Khóa luận: Giải pháp tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính

Rate this post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Giải pháp tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Khóa luận: Một số giải pháp hạn chế sự ảnh hưởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng tới hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

3.1. Dự báo về khủng hoảng và tình hình kinh tế trong thời gian tới:

Cuộc khủng hoảng sẽ kéo dài đến bao giờ? Đây là câu hỏi đang được đề cập đến ở nhiều diễn đàn khác nhau. Rất khó có thể đưa ra câu trả lời chính xác, tuy nhiên nhiều tổ chức và chuyên gia có uy tín đều đưa ra dự báo rằng thế giới chưa thể ra khỏi khủng hoảng trong năm 2026, bởi lẽ khủng hoảng đang ngày càng lan rộng, thấm sâu vào từng nền kinh tế.Nhiều ý kiến còn cho rằng năm 2026 còn khó khăn nhiều hơn so với năm 2025.

Theo WB, kinh tế thế giới tăng trưởng ở mức 2,5% trong năm 2025 và 0,9% trong năm 2026.

3.1.1 Dự báo của các tổ chức về tình hình thế giới trong khủng hoảng

Trước tình hình trên các tổ chức quốc tế như IMF, WB, OECD, Reuters… đã đưa ra một loạt các dự báo về tăng trưởng kinh tế thế giới, theo các dự báo này thì tăng trưởng kinh tế thế giới và các nước trên thế giới năm 2025 giảm so với năm 2024, và tiếp tục giảm trong năm 2026.

Dự báo của IMF: Theo đánh giá của IMF, triển vọng kinh tế toàn cầu tiếp tục giảm trong thời gian tới. Lòng tin kinh doanh và người tiêu dùng đều giảm mạnh. Kinh tế các nước phát triển tiếp tục giảm mạnh trong năm tới. Kinh tế các nước mới nổi cũng giảm nhưng vẫn đạt được 5% trong năm 2026. Kinh tế Mỹ và khu vực EURO giảm chủ yếu do giá tài sản tài chính giảm và thắt chặt các điều kiện cho vay. Kinh tế Nhật giảm chủ yếu là do giảm xuất khẩu ròng. Kinh tế Khu vực Đông Á chịu ảnh hưởng ít hơn do được lợi từ việc giá hàng hoá giảm, đồng thời họ cũng đã bắt đầu thực hiện chính sách kinh tế vĩ mô nới lỏng. Những dự báo này là dựa trên chính sách hiện tại vì vậy trong thời gian tới có các biện pháp ứng phó trên toàn cầu để nhằm hộ trợ và thúc đẩy thị trường tài chính thì có thể tăng trưởng kinh tế thế giới cũng như các nước không giảm mạnh như mức dự báo. Tuy nhiên vẫn phải có thời gian để những nỗ lực này phát huy tác dụng, và IMF cũng dự đoán là kinh tế có thể chuyển sang giai đoạn phục hồi vào cuối năm 2026 (xem Bảng 5).

  • Bảng 5: Dự báo của IMF

Dự báo của Worldbank (WB): WB gần đây cũng dự báo kinh tế thế giới giảm, thậm chí mức tăng trưởng còn thấp hơn dự báo của IMF. Dự báo kinh tế thế giới và tất cả các nước đều có mức giảm hơn so với năm 2025 và mức giảm này vẫn tiếp tục trong năm 2026 (xem Bảng 6).

  • Bảng 6: Dự báo của WB

Dự báo của tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế, Citi Group, Reuters cũng giảm cùng xu hướng với 2 dự báo trên:

  • Bảng 7:Dự báo của tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD)
  • Bảng 8: Dự báo của Citi group
  • Bảng 9: Dự báo của Reuters

Về thời điểm phục hồi kinh tế thế giới: Đa số các nhà kinh tế đều cho rằng nền kinh tế thế giới chưa có dấu hiệu phục hồi trước năm 2027: Khóa luận: Giải pháp tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính.

Tại Hội nghị cấp cao Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) lần thứ 16 tại Lima (Peru), ngày 23-11, lãnh đạo các nước thành viên cho rằng trong 18 tháng tới (tức giữa năm 2027) thế giới sẽ vượt qua được “cơn bão” tài chính đang đe dọa nhấn chìm thế giới vào suy thoái kinh tế hiện nay.

Theo Tổng giám đốc Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) cho biết sẽ có bản phúc trình của IMF vào đầu năm 2026, theo ông toàn bộ kinh tế thế giới sẽ tiếp tục suy thoái, năm 2026 sẽ là năm cực kỳ khó khăn và sẽ không có dấu hiệu phục hồi trước đầu năm 2027. Những cảnh báo kể trên của IMF là có cơ sở trong bối cảnh các nền kinh tế lớn trên thế giới đều đang lún sâu vào suy thoái, bất chấp hàng nghìn tỷ USD đã được sử dụng để chống khủng hoảng tài chính và kích cầu kinh tế.

  • Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) cũng vừa đưa ra nhận định:

Tại châu Á – khu vực kinh tế năng động nhất thế giới hiện nay, năm 2026 sẽ đầy thách thức. Tỷ lệ tăng trưởng trung bình của các nền kinh tế đang trỗi dậy tại Đông Á sẽ giảm xuống 5,7%, so với mức ước đạt 6,9% năm 2025.

Kinh tế Mỹ, nền kinh tế lớn nhất thế giới, sau khi suy thoái kinh tế đẩy hàng loạt nhà sản xuất vào cảnh phá sản, tỷ lệ thất nghiệp tăng vọt lên 6,7% trong tháng 11, tình trạng giảm phát đang hiện hữu. Bộ Lao động Mỹ ngày 16/12 cho biết chỉ số giá tiêu dùng đã giảm 1,7% trong tháng 11 vừa qua và là mức giảm lớn nhất kể từ tháng 2/1947. Một số nhà kinh tế lo ngại, vì chỉ số này giảm 2 tháng liên tiếp và chứng tỏ xu hướng thiểu phát của nền kinh tế.

Kinh tế khu vực đồng Euro và Anh cũng đang ngày một lún sâu hơn vào suy thoái. Tính đến tháng 12/2025, toàn bộ 15 nước thành viên khối khu vực đồng Euro thông báo nền kinh tế của những nước này trong quý 3 đều trong tình trạng xấu nhất từ trước đến nay. Đến nay, các hoạt động trong lĩnh vực kinh tế tư nhân tại khu vực đồng Euro đã tăng trưởng âm trong 7 tháng liên tục. GDP của khu vực này dự đoán sẽ tăng trưởng âm 0,6% trong quý 4/2025. Nền kinh tế khu vực xấu đi đã gây sức ép buộc Ngân hàng trung ương châu Âu phải xem xét khả năng tiếp tục cắt giảm mức lãi suất, trong khi mức lãi suất hiện đã giảm xuống còn 2,5%.

Trước nguy cơ kinh tế toàn cầu suy thoái, WB cũng đã đưa ra cảnh báo tương tự như IMF và ADB. Trong những mối đe dọa lớn nhất dự kiến có thể xảy ra trong năm tới, có cả việc các hệ thống tín dụng không hiệu quả, nạn thất nghiệp gia tăng ở tất cả các nước và tình trạng khó khăn ngày càng nghiêm trọng hơn đối với các nước nghèo nhất thế giới. Trong đó Mỹ thừa nhận suy thoái từ tháng 12/2024, các nước còn lại đều công bố suy thoái từ tháng 11/2025

3.1.2 Dự báo về tình hình xuất nhập khẩu của Việt Nam trong năm 2026 Khóa luận: Giải pháp tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính.

3.1.2.1. Xuất khẩu hàng hoá

Theo chỉ tiêu Quốc hội đề ra thì tốc độ tăng trưởng xuất khẩu năm 2026 là 13% đòi hỏi sự nỗ lực rất cao của toàn ngành và cũng rất nhiều khó khăn để có thể đạt được vì:

  • Do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính mà tăng trưởng kinh tế toàn cầu sẽ suy giảm
  • Hàng hoá Việt Nam phải cạnh tranh khốc liệt hơn với hàng hoá cùng chủng loại của các nước châu Á như nông sản, thuỷ sản, dệt may, giầy dép, điện tử trong khi nhu cầu nhập khẩu của các thị trường chủ lực (Hoa Kỳ, EU) có xu hướng giảm. Các nhà nhập khẩu gặp khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn vay để nhập khẩu hàng hoá.
  • Thuận lợi về giá như năm 2025 nhìn chung sẽ không còn, trong khi khả năng tiêu thụ tại các thị trường giảm.
  • Sản lượng một số mặt hàng nông sản, khoáng sản đã đến ngưỡng, khó có khả năng tăng trưởng cao, đặc biệt lượng dầu thô xuất khẩu sẽ giảm khoảng 3,3-4 triệu tấn do làm nguyên liệu cho nhà máy lọc dầu Dung Quất.
  • Nhiều hàng rào phi thuế và các biện pháp bảo hộ tinh vi được các nước dựng lên có ảnh hưởng đến các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam

Do vậy trong hoạt động xuất khẩu, cần phải tìm ra những yếu tố mới như mặt hàng xuất khẩu mới, thị trường xuất khẩu mới, đẩy nhanh các dự án đầu tư sản xuất hàng xuất khẩu mới đi vào hoạt động…và tập trung chỉ đạo quyết liệt tùng nhóm hàng chủ lực như sau:

  • a/ Nhóm hàng khoáng sản:

Nhóm này khó có khả năng tăng trưởng trong năm 2026 do sản lượng dầu thô và than đá xuất khẩu giảm mạnh phục vụ nhu cầu sản xuất và tiêu thụ trong nước, giá xuất khẩu sẽ không ở mức cao như năm 2025. Dự báo, kim ngạch nhóm này đạt khoảng 5,92 tỷ USD, giảm 5,97 tỷ USD tương đương với giảm 50,2% so với năm 2025 và chỉ chiếm tỷ trọng 8,3% trong tổng kim ngạch xuất khẩu.. Khóa luận: Giải pháp tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính.

Giá xuất khẩu dầu thô theo kế hoạch dự báo khoảng 50 USD/thùng, lượng xuất khẩu khoảng 12 triệu tấn ( khoảng 4,61 tỷ USD), như vậy xuất khẩu dầu thô năm 2026 sẽ giảm 55,9% về trị giá và 13,7% về lượng Mặt hàng than đá do chủ trương kiểm soát xuất khẩu tài nguyên nên lượng xuất khẩu dự kiến là 20 triệu tấn, thêm nữa giá xuất khẩu dự kiến sẽ không ở mức cao như năm 2025 vì vậy KNXK cũng sẽ giảm sút.

