Khóa luận: Hoạt động huy động vốn tại Công ty Xây dựng HUD1

Rate this post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Hoạt động huy động vốn tại Công ty Xây dựng HUD1 hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Khóa luận: Giải pháp nâng cao hoạt động huy động vốn tại Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng HUD1 dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

Nội dung chính

LỜI MỞ ĐẦU

1. Lý do nghiên cứu

Vốn không chỉ là điều kiện tiên quyết khi tiến hành thành lập doanh nghiệp mà nó còn là một trong những yếu tố giữ vai trò quyết định trong quá trình hoạt động và phát triển của doanh nghiệp. Ở bất kỳ doanh nghiệp nào, vốn được đầu từ vào quá trình sản xuất kinh doanh nhằm tăng thêm lợi nhuận, tăng thêm giá trị của doanh nghiệp. Chính vì vậy, bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn tồn tại và phát triển đều phải quan tâm đến vấn đề tạo lập, quản lý và sử dụng vốn sao cho có hiệu quả nhằm đạt mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận.

Hiện nay nền kinh tế ở Việt Nam đang trong thời kỳ chịu sự biến động rất lớn của nền kinh tế thị trường, các Công ty cạnh tranh với nhau trên mọi lĩnh vực và khía cạnh. Không còn tồn tại thời kỳ bao cấp, các doanh nghiệp muốn tồn tại trong sự cạnh tranh thì tự chủ động trong quá trình sản xuất kinh doanh, nhất là tự chủ trong việc huy động vốn đảm bảo cho quá trình kinh doanh của mình không bị gián đoạn. Chính vì thế, để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần phải có một lượng vốn nhất định tuỳ thuộc vào quy mô, lĩnh vực mà doanh nghiệp đó hoạt động. Lượng vốn này bao gồm vốn cố định, vốn lưu động và các nguồn vốn chuyên dụng khác. Nhiệm vụ của các doanh nghiệp là phải huy động và sử dụng vốn sao cho có hiệu quả nhất trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc quản lý tài chính và chấp hành pháp luật của Nhà nước.

Là một Công ty xây dựng và vật liệu xây dựng nên cần một lượng vốn rất lớn để kinh doanh và phát triển, đầu tư. Với tầm quan trọng của vốn, trong thời gian thực tập tại Công ty em mạnh dạn chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao hoạt động huy động vốn tại Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng HUD1”.

2. Mục tiêu nghiên cứu

Khóa luận đi sâu vào nghiên cức thực trạng, phân tích cấu trúc và tính hiệu quả cũng như chi phí vốn từ chính sách quản lý và huy động vốn tại Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng HUD1 trong giai đoạn 2022 – 2024. Từ đó đưa ra được một số giải pháp nhằm tăng cường, nâng cao hoạt động hay khả năng huy động vốn của Công ty.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Khóa luận: Hoạt động huy động vốn tại Công ty Xây dựng HUD1.

Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung làm rõ các phương thức huy động vốn của doanh nghiệp, hiệu quả trong việc huy động vốn, những nhân tố ảnh hưởng và giải pháp nâng cao hoạt động huy động vốn của Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng HUD1.

Phạm vi nghiên cứu: Phân tích tình hính tài chính, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, phương pháp huy động vốn và hiệu quả trong việc tăng cường khả năng huy động vốn của Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng HUD1 từ năm 2022 – 2024.

4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Ý nghĩa khoa học của đề tài: Cung cấp cơ sở khoa học cho việc hệ thống hóa và làm rõ thêm lý luận về nâng cao hoạt động huy động vốn và giải pháp trong vấn đề huy động vốn của doanh nghiệp.

Ý nghĩa thực tiễn của đề tài: Kết quả nghiên cứu của đề tài giúp cho các nhà quản trị của Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng HUD1 nắm được tình hình huy động vốn, phương thức sử dụng trong việc huy động vốn và hiệu quả trong 3 năm gần đây.

5. Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu chủ yếu trong khóa luận là phương pháp tỷ số, phương pháp so sánh, tổng hợp khái quát hóa dựa trên cơ sở các số liệu được cung cấp và tình hình thực tế của Công ty.

6. Kết cấu của khóa luận

Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tham khảo, khóa luận chia thành ba phần:

  • Phần 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về huy động vốn trong doanh nghiệp.
  • Phần 2: Phân tích thực trạng, tình hình và công tác huy động vốn tại Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng HUD1.
  • Phần 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn tại Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng HUD1.

Do trình độ nhận thức lý luận và hiểu biết thực tế còn rất nhiều hạn chế, thời gian thực tập tại cơ sở ngắn nên bài luận văn không tránh khỏi một vài sai sót. Rất mong được sự đóng góp ý kiến từ phía thầy cô, bạn bè và những người quan tâm để luận văn được hoàn chỉnh hơn. Em xin chân thành cám ơn sự giúp đỡ tận tình của giảng viên Thạc sĩ Ngô Thị Quyên đã hướng dẫn và chỉ bảo cho em trong suốt quá trình thực hiện luận văn. Em cũng xin bày tỏ sự tri ân tới các cô chú, các anh các chị trong phòng Tài chính – Kế toán và toàn thể ban lãnh đạo Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng HUD1 đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ em hoàn thành luận văn này.

CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN TRONG DOANH NGHIỆP

1.1. Khái niệm, vai trò, phân loại nguồn vốn

1.1.1. Khái niệm về nguồn vốn

Nguồn vốn (Capital) là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản hữu hình và vô hình được đầu tư vào quá trình sản xuất kinh doanh hay chỉ ra nguồn hình thành nên tài sản của doanh nghiệp. Nguồn vốn còn là những quan hệ tài chính mà thông qua đó doanh nghiệp có thể khai thác hay huy động một số tiền nhất định để đầu tư. Đây chính là nguồn tài chính chủ yếu của mỗi doanh nghiệp. Khóa luận: Hoạt động huy động vốn tại Công ty Xây dựng HUD1.

Nguồn vốn cho biết vốn của doanh nghiệp do đâu mà có và doanh nghiệp phải có những trách nhiệm về kinh tế hay pháp lý gì đối với vốn đó.

1.1.2. Vai trò của nguồn vốn

Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, nguồn vốn là một trong những yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của từng doanh nghiệp. Nguồn vốn không những đảm bảo khả năng mua sắm máy móc thiết bị, dây truyền công nghệ để phục vụ cho quá trình sản xuất mà còn đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra thường xuyên, liên tục. Đây là tiền đề cần thiết cho việc hình thành và hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp.

Sự phát triển kinh doanh với quy mô ngày càng lớn đòi hỏi phải có lượng vốn ngày càng nhiều. Hơn nữa ngày nay với sự phát triển của khoa học và công nghệ ở tốc độ cao, các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trong điều kiện của nền kinh tế mở với xu thế quốc tế hoá ngày càng cao, sự cạnh tranh trên thị trường ngày càng mạnh mẽ thì nhu cầu vốn cho hoạt động kinh doanh, nhất là nhu cầu vốn dài hạn của các doanh nghiệp cho sự đầu tư phát triển ngày càng lớn. Điều đó đòi hỏi các doanh nghiệp phải huy động cao độ nguồn vốn bên trong đồng thời phải tìm cách huy động nguồn vốn bên ngoài để đáp ứng nhu cầu phát triển của chính mình.

1.1.3. Phân loại nguồn vốn

Trên thực tế, hiện nay, vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau. Tuỳ theo từng tiêu thức phân loại mà nguồn vốn của doanh nghiệp được chia thành nhiều loại khác nhau. Cụ thể có các cách phân loại sau:

  • Theo thời gian huy động và sử dụng vốn

Theo cách phân loại theo thời gian huy động và sử dụng vốn thì nguồn vốn của doanh nghiệp được chia thành hai nguồn vốn chính. Một là nguồn vốn thường xuyên và hai là nguồn vốn tạm thời.

