Khóa luận: Thực trạng sử dụng tài sản ngắn hạn Công ty Điều hòa

Rate this post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Thực trạng sử dụng tài sản ngắn hạn Công ty Điều hòa hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Khóa luận: Thực trạng sử dụng tài sản ngắn hạn tại Công ty Cổ phần Dịch vụ Điều hòa Không khí Việt – Nhật dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

Nội dung chính

2.1 Khái quát về công ty Cổ phần Dịch vụ Điều hòa Không khí Việt – Nhật

2.1.1 Sơ lược quá trình phát triển

2.1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển

Công ty CP Dịch vụ Điều hòa Không khí Việt – Nhật là Công ty Cổ phần (trước đây gọi là Công ty Liên doanh Dịch vụ Điều hòa Không khí Việt – Nhật) được thành lập tại Việt Nam theo Giấy phép Đầu tư số 1490/GP ngày 3 tháng 2 năm 1996 do Bộ Kế Hoạch và Đầu tư cấp và Giấy phép Đầu tư sửa đổi ngày 14 tháng 10 năm 2018.

Sau đó, Công ty nhận được Giấy Chứng nhận Đầu tư số 011043000377 ngày 24 tháng 6 năm 2021 do Ủy ban Nhân dân Thành phố Hà Nội cấp và được sửa đổi ngày 12 tháng 8 năm 2021 để thay thế Giấy Chứng nhận Đầu tư trên và sửa đổi hình thức sở hữu.

Công ty CP Dịch vụ Điều hòa Không khí Việt – Nhật là Công ty thành viên của Tập đoàn ACS, Nhật Bản. Chi tiết về tập đoàn ACS:

  • (a) Tên: AIRCON SERVICE LIMITED
  • Trụ sở chính: Mitakokusai Building, 4-28 Mita, 1-chome, Minato-ku Tokyo, 108 – Nhật Bản
  • Tư cách pháp nhân:
  • Cơ quan cấp: The Legal Affairs Bureau, Tokyo

2.1.1.2. Tổng quan về doanh nghiệp

  • Tên tiếng Việt CÔNG TY CỔ PHẦN DỊCH VỤ ĐIỀU HÒA KHÔNG KHÍ VIỆT – NHẬT
  • Tên tiếng Anh VIETNAM – JAPAN REFRIGERATION AND AIR-CONDITIONING JOINT STOCK COMPANY
  • Tên giao dịch VE&JA JSC
  • Trụ sở chính Số 54 Trần Nhân Tông, phường Nguyễn Du, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội
  • Xưởng Sản xuất Ngõ 120 Trường Chinh, quận Đống Đa, Hà Nội

Ngành nghề kinh doanh Hoạt động chính của Công ty là cung cấp các dịch vụ thiết kế, lắp đặt (kể cả sản xuất đường ống và chi tiết phục vụ cho việc lắp đặt), bảo hành, bảo trì và sửa chữa các thiết bị lạnh, thông gió, hút bụi và điều hòa cho các công trình công nghiệp và dân dụng; thiết bị làm lạnh, điều hòa không khí, hút bụi, thông gió và các linh kiện, phụ tùng thay thế của chúng cho các công trình sử dụng dịch vụ kỹ thuật của Công ty;

Cung cấp dịch vụ tư vấn thiết kế, lắp đặt và bảo dưỡng các hạng mục kỹ thuật điện và cơ cho các công trình xây dựng dân dụng và công nghiệp.

  • Loại hình doanh nghiệp Công ty cổ phần
  • Tổng Vốn đầu tư 000.000 USD trong đó vốn góp để thực hiện dự án là 400.000 USD.
  • Cổ đông sáng lập 1/ AIRCON SERVICE LIMITED (75%)
  • 2/ ÔNG YOICHI SUMITA (12,5%)
  • 3/ ÔNG HIROSHI INOUE (12,5%)

2.1.2 Cơ cấu tổ chức – nhân sự Khóa luận: Thực trạng sử dụng tài sản ngắn hạn Công ty Điều hòa.

Để thực hiện tốt nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, bất kỳ Công ty nào đều có bộ máy tổ chức quản lý với chức năng nhiệm vụ cụ thể để điều hành các hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty mình. Tại Công ty CP Dịch vụ Điều hòa Không khí Việt – Nhật, bộ máy tổ chức quản lý được hình thành theo mô hình trực tuyến chức năng. Theo cơ cấu này Tổng giám đốc trực tiếp điều hành và chịu trách nhiệm với cấp trên về quá trình và kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty. Giúp việc cho Tổng giám đốc có Trưởng Xưởng, Trưởng phòng Cơ, điện và Điều hòa Không khí, Trưởng phòng Điều hành và Kế toán trưởng phụ trách các lĩnh vực khác nhau. Các phòng ban chuyên môn hoá chức năng và tham mưu cho Ban Tổng giám đốc. Với mô hình này, công ty phát huy được năng lực của phòng ban bộ phận, tạo điều kiện cho họ thực hiện chức năng chuyên sâu của mình, cùng gánh vác trách nhiệm quản lý với Tổng Giám đốc.

Nhận xét: Bộ máy quản lý của doanh nghiệp tương đối tinh giảm gọn nhẹ phù hợp với điều kiện quy mô sản xuất kinh doanh, quản lý theo kiểu trực tuyến. Các phòng ban nghiệp vụ đảm nhận các chức năng nhiệm vụ được qui định cụ thể. Số CBNV làm công tác quản lý nghiệp vụ chiếm khoảng 15 % trên tổng số CBCNVC, như vậy có thể thấy bộ máy quản lý của doanh nghiệp là tương đối phù hợp, gọn nhẹ và dễ quản lý nên không cần phải điều chỉnh thêm.

2.1.3 Kết quả kinh doanh chủ yếu

2.1.3.1 Cơ cấu tài sản – nguồn vốn

a, Cơ cấu tài sản – nguồn vốn

  • Bảng 2.1 Cơ cấu tài sản giai đoạn 2024 – 2026
  • Bảng 2.2 Cơ cấu nguồn vốn giai đoạn 2024 – 2026

Bảng 1.1 và 1.2 về cơ cấu tài sản và nguồn vốn qua các năm cho ta thấy tài sản ngắn hạn của công ty Cổ phần Dịch vụ Điều hòa Không khí Việt – Nhật chiềm tỷ trọng 100% trong tổng tài sản của doanh nghiệp. Lý giải cho điều này là do.

Tuy nhiên, thông qua bảng số liệu, ta thấy tổng Tài sản ngắn hạn có xu hướng tăng đều qua mỗi năm. Tổng Tài sản ngắn hạn năm 2025 là 12.239.096.710 đồng, tăng 1.514.610.550 đồng tương ứng với tỉ lệ 14,12% so với năm 2024. Năm 2026, tổng Tài sản ngắn hạn của công ty vẫn tiếp tục tăng đạt 12.475.515.307 đồng, tăng 236.418.590, tương ứng với tỉ lệ 1,93% so với năm 2025 và tỉ lệ 16,33% so với năm 2024, kéo theo sự tăng của tổng tài sản của công ty. Điều này cho ta thấy Tài sản ngắn hạn đóng vai trò rất quan trọng trong cơ cấu tài sản của doanh nghiệp và bất kỳ sự tăng giảm nào của Tài sản ngắn hạn cũng ảnh hưởng đến giá trị tổng tài sản của công ty. Khóa luận: Thực trạng sử dụng tài sản ngắn hạn Công ty Điều hòa.

