Khóa luận: Hoạt động giao nhận hàng hóa container xuất NK

Rate this post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Hoạt động giao nhận hàng hóa container xuất NK hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Khóa luận: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động giao nhận hàng hóa container xuất nhập khẩu bằng đường biển tại Công ty Cổ phần Vật tư Du lịch dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

Nội dung chính

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Đổi mới kinh tế ở Việt Nam đã trở thành một việc làm cần thiết, tạo ra một bước ngoặt quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội ở nước ta, được bạn bè quốc tế quan tâm và đánh giá cao. Tại đại hội Đảng toàn quốc Việt Nam lần thứ VI đã phân tích đúng đắn nguyên nhân của cuộc khủng hoảng kinh tế xã hội và đề ra giải pháp để thoát khỏi tình trạng ấy, đồng thời đưa ra đường lối đổi mới toàn diện cho nền kinh tế nước nhà. Thương mại nước ta từ đó cũng liên tục vận động cho phù hợp với thời kỳ đổi mới, trong đó phải kể đến một bộ phận vô cùng quan trọng đó là thương mại quốc tế mà cụ thể là lĩnh vực xuất nhập khẩu.

Việt Nam đang trong quá trình chuyển mình để hội nhập vào nền kinh tế thế giới,đặc biệt là lĩnh vực kinh tế, mà một trong những mốc quan trọng đánh dấu cho sự vươn lên đó chính là sự kiện Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới WTO. Với việc tham gia WTO, Việt Nam sẽ có cơ hội tham gia sâu rộng, mạnh mẽ hơn nữa vào thương mại và hội nhập quốc tế. Các thành phần kinh tế và đặc biệt là các doanh nghiệp trong nước sẽ đứng trước cơ hội phát triển rất lớn, nhưng cũng không kém phần thách thức với sự cạnh tranh gay gắt và không cân bằng của các doanh nghiệp đến từ các nước khác nhau.

Do sự phát triển và giao lưu kinh tế mạnh mẽ giữa Việt Nam và các nước trên thế giới thì một ngành kinh tế được cho là sẽ có cơ hội rất lớn để phát triển đó là ngành giao nhận vận tải. Việc nền kinh tế Việt Nam liên tục tăng trưởng cao, ổn định trong những năm qua và kim ngạch xuất khẩu cũng tăng mạnh theo, đây là một tín hiệu rất tốt cho ngành vận tải vốn đã phát triển, nay sẽ phát triển mạnh hơn nữa trong tương lai.

Đứng trước những cơ hội cũng như những thách thức không nhỏ thì các doanh nghiệp Việt Nam cần phải tăng khả năng cạnh tranh, cung cấp cho thị trường các loại hàng hoá phù hợp. Điều này đòi hỏi người vận chuyển phải đảm bảo chất lượng và chi phí vận tải hợp lý, đúng thời điểm, chính xác và an toàn. Muốn như vậy, các doanh nghiệp giao nhận vận tải phải làm quen, áp dụng và hoàn thiện hơn trong hoạt động cung cấp dịch vụ của mình nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ, đặc biệt là trong hoạt động vận tải biển vì khối lượng hàng hoá chuyên chở bằng đường biển chiếm tỷ trọng rất lớn trong toàn bộ khối lượng hàng hoá xuất nhập khẩu được chuyên chở. Khóa luận: Hoạt động giao nhận hàng hóa container xuất NK.

Hiện nay trên 24 tỉnh thành vùng duyên hải Việt Nam có trên 200 cảng biển lớn nhỏ, chỉ riêng hệ thống cảng biển TP.HCM lượng hàng hóa đã lên tới 50 triệu tấn/ năm, lượng hàng hóa ra và vào các cảng miền Nam trong năm qua vẫn tăng hơn 10%. Là một ngành quan trọng trong vận tải quốc tế, có thể nói ngành giao nhận đặc biệt là giao nhận hàng hóa bằng đường biển đã có bề dày lịch sử và khẳng định sự tồn tại cũng như vai trò của mình trong sự phát triển của nền kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng.

Trong thành tựu chung của hệ thống cảng biển Việt Nam, Công ty cổ phần Vật tư Du lịch cũng đã có những đóng góp không nhỏ vào sự phát triển của ngành vận tải đường biển nói riêng và vận tải quốc tế nói chung. Tuy vậy, để tồn tại và phát triển lâu dài, công ty phải nhìn nhận lại tình hình, trên cơ sở đó đề ra những giải pháp thực tế để thúc đẩy hiệu quả hoạt động hơn nữa.Vì vậy, vấn đề cấp thiết được đề cập đến hiện nay đó là phải có những biện pháp để nghiên cứu, hoàn thiện hơn nữa quy trình giao nhận nhằm đẩy mạnh hoạt động giao nhận đồng thời thúc đẩy xuất nhập khẩu tăng hơn nữa, góp phần vào việc mang lại giá trị nhiều hơn cho công ty, qua đó góp phần vào sự phát triển của ngành vận tải cả nước, nâng cao năng lực cạnh tranh của nước ta so với các nước khác.

Bên cạnh việc ứng dụng và củng cố những kiến thức đã học tại trường cũng như tiếp cận và học hỏi các nghiệp vụ chuyên môn một cách thực tế em còn muốn tìm hiểu kỹ hơn về hoạt động giao nhận hàng hoá và đưa ra một số giải pháp kiến nghị nhằm hoàn thiện hơn nữa hoạt động này của công ty trong thời gian sắp tới, góp phần vào công cuộc phát triển dịch vụ giao nhận của Công ty. Chính vì vậy em đã quyết định chọn đề tài: “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động giao nhận hàng hóa container xuất nhập khẩu bằng đường biển tại Công ty Cổ phần Vật tư Du lịch” cho bài khóa luận của mình.

2. Mục tiêu đề tài

Đề tài này tập trung nghiên cứu và làm rõ những vấn đề sau:

  • Thứ nhất, nghiên cứu lý luận về quy trình giao nhận hàng hoá xuất nhập khẩu trong hoạt động ngoại thương mà cụ thể là hoạt động giao nhận hàng nhập khẩu bằng đường biển.
  • Thứ hai, tìm hiểu chung về Công ty Cổ phần Vận Tải Du Lịch, đưa ra kết luận về những thành công đạt được và những vấn đề còn hạn chế trong quy trình xuất nhập khẩu bằng đường biển của Công ty
  • Thứ ba, từ đó đề xuất giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện quy trình trong tương lai, đảm bảo sao cho hiệu quả nhất, khắc phục tối đa các nhược điểm mắc phải.