  • Nguồn vốn thường xuyên

Nguồn vốn thường xuyên bao gồm vốn chủ sở hữu và các khoản vay dài hạn. Đây là nguồn vốn có tính chất ổn định và dài hạn mà doanh nghiệp có thể sử dụng. Nguồn vốn này dành cho việc đầu tư mua sắm Tài sản cố định và một bộ phận Tài sản lưu động tối thiểu thường xuyên cần thiết cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

  • Nguồn vốn tạm thời Khóa luận: Hoạt động huy động vốn tại Công ty Xây dựng HUD1.

Nguồn vốn tạm thời là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn (dưới một năm) mà doanh nghiệp có thể sử dụng để đáp ứng nhu cầu về vốn có tính chất tạm thời, bất thường phát sinh trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nguồn vốn này bao gồm các khoản vay ngắn hạn ngân hàng, các tổ chức tín dụng, các khoản nợ ngắn hạn khác.

  • Mô hình nguồn vốn của doanh nghiệp theo cách phân loại này:

Việc phân loại nguồn vốn theo cách này sẽ giúp cho các nhà quản lý có điều kiện thuận lợi trong việc huy động vốn một cách phù hợp với thời gian sử dụng, đáp ứng đầy đủ kịp thời vốn sản xuất kinh doanh và góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp. Hơn nữa cách phân loại này còn giúp các nhà quản lý doanh nghiệp lập các kế hoạch tài chính hình thành nên những dự định về tổ chức lựa chọn nguồn vốn và quy mô thích hợp cho từng nguồn vốn đó, tổ chức sử dụng vốn đạt hiệu quả cao.

  • Theo phạm vi huy động vốn

Với cách phân loại này nguồn vốn của doanh nghiệp được chia thành hai nguồn.

  • Nguồn vốn bên trong doanh nghiệp

Nguồn vốn bên trong doanh nghiệp là nguồn vốn có thể huy động được từ hoạt động của bản thân doanh nghiệp, bao gồm: Vốn chủ sở hữu, tiền khấu hao Tài sản cố định, lợi nhuận để lại, các khoản dự trữ, dự phòng, các khoản thu từ nhượng bán thanh lý Tài sản cố định. Dưới đây ta xem xét một số nguồn hình thành nên nguồn vốn bên trong.

Nguồn vốn chủ sở hữu: Huy động từ số vốn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp.

Quỹ khấu hao: Để bù đắp Tài sản cố định bị hao mòn trong quá trình sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp phải chuyển dịch dần phần giá trị hao mòn đó vào giá trị sản phẩm sản xuất trong kỳ gọi là khấu hao Tài sản cố định. Bộ phận giá trị hao mòn đó được chuyển dịch vào giá trị sản phẩm được coi là một yếu tố chi phí sản xuất sản phẩm được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ gọi là tiền khấu hao Tài sản cố định. Sau khi sản phẩm hàng hoá được tiêu thụ, số tiền khấu hao được tích luỹ lại hình thành quỹ khấu hao Tài sản cố định của doanh nghiệp. Quỹ khấu hao Tài sản cố định là một nguồn tài chính quan trọng để tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng trong doanh nghiệp. Trên thực tế khi chưa có nhu cầu mua sắm Tài sản cố định các doanh nghiệp cũng có thể sử dụng linh hoạt quỹ này để đáp ứng nhu cầu kinh doanh của mình.

Lợi nhuận để lại để tái đầu tư: Khi doanh nghiệp hoạt động kinh doanh có hiệu quả thì phần lợi nhuận thu được có thể được trích ra một phần để tái đầu tư nhằm mở rộng hoạt động kinh doanh.

  • Nguồn vốn bên ngoài doanh nghiệp Khóa luận: Hoạt động huy động vốn tại Công ty Xây dựng HUD1.

Là nguồn vốn mà doanh nghiệp có thể huy động từ bên ngoài đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh của đơn vị mình. Nguồn vốn này bao gồm: nguồn vốn liên doanh, liên kết, vốn vay ngân hàng và các tổ chức tín dụng, phát hành trái phiếu và các khoản nợ khác…

  • Dưới đây ta xem xét một số nguồn hình thành nên nguồn vốn bên ngoài của doanh nghiệp.

Từ hoạt động liên doanh, liên kết: Nguồn vốn liên kết là những nguồn đóng góp theo tỷ lệ của các chủ đầu tư để cùng thực hiện một quá trình kinh doanh do mình thực hiện và cùng chia lợi nhuận. Việc góp vốn liên kết có thể được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau tùy theo từng loại hình doanh nghiệp.

Từ nguồn vốn tín dụng: Là các khoản vốn mà doanh nghiệp có thể vay dài hạn của các ngân hàng thương mại, Công ty tài chính, Công ty bảo hiểm, hoặc các tổ chức tài chính trung gian khác.

Từ phát hành trái phiếu: Doanh nghiệp có thể huy động vốn cho hoạt động kinh doanh thông qua việc phát hành trái phiếu. Hình thức này giúp cho doanh nghiệp thực hiện vay vốn trung và dài hạn qua thị trường với một khối lượng lớn.

Đối với nguồn vốn bên ngoài, mỗi hình thức huy động vốn đều có những ưu điểm và nhược điểm nhất định. Như vậy doanh nghiệp cần phải lựa chọn sao cho có hiệu quả kinh tế mang lại là lớn nhất, chi phí sử dụng vốn là thấp nhất. Doanh nghiệp cần nhận thấy ưu điểm lớn của việc huy động vốn từ bên ngoài là tạo cho doanh nghiệp một cơ cấu tổ chức linh hoạt hơn. Sử dụng đòn bẩy tài chính là để khuếch đại doanh lợi vốn chủ sở hữu nếu như hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả. Mức doanh lợi đạt được cao hơn chi phí sử dụng vốn thì việc huy động vốn từ bên ngoài sẽ càng giúp cho doanh nghiệp có điều kiện phát triển nhanh hơn.

Từ việc nghiên cứu các phương pháp phân loại nguồn vốn kinh doanh cho thấy: một mặt các doanh nghiệp cần tập trung tăng cường tổ chức quản lý và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn hiện có, mặt khác cần phải chủ động khai thác các nguồn vốn đáp ứng cho nhu cầu sản xuất kinh doanh.

1.2. Cấu trúc vốn Khóa luận: Hoạt động huy động vốn tại Công ty Xây dựng HUD1.

1.2.1. Khái niệm về cấu trúc vốn

Cấu trúc vốn (Capital Structure) là thuật ngữ tài chính nhằm mô tả nguồn gốc và phương pháp hình thành nên nguồn vốn để doanh nghiệp có thể sử dụng mua sắm tài sản, phương tiện vật chất và hoạt động kinh doanh.

Cấu trúc vốn xuất phát từ cấu trúc của Bảng cân đối kế toán. Trong Bảng cân đối kế toán, cấu trúc vốn cần chỉ ra được phần nào của tổng tài sản doanh nghiệp hình thành từ vốn góp của chủ sở hữu và lợi nhuận của chủ sở hữu được giữ lại đầu tư cho hoạt động doanh nghiệp và phần nào hình thành từ các nguồn có tính chất công nợ (thông qua các khoản nợ khác nhau).

Một cấu trúc vốn phù hợp là quyết định quan trọng với mọi doanh nghiệp không chỉ bởi nhu cầu tối đa lợi ích thu được từ các cá nhân và tổ chức liên quan tới doanh nghiệp và hoạt động của doanh nghiệp mà còn bởi tác động của quyết định này tới năng lực kinh doanh của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh.

Tỷ lệ nguồn hình thành trong cấu trúc vốn sẽ làm thay đổi nhận thức của giới đầu tư về mức rủi ro của một doanh nghiệp. Chính vì thế, tỷ lệ cơ cấu vốn là một trong những chỉ số quan trọng giúp nhà đầu tư đánh giá một cách tổng quát về “sức khỏe” của một doanh nghiệp.

1.2.2. Các nhân tố cấu thành cấu trúc vốn

Căn cứ vào nguồn hình thành thì vốn được chia làm hai loại: Nguồn vốn chủ sở hữu và nguồn vốn vay nợ. Hai nguồn vốn này hoàn toàn khác nhau về trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp.