Hàng tồn kho chiếm tỷ trọng tương đối trong kết cấu Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp.Năm 2024, tỷ trọng kho của doanh nghiệp trong tổng Tài sản ngắn hạn lớn nhất (chiếm 10,08%). Tỷ lệ này giảm xuống còn xấp xỉ 1% và 6,8% do phụ thuộc vào nhu cầu thị trường và tình hình kinh tế. Dựa vào bảng ta thấy năm 2025, do nhu cầu lắp đặt, bảo trì và sửa chữa quạt thông gió, máy điều hòa không khí tăng cao nên giá trị hàng lưu kho giảm rõ rệt, mức giảm 1.071.686.494 đồng (tương ứng tỷ lệ 891,11%). Lúc này hàng tồn kho chỉ chiếm tỷ trọng 0,98% trong tổng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp. Ngược lại, năm 2026 là một năm ảm đạm với tình hình sửa chữa, lắp đặt điều hòa và quạt thông gió do nhu cầu mua sắm của người dân giảm do tác động của khủng hoảng kinh tế, cùng với đó là ganh đua gay gắt của đối thủ cạnh tranh trong ngành, hàng lưu kho 600,76% lên 842.751.032 đồng.

Tương ứng với sự tăng giảm của tài sản, nợ phải trả của công ty bao gồm nợ ngắn hạn và nợ dài hạn cũng có xu hướng tăng trong những năm tiếp theo, cụ thể nợ phải trả năm 2025 tăng 663.719.721 đồng tương ứng với tỷ lệ 13,39% so với năm 2024, năm 2026 tăng 431.291.684 đồng tương ứng với tỷ lệ 7,68% so với năm 2025. Đặc biệt nợ ngắn hạn năm 2025 tăng 656.669.721 đồng so với mức 4.922.505.515 đồng năm 2024 lên mức 5.579.175.236 đồng tương ứng với mức chênh lệch tương đối 13,34%, của năm 2026 là 6.010.466.920 đồng, tức tăng 631.291.684 đồng tương ứng với tỷ lệ 7,68% so với năm 2025, mức tăng này là do:

Người mua trả tiền trước năm 2025 là 1.091.070.625 đồng giảm so với mức 1.501.685.772 đồng năm 2024 là 27,34%, đặc biệt của năm 2026 là 3.663.546.567 đồng, tăng 2.572.475.942 tức 235,77% so với năm 2025, khoản người mua trả tiền trước của công ty Dịch vụ Điều hòa Không khí Việt – Nhất chính là khoản tiền hàng công ty nhận từ khách hàng nhưng tại thời điểm lập bảng cân đối kế toán chưa tới hạn giao hàng, trong năm 2026 công ty chưa cho ra đời sản phẩm mới và chưa tạo được uy tín đối với các đại lý nên có thêm ít đơn hàng thể hiện một phần qua sự tụt giảm trong khoản mục này.

Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước bằng 8.355.568 đồng tại năm 2025 giảm 98,43% so với năm 2024 là 531.855.767 nhưng tại tăng đến 160.755.492 đồng vào năm 2026 do tại thời điểm lập bảng cân đối kế toán năm 2025 các nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước đã được công ty thực hiện một cách gần như đầy đủ, năm 2026 đã được thực hiện một phần.

Phải trả người bán năm 2025 là 317.837.9436 đồng tăng 1.614.852.767 đồng so với năm 2024 tương ứng với tỷ lệ tăng 59,74%, Khoản giảm này là do các nhà cung cấp nới lỏng tín dụng đối với công ty. Điều này cho thấy mối quan hệ của công ty với nhà cung cấp có những bước tiến triển tích cực. Được hưởng các khoản tín dụng từ người bán nhiều có nghĩa là công ty đang được chiếm dụng nhiều hơn vốn của người bán. Điều này gây khó khăn cho công ty vì nếu duy trì điều này lâu dài sẽ giảm uy tín của công ty. Do đó, năm 2026 công ty đã điều chỉnh lại chính sách và kết quả đạt được là phải trả người bán năm 2026 là 2.049.143.761 giảm 2.268.694.182 đồng so với năm 2025 tương ứng với tỷ lệ 52,54%.

Phải trả người lao động năm 2026 là 0 do tại thời điểm lập bản cân đối kế toàn, công ty đã trả hết các khoản lương thưởng cho nhân viên. Khóa luận: Thực trạng sử dụng tài sản ngắn hạn Công ty Điều hòa.

Giai đoạn 2024 – 2026 đánh dấu sự không ổn định của vốn chủ sở hữu, năm 2025 tăng tăng 14,75% so với năm 2024, năm 2026 giảm 2,94% so với năm 2025 mặc dù khoản mục vốn đầu tư của chủ sở hữu không có sự thay đổi trong cả 3 năm 2026, 2025 và 2024 vẫn là 4.488.528.200 đồng. Điều này cho thấy những đổi mới trong kinh doanh, quản lý chất lượng và việc tung ra sản phẩm mới chưa thực sự mang lại hiệu quả rõ rệt cho công ty.

  • Chính sách quản lý tài sản ngắn hạn

Tổng tài sản ngắn hạn và tổng tài sản dài hạn trong cả ba năm 2024, 2025 và 2026 có mức chênh lệch hoàn toàn do công ty trích hết khấu hao tài sản cố định trong năm, cũng như không đầu tư vào các khoản đầu tư tài chính dài hạn và bất động sản nên tài sản dài hạn của công ty là 0. Nhìn những số liệu về tỷ trọng tài sản ta nhận thấy chính sách chủ yếu mà công ty sử dụng là chính sách thận trọng, không có sự cân bằng giữa việc sử dụng tài sản ngắn hạn và dài hạn. Nhược điểm của chính sách quản lý này là thời gian quay vòng tiền dài hơn, chi phí cao hơn, doanh thu thấp hơn kéo theo đó EBIT thấp hơn. Tuy vậy, mức rủi ro mà doanh nghiệp phải đối mặt sẽ thấp hơn, đó là điều quan trọng trong thời điểm thị trường đầy những biến động hiện tại. Vì vậy chính sách này là hợp lý với doanh nghiệp sản xuất như công ty Dịch vụ Điều hòa Không khí Việt – Nhật.

