Khóa luận: Đánh giá hiệu quả kinh tế giữa hai mô hình trồng lúa

Rate this post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Đánh giá hiệu quả kinh tế giữa hai mô hình trồng lúa hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Khóa luận: Đánh giá hiệu quả kinh tế giữa hai mô hình trồng lúa và trồng rau tại Xã Tân Nhựt, Huyện Bình Chánh, Thành Phố Hồ Chí Minh dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

NỘI DUNG TÓM TẮT

HUỲNH THỊ THÚY KIỀU Tháng 06 năm 2025. “Đánh giá hiệu quả kinh tế giữa hai mô hình trồng lúa và trồng rau tại Xã Tân Nhựt, Huyện Bình Chánh, Thành Phố Hồ Chí Minh”.

HUỲNH THỊ THÚY KIỀU. June 2025. “Evaluation Of  Economic Efficiency Between Rice Production And Vegetable Production in Tan Nhut Village, Binh Chanh Dictrict, Ho Chi Minh City”.

Vấn đề quyết định lựa chọn mô hình sản suất nhằm đem lại hiệu quả kinh tế cao cho người nông dân còn tùy thuộc vào rất nhiều yếu tố trong thực tế. Và việc lựa chọn mô hình canh tác cũng ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của người dân tại địa phương.

Hiện tại, xã Tân Nhựt còn tồn tại rất nhiều mô hình sản suất nông nghiệp nhưng chủ yếu là hai mô hình: cây rau và cây lúa. Hàng năm lợi nhuận bình quân thu được trên 1000m2 của cây lúa khoảng 1.300.000đ, cây rau là 3.395.000đ với chi phí tương ứng là 777.610đ và 2.107.050đ. Thông qua các chỉ tiêu như lợi nhuận, doanh thu cho thấy rằng trong năm 2024 cả hai mô hình điều đem lại hiệu quả kinh tế cho hộ nông dân tại xã Tân Nhựt huyện Bình Chánh TPHCM. Tuy nhiên hiệu quả kinh tế đem lại cho người nông dân từ cây rau cao hơn xét trên cùng diện tích đất canh tác. Nhưng một câu hỏi đặt ra là vì sao người nông dân không quyết định định trồng rau mà vẫn giữ lúa với diện tích gieo trồng  rất lớn so với diện tích gieo trồng rau? Điều này được trả lời thông qua các chỉ tiêu như: Tỷ suất lợi nhuận, và hiệu quả đồng vốn và chỉ tiêu về độ nhạy của cây lúa điều tốt hơn cây rau. Bên cạnh còn có các tác động bên ngoài như giá bán rau qua các năm không ổn định, thị trường tiêu thụ rau chưa đảm bảo, thông tin giá rau trên thị trường không được cập nhật, chi phí đầu vào quá lớn. Đây chính là trở ngại cho việc quyết định lựa chọn mô hình sản xuất cây rau.

Sử dụng phương pháp thống kê mô tả, tự tương quan, và phân tích độ nhạy để đưa ra kêt luận về thực trạng cũng như hiệu quả mà hai mô hình này đem lại. Từ đó đưa ra các kiến nghị nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người nông dân lựa cho mô hình canh tác tốt nhất, phù hợp với nguồn nhân- vật lực cũng như các thông tin cần thiết như: cần có thị trường tiêu thụ ổn định cho rau xanh, luôn cung cấp thông tin về giá cho hộ, thực hiện tốt công tác tín dụng vay vốn cũng như khuyến nông hàng kỳ.

CHƯƠNG 1 MỞ ĐẦU

1.1. Đặt vấn đề

Từ ngàn xưa Việt Nam vốn là một quốc gia với lịch sử khởi đầu là nền nông nghiệp lạc hậu trồng lúa nước. Không hổ danh là một đất nước có nguồn tài nguyên “Rừng vàng biển bạc”, điều kiện khí hậu rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất lúa, rau nói riêng. Thực tế cho thấy Việt Nam hiện là một quốc gia xuất khẩu gạo đứng thứ hai trên thế giới sau Thái Lan, còn là thành viên chính thức của hiệp hội WTO với nhiều thách thức trên các sân chơi cả về KT – CT – VHXH và một số tổ chức khác trong khu vực. Khóa luận: Đánh giá hiệu quả kinh tế giữa hai mô hình trồng lúa.

