Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Quản lý hoạt động tại trang trại nuôi gia công lợn thịt hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Khóa luận: Tìm hiểu công tác tổ chức và quản lý hoạt động tại trang trại nuôi gia công lợn thịt của ông Dương Công Tuấn – Xã Cát Nê – Huyện Đại Từ – Tỉnh Thái Nguyên dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
Nội dung chính
Phần 1 MỞ ĐẦU
1.1. Sự cần thiết thực hiện nội dung thực tập
Trong những năm qua, chăn nuôi quy mô trang trại tại nhiều địa phương đã mang lại thu nhập cao cho hộ nông dân, góp phần tăng giàu giảm nghèo, thu hút được lao động, góp phần giải quyết việc làm, đẩy mạnh sự chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp nông thôn.
Phát triển chăn nuôi quy mô trang trại ở nước ta tuy đã có những thành công nhất định, nhưng bên cạnh đó còn bộc lộ rất nhiều những yếu điểm cần được nghiên cứu khắc phục như: Trình độ tổ chức quản lý và hoạch toán kinh tế của chủ trang trại còn hạn chế; kỹ thuật công nghệ áp dụng vào chăn nuôi chưa đồng bộ; thiếu kỹ năng thu thập và phân tích thông tin thị trường nên rủi ro trong sản xuất luôn tiềm ẩn, đặc biệt là rủi ro về dịch bệnh. Để tạo điều kiện cho phát triển chăn nuôi quy mô trang trại ổn định và hiệu quả rất cần có những chính sách, cơ chế về mặt bằng cho xây dựng chuồng trại, vốn đầu tư, lao động có chuyên môn, liên kết hợp tác trong sản xuất, hỗ trợ giải quyết ô nhiễm môi trường,…
Hiện nay, có thể nói sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất ngành chăn nuôi nói riêng tại Việt Nam thiếu chiến lược phát triển bài bản, chưa có những giải pháp đồng bộ để đảm bảo cho sản xuất hiệu quả và bền vững. Một nền nông nghiệp quy mô hộ nhỏ lẻ là chủ yếu, khủng hoảng về hướng đi, thiếu cả nguồn lực về vốn và lao động có chuyên môn nên luôn phải đối mặt với những rủi ro. Trước thực trạng “được mùa mất giá” trong sản xuất nông nghiệp, những rủi ro về thị trường nông sản luôn cần “giải cứu”, rủi ro về dịch bệnh thường xuyên diễn ra phức tạp đã làm cho nhiều nông dân “làm lớn thua đau”, nhiều nông dân đã lâm vào cảnh phá sản, không còn vốn để đầu tư hoặc không dám mạnh dạn đầu tư lớn. Nguyên nhân cũng đã được chỉ ra, nhưng chưa thật đúng và sát nên chưa có những giải pháp bài bản để khắc phục có hiệu quả tình trạng trên. Chính vì vậy, rất cần có những nghiên cứu tìm hiểu thực tế sản xuất nông nghiệp, bám sát địa bàn và cùng trải nghiệm với nông dân, học hỏi những nông dân làm trang trại thành công là vô cùng cần thiết.
Cũng như các trang trại chăn nuôi trong cả nước, các trang trại chăn nuôi của tỉnh Thái Nguyên đã và đang được phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng. Tuy nhiên, bên cạnh những thành quả bước đầu, các trang trại chăn nuôi cũng gặp không ít những khó khăn như: Dịch bệnh phát sinh thường xuyên, các điểu kiện cho phát triển chăn nuôi chậm được tháo gỡ, trình độ tổ chức quản lý của chủ trang trại thấp, đầu tư khoa học kỹ thuật hạn chế, khả năng nhận biết và dự báo nhu cầu thị trường thiếu chính xác,… làm cho sản xuất chăn nuôi quy mô trang trại thiếu ổn định và luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro. Vấn đề cấp thiết đặt ra hiện nay là phải tìm kiến những giải pháp để các trang trại chăn nuôi đạt hiệu quả, bền vững.
Đối với mỗi sinh viên, quá trình nghiên cứu thực tiễn để củng cố kiến thức đã học, học hỏi những kinh nghiệm làm kinh tế từ thực tế là vô cùng quan trọng. Ngoài ra, trao đổi và trải nghiệm qua thực tập tại trang trại còn giúp sinh viên có được nghị lực, quyết tâm và sự tự tin trong phát triển nghề nghiệp sau này. Cùng với chủ trang trại tìm ra những yếu điểm hạn chế và đưa ra những hướng khắc phục cho phát triển bền vững trang trại là vô cùng cần thiết. Xuất phát từ những yêu cầu thực tiễn trên tôi chọn đề tài: “Tìm hiểu công tác quản lý và tổ chức hoạt động tại trang trại nuôi gia công lợn thịt của ông Dương Công Tuấn – Xã Cát Nê – Huyện Đại Từ – Tỉnh Thái Nguyên”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu Khóa luận: Quản lý hoạt động tại trang trại nuôi gia công lợn thịt.
1.2.1. Mục tiêu chung
Thông qua thực tế nghiên cứu, học tập và trải nghiện tại trang trại chăn nuôi giúp người học hiểu biết thêm về những loại hình sản xuất, có được những kinh nghiệm về tổ chức sản xuất kinh doanh trang trại chăn nuôi, rèn luyện những kỹ năng chuyên môn cần thiết. Ngoài ra, người học còn đánh giá phân tích được những thành công của trang trại, tìm ra được những khó khăn, trở ngại và những nguyên nhân ảnh hưởng đến việc phát triển kinh tế trang trại. Qua đó, đề xuất được các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác tổ chức và quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh trang trại chăn nuôi theo hướng hiệu quả.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
Về chuyên môn
- Nắm rõ được các thông tin về quá trình hình thành và tổ chức sản xuất kinh doanh trang trại chăn nuôi của ông Dương Công Tuấn – Xã Cát Nê – Huyện Đại Từ.
- Phân tích đánh giá được thực trạng về các nguồn lực sản xuất cho việc tổ chức thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh của trang trại.
- Học tập được các kiến thức, kỹ năng về kỹ thuật chăn nuôi và phòng chữa bệnh trên lợn trong chăn nuôi lợn thịt tại trang trại.
- Phân tích đánh giá được thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh, học hỏi và rèn luyện được kỹ năng hoạch toán kinh tế từ thực tế hoạt động của trang trại.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh trang trại chăn nuôi của ông Dương Công Tuấn – Xã Cát Nê những năm tới.
Về thái độ Khóa luận: Quản lý hoạt động tại trang trại nuôi gia công lợn thịt.
- Tạo mối quan hệ thân thiện, hòa nhã với mọi người trong trang trại.
- Có trách nhiệm và nghĩa vụ hoàn thành tốt mọi công việc được
- Chủ động trong các công việc, sẵn sàng trợ giúp, hỗ trợ mọi người trong trang trại để hoàn thành tốt các công việc chung bên cạnh đó cũng tự khẳng định được năng lực của mình là một sinh viên đại học.
1.2.3 Về kỹ năng sống, kỹ năng làm việc
Kỹ năng sống
- Sống vui vẻ, hòa nhã với mọi người xung quanh tại trang trại, tại địa phương nơi mình tham gia thực tập.
- Xây dựng mối quan hệ tình cảm tốt đẹp với chủ trang trại, người lao động và những người trong gia đình chủ trang trại nơi thực tập.
- Biết lắng nghe và học hỏi từ những lời phê bình của người khác
- Giao tiếp ứng xử trung thực, lịch sự nhã nhặn, luôn giữ thái độ khiêm nhường và cầu thị.
Kỹ năng làm việc
- Biết cách tổ chức, thực hiện các công việc tại trang trại theo kế hoạch, khoa học và chuyên nghiệp. Tuân thủ giờ giấc hoạt động của trang trại.
- Có được khả năng quan sát, theo dõi những vấn đề phát sinh để cùng với chủ trang trại có biện pháp can thiệp kịp thời hạn chế thiệt hại.
