Khóa luận: Hoàn thiện hoạt động Marketing cho dịch vụ giao nhận

Rate this post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Hoàn thiện hoạt động Marketing cho dịch vụ giao nhận hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Khóa luận: Hoàn thiện hoạt động Marketing cho dịch vụ giao nhận tại công ty TNHH Vận Tải Biển Minh Nguyên dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

LỜI MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Trong bối cảnh nền kinh tế như hiện nay, mọi lĩnh vực kinh doanh từ sản xuất cho đến dịch vụ hoạt động Marketing luôn quyết định sự thành bại của doanh nghiệp. Nhờ có hoạt động Marketing người quản trị có thể nhạy bén đón lấy n hững bất ngờ trong cơ hội kinh doanh và tránh được những rủi ro trên thị trường

Hoạt động kinh doanh ngoại thương đang phát triển rất mạnh mẽ. Hoạt động này kéo theo việc kinh doanh dịch vụ giao nhận cũng phát triển. D ịch vụ giao nhận ngày càng giữ vai trò phục vụ đắc lực cho hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu

Dịch vụ giao nhận ở Việt Nam hiện nay là một ngành khá hấp dẫn; do đó, cạnh tranh trên thị trường giao nhận ngày càng trở nên gay gắt. Đối thủ cạnh tranh tham gia vào ngành ngày một nhiều hơn chủ yếu là những doanh nghiệp nước ngoài với nhiều lợi thế khác nhau.

Khách hàng ngày càng khó tính hơn, có kiến thức, có nhiều thông tin, am hiểu, nắm rõ về dịch vụ giao nhận

Để đảm bảo, duy trì và gia tăng doanh số trong điều kiện kinh tế hiện nay việc đầu tư cho hoạt động Marketing là vô cùng cần thiết. Khóa luận: Hoàn thiện hoạt động Marketing cho dịch vụ giao nhận.

Hoạt động Marketing của công ty luôn nhằm mục đích giới thiệu và thúc đẩy kinh doanh dịch vụ giao nhận hàng hoá của công ty. Hoạt động Marketing dịch vụ giao nhận hợp lý và kịp thời sẽ thúc đẩy sự phát triển dịch vụ giao nhận của công ty.

Marketing có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển của công ty TNHH Vận Tải Biển Minh Nguyên trong tương lai. Vì vậy em đã lựa chọn đề tài “ Hoàn thiện hoạt động Marketing cho dịch vụ giao nhận tại công ty TNHH Vận Tải Biển Minh Nguyên”.

2. Mục đích nghiên cứu

Trong bối cảnh kinh doanh hiện nay, cần phải có những giải pháp xây dựng và hoàn thiện hoạt động Marketing để đảm bảo tính chủ động trong hoạt động kinh doanh, hiểu rõ được thị trường cung cấp dịch vụ giao nhận

Mục đích nghiên cứu của khóa luận là tìm ra các giải pháp khả thi, phù hợp với thời kỳ hội nhập đầy cạnh tranh trên thị trường giao nhận hiện nay nhằm khai thác các thế mạnh, khắc phục những hạn chế, tìm kiếm những cơ hội kinh doanh mà thị trường mang lại nhằm hoàn thi ện hoạt động Marketing cho dịch vụ giao nhận tại công ty TNHH Vận Tải Biển Minh Nguyên thông qua các nội dung sau:

  • Nghiên cứu cơ sở lý luận về Marketing dịch vụ giao nhận
  • Phân tích và nhận xét thực trạng hoạt động Marketing tại công ty TNHH Vận Tải Biển Minh Nguyên.
  • Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động Marketing cho dịch vụ giao nhận tại công ty TNHH Vận Tải Biển Minh Nguyên

3. Phạm vi nghiên cứu Khóa luận: Hoàn thiện hoạt động Marketing cho dịch vụ giao nhận.

  • Thời gian nghiên cứu: Hoạt động kinh doanh giai đoạn từ năm 2023 đến năm 2025
  • Không gian nghiên cứu: Công ty TNHH Vận Tải Biển Minh Nguyên và thị trường dịch vụ giao nhận tại thị trường Tp Hồ Chí Minh.
  • Giới hạn nghiên cứu: Nghiên cứu về tình hình phát triển dịch vụ giao nhận tại TP Hồ Chí Minh.

Đối tượng nghiên cứu: Các yếu tố môi trường b ên ngoài và bên trong ủac công ty TNHH Vận Tải Biển Minh Nguyên liên quan đến việc đưa ra giải pháp hoàn thiện hoạt động Marketing cho dịch vụ giao nhận nói riêng và cho công ty nói chung

4. Phương pháp nghiên cứu

Đề tài chủ yếu sử dụng các phương pháp

  • Phương pháp thu thập dữ liệu:
  • Dữ liệu thứ cấp: Thu thập từ công ty TNHH Vận Tải Biển Minh Nguyên; thu thập từ sách, báo, tạp chí, website và Internet.
  • Dữ liệu sơ cấp: Thu thập thông qua việc lấy ý kiến chuyên gia trong công ty
  • Phương pháp xử lý số liệu:
  • Phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh các số liệu thu thập được nhằm đánh giá hoạt động kinh doanh và thực trạng hoạt động Marketing tại công ty TNHH Vận Tải Biển Minh Nguyên.
  • Xử lý số liệu thu thập được.

5. Kết cấu đề tài

  • Phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận
  • Phần nội dung: Gồm có ba chương
  • Chương 1. Cơ sở lý luận về marketing dịch vụ giao nhận
  • Chương 2. Khái quát về công ty TNHH Vận Tải Biển Minh Nguyên và thực trạng hoạt động Marketing dịch vụ giao nhận tại công ty
  • Chương 3. Giải pháp hoàn thiện hoạt động Marketing cho dịch vụ giao nhận tại công ty TNHH Vận Tải Biển Minh Nguyên

Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MARKETING DỊCH VỤ GIAO NHẬN

1.1 Lý luận chung về marketing dịch vụ

1.1.1  Lý luận về thị trường

Thị trường là nơi diễn ra các quá trình trao đổi, mua bán nơi mà người mua và người bán gặp nhau để mua bán các sản phẩm và dịch vụ. Thị trường là môi trường của kinh doanh, là nơi giúp các doanh nghiệp nhận biết nhu cầu xã hội và là nơi đánh giá hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp.