3. Phạm vi nghiên cứu Khóa luận: Hoạt động giao nhận hàng hóa container xuất NK.

Không gian: Đề tài thực hiện nghiên cứu Công ty Cổ phần Vật tư Du lịch. Trong đó tập trung vào công tác quy trình giao nhận hàng xuất nhập khẩu bằng đường biển, đồng thời đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ của công ty.

Thời gian: Nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động giao nhận hàng hoá nhập khẩu bằng đường biển từ năm 2023 đến năm 2025.

4. Phương pháp nghiên cứu

Thông qua những lần đi giao nhận hàng hóa thực tế tại các Cảng, khu chế xuất, em nắm rõ hơn quy trình giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu bằng đường biển, cũng như học hỏi được những kiến thức thực tế qua quan sát trực tiếp.

  • Phương pháp thu thập dữ liệu: Dữ liệu được cung cấp từ các bản báo cáo và tài liệu có liên quan tới tình hình của Công ty. Ngoài ra số liệu thứ cấp cũng được cung cấp từ các bản báo cáo và các ấn phẩm kinh tế khác trên các website.
  • Phương pháp phân tích tài liệu: phân tích các thông số, dữ liệu liên quan đến công ty, những kết quả mà công ty đã đạt được
  • Phương pháp thống kê: thống kê, tìm hiểu các chỉ tiêu về số lượng giao nhận, các chỉ tiêu về kinh doanh, chỉ tiêu về thị trường giao nhận…
  • Phương pháp quan sát: Quan sát quy trình, thủ tục Hải quan tại công ty, cảng. Ghi nhớ vị trí địa lý của mỗi cảng cũng như vị trí các nơi làm thủ tục và vị trí các kho hàng, bãi chứa container.

5. Kết cấu của bài khóa luận

Bài khóa luận gổm 5 phần như sau:

  • Chương 1: Cơ sở lý luận chung về giao nhận hàng hóa đường biển
  • Chương 2: Thực trạng hoạt động giao nhận ngoại thương bằng đường biển tại công ty Cổ phần Vật tư Du lịch.
  • Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động giao nhận hàng hóa container xuất nhập khẩu tại công ty Cổ phần Vật tư Du lịch.

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIAO NHẬN HÀNG CONTAINER XUẤT NHẬP KHẨU BẰNG ĐƯỜNG BIỂN

1.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của hoạt động xuất nhập khẩu:

1.1.1. Khái niệm:

  • Hoạt dộng xuất khẩu: Khóa luận: Hoạt động giao nhận hàng hóa container xuất NK.

Hoạt động xuất khẩu là việc bán hàng hoá, dịch vụ cho một quốc gia khác trên cơ sở dùng tiền tệ để thanh toán. Tiền tệ ở đây có thể là ngoại tệ đối với một quốc gia hay đối với hai quốc gia. Mục đích của hoạt động xuất khẩu là khai thác được lợi thế của từng quốc gia trong phân công lao động quốc tế. Và khi trao đổi hàng hoá giữa các quốc gia là có lợi thì các quốc gia đều tích cực tham gia vào hoạt động này.

Hoạt động xuất khẩu là một hình thức cơ bản của thương mại quốc tế, nó được hình thành từ rất lâu đời và ngày càng phát triển cho đến giai đoạn hiện nay. Hoạt động xuất khẩu sơ khai chỉ là hàng đổi hàng và sau đó phát hiện ra nhiều hình thức khác nhau như: xuất khẩu trực tiếp , buôn bán đối lưu, xuất khẩu uỷ thác.

Hoạt động xuất khẩu diễn ra trên phạm vi rất rộng cả về không gian và thời gian: nó có thể diễn ra trong thời gian rất ngắn song nó cũng có thể kéo dài hàng năm; nó có thể được tiến hành trên phạm vi một quốc gia hay nhiều quốc gia. Nó diễn ra trên mọi lĩnh vực, trong mọi điều kiện kinh tế, từ xuất khẩu hàng tiêu dùng cho đến tư liệu sản xuất, máy móc thiết bị và công nghệ kỹ thuật cao. Tất cả các hoạt động trao đổi đó đều nhằm mục đích đem lại lợi ích cho các nước tham gia.

  • Hoạt dộng nhập khẩu:

Hoạt động nhập khẩu là việc mua hàng hóa, dịch vụ từ các tổ chức kinh tế hay các doanh nghiệp nước ngoài theo các nguyên tắc thị trường quốc tế nhằm đáp ứng nhu cầu trong nước hoặc tái xuất khẩu để tìm kiếm lợi nhuận.

Hoạt động nhập khẩu là một bộ phận rất quan trọng trong hoạt động thương mại quốc tế, nó thể hiện sự phụ thuộc gắn bó lẫn nhau giữa nền kinh tế quốc gia với nền kinh tế thế giới. Từ đó thấy được lợi thế so sánh về vốn, lao động, tài nguyên thiên nhiên, khoa học công nghệ….để có chính sách khai thác hợp lý và có lợi nhất.

Xu thế quốc tế hóa, toàn cầu hóa trên thế giới diễn ra khá mạnh mẽ, đó là sự hình thành các khu vực mậu dịch,các liên minh kinh tế như AFTA (Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN), NAFTA (Hiệp định mậu dịch Tự do Bắc Mỹ),… đã cho thấy khối lượng giao dịch giữa các quốc gia ngày càng lớn và rõ ràng vai trò nhập khẩu là không thể thiếu, nó không chỉ quan trọng đối với một quốc gia mà còn đối với cả sự ổn định kinh tế chung của khu vực. Ở một giới hạn nhất định nhập khẩu có thể quyết định tới sự sống còn của nền kinh tế nước đó đã thống nhất dưới một mái nhà chung của nền kinh tế thế giới.

1.1.2. Đặc điểm của hoạt động xuất- nhập khẩu: Khóa luận: Hoạt động giao nhận hàng hóa container xuất NK.

  • Xuất-nhập khẩu là hai hoạt động cơ bản cấu thành nên hoạt động ngoại thương.
  • Xuất nhập khẩu là hoạt động buôn bán diễn ra trên phạm vi ngoài quốc gia.

Hoạt động xuất nhập khẩu phức tạp hơn rất nhiều so với kinh doanh trong nước. Điều này được thể hiện ở chỗ:

  • Thị trường rộng lớn, khó kiểm soát.
  • Chịu sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau như: môi trường kinh tế, chính trị, luật pháp,… của các quốc gia khác nhau.
  • Thanh toán bằng đồng tiền ngoại tệ, hàng hóa được vận chuyển qua biên giới quốc gia, phải tuân theo những tập quán buôn bán quốc tế.