2.1.3.2 Hoạt động sản xuất kinh doanh

  • Bảng 2.3 Báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh

Trong năm 2025, doanh thu về bán hàng của công ty tăng khả cao khoảng 35,15% so với năm 2024, tương dương 63.102.005.300 đồng, có được điều đó là do công ty đã mở rộng thêm thị trường phía Nam (mở thêm chi nhánh ở tp Hồ Chí Minh, Đà Nẵng) nên có thêm khách hàng và doanh thu tăng. Trong cả giai đoạn 2024 – 2026, công ty không có bất cứ khoản giảm trừ doanh thu nào do hàng bán bị trả lại hay phải giảm giá hàng bán. Các khoản giảm trừ doanh thu bằng 0 cho thấy các sản phẩm, dịch vụ của công ty có chất lượng tốt, đáp ứng được yêu cầu của khách hàng và các đối tác. Công ty cần tiếp tục phát huy thế mạnh này để tạo dựng được uy tín, lòng tin của khách hàng, qua đó khẳng định được chỗ đứng vững chắc trên thị trường. Giá vốn hàng bán năm 2025 tăng 6.152.410.942 đồng tương ứng với tỷ lệ 46,13% so với năm 2024, lý giải cho điều này là việc công ty mở rộng thêm đại lý và bán được nhiều sản phẩm hơn làm cho giá vốn hàng bán tăng, tuy nhiên đến năm 2026 giá vốn hàng bán của công ty lại giảm xuống mức 16.414.586.948 đồng (giảm 3.075.224.270 đồng so với năm 2025) do trong năm số lượng sản phẩm tiêu thụ của doanh nghiệp giảm. Cũng trong giai đoạn 2024 – 2026, doanh thu tài chính của công ty có sự sụt giảm đáng kể, năm 2025 giảm 229.712.245 đồng so với năm 2024 tương ứng với tỷ lệ 65,69%. Nguyên nhân do các khoản doanh thu từ hoạt động đầu tư chứng khoán trong năm 2025 giảm sút. Đến năm 2026, doanh thu tài chính của công ty có sự khả quan khi tăng từ 119.980.777 lên mức 147.644.208 đồng. Các khoản chi phí bán hàng, quản lý doanh nghiệp đều tăng do doanh nghiệp mở rộng thị trường ở miền Trung và miền Nam Nam nên tiêu tốn một số tiền khá lớn cho các chiến dịch quảng cáo, PR cho các chi nhánh, mặt khác do tình hình thị trường kinh thế vẫn đang khó khăn nên công ty phải chi nhiều hơn chi phí chào hàng, môi giới sản phẩm, hoa hồng tiếp thị, hoa hồng bán hàng, cùng với đó trong giai đoạn này công ty đã hiện đại hóa các bộ phận bao gồm việc đưa công nghệ thông tin vào bộ phận quản lý và hoàn thiện áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế mới trong hoạt động của doanh nghiệp, điều đó khiến cho lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh giảm tương đối (giảm 15,92% năm 2025 và giảm 12,97% năm 2026) dù trong năm 2026 đánh dấu sự gia tăng doanh thu từ hoạt động tài chính. Chính vì thể tổng lợi nhuận kế toán trước thuế giảm tương đương lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh, giảm 18,01% năm 2025, 11,16% năm 2026. Khóa luận: Thực trạng sử dụng tài sản ngắn hạn Công ty Điều hòa.

Qua số liệu của báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và những phân tích trên có thể thấy doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ năm 2025 và 2026 tăng trưởng mạnh so với năm 2024, công ty không có các khoản giảm trừ doanh thu nhưng vẫn còn lãng phí trong công tác quản lý các khoản chi phí, chi phí bán hàng tăng cao làm giảm lợi nhuận của công ty. So với năm 2024 thì năm 2025, 2026 mức tụt giảm của công ty khá cao.

a, Chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán

  • Bảng 2.4 Các chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán

Khả năng thanh toán của một doanh nghiệp là yếu tố rất quan trọng góp phần vào sự phát triển ổn định của một doanh nghiệp. Khi đảm bảo được khả năng chi trả, doanh nghiệp sẽ có nhiều thuận lợi trong quả trình giao thương, buôn bán với các đối tác khác trên thị trường. Thông qua bảng ta có thể đánh giá được khả năng thanh toán của công ty cổ phần Dịch vụ Điều hòa Không khí Việt – Nhật.

Nhìn chung các chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh toán của công ty Dịch vụ Điều hòa Không khí Việt – Nhật đều khá cao, đa số các chỉ tiêu lớn hơn 1 điều này thể hiện khả năng thanh toán của công ty tốt, cụ thể như sau:

Khả năng thanh toán hiện thời hay khả năng trả nợ của doanh nghiệp trong vòng 1 năm hay 1 chu kỳ kinh doanh: trong cả 3 năm 2024, 2025, 2026, doanh nghiệp luôn duy trì tỷ số này cao hơn 1, tức là tổng Tài sản ngắn hạn luôn cao hơn nợ ngắn hạn của công ty. Đáng chú ý hơn là chỉ số của cả 3 năm đều lớn hơn 2, chứng tỏ công ty hoàn toàn có thể chi trả bất cứ khoản nợ nào nếu phát sinh. Tuy nhiên khả năng thanh toán hiện thời của công ty lại có sự thay đổi nhẹ qua các năm, cụ thể là đến năm 2025, con số này tăng nhẹ 2,18 đơn vị thành 2,19, đến năm 2026, con số này chỉ là 2,08. Lý giải cho sự giảm khả năng thanh toán này là do năm 2026, tổng Tài sản ngắn hạn tăng đạt 12.475.515.307 đồng, tăng 236.418.590, tương ứng với tỉ lệ 1,93% so với năm 2025 và tỉ lệ 16,33% so với năm 2024 nhưng độ tăng lại thấp hơn mức tăng của nợ ngắn hạn (6.010.466.920 đồng, tức tăng 631.291.684 đồng tương ứng với tỷ lệ 7,68% so với năm 2025 và tỷ lệ 22,1% so với năm 2024)

Khả năng thanh toán nhanh, cũng theo đà tăng giảm qua các năm giống chỉ tiêu trước nhưng chỉ số này vẫn năm trong mức khả quan (lớn hơn 1). Chỉ tiêu này cho thấy công ty có thể thanh toán các khoản nợ bằng tài sản ngắn hạn có thể chuyển đổi thành tiền mặt một cách nhanh nhất. Chỉ tiêu khả năng thanh toán nhanh của năm 2025 là 2.17 lần tăng so với năm 2024 là 0.21 lần, nguyên nhân là do trong năm 2025 lượng hàng tồn kho của công ty giảm mạnh (961.386.494 VNĐ), cùng với đó là tài sản ngắn hạn cũng tăng nên khả năng thanh toán nhanh ở mức khá cao. Tuy nhiên, nếu tồn kho thấp, công ty dễ bỏ lỡ cơ hội nếu nguồn cung thị trường tăng, thiếu linh động trong biến động về đầu vào. Do đó, công ty đã chủ động điều chỉnh lượng hàng tồn kho (tăng 722.487.957 so với mức 120.263.075 năm 2025), một phần là do mức tăng tổng Tài sản ngắn hạn thấp hơn mức tăng của nợ ngắn hạn đã nói ở trên, nên năm 2026, khả năng thanh toán nhanh của công ty chỉ đạt 1,94 lần.

Khả năng thanh toán tức thời cho thấy khả năng thanh toán ngay các khoản nợ của doanh nghiệp bằng tiền như tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển và các khoản tương đương tiền. Con số này luôn đạt ở mức lớn hơn 1 qua các năm 2024 – 2026 cho thấy doanh nghiệp luôn sẵn sàng để thanh toán ngay cho bất kỳ khoản nợ nào phát sinh. Nếu như năm 2024 khả năng thanh toán nhanh của công ty vẫn còn ở mức 1,40 lần thì đến năm 2025 đã tăng nhẹ 0,03 lần lên tới 1,43 lần. Nguyên nhân là do tại năm 2025, tiền và các khoản tương đương tiền của công ty có tốc tăng độ tăng nhanh hơn so với khoản nợ ngắn hạn. Đến năm 2026, do ảnh hưởng từ suy thoái kinh tế, tiền và các khoản tương đương tiền đều giảm ( từ 7.954.195.778 năm 2025 xuống 7.054.301.048 năm 2026), cùng với đó là nợ ngắn hạn của công ty tăng khiến cho chỉ số này chỉ dừng lại ở mức 1,17.

Nhìn chung, doanh nghiệp hầu như có thể chi trả được các khoản nợ trong ngắn hạn do có tình hình thanh toán khá khả quan, tuy nhiên cũng cần chú ý rằng khi công ty dự trữ khá nhiều tiền và các khoản tương đương tiền để có thể chi trả cũng có thể làm vòng quay tiền chậm, kéo theo hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn giảm.

  • b, Các chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lời Khóa luận: Thực trạng sử dụng tài sản ngắn hạn Công ty Điều hòa.

