Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Nhu cầu sử dụng dịch vụ Marketing của doanh nghiệp hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Khóa luận: Khảo sát nhu cầu sử dụng dịch vụ Marketing thuê ngoài của doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Thừa Thiên Huế dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
Nội dung chính
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Lý do chọn đề tài
Theo kết quả sơ bộ Tổng điều tra Kinh tế năm 2024 được công bố từ Tổng cục thống kê trong họp báo ngày 19/01/2025 chỉ ra rằng:Xét theo quy mô lao động, tại thời điểm 01/01/2024 cả nước có hơn 10 nghìn doanh nghiệp lớn, tăng 29% so với năm 2019 và chiếm 1,9% tổng số doanh nghiệp, giảm so với 2,3% của năm 2019. Trong khi đó, doanh nghiệp vừa tăng 23,6%, doanh nghiệp nhỏ tăng 21,2% và doanh nghiệp siêu nhỏ tăng tới 65,5% và chiếm 74% tổng số doanh nghiệp. Có thể thấy, số lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ ngày càng gia tăng về quy mô giúp tạo ra nhiều công ăn việc làm và nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội. Số lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ tăng lên cùng với việc hội nhập kinh tế quốc tế dẫn đến sự cạnh tranh trên thị trường kinh doanh trở nên khốc liệt hơn, đòi hỏi doanh nghiệp vừa và nhỏ không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh.
Nhiều nghiên cứu trong nước và thế giới đã chứng minh rằng, dịch vụ thuê ngoài trong đó có dịch vụ thuê ngoài marketing là nguồn đầu vào quan trọng giúp tạo ra nhiều lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp. Minh chứng cụ thể cho điều này,hai tác giả Chew Min Kid & Rashad Yazdanifard (2022) đã tiến hành nghiên cứu tác động của marketing thuê ngoài đến năng xuất của công ty. Kết quả cho thấy, trong 10 năm qua dịch vụ marketing thuê ngoài trở nên phù hợp hơn với SMEs. Bên cạnh cắt giảm chi phí xây dựng bộ phận marketing, tận dụng năng lực chuyên môn bên ngoài để lấp đầy những khoảng trống điểm yếu của doanh nghiệp. Từ đó, doanh nghiệp tập trung vào những chức năng cốt lõi mà trực tiếp góp phần tăng trưởng và mở rộng thị phần.
Tại Việt Nam, dịch vụ thuê ngoài được đánh giá là một trong năm ngành có triển vọng phát triển nhất trong thời gian tới theo kết quả khảo sát, nghiên cứu trích trong báo cáo Tiêu điểm Việt Nam (Spotlight on Vietnam), được PwC Việt Nam công bố tháng 10/2024. Trong Bảng xếp hạng Chỉ số địa điểm dịch vụ toàn cầu (Global Services Location Index) năm 2024, do A.T. Kearney công bố, Việt Nam xếp hạng 6/20 thị trường mới nổi về kỳ vọng phát triển dịch vụ thuê ngoài chuyên nghiệp trên toàn thế giới, tăng 5 bậc, lần đầu tiên vượt qua Philippines (xếp hạng 7). Việt Nam theo đó đang trên đà tăng trưởng với tốc độ từ 20-25% mỗi năm.
Dịch vụ thuê ngoài thường phát triển, diễn ra mạnh mẽ tại các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng hay ở các trung tâm kinh tế trọng điểm phía Nam như thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương và Đồng Nai.
Tuy nhiên, dịch vụ Marketing thuê ngoài còn khá mới mẻ, đặc biệt đối với các thị trường có tỉ lệ doanh nghiệp nhỏ và vừa cao như ở Thừa Thiên Huế (mục tiêu của tỉnh đạt khoảng 6.800 doanh nghiệp đang hoạt động vào cuối năm 2025). Tại Huê, đã có một số dịch vụ marketing thuê ngoài về mảng trực tuyến mới được thành lập, chưa có phòng marketing thuê ngoài chuyên môn cao, khả năng cung ứng dịch vụ marketing thuê ngoài chưa mạnh và tình hình sử dụng dịch vụ Marketing thuê ngoài vẫn còn nhiều hạn chế. Câu hỏi đặt ra là: Làm thế nào để thu hút SMEs tại Huế sử dụng dịch vụ marketing thuê ngoài?
Nhằm đi tìm câu trả lời cho câu hỏi đó, đánh giá được tổng quan nhu cầu sử dụng dịch vụ để từ đó có cơ sở đưa ra một số hàm ý, chính sách Marketing cho nhà quản trị cung ứng dịch vụ Marketing thuê ngoài trong việc đáp ứng nhu cầu sử dụng dịch vụ của SMEs tại Thừa Thiên Huế.
Vì vậy, tôi quyết định tiến hành nghiên cứu đề tài khóa luận: “Khảo sát nhu cầu sử dụng dịch vụ Marketing thuê ngoài của doanh nghiệp vừa và nhỏtại Thừa Thiên Huế”
1.2. Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu
1.2.1. Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu chung:
Trên cơ sở khảo sát nhu cầu sử dụng dịch vụ marketing thuê ngoài của SMEs tại Thừa Thiên Huế, nghiên cứu hướng đến đề xuất một số hàm ý chính sách marketing cho nhà quản trị cung ứng dịch vụ Marketing thuê ngoài trong việc đáp ứng nhu cầu sử dụng dịch vụ của SMEs tại Thừa Thiên Huế.
“Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ sử dụng dịch vụ thuê ngoài của các doanh nghiệp tại Thành Phố Cần Thơ” -Đinh Công Thành và Lê Tấn Nghiêm (2023) Khóa luận: Nhu cầu sử dụng dịch vụ Marketing của doanh nghiệp.
- Mục tiêu cụ thể:
Hệ thống hoá những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến nhu cầu, sử dụng dịch vụ marketing thuê ngoài của SMEs
Khảo sát nhu cầu sử dụng dịch vụmarketing thuê ngoài của SMEs tại Thừa Thiên Huế
Đề xuất một số hàm ý chính sách marketing cho nhà quản trị nhằm phát triển dịch vụ marketing thuê ngoài tại tại Thừa Thiên Huế.
1.2.2. Câu hỏi nghiên cứu
- Thực trạng sử dụng dịch marketing thuê ngoài của SMEstại Thừa Thiên Huế như thế nào?
- Nhu cầu sử dụng dịch vụ marketing thuê ngoài của SMEs là gì?
- Chính sách marketing nào mà các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ marketing thuê ngoài cần thực hiện để phát triển dịch vụ này tại tại Thừa Thiên Huế?
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1. Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Nhu cầu sử dụng dịch vụ marketing thuê ngoài của SMEs tại Thừa Thiên Huế
- Đối tượng khảo sát: SMEs tại Thừa Thiên Huế
1.3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu về thời gian:
Các thông tin thứ cấp được thu thập từ năm 2022 đến năm 2024
Các thông tin sơ cấp thu thập từ khảo sát bảng hỏi được tiến hành trong khoảng thời gian từ 02/2025 đến 03/2025.
- Phạm vi về không gian: Nghiên cứu được thực hiện tại Thừa Thiên Huế
1.4. Phương pháp nghiên cứu
1.4.1. Phương pháp thu thập dữ liệu
Đối với dữ liệu thứ cấp: Các nguồn tài liệu từ tạp chí khoa học nghiên cứu marketing thuê ngoài của các tác giả trong và ngoài nước. Một số bài báo cáo khóa luận liên quan đến chủ đề thuê ngoài. Bên cạnh số liệu từ sở kế hoạch và đầu tư, hiệp hội doanh nghiệp tỉnh, Cổng thông tin điện tử Thừa Thiên Huế. Từ những dữ liệu thứ cấp đó làm nền tảng xây dựng các biến trong bảng hỏi.
Đối với số liệu sơ cấp: Tác giả sử dụng phương pháp quan sát thực tế, cùng với phương pháp thu thập ý kiến từ chuyên gia và nhiều bài nghiên cứu khác để hình thành bảng câu hỏi phỏng vấn. Sau đó phỏng vấn thử 10 mẫu, điều chỉnh bảng câu hỏi lại cho phù hợp và bắt đầu phỏng vấn chính thức.Dữ liệu sơ cấp được thu thập bằng phương pháp chọn mẫu thuận tiện (Convenience Sampling) thông qua mối quan hệ quen biết và giới thiệu từ các doanh nghiệp đã điều trabằng bảng khảo sát trực tuyến (online) và đến gặp trực tiếp để gửi bảng hỏi(offline). Đối tượng điều tra chủ yếu tập trung vào chủ doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, bảng khảo sát được thu thập bằng phương pháp chọn mẫu có chủ đích (Purposive Sampling) nhằm mục đích chọn các quan sát chưa có phòng marketing nội bộ. SMEs được phỏng vấn tập trung ở Tp Huế bằng cách: dựa theo số liệu công ty CoPLUS cung cấp thì có khoảng 1000 SMEs nằm trong đối tượng khách hàng hiện tại và khách hàng tiềm năng, có thể có nhu cầu cao trong sử dụng các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh bên ngoài. Danh sách bao gồm thông tin cơ bản về doanh nghiệp như vốn, thông tin liên hệ, tổng quan đặc điểm của SMEs.
- Chọn mẫu nghiên cứu:
Cỡ mẫu trong nghiên cứu được xác định bằng cách dựa theo 1000 doanh nghiệp vừa và nhỏ từ số liệu công ty cung cấp để tiến hành chọn mẫu thuận tiện. Vì thời gian có hạn, tác giả tiến hành lấy trong khoảng 10% số lượng doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, dựa theo “Phương pháp nghiên cứu trong kinh doanh” của Nguyễn Đình Thọ: số mẫu cần thiết theo phương pháp EFA phải thỏa mãn điều kiện sau: n ≥ 8 x p +50 ≥ 8 x 5 +50 ≥ 90
Trong đó: P là số biến độc lập (trong đề tài tác giả phân tích thì p =5)
Hair & ctg (2006) cho rằng để sử dụng EFA, kích thước mẫu tối thiểu phải là 50, tốt hơn là 100 và tỉ lệ quan sát (observations)/ biến đo lường (items) là 5:1, nghĩa là 1 biến đo lường cần tối thiểu 5 quan sát, tốt nhất là tỉ lệ 10:1 trở lên.
Như vậy, để đảm bảo độ chính xác cũng như mức độ thu hồi bảng hỏi, nghiên cứu quyết định chọn 110 mẫu để tiến hành nghiên cứu. Khóa luận: Nhu cầu sử dụng dịch vụ Marketing của doanh nghiệp.