Xuất-nhập khẩu là hoạt động lưu thông hàng hóa, dịch vụ giữa các quốc gia, nó rất phong phú và đa dạng, thường xuyên bị chi phối bởi các yếu tố như chính sách, luật pháp, văn hóa, chính trị…của các quốc gia khác nhau.

Nhà nước quản lý hoạt động xuất nhập khẩu thông qua các công cụ chính sách như: chính sách thuế, hạn ngạch, các văn bản pháp luật khác quy định các mặt hàng xuất nhập khẩu….

1.1.3. Vai trò hoạt động xuất nhập khẩu đối với nền kinh tế:

1.1.3.1 Vai trò của hoạt động xuất khẩu:

  • Đối với nền kinh tế thế giới:

Là một nội dung chính của hoạt động ngoại thương và là hoạt động đầu tiên của thương mại quốc tế, xuất khẩu có một vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế của từng quốc gia cũng như của toàn thế giới. Do những điều kiện khác nhau, nên một quốc gia có thể mạnh về lĩnh vực này nhưng lại yếu về lĩnh vực khác, vì vậy để có thể khai thác được lợi thế, tạo ra sự cân bằng trong quá trình sản xuất và tiêu dùng thì các quốc gia phải tiến hành trao đổi với nhau dựa trên lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricacđo, ông nói rằng: “Nếu một quốc gia có hiệu quả thấp hơn so với các quốc gia khác trong sản xuất hầu hết các loại sản phẩm thì quốc gia đó vẫn có thể tham gia vào thương mại quốc tế để tạo ra lợi ích của chính mình”, và khi tham gia vào thương mại quốc tế thì “quốc gia có hiệu quả thấp trong sản xuất các loại hàng hoá sẽ tiến hành chuyên môn hoá sản xuất và xuất khẩu những loại mặt hàng mà việc sản xuất ra chúng là ít bất lợi nhất và nhập khẩu những loại mặt hàng mà việc sản xuất ra chúng có bất lợi lớn hơn”. Nói cách khác, một quốc gia trong tình huống bất lợi vẫn có thể tìm ra điểm có lợi để khai thác. Bằng việc khai thác các lợi thế này, các quốc gia tập trung vào sản xuất và xuất khẩu các mặt hàng có lợi thế tương đối. Sự chuyên môn hoá đó làm cho mỗi quốc gia khai thác được lợi thế của mình một cách tốt nhất giúp tiết kiệm được nguồn nhân lực như: vốn, kỹ thuật, nhân lực trong quá trình sản xuất hàng hoá. Do đó, tổng sản phẩm trên quy mô toàn thế giới cũng sẽ được gia tăng. Khóa luận: Hoạt động giao nhận hàng hóa container xuất NK.

  • Đối với nền kinh tế mỗi quốc gia:

Đối với nền kinh tế mỗi quốc gia, xuất khẩu tạo nguồn vốn chính cho nhập khẩu, phục vụ cho công cuộc công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước. Sự tăng trưởng kinh tế của mỗi quốc gia đòi hỏi phải có 4 điều kiện: nhân lực, tài nguyên, vốn và kỹ thuật. Song không phải quốc gia nào cũng có đủ 4 điều kiện đó và để giải quyết tình trạng này buộc họ phải nhập từ bên ngoài những yếu tố mà trong nước chưa có đủ khả năng đáp ứng. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để có đủ ngoại tệ cho việc nhập khẩu này.

Thực tiễn cho thấy, để có đủ nguồn vốn nhập khẩu, một nước và đặc biệt là các nước đang phát triển có thể sử dụng các nguồn vốn chính như: đầu tư nước ngoài, vay nợ, viện trợ và thu từ hoạt động xuất khẩu.

Tầm quan trọng của nguồn vốn đầu tư nước ngoài, vay nợ và viện trợ thì không ai có thể phủ nhận được. Nhưng khi sử dụng những nguồn vốn này thì những nước đi vay phải chấp nhận những thiệt thòi nhất định và dù bằng cách này hay cách khác cũng phải hoàn lại vốn cho nước ngoài. Bởi vậy nguồn vốn quan trọng nhất mà mỗi quốc gia có thể trông chờ là vốn thu được từ hoạt động xuất khẩu. Vì vậy, xuất khẩu là hoạt động chính tạo tiền đề cho nhập khẩu, quyết định đến quy mô và tăng trưởng của nhập khẩu.

Ở các nước kém phát triển, vật cản trở sự tăng trưởng kinh tế là thiếu tiềm lực và vốn. Nguồn vốn huy động từ nước ngoài được coi là cơ sở chính nhưng mọi cơ hội đầu tư hoặc vay nợ từ nước ngoài và các tổ chức quốc tế chỉ tăng lên khi chủ đầu tư và người cho vay thấy khả năng xuất khẩu của các nước đó, vì đây là nguồn chính đảm bảo nước đó có thể trả nợ được. Xuất khẩu góp phần vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển. Đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu sẽ giúp các nước kém phát triển chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp, phù hợp với xu thế phát triển của nền kinh tế thế giới. Khóa luận: Hoạt động giao nhận hàng hóa container xuất NK.

  • Đối với một doanh nghiệp:

Thông qua xuất khẩu, các doanh nghiệp trong nước có cơ hội tham gia vào cuộc cạnh tranh trên thị trường thế giới về giá cả, chất lượng sản phẩm – những yếu tố đòi hỏi doanh nghiệp phải hình thành một cơ cấu sản xuất phù hợp với thị trường. Xuất khẩu buộc các doanh nghiệp phải luôn đổi mới và hoàn thiện công tác quản trị kinh doanh, đồng thời có ngoại tệ để đầu tư lại quá trình sản xuất không những về chiều rộng mà cả về chiều sâu.

Ngoài ra, sản xuất hàng xuất khẩu giúp doanh nghiệp thu hút được nhiều lao động, tạo thu nhập ổn định cho người lao động, tạo ra ngoại tệ để nhập khẩu máy móc thiết bị hiện đại phục vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và đem lại lợi nhuận cao.

1.1.3.2 Vai trò của hoạt động nhập khẩu:

Nhập khẩu là một hoạt động quan trọng của thương mại quốc tế, nhập khẩu tác động một cách trực tiếp, quyết định đến sản xuất và đời sống. Nhập khẩu là để tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật công nghệ tiên tiến, hiện đại cho sản xuất và các hàng hóa cho tiêu dung mà sản xuất trong nước không sản xuất được, hoặc sản xuất không đáp ứng nhu cầu. Nhập khẩu còn để thay thế, nghĩa là nhập khẩu những thứ mà sản xuất trong nước sẽ không có lợi bằng nhập khẩu, làm được như vậy sẽ tác động tích cực đến sự phát triển cân đối và khai thác tiềm năng, thế mạnh của nền kinh tế quốc dân về sức lao động, vốn, cơ sở vật chất, tài nguyên và khoa học kỹ thuật.

