyền thống văn hóa của các lễ hội trên địa bàn tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh vừa ban hành Văn bản số 587/UBND-VX1 về việc tăng cường công tác quản lý lễ hội và tổ chức lễ hội [33, Tr. 2-3] trên địa bàn tỉnh:

Điều 4: Thực hiện đúng quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng, lưu thông tiền tệ, đặc biệt là tại các khu di tích, công trình tín ngưỡng, tôn giáo, nơi tổ chức lễ hội. Quản lý việc đặt tiền lễ, tiền giọt dầu bảo đảm văn minh, tiết kiệm, hợp lý. Nghiêm cấm mọi hoạt động đổi tiền lẻ hưởng phí chênh lệch đặc biệt trong khuôn viên di tích và lễ hội

Chủ trương và chính sách của Đảng, Nhà nước đã đáp ứng được những yêu cầu thực tiễn của công tác quản lý trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ lễ hội, góp phần làm cho những dịch vụ phức tạp trở nên dễ quản lý, đưa vào khuôn khổ chung. Năm 2026 là năm du lịch sẽ diễn ra nhiều lễ hội lớn, cùng với chương trình hợp tác phát triển du lịch ba tỉnh Lào Cai-Yên Bái-Phú Thọ thì những chủ trương, chỉ đạo mang tính cấp thiết sẽ góp phần tạo đà phát triển các hoạt động dịch vụ, và xây dựng nên không gian lễ hội văn hóa, lành mạnh.

TIỂU KẾT Khóa luận: Quản lý hoạt động dịch vụ tại lễ hội Đền Hùng.

Chương này tác giả đã tập trung vào tính cấp thiết của việc nghiên cứu:

  • “Quản lý hoạt động dịch vụ lễ hội Đền Hùng”.

Bước đầu tác giả đã giới thiệu làm rõ khái niệm “quản lý dịch vụ lễ hội” thông qua giới thiệu khái niệm văn hóa, lễ hội, dịch vụ, quản lý, quản lý văn hóa, vai trò của dịch vụ và quản lý trong xã hội.

Giới thiệu và làm rõ về văn hóa, dịch vụ và sự đa nghĩa của hai khái niệm này đã minh chứng sự đa dạng trong hoạt động của nó, từ đó phân tích vai trò của quản lý đối với hoạt động này. Cũng qua đây thấy được sự cần thiết trong công việc quản lý hoạt động dịch vụ lễ hội. Trên cơ sở lý luận về quản lý văn hóa, những quan điểm của Đảng, Nhà nước làm luận chứng để lý giải công tác quản lý dịch vụ lễ hội tại Đền Hùng. Khóa luận: Quản lý hoạt động dịch vụ tại lễ hội Đền Hùng.

Tác giả khóa luận cũng sơ lược một số nội dung nghiên cứu ở trong nước và tình hình vấn đề này được quy định qua một số văn bản pháp quy. Từ đó có thể lấy làm cơ sở nghiên cứu trong công tác quản lý dịch vụ lễ.

Trên đây là cơ sở lý thuyết để nghiên cứu quản lý dịch vụ lễ hội tại Đền Hùng, tỉnh Phú Thọ.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>> Khóa luận: Thực tiễn quản lý hoạt động dịch vụ tại lễ hội Đền Hùng

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

1 Bình luận
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
trackback

[…] ===>> Khóa luận: Quản lý hoạt động dịch vụ tại lễ hội Đền Hùng […]

Contact Me on Zalo
0877682993
1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x