Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Thực trạng tín dụng xuất nhập khẩu tại Vietcombank hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam chi nhánh Bình Thạnh dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
Nội dung chính
2.1 Tín dụng ngân hàng đối với hoạt động xuất nhập khẩu
2.1.1 Sự cần thiết phát triển hoạt động xuất nhập khẩu
Bất cứ một quốc gia nào muốn phát triển kinh tế không thể chỉ dựa vào nền sản xuất trong nước mà còn phải quan hệ với các nước bên ngoài. Do có sự khác nhau về điều kiện tự nhiên như tài nguyên, khí hậu…mà mỗi quốc gia có thế mạnh trong việc sản xuất một số mặt hàng nhất định. Để đạt được hiệu quả kinh tế đồng thời đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng ngày một đa dạng ở trong nước, các quốc gia đều mong muốn có được những sản phẩm chất lượng cao với giá rẻ hơn từ các nước khác đồng thời mở rộng được thị trường tiêu thụ đối với các sản phẩm thế mạnh của mình. Chính từ mong muốn đó đã làm nảy sinh nhu cầu mua bán trao đổi quốc tế (hay thương mại quốc tế). Hoạt động thương mại quốc tế thông qua mối quan hệ rộng rãi vượt ra ngoài biên giới quốc gia sẽ là cầu nối giữa nền kinh tế trong nước với nền kinh tế bên ngoài, đồng thời tạo ra động lực thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế ở mỗi khu vực và trên toàn thế giới. Thương mại quốc tế được cấu thành bởi hai bộ phận cơ bản xuất khẩu và nhập khẩu. Do vậy, xác định được vai trò quan trọng cũng như có sự quan tâm thích đáng đến hoạt động XNK là nhiệm vụ hàng đầu của hoạt động thương mại quốc tế.
Đối với Việt Nam, ngoài những đặc điểm nêu trên chúng ta còn có những nét đặc thù riêng đó là nền kinh tế có xuất phát điểm thấp, cơ sở hạ tầng kĩ thuật lạc hậu, công nghệ thủ công… đang rất cần được đổi mới, bên cạnh đó tiềm lực xuất khẩu lại lớn nhưng chưa được khai thác hiệu quả. Tất cả những điều này cho thấy hoạt động XNK đối với nước ta ngày càng quan trọng. Vai trò của XNK đối với sự phát triển kinh tế được thể hiện qua một số khía cạnh cơ bản sau:
- Xuất khẩu
Xuất khẩu đem lại nguồn thu ngoại tệ chủ yếu cho đất nước tạo điều kiện đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước.
Xuất khẩu góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển. Thông qua việc đẩy mạnh xuất khẩu, NN sẽ khuyến khích các ngành, nghề phát triển bởi họ phần nào có được thị trường tiêu thụ ổn định và mở rộng hơn. Đồng thời, sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường quốc tế sẽ tạo cho các nhà sản xuất sự năng động và sáng tạo trong kinh doanh, sự quan tâm đúng đắn đến việc nâng cao hiệu quả quản lí, đổi mới công nghệ cũng như nâng cao chất lượng của sản phẩm.
Xuất khẩu tạo điều kiện cho việc nhập khẩu có thể diễn ra thuận lợi hơn nhờ nguồn ngoại tệ thu được và mối quan hệ quốc tế mà nó tạo ra. Khóa luận: Thực trạng tín dụng xuất nhập khẩu tại Vietcombank.
- Nhập khẩu
Song song với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu cũng đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong nền kinh tế. Cụ thể:
Nhập khẩu tạo ra hàng hoá bổ sung cho hàng hoá thiếu hụt trong nước và thay thế những sản phẩm trong nước không sản xuất được hay sản xuất với chi phí cao hơn để đáp ứng nhu cầu sản xuất tiêu dùng nội địa một cách tốt nhất, từ đó tạo sự ổn định về cung-cầu trong nước và cao hơn là sự ổn định kinh tế vĩ mô.
Nhập khẩu có tác động đẩy nhanh quá trình xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật, đổi mới công nghệ tạo tiền đề thuận lợi cho sản xuất.
Ngoài ra, nhập khẩu còn có vai trò thúc đẩy xuất khẩu thông qua việc cung cấp các nguyên vật liệu, máy móc thiết bị đầu vào cho xuất khẩu cũng như góp phần định hướng sản phẩm, định hướng thị trường.
Cuối cùng, một vai trò hết sức quan trọng của cả xuất và nhập khẩu đối với sự phát triển kinh tế-xã hội đó là tạo công ăn việc làm, cải thiện đời sống nhân dân và mở rộng hợp tác quốc tế.
2.1.2 Nhu cầu tài trợ cho xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp
Do hoạt động thương mại quốc tế hiện nay là rất đa dạng và vì thế cũng hết sức phức tạp (nó bao gồm nhiều mối quan hệ như: thương mại giữa các nước phát triển, giữa các nước đang phát triển, giữa các nước phát triển và đang phát triển…) nên để phù hợp với điều kiện VN cũng như với đề tài nghiên cứu, ở đây tôi chỉ xin đề cập đến hoạt động thương mại quốc tế giữa các nước phát triển và đang phát triển.
Xuất khẩu hàng hoá từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển chủ yếu là hàng hoá tư liệu sản xuất như máy móc thiết bị, kỹ thuật, công nghệ. Đây là những hàng hoá mà để hoàn thành hoạt động xuất khẩu cần phải trải qua nhiều giai đoạn khác nhau từ phân tích nhu cầu, kí kết hợp đồng, sản xuất cung ứng, lắp ráp chạy thử… đến thanh toán tiền hàng. Nhu cầu tài trợ thường để đáp ứng các chi phí cho quảng cáo, thiết kế mẫu mã, sản xuất và cung cấp công trình.
Xuất khẩu hàng hoá từ các nước đang phát triển sang các nước phát triển chủ yếu là các mặt như nông, lâm, thuỷ hải sản, hàng thô hay mới qua sơ chế… Và nhu cầu tài trợ thường là để thu mua chế biến xuất khẩu, đáp ứng nhu cầu vốn tạm thời.
Để có cái nhìn tổng quát về nhu cầu tài trợ nảy sinh trong hoạt động XNK ta sẽ xem xét nhu cầu tài trợ của các nhà xuất khẩu và nhập khẩu hình thành trong cùng một hoạt động XNK hàng hoá máy móc, thiết bị kỹ thuật, công nghệ.
- Nhu cầu tài trợ cho XNK Khóa luận: Thực trạng tín dụng xuất nhập khẩu tại Vietcombank.
Việc thực hiện hoạt động xuất khẩu hàng hoá máy móc thiết bị thường kéo dài từ nhiều tháng cho tới vài năm, do đó thông thường nhu cầu tài trợ thường nảy sinh ở nhiều giai đoạn khác nhau. Cụ thể:
Giai đoạn phân tích nhu cầu, thiết kế, tìm kiếm khách hàng, đại diện tại các hội chợ, đàm phán sơ bộ, lập kế hoạch: Đây là giai đoạn đầu tiên và có ý nghĩa quyết định đối với việc thực hiện các bước sau của cả hoạt động xuất khẩu. Để hoàn thành tốt giai đoạn này các chuyên gia phải thực hiện các chuyến đi dài ngày và tiến hành nhiều cuộc đàm phán, phải làm ra hàng mẫu và mô hình để trưng bày, giới thiệu. Sau đó họ còn phải hoàn tất các tài liệu thiết kế và tính toán chính xác cho đàm phán hợp đồng. Chi phí cho những hoạt động này không phải nhỏ, đặc biệt với các cơ sở kinh doanh tiềm lực tài chính còn hạn hẹp.
Giai đoạn đưa ra đề nghị chào hàng: Các đề nghị chào hàng trong khuôn khổ đấu thầu quốc tế thường được để kèm theo bản bảo đảm đấu thầu của một NH có uy tín trong giao dịch quốc tế. Do vậy, các doanh nghiệp xuất khẩu cũng cần được sự giúp đỡ của NH.
Giai đoạn kí kết hợp đồng: Trong trường hợp nhà xuất khẩu chưa có uy tín cao ở nước ngoài, đối tác có thể yêu cầu một bảo đảm giao hàng hoặc bảo đảm hoàn thành công trình. Đảm bảo này sẽ có hiệu lực nếu việc giao hàng hoặc hoàn thành công trình không đúng như thỏa thuận.
Trường hợp khác, nếu nhà xuất khẩu cần tiền đặt cọc mà nhà nhập khẩu là người nước ngoài đang gặp khó khăn và không có khả năng đặt cọc từ nguồn vốn riêng của mình thì nhà xuất khẩu có thể đề nghị NH của mình một tài trợ đặt cọc có lợi cho đối tác thương mại của mình.
Giai đoạn chuẩn bị sản xuất: Sau khi đã kí hợp đồng, nhà xuất khẩu sẽ tiến hành chuẩn bị sản xuất. Nhất là việc xây dựng các công trình lớn như, nhà máy, xí nghiệp… việc này thường đi kèm với chi phí lớn vượt quá mức đặt cọc.
Giai đoạn sản xuất: Mặc dù đã có những thoả thuận về việc thanh toán tiếp theo của người mua, trong thời gian này thường nảy sinh các nhu cầu tài chính cao về vật tư và chi phí liên quan khác vượt qua các khoản thanh toán giữa chừng. Ngoài ra, với các mặt hàng lớn như máy móc công nghệ thì nhiều khi nhà xuất khẩu còn cần phải được tài trợ cho các chi phí xây dựng kho bãi, chuẩn bị mặt bằng sản xuất, đào tạo người sử dụng máy móc,… ở nước nhập khẩu.
Giai đoạn cung ứng: Ngay cả trong giai đoạn cung ứng cũng có thể nảy sinh các chi phí cần được tài trợ như chi phí vận tải, bảo hiểm… tuỳ theo điều kiện cung ứng. Khóa luận: Thực trạng tín dụng xuất nhập khẩu tại Vietcombank.
Giai đoạn lắp ráp, chạy thử, bàn giao công trình: Sau khi hàng hoá được bàn giao tới địa điểm qui định, nhà xuất khẩu còn cần chi phí cho lắp ráp chạy thử cho tới khi được người mua thu nhận và chấp nhận thanh toán.
Giai đoạn bảo hành: Trong giai đoạn này người mua có quyền yêu cầu được bảo hành ở NH của nhà xuất khẩu trước khi thanh toán.
Thanh toán: Hiện nay, để việc cung cấp hàng hoá xuất khẩu được thuận lợi người xuất khẩu thường phải dành cho người mua một ưu đãi thanh toán trong nhiều năm mà người xuất khẩu và NH của họ có thể chấp nhận được. Nhu cầu tài trợ ở giai đoạn này thường lớn để đảm bảo vốn cho quá trình tái sản xuất khi mà người nhập khẩu chưa đến hạn phải thanh toán.
- Nhu cầu tài trợ nhập khẩu
Với hoạt động nhập khẩu, nếu như nhà xuất khẩu có nhu cầu tài trợ để đẩy mạnh hoạt động bán hàng thì các nhà nhập khẩu cũng nảy sinh nhu cầu tài trợ để mua hàng khi khả năng tài chính không đáp ứng được. Vì vậy, về phía nhà nhập khẩu cũng hình thành nhu cầu tài trợ trên nhiều mặt.
- Giai đoạn trước khi kí kết hợp đồng: Ở giai đoạn này các nhà nhập khẩu cần có những chi phí cho việc thuê các chuyên gia phân tích chính xác nhu cầu của mình để tiến hành đấu thầu một cách phù hợp.