- Các bước tiến hành chọn mẫu (Dựa theo phương pháp chọn thuận mẫu thuận tiện và có chủ đích)
Bước 1: Lập danh sách doanh nghiệp vừa và nhỏ thành lập dưới 3 năm theo danh sách mà công ty CoPLUS cung cấp. Chọn lọc những doanh nghiệp theo phương pháp chọn mẫu có chủ đích dựa theo thông tin đặc điểm để chọn lọc những SMEs có ý định sử dụng dịch vụ hỗ trợ kinh doanh thuê ngoài hoặc chưa có phòng marketing.
Bước 2: Tiến hành điều tra bằng cách gửi phiếu điều tra trực tuyến (online), đến gặp mặt trực tiếp gửibảng khảo sát. Nếu người đó không trả lời thì gửi người kế tiếp để gửi bảng hỏi cho đến khi đủ 110 bảng điều tra.
1.4.2. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
Sau khi thu thập bảng khảo sát đủ số lượng, tiến hành mã hóa và xử lí số liệu bằng phần mềm SPSS phiên bản 20.
Phân tích thống kê mô tả (Descriptive Statistics): Sử dụng để xử lý các dữ liệu và thông tin thu thập được nhằm đảm bảo tính chính xác (Đang hoạt động lĩnh vực nào, có biết đến dịch vụ thuê ngoài không, những nhu cầu cần giải quyết hiện nay là gì, điều gì ảnh hưởng đến họ nhất khi quyết định sử dụng dịch vụ thuê ngoài …), sử dụng bảng tần số và phần trăm thích hợp cho từng biến. Từ đó có thể đưa ra các kết luận có tính khoa học về vấn đề nghiên cứu.
5. Kết cấu đề tài
Kết cấu đề tài ngoài danh mục các chữ viết tắt, danh mục bảng biểu, mục lục và phụ lục thì gồm ba phần chính sau:
- Phần I – Đặt vấn đề
- Phần II – Nội dung và kết quả nghiên cứu
- Chương 1: Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu
- Chương 2: Phân tích nhu cầu sử dụng dịch vụ marketing thuê ngoài của SMEs tại Thừa Thiên Huế
- Chương 3: Một số hàm ý và chính sách marketing cho nhà quản trị cung cấp dịch vụ marketing thuê ngoài trong việc đáp ứng dịch vụ đến SMEs tại Thừa Thiên Huế
- Phần III- Kết luận và kiến nghị
CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LIÊN QUAN ĐẾN NHU CẦU SỬ DỤNG DỊCH VỤ MARKETING THUÊ NGOÀI CỦA SMEs
1.1. Một số vấn đề lý luận liên quan đến nhu cầu sử dụng dịch vụ marketing thuê ngoài của SMEs
1.1.1. Một số khái niệm
- Khái niệm nhu cầu
Từ lâu nhu cầu đã là đối tượng nghiên cứu của hầu hết các ngành khoa học nghiên cứu sinh học và xã hội. Trong lĩnh vực kinh tế – xã hội vấn đề về nhu cầu được tìm thấy trong nghiên cứu của các nhà khoa học tên tuổi như Jeremy Bentham, Benfild, William Stanley Jevons, John Ramsay McCulloch, Edward S. Herman. Đó là hiện tượng phức tạp, đa diện, đặc trưng cho mọi sinh vật. Sự hiện diện của nhu cầu ở bất kì sinh vật nào, ngay cả ở bất kì xã hội nào được xem như cơ thể sống phức tạp, là đặc điểm để phân biệt chủ thể đó với môi trường xung quanh.
Cho tới nay chưa có một định nghĩa chung nhất cho khái niệm nhu cầu. Các sách giáo khoa chuyên ngành hay các công trình nghiên cứu khoa học thường có những định nghĩa mang tính riêng biệt. Trong phạm vi nhận thức hiện tại có thể định nghĩa nhu cầu là tính chất của cơ thể sống, biểu hiện trạng thái thiếu hụt của chính cá thể đó và do đó phân biệt nó với môi trường sống. Nhu cầu tối thiểu, hay còn gọi là nhu yếu tuyệt đối, đã được lập trình qua quá trình rất lâu dài tồn tại, phát triển và tiến hóa4.
- Phân tích tháp nhu cầu của nhà tâm lý học Abraham Maslow (1908-1970)
Tháp nhu cầu Maslow là lý thuyết về tâm lý được xem là có giá trị nhất trong hệ thống lý thuyết tâm lý mà tầm ảnh hưởng của nó được thừa nhận và ứng dụng rộng rãi trong cuộc sống. Nó được chia làm 5 bậc: Nhu cầu sinh lý (Physiological), Nhu cầu về an toàn, an ninh (Safety), Nhu cầu về xã hội (Belonging), Nhu cầu về được quý trọng (Esteem) và Nhu cầu được thể hiện mình (Self-actualization). Khóa luận: Nhu cầu sử dụng dịch vụ Marketing của doanh nghiệp.
Sơ đồ 1. Tháp nhu cầu của Maslow
Theo Maslow, nhu cầu của con người có những mức độ khác nhau, những nhu cầu ở phía dưới của tháp cần được đáp ứng trước những nhu cầu ở mức cao hơn. Nếu như dịch vụ khách hàng hướng tới việc đáp ứng nhu cầu và động lực mua sắm của khách hàng, thì nó cũng sẽ tuân theo một cấu trúc tương tự như tháp Maslow.