  • b/ Nhóm hàng nông, lâm, thủy sản

Nhóm này khó có khả năng tăng trưởng trong năm 2026 do hạn chế về cơ cấu sản lượng và đặc biệt giá nhiều mặt hàng chủ lực sẽ ở mức thấp so với năm 2025. Dự báo, kim ngạch nhóm này đạt khoảng 12,23 tỷ USD, giảm 628 triệu USD, tương đương 4,8% so với năm 2025.

Mặt hàng gạo sẽ không gặp khó khăn về thị trường do diện tích canh tác trên toàn thế giới có xu hướng ngày càng bị thu hẹp. Dự kiến, năm 2026 xuất khẩu 4,8 triệu tấn, tương đương trên 1,95 tỷ USD, tăng 1,7% so với năm Tuy nhiên giá xuất khẩu sẽ tiếp tục xu hướng giảm, vì thế trị giá sẽ giảm khoảng 32,8% so với năm 2025, tương đương 952 triệu USD.

Xuất khẩu cà phê cũng không gặp khó khăn về thị trường, nhưng cần quan tâm đến nâng cao giá trị tăng thêm trên một đơn vị sản phẩm xuất khẩu để nâng cao kim ngạch. Dự kiến, năm 2026 xuất khẩu đạt 2,1 tỷ USD với khối lượng xuất khẩu 1,1 triệu tấn, tăng 9,6% về lượng, nhưng giảm 4,5% về trị giá.

Đối với các mặt hàng cao su, hạt tiêu, nhân điều, chè, dự kiến số lượng xuất khẩu sẽ có mức tăng nhẹ về lượng. Nhưng do hạn chế về năng lực sản xuất, chế biến và giá xuất khẩu cũng sẽ không ở mức cao như năm 2025 nên không có tăng đột biến về kim ngạch xuất khẩu (ước tăng khoảng 10-15%).

Mặt hàng thuỷ sản vẫn gặp khó khăn do các nước đang đặt ra hàng rào kỹ thuật mới, kiểm dịch chặt chẽ và thường xuyên ban hành các tiêu chuẩn mới. Tuy nhiên, những thị trường truyền thống của Việt Nam vẫn được duy trì và năng lực sản xuất được cải thiện nên dự kiến kim ngạch ước tăng 11,8 % so năm 2025, chiếm tỷ trọng cao nhất trong nhóm hàng nông lâm, thuỷ sản.

  • c/ Nhóm hàng công nghiệp chế biến: Khóa luận: Giải pháp tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính.

Đây là nhóm quan trọng nhất, chiếm tỷ trọng trên 70% tổng kim ngạch xuất khẩu. Do kim ngạch xuất khẩu 2 nhóm hàng khoáng sản và nông lâm, thuỷ sản sẽ giảm trong năm 2026 (giảm khoảng 6,6 tỷ USD). Vì vậy, tăng trưởng xuất khẩu năm 2026 sẽ đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng thuộc nhóm này. Dự kiến kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng công nghiệp chế biến cũng chỉ đạt khoảng 52,9 tỷ USD, tăng 38,7% so với năm 2025, tương đương 14,7 tỷ USD. Cần đặc biệt quan tâm chỉ đạo 2 mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn là mặt hàng dệt may (11,5 tỷ USD), da giày (5,1 tỷ USD), hàng điện tử và linh kiện máy tính (4,1 tỷ USD), sản phẩm gỗ (3,0 tỷ USD).

Năm 2026, Mỹ sẽ bỏ hoàn toàn hạn ngạch hàng dệt may đối với Trung Quốc tạo nên sức ép cạnh tranh lớn đối với hàng Việt Nam, nhưng hàng Việt Nam cũng sẽ được quan tâm hơn do thâm hụt thương mại Hoa Kỳ – Trung Quốc quá lớn. Phấn đấu năm 2026 kim ngạch hàng dệt may tăng khoảng 25%.

Đối với hàng giày dép, EU vẫn là thị trường trọng điểm, nhưng năm 2026, giày của Việt Nam không được hưởng ưu đãi thuế quan của EU, nhưng mặt hàng giầy dép vẫn có nhiều khả năng để gia tăng kim ngạch xuất khẩu thông qua việc mở rộng sản xuất, đa dạng hoá thị trường xuất khẩu và tăng cường hàm lượng giá trị gia tăng của sản phẩm xuất khẩu bằng cách tập trung vào khâu thiết kế kiểu dáng, tạo mẫu sản phẩm…

Sản phẩm gỗ là mặt hàng đã khẳng định được vị trí vững chắc trong cơ cấu xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam, ngoài các thị trường tiềm năng như Nhật Bản, EU, đồ gỗ Việt Nam có khả năng thâm nhập thị trường Mỹ do thuế suất nhập khẩu vào Mỹ thấp. Tuy nhiên năm 2026 cũng sẽ gặp khó khăn do Đạo luật Lacey được ban hành bắt đầu có hiệu lực vào cuối năm nay trong đó sẽ thắt chặt hơn việc kiểm soát nguồn gốc sản phẩm gỗ;. Vì vậy, dự kiến kim ngạch tăng khoảng 8% so với năm 2025.

Sản phẩm nhựa là mặt hàng được đánh giá có khả năng cạnh tranh cao do tiếp cận được với công nghệ hiện đại, có thị trường rộng lớn và không quá khó để thâm nhập, đồng thời xuất khẩu mặt hàng này được hưởng mức thuế thấp hoặc được đối xử ngang bằng như các nước xuất khẩu khác ở hầu hết các thị trường. Vì vậy dự kiến kim ngạch sẽ vượt ngưỡng trên 1 tỷ USD tăng 39,8% so với năm 2025.

Dây điện và cáp điện là mặt hàng có khả năng gia tăng kim ngạch xuất khẩu lớn do xu hướng đầu tư của các doanh nghiệp trong nước và FĐI khá mạnh mẽ. Dự kiến kim ngạch đạt 1,4 tỷ USD, tăng 34% so năm 2025.

Ngoài những mặt hàng trên còn một số mặt hàng như túi xách, va li, ô dù, sản phẩm từ cao su, sản phẩm từ gang thép hay tàu thuyền các loại đều là những mặt hàng dự kiến tăng khá trong năm 2026, ở mức trên 30%, riêng mặt hàng tàu thuyền là nhân tố mới nổi được đánh giá là mặt hàng có tốc độ tăng nhanh trong thời gian tới.

3.1.2.2 Về thị trường xuất khẩu Khóa luận: Giải pháp tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính.

Tiếp tục quán triệt phương châm đa phương hóa và đa dạng hóa thị trường. Các thị trường chủ lực của ta trong năm 2026 vẫn là thị trường châu Á (Nhật Bản, ASEAN, Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông), châu Âu (chủ yếu là EU), Bắc Mỹ (Hoa kỳ, Canada) và châu Đại dương (Australia). Tiếp tục khai thác và thâm nhập một số thị trường truyền thống như Nga, Đông Âu hoặc thị trường mới như Trung Đông, Mỹ La tinh, châu Phi. Các thị trường lớn như châu Á, châu Âu, châu Mỹ cần phấn đấu tăng trưởng cao hơn mức tăng bình quân chung là 13%.

Cơ cấu thị trường xuất khẩu 2026, Bộ Công Thương dự kiến như sau:

  • Bảng 10: Cơ cấu thị trường xuất khẩu 2026

Khu vực thị trường Châu Á và Châu Đại Dương: Dự báo xuất khẩu vào các thị trường chính như Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan sẽ giảm so với năm 2025, đặc biệt là thị trường ASEAN do xuất khẩu xăng dầu sang thị trường này giảm. Kế hoạch năm 2026 xuất khẩu hàng hóa vào thị trường Châu Á đạt 31,6 tỷ USD, tăng 13 % so với năm 2025; Khu vực thị trường Châu Đại Dương dự kiến giảm còn bằng 91,8% so với năm 2025 đạt 3,9 tỷ USD cũng bởi nguyên nhân trên.

Việc thực hiện đầy đủ các cam kết theo CEPT/AFTA đã và đang tạo điều kiện cho hàng hoá Việt Nam thâm nhập vào thị trường các nước này, song do kim ngạch xuất khẩu vào ASEAN tăng chậm so với tốc độ tăng trưởng bình quân, trong khi kim ngạch nhập khẩu từ ASEAN tăng tương đối nhanh nên nhập siêu từ khu vực này tiếp tục tăng.

  1. Khu vực thị trường Châu Âu: Năm 2026, xuất khẩu những hàng hóa chủ yếu vào thị trường EU dự báo sẽ giảm như dệt may, giầy dép vì nhu cầu tiêu dùng giảm do khủng hoảng kinh tế các mặt hàng có khả năng tăng là sản phẩm nhựa, hàng điện tử, hàng thủy sản. Tổng kim ngạch xuất khẩu dự kiến đạt 13,3 tỷ USD, tăng 15%.
  2. Khu vực thị trường Châu Mỹ: Do cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ nên tăng trưởng nhập khẩu của Hoa Kỳ năm 2026 dự báo sẽ giảm (trừ những nhóm hàng nhiên liệu và một số nông sản có thể vẫn tăng do vẫn có nhu cầu tiêu dùng và tăng giá) nhất là đối với các nhóm hàng xuất khẩu chính của Việt Nam như may mặc, giầy dép, vali, túi xách, đồ gỗ, đồ điện tử, cáp điện, sản phẩm nhựa, hạt điều, cà phê. Dự kiến kim ngạch xuất khẩu năm 2026 đạt 14,6 tỷ USD, tăng 13% so với năm 2025, trong đó Hoa Kỳ đạt 12,7 tỷ USD, tăng 10%. Các mặt hàng như sản phẩm gỗ, dệt may, giầy dép, cà phê, thủy sản vẫn là những mặt hàng đóng góp lớn vào tăng trưởng.
  3. Khu vực thị trường Châu Phi: Dự báo tình hình phát triển kinh tế tại khu vực này có thuận lợi ở một số thị trường và không có đột biến trong chính sách thương mại, đòi hỏi ở thị trường này không quá khắt khe, vì vậy đây là thị trường rất tiềm năng cho Việt Nam, năm 2026 phấn đấu xuất khẩu đạt 2,3 tỷ USD, tăng 89% so với năm 2025.