Thị trường thường là rộng lớn và các doanh nghiệp để hoạt động hiệu quả thì họ phải phân khúc thị trường và lựa chọn thị trường mục tiêu thích hợp với doanh nghiệp mình.

Phân khúc thị trường là sự phân chia thị trường dựa vào sự phân loại nhu cầu của từng nhóm khách hàng cụ thể. Thị trường có thể được phân khúc theo nhiều tiêu thức khác nhau: phân khúc theo khu vực địa lý, phân khúc theo nhân khẩu học, phân khúc theo đặc điểm tâm sinh lý, phân khúc theo hành vi của khách hàng, và phân khúc theo lợi ích.

1.1.2  Định nghĩa về Marketing Khóa luận: Hoàn thiện hoạt động Marketing cho dịch vụ giao nhận.

Hiện nay có rất nhiều định nghĩa về Marketing mà cũng chưa có ai đưa nó về được một định nghĩa thống nhất. Marketing theo nghĩa đen “là làm thị trường” hay là hoạt động bán hàng. Tuy nhiên với ý nghĩa như vậy nó vẫn chưa phản ánh đầy đủ bản chất và chức năng của Marketing. Có thể nêu ra một số định nghĩa tiêu biểu về Marketing.

  • Định nghĩa của học viện HAMTION (Mỹ)

Marketing nghĩa là hoạt động kinh tế trong đó hàng hoá được đưa ra từ người sản xuất đến người tiêu dùng.

  • Định nghĩa của Uỷ ban hiệp hội Marketing Mỹ

Marketing là việc tiến hành các hoạt động kinh doanh có liên quan trực tiếp đến dòng vận chuyển hàng hoá và dịch vụ từ người sản xuất đến người tiêu dùng.

  • Định nghĩa của PHKOTLER (Mỹ)

Marketing là hoạt động của con người hướng tới sự thoả mãn nhu cầu và ước muốn thông qua trao đổi.

  • Định nghĩa của British of Marketing (Anh)

Marketing là chức năng quản lý công ty về mặt tổ chức và quản lý toàn bộ các hoạt dộng kinh doanh từ việc phát triển ra và biến sức mua của người tiêu dùng thành nhu cầu thực sự về một mặt hàng cụ thể đến việc đưa hàng hoá đó đến người tiêu dùng cuối cùng nhằm thu được lợi nhuận như mong muốn.

Từ những định nghĩa trên, có thể đưa ra một số đặc trưng cơ bản của Marketing như sau:

Marketing là tất cả các hình thức và biện pháp, những nghệ thuật quản lý kinh doanh toàn diện của công ty mà nội dung của nó gồm những việc sau: Khóa luận: Hoàn thiện hoạt động Marketing cho dịch vụ giao nhận.

  • Phát hiện ra nhu cầu xã hội về một mặt hàng nào đó và biến nhu cầu đó thành nhu cầu thực tế.
  • Tổ chức sản xuất ra hàng hoá phù hợp với nhu cầu.
  • Tổ chức cung ứng hàng hoá một cách nhanh nhất ra thị trường.
  • Ứng sử linh hoạt với mọi biến động của thị trường để bán được nhiều hàng hoá nhất và thoả mãn tối đa nhu cầu và thu được lợi nhuận cao nhất.

Nhìn chung, Marketing có nhiều nội dung phong phú, mỗi một định nghĩa đều nhấn mạnh nội dung cơ bản của Marketing là nghiên cứu thị trường để đưa ra các biện pháp nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu về một loại hàng hoá hay dịch vụ nào đó.

1.1.3 Khái niêm về dịch vụ

Một dịch vụ là một hoạt động hay một lợi ích mà một bên có thể cung cấp cho bên kia, trong đó có tính vô ình và không dẫn đến sự chuyển giao sở hữu nào cả.

(Theo Kotler và Armstrong).

1.1.4 Các đặc điểm phân biệt giữa dịch vụ và hàng hóa

Hàng hoá và dịch vụ đều là sản phẩm mà các doanh nghiệp thông qua các hoạt động Marketing của mình để cung cấp cho khách hàng. Tuy nhiên, dịch vụ có một số đặc trưng cơ bản phân biệt với hàng hoá. Chính sự khác biệt này dẫn đến là việc cung cấp một dịch vụ có sự khác biệt so với việc cung cấp hàng hoá. Và chính cũng bởi các đặc trưng này quy định sự khác biệt giữa Marketing dịch vụ với Marketing hàng hoá. Cụ thể:

  • Tính vô hình

Hàng hoá có hình dáng, kích thước, màu sắc và mùi vị. Khách hàng có thể tự xem xét, đánh giá xem nó có phù hợp với nhu cầu của mình không. Chính điều này làm nên tính hữu hình của hàng hoá mà chỉ bằng các giác quan của mình, khách hàng có thể cảm nhận được sự hiện hữu của nó. Còn dịch vụ thì ngược lại, v ới dịch vụ thì nếu chỉ bằng các giác quan của mình, khách hàng không thể nhận biết được trước khi mua dịch vụ. Nói nôm na là hàng hoá là những thứ mà ta có thể nhìn thấy, chạm vào nó còn dịch vụ thì không thể. Đây chính là một bất lợi khi bán một dịch vụ so với khi bán một hàng hoá. Đơn giản là chẳng ai lại dễ dàng mua những thứ mà đến chính mình còn không biết là nó có thực sự tồn tại hay không, có phải là thứ mình đang tìm kiếm hay không. Lý do là khách hàng khó thử dịch vụ trước khi mu a, khó cảm nhận được chất lượng, khó lựa chọn dịch vụ còn nhà cung cấp dịch vụ thì khó quảng cáo cho khách hàng về dịch vụ. Khóa luận: Hoàn thiện hoạt động Marketing cho dịch vụ giao nhận.

