Luận văn: Quản lý nhà nước về chất lượng công trình xây dựng

Rate this post

Đối với một đất nước đang trên đà phát triển như nước ta, công trình xây dựng là một phần quan trọng không thê thiếu, có lẽ vì vậy mà tác giả lựa chọn Luận văn: Quản lý nhà nước về chất lượng công trình xây dựng, làm bài luận văn thạc sĩ của mình. Công trình xây dựng là một sản phẩm hàng hóa đặc biệt phục vụ cho sản xuất và các yêu cầu của đời sống con người. Hàng năm vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước, của doanh nghiệp và của người dân dành cho xây dựng rất lớn. Chất lượng công trình là yếu tố quyết định đảm bảo công năng, an toàn công trình khi đưa vào sử dụng và hiệu quả đầu tư của dự ánn. Chi tiết tại Đề tài: Quản Lý Nhà Nước Về chất lượng công trình xây dựng trên địa bàn huyện Lệ Thủy, Tỉnh Quảng Bình dưới đây.

Nội dung chính

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Quản lý chất lượng công trình xây dựng là khâu then chốt, được thực hiện xuyên suốt trong quá trình triển khai dự án đầu tư xây dựng công trình đến khi dự án hoàn thành, bàn giao và đưa vào sử dụng. Vì vậy, chất lượng công trình xây dựng là vấn đề cần được hết sức quan tâm, nó có tác động trực tiếp đến sự phát triển bền vững, hiệu quả kinh tế và đời sống của con người.

Trong thời gian qua, công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng yếu tố quan trọng quyết định đến chất lượng công trình xây dựng đã có nhiều tiến bộ. Với sự tăng nhanh và trình độ được nâng cao của đội ngũ cán bộ quản lý, sự lớn mạnh đội ngũ công nhân các ngành xây dựng, với việc sử dụng vật liệu mới có chất lượng cao, việc đầu tư thiết bị thi công hiện đại, sự hợp tác học tập kinh nghiệm của các nước có nền công nghiệp xây dựng phát triển cùng với việc ban hành các chính sách, các văn bản pháp quy tăng cường công tác quản lý chất lượng xây dựng, chúng ta đã xây dựng được nhiều công trình xây dựng dân dụng, công nghiệp, xây dựng, nông nghiệp và phát triển nông thôn… góp phần vào hiệu quả tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân; xây dựng hàng chục triệu m2 nhà ở, hàng vạn trường học, công trình văn hoá, thể thao… thiết thực phục vụ và nâng cao đời sống của nhân dân.

Huyện Lệ Thủy là một trong tám huyện, thị xã, thành phố của tỉnh Quảng Bình, huyện có 26 xã và 2 thị trấn với diện tích hơn 141.611 km2, dân số năm 2017 là 143.063 người. Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2011 2015 là 8,67%, tổng vốn đầu tư xây dựng cơ bản trung bình hàng năm giai đoạn 2012-2016 là 865 triệu đồng (theo niên giám thống kê huyện Lệ Thủy năm 2017). Thời gian qua, được sự quan tâm đầu tư của từ Trung ương, tỉnh Quảng Bình và sự đóng góp của nhân dân nên kết cấu hạ tầng của huyện có nhiều chuyển biến tích cực, nhiều dự án lớn đã được đầu tư như cầu Kiến Giang, cầu Phong Xuân, cầu Phong Liên, trụ sở các cơ quan nhà nước tạo điều kiện thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển, đảm bảo an ninh quốc phòng của huyện nhà.