3.1.2.3. Nhập khẩu Khóa luận: Giải pháp tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính.

  • Dự kiến nhập khẩu năm 2026 sẽ không tăng đột biến năm 2025 vì:

Tiếp tục thực hiện các biện pháp của Chính phủ đã ban hành nhằm kiềm chế lạm phát, thực hiện tiết kiệm trong chi phí công, cắt giảm đầu tư các công trình không hiệu quả hoặc chưa cần thiết, xử lý linh hoạt việc tăng thuế nhập khẩu, nộp thuế trước khi thông quan, quản lý nhập khẩu bằng giấy phép tự động…

  • Giá nhiều loại nguyên nhiên vật liệu đầu vào giảm mạnh 30-50% so với năm 2025 như sắt thép, phôi thép, phân bón, xăng dầu làm cho trị giá nhập khẩu giảm nhiều mặc dù lượng có thể tăng nhẹ so với năm 2025 (chỉ tính riêng 4 mặt hàng này ước giảm do giá khoảng 6 tỷ USD).
  • Lượng xăng dầu nhập khẩu giảm do nhà máy lọc dầu Dung Quất đi vào hoạt động. Lượng nhập khẩu năm 2026 ước khoảng 11 triệu tấn với kim ngạch khoảng 6 tỷ USD (giá bình quân 545 USD/tấn), giảm trên 5 tỷ USD so với năm
  • Nhu cầu nhập khẩu nguyên liệu để sản xuất hàng xuất khẩu giảm do khó khăn về thị trường, vốn, lãi suất… Doanh nghiệp và người dân cũng sẽ tiết kiệm hơn trong sản xuất, tiêu dùng.
  • Việc nhập khẩu với số lượng lớn để đầu cơ giá lên như trong năm 2025 đối với mặt hàng sắt thép, phôi thép nhiều khả năng không còn. Ngoài ra, việc nhập khẩu vàng tiếp tục được kiểm soát và hạn chế.

Với những biện pháp và tình hình như đã phân tích ở trên, dự kiến kim ngạch nhập khẩu năm 2026, ở mức 90,3 tỷ USD, tăng 13% so với năm 2025. Như vậy, nhập siêu sẽ ở mức khoảng 19,2 tỷ USD bằng 27% xuất khẩu KNXK.

3.2. Những giải pháp hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng Khóa luận: Giải pháp tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính.

Trong thời gian qua, Chính phủ Việt Nam đã luôn bám sát diễn biến tình hình kinh tế, nghiêm túc xem xét các vấn đề kinh tế nổi lên và đưa ra các quyết sách nhằm hạn chế những tác động tiêu cực, tạo điều kiện thuận lợi cho nền kinh tế phát triển.

Trước tình hình lạm phát tăng cao trong những tháng đầu năm 2025, Chính phủ đã đề ra và tập trung thực hiện 8 nhóm giải pháp, và điều chỉnh, bổ sung khi tình hình đã thay đổi nên đã kiềm chế lạm phát, giảm rõ rệt mức nhập siêu của những tháng cuối năm. Từ khi nhận thức được tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ và suy thoái kinh tế toàn cầu đối với nước ta, Chính phủ đã đề ra gói giải pháp mới để bảo đảm tình hình kinh tế, giữ mức tăng trưởng hợp lý, đồng thời chuẩn bị đối phó với tình trạng có thể tồi tệ hơn do kinh tế thế giới suy thoái trong năm 2026. Gói giải pháp này bao gồm 5 nhóm giải pháp chính sau đây:

Thứ nhất, thúc đẩy sản xuất – kinh doanh và đẩy mạnh xuất khẩu. Chính phủ có chính sách tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp sản xuất – kinh doanh, cho những người trực tiếp sản xuất, nhất là nông dân và người nghèo về chính sách thuế, vay vốn ngân hàng, hoãn nợ, giãn nợ ngân hàng, hỗ trợ về cây, con giống… miễn là không vi phạm các quy định của WTO.

Thứ hai, đẩy mạnh kich cầu đầu tư và tiêu dùng. Chính phủ khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đầu tư vào các lĩnh vực như xây dựng cơ sở hạ tầng, giao thông vận tải, điện, xi măng…Chính phủ cũng phát hành thêm trái phiếu Chính phủ, linh động cơ chế thầu, chỉ định thầu đối với các công trình ở vùng sâu, vùng xa, tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp, khuyến khích doanh nghiệp xây dựng nhà ở cho người nghèo, cho công nhân để giải quyết vấn đề tồn đọng của hàng hóa, vật liệu xây dựng.

Thứ ba, thực hiện chính sách tài chính – tiền tệ linh hoạt, hiệu quả nhằm thúc đẩy sản xuất – kinh doanh, xuất khẩu, kích cầu đầu tư và tiêu dùng, đảm bảo an sinh xã hội. Chính phủ giữ lãi suất, thuế ở mức phù hợp.

Thứ tư, tiếp tục thực hiện chính sách an sinh xã hội, trong đó có đề án giảm nghèo ở 61 huyện nghèo, bảo hiểm thất nghiệp. Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo không để nhân dân thiếu đói và chỉ đạo Bộ Tài chính mua trên 150.000 tấn gạo, nhu yếu phẩm dự trữ.

Thứ năm, quyết liệt, linh hoạt, kịp thời và hiệu quả trong tổ chức chỉ đạo, điều hành cho phù hợp với tình hình mới. Trong đó, tập trung chủ động về công tác dự báo, phân tích, đặt nhiệm vụ dự báo sát với tình hình thế giới là việc làm thường xuyên, liên tục của các ngành, các cấp, các tổ chức nghiên cứu khoa học….

Lường trước những tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, ngày 11/12/2025, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 30/2025/NQ-CP về những giải pháp cấp bách nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, yêu cầu các Bộ, các địa phương tổ chức triển khai thực hiện ngay. Cụ thể là :

3.2.1 Các giải pháp đối với lĩnh vực ngân hàng: Khóa luận: Giải pháp tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính.

NHNN tạo điều kiện tăng cường khả năng tiếp cận vốn tín dụng cho các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh hàng xuất khẩu và doanh nghiệp gặp khó khăn trong tiêu thụ sản phẩm, như tiếp tục xem xét giảm dự trữ bắt buộc, điều chỉnh giảm lãi suất cơ bản phù hợp để hỗ trợ doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh.

Hướng dẫn các tổ chức tín dụng thực hiện cho vay theo lãi suất thỏa thuận quy định tại Nghị quyết số 23/2025/QH12 của Quốc hội.

Các NHTM thực hiện việc cơ cấu lại thời hạn nợ và áp dụng các giải pháp xử lý nợ vay vốn ngân hàng phù hợp với quy định của pháp luật đối với các hộ nông dân bị thiệt hại do thiên tai và các doanh nghiệp gặp khó khăn trong tiêu thụ sản phẩm.

Điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt, hiệu quả, điều chỉnh linh hoạt tỷ giá ngoại tệ theo tín hiệu thị trường, khuyến khích xuất khẩu, kiểm soát nhập khẩu, ổn định kinh tế vĩ mô, phấn đấu điều hành cán cân thanh toán quốc tế theo hướng không để thâm hụt.

NHNN chỉ đạo các NHTM xem xét điều chỉnh áp dụng lãi suất cho vay của các hợp đồng tín dụng xuống phù hợp theo mức lãi suất hiện hành, không phạt do quá hạn đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa khó khăn. Chính phủ giao Ngân hàng Phát triển Việt Nam thực hiện nhiệm vụ bảo lãnh tín dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa nhằm hỗ trợ tốt hơn cho các doanh nghiệp này tiếp cận nguồn vốn vay để phát triển sản xuất, kinh doanh, tạo thêm việc làm.

3.2.2  Các biện pháp nhằm giảm, giãn thuế:

Giảm 30% số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp của quý IV/2025 và số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp năm 2026 đối với thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Giãn thời hạn nộp thuế thu nhập doanh nghiệp trong thời gian 9 tháng đối với số thuế phải nộp năm 2026 của các doanh nghiệp vừa và nhỏ (70% số thuế còn lại sau khi giảm) và của các doanh nghiệp có hoạt động sản xuất, gia công, chế biến nông, lâm thủy sản, dệt may, da giày, linh kiện điện tử. Khóa luận: Giải pháp tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính.

Tạm hoàn 90% số thuế giá trị gia tăng đầu vào đối với hàng hóa thực xuất khẩu trong trường hợp doanh nghiệp chưa có chứng từ thanh toán qua ngân hàng và hoàn tiếp 10% khi có chứng từ thanh toán.

Điều chỉnh thuế xuất khẩu đối với một số loại tài nguyên, khoảng sản và sửa đổi thuế suất thuế tài nguyên theo hướng hạn chế xuất khẩu, bảo đảm nguồn nguyên liệu cho sản xuất trong nước.

Điều chỉnh giảm thuế nhập khẩu đối với một số nhóm hàng là nguyên liệ đầu vào của sản xuất, trong nước chưa sản xuất được hoặc có sản xuất nhưng không được đáp ứng đủ nhu cầu để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp giảm chi phí, nâng cao sức cạnh tranh. Điều chỉnh tăng thuế trong khuôn khổ cam kết WTO, tạo điều kiện cho phát triển sản xuất trong nước, kiềm chế nhập siêu.

Giãn thời gian ân hạn nộp thuế đối với một số ngành hàng phù hợp với chu kỳ sản xuất và tiêu thụ (đóng tàu, sản xuất cơ khí…) Thực hiện tốt chính sách về ân hạn thời hạn nộp thuế nhập khẩu (275 ngày) đối với vật tư, nguyên liệu nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu.

Cải cách thủ tục XNK, rút ngắn thời gian thông quan hàng hóa, đơn giản thủ tục hoàn thuế, quyết toán thuế đối với nguyên liệu nhập khẩu để sản xuất, gia công hàng xuất khẩu.

Quy định rõ và phù hợp tỷ lệ phế liệu, phế phẩm thu được trong quá trình nhập khẩu nguyên liệu để sản xuất hàng xuất khẩu không phải chịu thuế nhập khẩu.