  • Tính không tách rời giữa cung cấp và tiêu dùng dịch vụ

Sản xuất và tiêu dùng một hàng hoá hữu hình được thực hiện riêng rẽ. Hàng hoá thường được sản xuất tập trung tại một nơi sau đó vận chuyển đến nơi khách hàng có nhu cầu. Chính điều này tạo cho hàng hoá một sự tách rời cả về không gian và mặt thời gian. Do đó, nhà sản xuất có thể đạt được tính kinh tế theo quy mô do sản xuất tập trung và quản lý chất lượng sản phẩm tập trung trên cơ sở sản xuất hàng loạt. Nhà sản xuất cũng có thể sản xuất khi nào thuận tiện rồi cất trữ vào kho đem bán khi có nhu cầu; do vậy, họ dễ dàng trong việc cân đối cung cầu. Nhưng đối với dịch vụ lại khác. Quá trình cung cấp dịch vụ và tiêu dùng dịch vụ xảy ra đồng thời. Người cung cấp dịch vụ và khách hàng phải tiếp xúc với nhau để cung cấp và tiêu dùng dịch vụ tại các địa điểm và thời gian phù hợp cho hai bên. Đối với một số dịch vụ trong quá trình tiêu dùng thì khách hàng phải có mặt trong suốt quá trình cung cấp dịch vụ. Bác sĩ không thể chữa bệnh nếu bệnh nhân không có mặt. Khách hàng không thể dùng Internet công cộng nếu không đến bưu cục. Như vậy, quá trình tiếp xúc khách hàng kéo dài suốt quá trình cung cấp dịch vụ. Tính không tách rời giữa cung cấp và tiêu dùng dịch vụ xuất hiện cả khi máy móc cung cấp dịch vụ. Trong một số trường hợp có thể tách biệt giữa cung cấp và tiêu dùng dịch vụ. Đó là các trường hợp không cần đến sự tiếp xúc cá nhân. Khách hàng có thể mang máy điện thoại đến cửa hàng sửa chữa sau khi chữa xong thì mới mang về sử dụng. Đây là trường hợp đối tượ ng trực tiếp nhận dịch vụ là tài sản của khách hàng. Các đặc điểm này ảnh hưởng đến doanh nghiệp dịch vụ như sau:

  • Khó đạt được tính kinh tế theo quy mô
  • Khó đạt được sự đồng đều về chất lượng (phụ thuộc vào nhân viên cung cấp dịch vụ)
  • Khó cân bằng giữa cung và cầu
  • Mối quan hệ giữa khách hàng và người cung cấp dịch vụ có ảnh hưởng đến sự cảm nhận của khách hàng về chất lượng dịch vụ
  • Tính không đồng đều về chất lượng Khóa luận: Hoàn thiện hoạt động Marketing cho dịch vụ giao nhận.

Vì dịch vụ không thể được cung cấp hàng loạt, tập trung như sản xuất hàng hoá, do vậy nhà cung cấp khó kiểm tra chất lượng dịch vụ một cách tập trung theo một tiêu chuẩn thống nhất. Mặt khác, sự cảm nhận của khách hàng về chất luợng dịch vụ của khách hàng lại chịu tác động mạnh bởi kĩ năng, thái độ của người cung cấp dịch vụ, môi trường nơi xảy ra quá trình cung cấp dịch vụ và cả quá trình cung cấp dịch vụ. Một nhân viên ở các thời điểm khác nhau (thậm chí là giữa buổi sáng với buổi chiều) lại có sức khoẻ và sự nhiệt tình khác nhau. Một khách hàng ở các thời điểm khác nhau cũng có sức khoẻ và sự chấp nhận khác nhau. Điều này khiến cho quá trình cung cấp dịch vụ cũng diễn ra khác nhau và không đồng nhất.

  • Tính không dự trữ được

Dịch vụ chỉ tồn tại vào thời gian mà nó được cung cấp. Do vậy , dịch vụ không thể sản xuất hàng loạt để cất vào kho dự trữ, khi có nhu cầu thị trường thì đem ra bán như hàng hoá. Một máy bay cất cánh đúng giờ với một nửa số ghế bỏ trống sẽ chịu lỗ chứ không thể để các chỗ trống đó lại bán vào các giờ khác khi có đông hành khách có nhu cầu bay. Một tổng đài điện thoại vẫn phải hoạt động khi không có cuộc gọi nào vào các giờ nhàn rỗi, nhưng công ty vẫn phải tính khấu hao, tính chi phí điện và nhân công trực. Một số các quầy giao dịch bưu điện phải mở cửa đến 9 – 10 giờ đêm mặc dù không có khách, trong khi đó ạil bận vào các giờ cao điểm. Nếu tăng công suất máy móc vào giờ cao điểm thì lại lãng phí vào các giờ vắng khách.

  • Tính không chuyển quyền sở hữu được

Khi mua một hàng hoá, khách hàng được chuyển quyền sở hữu và trở thành chủ sở hữu của hàng hoá mà mình đã mua. Trong khi đó, đối với việc mua dịch vụ thì khách hàng chỉ được quyền sử dụng dịch vụ, được hưởng lợi ích dịch vụ trong một thời gian nhất định mà thôi.