Tỷ suất sinh lời trên doanh thu của công ty giảm dần qua các năm. Năm 2024 có chỉ số cao nhất 15,93%, chỉ số này giảm tiếp 6,98% xuống còn 8,95% do lợi nhuận ròng năm 2025 sụt giảm 498.048.264% (tương đương 18%) so với năm 2024. Chỉ số này lại tiếp tục giảm tiếp xuống còn 7,2%. Vì tỷ suất sinh lời trên doanh thu cho ta thấy 100 đồng doanh thu từ bán hàng sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận nên ta có thể thấy tình hình sinh lời không khả quan của công ty, đặt biệt là năm 2026

Chỉ số tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản cho ta thấy hiệu quả quản lý và sử dụng tài sản tạo ra thu nhập cho doanh nghiệp như thế nào. Chỉ số này đạt mốc cao nhất vào năm 2024 (25,79%), sau đó cũng theo đà giảm 8,63% xuống còn 17,16% trong năm 2025 do sự giảm xuống của lợi nhuận ròng nhưng tổng tài sản của doanh nghiệp sở hữu lại tăng. Đến năm 2026, chỉ số này tiếp tục sụt giảm 5,31% vẫn do nguyên nhân trên. Chỉ số tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản bằng với chỉ số tỷ suất sinh lời của tổng Tài sản ngắn hạn do công ty có tài sản dài hạn = 0, chỉ số này cũng cho thấy tình hình sử dụng Tài sản ngắn hạn là rất thấp, hàng hóa khó bán do gặp thời điểm kinh tế khó khăn nên kém lưu thông, đồng thời công ty chưa có phương án điều chỉnh chiến lược kinh doanh phù hơp

2.2 Thực trạng quản lý tài sản ngắn hạn của công ty Cổ phần Dịch vụ Điều hòa Không khí Việt – Nhật Khóa luận: Thực trạng sử dụng tài sản ngắn hạn Công ty Điều hòa.

2.2.1 Thực trạng cơ cấu tài sản ngắn hạn

  • Bảng 2.5 Cơ cấu tài sản ngắn hạn năm 2024 – 2026
  • Đồ thị 2.1 Biểu đồ cơ cấu tài sản ngắn hạn giai đoạn 2024 – 2026

TSNH của công ty cổ phần Dịch vụ Điều hòa Việt – Nhật bao gồm tiền mặt, khoản phải thu khách hàng, hàng tồn kho và tài sản ngắn hạn khác. Trong 3 năm, tỷ trọng các bộ phận cấu thành tăng giảm phản ánh tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp chịu nhiều ảnh hưởng từ tác động của nền kinh tế chung.

Năm 2025, tổng Tài sản ngắn hạn của công ty là 12.239.096.710 đồng, tăng tương đương 14,13% so với năm 2024. Trong năm này, khoản mục ngắn hạn chiếm tới 32,06% ( tương ứng 3.461.701.505 đồng), với xu hướng ngược lại, hàng tồn kho lại chiếm tỷ trọng tương đối thấp, xấp xỉ 1% chứng tỏ tình hình kinh doanh của công ty diễn biến tốt. Thời điểm này, công ty dự trữ tới 7.954.195.778 đồng tiền mặt ( 64,99% tổng cơ cấu Tài sản ngắn hạn của công ty) để chi trả các khoản phát sinh. Sang năm 2026, tình hình kinh doanh của công ty không khả quan như năm 2025, khoản mục hàng tồn kho tăng từ 0,98% đến 6,76%, lượng tiền mặt tồn quỹ giảm xuống còn 7.054.301.048 đồng. Duy nhất khoản phải thu khách hàng vẫn tiếp tục tăng nhưng mức tăng không cao hơn so với năm 2024.

Thông qua bảng ta có thể thấy khoản tiền và các khoản tương đương tiền luôn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp ( giai đoạn 2024- 2026 luôn lớn hơn 50%). Lý giải cho điều này là trong giai đoạn 2024 – 2026 doanh nghiệp bán một lượng lớn nguyên vật liệu, lý do nữa là do doanh nghiệp không đầu tư vào tài sản dài hạn nên cần một lượng tiền lớn để giải quyết những sự cố bất ngờ trong kinh doanh (do tiền có tính thanh khoản cao). Chính vì vậy khoản mục này trên bản cân đối kế toán của công ty luôn chiếm tỷ trọng cao hơn những khoản mục khác trên tổng tài sản ngắn hạn

2.2.2 Thực trạng quản lý tiền và các khoản tương đương tiền Khóa luận: Thực trạng sử dụng tài sản ngắn hạn Công ty Điều hòa.

Việc quản lý tiền trong doanh nghiệp rất quan trọng vì doanh nghiệp luôn phải duy trì một khoản tiền tồn quỹ để đảm bảo chi tiêu thường xuyên, giải quyết các biến cố bất ngờ trong kinh doanh, nhưng cũng vẫn cần phải đem tiền đi đầu tư sinh lời

Tại công ty cổ phần Dịch vụ Điều hòa Không khí Việt – Nhật, tiền được lưu trữ dưới hai hình thức: tiền mặt tại công ty và tiền gửi ngân hàng. Dưới đây là bảng thống kê chi tiết

  • Bảng 2.6 Cơ cấu tài sản ngắn hạn bằng tiền năm 2024 – 2026
  • Đồ thị 2.2 Biểu đồ cơ cấu tài sản bằng tiền giai đoạn 2024 – 2026

Kết cấu tài sản ngắn hạn bằng tiền của doanh nghiệp bao gồm tiền mặt và tiền gửi ngân hàng. Trong đó tiền gửi ngân hàng chiếm tỷ trọng cao hơn, tỷ lệ tiền gửi ngân hàng qua các năm lần lượt là 64,39%, 64,68%, 56,2%. Tiền mặt chỉ chiếm một phần nhỏ, trong giai đoạn 2024 – 2026 tỷ lệ tiền mặt luôn nhỏ hơn 1%. Dựa vào số liệu trong bảng ta có thể thấy ở giai đoạn 2024 – 2025, tiền và các khoản tương đương tiền bao gồm tiền mặt và tiền gửi ngân hàng năm 2025 tăng 1.004.547.940 VNĐ tương ứng với tỉ lệ 14,45% so với năm 2024. Lượng tiền này tăng do trong năm doanh nghiệp bán một lượng lớn nguyên vật liệu. Tuy nhiên, chỉ có khoản mục tiền gửi ngân hàng tăng (từ 6.905.593.161 lên 7.915.725.072, tăng 1.010.131.911 đồng), trong khi đó lượng tiền mặt trong công ty lại giảm (từ 44.054.677 xuống 38.470.706, giảm 5.583.971 đồng). Nguyên nhân là do tình hình kinh tế năm 2025 không ổn định, mức lạm phát 20% kéo theo sự sụt giảm 9,3% giá trị của đồng tiền VND tạo ra những khoản lỗ tỷ giá đối với các công ty có nghiệp vụ xuất nhập khẩu như công ty Dịch vụ Điều hòa Không khí Việt – Nhật vì vậy công ty đã cố gắng giữ lượng tiền tồn quỹ ít hơn để tránh tình trạng mất giá. Trong giai đoạn 2025 – 2026, do doanh nghiệp đang tiến hành mở rộng thị trường ở miền Trung và miền Nam ( chi nhánh TPHCM, chi nhánh Đà Nẵng) nên tiêu tốn một số tiền khá lớn cho các chiến dịch quảng cáo, PR cho các chi nhánh, mặt khác do tình hình thị trường kinh thế vẫn đang khó khăn nên công ty phải chi nhiều hơn chi phí chào hàng, môi giới sản phẩm, hoa hồng tiếp thị, hoa hồng bán hàng, dẫn đến tiền gửi tại ngân hàng đã rút xuống 904.917.614 đồng (tương đương 12,9%) để đưa về nhập quỹ công ty.