  • Nguồn vốn chủ sở hữu

Vốn chủ sở hữu là phần vốn thuộc quyền sở hữu của chủ sở hữu doanh nghiệp do các chủ sở hữu của doanh nghiệp tài trợ và giữ lại phần lợi nhuận chưa phân phối. Vốn chủ sở hữu được xác định là phần vốn còn lại trong tài sản của doanh nghiệp sau khi trừ đi toàn bộ nợ phải trả. Tuỳ theo loại hình doanh nghiệp sẽ quyết định tính chất và hình thức tạo vốn như: Vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước, vốn do chủ doanh nghiệp bỏ ra, vốn góp cổ phần…

Vốn chủ sở hữu bao gồm: Vốn điều lệ do chủ sở hữu đầu tư, vốn tự bổ sung từ lợi nhuận và từ các quỹ của doanh nghiệp, vốn từ phát hành cổ phiếu mới, vốn đầu tư xây dựng cơ bản và kinh phí sự nghiệp (kinh phí do ngân sách nhà nước cấp phát với mục đích hướng tới kinh tế lâu dài, cơ bản và mục đích xã hội,…).

Nguồn vốn chủ sở hữu không phải là một khoản nợ và doanh nghiệp không phải cam kết thanh toán đối với người góp vốn với tư cách là chủ sở hữu. Do đặc tính này mà vốn chủ sở hữu được coi là có tính an toàn cao và còn thể hiện năng lực vốn có của người chủ sở hữu trong tài trợ hoạt động kinh doanh.

  • Nguồn vốn vay Khóa luận: Hoạt động huy động vốn tại Công ty Xây dựng HUD1.

Nguồn vốn vay là nguồn tài trợ từ bên ngoài doanh nghiệp, bao gồm các khoản vốn chiếm dụng và nợ vay. Vốn vay có đặc trưng là doanh nghiệp phải thực hiện thanh toán khoản vay theo thời gian cam kết và đồng thời phải trả lãi tiền vay theo lãi suất thỏa thuận từ trước. Vốn vay bao gồm:

Vốn vay từ hoạt động liên doanh, liên kết: Nguồn vốn liên kết là những nguồn đóng góp theo tỷ lệ của các chủ đầu tư để cùng thực hiện một quá trình kinh doanh do mình thực hiện và cùng chia lợi nhuận. Việc góp vốn liên kết được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau tuỳ theo từng loại hình doanh nghiệp: Có thể là liên kết giữa nguồn vốn của nhà nước do doanh nghiệp nhà nước quản lý với nguồn vốn tự có của các tổ chức và cá nhân trong hay ngoài nước không phụ thuộc khu vực nhà nước, giữa nguồn vốn nhà nước do doanh nghiệp này quản lý với nguồn vốn của nhà nước do doanh nghiệp khác quản lý…. Hình thức góp vốn này thích hợp với các quá trình kinh doanh có quy mô lớn hay một mình doanh nghiệp không thể có đủ vốn thực hiện được tổ chức kinh doanh và quản lý vốn.

Tín dụng ngân hàng: Là các khoản vốn mà doanh nghiệp có thể vay dài hạn của các ngân hàng thương mại, Công ty tài chính, Công ty bảo hiểm, hoặc các tổ chức tài chính trung gian khác theo một quy định của ngân hàng hoặc theo thoả thuận thông qua hợp đồng tín dụng với chủ nợ. Khi đi vay, doanh nghiệp được sử dụng các khoản vay trong một thời hạn nhất định, khi hết hạn vay, doanh nghiệp phải trả lại cho chủ nợ cả gốc và lãi. Từ việc đi vay này mà doanh nghiệp hình thành các khoản nợ như nợ ngắn hạn, nợ dài hạn, nợ phải trả.

Phát hành trái phiếu: Doanh nghiệp có thể huy động vốn cho hoạt động kinh doanh thông qua việc phát hành trái phiếu. Hình thức này giúp cho doanh nghiệp thực hiện vay vốn trung và dài hạn qua thị trường với một khối lượng lớn có thể thu hút rộng rãi số tiền nhàn rỗi để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Tuy nhiên một doanh nghiệp muốn phát hành trái phiếu phải đảm bảo điều kiện nhất định và đặc biệt là uy tín của doanh nghiệp đó nên rất ít doanh nghiệp đáp ứng đủ yêu cầu.

Các nguồn vốn khác: Bao gồm các loại vốn được hình thành từ các nguồn khác như bán cổ phần, thuê tài sản…

Thông thường, trong mỗi hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp nên kết hợp sử dụng giữa các nguồn vốn để đảm bảo nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Việc phân loại này giúp nhà quản lý doanh nghiệp biết được khả năng tự chủ về tài chính của doanh nghiệp, từ đó có các biện pháp để khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn của doanh nghiệp.

1.2.3. Các chỉ tiêu đo lường cấu trúc vốn Khóa luận: Hoạt động huy động vốn tại Công ty Xây dựng HUD1.

Mục đích cao nhất của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường là lợi nhuận. Muốn vậy các doanh nghiệp phải khai thác triệt để mọi nguồn lực sẵn có là việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, đây là yêu cầu bắt buộc đối với các doanh nghiệp. Để đạt được điều đó các doanh nghiệp cần có một hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn bảo đảm phản ánh và đánh giá được hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.

Các số liệu được dùng để phân tích và đánh giá chủ yếu lấy từ các báo cáo tài chính như bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh. Để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn, người ta thường sử dụng các chỉ tiêu sau:

  • Tỷ suất nợ

Hệ số nợ phản ánh trong một đồng vốn kinh doanh bình quân mà doanh nghiệp đang sử dụng có bao nhiêu đồng được hình thành từ vốn nợ. Hệ số nợ phản ánh mức độ tài trợ nguồn vốn của doanh nghiệp bởi các khoản nợ. Hệ số nợ càng thấp thì mức độ bảo vệ dành cho các chủ nợ càng cao trong trường hợp doanh nghiệp rơi vào tình trạng phá sản và phải thanh lý tài sản. Đây là một trong những tiêu chí để các nhà đầu tư đánh giá rủi ro và cấp tín dụng cho doanh nghiệp.

  • Tỷ suất tự tài trợ

Tỷ suất tự tài trợ thể hiện khả năng tự tài trợ của doanh nghiệp đối với các tài sản khác của mình (khả năng tự chủ về tài chính). Tỷ suất này càng lớn chứng tỏ doanh nghiệp có nhiều vốn tự có, có tính độc lập cao với các chủ nợ, do đó không bị ràng buộc hoặc bị sức ép của các khoản nợ vay.

Việc phân tích các hệ số kết cấu nguồn vốn là một vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng, giúp cho người quản lý đánh giá được tình hình tài chính của doanh nghiệp để từ đó có quyết định đúng đắn có nên tiếp tục đầu tư hay thu hẹp đầu tư, đồng thời có kế hoạch cho việc tổ chức huy động và sử dụng vốn sản xuất kinh doanh.

  • Tỷ số nợ dài hạn trên vốn chủ sở hữu Khóa luận: Hoạt động huy động vốn tại Công ty Xây dựng HUD1.

Hệ số nợ dài hạn cho biết mối quan hệ giữa vốn dài hạn đi vay với vốn chủ sở hữu. Hệ số nợ dài hạn phản ánh trong số tổng số vốn của doanh nghiệp thì phần vốn vay dài hạn của doanh nghiệp chiếm bao nhiêu. Tỷ số này nhỏ chứng tỏ doanh nghiệp ít phụ thuộc vào hình thức huy động vốn bằng vay nợ, có thể hàm ý doanh nghiệp chịu độ rủi ro thấp. Tuy nhiên, nó cũng có thể chúng tỏ doanh nghiệp chưa biết cách vay nợ để kinh doanh và khai thác lợi ích của hiệu quả tiết kiệm thuế.