  • Chính vì vậy mà nhập khẩu có những vai trò như sau:

Thứ nhất, nhờ có họat động nhập khẩu mà người tiêu dùng trong nước có nhiều sự lựa chọn hơn đối với hàng hóa, dịch vụ, bổ sung những thiếu hụt về nhu cầu do sản xuất trong nước không có khả năng đáp ứng, giúp đáp ứng nhu cầu của thị trường nội địa, nâng cao mức sống của người dân, đa dạng hóa chủng lọai hàng hóa.

Thứ hai, nhập khẩu sẽ phá vỡ tình trạng độc quyền trong nước, phần lớn các mặt hàng nhập khẩu thường có tính cạnh tranh cao về chất lượng, kiểu dáng, giá cả,… vì vậy các nhà sản xuất trong nước muốn tồn tại được cần phải tìm mọi biện pháp nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành để tăng khả năng cạnh tranh với hàng ngoại nhập, từ đó tình trạng độc quyền bị xoá bỏ và người hưởng lợi là người tiêu dùng trong nước. Nhập khẩu cũng là cầu nối giữa nền kinh tế trong nước và nước ngoài. Nó là công cụ hữu hiệu giúp chúng ta xoá bỏ nền kinh tế tự cung tự cấp để tiến đến nền kinh tế thị trường.

Thứ ba, nhập khẩu giúp nâng cao trình độ khoa học công nghệ, kỹ thuật tiên tiến của nước nhà, chuyển giao công nghệ giữa các nước. Nhập khẩu là khi quốc gia không có khả năng sản xuất hoặc sản xuất không đủ nhu cầu vì thế các sản phẩm nhập thường có hàm lượng chất xám cao, trình độ thiết bị máy móc hiện đại giúp giảm chi phí sản xuất. Thông qua nhập khẩu công nghệ được chuyển giao giúp bắt kịp trình độ công nghệ tiên tiến trên thế giới góp phần hoạt động sản xuất trong nước phát triển.

Thứ tư, nhập khẩu thúc đẩy hoạt động xuất khẩu. Thông qua hoạt động nhập khẩu, các máy móc thiết bị hiện đại được nhập về, các nguyên liệu có chi phí thấp,… góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành qua đó tăng ưu thế cạnh tranh không những ở thị trường nội địa mà còn ở thị trường xuất khẩu. Đặc biệt là các nước kém phát triển có giá nhân công rẻ như Việt Nam là một lợi thế lớn. Khóa luận: Hoạt động giao nhận hàng hóa container xuất NK.

Thứ năm, nhập khẩu thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế của quốc gia diễn ra nhanh hơn vì nhập khẩu sẽ làm cho môi trường cạnh tranh diễn ra gay gắt hơn, các doanh nghiệp phải luôn tự đổi mới hoàn thiện mình mới có thể đứng vững trên thị trường. Trong quá trình cạnh tranh chỉ các chủ thể áp dụng công nghệ kỹ thuật tiên tiến mới tồn tại được và điều này kéo theo sự phát triển của xã hội.

Thứ sáu, thông qua hoạt động nhập khẩu các chủ thể kinh tế giữa các quốc gia có cơ hội giao lưu học hỏi kinh nghiệm của nhau, tạo điều kiện cho quá trình phân công lao động và hợp tác kinh tế quốc tế ngày càng phát triển đồng thời tận dụng được lợi thế so sánh của mỗi quốc gia. Vì mỗi quốc gia đều có lợi thế so sánh nên hoạt động nhập khẩu nó tạo điều kiện thuận lợi cho cả hai bên trên cơ sở hợp tác hoá cùng có lợi.

Thứ bảy, nhập khẩu nó đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng của người tiêu dùng trong nước, góp phần làm cho quá trình sản xuất và tiêu dùng trong nước diễn ra thường xuyên và ổn định vì không phải lúc nào thị trường trong nước cũng cung cấp được các yếu tố đầu vào đáp ứng cho sản xuất trong nước diễn ra. Thông qua hoạt động nhập khẩu quan hệ hợp tác kinh tế quốc tế ngày càng được mở rộng, góp phần tăng năng suất lao động, trình độ phân công lao động ngày càng cao, đời sống người dân được nâng cao về vật chất lẫn tinh thần, điều này được thể hiện rõ ở các nước kém và đang phát triển điển hình như Việt Nam. Chúng ta đã chủ động tiến hành hoạt động nhập khẩu để phục vụ cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; thúc đẩy cơ giới hoá nông nghiệp, tác động đẩy mạnh thuỷ lợi hoá, sinh học hoá, phục vụ công nghiệp chế biến nông lâm thuỷ sản để nâng cao chất lượng phục vụ cho xuất khẩu. Thúc đẩy sự ra đời của ngành công nghiệp lắp ráp điện tử, công nghiệp may mặc… tạo ra những sản phẩm có giá trị cao.

1.2. Giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu bằng đường biển. Khóa luận: Hoạt động giao nhận hàng hóa container xuất NK.

1.2.1. Khái niệm

Đặc điểm nổi bật của buôn bán quốc tế là người mua và người bán ở các quốc gia khác nhau. Để hàng hóa từ tay người bán đến được tay người mua phải thông qua vận tải hàng hóa quốc tế. Giao nhận là một khâu quan trọng trong vận tải hàng hóa quốc tế. Vậy giao nhận là gì?

  • Có rất nhiều định nghĩa về giao nhận.

Theo Quy tắc mẫu của Liên đoàn các hiệp hội giao nhận quốc tế (FIATA): (Giáo trình vận tải giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu – PGS. TS Hoàng Văn Châu) Dịch vụ giao nhận (Freight forwarding service) là bất cứ loại dich vụ nào liên quan đến vận chuyển, gom hàng, lưu kho, bốc xếp, đóng gói hay phân phối hàng hóa cũng như các dịch vụ hoặc có liên quan đến các dịch vụ trên kể cả các vấn đề hải quan, tài chính, mua bảo hiểm, thanh toán, thu thập chứng từ liên quan đến hàng hóa.