Tiền gửi tại ngân hàng trong ngắn hạn tuy chỉ được hưởng lãi suất nhưng cũng bù đắp được phần nào chi phí cơ hội cho công ty. Công ty hiện nay đang gửi tiền tại một số ngân hàng khác nhau phục vụ cho mục đích thanh toán qua các hệ thống ngân hàng như ngân hàng Techcombank, VIB. Hiện nay công ty đã chuyển đổi hình thức trả lương từ kiểu truyền thống sang liên kết với ngân hàng chi trả lương qua tài khoản ngân hàng, việc này vừa đảm bảo thời gian trả lương cho nhân viên và đảm bảo tính an toàn, thuận tiện. Sự chuyển đổi này thể hiện thông quá tính chính xác trong thời hạn trả lương, nhanh chóng và chính xác, doanh nghiệp không cần rút tiền từ ngân hàng rồi lại trả cho người lao động, vừa phải thực hiện nhiều thủ tục, vừa mất chi phí vận chuyển và bảo quản tiền mặt.

Hiện nay việc quản lý tiền tại công ty được giao cho một kế toán chuyên biệt có kinh nghiệm và kỹ năng để tổng hợp, ghi chép các nghiệp vụ, nhật ký chi trả, tập hợp các chứng từ liên quan đến các hoạt động sản xuất kinh doanh thường ngày. Kế toán quản lý có trách nhiệm tổng kết một báo cáo liên kế toán trưởng mỗi ngày. Nếu phát hiện sai sót thì kết toán trưởng và kế toán phụ trách tiền mặt phải rà soát chi tiết và báo cáo lên cấp trên để có phương án giải quyết. Quản lý tiền tại công ty hiện không dựa trên bất cứ mô hình nào mà chủ yếu dựa trên phân tích xu hướng, tức là doanh nghiệp tiến hành kiểm kê luồng tiền ra vào hàng năm và dựa trên chiến lược kinh doanh của công ty để dự báo, ước lượng khoản tiền cần dự trữ trong quỹ tại công ty, số còn lại sẽ gửi vào ngân hàng để thu lời.

2.2.3 Thực trạng quản lý hàng tồn kho Khóa luận: Thực trạng sử dụng tài sản ngắn hạn Công ty Điều hòa.

Hàng tồn kho là khoản mục không thể thiếu đối với bất kỳ doanh nghiệp nào song tùy thuộc vào ngành nghề, lĩnh vực mà doanh nghiệp đang kinh doanh thì nhu cầu về hàng tồn kho của mỗi doanh nghiệp lại khác nhau.

Hoạt động chính của Công ty Cổ phần Dịch vụ Điều hòa Không khí Việt – Nhật là cung cấp các dịch vụ thiết kế, lắp đặt, bảo hành, bảo trì và sửa chữa các thiết bị lạnh, thông gió, hút bụi và điều hòa cho các công trình công nghiệp và dân dụng… nên hàng tồn kho của công ty thường là thành phẩm, sẵn sàng đưa vào lưu thông bất cứ lúc nào. Sau đây là tình hình tồn kho qua các năm

  • Bảng 2.7 Cơ cấu hàng tồn kho giai đoạn 2024 – 2026
  • Đồ thị 2.3 Biểu đổ cơ câu hàng lưu kho giai đoạn 2024 – 2026

Hàng tồn kho chiếm tỷ trọng tương đối trong kết cấu Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp. Doanh nghiệp chủ yếu dự trữ nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, hàng hóa phục vụ cho hoạt động thiết kế, lắp đặt, bảo hành, bảo trì và sửa chữa các thiết bị lạnh, thông gió, hút bụi và điều hòa. Năm 2024, tỷ trọng kho của doanh nghiệp trong tổng Tài sản ngắn hạn lớn nhất (chiếm 10,08%). Tỷ lệ này giảm xuống còn xấp xỉ 1% và 6,8% do phụ thuộc vào nhu cầu thị trường và tình hình kinh tế. Dựa vào bảng ta thấy năm 2025, do nhu cầu lắp đặt, bảo trì và sửa chữa quạt thông gió, máy điều hòa không khí tăng cao nên giá trị hàng lưu kho giảm rõ rệt, mức giảm 1.071.686.494 đồng (tương ứng tỷ lệ 891,11%). Lúc này hàng tồn kho chỉ chiếm tỷ trọng 0,98% trong tổng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp. Ngược lại, năm 2026 là một năm ảm đạm với tình hình sửa chữa, lắp đặt điều hòa và quạt thông gió do nhu cầu mua sắm của người dân giảm do tác động của khủng hoảng kinh tế, cùng với đó là ganh đua gay gắt của đối thủ cạnh tranh trong ngành, hàng lưu kho 600,76% lên 842.751.032 đồng. Có thể nói năm 2025 là năm khả quan nhất trong những năm đang xét. Khóa luận: Thực trạng sử dụng tài sản ngắn hạn Công ty Điều hòa.

Cũng giống như quản lý tiền mặt, doanh nghiệp cũng quản lý hàng tồn kho dựa trên kinh nghiệm quản lý của ban giám đốc. Công ty luôn xác định dự trữ một lượng hàng đủ cung cấp cho các đơn vị hàng lớn và nhỏ. Cần chú ý thêm, ngành dịch vụ điều hòa không khí là ngành mang tính thời vụ. Nhu cầu lắp đặt và sử dụng, sử chữa điều hòa, máy làm lạnh, quạt thông gió… thường phát sinh vào mùa hè (khoảng tháng 4 đến giữa tháng 7). Nắm bắt được tâm lý này, công ty dự trữ nguyên vật liệu nhiều hơn trong khoản thời gian này nhưng vẫn đủ đảm bảo cho các đơn hàng dài hạn khác. Hiện nay công ty đang cung cấp các dịch vụ thiết kế, lắp đặt, bảo hành, bảo trì và sửa chữa các thiết bị lạnh, thông gió, hút bụi và điều hòa cho các công trình công nghiệp và dân dụng, thực hiện quyền nhập khẩu, quyền phân phối bán buôn và bán lẻ các loại thiết bị điện và cơ, thiết bị làm lạnh, điều hòa không khí, hút bụi, thông gió và các linh kiện, phụ tùng thay thế của chúng cho các công trình sử dụng dịch vụ kỹ thuật của Công ty, cung cấp dịch vụ tư vấn thiết kế, lắp đặt và bảo dưỡng các hạng mục kỹ thuật điện và cơ cho các công trình xây dụng dân dụng và công nghiệp, cung cấp dịch vụ thi công, xây dụng các công trình kỹ thuật dân dụng, công tác lắp dựng, lắp đặt và các công tác thi công khác tập trung chủ yếu trên địa bàn Hà Nội và đang mở rộng ra thị trường TP.HCM và Đà Nẵng, tuy nhiên do hai chi nhánh còn mới nên chưa tạo được uy tín.

Nhìn chung, trong tổng Tài sản ngắn hạn, giá trị hàng tồn kho chiếm vị trí tương đối do đặc thù của ngành nghề, công ty luôn luôn dự trữ một lượng hàng hóa để có thể đáp ứng bất cứ nhu cầu nào phát sinh từ phía khách hàng song cũng tốn kém chi phí cho doanh nghiệp về tồn kho và chi phí quản lý. Hiện nay, hàng tồn kho vẫn đang được quản lý theo phương pháp truyền thống, thủ kho là người quản lý, theo dõi tình hình lưu thông của hàng hóa, nhược điểm là vẫn chưa có sự phối hợp hiệu quả với các bộ phận khác để thúc đẩy bán hàng nhằm đẩy nhanh vòng quay hàng tồn kho.