Với những thành quả đạt được là nhờ vào sự phấn đấu của toàn dân mà đặc biệt là sự đóng góp của nông dân trong sản xuất nông nghiệp với những tiến bộ khoa học kỹ thuật hiện có. Nghành trồng lúa được duy trì mãi đến ngày hôm nay không chỉ mang giá trị kinh tế mà nó còn mang đậm giá trị truyền thống của dân tôc Việt Nam ở khắp ba miền trong cả nước. Xã Tân Nhựt – Huyện Bình Chánh .TPHCM là một điển hình, với một ngành nông nghiệp thuần trồng lúa kéo dài mãi cho đến ngày hôm nay với diện tích canh tác trên 1000ha. Hầu như diện tích này không biến động lớn cho mãi đến năm 2021. Liệu nghành trồng lúa có đem lại hiệu quả kinh tế cho người nông dân nói chung và nông dân xã Tân Nhựt nói riêng theo độ dài của thời gian?. Vì hiện tại Tân Nhựt vẫn còn là một xã nghèo của huyện Bình Chánh và là 20 xã nghèo thuộc TPHCM, mà diện tích đất nông nghiệp thì rất lớn so với các xã thuộc huyện. Vậy vấn đề hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp là vấn đề cần được chú trọng của chính quyền địa phương.

  • Trong khi đó:

Cây rau là một cây hoa màu cũng rất phù hợp với điều kiện tự nhiên, khí hậu hiện có của nước ta nói chung, xã Tân Nhựt nói riêng. Thực tế nó đã đem

lại giá trị kinh tế rất cao cho người sản xuất rau ở một số khu vực thuộc các tỉnh miền Tây, Đông Nam Bộ và một số địa bàn trực thuộc huyện Bình Chánh.

Thực vậy, đầu năm 2021 xã Tân Nhựt huyện Bình Chánh TP.HCM đã bắt đầu thực hiện chính sách chuyển đổi cơ cấu từ sản xuất Lúa sang trồng Rau và một số mô hình sản xuất nông nghiệp khác.Vậy giá trị kinh tế đạt được từ sự chuyển đổi này là bao nhiêu? Có phải mô hình sản xuất mới này sẽ tốt hơn mô hình trồng lúa đã tồn tại từ trước?.

Trước những câu hỏi đặt ra, là sinh viên khoa Kinh Tế – Trường Đại Học Nông Lâm TP.HCM, được sự đồng ý của thầy hướng dẫn và khoa Kinh Tế, cùng với những kiến thức nền tảng về chuyên nghành kinh tế trong 4 năm học, tôi tiến hành thực hiện đề tài “Đánh Giá Hiệu Quả Kinh Tế Của Hai Mô Hình Trồng Lúa Và Trồng Rau Tại Xã Tân Nhựt, Bình Chánh, TP.HCM”. Thành công của đề tài sẽ giúp cho việc trả lời các câu hỏi được đặt ra khi xã tiến hành chính sách chuyển đổi cơ cấu từ trồng Lúa sang trồng Rau và một số mô hình khác. Ta có thể áp dụng kết quả này cho một số khu vực có điều kiện KT-XH tương tự xã Tân Nhựt.

1.2. Mục tiêu nghiên cứu Khóa luận: Đánh giá hiệu quả kinh tế giữa hai mô hình trồng lúa.

1.2.1. Mục tiêu chính

  • Đánh giá hiệu quả kinh tế của hai mô hình trồng lúa và trồng rau tại xã Tân Nhựt, huyện Bình Chánh, TP.HCM

1.2.2. Mục tiêu cụ thể

  • Tình hình sản xuất cây lúa và cây rau tại xã Tân Nhựt huyện Bình Chánh trong năm 2024.
  • Phân tích các nhân tố tác động đến năng suất của cây lúa và cây rau trong năm 2024.
  • So sánh hiệu quả kinh tế giữa hai mô hình trồng lúa và trồng rau
  • Phân tích độ nhạy của doanh thu và lợi nhuận của hai mô hình khi các biến giá đầu ra và giá của yếu tố đầu vào chiếm tỷ trọng lớn nhất trong TCPSX thay đổi.
  • Đề xuất một số giải pháp khắc phục những hạn chế nhằm phát triển cây lúa và cây rau trong thời gian tới phù hợp với điều kiện hiện có.