- Thông qua hoạt động thực tế tại trang trại tạo cho sinh viên tác phong nhanh nhẹn, tự chịu trách nhiệm và chịu được áp lực cao trong công việc.
- Học hỏi và thực hành tỉ mỉ các công việc kỹ thuật đã được giao, sinh viên nắm bắt được những kiến thức và kỹ năng cơ bản về các kỹ thuật chăn nuôi, chăm sóc và phòng trừ dịch bệnh đối với lợn thịt nuôi tại trang trại.
- Có khả năng quản lý công việc và làm việc nhóm hiệu quả.
1.3. Nội dung và phương pháp thực hiện Khóa luận: Quản lý hoạt động tại trang trại nuôi gia công lợn thịt.
1.3.1. Nội dung thực tập
- Tìm hiểu điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của xã Cát Nê.
- Quá trình xây dựng hình thành và phát triển của trang trại.
- Tìm hiểu công tác tổ chức và quản lý sản xuất của trang trại chăn nuôi lợn thịt gia công của ông Dương Công Tuấn trên địa bàn xã Cát Nê.
- Phân tích những khó khăn, thuận lợi và các yếu tố ảnh hưởng tới tổ chức sản xuất kinh doanh của trang trại.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển các trang trại chăn nuôi lợn an toàn, hiệu quả và bền vững.
1.3.2. Phương pháp thực hiện
1.3.2.1 Phương pháp thu thập thông tin
- Thu thập số liệu thứ cấp
Thu thập những số liệu, thông tin liên quan trực tiếp và gián tiếp đến vấn đề nghiên cứu của đề tài đã được công bố chính thức của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, như lấy số liệu từ các ban ngành của huyện, xã, các báo cáo tổng kết liên quan đến trang trại, thu thập số liệu qua sách báo, tạp chí, nghị định, quyết định…
- Thu thập số liệu sơ cấp
Số liệu sơ cấp được thu thập trực tiếp từ trang trại ông Dương Công Tuấn. Để thu thập số liệu sơ cấp, tôi sử dụng các phương pháp chủ yếu sau:
Phương pháp điều tra trực tiếp chủ trang trại và cán bộ Công ty CP Việt Nam: Điều tra những thông tin cơ bản như: Loại hình trang trại, số lao động, diện tích đất đai, vốn sản xuất. Những thông tin về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của trang trại như: Tình hình các khoản chi phí, các khoản thu cả hiện vật và giá trị. Những thông tin về ý kiến, nguyện vọng, nhu cầu, thuận lợi, khó khăn của trang trại. Các yếu tố sản xuất như: Vốn, kỹ thuật, lao động, giá cả thị trường. Những thông tin về tình hình sản xuất kinh doanh của Công ty CP Việt Nam như: yếu tố đầu vào, đầu ra Công ty cung cấp, hỗ trợ cho trang trại.
- Phương pháp tiếp cận có sự tham gia:
Trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất của trang trại như: Dọn dẹp, vệ sinh chuồng nuôi, chăm sóc lợn, kiểm cám, kiểm thuốc từ đó đánh giá được những thuận lợi, khó khăn mà trang trại gặp phải trong quá trình phòng dịch cũng như hoạt động sản xuất kinh doanh của trang trại. Khóa luận: Quản lý hoạt động tại trang trại nuôi gia công lợn thịt.
- Phương pháp quan sát:
Tiến hành quan sát trực tiếp khi tham gia các hoạt động phòng dịch của trang trại, phỏng vấn, điều tra trang trại, nhằm có cái nhìn tổng quát về trang trại, đồng thời cũng là những tư liệu để đánh giá độ chính xác các thông tin mà chủ trang trại cung cấp.
- Phương pháp thảo luận:
Cùng với chủ trang trại, cán bộ kỹ thuật thảo luận về những vấn đề khó khăn, tồn tại trang trại đang gặp phải như: Vốn, lao động, thị trường, chính sách của nhà nước từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển tổ chức sản xuất của trang trại trong những năm tới.
1.3.2.2 Phương pháp xử lý và phân tích thông tin
Phương pháp xử lý thông tin: Những thông tin, số liệu thu thập được tổng hợp, đồng thời được xử lý thông qua chương trình Việc xử lý thông tin là cơ sở cho việc phân tích.
Phương pháp phân tích thông tin: Toàn bộ số liệu thu thập được tổng hợp, tính toán từ đó phân tích hiệu quả, đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đên kết quả sản xuất kinh doanh của trang trại (vốn, đất đai, lao động, trình độ quản lý). Hạch toán các khoản chi, các khoản thu của trang trại làm cơ sở cho định hướng đưa ra các giải pháp cho sự phát triển của kinh tế trang trại.
- Chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất
Hệ thống chỉ tiêu về kết quả sản xuất kinh doanh của trang trại như: giá trị sản xuất, chi phí trung gian, giá trị gia tăng, cụ thể là:
Giá trị sản xuất (Gross Output): là giá trị bằng tiền của sản phẩm sản xuất ra ở trang trại bao gồm phần giá trị để lại để tiêu dùng và giá trị bán ra thị trường sau một chu kỳ sản xuất thường là một năm. Được tính bằng sản lượng của từng sản phẩm nhân với đơn giá sản phẩm. Chỉ tiêu này được tính như sau: GO = ∑ Pi.Qi
Trong đó: GO: giá trị sản xuất
- Pi: giá trị sản phẩm hàng hóa thứ i
- Qi: lượng sản phẩm thứ i
Chi phí trung gian (Intermediate Cost) là toàn bộ các khoản chi phí vật chất bao gồm các khoản chi nguyên vật liệu, giống, chi phí dịch vụ thuê ngoài. Chỉ tiêu này được tính như sau: IC = ∑ Cij
Trong đó:
- IC: là chi phí trung gian
- Cij: là chi phí thứ i cho sản phẩm thứ j
Giá trị gia tăng (Value Added) là giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ cho các ngành sản xuất kinh doanh. Chỉ tiêu này được xác định theo công thức: VA = GO – IC Khóa luận: Quản lý hoạt động tại trang trại nuôi gia công lợn thịt.
Trong đó:
- VA : giá trị gia tăng GO: giá trị sản xuất
- IC : chi phí trung gian
Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế
- + GO/IC
- + VA/IC
Phương pháp trích khấu hao tài sản cố định theo phương pháp đường thẳng:
Khấu hao TSCĐ: Là phần giá trị của TSCĐ bị hao mòn trong quá trình sản xuất ra sản phẩm phải được trích rút để đưa vào chi phí sản xuất hàng năm và được xác định theo công thức.
1.4. Nhiệm vụ của sinh viên tại cơ sở thực tập
Tham gia trực tiếp vào quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, đối với trang trại có thể đừng 1 chuồng theo ý kiến của chủ trang trại giao, tham gia trực tiếp vào các quá trình phòng dịch như: tiêm lợn bằng xi lanh, tự điều chỉnh quạt thông gió, cho cám lợn ăn,…
Làm đúng giờ, đúng những quy định của trang trại, không tự ý làm sai trái quy định của trang trại.
1.5. Thời gian và địa điểm thực tập
- Thời gian: Từ ngày 01/01/2019 đến ngày 30/05/2019.
- Địa điểm: Trang trại lợn thịt gia công Dương Công Tuấn – xã Cát Nê – huyện Đại Từ – tỉnh Thái Nguyên.
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Về cơ sở lý luận
2.1.1. Các khái niệm có liên quan
2.1.1.1. Khái niệm tổ chức sản xuất
Tổ chức sản xuất là sự bố trí các công đoạn các khâu trong cả dây chuyền nhằm thực hiện chu trình kinh doanh từ “đầu vào” đến “đầu ra” [13]. Khóa luận: Quản lý hoạt động tại trang trại nuôi gia công lợn thịt.
Tổ chức sản xuất là sự bố trí các công đoạn, các khâu nhằm tạo ra năng suất, chất lượng cao hơn, nhịp độ sản xuất nhanh hơn, tận dụng và huy động tối đa các nguồn lực vật chất vào sản xuất, giảm chi phí sản xuất một đơn vị đầu ra tới mức thấp nhất, rút ngắn thời gian sản xuất sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ [13].