2.2.4 Thực trạng quản lý khoản phải thu ngắn hạn

Khoản phải thu ngắn hạn của Công ty bao gồm: phải thu khách hàng, trả trước cho người bán, phải thu nội bộ ngắn hạn và các khoản phải thu khác. Trong đó khoản phải thu khách hàng là một trong những mục tiêu lớn của doanh nghiệp để kích thích khách hàng mua và sử dụng hàng hóa, dịch vụ, doanh nghiệp thường áp dụng chính sách tín dụng thương mại để thu hút và giữ chân được nhiều khách hàng, tăng khả năng cạnh tranh và cung cấp dịch vụ với các đối thủ khác. Dưới đây là bảng chi tiết các mục phải thu ngắn hạn trong 3 năm (từ năm 2024 đên năm 2026)

  • Bảng 2.8 Cơ cấu phải thu ngắn hạn năm 2024 – 2026
  • Đồ thị 2.4 Biểu đồ cơ cấu phải thu ngắn hạn giai đoạn 2024 – 2026

Biểu đồ thể hiện cơ cấu khoản phải thu ngắn hạn của công ty cổ phần Dịch vụ Điều hòa Không khí Việt – Nhật bao gồm phải thu khách hàng, trả trước cho người bán, phải thu nội bộ ngắn hạn và các khoản phải thu khác. Khoản mục này trong giai đoạn 2024 – 2026 chiếm tỷ trọng tương đối trong cơ cấu Tài sản ngắn hạn. Cụ thể, năm 2025, nhờ tình hình bán hàng tốt nên khoản phải thu tăng mạnh (mức tăng 1.048.802.934 đồng, tương ứng 172,35%) đạt mốc 1.657.349.874 đồng. Một phần nguyên nhân do trong năm 2025 để bán được nhiều hàng hóa công ty đã kéo dài đồng loạt thời hạn thanh toán 16 ngày so với năm 2024 cho khách hàng, vì vậy bị khách hàng chiếm dụng môt lượng vốn không nhỏ. Trong năm 2026, khoản phải thu khách hàng giảm 712.774.691 đồng, tương ứng với tỷ lệ 43%, xuống còn 944.575.183 đồng, điều này chứng tỏ công ty đã có những chính sách tín dụng hợp lý hơn tùy vào uy tín và khả năng tài chính của khách hàng nhằm giảm thiểu tối đa rủi ro từ các khoản cấp tín dụng cho khách hàng. Khóa luận: Thực trạng sử dụng tài sản ngắn hạn Công ty Điều hòa.

Khoản trả trước người bán năm 2025 giảm 263.765.040 VNĐ tương ứng với tỷ lệ 27,34%, khoản mục này ghi nhận tiền hàng đặt cọc trước của công ty để mở rộng sản xuất, tại năm 2025 chỉ còn một phần nhỏ hàng chưa về nhập kho nên trả trước người bán ít hơn so với năm 2024. Sang năm 2026, khoản trả người bán tăng trở lại đạt mốc 3.052.920.032 do doanh nghiệp trong năm có nhập về kho một lô hàng lớn.

Ngoài ra, kế toán ghi nhận khoản thu nội bộ ngắn hạn trong 2 năm 2024 và 2025 lần lượt là 946.600.000 và 1.039.500.000 đồng do đây là khoản xuất bán đại lý lý của công ty, vào thời điểm lập bảng cân đối kế toán doanh nghiệp nhận được tiền đặt cọc của các đại lý.

Các khoản phải thu ngắn hạn khác trong giai đoạn 2024 – 2026 không có sự thay đổi, tuy có mức tăng trưởng tương đối cao nhưng chênh lệch tuyệt đối của khoản này không quá lớn và tỷ trọng nhỏ so với tổng tài sản, đây là khoản mục không quá quan trọng trên bảng cân đối của công ty Dịch vụ Điều hòa Không khí Việt – Nhật, thường dùng để ghi nhận tiền phạt công nhân viên chưa thu.

Nhìn chung công ty đã có sự thay đổi trong chính sách tín dụng hiệu quả khi khoản phải thu khách hàng luôn được duy trì ở mức khá cao trong giai đoạn 2024 – 2026, để có được điều này công ty đã áp dụng chính sách tín dụng thương mại cho các đối tượng khác nhau như:

  • Với khách hàng nhỏ lẻ: doanh nghiệp yêu cầu thanh toán ngay khi giao nhận hàng hóa

Còn đối với những khách hàng lớn, thời gian hợp tác lâu dài, công ty sẽ đưa ra chiết khấu thanh toán phù hợp, thường là 2/10 net 30 hoặc 2/10 net 46 với những đơn hàng lớn. Cụ thể, khách hàng nếu thanh toán ngay trong 10 ngày thì sẽ được hưởng chiết khấu thanh toán 2% trên tổng đơn hàng, nếu không khách hàng phải đảm bảo trả đầy đủ nợ cho công ty trong vòng 30 ngày hoặc 46 ngày. Bộ phận kinh doanh của doanh nghiệp cũng được phân chia đê chăm sóc các nhóm khách hàng khác nhau, với nhóm khách hàng lâu dài mà chủ yếu là các công ty, các công trình lớn thì cần duy trì mối quan hệ lâu dài, có chính sách than thiện, khuyến khích thanh toán sớm để hưởng chiết khấu thanh toán của công ty.

Từ đó ta thấy chính sách chiết khấu thanh toán là đòn bẩy cần thiết để thu hút các khách hàng tiềm năng đến với doanh nghiệp. Tuy nhiên công ty cũng cần tính toán hợp lý khoản chiết khấu thanh toán mà khách hàng nhận được để tránh ảnh hưởng tới doanh thu, nếu không, doanh nghiệp sẽ tốn không ít tiền chi cho khoản chi phí để thúc đẩy bán hàng này. Mặt khác, công tác thu hồi nợ cũng cần được đẩy mạnh tích cực để thu hồi vốn về cho công ty trong thời gian cho phép để không ảnh hưởng đến chu trình kinh doanh của công ty.

2.2.5 Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của công ty Cổ phần Dịch vụ Điều hòa Không khí Viêt – Nhật Khóa luận: Thực trạng sử dụng tài sản ngắn hạn Công ty Điều hòa.

  • Các chỉ tiêu đánh giá tình hình sử dụng tài sản ngắn hạn

Để xem xét hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn cửa công ty, ta xét một số chỉ tiêu được liệt kê trong bảng sau:

  • Bảng 2.9 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng Tài sản ngắn hạn

Hiệu suất sử dụng Tài sản ngắn hạn cho biết 100 đồng vốn đem đầu tư vào Tài sản ngắn hạn trong kỳ tạo ra bao nhiêu doanh thu thuần. Dựa vào bảng số liệu ta có thể thấy lãi suất tạo ra doanh thu từ việc đầu tư vào Tài sản ngắn hạn có sự biến động giữa 2 giai đoạn 2024 – 2025 và giai đoạn 2025 – 2026. Năm 2024, 100 đồng đầu tư vào Tài sản ngắn hạn tạo ra 161,85 đồng doanh thu thuần. Đến năm 2025, 100 đồng đầu tư vào Tài sản ngắn hạn lại tạo ra 191,68 đồng doanh thu, tức là tăng 29,83 đồng, cho thấy việc tiếp tục đầu tư vào Tài sản ngắn hạn đem lại hiệu quả. Tuy nhiên, doanh nghiệp đã không duy trì được sự hiểu quả đó khi đến năm 2026, cũng 100 đồng đó nhưng chỉ tạo ra 164,6 đồng doanh thu thuần (tương đương với mức giảm 27,08 đồng), do sự giảm sút của doanh thu thuần (mức giảm 2.925.545.240 tương dương với tỷ lệ 12,14%) cùng với đó là sự gia tăng Tài sản ngắn hạn (từ 12.239.096.710 năm 2025 lên 12.475.515.307 năm 2026).