- Tầng 1:
Tầng 1 trong tháp nhu cầu Maslow – Nhu cầu sinh lý (Physiological): Nhu cầu này bao gồm các nhu cầu cơ bản của con người như ăn, uống, ngủ,…các nhu cầu làm cho con người tồn tại. Trong hình kim tự tháp, chúng ta thấy những nhu cầu này được xếp vào bậc thấp nhất: bậc cơ bản nhất. Tức là các nhu cầu ở mức độ cao hơn không xuất hiện nếu nhu cầu cơ bản này chưa được thỏa mãn.
Tương ứng, dịch vụ khách hàng mức 1 sẽ đơn thuần là đáp ứng nhu cầu. Ví dụ, đối với một cửa hàng ăn nhanh, việc đáp ứng nhu cầu ở nhóm 1 sẽ đơn thuần là: Đồ ăn còn nóng, nước uống mát lạnh, phục vụ nhanh chóng và đúng yêu cầu.
- Tầng 2:
Tầng 2 trong tháp nhu cầu Maslow – Nhu cầu về an toàn, an ninh (Safety): Con người cần sự bảo vệ, an toàn trước những sự đe dọa, mối nguy hiểm về vật chất hay tinh thần.
Tương ứng, dịch vụ khách hàng mức 2 sẽ phải đảm bảo tính cam kết và bền vững – làm đúng và nhất quán những điều mà doanh nghiệp đã nói. Khóa luận: Nhu cầu sử dụng dịch vụ Marketing của doanh nghiệp.
- Tầng 3:
Tầng 3 trong tháp nhu cầu Maslow – Nhu cầu về xã hội (Belonging): Đây là một nhu cầu về tinh thần. Khi con người mong muốn được gắn bó với tổ chức hay một phần trong tổ chức nào đó hay mong muốn về tình cảm thì ấy chính là nhu cầu xã hội. Đó là mối quan hệ trong gia đình, trường lớp, công ty, bạn bè hay một cộng đồng.
Tương ứng, dịch vụ khách hàng mức 3 sẽ phải đảm bảo tính cá nhân hóa – gọi tên khách hàng, trân trọng sự ủng hộ của khách hàng dành cho doanh nghiệp, quan tâm tới nhu cầu cá nhân của họ…
- Tầng 4
Tầng 4 trong tháp nhu cầu Maslow – Nhu cầu về được quý trọng (Esteem): Nhu cầu này còn được gọi là nhu cầu thừa nhận. Đây là nhu cầu được người khác quý mến, nể trọng trong tổ chức, xã hội.
Tương ứng, dịch vụ khách hàng mức 4 sẽ phải đem lại cho khách hàng cảm giác họ được trân trọng – tri ân khách hàng thân thiết, tạo điều kiện để khách hàng kết nối với các thương hiệu liên kết.
- Tầng 5:
Tầng 5 trong tháp nhu cầu Maslow – Nhu cầu được thể hiện mình (Self- actualization): Đây là nhu cầu đỉnh của thang Maslow, nhu cầu được thể hiện bản thân, được khẳng định mình trong cuộc sống hay sống và làm việc theo đam mê và cống hiến hết mình cho nhân loại hay một cộng đồng.
Tương ứng, dịch vụ khách hàng mức 5 sẽ phải giúp cho khách hàng cảm thấy tin tưởng vào bản thân họ – làm cho khách hàng cảm thấy họ thông thái ngay cả khi họ đang phải yêu cầu sự hỗ trợ, làm cho họ cảm thấy họ đang lựa chọn đúng đắn bằng cách ủng hộ quyết định mua hàng với những dịch vụ tặng thêm, làm cho họ cảm thấy quan trọng, không chỉ với bạn mà với cả những người khác trong cuộc sống hay trong cộng đồng.
Tháp nhu cầu của Maslow giải thích lý do tại sao một công ty không thể thực sự đáp ứng nhu cầu dịch vụ của khách hàng nếu bỏ qua nhóm những nhu cầu cơ bản nhất hoặc chỉ tập trung vào nhóm nhu cầu mức cao.
- Áp dụng tháp nhu cầu Maslow vào việc giải quyết vấn đề của khách hàng
Mức 1 (cơ bản) – ở mức 1, việc giải quyết vấn đề của khách hàng mới chỉ dừng lại ở việc xin lỗi chân thành, xử lý nhanh vấn đề mà khách hàng gặp phải.
Mức 2 (cam kết) – nhấn mạnh lại các cam kết/lời hứa của bạn (VD cam kết hoàn tiền nếu không hài lòng với sản phẩm/dịch vụ).
Mức 3 (cá nhân hóa) – điều chỉnh giải pháp sao cho phù hợp nhất với từng cá nhân khách hàng.
Mức 4 (tạo cảm giác được trân trọng) – thể hiện rằng bạn rất tiếc về vấn đề mà khách hàng gặp phải và đưa đến cho khách hàng thêm những giá trị vượt mong đợi (ngoài việc giải quyết vấn đề đơn thuần)
Mức 5 (tạo cảm giác tin tưởng vào bản thân) – thể hiện với khách hàng rằng họ thực sự là những khách hàng thông thái, bạn coi trọng việc họ tìm đến bạn để giải quyết vấn đề và bạn luôn đặt vấn đề đó ở vị trí ưu tiên số 1.