Trong tháng 12/2025, Bộ trưởng Bộ tài chính thừa ủy quyền Thủ tướng chính phủ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc triển khai thực hiện Luật thuế Thu nhập cá nhân theo hướng hỗ trợ khó khăn cho một số đối tượng nộp thuế.

3.2.3 Các giải pháp kích cầu đầu tư. Khóa luận: Giải pháp tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính.

Kích cầu đầu tư và kích cầu tiêu dùng là nội dung trọng tâm của Nghị quyết số 30, trong đó Chính phủ xác định 8 giải pháp mà các bộ liên quan phải triển khai. Cụ thể:

Tiếp tục rà soát lại toàn bộ các văn bản pháp luật hiện hành về đầu tư, xây dựng để sửa đổi ngay những bất cập làm ảnh hưởng đến tiến độ các dự án đầu tư, khẩn trương xây dựng luật sửa đổi, bổ sung các luật về đầu tư, xây dựng.

Đối với các công trình, các dự án sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước, cho phép tiếp tục giải ngân số vốn còn lại của năm 2025 đến hết tháng 6/2026. Đối với các dự án,các công trình quan trọng, cấp bách nhưng chưa bố trí được nguồn vốn, trong đó có dự án tái định cư các khu kinh tế, các bộ và địa phương chỉ đạo các chủ đầu tư khẩn trương hoàn thành các thủ tục đầu tư và chủ động làm việc với Bộ Kế hoạch và đầu tư, Bộ tài chính để xử lý nguồn vốn, kể cả việc tạm ứng ngân sách nhà nước để thực hiện.

Tạm hoãn thu hồi các khoản vốn ngân sách nhà nước đã ứng trước kế hoạch năm 2026, trừ các khoản đã tạm ứng năm 2026 để hoàn thành kế hoạch năm 2025.

Đối với các dự án, các công trình sử dụng nguồn trái phiếu Chính phủ, cho phép điều chỉnh tổng mức đầu tư đối với các dự án đã có trong danh mục được Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Thủ tướng Chính phủ giao, trên cơ sở đó thực hiện việc điều hòa vốn giữa các dự án, công trình và được thanh toán theo đúng tiến độ. Đồng thời, cho phép tiếp tục giải ngân nguồn vốn trái phiếu Chính phủ còn lại của năm 2025 trong năm 2026, bổ sung các dự án cấp bách khác trong các lĩnh vực giao thông, thủy lợi, y tế, giáo dục để triển khai thực hiện. Tạm ứng từ nguồn trái phiếu Chính phủ khoảng 1.500 tỷ đồng để đầu tư, xây dựng, nâng cấp hệ thống thủy lợi, nâng cao năng lực phòng chống lụt bão vùng đồng bằng sông Hồng…

Tiếp tục thu hút và đẩy nhanh tiến độ giải ngân các nguồn vốn FDI và ODA, nhất là các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng, các dự án đầu tư sản xuất sản phẩm công nghệ cao, có giá trị xuất khẩu lớn, các dự án giải quyết việc làm, phấn đấu năm 2026 thực hiện giải ngân các nguồn vốn trên không thấp hơn mức thực hiện trong năm 2025.

Cho phép cáp quyết định đầu tư được chỉ định thầu các dự án có mức vốn tối đa không quá 5 tỷ đồng/ dự án tại các địa bàn miền núi, vùng sâu, vùng xa, đồng thời chịu trách nhiệm về các quyết định của mình.

Doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia đầu tư các dự án các công trình có quy mô lớn được tạo điều kiện tối đa về đất đai, tiếp cận nguồn vốn, giải phóng mặt bằng, lãi suất… Các tập đoàn kinh tế, doanh nghiệp nhà nước chủ động tham gia các dự án, các công trình đầu tư hạ tầng quan trọng như cảng biển, điện, đường cao tốc, thủy lợi, trường học, cơ sở y tế… để góp phần đẩy nhanh tiến độ và kế hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế và xã hội của đất nước.

Xây dựng quỹ nhà ở xã hội giai đoạn 2026 – 2031, ban hành cơ chế phù hợp để đảm bảo khuyến khích đầu tư xây dựng nhà ở cho công nhân tại các khu công nghiệp. Khóa luận: Giải pháp tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính.

Nhằm tạo nguồn vốn cho kích cầu đầu tư, cuối tháng 12/2025 Chính phủ đã thông qua phương án sử dụng 17.000 tỷ đồng cho việc này.

3.2.4 Các giải pháp kích cầu tiêu dùng:

  • Tiếp tục điều hành giá theo cơ chế thị trường đối với các mặt hàng điện, than, nước sạch, cước vận chuyển xe buýt…
  • Phát triển hệ thống phân phối các mặt hàng thiết yếu, tập trung vào các mặt hàng lương thực, xăng dầu, phân bón, sắt thép, xi măng và thuốc chữa bệnh, chống gian lận, đầu cơ, gây mất ổn định thị trường.
  • Tăng cường quản lý thị trường, giá cả, chất lượng hàng hóa…., xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là kinh doanh trái phép, trốn thuế, liên kết độc quyền…
  • Khuyến khích các doanh nghiệp tổ chức các đợt hạ giá bán hàng để kích thích tiêu dùng.

3.2.5 Các biện pháp bảo đảm an sinh xã hội:

Chính phủ chỉ đạo Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp các cơ quan liên quan và các địa phương bị thiệt hại do lũ lụt triển khai ngay các biện pháp hỗ trợ lương thực, chi phí sửa chữa nhà ở, phòng trừ dịch bệnh, hỗ trợ giống cây trồng, vật nuôi, bảo đảm không để tình trạng người dân bị đói và nhanh chóng khôi phục sản xuất sau lũ lụt.

Các Bộ : Lao động – Thương binh và Xã hội, Kế hoạch và Đầu tư, tài chính, Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Ủy ban Dân tộc khẩn trương rà soát, xây dựng để đưa vào áp dụng ngay từ những tháng đầu năm 2026 các chính sách hỗ trỡ đầu tư nhằm thực hiện giảm nghèo nhanh và bền vững cho 61 huyện nghèo, hướng dẫn các địa phương điều tra, khảo sát, sơ kết chuẩn nghèo hiện hành và các chính sách đang áp dụng cho các hộ nghèo, hộ cận nghèo để cân đối nguồn lực hỗ trợ và dự kiến các phương án điều chỉnh chuẩn nghèo. Khóa luận: Giải pháp tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính.

Thực hiện các biện pháp thúc đẩy đầu tư xây dựng nhà cho người nghèo, các đối tượng chính sách, nhà ở cho người lao động ở khu vực công nghiệp tập trung, nhà ở cho học sinh, sinh viên, hỗ trợ thu nhập cho các đối tượng chính sách, người lao động có thu nhập thấp, người bị thiệt hại do thiên tai bão, lũ gây ra. Chỉ đạo các địa phương tổ chức theo dõi, phối hợp kịp thời giữa các bên để giải quyết vướng mắc về quan hệ lao động trong các khu công nghiệp, hạn chế tranh chấp lao động, đình công.

Tổ chức triển khai chế độ bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội.Thực hiện tăng thêm dự trữ quốc gia về lương thực ( khoảng trên 150.000 tấn quy gạo) để chủ động cứu trợ cho người dân ở các vùng bị lũ lụt, không để xảy ra tình trạng thiếu đói ở vùng bị thiên tai.

Tiếp tục thực hiện trợ cấp khó khăn cho người hưởng lương từ ngân sách nhà nước, thu nhập thấp. Tăng cường chỉ đạo thực hiện các chương trình giảm nghèo, bố trí đủ vốn cho chương trình tín dụng đối với hộ nghèo, học sinh, sinh viên nghèo và các đối tượng chính sách khác thông qua hoạt động của Ngân sách Chính sách xã hội, các chính sách hỗ trợ đất sản xuất, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu sổ nghèo, đời sống khó khăn. Các Bộ, các địa phương huy động các nguồn lực xã hội và bố trí tăng ngân sách để phát triển mạnh các hình thức dạy nghề lao động nông thôn, nhất là lao động thuộc hộ nghèo góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh, tạo việc làm, tăng thu nhập, giảm nghèo.

Thủ tướng yêu cầu các địa phương tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc việc triển khai tổ chức thực hiện đồng bộ các chủ trương, nhiệm vụ, giải pháp và cơ chế chính sách đã ban hành trên địa bàn tỉnh, thành phố, nhất là các giải pháp để phát triển sản xuất, kinh doanh, ngăn chặn suy giảm kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội (như hỗ trợ lãi suất, miễn giảm thuế, đầu tư từ ngân sách, bảo lãnh cho doanh nghiệp vay vốn, hỗ trợ người nghèo….) đồng thời, kiến nghị kịp thời những vướng mắc khó khăn để chính phủ khẩn trương điều chỉnh bổ sung chính sách, giải pháp cho phù hợp nhằm phấn đấu bảo đảm thực hiện sáng tạo và có hiệu quả cao các nhiệm vụ, giải pháp mà Đảng, Nhà nước để đề ra, hạn chế tối đa và xử lý nghiêm các biểu hiện tiêu cực, giữ vững ổn định và phát triển hợp lý, bền vững đất nước.

Một số kiến nghị về giải pháp cho năm 2026 và 2027.

  • Một số chủ trương và định hướng giải pháp lớn. Khóa luận: Giải pháp tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính.

Trong bối cảnh khủng hoảng hiện nay, điều quan trọng là không chỉ cần chủ động ứng phó với những tác hại của khủng hoảng, mà phải biết tranh thủ tình thế các nước ngoài khó khăn để vươn lên khắc phục sự tụt hậu của chúng ta. Cần có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp vừa và nhỏ đổi mới kỹ thuật, liên kết, hợp lý hóa sản xuất kinh doanh, hỗ trợ để không phá sản hàng loạt. Cần nhanh chóng triển khai chính sách kich cầu trong nước, hỗ trợ doanh nghiệp chuyển hướng thị trường xuất khẩu, ngăn chặn có hiệu quả hàng tiêu dùng giá rẻ từ bên ngoài tràn vào vì nhập khẩu đang có xu hướng tăng trở lại. Bên cạnh đó, cần có chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp tranh thủ nhập khẩu công nghệ cao để đổi mới công nghệ, đồng thời phải chú ý thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội phù hợp với từng loại đối tượng, không để tình trạng thất nghiệp tràn lan, thiếu đói xảy ra có thể dẫn đến những vấn đề xã hội phức tạp.