  • Tỷ số nợ trên vốn chủ sở hữu

Tỷ số này (thường tính bằng %) được tính bằng cách lấy tổng nợ (tức là gồm cả nợ ngắn hạn lẫn nợ dài hạn) của doanh nghiệp trong một thời kỳ nào đó chia cho giá trị vốn chủ sở hữu trong cùng kỳ. Các số liệu này có thể lấy từ bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp. Công thức tính như sau:

Tỷ số này cho biết quan hệ giữa vốn huy động bằng đi vay và vốn chủ sở hữu. Tỷ số này nhỏ chứng tỏ doanh nghiệp ít phụ thuộc vào hình thức huy động vốn bằng vay nợ, có thể hàm ý doanh nghiệp chịu độ rủi ro thấp. Tuy nhiên, nó cũng có thể chứng tỏ doanh nghiệp chưa biết cách vay nợ để kinh doanh và khai thác lợi ích của hiệu quả tiết kiệm thuế. Khi dùng tỷ số này để đánh giá cần so sánh tỷ số của một doanh nghiệp cá biệt nào đó với tỷ số bình quân của toàn ngành.

  • Hệ số vốn chủ sở hữu

Hệ số vốn chủ sở hữu phản ánh trong một đồng vốn kinh doanh mà doanh nghiệp đang sử dụng có bao nhiêu đồng do chủ sở hữu bỏ ra. Nếu hệ số vốn chủ sở hữu càng cao, các khoản nợ của doanh nghiệp càng được đảm bảo khả năng thanh toán và dĩ nhiên tài chính của doanh nghiệp càng nằm trong giới hạn an toàn. Ngược lại, hệ số nhỏ chứng tỏ doanh nghiệp sử dụng nhiều nợ vay, có khả năng gặp rủi ro thanh toán lớn khi khoản vay đó đáo hạn.

1.3. Chi phí vốn Khóa luận: Hoạt động huy động vốn tại Công ty Xây dựng HUD1.

1.3.1. Khái niệm về chi phí vốn

Chi phí vốn là chi phí mà nhà đầu tư phải trả cho việc sử dụng nguồn vốn cụ thể nào đó để tài trợ cho quyết định đầu tư của mình. Chi phí vốn thường được sử dụng để thay thế với tỷ suất sinh lời đòi hỏi của doanh nghiệp, tỷ suất rào cản cho các đầu tư mới, tỷ suất chiết khấu để đánh giá đầu tư mới và cơ hội phí của sử dụng vốn. Mức tỷ suất sinh lời mà các nhà cung ứng vốn trên thị trường yêu cầu doanh nghiệp phải trả nhằm đảm bảo tài trợ vốn của họ đối với doanh nghiệp.

1.3.2. Xác định chi phí vốn

  • Chi phí vốn vay ngắn hạn

Chi phí vốn vay ngắn hạn là khoản chi phí trả lãi cho người cho vay hoặc ngân hàng.

  • Tín dụng thương mại phải trả

Tín dụng thương mại được hình thành tự nhiên trong hoạt động mua chịu nhà cung cấp và khoản khách hàng đặt tiền trước cho Công ty. Thường được mở rộng khi mua hàng và tích lũy hàng lưu kho. Bên cạnh đó, Công ty thường được hưởng lợi từ các khoản chiết khấu (nếu chấp nhận trả sớm) hoặc có thể chiếm dụng được một khoản vốn trong một thời hạn cho phép với một chi phí hợp lý. Chi phí tín dụng thuong mại thường phát sinh khi thực hiện chính sách tín dụng và chấp nhận tín dụng.

  • Chi phí vốn vay dài hạn

Doanh nghiệp có thể huy động vốn vay dài hạn bằng cách vay ngân hàng, phát hành trái phiếu.

  • Chí phí nợ vay (Kd)

Chi phí vốn vay trước thuế: Khóa luận: Hoạt động huy động vốn tại Công ty Xây dựng HUD1.

  • Vay ngân hàng: Chi phí vốn vay trước thuế (Kd) do vay của ngân hàng là lãi suất tiền vay do ngân hàng ấn định.
  • Phát hành trái phiếu: Có 2 loại trái phiếu mà ta thường gặp

Trái phiếu Zero-Coupon: Là loại trái phiếu mà trái chủ (Người mua trái phiếu) sẽ mua với giá phát hành thấp hơn mệnh giá và sẽ không nhận được lợi tức trong suốt thời hạn trái phiếu, nhưng tại thời điểm đáo hạn trái chủ sẽ nhận được một khoản tiền bằng với mệnh giá.

Trong đó:

  • n: Số năm đáo hạn của trái phiếu.
  • FVn: Giá trị tương lai danh nghĩa của trái phiếu.
  • P0: Giá thị trường của trái phiếu.
  • Kd: Chi phí vốn vay trước thuế. CPPH: Chi phí phát hành.

Trái phiếu Coupon: là loại trái phiếu mà trái chủ nhận được một khoản lợi tức hàng năm và khi trái phiếu đáo hạn trái chủ sẽ nhận được lợi tức của năm cuối cùng và vốn gốc.

Trong đó:

  • R: Lãi trái phiếu phải trả hàng năm.
  • (Với công thức này, ta sử dụng phương pháp nội suy để tìm được Kd)

Chi phí vốn vay sau thuế:

Chi phí vốn vay sau thuế (Kd*), được xác định bằng chi phí vốn vay trước thuế (Kd) trừ đi khoản tiền tiết kiệm thuế từ lãi vay. Phần tiết kiệm này được xác định bằng chi phí trước thuế nhân với thuế suất (Kd * T). Ta có công thức: Kd* = Kd * (1 – T)

Trong đó: T: Thuế thu nhập doanh nghiệp. Kd*: Chi phí vốn vay sau thuế.

  • Chi phí vốn vay chủ sở hữu Khóa luận: Hoạt động huy động vốn tại Công ty Xây dựng HUD1.

Chi phí vốn sở hữu là suất sinh lợi mà các nhà đầu tư vốn sở hữu đòi hỏi ứng với rủi ro của ngân lưu từ Công ty.

  • Chi phí cổ phiếu ưu đãi (Kp)

Cổ phần ưu đãi được xem như là một loại nguồn vốn chủ sở hữu đặc biệt trong một doanh nghiệp. Những cổ đông ưu đãi sẽ nhận được cổ tức cố định như đã công bố với thứ tự ưu tiên trước khi lợi nhuận thuần được phân phối cho các cổ đông nắm giữ cổ phần. Vì cổ phần ưu đãi là một nguồn tài trợ vốn chủ sở hữu nên doanh thu từ phát hành các cổ phiếu ưu đãi là vĩnh viễn.

Chi phí của cổ phiếu ưu đãi (Kp) được xác định bằng cách lấy cổ tức ưu đãi (Dp) chia cho giá phát hành thuần của cổ phiếu – là giá mà doanh nghiệp nhận được dau khi trừ chi phí phát hành. Ta có công thức:

Trong đó:

  • Kp: Chi phí của cổ phiếu ưu đãi.
  • Dp: Giá trị cổ tức thanh toán hàng năm.
  • P0: Giá thị trường của cổ phiếu ưu đãi. CPPH: Chi phí phát hành.

Khác với lãi vay, cổ tức cổ phần ưu đãi không được tính để giảm trừ thuế. Do đó không phát sinh khoản tiết kiệm thuế từ việc sử dụng vốn cổ phần ưu đãi và cũng không cần sự điều chỉnh sau thuế.

  • Chi phí của lợi nhuận không chia (Ks)

Chi phí của lợi nhuận không chia là tỷ lệ cổ tức mà người nắm giữ cổ phiếu thường yêu cầu đối với dự án doanh nghiệp đầu tư bằng lợi nhuận không chia.