Theo điều 163 Luật Thương mại Việt Nam: Dịch vụ giao nhận hàng hóa là hành vi thương mại, theo đó người làm dịch vụ giao nhận hàng hóa nhận hàng từ người gửi, tổ chức vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục giấy tờ và các dịch vụ khác có liên quan để giao hàng cho người nhận theo ủy thác của chủ hàng, của người vận tải hoặc người làm dịch vụ giao nhân khác (gọi chung là khách hàng).

Như vậy, về cơ bản: giao nhận hàng hóa là tập hợp những công việc có liên quan đến quá trình vận tải nhằm thực hiện việc di chuyển hàng hóa từ nơi gửi hàng (người gửi hàng) đến nơi nhận hàng (người nhận hàng).

Người giao nhận có thể là chủ hàng (khi chủ hàng tự đứng ra đảm nhận công việc giao nhận hàng hóa của mình), chủ tàu (khi chủ tàu thay mặt chủ hàng thực hiện dịch vụ giao nhận), công ty xếp dỡ, người giao nhận chuyên nghiệp hay bất kỳ người nào khác có đăng ký kinh doanh dịch vụ giao nhận hàng hóa. Theo luật Thương mại Việt Nam thì người làm dịch vụ giao nhận hàng hóa là thương nhân có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh dịch vụ giao nhận hàng hóa.

1.2.2. Đặc điểm Khóa luận: Hoạt động giao nhận hàng hóa container xuất NK.

Không tạo ra sản phẩm vật chất: chỉ tác động làm cho đối tượng thay đổi vị trí về mặt không gian chứ không thay đổi đối tượng đó.

Mang tính thụ động: Do phụ thuộc vào nhu cầu của khách hàng, các quy định của người vận chuyển, các ràng buộc về pháp luật, tập quán của nước người xuất khẩu, nhập khẩu, nước thứ ba…

Mang tính thời vụ: hoạt động giao nhận phụ thuộc vào hoạt động xuất nhập khẩu. Mà hoạt động xuất nhập khẩu mang tính thời vụ nên hoạt động giao nhận mang tính thời vụ. Phụ thuộc vào cơ sở vật chất và trình độ của người giao nhận.

1.2.3. Vai trò

Vai trò quan trọng của giao nhận ngày càng được thể hiện rõ trong xu thế toàn cầu hóa như hiện nay. Thông qua:

Giao nhận tạo điều kiện cho hàng hóa lưu thông nhanh chóng, an toàn và tiết kiệm mà không cần có sự tham gia của người gửi cũng như người nhận tác nghiệp.

Giao nhận giúp cho người chuyên chở đẩy nhanh tốc độ quay vòng của phương tiện vận tải tận dụng tối đa và hiệu quả sử dụng của các phương tiện vận tải cũng như các phương tiện hỗ trợ khác

Giao nhận giúp giảm giá thành các hàng hóa xuất nhập khẩu do giúp các nhà xuất nhập khẩu giảm bớt chi phí như: chi phí đi lại, chi phí đào tạo nhân công, chi phí cơ hội,…

1.3. Phân loại và điều kiện kinh doanh dịch vụ giao nhận Khóa luận: Hoạt động giao nhận hàng hóa container xuất NK.

1.3.1. Phân loại dịch vụ giao nhận

Hiện nay có rất nhiều loại hình dịch vụ giao nhận, xét trên từng khía cạnh và từng tiêu chí thì sẽ có những loại dịch vụ giao nhận nhất định:

Khi căn cứ vào phạm vi hoạt động thì có:

  • Giao nhận quốc tế: hoạt động giao nhận phục vụ chuyên chở hàng hóa quốc tế
  • Giao nhận nội địa: hoạt động giao nhận chuyên chở hàng hóa trong nước

Khi căn cứ vào nghiệp vụ kinh doanh sẽ có:

  • Giao nhận thuần túy: hoạt động giao nhận chỉ bao gồm thuần túy việc gửi hàng đi và hàng đến
  • Giao nhận tổng hợp: hoạt động giao nhận ngoài giao nhận thuần túy còn bao gồm cả xếp dỡ, bảo quản hàng hóa, vận chuyển đường ngắn, hoạt động kho bãi.

Khi căn cứ vào phương thức vận tải sẽ có:

  • Giao nhận hàng chuyên chở bằng đường biển, đường sông
  • Giao nhận hàng chuyên chở bằng đường sắt, đường bộ
  • Giao nhận hàng chuyên chở bằng đường hàng không
  • Giao nhận hàng chuyên chở đa phương thức

Khi căn cứ vào tính chất giao nhận sẽ có:

  • Giao nhận riêng: hoạt động giao nhận do người sản xuất tự tổ chức không sử dụng dịch vụ của người giao nhận
  • Giao nhận chuyên nghiệp: hoạt động giao nhận của các tổ chức, công ty chuyên kinh doanh giao nhận theo sự ủy thác của khách hàng.

1.3.2. Điều kiện kinh doanh dịch vụ giao nhận Khóa luận: Hoạt động giao nhận hàng hóa container xuất NK.

FIATA ( Liên đoàn quốc tế các hiệp hội giao nhận) đã thảo ra một bản mẫu điều kiện kinh doanh tiêu chuẩn ( Standard trading conditions) để các nước tham khảo xây dựng “Điều kiện kinh doanh cho ngành giao nhận“ của mình.

Nội dung của bản “Điều kiện kinh doanh tiêu chuẩn” gồm:

  • Phần điều kiện chung
  • Phần công ty đóng vai trò đại lý
  • Phần công ty đóng vai trò bên chính

Từ các quy định tiêu chuẩn chung của FIATA, một số nước đã thông qua điều kiện kinh doanh chuẩn nói chung để giải thích rõ ràng các nghĩa vụ theo hợp đồng của người giao nhận đối với khách hàng, quyền hạn và trách nhiệm bảo vệ chính mình của người giao nhận.

Những điều kiện này hình thành phù hợp với tập quán thương mại hay thể chế pháp lý hiện hành ở từng nước. Ở những nước chưa có điều kiện kinh doanh tiêu chuẩn thì hợp đồng giữa người giao nhận và khách hàng quy định quyền hạn, nhiệm vụ và trách nhiệm của mỗi bên.

Nhiều hiệp hội coi “ Điều kiện kinh doanh tiêu chuẩn” là một trong những phương tiện chủ yếu nhằm duy trì và nâng cao tiêu chuẩn nghề nghiệp cuả ngành giao nhận và đã thông qua “ Điều kiện kinh doanh tiêu chuẩn” cho hội viên của minh, làm căn cứ kí hợp đồng hoặc đính kềm với hợp đồng kí với khách hàng.