Mức 4 và 5 chỉ thực sự làm hài lòng khách hàng khi mà các mức từ 1 đến 3 đã được đáp ứng.
- Khái quát về dịch vụ
Theo Philip Kotler (Marketing căn bản, nxb Thống Kê) định nghĩa: “Dịch vụ là mọi hành động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu cái gì đó. Sản phẩm của nó có thể có hoặc không gắn liền với sản phẩm vật chất”.
Theo giáo trình Marketing dịch vụ hiện đại dịch vụ có 4 đặc điểm cơ bản:
Bốn đặc điểm đặc thù chủ yếu của dịch vụ là : tính vô hình (intangibility), tính đồng thời hay tính không thể tách rời (inserability), tính đa chủng loại (variability hay heterogeneity), và tính không thể dự trữ (perishability).
- Tính vô hình (intangible) của dịch vụ
Dịch vụ được xem như vô hình (intangible) bởi vì nó nhấn mạnh đến việc thực hiện hơn là các vật thể. Dịch vụ không thể sờ nắm hay nhìn thấy giống như sản xuất. Hơn nữa, dịch vụ là những gì chủ yếu là sự trải nghiệm và đánh giá của khách hàng nặng tính chủ quan hơn là khách quan.
Dịch vụ không có các đặc tính vật lý để người mua có thể nhìn, nghe, ngửi, nếm hay chạm vào trước khi mua. Về bản chất, công ty cung cấp dịch vụ đề nghị khách hàng mua một lời hứa hẹn – quần áo sẽ hợp thời trang, kiểu tóc sẽ rất hợp mốt, bảo hiểm sẽ được thực hiện với các trường hợp bị chấn thương, cỏ sẽ được cắt sạch, v.v…
- Tính đồng thời hay tính không thể tách rời (inseparable)
Hàm ý sản xuất và tiêu thụ gần như là đồng thời; trái với sản xuất là làm trước rồi sau đó mới bán và tiêu thụ; dịch vụ thì bán trước rồi mới cung ứng và tiêu thụ đồng thời.
Thí dụ như, hành khách hàng không trước hết mua vé, rồi lên máy bay, sử dụng dịch vụ trên chuyến bay ngay trong quá trình bay (quá trình cung ứng dịch vụ).
Tính đồng thời (inseparable) của cung cấp dịch vụ và tiêu thụ (tính tiếp xúc với khách hàng hay tính không thể tách rời khỏi nhà cung cấp dịch vụ). Khách hàng mua các dịch vụ như cắt tóc, sửa xe, khám nha khoa và sử dụng chúng đồng thời. Cảm nhận của người tiêu dùng về nhà cung cấp dịch vụ trở thành cảm nhận về chính lợi ích của dịch vụ hiện hữu. Tên tuổi của vị bác sĩ, luật sư, hay nhà tạo mẫu tóc đồng nghĩa với dịch vụ mà họ cung cấp.
Người mua thường có vai trò quan trọng trong quá trình tạo ra và phân phối dịch vụ. Các giao dịch dịch vụ thường đòi hỏi sự tương tác giữa người mua và người bán ở giai đoạn cung cấp dịch vụ và phân phối.
- Tính đa chủng loại (variable) của dịch vụ Khóa luận: Nhu cầu sử dụng dịch vụ Marketing của doanh nghiệp.
Tính đa chủng loại (heterogeneous) ngụ ý khả năng thực hiện dịch vụ mỗi lần mỗi khác; nghĩa là mỗi dịch vụ được tạo ra đều khác với những dịch vụ được tạo ra trước đó. Dịch vụ được tạo ra bởi con người; đồng thời, tính đa chủng loại (variability) là cố hữu (vốn có hay tất yếu) trong quá trình cung ứng. Việc thiếu tính nhất quán không thể nào loại bỏ.
Tính đa chủng loại của dịch vụ nghĩa là chất lượng dịch vụ phụ thuộc vào người cung cấp cũng như thời điểm, nơi chốn, cách thức chúng được cung cấp.
Tính đa chủng loại của dịch vụ ở đầu ra có nghĩa là mỗi dịch vụ được tạo ra đều khác với những dịch vụ được tạo ra trước đó. Điều này là do mỗi quá trình cung cấp dịch vụ cho mỗi khách hàng đều khác nhau, vì mỗi khách hàng đều phản ứng hay hành động theo một cách riêng, mỗi tương tác giữa khách hàng và người cung cấp dịch vụ trong chừng mực nào đó là độc nhất không lặp lại.
- Tính không thể lưu trữ (perishable)
Tính không thể lưu trữ của dịch vụ nghĩa là dịch vụ không thể lưu trữ để bán hoặc sử dụng về sau. Tính không thể lưu trữ của dịch vụ không phải là vấn đề khi mà nhu cầu luôn tồn tại ổn định. Tuy nhiên, khi nhu cầu nằm trong tình trạng dao động không ổn định, các công ty dịch vụ thường gặp khó khăn. Ví dụ như, do nhu cầu vào giờ cao điểm, các công ty giao thông vận tải phải sở hữu nhiều phương tiện vận chuyển hơn so với mức cần thiết trong trường hợp nhu cầu dàn đều trong cả ngày. Do đó, công ty dịch vụ thường thiết kế chiến lược để cung ứng cho phù hợp với cán cân cung – cầu..