- Giai đoạn sau khi kí kết hợp đồng: Sau khi kí kết được hợp đồng, các nhà nhập khẩu cần được tài trợ để đặt cọc hoặc tạm ứng cho nhà xuất khẩu. Ngoài ra, nhiều khi nhà nhập khẩu còn phải nhờ NH đứng ra bảo đảm để tìm nguồn tài trợ ở nước ngoài.
- Giai đoạn sản xuất và hoàn thành công trình: Trong giai đoạn này nhà nhập khẩu có thể phải thực hiện những khoản thanh toán giữa chừng cho nhà xuất khẩu hay tài trợ cho các công việc ở địa phương để chuẩn bị cho đầu tư.
- Giai đoạn cung ứng và vận chuyển hàng hóa: Tuỳ theo điều kiện cung ứng hàng hoá có thể nảy sinh nhiều phí tổn về vận chuyển và bảo hiểm đối với các nhà nhập khẩu.
- Nhập hàng hóa: Nếu tiến hành thanh toán cung ứng hàng hoá khi xuất trình chứng từ (có thư tín dụng kèm theo hoặc theo điều kiện D/P) thì thường nhà nhập khẩu chỉ có thể nhận được hàng khi giá trị trên hoá đơn đã ghi rõ hoặc có thể tài trợ được.
- Xử lí tiếp, bán tiếp, tài trợ tiêu thụ: Đối với hàng hoá chủ định bán tiếp thì nhà nhập khẩu còn có nhu cầu tài trợ giữa chừng cho khoảng thời gian từ khi nhập hàng về tới khi hàng hoá được tiêu thụ.
Qua việc xem xét nhu cầu tài trợ cho XNK ở trên ta có thể khẳng định rằng hoạt động kinh doanh XNK có một nhu cầu tài trợ rất lớn. Vậy thì để đáp ứng cho nhu cầu đó có những nguồn tài trợ nào. Dưới đây là một số nguồn tài trợ thường dùng cho XNK.
2.1.3 Các nguồn tài trợ cho hoạt động xuất nhập khẩu Khóa luận: Thực trạng tín dụng xuất nhập khẩu tại Vietcombank.
Hoạt động XNK là một trong những hoạt động kinh tế cơ bản, do vậy nó cũng được tài trợ từ rất nhiều nguồn khác nhau. Trong đó, những nguồn tài trợ thường được sử dụng là:
Tín dụng thương mại (hay tín dụng nhà cung cấp): Là nguồn tài trợ được thực hiện thông qua hình thức mua bán chịu hàng hoá, dịch vụ với các công cụ chủ yếu là hối phiếu. Đây là nguồn tài trợ ngắn hạn được ưa dùng vì dễ thực hiện, khả năng chuyển thành tiền mặt cao (thông qua chiết khấu tại các ngân hàng), linh hoạt về thời hạn. Tuy nhiên, các công cụ như hối phiếu thường được sử dụng trên cơ sở có NH đứng ra chấp nhận hay bảo đảm.
Các khoản phải nộp phải trả: Bao gồm thuế phải nộp nhưng chưa nộp, phải trả cán bộ công nhân viên và các khoản phải trả phải nộp khác. Đây là nguồn tài trợ mang tính thời điểm cao vì nó thường nhỏ và ít ổn định.
Vốn tự có: Tuỳ theo loại hình doanh nghiệp khác nhau mà vốn tự có có thể là vốn Ngân sách cấp, vốn cổ phần của các sáng lập viên công ty cổ phần hay vốn của chủ doanh nghiệp tư nhân. Vốn tự có chủ yếu bao gồm vốn khi thành lập doanh nghiệp như nói trên và phần lợi nhuận để lại cộng khấu hao. Sử dụng vốn tự có doanh nghiệp có thể giảm được hệ số nợ, tạo sự chủ động trong kinh doanh. Tuy vậy, nguồn tài trợ này có hạn chế là qui mô không lớn và nhiều khi chi phí cơ hội của việc giữ lại lợi nhuận cao.
Phát hành cổ phiếu: Với các doanh nghiệp trong điều kiện hiện nay họ có thể phát hành cổ phiếu công ty để huy động nguồn vốn trung và dài hạn. Hình thức này có ưu điểm là doanh nghiệp có được sự chủ động trong việc huy động và sử dụng vốn, giảm được nguy cơ phá sản khi gặp khó khăn (vì có thể không phải phân chia lợi tức cổ phần hoặc có thể hoãn trả lợi tức khi bị lỗ hoặc không có nhiều lãi) hay làm tăng vốn chủ sở hữu, giảm hệ số nợ của doanh nghiệp… Tuy nhiên, chỉ có các doanh nghiệp thỏa mãn những điều kiện nhất định mới được sử dụng hình thức này. Với nước ta, do thị trường tài chính còn chưa phát triển nên hình thức tài trợ này còn ít được sử dụng hoặc nếu có sử dụng thì vẫn khó có thể đem lại hiệu quả cao.
Phát hành trái phiếu công ty: Đây cũng là một hình thức tài trợ khá phổ biến trong nền kinh tế thị trường gần như cổ phiếu.
Tuy nhiên, với trái phiếu doanh nghiệp thường phải trả lợi tức cố định cho dù hoạt động kinh doanh có lãi hay không. Điều này dễ làm tăng khả năng phá sản đối với doanh nghiệp khi gặp khó khăn về tài chính. Ngoài ra, với thị trường tài chính chưa phát triển như đã nói trên thì hình thức này cũng khó phát huy tốt được ưu thế của nó.
Tín dụng ngân hàng: NH có thể tài trợ cho các doanh nghiệp thông qua nhiều hình thức và với những mục đích sử dụng khác nhau như: cho vay ngắn hạn theo hạn mức tín dụng, cho vay theo hợp đồng, cho vay có đảm bảo… để thu mua dự trữ, sản xuất, nhập khẩu nguyên vật liệu, đáp ứng nhu cầu vốn lưu động. Hoặc cho vay dài hạn để đầu tư dự án, mua sắm máy móc thiết bị, dây chuyền công nghệ… Tuỳ vào từng doanh nghiệp mà NH có thể áp dụng những hình thức nhất định sao cho thuận lợi với cả hai bên. Một đặc điểm khá nổi bật của tín dụng NH là có khả năng linh hoạt về lãi suất cũng như thời hạn.
Các nguồn tài trợ khác: Ngoài các nguồn tài trợ trên các doanh nghiệp XNK còn có thể được tài trợ bằng các nguồn như đầu tư nước ngoài, vay nợ viện trợ của nước ngoài, hỗ trợ của Chính phủ,… Hiện nay các nguồn này thường cũng được sử dụng thông qua các Ngân hàng. Khóa luận: Thực trạng tín dụng xuất nhập khẩu tại Vietcombank.
Như vậy, nguồn tài trợ cho XNK rất đa dạng nhưng trong đó nguồn tín dụng NH nắm giữ một vị trí đặc biệt bởi nó có thể được cung cấp thông qua nhiều hình thức cho nhiều mục đích sử dụng khác nhau và các hình thức tài trợ khác muốn thực hiện được phần nào cũng cần sự hỗ trợ từ phía ngân hàng.
2.1.4 Tín dụng Ngân hàng đối với hoạt động xuất nhập khẩu
Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với hoạt động XNK được thể hiện qua các mặt sau:
- Thứ nhất, giống như các nguồn tài trợ khác tín dụng ngân hàng là một nguồn vốn quan trọng đối với các doanh nghiệp XNK để thu mua dự trữ, sản xuất, tiêu thụ hàng hoá, mua sắm máy móc thông thường,… phục vụ cho quá trình sản xuất cũng như tái sản xuất của doanh nghiệp.
- Thứ hai, tín dụng ngân hàng góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trên thị trường.
- Thứ ba, tín dụng ngân hàng thúc đẩy hoạt động XNK diễn ra thuận lợi nhanh chóng hơn.
- Thứ tư, do sự cần thiết phải có được những giao dịch dễ dàng ít tốn kém, người bán cũng như người mua đều cần phải có sự tài trợ của NH thông qua các hình thức tín dụng như cho vay mở thư tín dụng, chuyển trả tiền trực tiếp,…
- Thứ năm, xuất phát từ tính rủi ro trong hoạt động kinh doanh XNK cao và do việc thiếu hiểu biết lẫn nhau giữa người mua và người bán nên sự có mặt của NH sẽ là một đảm bảo cho cả hai bên, nhà xuất khẩu sẽ hạn chế được những rủi ro không thanh toán khi NH đứng ra đảm bảo cung cấp tín dụng cho nhà nhập khẩu và ngược lại nhờ nguồn tín dụng của NH nhà nhập khẩu thực hiện được nhiều khâu quan trọng trong khi khả năng tài chính của họ chưa đáp ứng được.
- Thứ sáu, NH là một đầu mối tiếp nhận các nguồn tài trợ của nước ngoài cho hoạt động XNK. Bởi vì hiện nay phần lớn các nguồn tài trợ của các tổ chức tài chính – tiền tệ quốc tế cho một quốc gia nào đó được thực hiện qua các chi nhánh NH nước ngoài hoặc NH nước sở tại.
Vai trò của tín dụng NH đối với hoạt động XNK càng có ý nghĩa hơn khi NH thực hiện các chính sách của NN, trong đó có chính sách hướng về xuất khẩu và thay thế nhập khẩu. NH sẽ cung cấp cho các nhà XNK những khoản tín dụng lớn với lãi suất ưu đãi mà nhờ đó họ có thể giải quyết vấn đề thiếu vốn trong hoạt động kinh doanh của mình.
2.1.5 Rủi ro trong tín dụng tài trợ xuất khập khẩu của Ngân hàng Khóa luận: Thực trạng tín dụng xuất nhập khẩu tại Vietcombank.
Rủi ro trong hoạt động tín dụng tài trợ XNK là một dạng rủi ro trong hoạt động của NHTM. Đó là những biến cố bất thường, không mong đợi xảy ra, dẫn đến tổn thất cho NH. Trong nền kinh tế thị trường với xu hướng toàn cầu hoá ngày càng rõ rệt và quan hệ thương mại quốc tế ngày càng được mở rộng thì hoạt động XNK cũng đồng thời phát triển với quy mô ngày càng lớn. Điều này đóng vai trò quan trọng trong việc phát huy lợi thế của các quốc gia trong quan hệ kinh tế đối ngoại với các quốc gia khác. Tuy nhiên, cùng với sự gia tăng của hoạt động XNK thì vai trò của NH trong việc hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong hoạt động XNK ngày càng lớn, và cũng do vậy những rủi ro với các NH cũng ngày càng lớn hơn. Những rủi ro tín dụng tài trợ XNK là rất đa dạng và khó quản lý. Bởi vì khác với hoat động tín dụng thông thường, hoạt động tín dụng tài trợ XNK chịu tác động của nhiều yếu tố ngẫu nhiên, bất ngờ khó nắm bắt như: tình hình kinh tế, chính trị trên thế giới, các cuộc khủng hoảng kinh tế chính trị ảnh hưởng rất lớn đến các quan hệ kinh tế đối ngoại, tác động trực tiếp đến tâm lý, nhu cầu cũng như nguồn cung cấp các mặt hàng nhập khẩu. Bên cạnh đó, các yếu tố liên quan đến tỷ giá, yếu tố thời vụ cũng ảnh hưởng đến giá trị hàng hoá XNK, qua đó tác động xấu đến hoạt động của doanh nghiệp và ảnh hưởng đến lợi ích của ngân hàng, dẫn tới tổn thất cho NH và nền kinh tế.