1.3. Phạm vi nghiên cứu

  • Không gian: Xã Tân Nhựt-huyện Bình Chánh TP.HCM
  • Thời gian: từ 3/03/2025 đến 20/06/2025

1.4. Cấu trúc luận văn

  • Luận văn bao gồm 5 chương:

Chương 1:Nêu lên bối cảnh về tình hình sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất cây lúa, cây rau nói riêng, từ đó làm cơ sở để đưa ra lý do chọn đề tài nghiên cứu. Giới thiệu mục tiêu, thời gian và không gian nghiên cứu của đề tài.

Chương 2:Mô tả một cách tổng quan về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tại địa bàn xã, đây là những vấn đề nền tảng trong sản xuất nông nghiệp với những bối cảnh lịch sử đã có về sản xuất lúa và rau tại xã Tân Nhựt huyện Bình Chánh TP.HCM.

Chương 3: Nêu lên cơ sở lý luận để tiến hành đề tài, trình bày các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong đề tài như phương pháp thống kê mô tả, phương pháp phân tích hồi quy, phương pháp sử dụng phân tích độ nhạy,…phục vụ cho đề tài nghiên cứu.

Chương 4: Nêu rõ tình hình sản xuất Lúa và Rau trong năm 2024, với những thông tin có được từ thu thập ta có thể phân tích nhằm đo lường mức độ tác động của các nhân tố đến năng suất của cây lúa và cây rau trong năm 2024. Dựa vào các kết quả phân tích để thấy được hiệu quả kinh tế mang lại trên cùng một diện tích đất canh tác, cũng như mức độ rủi ro của 2 mô hình này thông qua quá trình đo lường tốc độ thay đổi của chỉ tiêu lợi nhuận khi các biến tác động thay đổi.

Chương 5: Trình bày các kết quả chính mà đề tài đã đạt được trong quá trình thực hiện nghiên cứu. Phần kết luận với những mặt hạn chế làm cơ sở cho việc đề xuất các kiến nghị, các giải pháp, chính sách cần thực hiện nhằm nâng cao tính khả thi của vấn đề. Khóa luận: Đánh giá hiệu quả kinh tế giữa hai mô hình trồng lúa.

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN

2.1. Điều kiện tự nhiên

2.1.1. Vị trí địa lý

Xã Tân Nhựt nằm về phía Tây của huyện Bình Chánh, phía Bắc giáp với phường Tân Tạo, quận Bình Tân, nông trường Lê Minh Xuân, phía Tây giáp xã Lê Minh Xuân, xã Bình Lợi, phía Nam giáp Thị trấn Tân Túc và sông Chợ Đệm, phía Đông giáp xã Tân Kiên.

Xã Tân Nhựt được Nhà Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang, đã có công lớn trong sự nghiệp giải phóng dân tộc. Địa danh Láng Le – Bàu Cò nổi tiếng gắn liền với xã Tân Nhựt đã được Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh công nhận di tích lịch sử cấp thành phố.

2.1.2. Địa hình

Xã Tân Nhựt huyện Bình Chánh TP.HCM với diện tích đất tự nhiên là 2.579,07 ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp chiếm 82.9% tương ứng 2.151,73 ha, phần diện tích còn lại được sử dụng cho thổ cư, công nghiệp và các dịch vụ trường học, bệnh viện, khu vui chơi giải trí….

Địa hình tương đối bằng phẳng thích hợp cho việc trồng lúa, trồng rau màu (3 vụ trong năm), trồng cây ăn trái, chăn nuôi gia súc, gia cầm, thuỷ sản và mô hình VAC cho năng suất cao. Với tỷ lệ đất nông nghiệp khá lớn có thể nói xã Tân Nhựt là xã thuần về sản xuất nông nghiệp.

2.1.3. Khí hậu- Thủy lợi-Thổ nhưỡng Khóa luận: Đánh giá hiệu quả kinh tế giữa hai mô hình trồng lúa.

  • a) Khí hậu

Xã Tân Nhựt là khu vực có khí hậu được chia làm hai mùa mưa và nắng rõ rệt, mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 và kéo dài đến tháng 11, còn lại là mùa nắng. Ẩm độ phù hợp với sản xuất nông nghiệp, đây là điều kiện thuận lợi cho các mô hình sản xuất tại xã.

  • b) Thủy lợi

Với nguồn nước tưới tiêu chính là các kênh, sông rạch và nguồn nước tự nhiên. Khi trời mưa người nông dân thường chứa trong ruộng nhằm phục vụ cho cây trồng sau đó. Đây là điểm khá đặc biệt tại địa phương thể hiện kinh nghiệm lâu đời của người nông dân trong sản xuất nông nghiệp.