Chi phí vốn của lợi nhuận không chia liên quan tới chi phí cơ hội của vốn. Lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp thuộc về người nắm giữ cổ phiếu. Người nắm giữ trái phiếu sẽ được bù đắp bởi những khỏan thanh toán lãi, người nắm giữ cổ phiếu đãi được bù đắp bởi cổ tức ưu đãi, nhưng lợi nhuận không chia thuộc về người nắm giữ cổ phiếu thường. Phần lợi nhuận này dùng để bù đắp cho người nắm giữ cổ phiếu về việc sử dụng vốn của họ. Nếu doanh nghiệp quyết định không chia lợi nhuận mà để lại để tái đầu tư thì sẽ nảy sinh một chi phí cơ hội. Đó chính là tỷ suất sinh lợi nhuận mong đợi của cổ đông vào những dự án mà doanh nghiệp đầu tư thay vì trả cổ tức cho họ.

Một số phương pháp tính toán chi phí lợi nhuận không chia:

  • Phương pháp mô hình định giá tăng trưởng đều (Mô hình Gordon)

Đây là phương pháp đơn giản nhất để tính toán chi phí vốn cổ phần thường. Sử dụng mô hình định giá tăng trưởng đều được triển khai trong phần định giá cổ phiếu. Trong mô hình này, cổ tức được định giá tăng trưởng đều mỗi năm với gia tốc. Ta có công thức sau: Khóa luận: Hoạt động huy động vốn tại Công ty Xây dựng HUD1.

Trong đó:

  • D0: Cổ tức trả cho năm hiện tại. D1: Cổ tức dự kiến cuối năm 1.
  • Ks: Lãi suất yêu cầu đối với cổ đông thường. g: Tốc độ tăng trưởng đều mỗi năm cổ tức.

Nếu một Công ty có cổ phiếu giao dịch trên thị trường chứng khoán, chúng ta có thể thu nhập được D0 bằng cách lấy cổ tức của Công ty trả cho cổ đông hiện tại, cả P0 chính là giá đang giao dịch trên thị trường. Đối với biến g, ta sẽ ước lượng dựa trên tỷ lệ lợi nhuận giữ lại và khản năng sinh lời của Công ty đo bằng tỷ số ROE.

  • Phương pháp CAPM (Capital Asset Pricing Model)

Phương pháp này được tiến hành như sau:

  • Bước 1: Xác định lợi tức của tài sản không có rủi ro KRF. Lợi tức này thường tương đương với lãi suất trái phiếu kho bạc.
  • Bước 2: Dự đoán hệ số bê – ta (β) của cổ phiếu và sử dụng nó như là hệ số rủi ro của cổ phiếu.
  • Bước 3: Dự đoán lãi suất mong đợi trên thị trường hoặc là lợi tức mong đợi đối với cổ phiếu có độ rủi ro trung bình (KRM).
  • Bước 4: Thay thế những giá trị trên vào phương trình CAPM để xác định tỷ lệ lợi tức mong muốn đối với cổ phiếu đang xét. Ks = KRF + (KRM − KRF) * βi

Phương pháp CAPM có một số vấn đề khó khăn khi áp dụng đó là: Khó xác định KRF, gặp khó trong quá trình dự đoán hệ số bê – ta β và khó xác định phần lợi nhuận bù đắp cho rủi ro thị trường.

  • Phương pháp lãi suất trái phiếu cộng với mức bù rủi ro

Trong thực tế, nếu độ tin cậy của các thông tin không đủ để áp dụng mô hình CAPM, các nhà phân tích tài chính thường thực hiện một phương pháp đơn giản là cộng phần bù rủi ro thích hợp vào chi phí nợ dài hạn (trái phiếu) để tính chi phí vốn cổ phần, thường từ 3% – 5%, vì các cổ đông phải chịu rủi ro cao hơn các trái chủ (người nắm giữ trái phiếu).

  • Chi phí cổ phiếu thường mới (Ke) Khóa luận: Hoạt động huy động vốn tại Công ty Xây dựng HUD1.

Khi lợi nhuận giữ lại không đủ đáp ứng cho nhu cầu đầu tư, doanh nghiệp thường huy động những nguồn vốn bên ngoài thông qua việc phát hành các loại chứng khoán, trong đó bao gồm cả cổ phiếu thường.

Trong quá trình phát hành, doanh nghiệp phải tính tơi các chi phí như: Chi phí quảng cáo, chi phí in ấn…tất cả đều được gọi là chi phí phát hành. Tất cả những loại chi phí kể trên làm chi phí vốn cổ phần thường mới phát hành (Ke) luôn cao hơn chi phí vốn cổ phần thường hiện hữu (Ks).

Trong đó:

  • D1: Cổ tức mong đợi trong năm thứ 1. P0: Giá hiện tại của cổ phiếu.
  • F: Tỷ lệ phần trăm chi phí phát hành so với P0. G: Tốc độ tăng trưởng cổ tức.

Chi phí phát hành đã làm gia tăng chi phí vốn cổ phần thường mới. Do vậy, các doanh nghiệp có nhiều cơ hội đầu tư luôn muốn sử dụng lợi nhuận giữ lại ở mức cao nhất. Điều này ảnh hưởng tới chính sách chi trả cổ tức của doanh nghiệp.

1.3.3. Chi phí vốn bình quân (WACC – Weight Average Cost of Capital)

WACC là chi phí vốn được doanh nghiệp tính toán dựa trên tỷ trọng các loại vốn mà doanh nghiệp sử dụng. WACC của doanh nghiệp còn được gọi là tỷ suất sinh lợi đòi hỏi tối thiểu mà doanh nghiệp phải đạt được khi quyết định thực hiện một dự án mở rộng nào đó, hoặc quyết định mua lại doanh nghiệp khác. WACC được sử dụng như một tỷ lệ chiết khấu thích hợp đối với các dòng tiền từ các dự án có mức rủi ro tương tự mức độ rủi ro của doanh nghiệp. Nếu dự án có mức độ rủi ro cao hơn thì tỷ lệ chiết khấu sẽ đòi hỏi một tỷ lệ cao hơn tương ứng với mức rủi ro của dự án đó và ngược lại.

Trong doanh nghiệp luôn luôn sử dụng nhiều nguồn tài trợ khác nhau. Vì vậy, cần phải xác định chi phí vốn bình quân của tất cả các nguồn vốn đó. Chi phí vốn bình quân của doanh nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào cấu trúc vốn của doanh nghiệp, cấu trúc vốn mà thay đổi thì chi phí vốn bình quân cũng thay đổi theo.

Chi phí vốn bình quân có trọng số WACC là chi phí bình quan gia quyền của tất cả các nguồn vốn dài hạn doanh nghiệp đang sử dụng. Chi phí vốn bình quân có trọng số WACC được tính bằng cách nhân chi phí vốn của từng nguồn tài trợ với tỷ trọng của nó trong cấu trúc vồn. Để tính WACC, ta sử dụng công thức sau: WACC = Wd * Kd (1 − T) + Wp * Kp + Ws * Ks + 𝑊𝑒 ∗ 𝐾𝑒

Trong đó:

  • Wd: Tỷ trọng của nợ.
  • Wp: Tỷ trọng của vốn cổ phần ưu đãi.
  • Ws: Tỷ trọng của vốn cổ phần thường.
  • We: Nguồn vốn cổ phần thường.
  • Kd: Chi phí nợ trước thuế. Kp: Chi phí cổ phần ưu đãi.
  • Ks: Chi phí lợi nhuận không chia.
  • Ke: Chi phí cổ phần thường mới phát hành. T: Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp.

Một số điểm cần lưu ý khi áp dụng chi phí vốn bình quân có trọng số WACC: Tổng trọng số các nguồn thành phần bằng 1.

  • Chi phí vốn vay là chi phí sau thuế.

Tỷ trọng nguồn vốn cổ phần thường sẽ được nhân với chi phí lợi nhuận giữ lại (Ks) hay chi phí cổ phần thường mới phát hành (Ke).

Chi phí vốn bình quân có trọng số WACC được các nhà quản lý lấy làm tỷ suất sinh lời tối thiểu doanh nghiệp phải dạt được trong quá trình hoạt động để giá trị cổ phần thường không bị giảm.

1.4. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả huy động vốn Khóa luận: Hoạt động huy động vốn tại Công ty Xây dựng HUD1.