1.1.5 Khái niệm về Marketing dịch vụ

Marketing dịch vụ là sự thích nghi lý thuyết vào thị trường dịch vụ bao gồm một chuỗi các quá trình tìm hiểu, thu thập, lựa chọn, thực hiện, đánh giá thị trường mục tiêu bằng hệ thống chính sách, các biện pháp tác động vào toàn bộ quá trình tổ chức sản xuất cung ứng và tiêu dùng dịch vụ thông qua phân phối nguồn lực của tổ chức. Marketing được duy trì thông qua sự tác động qua lại giữa sản phẩm dịch vụ, người tiêu dùng, đối thủ cạnh tranh và sự năng động của người làm. Marketing trong công ty dựa trên sự cân bằng lợi ích tổ chức, người tiêu dùng và xã hội.

1.1.6 Vai trò của Marketing dịch vụ

Là phương tiện mà các nhà cung cấp dịch vụ sử dụng để thường xuyên hiểu được nhu cầu và mong muốn của khách hàng bên ngoài và bên trong. Từ đó giúp khách hàng biết đến công ty và giúp công ty bán được hàng.

  • Cung cấp thông tin cần thiết cho các nhà quản lý trong việc đưa ra các quyết định bán hàng, quản lý bán hàng, quyết định về giá, về sản phẩm, về phân phối, về xúc tiến, về việc thoả mãn nhu cầu của khách hàng, …
  • Giúp cho các nhà quản lý hiểu được quá trình đánh giá dịch vụ của khách hàng trước, trong và sau khi sử dụng dịch vụ. Từ đó đóng vai trò là phương tiện để giúp họ hiểu rõ khách hàng hơn, hiểu rõ môi trường kinh doanh.
  • Giúp các nhà quản lý vạch ra các quyết định kế hoạch dài hạn cho doanh nghiệp

1.1.7 Nội dung của marketing dịch vụ Khóa luận: Hoàn thiện hoạt động Marketing cho dịch vụ giao nhận.

Như chúng ta đã biết về cơ bản Marketing thường sử dụng các công cụ chữ P. Thường là 4P: Price (Chính sách giá cả); Product (Chính sách sản phẩm); Place (chính sách phân phối); Promotion (Chính sách xúc tiến). Và sự khác biệt giữa Marketing dịch vụ và Marketing hàng hoá chính là việc M arketing dịch vụ sử dụng thêm 3 chữ P đặc thù mà Marketing hàng hoá không có.

7P trong marketing dịch vụ gồm: thứ nhất là product (sản phẩm), thứ hai là price (giá), thứ ba là place (phân phối), thứ tư là promotion (xúc tiến), thứ năm là people (con người), thứ sáu là proc ess (quy trình), thứ bảy là Physical Evidence (cơ sở vật chất)

1.1.7.1 Sản phẩm dịch vụ (product)

Công ty cung cấp sản phẩm dịch vụ cho khách hàng bao gồm dịch vụ cơ bản và dịch vụ bổ sung.

Dịch vụ cơ bản là những dịch vụ mà công ty cung cấp cho khách hàng, cần làm cho khách hàng hiểu được dịch vụ mà công ty cung ứng. Hoạt động cung cấp dịch vụ cơ bản luôn gắn liền với số lượng và chất lượng mà khách hàng cảm nhận được.

Dịch vụ bổ sung là các dịch vụ được thực hiện nhằm hỗ trợ cho giá trị của dịch vụ cơ bản là một trong những yếu tố quyết định đến sự hình thành công việc trong việc quyết định sử dụng của khách hàng về dịch vụ cơ bản.

1.1.7.2 Giá dịch vụ (price) Khóa luận: Hoàn thiện hoạt động Marketing cho dịch vụ giao nhận.

Giá là yếu tố tác động mạnh mẽ tới sự lựa chọn của khách hàng, từ sản phẩm dịch vụ tới nhà cung cấp. Giá tác động như một yếu tố quyết định tới khách hàng sử dụng. Chính vì thế mà hầu hết các doanh nghiệp đều cố gắng chủ động trong việc xác định giá. Việc tăng giá sẽ làm mất lòng tin hay gây trở ngại cho việc cung cấp dịch vụ trong tương lai, dù chi phí đầu vào rất dễ tăng lên. Bởi lẽ không phải khách hàng nào cũng hiểu đúng việc thay đổi giá. Quyền lựa chọn nằm trong tay khách hàng. Doanh số của công ty cũng phụ thuộc vào nhu cầu và sự lựa chọn của khách hàng.

Trong kinh tế, giá cả là giá trị dưới dạng bằng tiền của hàng hoá, dịch vụ. Theo ý nghĩa thực tế, giá cả là số tiền trả cho một số lượng hàng hoá, dịch vụ nào đó.

  • Đối với người mua, giá cả là khoản tiền họ phải trả để được quyền sử dụng/sở hữu sản phẩm.
  • Đối với người bán, giá cả là khoản thu nhập mà họ nhận được nhờ việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
  • Đối với người làm Marketing, giá cả có các ý nghĩa sau đây:
  • Thứ nhất, giá cả là biến số Marketing duy nhất mang lại doanh thu cho doanh nghiệp. Các biến số Marketing khác khi được thực thi đều phải chịu chi phí bỏ ra.
  • Thứ hai, quyết định về giá cả có tác động nhanh chóng đến thị trường, tác động đến doanh thu, chi phí, lợi nhuận, thị phần và tính cạnh tranh của sản phẩm. Quyết định về giá là một quyết định có tầm quan trọng nhất trong các quyết định kinh doanh. Để đảm bảo giá của dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp phù hợp với thực tế thị trường, bất cứ lúc nào doanh nghiệp cũng phải sẵn sàng đánh giá và xem xét lại mức giá dịch vụ của mình để duy trì tính cạnh tranh, sống sót và tăng trưởng trong thị trường luôn nhiều đổi mới như hiện nay.