  • c) Thổ nhưỡng

Xã Tân Nhựt là khu vực tập trung các các loại đất như: Đất phèn, đất chua, đất nhiễm mặn, quả thật đây là một vấn đề rất khó khăn cho người nông dân trong việc tiến hành cải tạo đất nhằm phục vụ cho mục tiêu sản xuất và thường năng suất cho không cao. Đây cũng là bằng chứng nói lên Tân Nhựt vẫn còn là xã nghèo mặc dù diện tích đất nông nghiệp nhiều so với một số xã khác thuộc huyện.

2.2. Điều kiện kinh tế Khóa luận: Đánh giá hiệu quả kinh tế giữa hai mô hình trồng lúa.

2.2.1. Nguồn gốc phát triển cây lúa và cây rau

  • a) Nguồn gốc phát triễn cây lúa

Nghề trồng lúa ở Việt Nam có lịch sử lâu đời nhất so với nghề trồng lúa ở các nước Châu Á. Theo các tài liệu khảo cổ ở Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam… Cây lúa đã có mặt từ 3000 – 2000 năm trước công nguyên. Tổ tiên chúng ta đã thuần hóa cây lúa dại thành cây lúa trồng và đã phát triển nghề trồng lúa đạt được những tiến bộ như ngày nay.

Trước năm 1945, diện tích trồng lúa ở 2 vùng đồng bằng Bắc bộ và Nam Bộ là 1,8 triệu và 2,7 triệu ha với năng suất bình quân 13 tạ / ha và sản lượng thóc tương ứng 2,4 – 3,0 triệu tấn. Trong thời gian này chủ yếu là các giống lúa cũ, ở miền Bắc sử dụng các giống lúa cao cây, ít chụi thâm canh, dễ đổ, năng suất thấp.

Nhà nông có câu “Nhất thì, nhì thục”. Từ năm 1963 – 1965, ở những vùng chuyên canh lúa do diện tích nhiều, thường có một số diện tích cấy chậm, bị muộn thời vụ. Nhờ tiến bộ kỹ thuật đã đưa vào một số giống lúa xuân thấp cây, ngắn ngày đã đảm bảo được thời vụ. Đã chuyển vụ lúa chiêm thành vụ lúa xuân, chuyển từ xuân sớm thành xuân chính vụ (80 – 90%) diện tích và thời kỳ 1985 – 1990 sang xuân sớm (5 – 10%) và 70 – 80% là xuân muộn. Một số giống lúa xuân đã có năng suất cao hơn hẳn lúa chiêm, có thể cấy được cả hai vụ chiêm xuân và vụ mùa. Do thay đổi cơ cấu sản xuất lúa, kết hợp với áp dụng hàng loạt các tiến bộ kỹ thuật mới nên sản xuất lúa ở Việt Nam ngày càng phát triển và đạt được những thành tựu đáng kể.

Từ năm 1979 đến 1985, sản lượng lúa cả nước tăng từ 11,8 lên 15,9 triệu tấn, nguyên nhân là do ứng dụng giống mới, tăng diện tích và năng suất.

 Tính riêng 2 năm 1988 và 1989 sản lượng lương thực tăng thêm 2 triệu tấn/năm. Từ khi thực hiện đổi mới (năm 1986) đến nay, Việt Nam đã có những tiến bộ vượt bậc trong sản xuất lúa, đưa nước ta từ chỗ thiếu ăn triền miên đã không những đảm bảo đủ lương thực cho nhu cầu trong nước mà còn xuất khẩu từ 3 – 4 triệu tấn gạo /năm, Đứng hàng thứ 2 trên thế giới về các nước xuất khẩu gạo.

  • b) Nguồn gốc phát triển cây rau

Với đặc điểm khí hậu đa dạng, miền Bắc có đầy đủ bốn mùa xuân hạ thu đông, miền Nam chỉ có hai mùa là mùa mưa và mùa khô, các sản phẩm về cây rau của Việt Nam rất đa dạng, từ các loại rau nhiệt đới như rau muống, rau ngót, rau cải đến các loại rau xứ lạnh như xu hào, bắp cải, cà rốt… Khóa luận: Đánh giá hiệu quả kinh tế giữa hai mô hình trồng lúa.