2.1.1.2 Khái niệm trang trại và kinh tế trang trại
- Khái niệm trang trại
Trang trại là một hình thức tổ chức sản xuất cơ sở trong nông nghiệp (bao gồm cả nông, lâm, ngư nghiệp) mà tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của một người chủ độc lập. Sản xuất được tiến hành với quy mô ruộng đất và các yếu tố sản xuất tập trung đủ lớn cùng phương thức tổ chức quản lý sản xuất tiến bộ và trình độ kỹ thuật cao, hoạt động tự chủ để sản xuất ra các loại sản phẩm hàng hoá phù hợp với yêu cầu đặt ra của cơ chế thị trường [3].
- Khái niệm kinh tế trang trại
Theo Nghị quyết số 03/2000/NQ – CP ngày 02/02/2000 về kinh tế trang trại của Chính phủ, “Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp, nông thôn, chủ yếu dựa vào hộ gia đình, nhằm mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, trồng rừng, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông, lâm, thuỷ sản ” [4].
Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp, nông thôn, chủ yếu dựa vào hộ gia đình, nhằm mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, trồng rừng, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông, lâm, thuỷ sản [11].
2.1.1.3 Khái niệm kinh tế trang trại chăn nuôi
Kinh tế trang trại chăn nuôi là một nền sản xuất kinh tế trong nông nghiệp với nông sản hàng hoá là sản phẩm của chăn nuôi đại gia súc, gia cầm… Đó là tổng thể các mối quan hệ kinh tế của các tổ chức sản xuất hoạt động kinh doanh nông nghiệp, xét ở phạm vi chăn nuôi. Bao gồm các hoạt động trước và sau sản xuất nông sản hàng hoá xung quanh các trục trung tâm là hệ thống các trang trại chăn nuôi ở các vùng kinh tế khác nhau.
Kinh tế trang trại chăn nuôi cũng là sản phẩm của thời kỳ công nghiệp hoá, quá trình hình thành và phát triển các trang trại gắn liền với quá trình công nghiệp hoá từ thấp đến cao, tỷ trọng hàng hoá từ thấp đến cao cũng như trình độ sản xuất, quy mô và năng lực sản xuất đáp ứng được nhu cầu sản phẩm hàng hoá như thịt, trứng, sữa… trên thị trường, phù hợp với sự phát triển kinh tế thị trường hiện nay.
Kinh tế trang trại chăn nuôi là một nền tảng lớn của một hệ thống kinh tế trang trại nói chung, là một bộ phận của nền sản xuất trong nông nghiệp, khác với các ngành sản xuất khác: lâm nghiệp hay thuỷ sản phụ thuộc nhiều vào điều kiện đất đai, khí tượng và thời tiết nhưng đối với chăn nuôi đó chỉ là những ảnh hưởng tác động đến vật nuôi, nó phụ thuộc chính vào điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng của trang trại. Sản phẩm của chăn nuôi phục vụ trực tiếp nhu cầu tiêu dùng của đại đa số người dân trong cả nước. Khóa luận: Quản lý hoạt động tại trang trại nuôi gia công lợn thịt.
2.1.1.4 Bản chất của kinh tế trang trại nói chung và kinh tế trang trại chăn nuôi nói riêng
- Bản chất của trang trại nói chung
Kinh tế trang trại là một đơn vị sản xuất kinh doanh cơ sở trực tiếp sản xuất trồng trọt trên đồng ruộng và chăn nuôi trang chuồng trại với quy mô lớn, trình độ sản xuất và quản lý tiến bộ… Là hình thức tổ chức sản xuất cơ sở trong nông, lâm nghiệp và thuỷ sản với mục đích chính là sản xuất ra hàng hoá để cung ứng ra thị trường. KTTT Là hình thức sản xuất nông nghiệp theo nghĩa rộng bao gồm: Nông – Lâm – Thủy sản có mục đích chính là sản xuất hàng hóa, tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hay sử dụng của một chủ trang trại sản xuất được tiến hành trên quy mô ruộng đất với các yếu tố sản xuất chung đủ lớn, trình độ kỹ thuật cao hơn, phương thức tổ chức sản xuất tiến bộ gắn với thị trường có hạch toán kinh tế theo kiểu doanh nghiệp.
- Bản chất của kinh tế trang trại chăn nuôi nói riêng
Kinh tế trang trại chăn nuôi là một đơn vị kinh doanh cơ sở trực tiếp sản xuất về chăn nuôi trong chuồng trại với quy mô lớn, trình độ sản xuất và quản lý tiến bộ, là hình thức sản xuất với mục đích chủ yếu là sản xuất hàng hoá là các sản phẩm chăn nuôi để cung ứng ra thị trường, tỷ trọng hàng hoá chiếm từ 70 đến 80% trở lên, đáp ứng được sản phẩm hàng hoá ra thị trường trong và ngoài nước.
2.1.1.5 Vai trò, đặc trưng của kinh tế trang trại
- Vai trò và vị trí của kinh tế trang trại
Ở các nước phát triển, trang trại gia đình là loại hình tổ chức sản xuất trang trại chủ yếu, có vị trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống kinh tế nông nghiệp, có vai trò to lớn và quyết định trong sản xuất nông nghiệp, là lực lượng sản xuất ra phần lớn sản phẩm nông nghiệp trong xã hội, tiêu thụ sản phẩm cho các ngành công nghiệp, cung cấp nguyên liệu cho chế biến và thương nghiệp.
Trong điều kiện nước ta, vai trò và hiệu quả phát triển kinh tế của trang trại được đánh giá, nhìn nhận trên cả ba mặt đó là: hiệu quả về kinh tế, xã hội và môi trường. Khóa luận: Quản lý hoạt động tại trang trại nuôi gia công lợn thịt.
- Sự hình thành và phát triển kinh tế trang trại có vai trò cực kỳ to lớn được biểu hiện:
Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất lấy việc khai thác tiềm năng và lợi thế so sánh phục vụ nhu cầu xã hội làm phương thức sản xuất chủ yếu. Vì vậy, nó cho phép huy động khai thác, đất đai sức lao động và nguồn lực khác một cách đầy đủ, hợp lý và có hiệu quả. Nhờ vậy nó góp phần thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế trong nông nghiệp nông thôn nói riêng và phát triển kinh tế xã hội nói chung.
Trang trại với kết quả và hiệu quả sản xuất cao, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển các loại cây trồng vật nuôi có giá trị hàng hoá cao, khắc phục dần tình trạng manh mún tạo vùng chuyên môn hoá cao, đẩy nhanh nông nghiệp sang sản xuất hàng hoá.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trang trại tạo ra nhiều nông sản, nhất là các nông sản làm nguyên liệu cho công nghiệp. Vì vậy trang trại góp phần thúc đẩy công nghiệp nhất là công nghiệp chế biến và dịch vụ sản xuất ở nông thôn phát triển.
Kinh tế trang trại là đơn vị sản xuất có quy mô lớn hơn kinh tế hộ, vì vậy có khả năng áp dụng hiệu quả các thành tựu khoa học và công nghệ vào sản xuất, nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực.
Với cách thức tổ chức sản xuất và quản lý kinh doanh tiên tiến, trang trại là nơi tiếp nhận và truyền tải các tiến bộ khoa học công nghệ đến hộ nông dân thông qua chính hoạt động sản xuất của mình.
Về mặt kinh tế: Kinh tế trang trại đã tạo ra bước chuyển biến về giá trị sản phẩm hàng hóa và thu nhập của trang trại vượt trội hẳn so với kinh tế hộ, khắc phục tình trạng sản xuất phân tán, manh mún tạo nên những vùng chuyên môn hóa, tập trung hàng hóa và thâm canh cao. Mặt khác qua thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, trang trại góp phần thúc đẩy phát triển công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến và dịch vụ sản xuất ở nông thôn, góp phần tích cực thúc đẩy sự phát triển của nông nghiệp và kinh tế nông thôn.