Việc xác định giá trong dịch vụ phải căn cứ vào giá trị đích thực mà dịch vụ đó mang lại cho khách hàng và được định trong viễn cảnh của thị trường. Quá trình xác định giá cả trong dịch vụ phải được xem xét giữa ba góc độ: Chi phí của người cung cấp, tình hình trên thị trường và giá mà khách hàng chấp nhận

1.1.7.3 Kênh phân phối (place) Khóa luận: Hoàn thiện hoạt động Marketing cho dịch vụ giao nhận.

Trong Marketing hệ thống kênh phân phối là các cá nhân, các tổ chức kinh doanh độc lập hay các phương tiện, công cụ trung gian có nhiệm vụ chuyển hàng hoá/dịch vụ từ trạng thái sản xuất đến thị trường tiêu thụ, để đáp ứng yếu tố “sẵn sàng” đến người mua cuối. Kênh phân phối là những phương cách được nhà sản xuất/nhà cung cấp quyết định và chọn lọc để đưa hàng hoá sản phẩm và dịch vụ ra thị trường mục tiêu sao cho hiệu quả nhất với chi phí thấp nhất.

Doanh nghiệp sản xuất ra rất nhiều sản phẩm, nhưng lại không biết làm sao để đưa sản phẩm ra thị trường. Thậm chí, nếu không có “chiến lược đi vào thị trường cụ thể”, họ còn thấy rằng tiền dùng cho việc sản xuất còn không tốn bằng tiền để đưa sản phẩm ra thị trường. Đó chính là vấn đề về thiết lập và lựa chọn đúng kênh phân phối

Những kiểu kênh phân phối trong Marketing: Kênh truyền thống có 4 mô hình phân phối cơ bản:

  • Kênh trực tiếp: NSX – người tiêu dùng.
  • Kênh 1 cấp: NSX- Siêu thị/cửa hàng/ Nhà bán lẻ – người tiêu dùng
  • Kênh 2 cấp: NSX- Nhà phân phối chính – siêu thị/cửa hàng/ Nhà bán lẻ – người tiêu dùng
  • Kênh 3 cấp: NSX – Nhà phân phối chính – Nhà bán sỉ – siêu thị/cửa hàng/ Nhà bán lẻ – người tiêu dùng.

Trước đây chỉ có một vài phương pháp phân phối như : qua nhân viên bán hàng trực tiếp, qua nhà phân phối chính, qua nhà bán sỉ, bán lẻ thì ngày nay xuất hiện thêm rất nhiều phương thức mới như:

1. Mạng nội bộ 6. Trang Web
2. Thư điện tử 7. Fax
3. Đấu giá 8. Đối tác kinh doanh
4. Nhà phân phối chính 9. Đại lý
5. Người bán lại 10. Đại lý tiếp thị từ xa, nhân viên tiếp thị từ xa
  • Một là kênh phân phối trực tiếp: Người cung cấp dịch vụ -> khách hàng
  • Hai là kênh phân phối gián tiếp: Người cung cấp dịch vụ -> đại lý mô giới (hoặc đại lý người bán -> đại lý người mua) -> khách hàng Khóa luận: Hoàn thiện hoạt động Marketing cho dịch vụ giao nhận.

Vai trò của kênh phân phối:

  • Thu thập thông tin qua quá trình tiếp xúc với khách hàng từ đó giúp nhà sản xuất có những chiến lược phù hợp.
  • Thiết lập mối quan hệ, tạo dựng và duy trì mối quan hệ với những người mua tiềm ẩn.
  • Kích thích tiêu thụ và quảng bá sản phẩm dịch vụ.
  • Tổ chức lưu thông, vận chuyển, bảo quản và dự trữ hàng hóa.
  • Đảm bảo chi phí, tìm kiếm và sử dụng nguồn vốn để bù đắp các chi phí hoạt động của kênh.
  • Chấp nhận rủi ro và gánh chịu trách nhiệm về hoạt động của kênh.

1.1.7.4 Chính sách xúc tiến dịch vụ (promotion)

Hoạt động xúc tiến giúp cho công ty cung cấp thêm cho khách hàng, nhà cung cấp dịch vụ. Giúp cho nhà cung ứng khách hàng nhận thức rõ ràng, đầy đủ giá trị của dịch vụ với các hoạt động chủ yếu là quảng cáo, khuyến khích tiêu thụ, Marketing trực tiếp, bán hàng trực tiếp.

  • Quảng cáo

Quảng cáo là các hình thức truyền thông, hoạt động xúc tiến thương mại của con người nhằm giới thiệu với khách hàng về hoạt động kinh doanh hàng hóa, dịch vụ của mình. Quảng cáo là một vũ khí cạnh tranh, vì nó giúp khách hàng có đầy đủ thông tin về các nhà cung cấp, các sản phẩm có mặt trên thị trường. Hiện nay, thị trường giao nhận Việt Nam đang phát triển rất nhanh. Đặc biệt có sự tham gia của nhiều nhà cung cấp, xuất hiện nhiều dịch vụ mới. Do đó, quảng cáo có vai trò rất quan trọng giúp cho khách hàng biết đến các sản phẩm, dịch vụ và lựa chọn mua.

  • Khuyến khích tiêu thụ

Những biện pháp kích động tức thời nhằm khuyến khích việc mua bán hàng hóa/dịch vụ.

  • Marketing trực tiếp

Là theo định nghĩa của Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ, là hệ thống tương tác của Marketing, có sử dụng một hay nhiều phương tiện quảng cáo, để tác động đến một phản ứng đáp lại đo lường được ở bất cứ mọi.

Đặc điểm: Có hai cách nét đặc trưng chính để phân biệt Marketing trực tiếp với các loại hình Marketing khác. Đầu tiên là nó nỗ lực để gửi thông điệp trực tiếp đến với người tiêu dùng mà không sử dụng đến các phương tiện truyền thông phi trực tiếp. Nó sử dụng hình thức truyền thông thương mại (thư trực tiếp, e – mail, chào hàng qua điện thoại,…) với khách hàng hay doanh nghiệp. Đặc điểm thứ hai là nhấn mạnh vào những phản hồi mang tính tích cực có thể theo dõi và đo lường được từ khách hàng. Marketing trực tiếp thu hút rất nhiều nhà làm Marketing bởi nó mang về những hiệu quả tích cực là nó có thể được đo lường một cách trực tiếp Khóa luận: Hoàn thiện hoạt động Marketing cho dịch vụ giao nhận.