Những năm gần đây, nhiều loại rau ngoại du nhập vào Việt Nam cũng đã được nhân giống, lai tạo, trồng thử và thích nghi được với điều kiện khí hậu Việt Nam. Trong đó, có nhiều loại rau mang lại hiệu quả kinh tế cao như rau bó xôi (hay còn gọi là rau chân vịt), cây gia vị wasabi (còn gọi là sa tế)…

Thực trạng ngành rau Việt Nam, Tính đến năm 2021, tổng diện tích trồng rau các loại trên cả nước đạt 635,8 nghìn ha, sản lượng 9640,3 ngàn tấn; so với năm 1999 diện tích tăng 175,5 ngàn ha (tốc độ tăng bình quân 3,61%/năm), sản lượng tăng 3071,5 ngàn tấn (tốc độ tăng bình quân 7,55%/năm).

Vùng sản xuất rau lớn nhất là ĐBSH (chiếm 24,9% về diện tích và 29,6% sản lượng rau cả nước), tiếp đến vùng ĐBSCL (chiếm 25,9% về diện tích và 28,3% sản lượng rau của cả nước).

Nhiều vùng rau an toàn (RAT) đã được hình thành đem lại thu nhập cao và an toàn cho người sử dụng đang được nhiều địa phương chú trọng đầu tư xây dựng mới và mở rộng: Hà Nội, Hải Phòng (An Lão), TP Hồ Chí Minh, Lâm Đồng (Đà Lạt)…

Theo đánh giá của Viện Nghiên cứu rau quả, trong những năm gần đây những loại rau được xác định có khả năng phát triển để cung cấp sản phẩm cho xuất khẩu là cà chua, dưa chuột, đậu rau, ngô rau….phát triển mạnh cả về quy mô và sản lượng, trong đó sản phẩm hàng hoá chiếm tỷ trọng cao.

  • Bảng 2.1. Diện tích, năng suất, sản lượng rau phân theo vùng

Hiện nay cây rau được sản xuất theo 2 phương thức: tự cung tự cấp và sản xuất hàng hoá, trong đó rau hàng hoá tập trung chính ở 2 khu vực:

Vùng rau chuyên canh tập trung ven thành phố, khu tập trung đông dân cư. Sản phẩm chủ yếu cung cấp cho dân phi nông nghiệp, với nhiều chủng loại rau phong phú (gần 80 loài với 15 loài chủ lực), hệ số sử dụng đất cao (4,3 vụ/năm), trình độ thâm canh của nông dân khá, song mức độ không an toàn sản phẩm rau xanh và ô nhiễm môi trường canh tác rất cao.

Vùng rau luân canh: đây là vùng có diện tích, sản lượng lớn, cây rau được trồng luân canh với cây lúa hoặc một số cây màu. Tiêu thụ sản phẩm rất đa dạng: phục vụ ăn tươi cho cư dân trong vùng, ngoài vùng, cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu.

Sản xuất rau theo hướng nông nghiệp công nghệ cao đã bước đầu được hình thành như: sản xuất trong nhà màn, nhà lưới chống côn trùng, sản xuất trong nhà plastic không cố định để hạn chế tác hại của các yếu tố môi trường bất lợi, trồng rau bằng kỹ thuật thuỷ canh, màng dinh dưỡng, nhân giống và sản xuất các loại cây quí hiếm, năng suất cao bằng công nghệ nhà kính của Israel có điều khiển kiểm soát các yếu tố môi trường.

2.2.2. Cơ cấu kinh tế tại xã Tân Nhựt

Với tỷ lệ cao nhất thuộc về sản xuất nông nghiệp thì trên địa bàn xã Tân Nhựt thuộc huyện Bình Chánh có 1138 công ty, doanh nghiệp, cơ sở đang hoạt động trong đó CN – TTCN là 58 cơ sở, cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc khối doanh nghiệp là 58, hộ kinh doanh cá thể là 996 cơ sở.