Như chúng ta đã biết, trong quan hệ XNK thường luôn có một phía đối tác nước ngoài, và như vậy, các DN kinh doanh XNK trong nước cũng như các NH tài trợ rất khó nắm bắt được tất cả các thông tin cần thiết về đối tác một cách chính xác. Do đó, khả năng xảy ra rủi ro đã xảy ra thì tổn thất không thể tránh khỏi đối với DN cũng như NH. Mặc dù, về nguyên tắc trong hợp đồng tín dụng giữa NH và đơn vị được tài trợ luôn có những điều khoản quy định rõ ràng quyền hạn của NH cũng như trách nhiệm của DN, các điều khoản này nhằm đảm bảo khả năng trả nợ của DN và sử dụng vốn đúng mục đích, có hiệu quả. Đồng thời đơn vị được tài trợ cũng luôn phải có tài sản thế chấp đảm bảo khoản vay. Tuy nhiên, những tài sản thế chấp này lại chính là lô hàng đó. Thậm chí ngay cả khi hợp đồng XNK hàng hoá của DN là hoàn hảo và DN thực hiện hợp đồng một cách suôn sẻ thì rủi ro vẫn có thể xảy ra do sự vi phạm các điều khoản trong hợp đồng tín dụng, ngay cả khi các đơn vị được tài trợ hoàn toàn có khả năng thực hiện các cam kết đó.
Xét một cách tổng thể, ta có thể thấy rằng, rủi ro trong tín dụng tài trợ XNK cũng giống như của tín dụng ngân hàng nói chung nó luôn là một yếu tố bất lợi, tiềm ẩn có thể xảy ra bất cứ lúc nào, với hậu quả không thể lường trước được. Vì vậy, đòi hỏi các NH phải tìm ra biện pháp phòng ngừa, hạn chế tối đa rủi ro và thiệt hại có thể xảy ra. Muốn vậy, các NH phải thực hiện có hiệu quả trong việc tìm hiểu thông tin về đối tác, về thị trường, về dự báo và đưa ra các biện pháp phòng ngừa rủi ro.
Các biện pháp phải được thiết lập một cách đồng bộ và phải được thưc hiện một cách nghiêm túc và có sự hỗ trợ của các cơ quan chức năng chuyên trách. Có như vậy mới có thể thực hiện tốt được công tác phòng ngừa rủi ro, hạn chế tối đa tổn thất, thúc đẩy sự phát triển của hoạt động XNK nhằm tăng nguồn thu ngoại tệ cho đất nước, đổi mới công nghệ, thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
2.2 Chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu Khóa luận: Thực trạng tín dụng xuất nhập khẩu tại Vietcombank.
2.2.1 Khái niệm chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu
Tín dụng XNK ngoài vai trò là một hình thức tài trợ chocác doanh nghiệp XNK nó còn là một loại sản phẩm dịch vụ và vì thế để hiểu được chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu ta cần phải hiểu được khái niệm về chất lượng sản phẩm. Chất lượng sản phẩm theo hiệp hội tiêu chuẩn Pháp là: năng lực của một sản phẩm hoặc dịch vụ nhằm thoả mãn những nhu cầu của người sử dụng.
Từ đó, chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu được hiểu là sự đáp ứng một cách tốt nhất yêu cầu của khách hàng trong quan hệ tín dụng, đảm bảo an toàn và hạn chế rủi ro về vốn, tăng lợi nhuận cho ngân hàng, phù hợp với sự phát triển kinh tế đối ngoại nói riêng và sự phát triển kinh tế xã hội nói chung. Nói cách khác, một khoản tín dụng xuất nhập khẩu có chất lượng phải đảm bảo kết hợp hài hoà lợi ích của ba bên ngân hàng, các doanh nghiệp hoạt động XNK và của xã hội.
Để đánh giá chất lượng của các khoản tín dụng xuất nhập khẩu của NH một cách hoàn toàn chính xác là một công việc không dễ bởi nó đòi hỏi phải xem xét trên nhiều mặt, thông qua sự tổng hợp kết quả phân tíh nhiều chỉ tiêu khác nhau như đã nói trên. Do vậy, vấn đề đặt ra là cần xem xét những chỉ tiêu nào, và xem xét ra sao. Dưới đây là một chỉ tiêu cơ bản để đánh giá chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu của các NHTM.
2.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu của Ngân hàng thương mại
Tăng nguồn vốn huy động: Chỉ tiêu này cho biết khả năng thu hút và cung ứng vốn của Ngân hàng đối với khách hàng. Ngoài ra, nó còn cho thấy uy tín và qui mô của Ngân hàng trên thị trường. Nguồn vốn huy động lớn thường gắn với những Ngân hàng có uy tín cao.
Tổng dư nợ tín dụng XNK: Chỉ tiêu này cho thấy vị trí của tín dụng XNK trong hoạt động tín dụng chung của Ngân hàng. Ngoài ra, nó còn được sử dụng để xem xét sự biến động trong cơ cấu tín dụng thông qua việc so sánh giữa các thời kỳ khác nhau. Tỉ lệ này càng cao cho thấy mức độ phát triển nghiệp vụ này càng lớn, tín dụng XNK đóng góp càng nhiều cho các doanh nghiệp và Ngân hàng đã tạo được uy tín với các bạn hàng, cung cấp nhiều hình thức dịch vụ đa dạng, phong phú, tham gia nhiều nghiệp vụ thanh toán. Khóa luận: Thực trạng tín dụng xuất nhập khẩu tại Vietcombank.
Hiệu suất sử dụng vốn vay: Chỉ tiêu này giúp các nhà phân tích đánh giá khả năng cho vay của NH cũng như so sánh giữa các NH với nhau trong việc sử dụng vốn vay. Hiệu suất sử dụng vốn vay cao chưa hẳn đã tốt bởi nó còn phụ thuộc vào cơ cấu nguồn vốn. Chẳng hạn, trong cơ cấu nguồn vốn huy động tỉ trọng vốn vay thương mại lớn thì cho vay nhiều chưa hẳn là đưa đến chất lượng tín dụng cao vì lãi suất với các khoản vốn vay thương mại thường lớn trong khi NH khó có thể cho vay với lãi suất quá cao hơn do phải cạnh tranh lãi suất để thu hút khách hàng.
Tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ : Nợ quá hạn là những khoản nợ đã đến hạn thanh toán nhưng khách hàng chưa trả được. NH có chỉ tiêu nợ quá hạn trên tổng dư nợ càng thấp khả năng gặp rủi ro càng thấp chất lượng tín dụng càng cao.
Nợ quá hạn khó đòi: Đây là một trong những chỉ tiêu định lượng quan trọng nhất phản ánh chất lượng tín dụng của khoản tín dụng. Nếu tỉ lệ này càng cao mà NH không có biện pháp xử lí kịp thời thì khả năng tổn thất của NH càng lớn. Nếu tỉ lệ này cao có nghĩa là NH không những phải chịu rủi ro tín dụng cao, chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu kém mà còn có nguy cơ mất khả năng thanh toán bởi việc đòi nợ các khoản vay này là rất khó khăn.
Chỉ tiêu lợi nhuận: Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của tín dụng XNK. Nó cho biết có bao nhiêu đồng lợi nhuận được sinh ra từ một đồng dư nợ. Chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu tốt phải gồm cả lợi nhuận mà tín dụng đó mang lại cho ngân hàng.
Với những chỉ tiêu trên đây ta mới chỉ có thể xem xét được khoản tín dụng XNK có chất lượng tốt hay không. Nhưng vấn đề đặt ra không phải chỉ dừng lại ở đó mà là phải tìm ra các giải pháp để khắc phục các hạn chế và phát huy những mặt mạnh nhằm nâng cao chất lượng tín dụng cho hoạt động sau này. Tức là ta cần phải nắm bắt được các nhân tố tác động đến chất lượng tín dụng XNK.
2.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu Khóa luận: Thực trạng tín dụng xuất nhập khẩu tại Vietcombank.
- Các nhân tố từ phía ngân hàng
Các nhân tố từ phía NH được xem là các nhân tố chủ quan, bởi nó là yếu tố nội tại trong NH và có tác động một cách trực tiếp đến chất lượng hoạt động NH nói chung và chất lượng hoạt động tín dụng XNK nói riêng. Các nhân tố này bao gồm: cơ cấu hàng hoá XNK, chính sách tín dụng, công tác huy động vốn, công tác tổ chức của NH, trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ, quy trình nghiệp vụ tín dụng, hoạt động, kiểm tra, kiểm soát nội bộ, trang thiết bị và sự phối hợp giữa các phòng ban liên quan,…
Cơ cấu hàng hóa XNK: máy móc thiết bị, phân bón, nguyên vật liệu… có ảnh hưởng lớn đến chất lượng tín dụng XNK.
Chính sách tín dụng: Bao gồm các chủ trương, đường lối đảm bảo cho hoạt động tín dụng đi đúng mục tiêu của NH đồng thời tuân thủ tốt quy định của Chính phủ, NHNN, nó có liên quan đến việc mở rộng hay thu hẹp tín dụng, thay đổi cơ cấu tín dụng trong từng thời kỳ và có ý nghĩa quyết định sự thành bại của một Một chính sách tín dụng đúng đắn sẽ thu hút được nhiều khách hàng, đảm bảo khả năng sinh lời của hoạt động tín dụng trên cơ sở mở rộng và nâng cao được chất lượng tín dụng. Bất cứ một NH nào muốn có được chất lượng tín dụng cao đều phải có chính sách tín dụng phù hợp với điều kiện của ngân hàng, phải căn cứ vào đòi hỏi của thị trường.
Công tác huy động vốn: Quan hệ đại lý giữ vai trò quan trọng trong công tác huy động vốn của NH. Huy động vốn đối với NH giống như hoạt động cung cấp đầu vào cho sản xuất để tạo ra sản phẩm đầu ra ở các doanh nghiệp. Nếu nguồn vốn không được huy động đầy đủ về số lượng và phù hợp về thời hạn cũng như loại tiền thì NH khó có thể đáp ứng được các nhu cầu đa dạng của khách hàng một cách nhanh chóng và đầy đủ. Do vậy, chất lượng tín dụng khó có thể được nâng cao, thậm chí còn trở nên kém hơn.
Công tác tổ chức của ngân hàng: Một NH có cơ cấu tổ chức khoa học sẽ đảm bảo được sự phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa các cán bộ nhân viên trong cùng một phòng, giữa các phòng ban với nhau và cao hơn là giữa các NH trong cùng hệ thống, từ đó nắm bắt và triển khai tốt việc đáp ứng nhu cầu khách hàng, nâng cao được chất lượng hoạt động tín dụng và đảm bảo được tính thống nhất và hiệu quả trong quá trình hoạt động. Ngoài ra, NH còn phải hạch toán lỗ lãi theo sản phẩm, dịch vụ, theo nhóm khách hàng, theo thị trường,… và không ngừng nâng cao uy tín quốc tế của NH qua các công ty đánh giá xếp hạng.