Khi doanh nghiệp thực hiện huy động vốn từ các nguồn thì các chủ tài chính như ngân hàng, các chủ đầu tư thường cân nhắc và xem xét các chỉ tiêu về khả năng thanh toán, cơ cấu tài chính và các chỉ tiêu về khả năng sinh lợi vốn của doanh nghiệp.

1.4.1. Các chỉ số về khả năng thanh toán

  • Khả năng thanh toán nhanh

Ý nghĩa của khả năng thanh toán nhanh là khả năng doanh nghiệp dùng tiền hoặc tài sản có thể chuyển đổi nhanh thành tiền để trả nợ ngay khi đến hạn và quá hạn. Nếu chỉ số cao thể hiện khả năng thanh toán nhanh của Công ty tốt nhưng nếu quá cao sẽ là một biểu hiện không tốt khi đánh giá về khả năng sinh lời. Tỷ số này được cho là một thước đo thiếu khách quan bởi vì nó loại trừ giá trị hàng tồn kho nhưng trong nhiều trường hợp doanh nghiệp sẵn sàng bán dưới giá trị sổ sách các khoản hàng tồn kho để biến thành tiền mặt thật nhanh và bởi vì thường thì doanh nghiệp dùng tiền bán các tài sản lưu động để tái đầu tư.

  • Khả năng thanh khoản hiện hành

Ý nghĩa của khả năng thanh toán hiện hành là doanh nghiệp có thể sử dụng bao nhiêu đồng Tài sản ngắn hạn để chi trả các khoản nợ ngắn hạn. Tỷ số lớn hơn 1 thể hiện khả năng thanh toán ngắn hạn của doanh nghiệp trong tình trạng tốt. Nếu tỷ số này quá cao thì lại là một biểu hiện không tốt do việc tài sản ngắn hạn quá nhiều (tiền mặt, khoản phải thu, hàng tồn kho…) ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của Công ty.

  • Khả năng thanh toán tức thời

Tỷ số thanh khoản hiện thời cho biết cứ mỗi đồng nợ ngắn hạn mà doanh nghiệp đang giữ, thì doanh nghiệp có bao nhiêu đồng tài sản lưu động có thể sử dụng để thanh toán. Nếu tỷ số này nhỏ hơn 1 thì có nghĩa là doanh nghiệp không đủ tài sản có thể sử dụng ngay để thanh toán khoản nợ ngắn hạn sắp đáo hạn.

Khi đánh giá tình hình thanh khoản của doanh nghiệp, người phân tích thường so sánh tỷ số thanh khoản của một doanh nghiệp với tỷ số thanh khoản bình quân của toàn ngành mà doanh nghiệp đó tham gia.

1.4.2. Các chỉ số về quản lý nợ vay Khóa luận: Hoạt động huy động vốn tại Công ty Xây dựng HUD1.

Về mặt lý thuyết chỉ số này nằm trong khoảng > 0 và < 1 nhưng thông thường nó dao động xung quanh giá trị 0,5. Bởi vì lẽ nó tự điều chỉnh từ hai phía: chủ nợ và con nợ. Nếu chỉ số này càng cao, chủ nợ sẽ rất chặt chẽ khi quyết định cho vay thêm. Mặt khác về phía con nợ, nếu vay nợ quá nhiều sẽ bị mất chủ quyền kiểm soát nhiều bên đồng thời bị chia lợi nhuận quá nhiều cho sự vay nợ của mình.

  • Tỷ số khả năng trả nợ

Tỷ số này được tính ra bằng cách lấy tổng của Giá vốn hàng bán, khấu hao, và lợi nhuận trước thuế và lãi (EBIT) rồi chia cho tổng của nợ gốc và chi phí lãi vay.

Tỷ số này cho biết để chuẩn bị cho mỗi đồng trả nợ gốc và lãi, doanh nghiệp có bao nhiêu đồng có thể sử dụng được. Đây là một số chỉ tiêu liên quan đến việc huy động vốn được quan tâm xem xét bởi cả hai là doanh nghiệp đi vay và chủ cho vay.

  • Tỷ số khả năng trả lãi

EBIT (Earnings Before Interest & Tax): Thu nhập trước lãi vay và thuế.

Chỉ tiêu khả năng thanh toán lãi vay thể hiện đòn bẩy tài chính là đòn bẩy tài chính âm hay dương. Nếu chỉ tiêu này lớn hơn 1 tức là doanh nghiệp có được đòn bẩy tài chính dương, nếu chỉ tiêu này nhỏ hơn 1 tức là doanh nghiệp có đòn bẩy tài chính âm. Chỉ tiêu này được đánh giá thông qua so sánh với 1 và với các năm trước đó, nếu càng lớn thì kết hợp với các chỉ tiêu ở trên sẽ có thể kết luận được là việc sử dụng đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp có hiệu quả hay không, chỉ tiêu này càng lớn càng tốt.

  • So sánh tỷ lệ giữa khoản phải thu và khoản phải trả

Chỉ tiêu này phản ánh sự tương quan giữa các khoản tiền chiếm dụng của Công ty và các đối tác kinh tế. Chỉ số này lớn hơn 1 có nghĩa là các khoản phải thu lớn hơn các khoản phải trả chứng tỏ doanh nghiệp tích cực thu hổi các khoản nợ tồn đọng. Còn nếu chỉ số này nhỏ hơn 1 thì chứng tỏ doanh nghiệp bị chiếm dụng một lượng vốn lớn từ các nhà cung cấp và tổ chức tín dụng nên các khoản phải thu nhỏ hơn các khoản phải trả. Điều này làm ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của doanh nghiệp.

  • Tỷ số lợi nhuận sau thuế trên tổng nợ Khóa luận: Hoạt động huy động vốn tại Công ty Xây dựng HUD1.

Chỉ tiêu này cho biết, một đồng nợ vay tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Chỉ số này càng lớn chứng tỏ được rằng doanh nghiệp làm ăn có lãi. Khi chỉ số này lớn hơn 1, nghĩa là các khoản nợ vay nhỏ hơn lợi nhuận, tức là doanh nghiệp có những chính sách hợp lý giúp cho lợi nhuận tăng cao, đồng thời các khoản nợ được giảm trừ. Và ngược lại khi tỷ số này nhỏ hơn 1, tức là doanh nghiệp đang trong trạng thái vay nợ nhiều, dẫn đến lợi nhuận sau thuế giảm sút, tình hình doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn.

  • Tỷ số doanh thu thuần trên tổng nợ vay

Chỉ tiêu này phản ánh một đồng nợ vay tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu thuần. Chỉ số này lớn hơn 1 tức là doanh thu thuần lớn hơn tổng nợ vay, có nghĩa là doanh nghiệp làm ăn có lãi. Còn nếu chỉ số này nhỏ hơn, đồng nghĩa với việc doanh nghiệp này đang trong trạng thái khủng hoảng vì doanh thu không cao trong khi các khoản nợ liên tục tăng.

1.4.3. Các chỉ số về khả năng sinh lời

  • Thu nhập trên mỗi cổ phần thường

Thu nhập trên mỗi cổ phần thường (EPS – Earning per share) là một yếu tố quan trọng, quyết định đến giá trị của cổ phần bởi vì nó đo lường sức thu nhập chứa đựng trong một cổ phần hay nói cách khác nó thể hiện thu nhập mà nhà đầu tư có được do mua cổ phần. Chỉ tiêu này càng cao thì chứng tỏ doanh nghiệp này sử dụng đòn bẩy tài chính càng hiệu quả. Để thấy được việc sử dụng đòn bẩy tài chính có hiệu quả hay không so với năm trước thì ta lấy chỉ tiêu này so sánh với cũng chỉ tiêu này nhưng của năm trước đó. Nếu lớn hơn chứng tỏ doanh nghiệp đã tiến bộ trong quản lý tài chính mà cụ thể là nâng cao được hiệu quả sử dụng đòn bẩy tài chính. Thu nhập trên vốn cổ phần thường là mục tiêu của việc sử dụng đòn bẩy tài chính nên việc sử dụng chỉ tiêu này để đánh giá hiệu quả sử dụng đòn bẩy tài chính là tất yếu.

  • Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu Khóa luận: Hoạt động huy động vốn tại Công ty Xây dựng HUD1.

Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE – Return On Equity) là chỉ tiêu mà các nhà đầu tư rất quan tâm vì nó cho thấy khả năng sinh lời trên một đồng vốn họ bỏ ra để đầu tư vào doanh nghiệp. Nếu chỉ tiêu tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu càng cao thì chúng tỏ doanh nghiệp sử dụng ngày càng hiệu quả hơn những khoản vốn vay nên đã khuếch đại được tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu. Tăng mức doanh thu trên vốn chủ sở hữu là một mục tiêu quan trọng nhất trong hoạt động quản lý tài chính doanh nghiệp. Để đánh giá chỉ tiêu này, chúng ta có thể so sánh với chỉ tiêu này của năm trước hoặc với mức trung bình của ngành. Nếu một doanh nghiệp mà sử dụng hiệu quả đòn bẩy tài chính thì chỉ tiêu ROE sẽ cao và tăng nhanh qua các năm. Ngược lại, nếu sử dụng đòn bẩy tài chính một cách không hiệu quả thì chỉ tiêu này sẽ thấp hay không tăng hoặc thậm chí là giảm so với năm trước đó. Chính vì thế mà chỉ tiêu này được dùng để đánh giá hiệu quả sử dụng đòn bẩy tài chính.

  • Tỷ suất sinh lời trên doanh thu

(ROS – Return on sales): Tỷ suất sinh lời trên doanh thu. EAT (Earning After Tax): Thu nhập sau thuế.

Chỉ tiêu này cho biết với một đồng doanh thu thuần từ bán hàng và cung cấp dịch vụ sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận. Tỷ suất này càng lớn thì hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp càng cao. Tỷ số này mang giá trị dương nghĩa là Công ty kinh doanh có lãi; tỷ số càng lớn nghĩa là lãi càng lớn. Tỷ số mang giá trị âm nghĩa là Công ty kinh doanh thua lỗ.

Tuy nhiên, tỷ số này phụ thuộc vào đặc điểm kinh doanh của từng ngành. Vì thế, khi theo dõi tình hình sinh lợi của Công ty, người ta so sánh tỷ số này của Công ty với tỷ số bình quân của toàn ngành mà Công ty đó tham gia. Mặt khác, tỷ số này và số vòng quay tài sản có xu hướng ngược nhau. Do đó, khi đánh giá tỷ số này, người phân tích tài chính thường tìm hiểu nó trong sự kết hợp với số vòng quay tài sản.

  • Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản

Chỉ tiêu tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA – Return On Asset) dùng kết hợp với chỉ tiêu tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) để thấy được hiệu quả sử dụng đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp. Nếu tỷ số này lớn hơn 0, thì có nghĩa doanh nghiệp làm ăn có lãi. Tỷ số càng cao cho thấy doanh nghiệp làm ăn càng hiệu quả. Còn nếu tỷ số nhỏ hơn 0, thì doanh nghiệp làm ăn thua lỗ. Mức lãi hay lỗ được đo bằng phần trăm của giá trị bình quân tổng tài sản của doanh nghiệp. Tỷ số cho biết hiệu quả quản lý và sử dụng tài sản để tạo ra thu nhập của doanh nghiệp.

Tỷ số lợi nhuận ròng trên tài sản phụ thuộc vào mùa vụ kinh doanh và ngành nghề kinh doanh. Do đó, người phân tích tài chính doanh nghiệp chỉ sử dụng tỷ số này trong so sánh doanh nghiệp với bình quân toàn ngành hoặc với doanh nghiệp khác cùng ngành và so sánh cùng một thời kỳ.

  • So sánh khả năng sinh lời trên chi phí vốn

Tỷ số đánh giá hiệu quả sử dụng vốn và cho biết tỷ suất sinh lời của vốn đầu tư cho tài sản là lớn hơn hay nhỏ hơn chi phí vốn doanh nghiệp phải trả. Tỷ suất này càng lớn chứng tỏ hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp ngày càng cao. Chỉ số này lớn hơn 1 thể hiện doanh nghiệp bỏ ra chi phí vốn ít nhưng nhận lại được khoản thu nhập lớn và ngược lại khi nhỏ hơn 1 tức là doanh nghiệp phải bỏ ra nhiều chi phí nhưng không thu lại được kết quả cao.

1.4.4. Các chỉ số đánh giá khả năng đáp ứng nhu cầu vốn Khóa luận: Hoạt động huy động vốn tại Công ty Xây dựng HUD1.

  • Tỷ trọng nguồn vốn thường xuyên

Chỉ tiêu này phản ánh tính ổn định của nguồn tài trợ của doanh nghiệp và cho biết so với nguồn vốn của doanh nghiệp thì nhu cầu vốn thường xuyên chiếm tỷ lệ bao nhiêu. Tỉ số này càng lớn chứng tỏ nguồn tài trợ của doanh nghiệp có tính ổn định trong một thời gian dài và chưa chịu áp lực thanh toán trong ngắn hạn. Ngược lại, nếu tỷ suất này càng thấp chứng tỏ nguồn tài trợ của doanh nghiệp chủ yếu là nguồn ngắn hạn và doanh nghiệp chịu áp lực rất lớn trong thanh toán nợ ngắn hạn. Nếu doanh nghiệp không thanh toán kịp thời các khoản nợ thì có nguy cơ bị phá sản.

  • So sánh nguồn vốn thường xuyên trên tài sản dài hạn

Nếu nguồn vốn thường xuyên lớn hơn tài sản dài hạn (tỷ số nguồn vốn thường xuyên trên tài sản dài hạn lớn hơn 1) có thể nói rằng doanh nghiệp có nguồn tài chính chủ yếu dựa vào các khoản chiếm dụng dài hạn và nguồn vốn sẵn có của mình. Nguồn vốn thường xuyên thường là nguồn vốn có tính chất ổn định mà doanh nghiệp có thể sử dụng dài hạn vào hoạt động kinh doanh. Nó mang lại lợi nhuận lớn cho doanh nghiệp chính vì thế thường gặp phải rủi ro cao như chịu lãi suất lớn. Điều này đưa doanh nghiệp rơi vào tình trạng khó khăn. Nhưng nếu nguồn vốn thường xuyên nhỏ hơn tài sản dài hạn thì đây là một lợi thế mà doanh nghiệp cần nắm vững và có thể giúp doanh nghiệp thu về được nhiều lợi ích kinh tế trong tương lai.

  • Tỷ trọng nguồn vốn tạm thời

Nguồn vốn tạm thời = Nợ vay ngắn hạn + Nợ phải trả (người bán và người mua) + Nợ ngắn hạn khác (Nợ công nhân viên, nộp ngân sách…)

Hệ số này phản ánh trong nguồn vốn của doanh nghiệp hiện có thì nguồn hình thành từ nguồn vốn tạm thời chiếm bao nhiêu phần trăm. Tỉ số này càng lớn chứng tỏ doanh nghiệp sử dụng nguồn vốn tạm thời là chủ yếu, sẽ dẫn đến các khoản nợ vay ngắn hạn tăng lên nhiều, đồng nghĩa với việc khả năng duy trì nguồn vốn thấp và không ổn định. Ngược lại, nếu tỷ suất này càng thấp chứng tỏ nguồn tài trợ của doanh nghiệp có thể đáp ứng nhu cầu vốn trong khoảng thời gian ngắn phát sinh trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

  • So sánh nguồn vốn tạm thời trên tài sản ngắn hạn

Nếu nguồn tạm thời lớn hơn nguồn vốn ngắn hạn (tỷ số nguồn vốn tạm thời trên tài sản ngắn hạn lớn hơn 1), chứng tỏ doanh nghiệp nằm trong trạng thái nợ “ngập đầu”, đây là một điều vô cùng xấu với bất cứ doanh nghiệp nào và có khả năng dẫn đến phá sản. Trong khi nguồn vốn tạm thời là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn mà doanh nghiệp có thể sử dụng để đáp ứng các nhu cầu về vốn có tính chất tạm thời phát sinh trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Chính vì thế, các doanh nghiệp cần phải duy trì lượng tài sản ngắn hạn lớn hơn nguồn vốn tạm thời nhằm ngăn ngừa mọi khả năng xấu có thế đến.