2.2.3. Cơ cấu đất trong sản xuất nông nghiệp Khóa luận: Đánh giá hiệu quả kinh tế giữa hai mô hình trồng lúa.

Bảng 2.2. Tình hình sử dụng đất nông nghiệp năm 2024

Xã Tân Nhựt với diện tích đất nông nghiệp là 2.151,73 ha chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu đất tự nhiên. Với cơ cấu đất nông nghiệp như vậy thì tình hình sử dụng đất tại địa phương được chia thành ba nhóm chính: đất sản xuất nông nghiệp chiếm 90% với 1.942,93 ha, nhưng trong đó diện tích đất dành cho sản xuất cây hàng năm là lớn nhất tương ứng 1.291.60 ha với 66,5% trong tổng đất sản xuất nông nghiệp. Bên cạnh đó đất nuôi trồng thủy sản chiếm 9.2% và đất sử dụng cho việc sản trồng một số loại cây cảnh…chiếm 0.52 % trong tổng diện tích đất nông nghiệp.

2.2.4. Giá trị sản lượng của các mô hình nuôi trồng chính..

  • Bảng 2.3 Giá trị sản lượng của các mô hình nông nghiệp năm 2024

Là một xã nông nghiệp, hàng năm người nông dân tại xã Tân Nhựt có nguồn thu chủ yếu từ 3 mô hình nuôi trồng chính đó là lúa, rau và nuôi cá. Với giá trị sản lượng hàng năm từ cây rau trung bình trên 4 tỷ đồng, cây lúa là 24 tỷ và mô hình nuôi cá khoảng 2 tỷ đồng, bên cạnh đó còn có nguồn thu từ một số mô hình như cây ăn trái, trồng nấm… Đây một kết quả thể hiện tính đa dạng hóa trong sản xuất nông nghiệp cho một xã nông nghiệp nghèo này. Trong tương lai các mô hình này có xu hướng cải tiến theo kỹ thuật mới và kết quả này không dừng lại thời điểm hiện nay. Đây là một điều đáng được quan tâm đối với một xã nghèo của thành phố và huyện

2.2.5. Chăn nuôi

  • Bảng 2.4 Tình hình chăn nuôi trong năm 2024

Theo thống kê cho thấy tình hình chăn nuôi trong năm 2024 tại điạ bàn xã Tân Nhựt cũng khá thuận lợi, về mặt chỉ tiêu đạt được khá cao, riêng đối với Bò thì chỉ tiêu đạt được đã vượt xa với 169,17%. Với tổng đàn heo, bò, dê lên đến 6.520 con trong đó: Bò 450 con, Heo 6.000 con và dê 70 con. Tuy nhiên một khó khăn trong chăn nuôi tại xã đó là không cho phát sinh nuôi gia cầm trong năm 2024 do nạn dịch cúm lan rộng khắp nơi. Đây là nguyên nhân làm hạn chế nguồn thu nhập của người nông dân vì đây là vùng có điều kiện thuận lợi chăn thả gà và vịt và các cánh đồng lúa sau khi đã thu hoạch.

2.3. Điều kiện xã hội Khóa luận: Đánh giá hiệu quả kinh tế giữa hai mô hình trồng lúa.

2.3.1. Tình hình phân bố dân cư

Toàn địa bàn xã Tân Nhựt được chia làm 5 ấp, 74 tổ dân cư, có 2.880 hộ với 18.406 nhân khẩu trong đó (KT1:2.667 hộ với 13.878 nhân khẩu, KT2: 98 hộ với 579 nhân khẩu, KT3: 203 hộ với 566 nhân khẩu, KT4: 5,581 nhân khẩu. Với cơ cấu về số hộ cùng nhân khẩu ta thấy xã Tân Nhựt dân số lâu năm xem như định cư là khá cao chiếm 92% trong tổng số hộ. Đây là điều kiện thuân lợi để người dân tại địa phương ổn định cuộc sống.

Ghi chú: KT là ký hiệu cho biết thời gian đinh cư của các hộ tại địa phương. Với kí hiệu KT1: thời gian định cư dài nhất, KT4: hộ trú ngụ mang tính thời kỳ.

2.3.2. Tình hình lao động

Trong năm 2024 toàn xã Tân Nhựt có 3.773 lao động tham gia trong sản xuất nông nghiệp chiếm 20,5%, có 8.320 lao động tham gia hoạt động trong lĩnh vực nhà nước, khu công nghiệp tương ứng với 45,2%, số còn lại chiếm 34,3% tham gia các hoạt động khác và những đối tượng khác.

2.3.3. Y tế-giáo dục-văn hóa Khóa luận: Đánh giá hiệu quả kinh tế giữa hai mô hình trồng lúa.

  • a) Y tế

Trên địa bàn xã Tân Nhựt có trạm y tế cơ sở. Ngoài ra, ngoài ra còn có 1 phòng khám khu vực II ở xã Lê Minh Xuân thuộc địa bàn xã, đây là điều kiện rất thuận lợi cho người dân trong việc khám và chữa bệnh.