Một điều hết sức quan trọng là phải xác định cơ cấu kinh tế hợp lý, có tính linh hoạt cao trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Điều này đòi hỏi Việt Nam phải đánh giá đúng vai trò của mình trong phân công lao động quốc tế và chuỗi giá trị toàn cầu, để từ đó có chiến lược sản phẩm quốc gia và từng vùng, miền phù hợp, linh hoạt nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, thâm nhập thị trường thế giới, chủ động khâu tiêu thụ, xuất khẩu, khắc phục tốt tình trạng sản xuất kinh doanh tự phát, manh mún, chạy theo phong trào… Mặt khác, khủng hoảng cũng cho thấy cần phải chủ động bảo đảm tốt các cân đối lớn về tài chính – tiền tệ, nguyên vật liệu, đặc biệt là an ninh lương thực và năng lượng quốc gia… để nền kinh tế có khả năng chịu đựng, giữ được sự phát triển tương đối ổn định, không rơi vào khủng hoảng.

Việt Nam cần tiếp tục đẩy mạnh đổi mới hệ thống thể chế, câ thể chế hành chính và thể chế kinh tế, hướng tới hệ thống thể chế hiện đại, có hiệu quả, phục vụ đắc lực cho công cuộc phát triển đất nước.

  • Kiến nghị một số biện pháp cụ thể.

Thứ nhất, cần tiếp tục kiên trì những định hướng chính sách lớn đã đề ra trong năm 2025, cụ thể là bình ổn kinh tế vĩ mô, củng cố hệ thống tài chính, ngân hàng và giải quyết tốt các vấn đề trong nước, như nhập siêu, thâm hụt ngân sách…để tăng cường sức đề kháng cho nền kinh tế.

Tiếp tục thực hiện những chính sách chặt chẽ về chi tiêu Chính phủ và đầu tư của khu vực công nhằm tránh nguy cơ thâm hụt ngân sách. Việc thắt chặt chi tiêu Chính phủ và chuyển các khoản đầu tư công sang cho các khu vực tư nhân giúp các doanh nghiệp có thêm được nguồn vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh và thị trường. Lựa chọn đầu tư cho các dự án kết cấu hạ tầng lớn, quan trọng mà các trong các thời điểm trước đây chưa có điều kiện đầu tư thì nay đầu tư để kích thích kinh tế phát triển.

Nguồn đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước, nhất là của các Tập đoàn và các Tổng công ty nhà nước, cần hướng vào các dự án có công nghệ hiện đại, thân thiện với môi trường. Tập trung phát triển công nghiệp phụ trợ cũng là hướng đi quan trọng nhằm tạo ra các sản phẩm có sức cạnh tranh cao, có giá trị gia tăng lớn hơn.

Thứ hai, tiếp tục nêu cao cảnh giác, không chủ quan trong việc giám sát, nắm tình hình diễn biến, chủ động chuẩn bị sẵn các phương án, chính sách, biện pháp và khả năng để hỗ trợ nền kinh tế, đề phòng những cú sốc bất ngờ có thể xảy ra. Các cơ quan hữu quan cần thông tin chính xác và kịp thời về diễn biến của thị trường tài chính trong nước và quốc tế, đảm bảo công tác truyền thông phục vụ sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước, củng cố niềm tin của nhân dân, giới đầu tư – kinh doanh. Khóa luận: Giải pháp tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính.

Cần tăng cường và nâng cao chất lượng công tác thông tin, dự báo tình hình trong nước và thế giới, để có chủ trường và chính sách đúng và điều hành đúng.

Thứ ba, thực hiện có hiệu quả các biện pháp trong lĩnh vực ngân hàng, tài chính. Các ngân hàng cần chú trọng hơn quản trị nội bộ, quản trị thanh khoản, giám sát chặt chẽ việc cấp tín dụng vào các lĩnh vực có mức độ rủi ro cao ( bất động sản, chứng khoán và tiêu dùng). Cần có gói giải pháp đồng bộ cho từng bộ phận của thị trường tài chính, trong đó đặc biệt lưu tâm đến thị trường chứng khoán và thị trường bất động sản. Củng cố niềm tin của các nhà đầu tư vào hệ thống tài chính, ngân hàng Việt Nam bằng cách tạo sự rõ ràng và nhất quán về chính sách và thực hiện chính sách.

Sử dụng có hiệu quả các công cụ tiền tệ với việc điều chỉnh linh hoạt theo diễn biến của thị trường như: tỷ giá, lãi suất, hạn mức tín dụng…Hạ lãi suất xuống một cách phù hợp theo tín hiệu thị trường. Xử lý nợ xấu của các ngân hàng thương mại, bảo đảm các khoản nợ này ở mức an toàn.

Đổi mới và cơ cấu lại hệ thống ngân hàng nhằm lành mạnh hóa hệ thống này, tránh tác động của khủng hoảng kinh tế thế giới. Tăng cường giám sát của Chính phủ đối với hệ thống tài chính, ngân hàng và thị trường chứng khoán, rà soát lại và lành mạnh hóa hệ thống tài chính, ngân hàng. Xây dựng hệ thống cảnh bảo sớm với các tiêu chí cụ thể để có phương án, giải pháp dự phòng đối với biến động xấu từ hệ thống ngân hàng, tài chính.

Thứ tư, đa dạng hóa các thị trường xuất khẩu để tránh bớt tác động của việc sụt giảm nhập khẩu từ Mỹ và một số nước chịu nhiều tác động của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới, và tăng cường các thị trường mới, thị trường lớn trong khu vực ít bị ảnh hưởng của khủng hoảng như Trung Quốc, Ấn Độ…, chuyển hướng tới mở rộng thị trường trong nước. Áp dụng các chính sách để khuyến khích phát triển hàng xuất khẩu, tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu và giảm bớt nhập siêu.

Thực hiện chế độ tỷ giá linh hoạt hỗ trợ xuất khẩu và tăng mức tín dụng ưu đãi cho sản xuất hàng XK. Tăng cường và đẩy mạnh phát triển thị trường trong nước nhất là các khâu thu mua nguyên liệu nông sản, bảo đảm gắn kết chặt chẽ giữa phát triển vùng sản xuất nguyên liệu với công nghiệp chế biến và xuất khẩu, phát triển hệ thống phân phối các vật tư quan trọng và hệ thống bán lẻ, nâng cao chất lượng dịch vụ. Khóa luận: Giải pháp tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính.

Cùng với việc mở rộng các thị trường XK mới, các doanh nghiệp cần chú ý chiếm lĩnh thị trường nội địa. Những năm đổi mới đã đem lại mức sống được cải thiện cho các tầng lớp người tiêu dùng Việt Nam. Tuy nhiên, không phải cứ có tiền là người tiêu dùng được đáp ứng những sản phẩm phù hợp. Cũng không phải là tự nhiên mà người tiêu dùng vẫn còn tâm lý sính hàng ngoại. Đây là điểm yếu của hàng hóa Việt Nam phục vụ thị trường nội địa và cũng là cơ hội phát triển lớn cho các doanh nghiệp Việt Nam nếu biết đánh giá đúng tình hình.

Thứ năm, hạn chế tình trạng mất việc làm, đồng thời hỗ trợ cho người thất nghiệp bằng các chính sách trợ cấp thất nghiệp, đào tạo và đào tạo lại để một mặt giúp họ vượt qua khó khăn trước mắt, mặt khác giúp họ tăng cường kỹ năng và khả năng chuyển đổi việc làm khi có cơ hội mới. Bên cạnh đó, hỗ trợ các hộ nghèo, đặc biệt là ở khu vực nông thôn. Nên cân nhắc chính sách hoãn hay miễn học phí cho con em nông dân trong một thời gian. Cũng có thể hỗ trợ nông dân bằng cách tiến hành bảo dưỡng, cải tạo hệ thống thủy lợi hay tiếp tục chính sách đảm bảo đầu ra cho chính sách nông nghiệp.

Thứ sáu, khuyến khích cạnh tranh và kiểm soát độc quyền. Tình trạng độc quyền đang diễn ra khá phổ biến trong nền kinh tế Việt Nam. Những biểu hiện là liên kết ngầm định giá sản phẩm dịch vụ, phong tỏa thị trường, hạn chế các đối thủ cạnh tranh xuất hiện… Các chủ thể độc quyền hiện là các công ty, các tập đoàn Nhà nước, các hiệp hội ngành nghề…., do vậy giá nhiều hàng hóa, dịch vụ khá cao so với thị trường quốc tế như xăng dầu, vận tải… Ngược lại, một số giá độc quyền đang là lợi thế của Việt Nam nhưng các công ty lại đòi tăng ngang giá thế giới, làm mất lợi thế này. Vấn đề là phải kiểm soát độc quyền, củng cố lại tổ chức cạnh tranh để thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh trên thị trường.

Thứ bảy, theo dõi chặt chẽ các nguồn vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, đẩy mạnh công tác xúc tiến đầu tư nước ngoài, trong đó theo dõi việc triển khai các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài từ Mỹ, và các nước chây Âu để có thể hỗ trợ khi cần thiết.

Thứ tám, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bộ tài chính tăng cường giám sát, đánh giá, dự báo các khả năng và mức độ rút vốn ở thị trường Việt Nam, ảnh hưởng đến dự trữ ngoại hối và tâm lý các nhà đầu tư trong nước, để ngăn ngừa rối loạn trên thị trường. Chuẩn bị trước các phương án hỗ trợ thị trường, đảm bảo việc cung cấp đầy đủ và liên tục các thông tin về hoạt động của nhà đầu tư nước ngoài, minh bạch thông tin về tình hình doanh nghiệp và kịp thời đưa ra các khuyến cáo khi cần thiết, trong đó coi trọng yếu tố trấn an dư luận.

Thứ chín, cải cách và tháo gỡ các vướng mắc về thủ tục hành chính, về giải phóng mặt bằng, phê duyệt dự án và về giải ngân để tạo điều kiện cho các dự án, các chương trình được triển khai nhanh. Đối với kinh doanh bất động sản, cùng với việc đẩy mạnh và khuyến khích đầu tư xây dựng nhà giá rẻ cho người nghèo, các đối tượng chính sách, nhà ở cho người lao động ở các khu kinh tế, khu công nghiệp tập trung, nhà ở cho sinh viên, học sinh cần hạn chế và đánh thuế cao vào các trường hợp đầu cơ bất động sản. Khóa luận: Giải pháp tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính.