Tuy nhiên, chất lượng CTXD trên địa bàn huyện Lệ Thủy vẫn còn nhiều hạn chế, còn không ít các công trình kém chất lượng, chưa đáp ứng yêu cầu sử dụng, công trình bị lún, nứt, đưa vào sử dụng thời gian ngắn đã hư hỏng gây tốn kém, phải Sửa chữa, phá đi làm lại. Mặt khác, nhiều công trình không tiến hành bảo trì hoặc bảo trì không đúng định kỳ làm giảm tuổi thọ công trình ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả đầu tư, đồng thời vẫn chưa thực hiện đầy đủ và hết trách nhiệm trong quá trình quản lý của các đơn vị QLNN, nhất là khâu kiểm tra các dự án đầu tư xây dựng dẫn đến nhiều CTXD chưa tuân thủ tốt các quy định về quản lý chất lượng CTXD. Vì vậy, làm thế nào để nâng cao hiệu quả quản lý chất lượng công trình xây dựng bằng các giải pháp cụ thể hiệu quả đang là câu hỏi mang tính cấp bách đặt ra trước những người làm QLNN về chất lượng công trình xây dựng trên địa bàn huyện Lệ Thủy, góp phần ổn định xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.

Qua thực tế công tác tại phòng Kinh tế và Hạ tầng thuộc UBND huyện Lệ Thủy cùng những kiến thức đã học em đã chọn đề tài “Quản lý nhà nước về chất lượng công trình xây dựng trên địa bàn huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình” làm đề tài luận văn tốt nghiệp cao học, chuyên ngành Quản lý công của mình.

2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

Trong thời gian qua đã có một số công trình khoa học liên quan đến đề tài nghiên cứu của luận văn, tiêu biểu là:

  • Nguyễn Huy Thường (2007): “Hoàn thiện quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản ở Việt Nam hiện nay”, luận văn thạc sỷ Luật học;
  • Luậṇ văn thạc sỹ: “Quản lý chất lượng công trình xây dựng dân dụng trên địa bàn tỉnh Quảng Bình”, của Võ Việt Dũng năm

Các nghiên cứu trên, tuy đã đề cập đến vấn đề QLNN bằng pháp luật về đầu tư xây dựng nhưng chủ yếu dưới góc độ luật học. Tuy nhiên, các công trình nêu trên mới chỉ tập trung vào một vấn đề trong quản lý ĐTXD đối với công trình xây dựng dân dụng, nghiên cứu chung quản lý ĐTXD hoặc mới chỉ nghiên cứu dưới góc độ quản lý kinh tế cũng như góc độ pháp luật. Tính đến nay chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu trực tiếp đến vấn đề QLNN về chất lượng CTXD tại địa bàn huyện Lệ Thủy. Mặc dù vậy, các công trình khoa học nêu trên và các công trình khoa học đã được công bố trước đó về xây dựng, QLXD đều là những tài liệu tham khảo có giá trị cho việc nghiên cứu và hoàn thiện luận văn của tác giả.

3. Mục tiêu và nhiệm vụ của luận văn ( Luận văn: Quản lý nhà nước về chất lượng công trình xây dựng )

  • Mục tiêu nghiên cứu: Mục tiêu của luận văn làm rõ cơ sở lý luận chung QLNN về chất lượng CTXD. Đồng thời, phân tích, đánh giá thực trạng QLNN về chất lượng CTXD trong giai đoạn từ năm 2014 đến năm 2017 của huyện Lệ Thủy để nghiên cứu, đề ra giải pháp nâng cao chất lượng công tác QLNN về chất lượng CTXD trên địa bàn huyện Lệ Thủy.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục tiêu trên, luận văn có nhiệm vụ:

  • Về lý luận: Hệ thống hóa những vấn đề chung về quản lý chất lượng CTXD: Khái niệm, đặc điểm, vai trò của CTXD cũng như QLNN về CTXD và các tiêu chí đánh giá chất lượng ..
  • Đánh giá đúng thực trạng công tác QLNN về chất lượng CTXD từ đó chỉ ra những thành công và hạn chế cũng như nguyên nhân của những hạn chế trong QLNN về chất lượng CTXD trên địa bàn huyện Lệ Thủy; đề xuất các quan điểm, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác QLNN về CTXD trên địa bàn huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu luận văn

  • Đối tượng nghiên cứu bao gồm: Nội dung của công tác QLNN về chất lượng CTXD trên địa bàn huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình.
  • Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu công tác QLNN về chất lượng CTXD trên địa bàn huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình từ năm 2014 đến năm

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

Phương pháp luận:

  • Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng và Nhà nước về QLNN đối với CTXD.