  • Bán hàng trực tiếp

Giới thiệu bằng miệng, trực tiếp về hàng hóa/dịch vụ với một hay nhiều người mua tiềm ẩn

1.1.7.5 Con người (people)

Con người hay Nhân sự là yếu tố quan trọng hàng đầu trong việc hoạch định, thực thi và quản lý các chiến lược của doanh nghiệp hướng đến xây dựng và duy trì mối quan hệ với khách hàng và các bên hữu quan.

Con người trong kinh doanh dịch vụ giao nhận là n hân viên và khách hàng (người xuất – nhập khẩu)

  • Nhân viên trong công ty

Là tất cả những con người hội tụ nhiều đặc điểm như phẩm chất, năng lực, kinh nghiệm… tham gia vào các quá trình để tạo ra sản phẩm, dịch vụ, hay những đóng góp hữu ích cho doanh nghiệp nào đó. Nhân viên có mặt ở tất cả các khâu công việc, nắm giữ toàn bộ quá trình hoạt động của một doanh nghiệp. Chính vì thế mà chất lượng của dịch vụ và chất lượng phục vụ phụ thuộc vào chất lượng và hiệu quả làm việc của nhân viên.

Tuy nhiên, kết quả công việc của nhân viên chịu ảnh hưởng bởi các chuẩn mực xã hội, giao tiếp giữa cấp quản lý và nhân viên, và mức độ tham gia của nhân viên vào các quyết định nơi làm việc. Tức là hiệu suất làm việc có cao hay không gắn liền với sự thỏa mãn của nhân viên, và sự thỏa mãn ấy lại gắn liền với những yếu tố từ kinh tế: lương bổng, phụ cấp… đến các yếu tố phi kinh tế như cảm giác sở hữu, được tham gia vào việc ra quyết định, được chia sẻ thông tin, lợi ích, trách nhiệm, hay tương thưởng xứng đáng. Khóa luận: Hoàn thiện hoạt động Marketing cho dịch vụ giao nhận.

Vì vậy, để giải quyết bài toán về cách thức xây dựng nguồn nhân lực tốt trước tiên là cần quan tâm đến những mong muốn cơ bản của người lao động và cân đối hài hòa với định hướng phát triển của doanh nghiệp.

Môi trường làm việc là nơi mà nhân viên sống và thực hiện các hoạt động đóng góp của mình vào các hoạt động sản xuất kinh doanh. Đó có thể là môi trường làm việc tập thể hay cá nhân, tại văn phòng hay công trường, nhà máy..

Môi trường làm việc lý tưởng là một trong những nhân tố quan trọng góp phần thu hút và giữ chân nhân tài cũng như tạo ra lực đẩy gia tăng hiệu quả làm việc trong tổ chức. Ngày nay, nhiều doanh nghiệp không ngừng đầu tư chi phí và con người nhằm xây dựng nên môi trường làm việc hiệu quả với những nét đặc trưng, bản sắc văn hóa doanh nghiệp riêng.

  • Khách hàng

Theo từ điển Oxford: “Khách hàng là người mua hàng hóa hay dịch vụ từ một cửa hàng hoặc một doanh nghiệp”. Đây là một định nghĩa hết sức cô đọng, cần phải hiểu khái niệm này một cách rộng hơn như sau: khách hàng không chỉ là người thực sự mua hoặc sử dụng sản phẩm dịch vụ cuối cùng mà là bất cứ ai, từ một cá nhân, đơn vị… nhận cung ứng một chi tiết sản phẩm, một dịch vụ hay một thông tin.

Khách hàng ngày nay không còn là người thụ động được phân phối, họ có quyền chủ động lựa chọn sản phẩm dịch vụ đáp ứng được yêu cầu phong phú của họ, họ có quyền đánh giá chất lượng sản phẩm, dịch vụ trước khi đi đến quyết định mua hoặc sử dụng dịch vụ đó.

Ngày nay, trong hoạt động kinh do anh của mỗi doanh nghiệp thì vấn đề khách hàng được coi là trọng tâm. Do đó, khách hàng nói chung và khách hàng của doanh nghiệp giao nhận nói riêng có vai trò quyết định sự sống còn của doanh nghiệp. Để kinh doanh có hiệu quả, mọi hoạt động của doanh nghiệp đều phải xuất phát từ khách hàng, hướng tới khách hàng và đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng. Hơn nữa, trong thị trường cạnh tranh các nhà cung cấp dịch vụ phải duy trì và phát triển được khách hàng của riêng mình, phải có những hoạt động cụ thể về các mảng liên quan chặt chẽ với khách hàng: dịch vụ khách hàng, chăm sóc khách hàng…

1.1.7.6 Chính sách quản lý quy trình cung cấp dịch vụ (process)

Đối với các ngành dịch vụ, quá trình cung cấp và tiêu dùng dịch vụ xảy ra đồng thời việc khách hàng tham gia vào quá trình tạo ra dịch vụ. Khách hàng không chỉ quan tâm đến kết quả của dịch vụ, mà còn quan tâm đến quá trình cung cấp dịch vụ. Quá trình này tác động mạnh tới tâm lý khách hàng; đồng thời, ở đây có sự giao thoa giữa quản trị Marketing, quản trị tác nghiệp và quản trị nguồn nhân lực.