Thứ mười, các doanh nghiệp cần tập trung phấn đấu giảm giá thành để nâng cao khả năng cạnh tranh với hàng hóa giá rẻ tồn đọng từ một số nước cùng sản xuất và xuất khẩu mặt hàng tương tự. Doanh nghiệp cần chú trọng phát triển những mặt hàng mới.

Nguồn vốn trong dân, năng lực sản xuất, chế tạo, thi công công trình với giá nhân công rẻ là lợi thế của doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh khó khăn kinh tế toàn cầu. Giá vật tư, nguyên liệu, công nghệ và máy móc, thiết bị trên thị trường thế giới đang xuống thấp, các doanh nghiệp nên nắm bắt nhanh nhạy để có những giải pháp kịp thời.

Khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu đặt ra những thách thức to lớn nhưng Việt Nam có thể tận dụng được những cơ hội do khủng hoảng mang lại như: tận dụng các nguyên vật liệu giá rẻ để gia tăng xây dựng cơ sở hạ tầng cần thiết; tận dụng nguồn vốn lãi suất thấp của thế giới; tận dụng nguồn nhân lực cao cấp bị thất nghiệp từ các tập đoàn hàng đầu thế giới cho sự phát triển của Việt Nam. Vấn đề là: Lựa chọn đúng, giải pháp tốt, và thực hiện có hiệu quả cao.

3.3 Kiến nghị giải pháp hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của khủng hoảng tới hoạt động xuất nhập khẩu

3.3.1. Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu:

Tăng kim nghạch xuất khẩu sẽ góp phần làm cho nền kinh tế tăng trưởng cao và nâng cao hiệu quả xuất khẩu. Muốn vậy nhất thiết cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam hiện nay cần phải được thay đổi theo hướng đẩy mạnh xuất khẩu những mặt hàng có giá trị gia tăng cao, sản phẩm có hàm lượng công nghệ, chất xám cao, giảm dần tỉ trọng xuất khẩu hàng thô; đẩy mạnh xuất khẩu dịch vụ. Cần tìm tòi và phát hiện những sản phẩm mà Việt Nam có lợi thế so sánh để chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu. Khi xem xét về lợi thế so sánh, điều quan trọng là ngoài lợi thế tĩnh hiện có, còn phải xem xét những lơij thế động, là lợi thế có tiềm năng và sẽ suất hiện khi có điều kinệ nhằm tăng sức cạnh tranh cho sản phẩm xuất khẩu Việt Nam.

  • Để thực hiện được những nhiệm vụ trên, chúng ta phải có những biện pháp cụ thể, đồng bộ.

Về phía nhà nước: để đẩy mạnh xuất khẩu, giảm nhập siêu thì vai trò của Nhà nước là hết sức quan trọng. Trong tình hình hiện nay, Nhà nước cần làm tốt công việc sau đây: Khóa luận: Giải pháp tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính.

Thứ nhất, Nhà nước cần ưu tiên và dành nguồn vốn để tập trung đầu tư nâng cấp kết cấu hạ tầng thương mại, đặc biệt là tại các cửa khẩu, cũng như đường bộ đường sắt dẫn tới biên giới, cảng biển, cảng sông và các phương tiện liên quan. Trong đó cần chú ý đến một số cửa khẩu lớn giáp Trung Quốc, Lào, Campuchia…từ đó nối với Thái Lan, Myanmar… để khai thác tốt hơn những thoả thuận về thương mại trong khu vực Tiểu vùng sông Mê Kông. Các cơ quan quản lý Nhà nước cần tăng cường áp dụng các quy trình quản lý chất lượng công việc và chất lượng các thủ tục hành chính công, thường xuyên giám sát, quản lý hiệu quả chất lượng của các thủ tục hành chính cũng như dịch vụ công.

Thứ hai, cần quan tâm đúng mức những hoạt động và hiệu quả công tác xúc tiến thương mại, đặc biệt là hoạt động nghiên cứu thị truơng, đẩy mạnh xúc tiến thương mại ở cấp chính phủ, phát triển thương mại điện tử để giảm chi phí tíêp thị. Nhà nước và các bộ máy liên quan sớm thay đổi cơ bản các chương trình xuất khẩu theo hướng thiết kế các chương trình theo hướng chuyên nghành đối với từng mặt hàng mới (hoặc mặt hàng cần hỗ trợ ), tập trung vào một số thị trường mới (hoặc thị trường cụ thể cần ưu tiên phát triển); triển khai thực hiện các chương trình để quảng bá hình ảnh quốc gia, các sản phẩm của Việt Nam trên các phương tiện thông tin đại chúng ở nước ngoài; nâng cao vai trò của các cơ quan đại diện ngoại giao và đại diện thương mại của Việt Nam ở nước ngoài, để làm cầu nối giúp doanh nghiệp trong nước tìm hiểu thông tin, thâm nhập thị truờng.

Thứ ba, Nhà nước cần có chính sách cởi mở hơn đối với đầu tư nước ngoài để tăng cường thu hút đầu tư, đặc biệt là đầu tư vào những lĩnh vực mà các doanh nghiệp trong nước còn hạn chế về năng lực thực hiện; phải đổi mới cơ chế, chính sách tín dụng liên quan đến xuất khẩu theo hướng tạo điều kiện cấp tín dụng cho đầu tư sản xuất hàng xuất khẩu, hướng tới các dịch vụ tín dụng phục vụ người mua, thay vì chỉ phục vụ nhà xuất khẩu trong nước; khuyến khích sự tham gia của các ngân hàng thương mại vào hoạt động hàng hoá xuất khẩu, chuyển từ hình thức cho vay thương mại sang tài trợ các dự án sản xuất vì mục đích xuất khẩu. Nghiên cứu việc xây dựng và ban hành các chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp của người Việt Nam ở nước ngoài để đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá vào nước sở tại; đồng thời có các chính sách phù hợp để khuyến khích các công ty đa quốc gia hoạt động tại Việt Nam tiêu thụ sản phẩm qua mạng lưới thị trường sãn có của các công ty này.

Thứ tư, chủ động nghiên cứu các cơ chế giải quyết tranh chấp quốc tế trong khuôn khổ ASEAN, WTO để có thể vận dụng hiệu qủa ngay khi xảy ra tranh chấp quốc tế liên quan đến quyền lợi quốc gia, và đến quyền lợi của doanh nghiệp Việt Nam; thực hiện khẩn trương và đồng bộ các chính sách và biện pháp nhằm đa dạng hoá các hình thức đào tạo nghề theo chủ trương xã hội hoá giáo dục, đào tạo. Đơn giản hoá những quy định về thủ tục và điều kiện tham gia kinh doanh dịch vụ giáo dục, để đẩy nhanh một bước chất lượng của công tác nghề và kiến thức kinh doanh vốn đang còn nhiều hạn chế của các doanh nghiệp Việt Nam; đẩy mạnh quá trình ra quyết định chính sách thông qua cơ chế tăng cường mối liên hệ giữa Nhà nước và doanh nghiệp, cũng như giữa các bộ nghành với nhau. Khóa luận: Giải pháp tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính.

Tiếp tục phổ biến sâu rộng lộ trình và những cam kết của Việt Nam trong WTO cho các nghành, các doang nghiệp và mọi tầng lớp dân cư nhằm nâng cao nhận thưc về hội nhập kinh tế quốc tế, về WTO, qua đó chủ động hơn và nâng cao hiệu quả trong hội nhập ngày càng sâu rộng của Việt Nam. Hoàn thiện hệ thống pháp luật về thương mại và dịch vụ, nhất là chinh sách xuất, nhập khẩu cho phù hợp với bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, vừa đảm bảo hộ trợ được cho các doanh nghiệp xuất khẩu vừa không vi phạm các quy định của WTO.

Thứ năm, hoàn thiện hệ thống chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất- xuất khẩu. Tạo mọi điều kiện thuận lợi để có môi trường hấp dẫn nhằm thu hút đầu tư nước ngoài, vì vậy đây là con đường ngắn nhất có thể tăng sức cạnh tranh và đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm của chúng ta. Tiếp theo cần đẩy mạnh sự liên kết giữa các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân theo hình thức dọc- ngang, trong đó liên kết hàng dọc là cung cấp bộ phận linh kiện cho các công ty có vồn đầu tư nước ngoài và liên kết ngang là hợp tác với các công ty đa quốc gia trên nhiều lĩnh vực để sản xuất và xuất khẩu. Có thể lúc đầu dưới dạng thương hiệu của nước ngoài, theo mạng lưới của họ, dần dần tiến tới tự mình chế tạo, thiết kế sản phẩm và tiến đến xây dựng thương hiệu, làm chủ hoàn toàn sản phẩm của mình.

Nhanh chóng đổi mới đồng bộ các chính sách tài chính, đầu tư, phát triển khoa học, công nghệ.Bên cạnh đó cần đào tạo, phát triển nguồn lao động có chất lượng cao, nhất là phải có đội ngũ kĩ sư, chế tạo giỏi các lĩnh vực sản xuất hàng xuất khẩu, cải cách thủ tục hải quan cho các hàng hoá xuất, nhập khẩu nhằm tiếp tục khuyến khích xuất khẩu, và tạo niềm tin cho các doanh nghiệp tham gia xuất khẩu.

Bên cạnh đó, Nhà nước cần phải dành sự quan tâm thích đáng đến việc xuất khẩu dịch vụ. Xu hướng chung của nền kinh tế thế giới là dịch vụ ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong GDP và thương mại dịch vụ là một trong những nội dung cơ bản của thương mại hiện đại theo quy định của WTO. Ở nước ta việc xuất khẩu dịch vụ thời gian qua chưa thực sự được chú trọng, mà chúng ta còn khá nhiều tiềm năng để phát triển, chính vì vậy chú trọng phát triển dịch vụ xuất khẩu có thể góp phần làm tăng tổng kim ngạch xuất khẩu, đem lại thu nhập và tạo nhiều công ăn việc làm.