Về mặt xã hội: Phát triển kinh tế trang trại làm tăng hộ giàu ở nông thôn, tạo thêm việc làm và tăng thu nhập cho người lao động và dân cư ở nông thôn, góp phần thúc đẩy phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn là tấm gương cho các hộ nông dân về cách thức tổ chức sản xuất kinh doanh tiên tiến và có hiệu quả. Tất cả những vấn đề đó góp phần quan trọng giải quyết các vấn đề kinh tế – xã hội ở nông thôn. Khóa luận: Quản lý hoạt động tại trang trại nuôi gia công lợn thịt.
Về mặt môi trường: Phát triển kinh tế trang trại góp phần cải tạo và bảo vệ môi trường sinh thái. Thực hiện phát triển kinh tế trang trại nước ta đã đem lại nhiều kết quả về kinh tế xã hội và môi trường. Nhưng phát triển kinh tế trang trại ở nước ta phải phù hợp với điều kiện tự nhiên kinh tế từng vùng và từng địa phương. Nhất là những vùng địa phương có điều kiện đất đai và điều kiện sản xuất hàng hoá.
2.1.1.6 Đặc trưng của kinh tế trang trại nói chung và kinh tế trang trại chăn nuôi nói riêng
- Đặc trưng của kinh tế trang trại nói chung
Trong điều kiện kinh tế thị trường, trang trại là một đơn vị kinh tế tự chủ với đặc trưng chủ yếu sau:
Tư liệu sản xuất mà trước hết là ruộng đất và vốn được tập chung theo yêu cầu của sản xuất hàng hóa.
Người chủ trang trại có ý chí, có hiểu biết chuyên môn kỹ thuật và có khả năng nhất định về tổ chức quản lí sản xuất kinh doanh nông nghiệp.
Các trang trại đều có thể thuê mướn lao động. Có 2 hình thức thuê mướn lao động trong các trang trại đó là lao động thường xuyên và lao động thời vụ. Trong hình thức thuê lao động thường xuyên, trang trại thuê người lao động ổn định quanh năm, còn hình thức thuê lao động thời vụ, trang trại chỉ thuê người lao động làm việc theo thời vụ sản xuất.
- Đặc trưng của kinh tế trang trại chăn nuôi:
Kinh tế trang trại chăn nuôi có đặc trưng là sản xuất sản phẩm hàng hóa, mà sản phẩm của nó là các loại thịt, trứng, sữa,… đáp ứng nhu cầu của thị trường, như vậy để đáp ứng được nhu cầu thị trường thì quy mô trang trại chăn nuôi phải ở mức độ tương đối lớn, khác biệt với hộ gia đình.
Kinh tế trang trại chăn nuôi sản xuất các sản phẩm thịt, trứng, sữa… trong điều kiện kinh tế thị trường thời kỳ công nghiệp hoá nên mọi hoạt động sản xuất kinh doanh đều xuất phát nhu cầu thị trường. Chính vì vậy tất cả các yếu tố đầu vào như vốn, lao động, giống, khoa học công nghệ… cũng như các yếu tố đầu ra như sản phẩm thịt, trứng, sữa… đều là sản phẩm hàng hoá.
Do đặc trưng sản xuất hàng hoá ngành chăn nuôi chi phối mà phải đòi hỏi tạo ra ưu thế cạnh tranh trong sản xuất và kinh doanh, để thực hiện yêu cầu tái sản xuất mở rộng, hoạt động kinh tế trang trại chăn nuôi theo xu thế tích tụ, tập trung sản xuất kinh tế ngày càng cao, tạo ra tỷ xuất hàng hoá cao, khối lượng hàng hoá ngày càng nhiều, chất lượng tốt. Đi đôi với việc tập trung, nâng cao năng lực sản xuất của từng trang trại còn diễn ra xu thế tập trung các trang trại thành các vùng chuyên môn hoá về từng loại như vùng chuyên canh nuôi đại gia súc như: trâu, bò… vùng thì chuyên môn hoá nuôi lợn nái sinh sản, lợn thịt, với mục đích tạo ra khối lượng hàng hoá lớn. Khóa luận: Quản lý hoạt động tại trang trại nuôi gia công lợn thịt.
Kinh tế trang trại chăn nuôi cũng có nhiều loại hình khác nhau trong đó trang trại gia đình vẫn là phổ biến, có đặc trưng rất linh hoạt trong từng hoạt động, vì có thể dung nạp các trình độ sản xuất khác nhau về xã hội hoá, chuyên môn hoá. Dung nạp các quy mô sản xuất trang trại chăn nuôi khác nhau như các trang trại chăn nuôi nhỏ, vừa và lớn và thậm chí đến cực lớn. Dung nạp các cấp độ công nghệ sản xuất khác nhau từ thô sơ đến hiện đại, riêng biệt hoặc đan xen. Liên kết các loại hình kinh tế khác nhau cá thể, tư nhân, hợp tác quốc doanh…Với các hình thức hợp tác sản xuất kinh doanh đa dạng. Chính vì vậy mà kinh tế trang trại chăn nuôi có khả năng thích ứng với các nước đang phát triển và ở các nước công nghiệp phát triển.
Kinh tế trang trại chăn nuôi có đặc trưng là tạo ra năng lực sản xuất cao về nông sản hàng hoá mà chủ yếu là sản phẩm thịt, trứng, sữa… do đặc điểm về tính chất quản lý sản xuất kinh doanh của trang trại quyết định. Chủ trang trại là người có ý chí, có năng lực tổ chức quản lý, có kiến thức và có kinh nghiệm trong sản xuất chăn nuôi, cũng như kinh doanh trong cơ chế thị trường.
- Tiêu chí định lượng để xác định kinh tế trang trại
Theo quy định tại Điều 5 Thông tư số 27/2011/TT – BNNPTNT ngày 13/04/2011 của Bộ NN – PTNT quy định về tiêu chí và thủ tục cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại [1].
Cá nhân, hộ gia đình sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản đạt tiêu chuẩn kinh tế trang trại thỏa mãn điều kiện sau:
- Đối với cơ sở trồng trọt, nuôi trồng thủy sản, sản xuất tổng hợp
Có diện tích trên mức hạn điền, tối thiểu:
- 3,1 ha đối với vùng Đông Nam Bộ và ĐBSCL.
- 2,1 ha đối với các tỉnh còn lại.
Giá trị sản lượng hàng hóa đạt 700 triệu đồng/năm
- Đối với cơ sở chăn nuôi
Giá trị sản lượng hàng hóa từ 1 tỷ đồng/năm trở lên.
- Đối với cơ sở sản xuất lâm nghiệp
Diện tích tối thiểu 31 ha và giá trị sản lượng hàng hóa bình quân đạt 500 triệu đồng/năm trở lên.
2.1.2. Các chính sách khuyến khích, hỗ trợ cho phát triển kinh tế trang trại Khóa luận: Quản lý hoạt động tại trang trại nuôi gia công lợn thịt.
Trong quá trình phát triển, các trang trại đã nhận được nhiều cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển, như các chính sách về đất đai, chính sách giao rừng, cho thuê rừng trồng là rừng sản xuất, chính sách về thuế, chính sách khuyến nông, tín dụng, lao động – đào tạo, thị trường, vệ sinh môi trường… Từ khi có cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển kinh tế, các trang trại đã chủ động tiếp cận được các chính sách để củng cố, phát triển kinh tế trang trại.
Trong năm 2015, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã soạn thảo Quyết định về chính sách khuyến khích phát triển kinh tế trang trại trình Thủ tướng Chính phủ ban hành:
Tại dự thảo Quyết định về chính sách khuyến khích phát triển kinh tế trang trại, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã đề xuất nhiều chính sách hỗ trợ trang trại như: Hỗ trợ thành lập khu trang trại, hỗ trợ về đất đai, hỗ trợ xây dựng hạ tầng…
Cụ thể, đối với việc hỗ trợ thành lập khu trang trại, tùy theo điều kiện của địa phương, UBND xã quy hoạch khu phát triển kinh tế trang trại và cho thuê đất làm kinh tế trang trại theo quy định hiện hành. Ngân sách nhà nước hỗ trợ đầu tư xây dựng đường, hệ thống cấp thoát nước tới khu trang trại.