Trình độ đội ngũ cán bộ, nhân viên tín dụng XNK: Đây có thể coi là yếu tố quan trọng nhất có ý nghĩa quyết định đến sự thành bại của không chỉ hoạt động tín dụng mà cả sự tồn tại và phát triển của NH. Hoạt động kinh tế đối ngoại càng phức tạp, công nghệ NH càng hiện đại thì đòi hỏi trình độ, năng lực của cán bộ NH trong lĩnh vực XNK phải được nâng cao hơn. Với một đội ngũ cán bộ nhân viên có nghiệp vụ giỏi, có đạo đức và năng lực trong sáng tạo – quản lí, hiểu biết về hoạt động kinh doanh XNK và thông lệ quốc tế sẽ giúp NH hạn chế được những rủi ro, nắm bắt được những cơ hội tốt để cho vay và tất yếu sẽ dẫn đến nâng cao chất lượng tín dụng XNK của NH. Khóa luận: Thực trạng tín dụng xuất nhập khẩu tại Vietcombank.
Quy trình tín dụng: Đây là những trình tự, những giai đoạn, những bước, công việc cần phải thực hiện theo một thủ tục nhất định trong việc cho vay bắt đầu từ việc xem xét đơn xin vay của khách hàng đến khi thu nợ nhằm bảo đảm an toàn vốn tín dụng. Chất lượng tín dụng XNK phụ thuộc vào việc lập ra một quy trình tín dụng XNK đảm bảo tính khoa học vừa nhanh chóng, thuận tiện, vừa đảm bảo thực hiện đầy đủ nghiêm túc các bước của qui trình. Quy trình tín dụng XNK cũng thường gồm ba bước chính:
Xét đề nghị vay của khách hàng và thực hiện chi vay: Trong giai đoạn này chất lượng tín dụng XNK phụ thuộc nhiều vào công tác thẩm định khách hàng và việc chấp hành các quy định về điều kiện và thủ tục cho vay của ngân hàng.
Kiểm tra, giám sát quá trình sử dụng vốn vay và theo dõi dự báo rủi ro: Việc thiết lập hệ thống kiểm tra hữu hiệu, áp dụng có hiệu quả các hình thức kiểm tra sẽ góp phần không nhỏ nâng cao chất lượng tín dụng.
Thu nợ và thanh lí: Sự linh hoạt của cán bộ tín dụng XNK trong khâu thu nợ sẽ giúp NH giảm thiểu rủi ro và hạn chế những khoản nợ qua hạn, bảo toàn vốn và nâng cao chất lượng tín dụng cho XNK.
Thông tin tín dụng: Thông tin tín dụng là hết sức cần thiết, nó là cơ sở để xem xét quyết định cho vay và theo dõi, quản lí khoản cho vay. Thông tin tín dụng XNK có thể thu được từ nhiều nguồn khác nhau như: hồ sơ vay vốn của khách hàng, nguồn số liệu thống kê của Tổng cục thống kê, số liệu của Bộ Thương mại về tình hình XNK của các đơn vị, doanh nghiệp hay điều tra trực tiếp tại các cơ sở, thông tin về thị trường quốc tế, thông tin về khách hàng XNK ở nước ngoài,… Chất lượng tín dụng chỉ có thể được nâng cao khi NH có những nguồn thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời để dự đoán và đề ra các biện pháp ngăn ngừa phòng chống rủi
Công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ: Thông qua công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ, Ban lãnh đạo NH sẽ nắm được tình hình hoạt động kinh doanh đang diễn ra trong lĩnh vực XNK, những thuận lợi, khó khăn cũng như việc chấp hành những quy định pháp luật, nội dung, quy chế, chính sách kinh doanh, thủ tục tín dụng từ đó giúp Ban lãnh đạo có những đường lối, chủ trương đúng đắn, giải quyết những khó khăn, vướng mắc, phát huy những nhân tố thuận lợi, nâng cao hiệu quả kinh Chất lượng tín dụng XNK phụ thuộc vào việc chấp hành những quy chế, thể lệ, chính sách và mức độ kịp thời phát hiện sai sót cũng như những nguyên nhân dẫn đến sai sót lệch lạc trong quá trình thực hiện các khoản tín dụng.
Trang thiết bị phục vụ hoạt động tín dụng: Trang thiết bị tuy không là yếu tố cơ bản nhưng có góp phần không nhỏ trong việc nâng cao chất lượng tín dụng của ngân hàng. Nó là công cụ, phương tiện thực hiện tổ chức, quản lý, kiểm tra, kiểm soát nội bộ. Đặc biệt với sự phát triển nhanh của công nghệ thông tin hiện nay các trang thiết bị tin học đã giúp cho NH có được thông tin về các doanh nghiệp XNK, thị trường trong tương lai…và xử lí thông tin nhanh chóng kịp thời, chính xác, thiết lập tốt mối liên hệ chặt chẽ giữa các phòng ban, bộ phận. Trên cơ sở đó có quyết định tín dụng đúng đắn nhanh chóng, thúc đẩy nghiệp vụ tín dụng diễn ra mạnh mẽ với chất lượng cao hơn. Khóa luận: Thực trạng tín dụng xuất nhập khẩu tại Vietcombank.
- Các nhân tố từ phía khách hàng
Khách hàng có vai trò hết sức quan trọng trong việc nâng cao chất lượng tín dụng bởi họ là những người trực tiếp sử dụng các khoản tín dụng để đưa vào sản xuất kinh doanh và thực hiện chi trả cho ngân hàng. Một khoản tín dụng chỉ gọi là có chất lượng khi mà nó được khách hàng sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả. Để đạt được điều đó bản thân khách hàng cũng cần phải chú trọng đến nhiều khía cạnh khác nhau như: trình độ, đạo đức của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp, khả năng tài chính,… Cụ thể là:
Trình độ khả năng và đạo đức của đội ngũ cán bộ lãnh đạo của doanh nghiệp: Trong điều kiện nền kinh tế thị trường cạnh tranh là một tất yếu. Để tồn tại các doanh nghiệp phải biết nắm bắt và tận dụng các cơ hội trong kinh doanh, điều này đòi hỏi ban lãnh đạo của doanh nghiệp phải có trình độ có năng lực quản lý và ra quyết định. Khi việc kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra thuận lợi sẽ có tác động tích cực đến khả năng trả nợ của doanh nghiệp cho ngân hàng. Ngoài ra, trình độ và đạo đức của người lãnh đạo cũng có tác động rất lớn đến việc sử dụng vốn vay cũng như mong muốn trả nợ của doanh nghiệp từ đó tác động đến chất lượng của khoản tín dụng.
Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp: Trên cơ sở nhận định, đánh giá chính xác tiềm năng thế mạnh của doanh nghiệp như: trình độ công nghệ, khả năng cạnh tranh của sản phẩm dịch vụ, xu hướng phát triển của mặt hàng XNK của doanh nghiệp cùng với những khó khăn thuận lợi hiện tại và trong tương lai. Doanh nghiệp sẽ quyết định chiến lược mở rộng, thu hẹp hay giữ quy mô kinh doanh ổn định từ đó xây dựng các kế hoạch cụ thể về sản xuất tiêu thụ. Việc xây dựng một chiến lược kinh doanh đúng đắn có ý nghĩa quan trọng đến sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp. Từ đó tác động đến khả năng huy động và trả nợ đối với các nguồn tài trợ.
Tổ chức hoạt động sản xuất và công tác tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp: Hoạt động sản xuất, tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp được tổ chức hợp lí sẽ nâng cao được năng suất lao động, tiết kiệm được chi phí, hạ giá thành sản phẩm đồng thời tăng được doanh số bán hàng và tăng lợi nhuận. Doanh nghiệp sẽ có điều kiện mở rộng sản xuất kinh doanh, tăng vòng quay và hiệu quả sử dụng vốn và như thế cũng chính là nâng cao được chất lượng các khoản tín dụng được cung cấp trong đó có khoản tín dụng XNK do NH tài trợ. Khóa luận: Thực trạng tín dụng xuất nhập khẩu tại Vietcombank.
Khả năng tài chính của doanh nghiệp: Đây là một yếu tố có tác động đến việc lựa chọn các nguồn tài trợ của doanh nghiệp, bởi vì thường thì DN chỉ đi vay khi mà khả năng tài chính của họ không đáp ứng được nhu cầu vốn cho hoạt động của mình. Mặt khác, khả năng tài chính của doanh nghiệp nó còn là cơ sở để NH quyết định có cho vay hay không, cho vay bao nhiêu và khả năng trả nợ của doanh nghiệp như thế nào. Điều này, có ý nghĩa đến việc nâng cao chất lượng tín dụng từ cả hai phía NH và DN.
- Các nhân tố khách quan khác
Nhóm nhân tố thuộc về môi trường kinh tế: Đối với hoạt động tín dụng XNK nó cũng bị tác động bởi nhiều nhân tố thuộc môi trường kinh tế như: các chiến lược phát triển kinh tế của Nhà nước, thị trường hàng hoá XNK, mức độ cạnh tranh trên thị trường, chu kì kinh doanh,… Nhưng tác động cụ thể nhất đó là sự biến động của tỉ giá hối đoái và lãi suất trên thị trường tiền tệ và lạm phát. Bởi vì, như ta đã biết nghiệp vụ tín dụng XNK nó gắn với nghiệp vụ thanh toán quốc tế (thường sử dụng nhiều loại tiền tệ khác nhau được qui đổi lẫn nhau thông qua tỉ giá) và lãi suất của NH nó gắn với lãi suất trên thị trường, tín dụng NH là tín dụng bằng tiền tệ.
Với vấn đề tỉ giá: Khi tỉ giá hối đoái không ổn định. Chẳng hạn giảm đi thì các doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong việc hoàn trả khoản tín dụng vay bằng ngoại tệ trước đó, vì cần phải có nhiều tiền vốn nội tệ hơn mới mua đủ số ngoại tệ cần để trả. Do vậy, các doanh nghiệp hoặc là sẽ hạn chế sử dụng vốn tín dụng hoặc sẽ không trả được nợ cho NH điều này làm cho tín dụng XNK giảm cả về quy mô và chất lượng.
Với nhân tố lãi suất: Mức độ phù hợp giữa lãi suất trên thị trường với mức lợi nhuận của doanh nghiệp sản xuất kinh doanh XNK trong nền kinh tế cũng ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng XNK. Lợi nhuận NH thu được bị giới hạn bởi lợi nhuận của doanh nghiệp sử dụng vốn vay nên với mức lãi suất cao, các doanh nghiệp không trả được nợ, hoặc sẽ có ý định không muốn trả nợ, từ đó hoạt động tín dụng XNK của NH không còn là đòn bẩy để thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển và tất nhiên chất lượng tín dụng cũng giảm sút.
Lạm phát: Lạm phát có tác động mạnh lên nhiều mặt như khả năng tiêu thụ hàng hoá, giá cả thị trường, hiệu quả kinh doanh,… Do vậy, nó tác động mạnh đến không chỉ hoạt động tín dụng mà còn cả nền kinh tế. Chẳng hạn trong thời kì lạm phát cao sản xuất kinh doanh bị thu hẹp, đầu tư, tiêu dùng giảm, nhu cầu tín dụng giảm, vốn tín dụng đã thực hiện cũng khó có thể sử dụng có hiệu quả hoặc trả nợ đúng hạn cho ngân hàng. Ngoài ra còn phải kể đến việc công chúng không muốn gửi tiền vào NH để đề phòng việc mất giá tiền tệ. Như thế, việc đạt được chất lượng trong hoạt động tín dụng hầu như là không thể.
Nhóm nhân tố thuộc môi trường pháp lí: Môi trường pháp lí tác động đến hoạt động NH thông qua hệ thống các luật và các văn bản pháp quy có liên quan đặc biệt là các pháp lệnh của NHNN, các chủ trương chính sách phát triển kinh tế của NN.