Sau cùng, tính không thể dự trữ (perishable) nghĩa là dịch vụ không thể vận chuyển hay lưu kho; khả năng không thể sử dụng trong dịch vụ không thể đặt trước hay giữ chỗ trước; và bản thân dịch vụ không thể lưu trữ. Đồng thời, tính không thể dự trữ gây ra các thách thức to lớn cho việc cân bằng giữa nhu cầu và cung cấp khi nhu cầu gia tăng đột xuất.
- Dịch vụ marketing thuê ngoài Khóa luận: Nhu cầu sử dụng dịch vụ Marketing của doanh nghiệp.
Khái niệm thuê ngoài:
Thuê ngoài là một thuật ngữ trong lĩnh vực kinh tế. Nó là việc một thể nhân hay pháp nhân chuyển giao việc thực hiện toàn bộ một chức năng sản xuất-kinh doanh nào đó, bao gồm cả tài sản vật chất và nhân lực cho một nhà cung cấp dịch vụ bên ngoài chuyên môn hóa trong lĩnh vực đó. Dịch vụ có thể được cung cấp bên trong hay bên ngoài công ty khách hàng; có thể thuộc nước sở tại hoặc ở nước ngoài.
Trong bài báo nghiên cứu của Dong-HoonYang và cộng sự (2007) đưa ra định nghĩa dịch vụ thuê ngoài là doanh nghiệp đi thuê một nhà cung ứng dịch vụ bên ngoài để thực hiện một phần hay toàn bộ các phần công việc của doanh nghiệp thay vì doanh nghiệp phải tự thực hiện tất cả những phần việc ấy. Hoạt động thuê ngoài được xếp vào nhóm thuê ngoài qui trình kinh doanh -Business Process Outsourcing (BPO), có10 BPO chính là: nhân sự, hậu cần, mua sắm, kỹ thuật, tiếp thị, bán hàng, hoạt động cơ sởvà quản lý, hành chính, pháp lý, và tài chính kế toán.
- Lợi ích và rủi ro của dịch vụ thuê ngoài:
Một số lợi thế khi sử dụng dịch vụ thuê ngoài được trích dẫn trong tài liệu (Chalos, 1995), và (McCarthy,1996) từ nghiên cứu của Dong-HoonYang và cộng sự (2007) khẳng định:
Mức độ linh hoạt cao hơn, ít bị hạn chế hơn so với các quy tắc hiện có trong công ty.Đáp ứng ngày càng tăng theo nhu cầu của khách hàng. Phản hồi của khách hàng có thể được chuyển đếnnhà cung cấp nhanh chóng mà không cần phải đi qua chính sách của công ty và nhiều bộ phận cồng kềnh. Cung cấp dịch vụ đặc biệt cho khách hàng thông qua việc thuê ngoài mà không cần phải thuê công nhân chuyên môn đặc biệt.Trách nhiệm cao và giảm rủi ro. Có thể làm giảm nhiều nguồn rủi ro và khả năng về trách nhiệm pháp lý mà các nhà sản xuất phải đối mặt như: an toàn, EEO, ADA, bồi thường cho người lao động …Giảm yêu cầu đầu tư vốn và lao động. Giảm rủi ro về vốn.Tiếp cận với những đổi mới và phát triển của các nhà cung cấp chuyên biệt hơn. Tập trung vào các hoạt động tăng năng suất, lợi nhuận chính và kinh doanh cốt lõi.
Một số rủi ro liên quan đến thuê ngoài được trích dẫn trong tài liệu (Friedman, Thiếu kiểm soát chất lượng sản phẩm / dịch vụ do các nhà cung cấp bên ngoài cung cấp.Mất quyền kiểm soát các nhà cung cấp. Khả năng các nhà cung cấp trở thành đối thủ cạnh tranh của công ty hoặc trợ giúp đối thủ cạnh tranh của công ty.Ảnh hưởng tiêu cực đến tinh thần của nhân viên.
Bên cạnh đó, theo nghiên cứu vấn đề của Phạm Thị Thảo thì giai đoạn chuyển tiếp từ dịch vụ nội bộ sang Outsourcing sẽ ảnh hưởng đến chất lượng công việc. Trong thời gian đầu (có thể kéo dài cả năm) nhân viên Outsourcing chưa nắm rõ hệ thống của doanh nghiệp, gây chậm trễ trong giải quyết sự cố hoặc sai sót.
Về mặt chi phí: thống kê chung cho thấy sử dụng Outsourcing tiết kiệm hơn so với tự làm, nhưng điều đó không có nghĩa là cứ Outsourcing thì sẽ tiết kiệm chi phí.
Hợp đồng Outsourcing không chặt chẽ có thể gây phát sinh chi phí lớn cho doanh nghiệp (chẳng hạn khi phát hiện những nội dung dịch vụ chưa có trong hợp đồng)
Bảng 1.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu sử dụng dịch vụ thuê ngoài
Từ những phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu sử dụng dịch vụ thuê ngoài của các nhà nghiên cứu trên cùng với quá trình tham khảo ý kiến đánh giá của các chuyên gia tại CoPLUS. Tác giả đưa ra 5 yếu tố có ảnh hưởng nhất đến khả năng sử dụng dịch vụ Marketing thuê ngoài của SMEs tại Huế được áp dụng trong khóa luận này bao gồm:
- Chất lượng, uy tín đơn vị cung cấp dịch vụ
- Mối quan hệ quen biết giữa hai bên
- Lợi ích kinh tế nhận được so với chi phí bỏ ra
- Khả năng phù hợp với chiến lược, mô hình kinh doanh của doanh nghiệp
- Quy trình rõ ràng, đảm bảo bảo mật thông tin khách hàng
Khái niệm dịch vụ marketing thuê ngoài: Khóa luận: Nhu cầu sử dụng dịch vụ Marketing của doanh nghiệp.