Chức năng của ngành Y tế xã là  thực hiện công tác phòng chống và điều trị bệnh, bảo vệ sức khỏe người dân trong xã và vùng lân cận. Năm 2021, xã đã tổ chức tốt công tác điều trị và chăm sóc sức khỏe ban đầu, bình quân 1 người dân được chăm sóc về y tế 2,32 lần/người. Triển khai tốt công tác phòng chống các loại dịch bệnh như sốt xuất huyết, quai bị,…đồng thời duy trì thường xuyên công tác kiểm tra an toàn vệ sinh thực phẩm tại các cơ sở kinh doanh thực phẩm, các điểm ăn uống, và giải quyết các đối tượng thuộc chính sách ưu tiên..

  • b) Giáo dục

Công tác chống mù chữ và phổ cập giáo dục được duy trì thường xuyên, hiện trên địa bàn xã có 4 lớp phổ cập giáo dục với 58 học viên theo học trong đó lớp 8 có 3 học viên, lớp 9 có 4 học viên, lớp 10 có 14 học viên, lớp 11 có 18 học viên và lớp 12 có 19 học viên theo học. Với tỷ lệ học sinh lên lớp bậc tiểu học đạt  94,63% (194/205 em), bậc THCS đạt 98,48% (194/205 em), bậc THPT đạt 90,63%. Trong năm 2024-2025 các em ra mẫu giáo, lớp 1 đạt 100%. Để làm được điều này, bí thư đảng ủy xã kiêm trưởng ban chỉ đạo phổ cập giáo dục xã người trực tiếp lãnh đạo công tác phổ cập giáo dục tại địa phương, chỉ đạo các đoàn thể trực tiếp tham gia vận động thanh niên bỏ học trở lại lớp, trong đó ấp 4 xã Tân Nhựt là một trong 4 ấp có số thanh niên bỏ học nhiều nhất.

Anh Lê Văn Hai, Trưởng ban nhân dân ấp 4 thống kê được 36 thanh niên từ 18- 21 tuổi chưa tốt nghiệp trung học phổ thông, hoặc bổ túc trung học, trung học nghề nhất là đối tượng thi hỏng trung học phổ thông từ những năm trước và số học sinh tốt nghiệp tiểu học không ra lớp, sau đó lập danh sách, phân công trách nhiệm, giao chỉ tiêu cụ thể cho từng đoàn thể đi vận động học sinh ra lớp.

  • Hình 2.1 Cơ cấu học sinh tham gia học ở trường

Qua hình 2.1 ta thấy số lượng học sinh ở cấp THCS là nhiều nhất và số lượng tham gia học PTTH là thấp nhất. Điều này thể hiện tại địa phương học sinh có xu hướng bỏ học khi lên cấp 3 rấy cao, và đây là mối lo ngại của gia đình và chính quyền địa phương. Đây chính là nguồn lao động thiếu trình độ trong tương lai, thu nhập thấp từ đó nghèo vẫn hoàn nghèo.

  • c) Văn hóa Khóa luận: Đánh giá hiệu quả kinh tế giữa hai mô hình trồng lúa.

Tân Nhựt trước kia là vùng căn cứ cách mạng nên những ngày kỷ niệm chiến thắng hay những ngày hội đến giờ vẫn được người dân hưởng ứng sôi nổi. Ban lãnh đạo đã tiến hành:

  • Tổ chức sân chơi văn hóa cho thanh niên:

Phối hợp với Trung tâm văn hóa – Thể dục thể thao huyện tổ chức giải việt dã chào mừng kỷ niệm 78 năm ngày thành lập Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, công nhận “Thanh niên khỏe”.

Tổ chức thực hiện các gian hàng trò chơi vận động, phố mua sắm với giá ưu đãi dành cho thanh niên.

Chương trình văn nghệ giao lưu, văn nghệ phục vụ với các ca sĩ trẻ, CLB văn nghệ xung kích tại Nhà văn hóa thanh niên thành phố, các tiểu phẩm về chủ đề “Nếp sống văn minh đô thị”, các tiết mục văn nghệ – thời trang đặc sắc… đã đạt giải cấp huyện.