Sự thay đổi chủ trương chính sách của Nhà nước, các pháp lệnh NH của NHNN sẽ làm tăng cao hay giảm bớt chất lượng của hoạt động tín dụng điều này nó cần phải được đánh giá trong mối quan hệ với việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế hướng về xuất khẩu của Nhà nước, thực thi chính sách tiền tệ của NHNN. Bên cạnh đó cũng cần thấy rằng sự thay đổi môi trường pháp lý còn có tác động rất lớn đến hoạt động của các doanh nghiệp XNK mà cụ thể là các chính sách về khuyến khích xuất khẩu hay hạn chế nhập khẩu.
Tóm lại, có rất nhiều nhân tố tác động đến chất lượng tín dụng XNK. Song điều quan trọng không phải là biết tên các nhân tố đó mà cần phải hiểu rõ sự tác động của chúng và vận dụng sáng tạo trong điều kiện thực tế của NH sao cho sự vận dụng đó mang lại hiệu quả làm gia tăng chất lượng của hoạt động tín dụng XNK.
Với chi nhánh Vietcombank Bình Thạnh việc áp dụng hình thức tín dụng XNK đã đạt được đến mức độ nào, kết quả ra sao và đặc biệt là trong vấn đề chất lượng tín dụng, bên cạnh những mặt đã đạt được còn có những hạn chế gì cần được giải quyết. Ta xem xét và trả lời những câu hỏi này ở phần kế tiếp “ Thực trạng chất lượng hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu tại Vietcombank chi nhánh Bình Thạnh”.
2.3 Thực trạng chất lượng hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu tại Ngân hàng TMCP Ngoại Thương chi nhánh Bình Thạnh Khóa luận: Thực trạng tín dụng xuất nhập khẩu tại Vietcombank.
2.3.1 Các hình thức và quy trình tín dụng xuất nhập khẩu
Do tín dụng xuất nhập khẩu còn nhiều mới mẻ và do một số hạn chế riêng nên tại các NHTM Việt Nam nói chung và Vietcombank chi nhánh Bình Thạnh nói riêng, mới chỉ áp dụng một số ít các hình thức cho xuất khẩu cũng như nhập khẩu. Tuy nhiên, về quy trình chung của hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu của chi nhánh cũng tương tự các ngân hàng khác và có thể sơ lược như sau:
- Bước 1: Tìm kiếm dự án
Đây là giai đoạn cần thiết phải có sự phối hợp giữa các phòng ban và các chi nhánh để tiếp cận với các dự án có hiệu quả. Thông qua mối quan hệ của các phòng ban nói trên chi nhánh sẽ nắm được tình hình phát triển của các ngành, lĩnh vực và các đơn vị cụ thể cũng như nhu cầu vốn của họ qua đó tìm kiếm các dự án có hiệu quả và xem xét đáp ứng một cách nhanh chóng và thuận tiện nhất. Vì tình hình cạnh tranh trong ngành NH như hiện nay thì đây có thể coi là hoạt động mang tính sống còn đối với không chỉ riêng chi nhánh.
- Bước 2: Tiến hành thẩm định và xét duyệt dự án
Sau khi tìm được dự án, các cán bộ tín dụng tiến hành phân tích tín dụng trên các mặt: Phân tích đánh giá dự án, phân tích đánh giá doanh nghiệp, dự báo khả năng hoàn trả.
- Bước 3: Hoàn chỉnh hồ sơ vay vốn Khóa luận: Thực trạng tín dụng xuất nhập khẩu tại Vietcombank.
Sau khi được chấp nhận cán bộ tín dụng hướng dẫn khách hàng lập bộ hồ sơ vay vốn bao gồm:
Các văn bản pháp lý về quyết định thành lập doanh nghiệp, giấy phép đăng kí kinh doanh xuất nhập khẩu, quyết định bổ nhiệm giám đốc, kế toán trưởng…
Hồ sơ kinh tế và quản lý khách hàng gồm: Luận chứng kinh tế kỹ thuật của dự án đã được phê duyệt, đơn xin vay vốn, hợp đồng xuất nhập khẩu, tờ trình, hợp đồng tín dụng, bảng cân đối tài sản và báo cáo kết quả kinh doanh 3 năm liền, số hiệu tài khoản đã mở và các tài liệu liên quan khác như hồ sơ thế chấp, cầm cố, bảo lãnh, các hình thức đảm bảo nợ vay,…
- Bước 4: Thực hiện giải ngân
Sau khi các doanh nghiệp hoàn thành hồ sơ vay vốn và các thủ tục cần thiết thì chi nhánh bắt đầu giải ngân. Số lượng mỗi lần giải ngân và thời gian giải ngân như trong hợp đồng tín dụng.
- Bước 5: Kiểm tra và giám sát việc sử dụng vốn vay
Định kì cán bộ tín dụng xuống chi nhánh và cơ sở để kiểm tra, xem xét tình hình sử dụng vốn vay xem có thực hiện đúng như hợp đồng hay không và qua đó tìm ra những thiếu sót để xử lí.
- Bước 6: Thu nợ gốc, lãi vay và xử lí nợ
Chi nhánh thực hiện thu nợ gốc và lãi vay theo thoả thuận trong hợp đồng. Đến ngày trả nợ các DN phải chủ động chi trả nếu không chi nhánh sẽ có quyền trích thu từ tài khoản của DN. Nếu hết hạn doanh nghiệp không trả được nợ chi nhánh sẽ chuyển sang nợ quá hạn và tính lãi phạt. Nếu vì một lí do nào đó được ngân hàng chấp nhận doanh nghiệp có thể xin gia hạn nợ theo quy định tín dụng.
- Bước 7: Kết thúc hợp đồng
Sau khi doanh nghiệp đã trả hết nợ gốc và lãi thì chi nhánh sẽ cùng doanh nghiệp thực hiện tất toán hợp đồng.
Trên đây là quy trình chung tín dụng xuất nhập khẩu của chi nhánh, còn đối với mỗi hình thức tín dụng khác nhau chi nhánh lại có những qui trình cụ thể hơn mà ta sẽ xem xét ở phần sau. Khóa luận: Thực trạng tín dụng xuất nhập khẩu tại Vietcombank.
Các hình thức và quy trình tín dụng xuất nhập khẩu cụ thể:
- Đối với xuất khẩu
Chi nhánh cho các doanh nghiệp xuất khẩu thuộc mọi thành phần kinh tế vay vốn ngắn hạn để thu mua, sản xuất chế biến kinh doanh hàng hoá trong danh mục được phép xuất khẩu theo quy định.
Các DN muốn được vay vốn theo hình thức này phải thoả mãn một số điều kiện:
- Doanh nghiệp đó phải là doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu trực tiếp hoặc thu mua sản xuất, chế biến để uỷ thác xuất khẩu.
- Các doanh nghiệp phải có đủ những điều kiện của thể lệ tín dụng ngắn hạn hiện hành (có tư cách pháp nhân, có phương án sản xuất kinh doanh được chi nhánh chấp nhận).
Về đảm bảo nợ vay doanh nghiệp có các hình thức sau:
- Có tài sản thế chấp, cầm cố.
- Có bảo lãnh của ngân hàng khác, của các công ty được thành lập theo quyết định 90, 91.
- Có sự bảo đảm bằng tài khoản tiền gửi đối ứng VND (để cho vay USD) hoặc tiền gửi USD (để cho vay VND) của DN hoặc tổng công ty.
- Cầm cố bằng hối phiếu hoặc bộ chứng từ.
- Khi có L/C đã mở mà chi nhánh được chỉ định là ngân hàng chiết khấu và ngân hàng thông báo.
- Nguồn thu từ hợp đồng xuất khẩu, hợp đồng ủy thác (đối với DN không xuất khẩu trực tiếp) xác định rõ khả năng thanh toán của bên mua và chỉ định thanh toán về tài khoản của DN tại chi nhánh.
- Có hợp đồng xuất khẩu theo chương trình trả nợ nước ngoài của Chính phủ.
Tuỳ theo mức độ tín nhiệm, khả năng thanh toán hợp đồng xuất khẩu của doanh nghiệp vay vốn mà quyết định phối hợp, lựa chọn nhiều hình thức bảo đảm nợ vay khác nhau.
- Quy trình tín dụng
Khi có nhu cầu vay vốn các DN phải gửi đến Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam chi nhánh Bình Thạnh, đơn xin vay bao gồm: Khóa luận: Thực trạng tín dụng xuất nhập khẩu tại Vietcombank.
- Hồ sơ liên quan đến tư cách pháp nhân như quyết định thành lập doanh nghiệp, giấy phép kinh doanh, điều lệ (nếu có).
- Các tài liệu về tình hình tài chính của doanh nghiệp gồm các báo cáo quyết toán các năm trước và quý gần nhất tính đến thời điểm xin vay.
- Đơn xin vay kèm theo phương án sản xuất kinh
- Các tài liệu liên quan đến việc cho phép xuất khẩu theo pháp luật Việt
- Hồ sơ thế chấp cầm cố, bảo lãnh và các hình thức bảo đảm nợ vay khác.
Đối với các doanh nghiệp xuất khẩu có nhu cầu nhập khẩu nguyên vật liệu thì phải gửi kèm theo hợp đồng xuất khẩu và các văn bản khác theo quy định của chi nhánh.
Sau khi hoàn tất các điều kiện trên các doanh nghiệp tiến hành giải trình mục đích vay vốn, thanh toán hiệu quả kinh tế và khả năng trả nợ của món vay. Nếu chấp nhận, chi nhánh sẽ kí hợp đồng hay khế ước vay vốn với DN.
Các hình thức tín dụng xuất khẩu: Chi nhánh có thể cho vay đối với nhà xuất khẩu theo các hình thức cụ thể:
Cho vay trước khi có hợp đồng xuất khẩu: DN trước khi có hợp đồng xuất khẩu có thể yêu cầu chi nhánh cho vay để bổ sung vốn lưu động, thu mua, dự trữ sản xuất hàng xuất khẩu. Mức tối đa bằng tổng chi phí cần thiết để thu mua, dự trữ hàng xuất khẩu.
Cho vay sau khi kí hợp đồng xuất khẩu: Sau khi kí hợp đồng xuất khẩu các DN xuất khẩu cũng có thể được chi nhánh xem xét cho vay để tiếp tục bổ sung vốn lưu động, thu mua sản xuất hàng xuất khẩu theo hợp đồng nhưng với điều kiện DN phải cam kết đảm bảo việc thanh toán tiền hàng xuất khẩu sẽ được chuyển vào tài khoản của DN mở tại chi nhánh để trả nợ.
Mức tối đa = tổng chi phí sản xuất ra trị giá hàng hoá theo hợp đồng xuất khẩu đã kí – vốn tự có và vốn ứng trước của người mua, các nguồn huy động khác.
Cho vay khi L/C đã được mở: Sau khi nhận được L/C do ngân hàng nước ngoài phát hành nếu DN có nhu cầu vay vốn lưu động để thu mua dự trữ sản xuất hàng hoá xuất khẩu thì ngoài những hồ sơ đã có trên, DN cần phải gửi hợp đồng xuất khẩu tới chi nhánh và đáp ứng một số điều kiện: Chi nhánh Ngoại thương Bình Thạnh phải là ngân hàng thông báo và thanh toán L/C; Ngân hàng phát hành L/C phải được chi nhánh chấp nhận; trong L/C phải quy định rõ bộ chứng từ phải được xuất trình tại chi nhánh nếu không thì bản gốc của L/C phải do chi nhánh nắm giữ. Khóa luận: Thực trạng tín dụng xuất nhập khẩu tại Vietcombank.