Trong bài nghiên cứu được đăng tải trên Tạp chí Quản lý và Nghiên cứu Kinh doanh toàn cầu, 2 nhà nghiên cứu Chew Min Kid & Rashad Yazdanifard đưa ra khái niệm về một công ty cung cấp dịch vụ marketing thuê ngoài là một đơn vị duy nhất chịu trách nhiệm về chức năng marketing. Điều đó có thể bao gồm mọi thứ từ nghiên cứu,phân tích, chiến lược, quy hoạch và quản lý để thực hiện quảng cáo, quan hệ công chúng, marketing trực tiếp, truyền thông nội bộ.
Dịch Vụ Marketing thuê ngoài hay còn gọi là Marketing Outsource là hình thức thuê, giao việc tổ chức, quản lý mọi hoạt động marketing theo một ngân sách có tổ chức được cố định hàng tháng (Bách khoa toàn thư Wikipedia)
- Một số hoạt động marketing thuê ngoài được cung cấp:
Hầu hết các công ty đã thuê ngoài một phần chức năng marketing vào hoạt động của họ như quảng cáo.Tuy nhiên, trong những năm gần đây, nhiều đơn vị tham gia đã bắt đầu thực hiện các hoạt động khác tiêu biểu như: Email marketing, nghiên cứu marketing, quản lý dữ liệu khách hàng, phân tích khách hàng (Rapp, 2009)
Giáo sư Trường Kinh doanh Harvard Gail J. McGovern và John Quelch đã ghi lại xu hướng của một bài báo trong số ra tháng ba của Harvard Business Review chỉ ra rằng: Các công ty đã thuê ngoài các hoạt động marketing sáng tạo, chẳng hạn như các chiến dịch quảng cáo và xúc tiến thương mại. Nhưng một sự thay đổi cơ bản đang được diễn ra ngày càng nhiều: các công ty đang tiến hành các hoạt động marketing và nghiên cứu. Nghiên cứu của Forrester Research về 650 nhà quản lý tiếp thị B2B cho thấy rằng 53% hoạt động thuê ngoài của họ vào năm 2004 là các hoạt động marketing. Forrester dự báo rằng gia công phần mềm CRM ở Hoa Kỳ sẽ tăng gấp bốn lần lên 4,6 tỷ đô la vào năm 2008. Và công ty Astron của Anh dự đoán rằng cơ sở dữ liệu khách hàng và gia công phần mềm quản lý hàng đầu đang tăng lên 10% mỗi năm.
Bảng 1.2. Các chức năng Marketing được thuê ngoài
| Tiếp thị Hoạt động | Hoạt động | Chương trình phát triển và thực hiện | Phân tích dữ liệu |
| Gọi cho trung tâm hoạt động | Thiết kế chương trình | Phân tích: | |
|
Chức năng thuê ngoài thông thường |
Quản lý trang web Quản lý chương trình Email Marketing
Quản lý cơ sở dữ liệu |
Chiến dịch sáng tạo phát triển Chiến dịch sự quản lý
Quản lý chung |
Hiệu suất chương trình
Hành vi khách hàng Sức khỏe thương hiệu |
| General motors | Sony | American Express | |
| Chức năng thuê ngoài với Công ty ví dụ | Kho dữ liệu
Ericsson Phát triển công cụ bán hàng cho phép tương tác với khách hàng |
Chương trình marketing trên website
Allstate Quản lý chung |
Chương trình tích hợp giá trị cao cho từng phân khúc khách hàng |
(Nguồn: Harvard Business Review)
1.2. Khái quát về doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) Khóa luận: Nhu cầu sử dụng dịch vụ Marketing của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp siêu nhỏ,nhỏ và vừa hay còn gọi thông dụng là doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ bé về mặt vốn, lao động hay doanh thu.
Trên thế giới, có nhiều định nghĩa khác nhau. Hibbert và cộng sự chỉ ra rằng một doanh nghiệp nhỏ chúng khác biệt về bản chất và so sánh ( Harvie và cộng sự, 2008). Ở một số quốc gia có thể “xác định SME là một doanh nghiệp có ít hơn 500 nhân viên, trong khi một quốc gia khác có thể xác định cắt giảm được 250 nhân viên(ChaNraborty và cộng sự, 2020). SMEs có thể được phân loại theo số lượng nhân viên,doanh thu hàng năm và sự kết hợp của nhân viên và chỉ số doanh thu (Hutchinson et al., 2006).
Tại Việt Nam, Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 39/2025/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa. Trong đó, Nghị định quy định rõ tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Nghị định quy định, doanh nghiệp nhỏ và vừa được phân theo quy mô bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa:
Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 3 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng.
Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 10 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng.
Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 50 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 20 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định.
Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 50 người và tổng doanh thu của năm không quá 100 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 50 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định. Khóa luận: Nhu cầu sử dụng dịch vụ Marketing của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và tổng doanh thu của năm không quá 200 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định.
Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 300 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ theo quy định.