Dự thảo nêu rõ, UBND cấp xã lập dự án, báo cáo dự án lên UBND cấp huyện phê duyệt và hỗ trợ từ nguồn ngân sách địa phương.
Về đất đai, theo dự thảo, chủ trang trại được cấp có thẩm quyền cho thuê đất ổn định lâu dài từ quỹ đất của địa phương hoặc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai hiện hành.
Bên cạnh đó, ngân sách nhà nước hỗ trợ một lần theo dự án 50% chi phí làm đường, xây dựng hệ thống điện đến chân hàng rào trang trại. Mức hỗ trợ tối đa không quá 2 tỷ đồng/trang trại.
Chủ trang trại cũng được ngân sách nhà nước hỗ trợ một lần theo hợp đồng 50% tiền thuê cán bộ hướng dẫn kỹ thuật, chuyển giao công nghệ và kỹ thuật sản xuất tiên tiến, tư vấn xây dựng dự án/phương án kinh doanh. Mức hỗ trợ không quá 100 triệu đồng/trang trại/2 năm đầu. Khóa luận: Quản lý hoạt động tại trang trại nuôi gia công lợn thịt.
Ngân sách nhà nước hỗ trợ một lần, 100% chi phí cấp giấy chứng nhận và chi phí áp dụng quy trình thực hành nông nghiệp tốt (VietGAP) hoặc quy trình thực hành nông nghiệp tốt khác đối với từng trang trại hoặc hợp tác xã của các chủ trang trại.
Theo dự thảo, Nhà nước khuyến khích trang trại xây dựng thương hiệu riêng hoặc tham gia xây dựng thương hiệu của hợp tác xã của các chủ trang trại. Ngân sách nhà nước hỗ trợ 50% chi phí tham gia hội trợ, triển lãm giới thiệu sản phẩm nông nghiệp đối với các trang trại hoặc hợp tác xã trang trại.
Ngoài ra, theo dự thảo, trang trại trồng rừng sản xuất được Ngân sách nhà nước hỗ trợ một lần chi phí cấp giấy chứng chỉ rừng bền vững, với mức 200.000 đồng/ha nếu trồng rừng nguyên liệu gỗ lớn. Trang trại nuôi trồng thủy sản được ngân sách nhà nước hỗ trợ một lần đến 30% kinh phí xây dựng các hạng mục công trình xử lý nước thải, ao lắng. Mức hỗ trợ không quá 300 triệu đồng/trang trại; hỗ trợ 50% chi phí lồng bè của trang trại nuôi thủy sản trên biển.
Dự thảo nêu rõ, UBND cấp tỉnh căn cứ vào điều kiện cụ thể của địa phương ban hành chính sách hỗ trợ bổ sung cho trang trại trên địa bàn. Nhà nước khuyến khích thành lập các hiệp hội, hợp tác xã của các chủ trang trại.
Hai trong số nhiều chính sách quan trọng đã ban hành có tác động ảnh hưởng lớn đến kinh tế trang trại cần đặc biệt quan tâm:
Thông tư số 27/2011/TT-BNN&PTNT: Thông tư số 27/2011/TT-BNN&PTNT ngày 13/4/2011 của Bộ Nông nghiệp và PTNT quy định về tiêu chí và thủ tục cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại. Thông tư có hiệu lực từ ngày 28/05/2011
Nghị định số 55/2015/NĐ-CP: Nghị định số 55/2015/NĐ-CP ngày 9/6/2015 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn. Nghị định có hiệu lực từ ngày 25/7/2015.
2.2. Cơ sở thực tiễn Khóa luận: Quản lý hoạt động tại trang trại nuôi gia công lợn thịt.
2.2.1. Tình hình phát triển kinh tế trang trại ở Việt Nam
Khu vực nông nghiệp ở nước ta hiện nay có gần 11 triệu hộ nông dân, chủ yếu sản xuất ở quy mô nhỏ lẻ, phân tán, giá trị sản xuất thấp và có nhiều rủi ro. Tuy nhiên trong số đó có số hộ nông dân tổ chức phát triển sản xuất với quy mô lớn hơn theo hướng sản xuất tập trung, áp dụng khoa học công nghệ và mang lại giá trị kinh tế cao, ít rủi ro hơn. Đây chính là các hộ gia đình, cá nhân phát triển theo hướng kinh tế trang trại. Trong thực tiễn sản xuất, các mô hình kinh tế trang trại làm ăn có hiệu quả, đã đóng góp quan trọng cho sự phát triển nền kinh tế nông nghiệp của đất nước. Do đó Đảng và Nhà nước có chủ trương khuyến khích, thúc đẩy phát triển mạnh kinh tế trang trại trong trong thời gian tới. Theo báo cáo của các địa phương, trên địa bàn cả nước hiện có khoảng 29.500 trang trại. Trong đó, có 8.800 trang trại trồng trọt (chiếm 29,83%), 10.974 trang trại chăn nuôi (chiếm 37,20%), 430 trang trại lâm nghiệp (chiếm 1,46%), 5.268 trang trại thủy sản (chiếm 17,86%) và 4.028 trang trại tổng hợp (chiếm 13,66%). Số lượng trang trại đã tăng 9.433 trang trại so với năm 2011. Tuy nhiên các địa phương mới chỉ cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại cho 6.247 trang trại [2].
Các trang trại phân bố nhiều ở khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long (6.911 trang trại, chiếm 30%) chủ yếu sản xuất thủy sản và trái cây, Đông Nam Bộ (6.115 trang trại, chiếm 21%) chủ yếu là chăn nuôi, Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung (5.693 trang trại, chiếm 20%) chủ yếu kinh doanh tổng hợp, Đồng bằng Sông Hồng (5.775 trang trại, chiếm 19,5%) chủ yếu là chăn nuôi, Trung du và miền núi phía Bắc (2.063 trang trại, chiếm 7%) chủ yếu là chăn nuôi và lâm nghiệp [2].
Quy mô diện tích đất bình quân của các trang trại hiện nay về trồng trọt là 12 ha/trang trại, chăn nuôi là 2 ha/trang trại, tổng hợp là 8 ha/trang trại, lâm nghiệp là 33 ha/trang trại, thủy sản là 6 ha/trang trại. Trong quá trình tổ chức sản xuất cho thấy một số trang trại thực hiện tích tụ ruộng đất nên quy mô diện tích lớn, đặc biệt có trang trại có tới trên 100 ha. Nhiều trang trại đã áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất như sản xuất an toàn, sản xuất sạch, công nghệ cao, nên tạo ra năng suất và chất lượng cao và hiệu quả kinh tế. Theo báo cáo của các địa phương, thu nhập bình quân của trang trại đạt 02 tỷ đồng/năm, đã tạo thêm công ăn việc làm cho lao động ở địa phương, mỗi trang trại bình quân giải quyết được khoảng 8 lao động, có nhiều trang trại thu hút được hàng trăm lao động.
Có thể khẳng định kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất tiên tiến của kinh tế hộ, mang lại hiệu quả cao cho sản xuất nông nghiệp do đó cần có chính sách phát triển. Khóa luận: Quản lý hoạt động tại trang trại nuôi gia công lợn thịt.
- Tuy nhiên kinh tế trang trại ở nước ta vẫn còn một số tồn tại và hạn chế cần được giải quyết sau:
Về quy mô và số lượng: Số lượng trang trại hiện nay tăng chậm và phân bố không đều giữa các vùng trong cả nước. Khu vực Trung du miền núi phía Bắc là nơi có diện tích đất đai rộng nhưng số lượng trang trại ít, trong khi đó khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long, Đông Nam Bộ lại tập trung nhiều trang trại thì quy mô diện tích lại thấp, việc phân bố này cũng không đồng đều ở các vùng và các lĩnh vực.