Mặc dù điều kiện kinh doanh của từng nước có khác nhau nhưng người giao nhận phải:

  • Thực hiện ủy thác với sự chăm lo cần thiết nhằm bảo vệ lợi ích của khách hàng
  • Điều hành và lo liệu vận chuyển hàng hóa được ủy thác theo sự chỉ dẫn của khách hàng và với cách thức thích hợp cho khách hàng.
  • Không đảm bảo hàng đến vào một ngày nhất định, có quyền tự do quyết định người kí hợp đồng phụ và tự mình quyết định quyền sử dụng phương tiện vận tải, tuyến đường vận tải thông thường, có quyền cầm giữ, lưu giữ hàng hóa để đảm bảo những khoản nợ của khách hàng. Khóa luận: Hoạt động giao nhận hàng hóa container xuất NK.
  • Chỉ chịu trách nhiệm về những lỗi lầm của bản thân mình và người làm công cho mình, không chịu trách nhiệm về sai sót của bên thứ ba, miễn là đã tỏ ra cần mẫn thích đáng trong việc lựa chọn bên thứ ba.

1.4. Lợi ích của nghiệp vụ giao nhận

Hiện nay thì hoạt động thương mại ngày càng phát triển, trong đó hàng hóa xuất nhập khẩu chiếm đến 80% trong tổng sản lượng hàng thương mại. Hoạt động giao nhận ra đời đã đem lại nhiều lợi ích kinh tế cho cả nền kinh tế nói chung và cho các tổ chức, công ty tư nhân nói riêng.

  • Thứ nhất, giảm được đội ngũ nhân sự, giảm thiểu rủi ro và tiết kiệm thời gian trong quá trình xuất nhập khẩu hàng hóa.
  • Thứ hai, đảm bảo giao hàng đúng thời gian quy định trong hợp đồng và trong thư tín dụng, giúp người chuyên chở đẩy nhanh tốc độ quay vòng của phương tiện vận tải tận dụng tối đa hiệu quả sử dụng của các phương tiện vận tải.
  • Thứ ba, nếu hàng hóa phải chuyển qua một bước thứ ba, người giao nhận đảm nhiệm việc gửi hàng tiếp từ tàu thứ nhất lên tàu thứ hai để đi đến cảng cuối cùng mà người xuất khẩu không cần có người đại diện tại nước thứ ba thu xếp việc trên nên đỡ tốn chi phí.
  • Thứ tư, giảm chi phí lưu container và lưu bãi cho nhà nhập khẩu.

1.5. Người giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu đường biển Khóa luận: Hoạt động giao nhận hàng hóa container xuất NK.

1.5.1. Định nghĩa người giao nhận:

Chưa có một định nghĩa thống nhất nào về người giao nhận được chấp nhận. Thông thường người kinh doanh dịch vụ giao nhận gọi là người giao nhận (Forwarder, Freight Forwarder, Forwarding Agent). Theo FIATA, “người giao nhận là người lo toan để hàng hóa được chuyên chở theo hợp đồng ủy thác và hành động vì lợi ích của người ủy thác. Người giao nhận cũng đảm nhận thực hiện mọi công việc liên quan đến hợp đồng giao nhận như bảo quản, lưu kho trung chuyển, làm thủ tục hải quan, kiểm hoá”

Người giao nhận có thể là chủ hàng (khi chủ hàng tự đứng ra đảm nhận công việc giao nhận hàng hóa của mình), chủ tàu (khi chủ tàu thay mặt chủ hàng thực hiện dịch vụ giao nhận), công ty xếp dỡ hay kho hàng, người giao nhận chuyên nghiệp hay bất kỳ người nào khác có đăng ký kinh doanh dịch vụ giao nhận hàng hóa. Theo luật Thương mại Việt Nam thì người làm dịch vụ giao nhận hàng hóa là thương nhân có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh dịch vụ giao nhận hàng hóa.

  • Từ các định nghĩa trên ta có thể rút ra nhận xét:

Người giao nhận hoạt động theo hợp đồng ủy thác ký với chủ hàng, bảo vệ lợi ích của chủ hàng.

Người giao nhận lo liệu việc vận tải nhưng chưa hẳn là người vận tải. Anh ta có thể sử dụng, thuê mướn người vận tải. Anh ta cũng có thể có phương tiện vận tải, có thể tham gia vận tải, nhưng đối với chủ hàng ủy thác, anh ta là người giao nhận, ký hợp đồng ủy thác giao nhận, không phải là người vận tải.

Cùng với việc tổ chức vận tải, người giao nhận còn làm nhiều việc khác trong phạm vi ủy thác của chủ hàng để đưa hàng từ nơi này đến nơi khác theo những điều khoản đã cam kết.

Dù ở các nước khác nhau, tên gọi của người giao nhận có khác nhau, nhưng tất cả đều cùng mang một tên chung trong giao dịch quốc tế là “international freight forwarder” (người giao nhận hàng hóa quốc tế), và cùng làm một dịch vụ tương tự nhau, đó là dịch vụ giao nhận.

1.5.2. Trách nhiệm của người giao nhận: Khóa luận: Hoạt động giao nhận hàng hóa container xuất NK.

1.5.2.1 Khi là đại lý của chủ hàng:

Tuỳ theo chức năng của người giao nhận, người giao nhận phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của mình theo hợp đồng đã ký kết và phải chịu trách nhiệm về:

  • Giao hàng không đúng chỉ dẫn.
  • Thiếu sót trong việc mua bảo hiểm cho hàng hoá mặc dù đã có hướng dẫn.
  • Thiếu sót trong khi làm thủ tục hải
  • Chở hàng đến sai nơi quy định.
  • Giao hàng cho người không phải là người nhận.
  • Giao hàng mà không thu tiền từ người nhận hàng.
  • Tái xuất không theo những thủ tục cần thiết hoặc không hoàn lại thuế.
  • Những thiệt hại về tài sản và người của người thứ ba mà anh ta gây nên.Tuy nhiên, chúng ta cũng cần chú ý người giao nhận không chịu trách nhiệm về hành vi lỗi lầm của người thứ ba như người chuyên chở hoặc người giao nhận khác… nếu anh ta chứng minh được là đã lựa chọn cần thiết.
  • Khi làm đại lý người giao nhận phải tuân thủ “Điều kiện kinh doanh tiêu chuẩn” (Standard Trading Conditions) của mình.

1.5.2.2 Khi là người chuyên chở: Khóa luận: Hoạt động giao nhận hàng hóa container xuất NK.

Khi là một người chuyên chở, người giao nhận đóng vai trò là một nhà thầu độc lập, nhân danh mình chịu trách nhiệm cung cấp các dịch vụ mà khách hàng yêu cầu. Anh ta phải chịu trách nhiệm về những hành vi và lỗi lầm của người chuyên chở, của người giao nhận khác mà anh ta thuê để thực hiện hợp đồng vận tải như thể là hành vi và thiếu sót của mình.

Quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của anh ta như thế nào là do luật lệ của các phương thức vận tải quy định. Người chuyên chở thu ở khách hàng khoản tiền theo giá cả của dịch vụ mà anh ta cung cấp chứ không phải là tiền hoa hồng.

Người giao nhận đóng vai trò là người chuyên chở không chỉ trong trường hợp anh ta tự vận chuyển hàng hoá bằng các phương tiện vận tải của chính mình (perfoming carrier) mà còn trong trường hợp anh ta, bằng việc phát hành chứng từ vận tải của mình hay cách khác, cam kết đảm nhận trách nhiệm (người thầu chuyên chở – contracting carrier).

Khi người giao nhận cung cấp các dịch vụ liên quan đến vận tải như đóng gói, lưu kho, bốc xếp hay phân phối… thì người giao nhận sẽ chịu trách nhiệm như người chuyên chở nếu người giao nhận thực hiện các dịch vụ trên bằng phương tiện của mình hoặc người giao nhận đã cam kết một cách rõ ràng hay ngụ ý là họ chịu trách nhiệm như một người chuyên chở. Khi đóng vai trò là người chuyên chở thì các điều kiện kinh doanh tiêu chuẩn thường không áp dụng mà áp dụng các công ước quốc tế hoặc các quy tắc do Phòng thương mại quốc tế ban hành. Tuy nhiên, người giao nhận không chịu trách nhiệm về những mất mát, hư hỏng của hàng hoá phát sinh từ những trường hợp sau đây:

  • Do lỗi của khách hàng hoặc của người được khách hàng ủy thác.
  • Khách hàng đóng gói và ghi ký mã hiệu không phù hợp.
  • Do nội tỳ hoặc bản chất của hàng hoá.
  • Do chiến tranh, đình công.
  • Do các trường hợp bất khả kháng.

Ngoài ra, người giao nhận không chịu trách nhiệm về mất khoản lợi đáng lẽ khách hàng được hưởng về sự chậm trễ hoặc giao nhận sai địa chỉ mà không phải do lỗi của mình.

1.5.2.3 Việc miễn trừ hợp đồng

Tuy nhiên, trong việc hình thành những điều kiện kinh doanh tiêu chuẩn, người giao nhận được hưởng một số miễn trừ các trách nhiệm mà nhẽ ra họ phải chịu. Trong luật tập tục, người giao nhận khi hoạt động như người chuyên chở là một người chuyên chở “ công cộng” và phụ thuộc vào “trách nhiệm chặt chẽ” nghĩa là anh ta phải chịu tổn thất về thất hàng hóa do thiên tai hay do những nhân tố được miễn trừ trách nhiệm theo luật tập tục.

Trong thực tế người giao nhận trách nhiệm chặt chẽ bằng cách quy định trong điều kiện kinh doanh tiêu chuẩn rằng anh ta không phải là người “chuyên chở công cộng”

1.6. Phạm vi dịch vụ cung cấp bởi người giao nhận: Khóa luận: Hoạt động giao nhận hàng hóa container xuất NK.

1.6.1. Dịch vụ thay mặt người gửi hàng (người xuất khẩu):

Theo những chỉ dẫn của người gửi hàng người giao nhận sẽ:

  • Chọn tuyến đường, phương thức vận tải và người chuyên chở thích hợp.
  • Lưu cước với người chuyên chở đã chọn lọc.
  • Nhận hàng và cấp chứng từ thích hợp như :giấy chứng nhận hàng của người giao nhận, giấy chứng nhận chuyên chở của người giao nhận …
  • Nghiên cứu những điều khoản trong tín dụng thư và tất cả những luật lệ của chính phủ áp dụng cho việc giao hàng ở nước xuất khẩu, nước nhập khẩu cũng như ở bất cứ nước quá cảnh nào và chuẩn bị những chứng từ cần thiết.
  • Đóng gói hàng hoá (trừ phi việc này do người gửi hàng làm trước khi giao nhận) có tính đến tuyến đường, phương thức vận tải, bản chất của hàng hoá và những luật lệ áp dụng nếu có, ở nước xuất khẩu, nước quá cảnh và nước gửi hàng đến.
  • Lo liệu việc lưu kho hàng hoá nếu cần.
  • Cân đo hàng hoá.
  • Lưu ý người gửi hàng cần phải mua bảo hiểm và nếu người gửi hàng yêu cầu thì người giao nhận phải mua bảo hiểm cho hàng.
  • Vận chuyển hàng hoá đến cảng, lo liệu khai báo hải quan, lo các thủ tục chứng từ liên quan và giao hàng cho người chuyên chở.
  • Lo việc giao dịch ngoại hối (nếu có).
  • Thanh toán phí và những phí khác bao gồm cả tiền cước.
  • Nhận vận đơn đã ký của người chuyên chở, giao cho người gửi hàng.
  • Thu xếp việc chuyển tải trên đường (nếu cần).
  • Giám sát việc vận chuyển hàng hoá trên đường đưa tới người nhận hàng thông qua những mối liên hệ người chuyên chở và đại lý của người giao nhận ở nước ngoài.
  • Ghi nhận những tổn thất của hàng hoá nếu có.
  • Giúp đỡ người gửi hàng tiến hành khiếu nại người chuyên chở về những tổn thất của hàng hoá (nếu có).

1.6.2. Dịch vụ thay mặt người nhận hàng (người nhập khẩu): Khóa luận: Hoạt động giao nhận hàng hóa container xuất NK.

Theo những chỉ dẫn giao hàng của người nhập khẩu người giao nhận sẽ:

  • Thay mặt người nhận hàng giám sát việc vận chuyển hàng hoá trừ khi người nhận hàng lo liệu vận tải hàng.
  • Nhận và kiểm tra tất cả chứng từ liên quan đến việc vận chuyển hàng hoá.
  • Nhận hàng của người chuyên chở và thanh toán cước (nếu cần).
  • Thu xếp việc khai báo hải quan, trả lệ phí và những chi phí khác cho hải quan và những nhà đương cục khác.
  • Thu xếp việc lưu kho quá cảnh (nếu cần).
  • Giao hàng đã làm thủ tục hải quan cho người nhận hàng.
  • Nếu cần thì sẽ giúp đỡ người nhận hàng tiến hành khiếu nại đối với người chuyên chở về những tổn thất của hàng hoá nếu có.
  • Giúp người giao nhận hàng trong việc lưu kho và phân phối nếu cần.