Về phía các doanh nghiệp: Doanh nghiệp là một nhân tố hết sức quan trọng trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, nhất là khi Việt Nam chính thức gia nhập WTO. Một điều quan trọng là phải tập trung mọi nỗ lực để nâng cao sức cạnh tranh cho doanh nghiệp. Đây là nhiệm vụ mà tất cả các cấp từ trung ương đến địa phương, các nghành, các cấp, các tổ chức và các doanh nghiệp cần phải cùng nhau thực hiện. Về phía các doanh nghiệp cần phải chú ý thực hiện các biện pháp sau:

Các doanh nghiệp cần phải chủ động tiến hành khảo sát, đánh giá thị trừơng, năng lực tài chính, năng lực sản xuất của mình; chú ý tận dụng hiệu quả chính sách khuyến khích của Nhà nước đối với những sản phẩm, nghành hàng nằm trong định hướng phát triển của nhà nước trong giai đoạn tới để xác định cho mình chiến lược phát triển mặt hàng xuất khẩu trọng điểm, chiến lược phát triển xuất khẩu các mặt hàng mới và chương trình cụ thể tiếp cận các thị trường xuất khẩu trọng điểm, tiềm năng. Các doanh nghiệp cần xây dựng chiến lược mở rộng liên kết, hợp tác giữa các doanh nghiệp với nhau nhằm hợp lý hoá chuyên môn hoá, hợp tác hoá sản xuất trên cơ sở thế mạnh của mỗi doanh nghiệp, mở rộng sản xuất, giảm chi phí, nâng cao năng lực cạnh tranh. Khóa luận: Giải pháp tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính.

Doanh nghiệp cũng cần nâng cao chất lượng và hiệu quả sử dụng nguồn vốn nhân lực theo hướng chuyên nghiệp hoá và công nghiệp hoá, nâng cao năng suất lao động, qua đó gián tiếp giảm chi phí hoạt động, có chương trình cụ thể về đào tạo và tuyển dụng, sử dụng và thường xuyên đào tạo lại nguồn nhân lực; nhanh chóng tiếp cận và tiếp thu, áp dụng những kĩ năng quản lý và sử dụng nguồn nhân lực; nhanh chóng hợp lý hoá các quá trình sản xuất- kinh doanh, tiết kiệm chi phí, nâng cao hiệu quả hoạt động. Tăng cường triển khai các hệ thống quản lý sản xuất- kinh doanh nhằm giảm rủi ro. giảm tỷ lệ sản phẩm kém chất lượng, tiết kiệm chi phí; khai thác hiệu quả những tiện ích của công nghệ thông tin và đẩy mạnh ứng dụng thương mại điện tử, nâng cao hiệu qủa sản xuất kinh doanh.

Doanh nghiệp cần đẩy mạnh mối liên kết giữa người sản xuất – cung cấp nguyên, vật liệu đầu vào với doanh nghiệp và các cơ quan nghiên cứu khoa học, tổ chức hiệu quả chuỗi cung ứng từ khâu xuất nguyên liệu, vật liệu đầu vào đến khâu tổ chức sản xuất hiệu quả, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và sản phẩm của doanh nghiệp trong thời kì hội nhập kinh tế quốc tế, tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả của hoạt động xúc tiến thương mại như tìm hiểu thị trường, quảng bá sản phẩm, kí kết hợp đồng với đối tác nước ngoài…Đối với nghành nghề liên quan đến thị hiếu, tính sáng tạo, cần tập trung cải thịên kĩ năng thiết kế sáng tạo mẫu mã sản phẩm cho đẹp và cho phù hợp với nhu cầu phong phú của người tiêu dùng.Vấn đề này cần học tập kinh nghiệm của các nước khác.

Trong nông nghiệp cần tăng cường xuất khẩu các sản phẩm đã qua chế biến, có chất lượng cao, các mặt hàng có giá trị gia tăng cao; nghiên cứu đưa ra thị trường những sản phẩm mới lạ, dựa trên việc áp dụng khoa học – kĩ thuật; tiếp tục khai thác thị trường truyền thống, đồng thời không ngừng phát triển xuất khẩu sang thị trường mới, chú ý tập trung áp dụng khoa học – công nghệ tiến bộ trong nông nghiệp, tập trung vào khâu giống, phương pháp nuôi, trồng, đẩy mạnh đầu tư trang thiết bị, công nghệ trong khâu chế biến, thu hoạch sản phẩm; phát triển mạnh công nghiệp chế biến để hàng xuất khẩu có giá trị gia tăng cao và giảm bớt những thịêt hại cho nông dân. Bên cạnh đó cần đẩy mạnh công tác nghiên cứu và dự báo nhu cầu thi trường từ phía các doanh nghiệp để các doanh nghiệp luôn chủ động trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và xuất khẩu hàng hoá, đồng thời có quyết sách phù hợp với cơ hội và thách thức mang lại từ hội nhập kinh tế quốc tế.

Một vấn đề hết sức quan trọng đối với hàng hoá xuất khẩu nói riêng và của Việt Nam nói chung đó là vấn đề thương hiệu. Hầu hết các sản phẩm của Việt Nam hiện nay hầu hết đều chưa được đăng kí thương hiệu, sản phẩm được tiêu thụ dưới nhãn mác của các thương hiệu nổi tiếng trên thế giới. Việc không có thương hiệu hàng hoá đã ảnh hưởng không nhỏ đến xuất khẩu sản phẩm và lợi nhuận của các doanh nghiệp sản xuất – xuất khẩu. Do vậy bên cạnh các hoạt động nói trên, các doanh nghiệp cần chú ý xây dựng cho mình một thương hiệu riêng, một đặc trưng riêng.

Về phía các hiệp hội ngành hàng: các hiệp hội nghành hàng cần nhanh chóng kiện toàn bộ máy tổ chức, mô hình hoạt động theo hướng chuyên nghiệp hoá, thực hiện tốt vai trò là người hỗ trợ doanh nghiệp trong việc tìm kiếm thị trường, nguồn nguyên liệu, giúp liên kết các doanh nghiệp với nhau nhằm mở rộng năng lực sản xuất; là đại diện hữu hiệu để phản ánh, yêu cầu của doanh nghiệp tới chính phủ; cần tổ chức, thu thập, phân tích và xử lý thông tin về thị trường, về yêu cầu của nhà nhập khẩu, về chính sách nhập khẩu của thị trường nhập khẩu, của đối thủ cạnh tranh để tư vấn, hỗ trợ doanh nghiệp trong khâu tiếp cận thị trường, tổ chức sản xuất và xuất khẩu.

3.3.2. Giải pháp chấn chỉnh cơ cấu nhập khẩu, chống nhập siêu quá lớn và sử dụng hàng nhập có hiệu quả Khóa luận: Giải pháp tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính.

Cán cân thương mại thâm hụt ngày càng lớn là một dấu hiệu không thuận lợi cho nền kinh tế; nó chứng tỏ khả năng sản xuất và hàng hoá trong nước còn yếu. Việc cố gắng giảm dần nhập siêu, tiến tới xuất siêu cần được đặt ra cụ thể và ngay từ bây giờ, vì hiện nay nhập siêu của Việt Nam không được tài trợ từ nội lực của nền kinh tế chủ yếu từ nguồn lực bên ngoài. Điều này chứa đựng nhiều rủi ro (rủi ro về thanh toán, rủi ro về tỉ giá).Nhập siêu tăng như hiện nay chỉ được phép tồn tại trong ngắn hạn và trong giới hạn kiểm soát được. Để kiểm soát tốt tình hình nhập khẩu, qua đó giảm nhập siêu, chúng ta cần đổi mới công tác quản lý nhập khẩu nhằm cải thiện cán cân thương mại của Việt Nam trong thời gian tới. Vấn đề trước mặt là phải cần điều chỉnh lại danh mục hàng hoá nhập khẩu. Về cơ bản chỉ cho phép nhập khẩu hàng hoá mà trong nước không sản xuất được, hoặc sản xuất không đáp ứng đủ nhu cầu, không cho phép hoặc hạn chế tối đa nhập các loại hàng hoá trong nước có khả năng sản xuất. Bên cạnh đó thúc đẩy các doanh nghiệp nhập khẩu sử dụng tiết kiệm và hiệu quả các hàng hoá nhập khẩu. Với các nguyên phụ kiện nhập khẩu để làm hàng gia công, cần rà soát lại lượng tối thiểu cần nhập khẩu.Với các thiết bị máy móc, cần xác định tiến độ nhập khẩu phù hợp với tiến độ xây lắp các công trình, đảm bảo công trình được xây dựng nhanh chóng phát huy hiệu quả từ thiết bị nhập khẩu.

Các biện pháp trên nếu được áp dụng một cách quyết liệt, mạnh mẽ có thể giảm được nhập siêu. Tuy nhiên đó cũng chỉ là những biện pháp trước mắt.Về lâu dài chúng ta cần chú ý những việc như:

Thứ nhất, hạn chế tiêu dùng hàng xa xỉ phẩm, hàng nhập ngoại. Một vấn đề hết sức quan trọng trong giai đoạn hiện nay đó là việc chúng ta cần định hướng lại xu hướng tiêu dùng, hạn chế việc tiêu nhiều hơn có và tiêu dùng hàng xa xỉ, hình thành xu hướng tiêu dùng lành mạnh, đề cao ý thức người Việt Nam dùng hàng Việt Nam. Bên cạnh đó các doanh nghiệp cần chú trọng hơn nữa đến thị trường nội địa, có chiến lược cụ thế, bài bản để tiếp cận thị truờng trong nước. Mở rộng mạng lưới phân phối, chú ý tới chất lượng giá thành, tăng sức cạnh tranh của hàng Việt Nam trên thị trường nội địa. Ngoài ra, để hạn chế việc tiêu dùng hàng hoá xa xỉ, Nhà nước cần điều chỉnh lại mức thuế nhập khẩu và thuế tiêu thụ đặc biệt nhằm điều tiết hàng hoá. Nhà nước cũng cần có các biện pháp nhằm hạn chế việc các tổ chức tín dụng, ngân hàng cho vay đối với các doanh nghiệp nhập khẩu hàng xa xỉ làm tăng giá nhập siêu như ôtô và linh kiện ôtô, điện thoại di động, rượu, bia, mỹ phẩm…

Thứ hai, áp dụng linh hoạt các mức thuế nhập khẩu trong khuôn khổ các cam kết đã tham gia trong hiệp định kinh tế – thương mại song phương, đa phương. Mặc dù theo cam kết hội nhập, các dòng thuế nhập khẩu đối với các chủng loại hàng hoá buộc phải cắt giảm theo các cam kết cụ thế song về cơ bản sự cắt giảm này là không cứng nhắc nhất là trong trường hợp khẩn cấp, nên chúng ta hoàn toàn có thể sử dụng các công cụ này để điều tiết, hạn chế nhập khẩu một cách linh hoạt, phù hợp với từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế. Ví dụ, trong cam kết WTO, Việt Nam cam kết cắt giảm thuế nhập khẩu đối với ôtô nguyên chiếc từ 90% tại thời điểm gia nhập xuống còn 70% vào năm 2030, hay đối với các loại tân dược sẽ phải cắt giảm từ 10% tại thời điểm gia nhập xuống 6.5% vào năm 2027…Như vậy chúng ta vẫn có thể xem xét, điều chỉnh mức thuế nhập khẩu đối với các mặt hàng này lên xuống một cách linh hoạt để đảm bảo mục tiêu điều tiết cán cân thương mại của mình mà không vi phạm các cam kết đã tham gia. Khóa luận: Giải pháp tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính.