Cũng xem xét khả năng sinh lời của tài sản, tỷ suất sinh lời qua các năm cho biết 100 đồng Tài sản ngắn hạn có khả năng tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận ròng. Dựa vào bảng số liệu ta có thể thấy lãi suất tạo ra lợi nhuận ròng từ việc đầu tư vào Tài sản ngắn hạn giảm dần qua các năm. Năm 2024, 100 đồng đầu tư vào Tài sản ngắn hạn tạo ra 25,79 đồng lợi nhuận ròng. Sau đó, cũng 100 đồng vồn đầu tư vào Tài sản ngắn hạn lại chỉ tạo ra 17,16 và 11,85 đồng lợi nhuận vào năm 2025 và 2026. Điều này chứng tỏ sự sắp xếp, phân bổ Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp chưa hiệu quả.

Thông qua bảng này ta thấy hiệu quả sử dụng tài sản cao hơn khá nhiều so với tỷ suất sinh lời của Tài sản ngắn hạn. Có thể lý giải điều này thông qua tình hình sản xuất kinh doanh như sau: trong giai đoạn 2024 – 2026, doanh thu thuần của doanh nghiệp thu được ở mức tương đối nhưng lợi nhận ròng có được từ doanh thu còn lại khá ít. Chứng tỏ doanh nghiệp vẫn còn tồn tại khoản chi phí lớn từ chi phí tài chính, chi phí bán hàng song chủ yếu là chi phí quản lý doanh nghiệp. Chi phí này phát sinh từ lương cho nhân viên quản lý, bảo hiểm, chi phí văn phòng, tiền thuê đặt cọc địa điểm ở hai chi nhánh mới. Chính vì vậy để tăng hiệu quả sử dụng Tài sản ngắn hạn doanh nghiệp cần rà soát lại các khoản chi phí và phân bổ hợp lý

  • Bảng 2.10 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng các bộ phận cấu thành Tài sản ngắn hạn của Công ty Dịch vụ Điều hòa Không khí Viêt – Nhật

Thông qua bảng ta thấy hiệu quả sử dụng của các bộ phận cấu thành Tài sản ngắn hạn.

Trước tiên, vòng quay khoản phải thu phản ảnh tốc độ biến đổi của các khoản phải thu thành tiền mặt hay chỉ số này dùng để đo lường hiệu quả và chất lượng khoản phải thu thông qua thời gian thu hồi nợ trung bình. Dễ dàng nhận thấy giai đoạn 2024 – 2026, vòng quay khoản phải thu giảm thì thời gian thu nợ của công ty tăng và ngược lại. Năm 2024 mất 12,8 ngày để thu hồi một món nợ. Sang năm 2025, công ty mất thêm 12,98 ngày nữa để thu hồi và năm 2026 số ngày để thu hồi một món nợ được rút ngắn 8,99 ngày. Khóa luận: Thực trạng sử dụng tài sản ngắn hạn Công ty Điều hòa.

Chỉ tiêu vòng quay hàng tồn kho cho ta thấy hiệu quả quản lý hàng tồn kho của công ty giai đoạn 2024 – 2026. Nhìn chung qua ba năm, số lần quay vòng của hàng tồn kho lớn chứng tỏ tình hình lưu thông hàng hóa khá tốt. Đặc biệt là năm 2025, hàng tồn kho quay 162,1 vòng trong một năm nên thời gian lưu kho trung bình của vật liệu thấp (khoảng 2,25 ngày) nhờ vào giá vốn hàng bán tăng 46,13% so với năm 2024 và hàng tồn kho giảm 88,88%. Năm 2026, hàng lưu kho quay vòng 19,48 lần/năm, tuy giảm so với năm 2025 nhưng vẫn tăng so với năm 2024.

Vòng quay khoản phải trả phản ánh khả năng trả nợ của doanh nghiệp hay cho biết khả năng chiếm dụng vốn của công ty với các nhà cung cấp. Có thể thấy rõ, trong năm 2025, doanh nghiệp ít chiếm dụng được vốn do vòng quay khoản phải trả lên tới 2541.7 lần, tương ứng cứ khoảng chưa đến 1 ngày (0,14) là doanh nghiệp phải trả một khoản nợ cho nhà cung cấp. Chỉ số này cũng cho thấy mức độ uy tín của doanh nghiệp khi sang năm 2026, doanh nghiệp chiếm dụng được vốn dài hơn với thời gian trả nợ trung bình là hơn 3 ngày (3,16). Tuy không nhiều nhưng khoản thời gian chiếm dụng vốn này có thể giúp doanh nghiệp tận dụng cho các khoản cần chi trả gấp hơn.

Chỉ số vòng quay tiền là tổng hợp của các chỉ tiêu cho thấy thời gian doanh nghiệp thu hồi tiền trong sản xuất kinh doanh. Nhìn chung, trong giai đoạn 2024 – 2026, do tình hình kinh doanh không thuận lợi, hàng hóa kém lưu thông thì doanh nghiệp mất trung bình 30 ngày để thu hồi tiền trong kinh doanh.

2.3 Đánh giá thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của Công ty Cổ phần Dịch vụ Điều hòa Không khí Việt – Nhật

2.3.1 Kết quả đạt được

Sau khi phân tích chi tiết thực trạng quản lý và sử dụng tài sản ngắn hạn của công ty cổ phần Dịch vụ Điều hòa Không khí Việt – Nhật, ta có thể thấy công ty đã chú trọng đến phát triển doanh nghiệp theo hướng lâu dài và cố gắng duy trì doanh nghiệp trong giai đoạn kinh tế bất ổn và khó khăn hiện nay. Doanh thu đã tăng lên đáng kể trong năm 2025 kéo theo hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn cũng tăng lên, cho thấy việc tiếp tục đầu tư vào tài sản ngắn hạn đem lại hiệu qua, sang năm 2026 vì bối cảnh khó khăn chung song doanh nghiệp đã rất cố găng duy trì doanh thu thuần tương đối ổn định. Lượng vốn bằng tiền cao cho phép công ty chủ động trong việc mua hàng trả tiền ngay để hưởng chiết khấu thanh toán và cũng đảm bảo tài trợ cho các khoản nợ ngắn hạn.

Khả năng sinh lời của tài sản ngắn hạn qua các năm đều lớn hơn 0 chứng tỏ hoạt động kinh doanh của công ty đạt hiệu quả, lợi nhuận luôn dương do đó có thể nói tài sản ngắn hạn của công ty được hiệu quả

Đáng chú ý, trong quản lý tài sản ngắn hạn doanh nghiệp đã có nhiều thay đổi. Doanh nghiệp đã chuyển đổi hình thức trả lương cho nhân viên thông qua hệ thống ngân hàng, đem lại nhiều lợi ích và giảm được khoản chi phí cho việc giữ tiền.

Quản lý hàng tồn kho cũng có thay đổi nhờ doanh nghiệp bắt đầu nắm bắt được quy luật về dự trữ vật liêu, hàng hóa theo chu kỳ mùa vụ. Nhìn chung qua ba năm, số lần quay vòng của hàng tồn kho lớn chứng tỏ tình hình lưu thông hàng hóa tốt.