Về giá trị sản xuất: Mặc dù giá trị sản xuất hàng hóa bình quân một trang trại tương đối lớn (trung bình 02 tỷ đồng/trang trại) nhưng số có thu nhập cao chỉ tập trung ở một số loại hình trang trại chăn nuôi, thủy sản còn các loại hình trang trại trồng trọt, lâm nghiệp, kinh doanh tổng hợp giá trị sản xuất thấp, do chất lượng sản phẩm chưa cao, sản phẩm bán ra chủ yếu dưới dạng thô hoặc tươi sống, chưa qua chế biến nên giá bán thấp, sức cạnh tranh yếu, nhiều chủ trang trại chưa nắm bắt được nhu cầu thị trường nên sản xuất thụ động.
Về khoa học công nghệ: Số lượng trang trại ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất, chế biến bảo quản còn hạn chế mới chỉ tập trung ở một số lĩnh vực và khu vực nhất định.
Sản xuất của các trang trại chưa thật sự bền vững: phần lớn chất lượng sản phẩm chưa được quản lý chặt chẽ. Ô nhiễm môi trường do nước thải, chất thải không được xử lý. Quy mô sản xuất càng lớn nguy cơ ô nhiễm càng tăng, nhất là đối với các trang trại chăn nuôi và thủy sản.
Trình độ quản lý và sản xuất của các chủ trang trại: Chủ trang trại chủ yếu là nông dân, không được đào tạo chuyên môn về quản lý, kỹ thuật nên khả năng quản lý sản xuất, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, liên kết tiêu thụ nông sản còn nhiều hạn chế, chủ yếu là dựa vào kinh nghiệm thực tế. Lực lượng lao động của các trang trại chưa được đào tạo nghề cơ bản lao động chưa được đào tạo nghề, tập huấn nghiệp vụ chuyên môn.
Việc cơ giới hóa trong nông nghiệp: Chưa được chú trọng do trang trại chủ yếu quy mô nhỏ, dẫn đến sử dụng nhiều lao động, hiệu quả thấp.
2.2.2. Kinh nghiệm của địa phương khác Khóa luận: Quản lý hoạt động tại trang trại nuôi gia công lợn thịt.
- Mô hình trang trại nuôi lợn của ông Võ Văn Ba ở ấp 2, xã Trung Ba, 2 thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang
Gia đình ông Võ Văn Ba có điều kinh tế kho khăn, năm 1980 khi rời quân ngũ về địa phương vợ chồng ông chỉ có 4 công đất trồng lúa và hoa màu, thu nhập bấp bênh. Hằng ngày, ông phải chịu khó đi làm thuê, làm mướn để kiếm thêm nguồn thu nhập cho gia đình. Để cải thiện cuộc sống gia đình, ông dành dụm tiền mua lợn nuôi. Từ 1-2 con lợn nuôi thả trong vườn, dần dần gia đình ông nhân rộng ra được vài chục con. Đến năm 2000, khi có nguồn vốn khá, gia đình ông Võ Văn Ba bắt đầu xây chuồng nuôi lợn kiểu trang trại. Dù qua bao thăng trầm do giá cả lên xuống, dịch bệnh hoành hành nhưng đàn lợn của ông năm sau nhiều hơn năm trước. Đến nay, trang trại lợn này có diện tích gần 2.000 mét vuông, nuôi hơn 500 con lợn; trong đó có khoảng 80 con lợn nái. Số lợn nái sinh con, đều được ông để lại để nuôi bán lợn thịt. Nhờ vậy mà ông không tốn nguồn vốn mua lợn con, thường giá rất cao.
Để chăn nuôi đạt hiệu quả cao, ông Võ Văn Ba chịu khó đi dự các lớp chuyển giao khoa học kỹ thuật chăn nuôi, nghiên cứu từ báo, đài, đi tham quan các mô hình chăn nuôi lợn tiên tiến do Hội nông dân xã tổ chức. Ngoài ra ông còn động viên một người con gái đi học trung cấp thú y để phục vụ chăn nuôi. Qua thời gian chăn nuôi, trại lợn của gia đình ông Ba có nhiều đợt bị rủi ro do dịch bệnh. Có đợt ông phải thua lỗ hàng trăm triệu đồng. Tuy vậy, ông không hề chán nản, mỗi lần thất bại là người nông dân này rút ra bài học kinh nghiệm để chăn nuôi đạt hiệu quả cao hơn. Gần đây, tháng nào trại lợn này cũng xuất chuồng được từ 50-60 con lợn thịt. Mỗi năm, trại nuôi lợn của ông Võ Văn Ba đã cung cấp cho thị trường trên 100 tấn lợn thịt, đem lại nguồn thu nhập khoảng 500 triệu đồng, cho lãi 50%. Trang trại nuôi lợn của ông Ba có quy mô lớn, nhưng nhờ áp dụng khí sinh học và thường xuyên làm vệ sinh chuồng trại nên giảm thiểu được ô nhiễm môi trường và ít bị dịch bệnh. Các hầm biogas của trại lợn, ông có hệ thống xử lý để phục vụ cho sinh hoạt, đun nấu cho gia đình và hơn 10 hộ dân lân cận. Đặc biệt để giữ vững thương hiệu đàn lợn thương phẩm, ông Võ Văn Ba không chấp nhận sử dụng chất cấm. Thức ăn mua vào đều được ông chọn các doanh nghiệp sản xuất có uy tín. Ông nuôi lợn thành công nhưng không giấu nghề, luôn tận tình giúp đỡ kỹ thuật chăn nuôi lợn khi nông dân địa phương cần hỗ trợ. Thời gian qua, ông còn cho hơn 100 sinh viên từ trường Đại học Cần Thơ, Đại học Trà Vinh, Đại học Cửu Long… đến thực tập, học hỏi kinh nghiệm chăn nuôi lợn. Các em được người nông dân này hướng dẫn tận tình như là người thầy thứ 2. Mô hình chăn nuôi lợn của ông Ba là trang trại lớn, được Sở NN&PTNT đánh giá kết quả về xử lý môi trường, hàng năm được cấp giấy chứng nhận. Việc xử lý hầm biogas từ phế thải chăn nuôi của trang trại vừa tiết kiệm cho chi phí sinh hoạt vừa đảm bảo vệ sinh môi trường, So với một số vật nuôi khác, con lợn nuôi rất khó do đầu ra bấp bênh, hay bị rủi ro do bệnh dịch, ít có nông dân nào “chung thủy” với vật nuôi này. Tuy vậy, do có hàng chục năm kinh nghiệm trong lĩnh vực này, ông Võ Văn Ba đã thành công và trở thành tỉ phú từ chăn nuôi lợn.
- Mô hình trang trại nuôi lợn của ông Nguyễn Ngọc Anh ở thị trấn Bắc Sơn, huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn
Mô hình chăn nuôi nhỏ lẻ theo hình thức cũ có khả năng gặp nhiều hạn chế, khó khăn như vốn, chất lượng con giống, kiểm soát dịch bệnh và tiêu thụ sản phẩm. Trong khi đó, mô hình chăn nuôi gia công trong thời gian qua đã chứng minh được hiệu quả thực sự và mang lại lợi ích tốt cho người nông dân điển hình là ông Nguyễn Ngọc Anh trú tại thị trấn Bắc Sơn, Bắc Sơn, Lạng Sơn. Khóa luận: Quản lý hoạt động tại trang trại nuôi gia công lợn thịt.
Tiếp xúc nhiều với các lái buôn lợn, Anh thấy trên địa bàn tỉnh nhu cầu lợn thịt sạch hàng ngày khá cao, trong khi đã quen nhiều với mối làm ăn nên nẩy sinh ý định chăn nuôi lợn. Nghĩ là làm, giữa năm 2015, Ngọc Anh vay mượn tiền đầu tư xây dựng khu chuồng trại chăn nuôi rộng gần 1.000 m2 cách xa khu dân cư, ban đầu cũng có nhiều người nghi ngờ khả năng thành công nhưng anh không lung lay quyết tâm thành công của mình, anh xây khu chăn nuôi thành 2 tầng, tầng dưới nuôi nhốt hơn 100 con gà và tầng trên phân khu cho lợn nái lợn con và lợn thịt.