- Mức cho vay tối đa theo hình thức này không vượt quá trị giá L/C.
- Trường hợp DN đã được chi nhánh cho vay để thực hiện hợp đồng thì NH có thể cho vay bổ sung phần vốn chênh lệch.
Cho vay cầm cố hối phiếu: Sau khi xuất hàng có được hối phiếu nếu nhà xuất khẩu có nhu cầu vay vốn sẽ được chi nhánh xem xét cho vay theo hình thức cầm cố hối phiếu.
Mức cho vay tối đa không vượt quá 80% trị giá hối phiếu, trừ một số trường hợp được bảo lãnh khả năng thanh toán hoặc với khách hàng lớn có quan hệ lâu dài mức cho vay có thể đạt tới 90%-95% trị giá hối phiếu.
Khi nhận được tiền hàng chi nhánh sẽ thanh toán lãi phải thu, tự động thu hồi nợ gốc đã cho vay và lãi. Lãi được tính từ ngày phát tiền vay đến ngày chi nhánh thu được tiền từ ngân hàng phát hành L/C hoặc từ DN, phần còn lại NH chuyển trả theo yêu cầu của DN.
Phương pháp cho vay: Chi nhánh có thể cho vay theo quí hoặc cả mùa vụ (nếu DN sản xuất kinh doanh xuất khẩu ổn định) và chi nhánh sẽ xác định hạn mức tín dụng thường xuyên để kí hợp đồng. Với các doanh nghiệp có nhu cầu vốn không thường xuyên, chi nhánh sẽ áp dụng phương pháp cho vay theo món (cho vay từng lần) tương ứng với mức độ đảm bảo nợ vay.
Thời hạn cho vay: Chi nhánh cho vay tối đa không quá 12 tháng và được xác định phù hợp với chu kì sản xuất kinh doanh và luân chuyển hàng hoá hoặc thời hạn thực hiện hợp đồng hoặc thời hạn thanh toán của L/C.
Lãi suất cho vay: Lãi suất cho vay thực hiện theo hướng dẫn cụ thể của Tổng giám đốc trong từng thời kì và tương ứng với loại tiền vay.
Với các khách hàng có quan hệ lâu dài, có quan hệ vay trả thường xuyên, cam kết bán lại ngoại tệ cho chi nhánh khi có doanh thu hàng xuất khẩu thì sẽ được cho vay với lãi suất ưu đãi. Trường hợp có tiền gửi VND làm đảm bảo thì được cho vay với lãi suất thấp.
Thực hiện phát tiền vay: Việc phát tiền vay được dựa trên hợp đồng kinh tế và chuyển thẳng đến đơn vị thụ hưởng. Trường hợp người bán không có tài khoản thì được phép dùng tiền mặt hoặc ngân phiếu thanh toán và việc phát tiền vay dựa trên hoá đơn nhập kho, hợp đồng. Trường hợp ứng tiền để thu mua thì căn cứ vào tiến độ mua hàng giao giám đốc chi nhánh xem xét thực tế để quyết định cho vay. Khóa luận: Thực trạng tín dụng xuất nhập khẩu tại Vietcombank.
Sau từ 7-10 ngày kể từ khi phát tiền vay, chi nhánh phải kiểm tra việc sử dụng vốn vay.
Xử lí hợp đồng vi phạm: Nếu hợp đồng tín dụng bị phá vỡ do các nguyên nhân như:
- Bên mua phá vỡ hợp đồng.
- Bên mua hoặc ngân hàng bên mua bị phá sản.
- Do hình thức thanh toán không an toàn (chuyển tiền điện tử, nhờ ..).
- Rủi ro hối đoái, rủi ro chứng từ thanh toán và các điều khoản bất lợi cho nhà xuất khẩu quy định trong hợp đồng xuất khẩu …
Doanh nghiệp không được hưởng các ưu đãi nêu trên và khoản nợ coi như đến hạn nếu trong 15 ngày sau đó doanh nghiệp không có cách trả nợ cho chi nhánh.
- Đối với nhập khẩu
Với các DN nhập khẩu Ngân hàng TMCP Ngoại thương chi nhánh Bình Thạnh áp dụng các hình thức sau:
Cho vay mở L/C AT SIGHT – hình thức tín dụng tài trợ chủ yếu cho hoạt động nhập khẩu. Hiện nay, tại chi nhánh tài trợ cho hoạt động xuất nhập khẩu chủ yếu dưới hình thức L/C AT SIGHT. Cụ thể về hình thức này như sau :
Khách hàng có nhu cầu nhập vật tư, hàng hoá, máy móc thiết bị, … mà trong hợp đồng ngoại thương quy định thanh toán bằng phương thức tín dụng chứng từ trả tiền ngay (gọi tắt là L/C AT SIGHT) được Ngân hàng ngoại thương xem xét cho mở L/C AT SIGHT.
Trường hợp mở L/C AT SIGHT thanh toán bằng nguồn vốn của khách hàng: Khách hàng phải ký quỹ. Mức ký quỹ tuỳ thuộc vào khả năng khách hàng đó thuộc vào đối tượng nào.
100% giá trị L/C AT SIGHT: Với khách hàng có nhu cầu nhập khẩu vật tư, hàng hoá, máy móc thiết bị thanh toán bằng L/C AT SIGHT sẽ được bộ phận thanh toán quốc tế tiếp nhận và giải quyết.
Trường hợp ký quỹ dưới 100% giá trị L/C: Chỉ áp dụng đối với những khách hàng có tình hình tài chính lành mạnh, quan hệ tín dụng với chi nhánh và với các ngân hàng khác sòng phẳng, không có nợ quá hạn, đồng thời không có lãi treo.
- Mức ký quỹ tuỳ thuộc vào từng loại hình doanh nghiệp : Với doanh nghiệp Nhà nước:
Khách hàng có tài sản thế chấp, cầm cố, bảo lãnh.
- Các Tổng công ty 90, 91 có thể xem xét ký quỹ.
- Các đơn vị thành viên Tổng công ty 90, 91, doanh nghiệp Nhà nước thuộc Bộ,Tỉnh, Thành phố: Mức ký quỹ tối thiểu bằng 5% giá trị L/C. Khóa luận: Thực trạng tín dụng xuất nhập khẩu tại Vietcombank.
- Các đối tượng khác: Mức ký quỹ tối thiểu bằng 20% giá trị L/C.
Khách hàng không có tài sản thế chấp, cầm cố, bảo lãnh.
- Các TCT 90, 91 tối thiểu bằng 5% giá trị L /C.
- Các đơn vị thành viên Tổng công ty 90, 91, DN Nhà nước thuộc Bộ, Tỉnh, Thành Phố: Mức ký quỹ tối thiểu bằng 10% giá trị L /C.
- Các đối tượng khác : Mức ký quỹ tối thiểu bằng 30% giá trị L/
Đối với khách hàng là doanh nghiệp ngoài quốc doanh:
- Mức tối thiểu bằng 50% giá trị L/C đối với khách hàng có tài sản thế chấp, cầm cố, bảo lãnh.
- Và 80% giá trị L/C đối với khách hàng có tài sản thế chấp, cầm cố, bảo lãnh.
Trường hợp khách hàng mở L/C AT SIGHT thanh toán bằng nguồn vốn vay của NH: Khi khách hàng có nhu cầu vay vốn mở L/C nhập khẩu hàng hoá. Ngân hàng sẽ tiến hành các bước xem xét thẩm định, quyết định cho vay, kiểm tra giám sát món vay và các thủ tục khác như các món vay bình thường và tiến hành mở L/C nếu khách hàng hội đủ các điều kiện vay vốn.
Nếu ngân hàng duyệt cho vay theo phương thức cho vay từng lần (đối với cho vay ngắn hạn) hoặc phương thức cho vay theo dự án (đối với dự án trung dài hạn) thì trước khi mở L/C chi nhánh và khách hàng phải ký kết hợp đồng tín dụng.
Nếu chi nhánh duyệt cho vay theo phương thức hạn mức tín dụng thì khi mở L/C khách hàng phải cam kết sử dụng vốn vay (theo mẫu đính kèm).
- Mức ký quỹ:
Đối với cho vay ngắn hạn: Giám đốc chi nhánh xem xét định mức ký quỹ hoặc miễn mức ký quỹ tuỳ thuộc vào mức độ tín nhiệm của khách hàng với chi nhánh trong quan hệ tín dụng, khả năng tài chính, khả năng tiêu thụ hàng hoá, hiệu quả kinh doanh, nguồn trả nợ của khách hàng.
Đối với mức cho vay trung dài hạn:
- Nếu khách hàng mở L/C AT SIGHT để thanh toán 100% bằng vốn vay cho hàng nhập khẩu là máy móc thiết bị thì được miễn ký quỹ.
- Trường hợp trong dự án có một phần cho vay nhập khẩu máy móc thiết bị thanh toán bằng L/C AT SIGHT qua chi nhánh, đơn vị phải trích trong nguồn vốn tự có tham gia vào dự án vay tối thiểu là 5% giá trị L/C để ký quỹ nhưng phải đảm bảo phần chênh lệch giữa giá trị L/C và số tiền ký quỹ không vượt quá phần vốn ngân hàng tham gia vào dự án.
- Trường hợp dự án cho vay vốn chỉ có một phần nhập khẩu máy móc thiết bị, đơn vị ký quỹ toàn bộ phần vốn tự có tham gia vào dự án xin vay để mở L/C nhập khẩu Khóa luận: Thực trạng tín dụng xuất nhập khẩu tại Vietcombank.
Mức ký quỹ :
Khi cho vay ngoại tệ mở và thanh toán L/C, chi nhánh phải chấp hành nghiêm túc mức ủy quyền cho vay ngoại tệ theo quy định của NN đồng thời phải đảm bảo không vượt mức dư nợ cho vay và bảo lãnh cao nhất đối với mọi khách hàng đã được Ngân hàng ủy quyền cho chi nhánh.
- THANH TOÁN L/C AT SIGHT
Khi L/C đến hạn chi nhánh cho khách hàng vay vốn để thanh toán L/C với nước ngoài. Mức cho vay bằng chênh lệch giữa số tiền thực tế thanh toán với nước ngoài trừ đi số tiền kỹ quỹ. Khách hàng phải ký vào giấy nhận nợ để hạch toán vào tài khoản cho vay thích hợp.
Trường hợp đến ngày thanh toán L/C, khách hàng vì một lý do nào đó mà chưa kịp ký vào giấy nhân sự thì chi nhánh căn cứ vào hợp đồng tín dụng cho vay vốn (đã ký kết trước khi mở L/C), chứng từ thanh toán L/C, chi nhánh tự động ghi nợ tài khoản cho vay của khách hàng việc quản lý theo dõi thu nợ, thu lãi thực hiện như khoản vay bình thường.
- Cho vay ngắn hạn nhập khẩu hàng hóa
Chi nhánh, bên cạnh cho vay ngắn hạn đối với các doanh nghiệp xuất khẩu cũng thực hiện cho vay đối với các doanh nghiệp nhập khẩu để họ nhập khẩu hàng hoá phục vụ kinh doanh. Tuy nhiên với các doanh nghiệp nhập khẩu hình thức tín dụng này ít dùng hơn so với các doanh nghiệp xuất khẩu .
- Cho vay trung, dài hạn nhập khẩu máy móc thiết bị, dây chuyền công nghệ sản xuất
Đây là hình thức chủ đạo trong hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu của chi nhánh hiện nay. Theo hình thức này chi nhánh sẽ cung cấp các khoản tín dụng trung và dài hạn cho các doanh nghiệp có nhu cầu nhập khẩu máy móc thiết bị, dây chuyền công nghệ phục vụ đầu tư phát triển.