Thời gian thu nợ của Công ty có xu hướng giảm trong giai đoạn 2025 – 2026, chứng tỏ trong giai đoạn này, việc thu nợ từ khách hàng đạt hiệu quả, thời gian Công ty bị khách hàng chiếm dụng vốn cũng ngắn đi.

Năm 2026, chỉ số thời gian trả nợ trung bình phản ánh thời gian chiếm dụng vốn của khách hàng, tăng lên tuy không nhiều nhưng khoản thời gian này có thể giúp doanh nghiệp tận dụng các khoản chi trả gấp hơn.

Trải qua nhiều giai đoạn khó khăn, đặc biệt là năm 2025 đầy bất ổn nhưng doanh nghiệp vẫn tiền hành mở rộng thêm hai chi nhánh tại hai thành phố Hồ Chí Minh và thành phố Đà Nẵng nhằm tiếp tục mở rộng địa bàn ra ngoài Hà Nội.

2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân Khóa luận: Thực trạng sử dụng tài sản ngắn hạn Công ty Điều hòa.

2.3.2.1 Hạn chế

Bên cạnh những kết quả đạt được, việc sử dụng và quản lý tài sản ngắn hạn tại công ty vẫn còn tồn tại một số hạn chế sau:

Thứ nhất, khả năng sinh lời trên tổng tài sản ngắn hạn đang có xu hướng giảm đi trong năm 2025 (- 8,63) và 2026 (- 5,31). Điều này giảm khả năng sinh lời trên tài sản ngắn hạn của công ty

Thứ hai, khả năng thanh toán tức thời và khả năng thanh toán nhanh của công ty tuy vẫn giữ ở mức khá tốt nhưng có xu hướng giảm sút trong năm 2026, gây ra một số khó khăn cho công ty trong những trường hợp cần thanh toán đột xuất cho đối tác.

Thứ ba, hàng tồn kho của công ty dự trữ trong năm 2026 còn tăng cao khiến công ty phải dành một khoản chi phí đáng kể để quản lý, bảo quản kho hàng tồn kho. Bên cạnh đó, việc dự trữ một lượng lớn hàng tồn kho làm cho tốc độ luân chuyển hàng tồn kho cũng giảm theo, kéo theo thời gian quay vòng hàng tồn kho tăng cao làm giảm hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn

Thứ tư, tốc độ luân chuyển các khoản phải thu biến động qua các năm, đặc biệt trong năm 2025 và 2026, các khoản phải thu tăng, giảm đột ngột làm hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn biến động theo. Đồng thời năm 2025 cho thấy vốn bị ứ đọng lâu trong khâu thanh toán, khả năng quay vòng còn thấp, nhu cầu tài sản ngắn hạn tăng cao.

2.3.2.2 Nguyên nhân

  • Nguyên nhân chủ quan

Thứ nhất, công ty chưa tích cực đổi mới công nghệ, trang thiết bị. Máy móc cũ và lạc hâu, sử dụng công nghệ cũ, lạm dụng nhân lực, điều này đã dẫn hiệu quả không cao. Tài sản ngắn hạn ứ đọng nhiều trong hàng tồn kho.

Thứ hai, quản lý và sử dụng ngân sách không hợp lý cũng một phần gây ra sự thiếu hiệu quả trong việc sử dụng tài sản ngắn hạn của công ty, vì trong những năm gần đây, lượng tiền mặt có sẵn của doanh nghiệp còn ít nên mỗi lần chi tiêu gấp thì thường phải rút ở ngân hàng, làm mất thời gian và dễ gây nhầm lẫn cho bộ phận kế toán nếu phải chuyển đổi nhiều lần. Ngoài ra, công ty cần đặt sự quan tâm vào các khoản phải thu, các khoản phải thu khách hàng tuy có sự giảm trong năm 2026 nhưng vẫn là con số khá cao. Điều này sẽ làm ảnh hưởng tới các chỉ tiêu của tài sản ngắn hạn, làm giảm hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn kéo theo việc giảm lợi nhuận của công ty. Phải thu khách hàng lớn làm cho các khoản vốn của công ty bị ứ đọng bên ngoài luồng doanh nghiệp không thể thu hồi dẫn đến việc luân chuyển bị đình trệ.

Thứ ba, công ty có những chính sách dự báo lượng dự trữ tồn kho chưa thực sự hiệu quả, đặc biệt trong năm 2026, khiến cho lượng hàng tồn kho vượt nhiều so với định mức kế hoạch, ứ đọng khiến mất chi phí bảo quản, tăng rủi ro giảm giá hàng tồn kho, làm giảm hiệu quả sử dụng hàng tồn kho và hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn.

Cuối cùng, do Công ty tính giá xuất kho theo phương pháp bình quân gia quyền cả kỳ dự trữ nên công việc của kế toán vật liệu bị dồn vào cuối tháng. Kế toán sẽ rất dễ nhầm lẫn trong thời điểm cuối tháng này.

  • Nguyên nhân khách quan Khóa luận: Thực trạng sử dụng tài sản ngắn hạn Công ty Điều hòa.

Nguyên nhân đầu tiên phải kể đến đó là do bối cảnh kinh tế từ cuối năm 2022 đến nay: chịu tác động của cuộc khủng hoảng, nền kinh tế Việt Nam đang trải qua một giai đoạn cực kỳ khó khăn, lạm phát tăng cao, các công ty phải gồng mình, giảm chi phí, sa thải nhân viên. Chính sách lương của nhà nước cũng thay đổi, tăng mức lương tối thiểu từ 540.000d/người/tháng lên 650.000đ/người/tháng 1.150.000 từ 1/7/2026.

Chi phí nguyên liệu đầu vào tăng làm giá thành tăng, giá thành sản phẩm cũng khó điều chỉnh, trong khi thị trường thu hẹp do ít khách hàng. Trong điều kiện ấy, chỉ có cạnh tranh bằng uy tín, chất lượng công ty mới có thể làm ăn có lãi.

Thị trường tiền tệ Việt Nam còn non trẻ và nhiều hạn chế, thị trương chưa thực sự là thị trường tự do, thông tin mất cân đối, dẫn đến khó khăn trong luân chuyển, chuyển đổi các dạng tài sản ngắn hạn (từ tiền thành hàng tồn kho, từ hàng hóa thành khoản phải thu, từ khoản phải thu thành tiền…) do đầu vào không ổn định, khó khăn trong vận chuyển hàng hóa, khó dễ trong lưu thông tiền, hàng…

Cuối cùng là do sự cạnh tranh khốc liệt của các doanh nghiệp, công ty cùng ngành khiến cho việc áp dụng chính sách chiết khấu thanh toán của công ty bị ảnh hưởng, và các công ty có tiềm lực về tài chính dễ dàng áp dụng mức chiết khấu cao hơn mức chiết khấu thanh toán có thể cho phép của doanh nghiệp khiến cho thị trường cạnh tranh ngày càng gay gặt. Trong môi trường đấy, công ty phải nỗ lực hết mình mới mong tìm được chỗ đứng, tồn tại và phát triển

Hiểu được nguyên nhân, ta sẽ có những hướng thích hợp để khắc phục những hạn chế giúp công ty nâng cao được hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn, góp phần tối đa hóa lợi nhuận thu được trong nền kinh tế khó khăn. Khóa luận: Thực trạng sử dụng tài sản ngắn hạn Công ty Điều hòa.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>> Khóa luận: Giải pháp quản lý tài sản ngắn hạn tại công ty Điều hòa

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

1 Bình luận
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
trackback

[…] ===>> Khóa luận: Thực trạng sử dụng tài sản ngắn hạn Công ty Điều hòa […]

Contact Me on Zalo
0877682993
1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x