Trong bối cảnh hiện nay, tình hình thâm hụt cán cân thương mại của Việt Nam đang có những dấu hiệu đáng báo động, mà giải pháp mà chúng ta có thể lựa chọn xem xét, điều chỉnh tăng thuế nhập khẩu đối với một số mặt hàng thuộc nhóm cần hạn chế như ôtô nguyên chiếc, linh kiện, phụ tùng ôtô, xe máy, nguyên phụ liệu thuốc lá và các mặt hàng tiêu dùng mà trong nước có khả năng sản xuất và đáp ứng được nhu cầu trong nước…

Thứ ba, việc xây dựng và phát triển các vùng nguyên liệu và các ngành công nghiệp phụ trợ là không thể thiếu được.Cần phân lớp các nghành công nghiệp phụ trợ một cách cụ thể và quy hoạch vùng nguyên liệu phụ cho các nghành. Phát triển các ngành dựa trên hiệu quả và sáng tạo. Tăng cường hoạt động R&D vào những nhàng công nghệ cao. Thay đổi cơ cấu hành nhập khẩu, trong đó những việc có thể làm ngay là tăng thuế tiêu thụ đặc biệt với những mặt hàng xa xỉ nhằm hạn chế tiêu dùng; chỉ nhập khẩu máy móc, thiết bị hiện đại phù hợp với yêu cầu. Điều này có thể làm tốt bằng cách rà soát lại những chỗ còn khó khăn, vướng mắc, kiên quyết giải quyết cho được một cách nhanh chóng. Ngoài ra, không nên cho tự do nhập khẩu các sản phẩm nguyên chiếc trong khuôn khổ AFTA và cần thay đổi chính sách thuế nhập khẩu những sản phẩm trung gian như linh kiện, bộ phận. Bởi lẽ thuế cao đánh vào các sản phẩm trung gian nhằm tăng tỷ lệ nội địa hoá của chúng ta chỉ làm giảm giá thành sản phẩm lắp ráp, trong khi các công ty lắp ráp hiện nay còn phải nhập rất nhiều của nước ngoài để sản xuất.

Thứ tư, điều chỉnh quyền tiếp cận ngoại tệ đối với hoạt động nhập khẩu. Đây có thể coi là giải pháp tích cực và hiệu quả góp phần hạn chế nhập siêu trong điều kiện hiện nay của Việt Nam, Tuy nhiên, chúng ta cũng cần phải chú ý những quy định của WTO trong quá trình áp dụng và thực hiện các biện pháp này để tránh gặp phải những biện pháp trừng phạt không đáng có. Theo đó, WTO chỉ cho phép một quốc gia thành viên áp dụng biện pháp tiếp cận ngoại tệ đối với doanh nghiệp nhập khẩu khi thành viên đó chứng minh được mình đang trong điều kiện khó khăn về cán cân thanh toán. Vì vậy Việt Nam cần chuẩn bị kỹ lưỡng trước khi áp dụng các biện pháp thuộc nhóm này để đảm bảo hiệu quả và an toàn khi thực hiện chính sách. Ngoài ra cần phải điều tiết tỉ giá hối đoái sao cho vừa thu hút được vốn đầu tư nước ngoài, vừa khuyến khích doanh nghiệp đầu tư hướng tới xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu và vẫn kiểm soát được lạm phát ở mức hợp lý.

Thứ năm, đa dạng hoá và điều chỉnh cơ cấu thì trường nhập khẩu, hạn chế sự phụ thuộc quá mức vào một thị trường nhất định.Trước mắt cần có giải pháp để điều chỉnh cơ cấu nhập khẩu từ một số thị trường mà Việt Nam có mức nhập siêu lớn như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Hồng Kông, Đài Loan…thông qua những việc thực thi đề án, những thoả thuận hợp tác, phát triển kinh tế – thương mại song phương và khu vực. Theo đó cơ cấu hợp tác đầu tư và mậu dịch hàng hoá sẽ tạo ra sự cân bằng hơn cho thương mại hai chiều giữa Việt Nam và những thị trường này. Trên thực tế, hướng giải quyết này đã được triển khai, song chủ yếu mới dừng ở cấp độ vĩ mô (các thoả thuận cam kết, các đề án hợp tác giữa chính phủ ) mà chưa được chúng ta tận dụng triển khai triệt để và có hiệu quả. Do vậy trong thời gian tới, đây cần được coi là một trong những biện pháp quan trọng và bền vững cần được tích cực thực hiện để góp phần cải thiện tình trạng của cán cân thương mại của Việt Nam.

Thứ sáu, xây dựng và áp dụng các hàng rào tiêu chuẩn kĩ thuật đối với hàng hoá nhập khẩu. Nghiên cứu xây dựng các biện pháp và tiêu chuẩn kĩ thuật đối với công nghiệp và thương mại phù hợp với các quy định của WTO và các hiệp định quốc tế mà Việt Nam ký kết. Hoàn thiện và ban hành mới các tiêu chuẩn kỹ thuật đối với các mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn, có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất, tiêu dùng, sức khoẻ cộng đồng và bảo vệ môi trường. Hàng rào kỹ thuật trong thương mại là công cụ hữu hiệu, và được các quốc gia sử dụng ngày càng phổ biến nhằm hạn chế nhập khẩu, bảo hộ sản xuất trong nước, bảo vệ sức khoẻ và quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên trên thực tế, chỉ những nước có nghành sản xuất phát triển mới có khả năng áp dụng các biện pháp kỹ thuật này. Việc áp dụng biện pháp kỹ thuật để hạn chế nhập khẩu của các nước đang phát triển hoặc phát triển chậm thường gặp phải khó khăn do phải tuân thủ nguyên tắc đối xử bình đẳng giữa các hàng hoá sản xuất trong nước và hàng hoá nhập khẩu. Cần xây dựng hệ thống tiêu chuẩn đối với công nghệ nhập khẩu để hạn chế nhập khẩu công nghệ lạc hậu. Cần tăng cường bảo hộ máy móc theo tiêu chuẩn kỹ thuật nhằm hạn chế máy móc, thiết bị cũ, lạc hậu, có thể tác động không nhỏ tới hiệu quả vay nợ nước ngoài và tính cạnh tranh ngành và sản phẩm hàng hoá Việt Nam.

Thứ bảy, ưu tiên nhập khẩu công nghệ tiên tiến, công nghệ nguồn, nhập khẩu bằng sáng chế, phát minh về để ứng dụng. Xây dựng trung tâm công nghệ cao thu hút đầu tư nước ngoài của các công ty đa quốc gia để từng bước rút ngắn khoảng cách về công nghệ với các nước trong khu vực.

Cuối cùng, đẩy mạnh cải cách kinh tế, hoàn chỉnh thể chế kinh tế thị trường, thực hiện mạnh mẽ tự do hoá thương mại, xoá bỏ độc quyền, thúc đẩy cải cách hành chính, nâng cao hiệu quả đầu tư, chống lãng phí trong sản xuất và đầu tư xây dựng cơ bản, trong tiêu dùng và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên trong nước…Đó là những biện pháp cơ bản, lâu dài và bền vững để đảm bảo cho Việt Nam có được một cán cân thương mại lành mạnh, góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế nhanh và bền vững trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.

KẾT LUẬN Khóa luận: Giải pháp tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính.

Cuộc khủng hoảng lần này đặt ra những vấn đề căn bản của hệ thống kinh tế toàn cầu – về mô hình phát triển, về các nguyên lý, quy tắc vận hành và về các công cụ phát triển mới. Nó không đơn thuần là sản phẩm của vài sai lầm chính sách nhất thời của một Chính phủ nào đó. Khi định vị cuộc khủng hoảng hiện tại như thế, dễ nhất trí rằng kinh tế thế giới đang trong quá trình chuyển đổi hệ thống. Giống như con rắn đang lột da, hệ thống đang chuyển đổi này rất ít được bảo vệ. Nó rất ít khả năng tự bảo vệ và rất dễ bị tổn thương. Trong xu thế chung đó, các nền kinh tế phát triển cao đã theo đà “tự do hóa”, thả lỏng luôn nhiệm vụ “kiểm soát” chính quá trình tự do hoá, coi nhẹ nhiệm vụ giám sát và điều chỉnh. Kết cục là rủi ro tiềm năng biến thành tai họa hiện thực.

Thứ nhất, có thể nhận định chiều hướng khó lạc quan của nền kinh tế thế giới trong năm 2026. Thậm chí, phải tính đến xu hướng suy thoái gia tăng kéo dài hơn.

Thứ hai, từ một góc nhìn khác, lại thấy sự bừng sáng của hy vọng: triển vọng của nền kinh tế thế giới là triển vọng của một con rắn đang lột da, tuy rất yếu và còn trải qua đau đớn, song, khi đã vượt qua cơn nguy biến chuyển đổi, con rắn chắc chắn sẽ mạnh lên vượt bậc và trở thành một thế lực đáng sợ.

Và việc chọn đề tài này giúp người viết có cái nhìn khái quát về khủng hoảng và tìm hiểu những ảnh hưởng mang tính chất thời sự tới Việt Nam nói chung và lĩnh vực xuất nhập khẩu nói riêng. Khóa luận: Giải pháp tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>> Khóa luận: Hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của khủng hoảng tài chính

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Contact Me on Zalo
0877682993
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x