1.7. Quyền và nghĩa vụ của người giao nhận

Dù ở địa vị đại lý hay người ủy thác người giao nhận cũng phải chăm sóc chu đáo hàng hóa được ủy thác, thực hiện đúng những chỉ dẫn của khách hàng về những vấn đề có liên quan đến vận tải hàng hóa.

Khi đóng vai trò là đại lý, người giao nhận chịu trách nhiệm do lỗi lầm sai sót của bản thân mình và những người dưới quyền (cán bộ nhân viên trong doanh nghiệp) như giao hàng trái chỉ dẫn, lập chứng từ nhầm lẫn, quên thông báo khiến hàng phải lưu kho, lưu bãi tốn kém, làm sai thủ tục hải quan… Người giao nhận không chịu trách nhiệm về tổn thất do lỗi lầm, sai sót của bên thứ ba (người chuyên chở, người ký hợp đồng phụ, nhận lại dịch vụ…) miễn là người giao nhận đã thể hiện sự cần mẫn thích đáng trong việc lựa chọn bên thứ ba đó. Khóa luận: Hoạt động giao nhận hàng hóa container xuất NK.

Khi đóng vai trò là người ủy thác thì ngoài những trách nhiệm của đại lý nói trên, người giao nhận còn chịu trách nhiệm về cả những hành vi và sơ suất của bên thứ ba mà người giao nhận sử dụng để thực hiện hợp đồng. Trong vai trò này người giao nhận thường đưa ra “giá trọn gói” chứ không phải chỉ nhận hoa hồng như đại lý. Người giao nhận thường đóng vai trò người ủy thác khi thu gom hàng lẻ, khi kinh doanh vận tải đa phương thức, khi đảm nhận tự vận chuyển hàng hóa hay nhận bảo quản hàng hóa trong kho của mình.

Theo Luật Thương mại Việt Nam 1997, điều 167 quy định người làm dịch vụ giao nhận có những quyền và nghĩa vụ sau đây:

Được hưởng tiền công và các khoản thu nhập hợp lý khác. Thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của mình theo hợp đồng.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, người giao nhận có thể thực hiện khác với chỉ dẫn của khách hàng nếu có lý do chính đáng vì lợi ích của khách hàng nhưng phải thông báo ngay cho khách hàng.

Sau khi ký kết hợp đồng, nếu xảy ra trường hợp có thể dẫn đến việc không thực hiện được toàn bộ hoặc một phần những chỉ dẫn của khách hàng thỉ phải thông báo ngay cho khách hàng biết để xin chỉ dẫn thêm.

Trong trường hợp hợp đồng không có sự thỏa thuận về thời hạn cụ thể thực hiện nghĩa vụ với khách hàng thì phải thực hiện các nghĩa vụ của mình trong thời hạn hợp lý.

Theo Luật Thương mại Việt Nam, người làm dịch vụ giao nhận không phải chịu trách nhiệm về những mất mát, hư hỏng phát sinh trong những trường hợp:

  • Do lỗi của khách hàng hoặc của người được khách hàng uỷ quyền;
  • Đã làm đúng theo những chỉ dẫn của khách hàng hoặc của người được khách hàng uỷ quyền.
  • Khách hàng đóng gói và ghi ký mã hiệu không phù hợp.
  • Do khách hàng hoặc người được khách hàng uỷ quyền thực hiện việc xếp dỡ hàng hóa.
  • Do khuyết tật của hàng hóa.
  • Do có đình công.
  • Trường hợp bất khả kháng.

Người giao nhận không chịu trách nhiệm về việc mất khoản lợi đáng lẽ khách hàng được hưởng về sự chậm trễ hoặc giao nhận hàng sai địa chỉ mà không phải do lỗi của mình, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

1.8. Mối quan hệ của người giao nhận với các bên: Khóa luận: Hoạt động giao nhận hàng hóa container xuất NK.

Ngoài người gửi hàng và người nhận hàng, người giao nhận còn phải giao dịch với các bên thứ ba trong quá trình phục vụ khách hàng của mình.

1.8.1 Chính phủ và các nhà đương cục khác

Trong lĩnh vực cơ quan, công sở, người giao nhận phải giao dịch với các cơ quan sau:

  • Cơ quan Hải quan để khai báo hải
  • Cơ quan Cảng để làm thủ tục thông quan Cảng.
  • Ngân hàng Trung ương để được phép kết hối, ngoài ra Ngân hàng là đơn vị đứng ra bảo lãnh sẽ trả tiền cho người xuất khẩu và thực hiện thanh toán tiền hàng cho người xuất khẩu
  • Bộ y tế, Bộ khoa học công nghệ và môi trường, Bộ văn hóa thông tin để xin giấy phép ( nếu cần tùy theo mặt hàng )
  • Quan chức lãnh sự để xin giấy chứng nhận xuất xứ.
  • Cơ quan kiểm soát nhập khẩu.
  • Cơ quan cấp giấy phép vận tải.

1.8.2 Các bên tư nhân.

Người giao nhận phải giao dịch với các bên tư nhân như:

Người chuyên chở hay các đại lý khác như:

  • Chủ tàu
  • Người kinh doanh vận tải bộ
  • Đường sắt
  • Hàng không
  • Người kinh doanh vận tải nội thủy về mặt sắp xếp lịch trình vận chuyển và lưu cước là các công ty đại lý tàu biển là người thay mặt cho người vận chuyển thực hiện các thủ tục, chứng từ liên quan đến giao nhận vận tải hàng hóa
  • Các ga, cảng chịu trách nhiệm giao nhận hàng hóa, lưu kho bãi, xếp dỡ, cấp giấy ra vào
  • Các công ty bảo hiểm là người bảo hiểm cho hàng hóa, cấp giấy chứng nhận bảo hiểm và chịu trách nhiệm bồi thường cho hàng hóa nếu xảy ra rủi ro
  • Các công ty giám định được ủy thác và cấp giấy biên bản giám định, thực hiện đóng gói bao bì hàng hóa.
  • Ngân hàng thương mại để thực hiện tín dụng chứng từ: Các ngân hàng đóng vai trò là trung gian thanh toán tiền và thực hiện bảo lãnh. Khóa luận: Hoạt động giao nhận hàng hóa container xuất NK.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>> Khóa luận: Thực trạng giao nhận ngoại thương bằng đường biển

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

1 Bình luận
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
trackback

[…] ===>> Khóa luận: Hoạt động giao nhận hàng hóa container xuất NK […]

Contact Me on Zalo
0877682993
1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x