1.3. Tổng quan dịch vụ marketing thuê ngoài tại Việt Nam
- Cạnh tranh trong khu vực:
Theo Global Services và hãng tư vấn đầu tư Tholons, chi phí hàng năm cho marketing outsourcing trên toàn thế giới đã trên 1 tỷ tỷ đô la.
Dịch vụ thuê ngoài phát triển mạnh nhất tại Châu Á hiện nay ở2 quốc gia:
Ấn Độ với dịch vụ thuê ngoài IT, chiếm đến 5% GDP của quốc gia Nam Á này, với doanh thu lên đến gần 150 tỷ USD hàng năm.
Philippines với lĩnh vực tổng đài điện thoại, bao gồm hỗ trợ khách hàng hay tiếp thị sản phẩm qua điện thoại (doanh thu 25,5 tỷ USD hàng năm, thu hút hơn 1,4 triệu lao động)
- Thị trường tại Việt Nam:
Theo báo cáo mang tên “Tiêu điểm Việt Nam” do PwC thực hiện nhân dịp Việt Nam đăng cai Tuần lễ cấp cao APEC 2024, các chuyên gia của PwC đã dự báo 5 lĩnh vực tiềm năng nhất trong việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Trong đó, lĩnh vực thuê ngoài chuyên nghiệp được dự báo sẽ thu hút nhiều nhà đầu tư nước ngoài trong thời gian tới.
Theo bà Lương Tú Anh (một trong ba cổ đông sáng lập Công ty CP BPO Mắt Bão (MBB) thuộc Mắt Bão Group – công ty chuyên cung cấp dịch vụ thuê ngoài nhân sự và chăm sóc khách hàng cho các doanh nghiệp) cho biết:”Các doanh nghiệp nước ngoài hoạt động tại Việt Nam đều coi BPO là một giải pháp trong kế hoạch phát triển. Dần dần các doanh nghiệp Việt Nam cũng nhận thấy tầm quan trọng đó.”
Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh của Việt Nam đã được bình chọn là những điểm outsourcing mới nổi hấp dẫn nhất thế giới (TP Hồ Chí Minh chỉ đứng sau 4 thành phố của Ấn Độ và Cebu của Philippines).
- Một số doanh nghiệp marketing thuê ngoài nổi bật tại Việt Nam:
Công ty CP BPO Mắt Bão (MBB) thuộc Mắt Bão Group – công ty chuyên cung cấp dịch vụ Nhân viên Promotion Girl (PG), Promotion Boy (PB); Nhân viên bán hàng trực tiếp; Nhân viên hành chính, quản trị; Nhân viên Chăm sóc khách hàng; Nhân viên thuộc khối ngành Logistic, Lao động phổ thông và các hoạt động khác không thuộc chức năng hành chính của doanh nghiệp. Đem đến hơn 2500 việc làm mới, có nhiều đối tác trong và ngoài nước: Nhật, Đức, Mỹ, một số nước Đông Âu… (Văn phòng chính tại Hồ Chí Minh và Hà Nội)
INSO Marketing Agency – Phòng Marketing thuê ngoài tối ưu cho SMEs (Trụ sở tại Hà Nội) với một gói bao gồm 4 phần:
- Tư vấn marketing (2 – 6 tuần): Phân tích những dữ liệu có sẵn hoặc nghiên cứu để đưa ra chiến lược marketing và kế hoạch hành động khả thi, có cơ sở.
- Thực thi-giám sát (6 tháng – 1 năm): Triển khai các hoạt động marketing theo kế hoạch đã tư vấn, giám sát và điều chỉnh kịp thời. Tạo nền móng cho hoạt động marketing tốt.
- Xây dựng phòng marketing (2 tháng): Tìm kiếm nhân sự, đào tạo và chuyển giao hoạt động marketing.
- Bảo hành nhân sự (trọn đời): Thay thế, bổ sung, cập nhật kiến thức và đào tạo nâng cao cho nhân sự.
Vinalink Media Cung cấp giải pháp thực thi tổng thể về Marketing, dịch vụ viết bài thuê, viết quảng cáo thuê, tư vấn và thực thi chiến lược Digital marketing, dịch vụ Seo, đào tạo nhân sự Marketing,. (Trụ sở chính tại Hà Nội và Hồ Chí Minh)
Công ty Cổ phần truyền thông REC Việt Nam (Trụ sở chính tại Hà Nội và Hồ Chí Minh) cung cấp dịch vụ: Tư Vấn Marketing, Lập kế hoạch marketing, Định vị thương hiệu, Thực thi Marketing,…
Ngoài ra, nếu truy cập tìm kiếm trên google cho báo giá marketing thuê ngoài tại Việt Nam có khoảng 1.730.000 kết quả (0,50 giây), 10/11 trang tổ chức, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ marketing thuê ngoài xuất hiện trong lần tìm kiếm đầu tiên. Qua đó, cho thấy mức độ phát triển của dịch vụ marketing thuê ngoài hiện nay tại Việt Nam không hề nhỏ. Khóa luận: Nhu cầu sử dụng dịch vụ Marketing của doanh nghiệp.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>> Khóa luận: Phân tích nhu cầu sử dụng Marketing của doanh nghiệp

Dịch Vụ Viết Luận Văn Thạc Sĩ 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietthuethacsi.com/ – Hoặc Gmail: dicvuluanvanthacsi@gmail.com
[…] ===>> Khóa luận: Nhu cầu sử dụng dịch vụ Marketing của doanh nghiệp […]