1.1.7.7 Cơ sở vật chất (Physical Evidence)

Do dịch vụ có nhược điểm lớn là vô hình, cho nên cần phải chú trọng tới các yếu tố hữu hình thay thế nhằm tác động tích cực tới tâm lý khách hàng. Đó là các yếu tố hữu hình tại nơi giao dịch, các sản phẩm kèm theo, con người, thiết bị, phương tiện, quảng cáo bằng hình ảnh,…

1.2 Lý luận chung về dịch vụ giao nhận hàng hóa Khóa luận: Hoàn thiện hoạt động Marketing cho dịch vụ giao nhận.

1.2.1. Khái niệm

Nền kinh tế thế giới càng phát triển thì sự phân công lao động quốc tế cũng ngày càng phát triển theo. Lĩnh vực thương mại quốc tế cũng không nằm ngoài xu hướng đó. Đặc điểm lớn nhất của thương mại quốc tế là người mua và người bán ở những quốc gia khác nhau, có sự khác nhau về ngôn ngữ, luật pháp, văn hoá,… Để cho quá trình hàng hoá luân chuyển từ người bán đến người mua diễn ra một cách nhanh chóng, thuận lợi, một loại hình kinh doanh dịch vụ ra đời, đó là dịch vụ giao nhận

Dịch vụ giao nhận là bất kì loại dịch vụ nào liên quan tới gom hàng, vận chuyển, lưu kho, bốc xếp, đóng gói, hay phân phối hàng hoá cũng như các dịch vụ tư vấn có liên quan đến các dịch vụ kể trên, thông thường là các dịch vụ về hải quan, bảo hiểm, tài chính, thanh toán và các chứng từ có liên quan đến hàng hoá.

Theo quy định của luật thương mại Việt Nam thì “Dịch vụ giao nhận hàng hoá là hành vi thương mại, theo đó người làm dịch vụ giao nhận hàng hoá nhận hàng từ người gửi, tổ chức việc vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm các thủ tục giấy tờ và các dịch vụ khác có liên quan để giao hàng cho người nhận theo sự uỷ thác của chủ hàng, của người vận tải hoặc của người làm dịch vụ giao nhận khác”

Người giao nhận là người kinh doanh dịch vụ giao nhận hàng hoá. Người giao nhận chuyên nghiệp hoặc bất kì người nào khác có đăng kí kinh doanh dịch vụ giao nhận. Người giao nhận có thể làm dịch vụ giao nhận trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua đại lý hoặc thuê dịch vụ của người thứ ba khác.

1.2.2. Đặc điểm Khóa luận: Hoàn thiện hoạt động Marketing cho dịch vụ giao nhận.

Dịch vụ giao nhận hàng hóa là vô hình. Chất lượng của dịch vụ giao nhận hàng hóa phụ thuộc vào sự đánh giá của khách hàng

Dịch vụ giao nhận hàng hóa còn mang đặc điểm của dịch vụ vận tải bởi quá trình giao nhận hàng hóa luôn gắn liền với quá trình vận tải hàng hóa

Giao nhận hàng hóa là một tron g những bước được thực hiện trong hợp đồng ngoại thương nên dịch vụ giao nhận mang tính thời vụ do chịu tính thời vụ trong hoạt động kinh doanh xuất khẩu

Dịch vụ giao nhận không thể hoàn toàn chủ động do phụ thuộc vào các bên vận tải, các bên giao hàng…

1.2.3. Vai trò của dịch vụ giao nhận

Thương mại quốc tế phát triển kéo theo sự phát triển của các lĩnh vực liên quan, đó là vận tải quốc tế và dịch vụ giao nhận hàng hoá quốc tế. Giữa vận tải quốc tế và dịch vụ giao nhận hàng hoá quốc tế lại có mối quan hệ hữu cơ với nhau. Ngành giao thông vận tải quốc tế phát triển tạo thuận lợi cho các nhà giao nhận và thúc đẩy sự phát triển của dịch vụ này. Ngược lại dịch giao nhận hàng hoá càng phát triển cũng đòi hỏi vận tải quốc tế cũng phải có sự phát triển theo để đáp ứng được nhu cầu của người giao nhận. Ngày nay, người làm dịch vụ giao nhận vừa là nhà vận tải đa phương thức, vừa là nhà tổ chức của vận tải. Họ phải lựa chọn phương tiện vận tải, quãng đường vận tải thích hợp, người vận tải phù hợp hoặc đứng ra trực tiếp chuyên chở hay tổ chức hay tổ chức quá trình vận tải của toàn chặng với nhiều phương tiện vận tải, đi qua nhiều quốc gia khác nhau và chịu trách nhiệm trực tiếp với người gửi hàng. Chính nhờ dịch vụ giao nhận hàng hoá quốc tế mà người gửi hàng chỉ phải đến một cửa, ký một hợp đồng với người giao nhận là hàng hoá được vận chuyển từ người xuất khẩu tới người nhập khẩu với một mức giá hợp lý. Người xuất khẩu và người nhập khẩu không phải lo lắng về vấn đề vận chuyển mà chỉ phải tập trung vào quá trình sản xuất cũng như tiêu thụ sản phẩm. Như vậy sự phát triển của dịch vụ giao nhận hàng hoá quốc tế đã thúc đẩy quá trình lưu thông hàng hoá trên thị trường quốc tế, làm giảm chi phí lưu thông (nếu để người xuất khẩu và người nhập khẩu tự làm công việc này thì chi phí sẽ cao do họ không am hiểu và có nghiệp vụ cao như người giao nhận), tăng sức cạnh tranh cho hàng hoá.

Phát triển kinh doanh dịch vụ giao nhận vận ở nước ta có một ý nghĩa hết sức quan trọng, góp phần đẩy nhanh tốc độ giao lưu hàng hoá xuất nhập khẩu với các nước trên thế giới, tạo điều kiện đơn giản hoá chứng từ, thủ tục thương mại, hải quan và các thủ tục pháp lý khác, hấp dẫn các bạn hàng nước ngoài có quan hệ kinh doanh với các doanh nghiệp trong nước, làm cho hàng hoá Việt Nam trở nên cạnh tranh hơn, tăng nguồn thu ngoại tệ cho đất nước. Điều đó có nghĩa là dịch vụ giao nhận hàng hoá góp phần không nhỏ vào sự tăng trưởng của một quốc gia. Khóa luận: Hoàn thiện hoạt động Marketing cho dịch vụ giao nhận.