- Cho vay theo hình thức bảo lãnh nhập hàng trả chậm
Ngoài các hình thức nêu trên đối với các doanh nghiệp chi nhánh còn cho vay theo hình thức ngân hàng đứng ra bảo lãnh cho khách hàng nhập khẩu hàng hoá từ nước ngoài thông qua sự cam kết với ngân hàng nước ngoài trả nợ đúng hạn bằng việc mở L/C trả chậm cho khách hàng, nếu khách hàng không trả đúng hạn chi nhánh sẽ đứng ra trả nợ thay cho DN và DN sẽ phải nhận nợ của chi nhánh.
2.3.2 Thực trạng chất lượng hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu tại chi nhánh trong thời gian vừa qua Khóa luận: Thực trạng tín dụng xuất nhập khẩu tại Vietcombank.
Cùng với quá trình hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng của đất nước, hoạt động tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu của chi nhánh đã đạt được những thành tựu đáng kể. Hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu đã góp phần đa dạng hoá hoạt động ngân hàng quốc tế tại chi nhánh trong quá trình hội nhập, kết hợp với các dịch vụ ngân hàng quốc tế khác phục vụ tích cực cho sự phát triển của chi nhánh và sự phát triển của hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp trên địa bàn.
- Về đối tượng cho vay
Cho vay ngoại tệ: Trong tài trợ XNK chi nhánh cho khách hàng vay ngoại tệ để:
- Nhập khẩu vật tư hàng hoá sản xuất và tiêu dùng trong nước.
- Cho vay tạm nhập tái xuất.
- Chi trả phí vận tải, bảo hiểm.
Cho vay đồng Việt Nam: Chi nhánh cho vay VNĐ để:
- Mua ngoại tệ để nhập vật tư hàng hoá.
- Thu gom hàng hoá để xuất khẩu hoặc sản xuất để xuất khẩu…
Mục đích cho vay tài trợ XNK của chi nhánh: Chi nhánh cho các đơn vị kinh doanh xuất khẩu vay vốn nhằm bổ sung nhu cầu vốn tạm thời trong quá trình thu gom hàng hoá hoặc chế biến hàng hoá để chuẩn bị xuất khẩu. Nhất là đối với các tổ chức xuất khẩu lớn có uy tín, có những hợp đồng xuất khẩu liên tục, thường có nhu cầu vốn ngay để tiếp tục sản xuất kinh doanh bình thường. Đồng thời, chi nhánh cũng tạo điều kiện cho nhà nhập khẩu có đủ khả năng tài chính để thực hiện hợp đồng nhập hàng, thanh toán tiền hàng cho bên xuất khẩu, góp phần đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế về các loại hàng hoá, máy móc thiết bị… mà trong nước chưa có khả năng sản xuất hoặc sản xuất chưa tốt.
Tuy nhiên, trong tín dụng tài trợ xuất khẩu thì chỉ có tín dụng ngắn hạn (dưới 1 năm) chiếm đa số trong dư nợ, điều này là do tính chất mùa vụ của các mặt hàng nông sản thường ngắn, các doanh nghiệp xuất khẩu chỉ có nhu cầu tài trợ trong thời gian ngắn và trong đó tỷ lệ tín dụng trung – dài hạn lại chiếm tỷ trọng lớn. Do chi nhánh chủ yếu tài trợ cho các doanh nghiệp mua máy móc thiết bị có giá trị lớn, thời gian khấu hao dài. Khóa luận: Thực trạng tín dụng xuất nhập khẩu tại Vietcombank.
Một trong những nhiệm vụ quan trọng của chi nhánh là phục vụ các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hàng hoá xuất nhập khẩu. Do đó, chi nhánh rất chú trọng đến hình thức cho vay theo mặt hàng. Các mặt hàng chủ yếu mà chi nhánh tài trợ là:
- Về xuất khẩu: Chi nhánh chú trọng cho vay đối với các ngành có thế mạnh của nền kinh tế như hàng dệt may, hàng thủ công mỹ nghệ, giầy dép các loại, nông sản,…
- Về nhập khẩu: Chi nhánh quan tâm chú ý đến hoạt động cho vay nhập khẩu máy móc, điện tử và linh kiện, thuốc chữa bệnh, hoá chất các loại,…
Cụ thể được minh chứng qua bảng số liệu sau đây:
- Bảng 2.1 : Tình hình dư nợ giữa xuất khẩu và nhập khẩu tại chi nhánh
Chi nhánh không có sự phân biệt rõ ràng nào về ngành hàng được xuất nhập khẩu. Tuy nhiên, do nước ta đang trong giai đoạn công nghiệp hoá – hiện đại hoá nên các nhu cầu về máy móc thiết bị, công nghệ tiên tiến, hàng hoá vật tư là nhu cầu thiết thực. Vì vậy, theo khuyến cáo của Chính phủ, chi nhánh đã hạn chế tài trợ nhập các mặt hàng tiêu dùng xa xỉ hoặc các mặt hàng mà các nhà sản xuất trong nước có thể đáp ứng nhu cầu tiêu dùng nội địa. Điều này góp phần bảo vệ nền sản xuất trong nước và thúc đẩy nền kinh tế đi lên. Chính vì vậy mà trong cơ cấu cho vay tài trợ xuất nhập khẩu thì tỷ lệ cho vay tài trợ nhập khẩu chiếm tỷ trọng lớn khoảng 80% và chỉ dao động khoảng chừng 1%-2%. Điều này cũng phù hợp với điều kiện kinh tế trong thời kỳ hiện nay khi mà các doanh nghiệp vay vốn để nhập khẩu máy móc thiết bị, nguyên nhiên vật liệu phục vụ sản xuất trong nước, nhập khẩu hàng hoá của nước ngoài phục vụ tiêu dùng trong nước. Còn tài trợ xuất khẩu chủ yếu phục vụ các doanh nghiệp thu mua chế biến, xuất khẩu hàng nông sản có giá trị thấp nên nhu cầu tài trợ vốn không nhiều.
Có thể nói trong thời gian vừa qua hoạt động tín dụng XNK tại chi nhánh tăng trưởng khá mạnh mẽ. Để đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn trong hoạt động XNK của các doanh nghiệp, chi nhánh đã tiến hành nhiều biện pháp cải tiến và đa dạng hoá các hình thức tài trợ. Hiện nay, hoạt động tài trợ XNK mang lại rất nhiều lợi nhuận cho Ngân hàng.
Chỉ tiêu dư nợ cho vay tài trợ xuất nhập khẩu:
- Bảng 2.2: Dư nợ cho vay tài trợ xuất nhập khẩu tại chi nhánh
Nhìn vào bảng trên ta thấy rằng dư nợ tín dụng xuất nhập khẩu của chi nhánh tăng trưởng rất nhanh trong giai đoạn 2022-2025 với tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 52.02%/năm. Tính đến cuối năm 2025, dư nợ cho hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu tại chi nhánh là 274,500 triệu đồng gấp 3.5 lần dư nợ tín dụng xuất nhập khẩu của chi nhánh vào năm 2022. Sự tăng trưởng ấn tượng này xuất phát từ những nguyên nhân chính sau: Khóa luận: Thực trạng tín dụng xuất nhập khẩu tại Vietcombank.
Thứ nhất, sự tăng trưởng mạnh mẽ của tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam trong những năm vừa qua đã làm tăng nhu cầu tín dụng xuất nhập khẩu tại chi nhánh. Sau khi Việt Nam gia nhập WTO, hoạt động thương mại của Việt Nam ngày càng tăng trưởng mạnh mẽ do các hàng rào thuế quan đã từng bước được dỡ bỏ tạo điều kiện cho hàng hóa Việt Nam xâm nhập sâu hơn vào thị trường thế giới và ngược lại. Chính vì vậy tổng kim ngạch hàng hóa xuất nhập khẩu của Việt Nam đã gia tăng không ngừng trong những năm vừa qua điều này đã trực tiếp tác động làm gia tăng nhu cầu tín dụng xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp làm cho dư nợ tín dụng xuất nhập khẩu tại chi nhánh gia tăng không ngừng trong những năm vừa qua.
Thứ hai, hoạt động nâng cao chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu đã và đang được Ban giám đốc chi nhánh đặc biệt chú trọng trong những năm vừa qua. Ban giám đốc đã đề ra nhiều biện pháp thiết thực để góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm tín dụng xuất nhập khẩu tại chi nhánh. Điều này đã tác động làm cho nhu cầu của khách hàng đối với sản phẩm tín dụng xuất nhập khẩu tăng lên nhanh chóng góp phần làm gia tăng dư nợ tín dụng xuất nhập khẩu tại chi nhánh trong thời gian vừa qua.
Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn vay của chi nhánh:
- Bảng 2.3: Hiệu suất sử dụng vốn của chi nhánh giai đoạn 2022-2025
Sự tăng trưởng mạnh mẽ của dư nợ tín dụng xuất nhập khẩu trong những năm qua đã tạo ra những tác động tích cực đến hiệu suất sử dụng vốn vay của chi nhánh trong những năm vừa qua. Ngoại trừ năm 2023 hiệu suất sử dụng vốn vay giảm do sự gia tăng quá nhanh của nguồn vốn huy động của chi nhánh, hiệu suất sử dụng vốn vay trong hai năm còn lại 2024 và 2025 luôn cao hơn năm trước đó. Hiệu suất sử dụng vốn vay tăng lên chứng tỏ hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu tại chi nhánh và ngày càng có vai trò quan trọng hơn trong hoạt động tín dụng của chi nhánh.
- Biểu đồ 2.1: Hiệu suất sử dụng vốn của chi nhánh giai đoạn 2022-2025
Chỉ tiêu lợi nhuận:
- Bảng 2.4: Chỉ tiêu lợi nhuận của chi nhánh giai đoạn 2022-2025
Nhìn chung chỉ tiêu lợi nhuận của chi nhánh luôn duy trì ở mức độ tăng tưởng khá tốt trong những năm vừa qua. Chỉ riêng năm 2024 tỷ lệ này giảm xuống còn 4.2% do tốc độ tăng trưởng lợi nhuận năm 2024 thấp hơn so với tốc độ tăng trưởng dư nợ xuất nhập khẩu trong năm này. Năm 2024 lợi nhuận từ tín dụng xuất nhập khẩu tăng 12.73% so với năm 2023 trong khi đó tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vay tăng lên đến 62.85%. Có thể nói nguyên nhân chủ yếu làm cho chỉ tiêu lợi nhuận của chi nhánh tăng đều đặn trong những năm vừa qua là do lãi suất cho vay tăng nhanh và luôn duy trì ở mức cao trong những năm vừa qua đã tác động làm gia tăng lợi nhuận từ tín dụng xuất nhập khẩu của chi nhánh. Lợi nhuận tăng đã góp phần trực tiếp cải thiện chỉ tiêu lợi nhuận của chi nhánh trong những năm vừa qua. Khóa luận: Thực trạng tín dụng xuất nhập khẩu tại Vietcombank.
- Biểu đồ 2.2: Chỉ tiêu lợi nhuận của chi nhánh giai đoạn 2022-2025
Chỉ tiêu nợ quá hạn:
- Bảng 2.5: Chỉ tiêu nợ quá hạn của chi nhánh giai đoạn 2022-2025
Nhìn chung chỉ tiêu nợ quá hạn của chi nhánh có xu hướng giảm dần qua các năm. Nó cho thấy được chất lượng của hoạt động tín dụng tại chi nhánh đang dần được cải thiện trong những năm vừa qua.