1.5. Các nhân tố ảnh hưởng đến huy động vốn trong doanh nghiệp Khóa luận: Hoạt động huy động vốn tại Công ty Xây dựng HUD1.

Mở rộng huy động vốn của doanh nghiệp phụ thuộc vào hàng loạt các yếu tố khách quan như: trạng thái của nền kinh tế, chính sách thuế, trình độ phát triển của nền kinh tế, chính sách khuyến khích đầu tư của Nhà nước,… dưới đây là một số nhân tố quan trọng nhất được đề cập và phân tích.

1.5.1. Nhóm nhân tố khách quan

  • Ổn định chính trị và tăng trưởng kinh tế

Bất cứ một quốc gia nào nếu chính trị không ổn định sẽ có tác động trực tiếp hay gián tiếp tới hoạt động của quốc gia đó. Nếu chính trị ổn định sẽ tạo cơ hội để các doanh nghiệp thu hút được nhiều nguồn vốn qua nhiều kênh huy động, đáp ứng kịp thời cho các nhu cầu kinh doanh. Bên cạnh những yếu tố ổn định chính trị thì tăng trưởng kinh tế có ý nghĩa cực kì quan trọng trong việc huy động vốn.

Là nhân tố mà doanh nghiệp không thể kiểm soát được, nó tác động liên tục đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp theo những xu hướng khác nhau, vừa tạo ra cơ hội vừa hạn chế khả năng thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp. Hoạt động kinh doanh đòi hỏi phải thường xuyên nắm bắt được các nhân tố này, xu hướng hoạt động và sự tác động của các nhân tố đó lên toàn bộ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

  • Trình độ phát triển của nền kinh tế

Một nền kinh tế phát triển càng cao thì khả năng tập trung huy động thu hút vốn càng mạnh và các phương thức huy động vốn cũng phong phú đa dạng hơn. Do nền kinh tế Việt Nam vẫn ở trình độ thấp so với thế giới, thị trường tài chính, các tổ chức phi tài chính trung gian mới hình thành và phát triển nên việc mở rộng huy động vốn của doanh nghiệp cũng có những nét đặc thù riêng. Các phương thức huy động vốn truyền thống như sử dụng tín dụng ngân hàng và góp vốn đầu tư trong nước (phổ biến), các phương thức huy động vốn mới từ phát hành cổ phiếu trên thị trường chững khoán trong và ngoài nước, phát hành trái phiếu ra thị trường nước ngoài hay thu hút đầu tư từ các quỹ đầu tư nước ngoài chưa được các doanh nghiệp xem xét sử dụng một cách phù hợp. Do đó, việc huy động vốn dài hạn cho doanh nghiệp còn gặp nhiều hạn chế và khó khăn, quy mô vốn chưa đáp ứng được nhu cầu mở rộng phát triển.

  • Thị trường Khóa luận: Hoạt động huy động vốn tại Công ty Xây dựng HUD1.

Thị trường là nhân tố quan trọng quyết định tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Trong đó thị trường vốn quyết định tới việc huy động vốn của doanh nghiệp còn thị trường hàng hóa quyết định tới việc sử dụng vốn. Thị trường tiêu thụ sản phẩm có tác động lớn đến doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp. Nếu các thị trường này phát triển ổn định sẽ là nhân tố tích cực thúc đẩy doanh nghiệp tái sản xuất mở rộng và tăng thị phần. Do đó có thể nói yếu tố thị trường có ảnh hưởng lớn đến tình hình tài chính của doanh nghiệp.

  • Về cơ chế chính sách kinh tế

Vai trò điều tiết của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường là điều không thể thiếu. Điều này được quy định trong các Nghị quyết TW Đảng. Các cơ chế, chính sách này có tác động không nhỏ tới tình hình tài chính của doanh nghiệp. Ví dụ như từ cơ chế giao vốn, đánh giá lại tài sản, sự thay đổi các chính sách thuế (thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế xuất nhập khẩu…), chính sách cho vay, bảo hộ và khuyến khích nhập khẩu công nghệ… đều ảnh hưởng tới quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp từ đó ảnh hưởng tới tình hình tài chính.

  • Chính sách thuế

Chính sách thuế là một trong những công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước đối với nền kinh tế. Mỗi chính sách thuế cơ bản bao gồm: đối tượng chịu thuế, đối tượng nộp thuế, miễn, giảm thuế và thuế suất. Sự thay đổi trong các thành phần trên thể hiện chính sách khuyến khích, ưu đãi của Nhà nước với từng đối tượng trong từng thời kỳ. Một doanh nghiệp năm trong danh sách đối tượng miễn, giảm thuế sẽ có động lực lớn hơn để tăng quy mô, huy động thêm vốn. Các doanh nghiệp chịu thuế sẽ e dè hơn trong việc mở rộng sản xuất bởi lợi nhuận kinh doanh sẽ phải chịu một khoản thuế lớn. Đối với doanh nghiêp cổ phần, chính sách thuế có tác động rất lớn tới phương thức huy động vốn bởi nó có liên quan tới chi phí sử dụng vốn của doanh nghiệp. Hiện nay, nguồn thu nhập từ cổ tức vừa chịu thuế thu nhập doanh nghiệp vừa chịu thuế thu nhập cá nhân trong khi lãi vay không chịu thuế thu nhập doanh nghiệp, nên các doanh nghiệp có xu hướng ưa thích huy động vốn tín dụng Ngân hàng.

  • Chính sách lãi suất

Bất kỳ một tổ chức nào từ doanh nghiệp, ngân hàng, tổ chức tài chính khác, dân chúng đều rất coi trọng và quan tâm đến vẫn đề lãi suất. Lãi suất sẽ quyết định đến lượng vốn huy động được từ tín dụng thương mại của doanh nghiệp. Lãi suất càng cao càng bất lợi cho doanh nghiệp vì chi phí huy động và sử dụng vốn lớn, từ đó ảnh hưởng đến lợi nhuận đạt được của doanh nghiệp.

1.5.2. Nhóm nhân tố chủ quan Khóa luận: Hoạt động huy động vốn tại Công ty Xây dựng HUD1.

  • Hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Đây là một yếu tố quan trọng quyết định đến khả năng huy động vốn của Công ty. Để đánh giá được hiệu quả sản xuất kinh doanh ta cần dựa vào bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đồng thời thực hiện phân tích, đánh giá các chỉ số phẩn ánh đến khả năng huy động vốn như chỉ số doanh thu trên vốn chủ,…Nếu kết quả sản xuất kinh doanh mà thấp thì khó lòng thuyết phục được các nhà đấu tư hoặc các tổ chức tài chính cho vay vốn hay đầu tư vào Công ty.

  • Uy tín và quan hệ giữa doanh nghiệp với các tổ chức tài chính

Nếu doanh nghiệp có uy tín và mối quan hệ tốt với các tổ chức tài chính thì việc vay vốn sẽ gặp nhiều thuận lợi hơn. Để huy động được vốn, doanh nghiệp có thể không cần phải có tài sản đảm bảo hay thế chấp vì có uy tín lớn, tạo dựng được các mối quan hệ lâu dài và bền vững. Từ đó giảm thiểu được các chi phí trong công tác huy động vốn thậm chí là trong hoạt động sử dụng vốn của doanh nghiệp. Khóa luận: Hoạt động huy động vốn tại Công ty Xây dựng HUD1.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>> Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Công ty Xây dựng HUD1

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

1 Bình luận
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
trackback

[…] ===>> Khóa luận: Hoạt động huy động vốn tại Công ty Xây dựng HUD1 […]

Contact Me on Zalo
0877682993
1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x