Trước khi xây khu nuôi lợn anh đã dùng thời gian xuống các tỉnh miền xuôi tham quan học hỏi kinh nghiệm từ mô hình trang trại thành công, anh tự tìm kiếm tài liệu, đọc kỹ về các chứng bệnh của lợn, cách phòng tránh, chăm sóc cho lợn theo đúng khoa học, bên cạnh đó anh liên hệ sẵn đầu ra khi lợn đủ cân xuất chuồng nên rất tự tin về tương lai của trang trại mình làm.
Mùa hè anh lắp thêm quạt bạt chống nóng và tấm làm mát có quạt hút gió 1 đầu để tránh nóng cho đàn lợn, mỗi ngày 2 lần anh xuống chăm sóc cho đàn lợn ăn và tranh thủ tắm cho chúng, sau khi tìm hiểu về các giống lợn Ngọc Anh xuống công ty chọn các giống lợn có đặc điểm phát triển phù hợp với điều kiện khí hậu tại địa phương và tổ chức tiêm phòng bệnh cho lợn cẩn thận. do trang trại mới bắt tay vào làm nên chỉ có 2 vợ chồng anh đánh vật cùng đàn lợn, chuồng trại lúc nào cũng được giữ vệ sinh thông thoáng, sạch sẽ không có mùi hôi và không tạo môi trường phát sinh dịch bệnh. Đàn lợn của anh hồng hào khỏe mạnh rất được khách hàng ưu chuộng, người dân quanh vùng cũng tìm đến mua lợn con sau khi thấy trang trại chăn nuôi làm ăn khấm phá, lợn lớn nhanh.
Về thức ăn chăn nuôi: ngoài chăn nuôi bằng cám, Ngọc Anh còn thu mua ngô của bà con mỗi dịp mùa vụ để nghiền cho lợn ăn cùng.
Hiện ông chủ mới 28 tuổi này đang xây dựng thêm 1 khu chăn nuôi nhốt riêng lợ chửa và lợn đẻ, thấy nhu cầu nuôi lợn của người dân khá cao, anh mở thêm cửa hàng bán vật tư chăn nuôi, đồng thời những người muốn học hỏi kinh nghiệm anh sẵn sàng chia sẻ và dẫn đi tham quan khu chăn nuôi của mình. Chưa đầy 1 năm trừ mọi chi phí, trang trại lợn đã đem lại cho anh gần 300 triệu đồng tiền lãi [13]. Khóa luận: Quản lý hoạt động tại trang trại nuôi gia công lợn thịt.
- Mô hình trang trại nuôi lợn ông Đào Sỹ Duẩn ở thôn Trang, xã Ninh An, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình đã đầu tư phát triển mô hình nuôi lợn siêu nạc và đã cho hiệu quả kinh tế cao.
Trước đây, cũng như nhiều hộ gia đình khác tại địa phương, gia đình ông Đào Sỹ Duẩn chỉ cấy lúa hiệu quả kinh tế mang lại không cao. Thực hiện chủ trương chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, năm 2016, sau khi được Hội Nông dân xã cho vay 50 triệu đồng từ Quỹ hỗ trợ nông dân, cùng với số tiền vay mượn anh em và tiền tích góp của gia đình, ông Duẩn đã mạnh dạn đầu tư xây dựng chuồng trại nuôi lợn nái sinh sản để lấy giống nuôi lợn thịt tại vườn nhà.
Với phương châm lấy ngắn nuôi dài, ban đầu ông nuôi lợn thương phẩm. Sau khi tìm tòi nhu cầu của thị trường, ông đã chuyển từ việc nuôi lợn thương phẩm quy mô nhỏ sang nuôi lợn siêu nạc quy mô lớn, mỗi lứa 100 con lợn thịt. Sau 4 tháng xuất chuồng được trên 3 tấn lợn hơi.
Đến nay, gia đình ông đã gây dựng được mô hình theo quy mô gia trại gồm: 10 chuồng nuôi lợn thịt và 8 chuồng nuôi lợn sinh sản. Bình quân mỗi năm gia đình ông bán 12 tấn lợn hơi, với giá như hiện nay sau khi trừ chi phí ông thu lãi 150 triệu đồng.
Chia sẻ bí quyết để chăn nuôi thành công, ông Duẩn cho biết: ” Để nuôi lợn đạt hiệu quả, gia đình đã thường xuyên làm tốt công tác vệ sinh chuồng trại, lựa chọn con giống rõ nguồn gốc, chú trọng công tác phòng dịch như dịch tả, tụ huyết trùng, lở mồm long móng…”
Làm giàu từ phát triển mô hình chăn nuôi lợn hiện nay không phải là mới, tuy nhiên việc nắm bắt giá cả thị trường, công tác phòng trừ dịch bệnh phát triển đàn vật nuôi là vấn đề quan trọng đòi hỏi người chăn nuôi phải coi trọng và tìm cho mình hướng đi phù hợp.
Nắm bắt được vấn đề đó, mặc dù thời điểm giá lợn hơi giảm sâu nhưng gia đình ông Duẩn vẫn chăn nuôi thành công và duy trì ổn định. Không chỉ làm kinh tế giỏi, ông còn tích cực tham gia các hoạt động do Hội Nông dân xã phát động như tham gia các buổi tập huấn kỹ thuật chăm sóc bảo vệ đàn vật nuôi. Năm 2017, ông vinh dự được UBND huyện Hoa Lư tặng giấy khen vì đã có thành tích xuất sắc trong sản xuất kinh doanh giỏi.
2.2.3. Bài học kinh nghiệm từ các địa phương khác Khóa luận: Quản lý hoạt động tại trang trại nuôi gia công lợn thịt.
Trước khi thành lập tổ chức sản xuất kinh doanh trang trại Ông Dương Công Tuấn đã đi tham quan học hỏi kinh nghiệm nhiều mô hình chăn nuôi lợn của một số hộ, trang trại và tổ chức trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên và các tỉnh ngoài như Bắc Giang, Tuyên Quang,… Từ đó học hỏi được thêm nhiều kiến thức, kinh nghiệm hoạt động sản xuất theo mô hình tổ chức sản xuất trang trại chăn nuôi. Quá trình xây dựng và phát triển sản xuất tại trang trại của ông Dương Công Tuấn những năm qua, đặc biệt là những năm đầu tiên gặp nhiều khó khăn, đòi hỏi chủ trang trại phải học hỏi thêm nhiều kiến thức, kinh nghiệm từ một số mô hình tổ chức sản xuất trang trại tiêu biểu khác. Để xây dựng một tổ chức sản xuất trang trại chăn nuôi gia công, đầu tiên gia đình cần có mặt bằng xây dựng trang trại, mặt bằng dùng để xây dựng là khu đất xa khu dân cư, có hệ thống giao thông thuận lợi. Đáp ứng yêu cầu của Công ty CP Việt Nam về xây dựng chuồng trại và trang thiết bị, gia đình có đủ nguồn vốn và chủ trang trại có đầy đủ kinh nghiệm về quản lý trang trại. Đúc kết kinh nghiệm từ quá trình học hỏi các trang trại khác trang trại đã chủ động trong việc kiểm soát ngay từ giai đoạn đầu vào, giống nhập là giống đạt chất lượng cao, sử dụng thức ăn của Công ty CP Việt Nam có uy tín trên thị trường, kiểm soát tình hình dịch bệnh trong toàn trang trại, không sử dụng các loại kháng sinh tồn dư lâu trong cơ thể gia súc, trước khi xuất bán trước đó hai tuần tuyệt đối không sử dụng thuốc thú y và không cho lợn ăn loại thức ăn có chứa vaccine. Nước sử dụng chăn nuôi là 100% nước giếng khoan. Trang trại có hầm Biogas để xử lý chất thải chăn nuôi, có kho bảo quản dụng cụ sản xuất và quần áo bảo hộ lao động, phòng sát trùng trước khi vào chuồng, kho chứa cám, kho thuốc, kho chứa vôi bột, hố sát trùng trước cổng ra vào, đảm bảo an toàn, đàn lợn phát triển tốt nhất và đạt chất lượng cao nhất.