Chương trình sinh hoạt lửa trại với chủ đề “Nối vòng tay lớn”.

  • Các hoạt động chăm lo về đời sống vật chất

Tổ chức ngày hội “Thanh niên với việc làm” thông qua các hoạt động tiếp nhận tư vấn, tuyển dụng lao động tại chỗ do các gian hàng tuyển dụng của các doanh nghiệp đóng trên địa bàn huyện và thành phố thực hiện.

  • Tổ chức giải ngân các nguồn vốn từ Hội LHTN Thành Phố và Ngân hàng chính sách xã hội huyện, tạo điều kiện cho thanh niên làm kinh tế.
  • Trao tặng quà cho các thanh niên có hoàn cảnh khó khăn.

Hoạt động khơi sức thanh niên:

  • Tổ chức hội thảo chuyên đề “Thanh niên Bình Chánh – Vì trật tự an toàn giao thông đường bộ, vì môi trường xanh-sạch-đẹp”.
  • Gặp gỡ giao lưu với điển hình thanh niên tiêu biểu huyện Bình Chánh năm 2025.

2.3.4. Đời sống nhân dân Khóa luận: Đánh giá hiệu quả kinh tế giữa hai mô hình trồng lúa.

Tân Nhựt là một trong 6 xã nghèo của huyện và nằm trong tóp 20 xã nghèo của TP.HCM, lại là một xã vùng sâu vùng xa của huyện, đa số người dân sống bằng nghề nông, mức sống không cao, trình độ dân trí thấp, phương tiện đi lại khó khăn nên nhiều hộ gia đình chỉ tập trung vào việc tìm miếng cơm manh áo, ít quan tâm đến việc học của con em. Thậm chí một số phụ huynh cho con đến trường và phó thác trách nhiệm cho nhà trường, các em thiếu sự quản lý, động viên an ủi  từ phía gia đình  nên học lực của học sinh nơi đây thua kém các bạn cùng lớp. Hơn nữa, trải qua thời gian dài nơi đây không có trường THCS, số học sinh sau khi tốt nghiệp bậc tiểu học phải đi gần chục cây số ra thị trấn Tân Túc hoặc sang Lê Minh Xuân để học tiếp chương  trình THCS. Từ những khó khăn trên một số học sinh có học lực trung bình, yếu dễ chán nãn, bỏ bê việc học lao vào các thú vui khác như cà phê, bi da, games, chat và sa đà dẫn đến tình trạng bỏ học nữa chừng, hút, chích…Theo thống kê hiện nay huyện Bình Chánh có số lượng học sinh suy dinh dưỡng nhiều nhất huyện, phần lớn tập trung tại xã tân Nhựt.

Những năm gần đây đời sống người dần được cải thiện, trong nhà hầu như đã có đầy đủ các phương tiện thông tin đại chúng và phương tiện đi lại…đây là biểu hiện đáng mừng cho xã nghèo này.

2.3.5. Cơ sở hạ tầng

Những năm trước 2001 hạ tầng cơ sở chưa được đầu tư đúng mức, đường giao thông chủ yếu là đường thuỷ, đường đất đỏ, những năm gần đây do nhu cầu phát triển của xã hội, đừơng Thế Lữ, đường láng Le Bàu Cò được nâng cấp thành đường tráng nhựa dẫn vào khu di tích Láng Le Bàu Cò một di tích lịch sử được thành phố công nhận. Về sau tất cả các hệ thống điện – đường – trường – trạm đã được nâng cấp tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc sống của người dân. Cụ thể trong năm 2024 xã Tân Nhựt triễn khai thi công 8 công trình với tổng nguồn vốn 25.985.347.000 vnđ. Ngoài ra xã còn tổ chức dặm vá các tuyến đường xuống cấp với tổng chi phí là 982.416.000đ.Và hệ thống đường thủy đã được cải thiện cụ thể đó là Cầu được xây dựng với kết cấu móng trụ bê tông, cột bê tông, thép trụ, khung thép kết hợp cáp treo, mặt cầu lợp sắt 0-12; chiều rộng mặt cầu 2m. Cầu có chiều dài 63m, độ cao tỉnh không thông thuyền 5,5m. Khóa luận: Đánh giá hiệu quả kinh tế giữa hai mô hình trồng lúa.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>> Khóa luận: PPNC hiệu quả kinh tế giữa hai mô hình trồng lúa

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Contact Me on Zalo
0877682993
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x