Trước đây, người giao nhận chỉ làm các công việc mà nhà xuất nhập khẩu uỷ thác như làm thủ tục hải quan, xếp dỡ, thuê tàu, lo liệu vận tải nội địa,… Song cùng với sự phát triển của thương mại quốc tế, vai trò của người giao nhận đã được mở rộng ra. Bên cạnh các dịch vụ truyền thống, ngày nay, các nhà kinh doanh dịch vụ giao nhận còn cung cấp dịch vụ trọn gói về toàn bộ quá trình vận tải và phân phối hàng hoá, được gọi là dịch vụ logistics

1.2.4 Hoạt động Marketing trong giao nhận

Marketing dịch vụ giao nhận hàng hoá là Marketing dịch vụ mà sản phẩm của nó là dịch vụ giao nhận hàng hoá xuất nhập khẩu

Marketing dịch vụ giao nhận vận tải có thể phân biệt với Marketing dịch vụ khác ở chính các đặc thù.

Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động Marketing trong giao nhận

  • Các nhân tố khách quan, thuộc về bên ngoài:

Nhận thức từ phía các doanh nghiệp xuất – nhập khẩu. Họ có thể trực tiếp liên hệ với các hãng chuyên chở, tự làm thủ tục hải quan, tự bốc hàng – xếp hàng,… nói chung là có thể làm được công việc của người giao nhận. Vì thế muốn Marketing được thì phải phụ thuộc vào việc: các nhà xuất – nhập khẩu, họ có cần các nhà giao nhận hay không. Ví dụ như ở Việt Nam phần lớn là nhập CIF và xuất FOB. Điều này khiến cho quyền chủ động thuê tàu thuộc về bên nước ngoài. Điều này sẽ gây ra bất lợi cho các nhà giao nhận khi mà rất khó để thuyết phục họ cho mình giao nhận hàng hoặc nếu có thì cũng chỉ là vận chuyển nội địa, khai báo hải quan hộ. Rõ ràng đây là một nhân tố gây bất lợi cho Marketing dịch vụ

Vị thế giữa các nhà giao nhận với các hãng chuyên chở. Điều này sẽ ảnh hưởng đến khả năng đàm phán giá. Một đặc điểm cơ bản của dịch vụ giao nhận là giá của sản phẩm này phụ thuộc vào giá mà các nhà chuyên chở đưa ra cộng với mức độ hiểu biết của khách hàng về giá. Rõ ràng nếu ở vị thế cao hơn các hãng chuyên chở thì các nhà giao nhận sẽ có được một mức giá tốt so với thị trường. Và do đó chính sách giá trong Marketing của công ty đối với khách hàng sẽ được chấp nhận.

Mức độ hiểu biết của khách hàng về dịch vụ: nếu mức độ hiểu biết này cao thì đòi hỏi hoạt động Marketing phải chuyên nghiệp, các nhân viên kinh doanh phải nắm vững và chắc nghiệp vụ để có thể thuyết phục khách hàng. Mặt khác có một thực tế là khi khách hàng hiểu quá rõ về dịch vụ đặc biệt là tương quan giá cả thì họ sẽ dễ quyết định mua dịch vụ của công ty nào có giá thấp hơn mà không khỏi băn khoăn, nghi ngờ. Rõ ràng nhân tố này ảnh hưởng rất lớn đến chính sách giá và xúc tiến trong hoạt động Marketing của công ty. Khóa luận: Hoàn thiện hoạt động Marketing cho dịch vụ giao nhận.

Mức độ và tính chất cạnh tranh trên thị trường giao nhận. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến chiến lược Marketing của công ty. Thật khó để theo đuổi chiến lược giá “hớt váng sữa” nếu ngày một nhiều hơn các đối thủ cạnh tranh tham gia mức độ rộng và tính chất cạnh tranh là “giá bão hoà” hoặc “giá thấp”. Rõ ràng để tiếp tục doanh nghiệp chỉ có thể giảm giá hoặc phát triển dịch vụ mới.

  • Các ràng buộc mang tính pháp lý thuộc về quản lý nhà nước.
  • Các nhân tố chủ quan, thuộc về bên trong:

Chính sách Marketing: Rõ ràng nếu chính sách Marketing không tốt thì sẽ dẫn đến hiệu quả Marketing dịch vụ giao nhận cũng không tốt.

Các nhân viên Marketing (nhân viên kinh doanh): Nhân viên kinh doanh với kỹ năng, nghiệp vụ yếu thì dù cho chính sách Marketing có tốt đến đâu, dù cho khách hàng dễ tính đến bao nhiêu thì rất khó để lại ấn tượng tốt cho khách hàng, rất khó để thuyết phục khách hàng chấp nhận chất lượng dịch vụ mà mình cung cấp. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến việc thực hiện chính sách quản lý con người trong Marketing của công ty. Khóa luận: Hoàn thiện hoạt động Marketing cho dịch vụ giao nhận.

Hệ thống mạng lưới đại lý của công ty. Việc có một hệ thống mạng lưới rộng khắp sẽ giúp cho công ty có được lợi thế cạnh tranh về giá đồng thời tạo cho công ty một khả năng kiểm soát tốt quá trình cung ứng dịch vụ như một nhân tố thuộc về công cụ quản lý quy trình cung cấp dịch vụ trong hoạt động Marketing (Process) của công ty.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>> Khóa luận: Thực trạng hoạt động Marketing dịch vụ giao nhận

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest
1 Bình luận
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
trackback

[…] ===>> Khóa luận: Hoàn thiện hoạt động Marketing cho dịch vụ giao nhận […]

1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993