2.3. Khái quát về địa bàn thực tập
2.3.1. Đặc điểm tự nhiên của xã Cát Nê
- Vị trí địa lý:
Cát Nê là xã trung du miền núi nằm ở phía Đông nam huyện Đại Từ cách trung tâm huyện 15km
- Phía Đông giáp với xã Phúc Thuận huyện Phổ Yên và thị trấn Quân Chu
- Phía Nam giáp với xã Quân Chu huyện Đại Từ
- Phía Bắc giáp xã Vạn Thọ và xã Ký Phú huyện Đại Từ
- Phía Tây giáp với tỉnh Vĩnh Phúc.
- Diện tích tự nhiên
Tổng diện tích đất tự nhiên là 2.715,39ha,trong đó đất nông nghiệp là 2.303,17ha chiếm 84,82%, đất phi nông nghiệp 234,82ha chiếm 8,65%, đất chưa sử dụng 3,51ha chiếm 0,13%. Khóa luận: Quản lý hoạt động tại trang trại nuôi gia công lợn thịt.
- Đất đai địa hình
Là xã trung du miền núi phía Tây của xã nằm dưới chân dãy núi Tam Đảo với địa hình chủ yếu là đồi núi chiếm diện tích lớn tới 50% so với diện tích tự nhiên của xã, địa hình dốc dần từ Tây sang Đông.
- Khí hậu
Khí hậu có 2 mùa rõ rệt; mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10, khí hậu nóng ẩm và mưa nhiều; mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3, gió Đông Bắc chiếm ưu thế, lượng mưa ít, thời tiết hanh khô. Đặc trưng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm thể hiện rõ qua các chỉ số: Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 22C; Tổng tích ôn từ 7.000-8.000C. Lượng mưa phân bố không đều, có chênh lệch lớn giũa mùa mưa và mùa khô.Về mùa mưa cường độ mưa lớn, chiếm tới gần 80% tổng lượng mưa trong năm.
2.3.2. Đặc điểm kinh tế- xã hội
- Đặc điểm về kinh tế
Cơ cấu kinh tế năm 2018 là: Nông nghiệp 89,0%; công nghiệp dịch vụ 2,8%; dịch vụ thương mại 8,2%. Thu nhập bình quân đầu người năm 2018 đạt trên 10 triệu đồng/người/năm. Sản lượng lương thực năm 2018 đạt trên 2.228,6 tấn, năng suất lúa đạt 54,66 tạ/ha. Đàn lợn nuôi nhỏ lẻ trong dân có khoảng 2545 con, lợn muôi theo trang trại trên 6800 con; đàn gia cầm có 44.810 con; đàn trâu 527 con; đàn bò 33 con. Tổng diện tích chè năm 2011 là 76,0ha, năng suất chè đạt 102tạ/ha, sảnlượng chè búp tươi đạt 775 tấn.
- Đặc điểm về xã hội
Về dân số: Số dân của xã đến cuối năm 2018 là 4.238 người, với 1.028 hộ, có 2.456 lao động. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là: 1,12%. Tỷ lệ tăng dân số cơ học là: 0,73%. Tỷ lệ tử vong là: 0,60%
Lao động: Người dân trong xã chủ yếu làm nông nghiệp. Dân số trong độ tuổi lao động khoảng: 2.456 người, chiếm khoảng 57,95% dân số xã.
- Các vấn đề về văn hoá Khóa luận: Quản lý hoạt động tại trang trại nuôi gia công lợn thịt.
Là xã miền núi với dân số của xã năm 2018 là 4.238 người, với 1.028 hộ, có 2.456 lao động.; trên địa bàn xã có 6 dân tộc anh em cùng sinh sống bao gồm,dân tộc Kinh, Tày, Sán Dìu, Nùng, Cao Lan, Sán Chi. Trong đó dân tộc Kinh chiếm đa số với 3.728 người (chiếm 87,97% dân số của xã).
- Có 2 trường đạt chuẩn quốc gia trường tiểu học và mầm
- Năm 2018 số gia đình đạt gia đình văn hoá là 567hộ, chiếm 55,16%, số xóm đạt xóm văn hoá là 2 xóm/16 xóm, chiếm 12,50%.
- Toàn xã hộ nghèo đến hết năm 2011 là 280 hộ, chiếm 27,24%
- Về cơ sở hạ tầng
- Trường học:
Trường mầm non: Tổng diện tích đất 3.313,6m2; gồm 6 phòng học cấp 4. Năm học 2017-2018 có 186 học sinh; cán bộ, giáo viên là 18 người; diện tích bình quân 17,82m2/học sinh. Trường đạt chuẩn quốc gia mức độ 1 năm 2012
Trường tiểu học: Tổng diện tích đất: 9.630m2; gồm 10 phòng học nhà 1 tầng và 1 phòng chức năng, nhà làm việc Ban giám hiệu 1 tầng; năm học 2017-2018 có 198 học sinh, 14 giáo viên, diện tích bình quân 48,63m2/học sinh. Trường đã đạt chuẩn quốc gia mức độ 1.
Trường trung học cơ sở: Tổng diện tích đất: 6.911m2; gồm 8 phòng học, nhà1 tầng xây dựng năm 2001 đã xuống cấp và 7 phòng chức năng, nhà làm việc Ban giám hiệu 1 tầng, chất lượng tốt; năm học 2017-2018 có 186 học sinh, 16 giáo viên,diện tích bình quân 37,15m2/học sinh. Trường chưa đạt chuẩn quốc gia.
Trạm y tế: Diện tích đất: 1.793,7m2; nằm ở trung tâm xã, thuộc xóm Đình. Nhà 2 tầng, 13 phòng, xây dựng năm 2009 chất lượng công trình tốt. Đạt chuẩn quốc gia năm 2010. Khóa luận: Quản lý hoạt động tại trang trại nuôi gia công lợn thịt.
Bưu điện: Nằm ở trung tâm xã, sát với UBND xã thuộc xóm Đình, diện tích 167,9m2. Hiện trạng xây dựng nhà 1 tầng, 1 phòng xây dựng năm 2001 chất lượng công trình đã xuống cấp, đã có mạng Internet đến các xóm.
- Khu văn hóa thể thao
Hiện tại sân thể thao trung tâm xã chưa có. Hiện tại xóm Nông trường có sân thể thao với diện tích là 3.000m2, còn lại các xóm sân thể thao đều nằm trong khuôn viên nhà văn hoá, về diện tích, sân thể thao tại các xóm chưa đáp ứng đủ chỉ tiêu quy hoạch theo tiêu chí nông thôn mới.
Cát Nê hiện có 14/16 nhà văn hóa ở các xóm (xóm Đình và xóm Tân Lập chưa có nhà văn hóa). Hầu hết các trang thiết bị của các nhà văn hóa xóm hiện tại còn thiếu cần được đầu tư nâng cấp và mua sắm trang thiết bị mới.
Chợ: Nằm ở trung tâm xã, gần trục đường tỉnh lộ 261, phục vụ chủ yếu nhu cầu trao đổi hàng hóa của nhân dân trong xã; diện tích 2.428 m2, chợ tạm. Cơ sở vật chất chưa được đầu tư xây dựng, chưa đạt chuẩn nông thôn mới.
An ninh quốc phòng: Hệ thống chính trị cơ sở được xây dựng và củng cố vững mạnh, an ninh chính trị được giữ vững, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm. Khóa luận: Quản lý hoạt động tại trang trại nuôi gia công lợn thịt.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>> Khóa luận: Đánh giá môi trường nước nuôi cá diêu hồng

Dịch Vụ Viết Luận Văn Thạc Sĩ 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietthuethacsi.com/ – Hoặc Gmail: dicvuluanvanthacsi@gmail.com
[…] ===>> Khóa luận: Quản lý hoạt động tại trang trại nuôi gia công lợn thịt […]