Năm 2022 do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu gặp nhiều khó khăn trong hoạt động của mình. Do gặp nhiều khó khăn trong hoạt động nên việc trả nợ Ngân hàng của các doanh nghiệp này cũng trở nên khó khăn hơn. Chính điều này đã tác động làm cho chỉ tiêu nợ quá hạn của chi nhánh ở mức khá cao. Năm 2022 nợ quá hạn chiếm đến 8.22% trong tổng dư nợ tín dụng xuất nhập khẩu của chi nhánh cao nhất trong giai đoạn 2022-2025.
Giai đoạn 2023-2025 nợ quá hạn của chi nhánh có những bước cải thiện đáng kể. Chỉ tiêu nợ quá hạn từ mức 6.17% trong năm 2022 giảm xuống chỉ còn khoảng 2.69% trong năm 2025. Sự cải thiện của chỉ tiêu nợ quá hạn trong giai đoạn này cho ta thấy được chất lượng của hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu tại chi nhánh không ngừng được nâng cao trong những năm vừa qua. Có thể nói bên cạnh yếu tố khách quan đã đề cập ở trên còn có yếu tố chủ quan tác động đến chất lượng hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu tại chi nhánh làm cho chỉ tiêu này không ngừng được cải thiện trong giai đoạn 2023-2025 đó là khả năng quản trị rủi ro rất tốt tín dụng của chi nhánh. Có thể nói Vietcombank là một trong những ngân hàng tại Việt Nam hiện nay có hệ thống quản trị rủi ro rất tốt và đi cùng với đó là chính sách hoạt động tín dụng rất thận trọng của mình.
- Biểu đồ 2.3: Chỉ tiêu nợ quá hạn của chi nhánh giai đoạn 2022-2025
2.4 Đánh giá chất lượng hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu tại chi nhánh Khóa luận: Thực trạng tín dụng xuất nhập khẩu tại Vietcombank.
Hoạt động tín dụng tài trợ XNK là hoạt động phong phú, đa dạng phức tạp những cũng rất quan trọng trong hoạt động kinh doanh của chi nhánh. Hoạt động này không những liên quan đến các đối tác trong nước mà còn liên quan trực tiếp tới tất cả những đối tác nước ngoài (các Ngân hàng Nhà nước, nhà kinh doanh XNK,…). Trong thời gian qua hoạt động tín dụng tài trợ XNK ở chi nhánh luôn được duy trì và không ngừng phát triển. Với tổng dư nợ tín dụng xuất nhập khẩu của chi nhánh tương đối cao và có xu hướng tăng đều mỗi năm với mức trung bình là 52.02%/năm (Bảng 2.2). Nó cho thấy được vị trí của tín dụng xuất nhập khẩu trong hoạt động tín dụng chung của chi nhánh là tương đối tốt. Mức độ phát triển nghiệp vụ tại chi nhánh ngày càng lớn và đóng góp càng nhiều cho các doanh nghiệp cũng như chi nhánh đã tạo dựng được uy tín đối với các bạn hàng hứa hẹn một tương lai tốt trong mối quan hệ lâu dài với khách hàng. Bên cạnh đó, hiệu suất sử dụng vốn vay được thể hiện rất tốt cho thấy được sự tương quan chặt chẽ và hợp lý giữa tổng nguồn vốn huy động và dư nợ tín dụng xuất nhập khẩu. Chính vì thế mà nợ quá hạn khó đòi cũng như tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ của chi nhánh là rất thấp. Đây là một trong những chỉ tiêu định lượng quan trọng nhất phản ánh chất lượng tín dụng. Qua tất cả các chỉ tiêu được xem xét ở trên cho thấy chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu tại chi nhánh là rất tốt rủi ro có thể gặp phải thấp tuy rằng quy mô của chi nhánh chưa cao so với các chi nhánh khác mà có địa điểm được nằm gần các cảng biển hay các khu công nghiệp lớn. Vì ở những nơi đó nhu cầu cho xuất khẩu cũng như nhập khẩu của các doanh nghiệp sẽ cao hơn so với chi nhánh Vietcombank Bình Thạnh.
2.4.1 Những mặt đạt được
Trong 4 năm liên tiếp (2022-2025), nguồn vốn huy động của chi nhánh tăng trưởng mạnh và có sự chuyển dịch theo hướng tăng nguồn vốn dài hạn, năm 2025 đã cơ bản tự chủ được nguồn vốn hoạt động kinh doanh. Chi nhánh không ngừng tăng cường các biện pháp huy động ngoại tệ, thu hút nâng cao số lượng khách hàng gửi tiền, phát hành kỳ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi bằng ngoại tệ. Do vậy, chi nhánh luôn chủ động được nguồn ngoại tệ ngay cả trong những thời điểm khó khăn về ngoại tệ.
Hoạt động tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu máy móc thiết bị là mặt mạnh và là hoạt động truyền thống của chi nhánh với các loại hình đa dạng như cho vay nhập khẩu theo hiệp định khung, bảo lãnh trả chậm, bảo lãnh vay vốn, thuê mua tài chính…
Là một trong những chi nhánh lớn của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam, chi nhánh đã được giao nhiệm vụ thẩm định, cho vay theo kế hoạch Nhà nước trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản. Chính vì vậy, khách hàng truyền thống của chi nhánh là những công ty lớn, uy tín cao, tình hình tài chính vững mạnh, làm ăn hiệu quả cũng chính là những khách hàng có nhu cầu nhập khẩu máy móc thiết bị, nguyên vật liệu lớn. Khóa luận: Thực trạng tín dụng xuất nhập khẩu tại Vietcombank.
Qua 4 năm đi vào hoạt động, phòng thanh toán quốc tế đã có những kinh bước phát triển đáng kể. Đội ngũ cán bộ có trình độ, am hiểu nghiệp vụ ngoại thương, giàu kinh nghiệm, năng động, được trang bị mạng SWIFT, không những phục vụ an toàn hiệu quả nhu cầu thanh toán của khách hàng truyền thống mà còn thu hút được các khách hàng là các công ty TNHH, những khách hàng chuyên doanh nhập khẩu thiết lập quan hệ với chi nhánh.
Về quan hệ hợp tác: Chi nhánh đã có được mối quan hệ hợp tác với các ngân hàng thuộc các nước EU. Với uy tín có được, hiện nay chi nhánh đã mở rộng quan hệ tín dụng xuất nhập khẩu với nhiều ngân hàng trên thế gới như Japan Exim bank, US Exim bank, Thailand Exim bank,…
2.4.2 Những hạn chế và nguyên nhân
Thứ nhất, nguồn vốn cho xuất nhập khẩu chưa đáp ứng được yêu cầu: Hiện nay nhu cầu vay vốn của các DN hoạt động xuất nhập khẩu ngày càng cao trong khi chi nhánh chưa có một nguồn vốn lớn, để đáp ứng nhu cầu này chi nhánh thường phải sử dụng các nguồn vốn vay thương mại trên thị trường với lãi cao và thời hạn ngắn. Ngoài ra, với nguồn vốn huy động từ dân cư và các tổ chức kinh tế thì nguồn vốn trung dài hạn còn thấp, số tiền gửi thanh toán chưa cao gây khó khăn trong việc triển khai các dự án tài trợ trung dài hạn có giá trị lớn.
- Nguyên nhân của hạn chế này là do nhiều phía:
Đối với người gửi tiền họ còn thiếu tin tưởng vào sự ổn định tiền tệ, sự bùng nổ của lạm phát trong những năm trước đây đã tác động đến tâm lý của khách hàng khi gửi tiền. Bởi vậy, họ thường chỉ gửi tiền tại chi nhánh trong thời gian ngắn. Đối với chi nhánh do mới đi vào hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu nên chưa tạo được các mối quan hệ lâu dài và ổn định với bạn hàng. Mặt khác, với các DN xuất nhập khẩu, đặc biệt là các DN xuất khẩu nông lâm thuỷ hải sản thường mang tính thời vụ và phụ thuộc khá nhiều vào tự nhiên do đó nhu cầu vốn thường không ổn định gây khó khăn cho việc chuẩn bị vốn của chi nhánh.
Tuy là có thị phần tín dụng và huy động vốn lớn nhất, nhì trên địa bàn Thành phố, nhưng đối tượng khách hàng có nguồn thu ngoại tệ từ việc xuất khẩu mà ngân hàng có thể mua lại quá nhỏ bé do khách hàng truyền thống chủ yếu là các TCT xây dựng.
Thứ hai là cơ cấu tín dụng xuất nhập khẩu chưa hợp lí, hình thức còn đơn điệu: Hiện nay tín dụng xuất nhập khẩu của chi nhánh chủ yếu là phục vụ nhập khẩu, tín dụng xuất khẩu chiếm tỉ trọng nhỏ và mới chỉ tập trung cho vay ngắn hạn. Bên cạnh đó thì cơ cấu tín dụng chưa hợp lí về hình thức tín dụng xuất nhập khẩu của chi nhánh còn đơn điệu các hình thức. Hiện nay chi nhánh đang áp dụng mới chỉ là các hình thức cổ điển, nhiều hình thức tín dụng xuất nhập khẩu mới và có khả năng thích ứng còn chưa được áp dụng dẫn đến các sản phẩm cung cấp không đa dạng và hạn chế khả năng được lựa chọn của khách hàng cũng như phân tán rủi ro. Khóa luận: Thực trạng tín dụng xuất nhập khẩu tại Vietcombank.
Nguyên nhân của hạn chế này là: Do còn mang nặng quan điểm cũ rằng tín dụng đầu tư xây dựng cơ bản là nhiệm vụ của chi nhánh mình. Và tín dụng hỗ trợ xuất nhập khẩu theo quan điểm truyền thống chỉ gồm các hình thức cho vay theo món, cho vay theo hạn mức tín dụng.
Thứ ba là tín dụng xuất khẩu còn mang nặng tính tự phát, chưa được triển khai đồng bộ trong toàn hệ thống dẫn đến chất lượng hoạt động nhiều khi còn thấp: Hoạt động tín dụng xuất khẩu chưa được xác định rõ nét các biện pháp hỗ trợ riêng còn đan xen với các hoạt động khác.
Nguyên nhân của tình trạng trên là do lĩnh vực hoạt động truyền thống trong những năm qua của chi nhánh là đầu tư xây dựng cơ bản, tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu là hoạt động mới được thực hiện trong mấy năm trở lại đây. Do vậy, thị phần thanh toán quốc tế của chi nhánh trên địa bàn còn nhỏ bé. Chưa có cơ chế phối kết hợp giữa Trung ương và chi nhánh để mở rộng hoạt động này đặc biệt là hoạt động tài trợ xuất khẩu. Thể hiện rõ nét nhất là chi nhánh chưa ban hành quy trình chính thức cho vay tài trợ xuất nhập khẩu, chưa thành lập phòng tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu tại chi nhánh. Khóa luận: Thực trạng tín dụng xuất nhập khẩu tại Vietcombank.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>> Khóa luận: Giải pháp tín dụng xuất nhập khẩu tại Vietcombank

Dịch Vụ Viết Luận Văn Thạc Sĩ 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietthuethacsi.com/ – Hoặc Gmail: dicvuluanvanthacsi@gmail.com
[…] ===>> Khóa luận: Thực trạng tín dụng xuất nhập khẩu tại Vietcombank […]