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp thu thập số liệu
  • Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: Những số liệu thứ cấp được sử dụng trong nghiên cứu gồm các sách, báo, tạp chí, các văn kiện, nghị quyết, báo cáo, các CTXD trong giai đoạn thực hiện đầu tư như khảo sát, thiết kế, thi công xây dựng.

Sử dụng các số liệu thống kê có sẵn của các bộ phận có liên quan như: Phòng Kinh tế và Hạ tầng, phòng Tài chính – Kế hoạch, Thanh tra huyện và UBND cấp xã, các phòng ban có liên quan.

Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp: Số liệu sơ cấp dùng cho nghiên cứu ( Luận văn: Quản lý nhà nước về chất lượng công trình xây dựng ) này được thu thập bằng điều tra các đối tượng liên quan đến các CTXD trên địa bàn huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình từ năm 2014 đến 2017. Đối tượng điều tra gồm 50 cán bộ, công chức chủ yếu là Chủ tịch Ủy ban nhân dân 28 xã, thị trấn và cán bộ công chức của các phòng, ban cấp huyện; 20 đơn vị thi công trên địa bàn và 50 người dân liên quan đến công tác QLNN về chất lượng CTXD tập trung ở các xã Mỹ Thủy, Xuân Thủy, Hưng Thủy, Cam Thủy, Liên Thủy và thị trấn Kiến

Bảng hỏi sử dụng thang đo Likert 5 mức độ. Bảng hỏi dành cho cán bộ, công chức gồm 26 câu hỏi; đối tượng đơn vị thi công 25 câu hỏi và đối tượng ngừoi dân gồm 8 câu hỏi. Đề tài sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện. Cỡ mẫu được xác định theo nguyên tắc: 5 x số câu hỏi trong bảng hỏi, đảm bảo tính đại diện cho nội dung cần khảo sát.

  • Phương pháp xử lý số liệu

Trong quá trình nghiên cứu tác giả sẽ xử lý thông tin bằng máy vi tính thông qua các phần mềm xử lý số liệu hiện hành, sử dụng các phương pháp phân tổ, phân nhóm. Thực hiện áp dụng một số tiêu thức chuẩn để đánh giá kết quả, hiệu quả QLNN về chất lượng CTXD trên địa bàn huyện Lệ Thủy.

Từ số liệu tại các bảng biểu, tài liệu thông qua điều tra, phỏng vấn và số liệu do các cơ quan chuyên môn cung cấp, tác giả tổng hợp thành các biểu số liệu chi tiết theo từng chỉ tiêu phân tích cụ thể.

  • Phương pháp phân tích số liệu

Căn cứ vào vào các biểu chi tiết, tác giả tiến hành phân tích và so sánh từng chỉ tiêu, chỉ ra thực trạng QLNN về chất lượng CTXD trên địa bàn huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình nhìn từ kết quả hoạt động trên địa bàn; điều kiện địa lý, điều kiện phát triển kinh tế… tại địa phương ảnh hưởng đến công tác QLNN về chất lượng CTXD; các hạn chế; nguyên nhân của các hạn chế đó. Tác giả đã sử dụng các phương pháp:

Phương pháp thống kê mô tả: Sử dụng các chỉ tiêu số tuyệt đối, số tương đối, số bình quân các công trình đảm bảo hay không đảm bảo chất lượng chủ yếu ở các khâu khảo sát xây dựng, thiết kế, thi công xây dựng để phân tích mức độ chất lượng CTXD.

Phương pháp so sánh: Phương pháp phân tích này được dùng để so sánh chất lượng CTXD hoàn thành theo đúng thiết kế, so sánh giữa thực tế với các Nghị định, định mức đơn giá của Nhà nước về quản lý chất lượng CTXD.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiển của luận văn ( Luận văn: Quản lý nhà nước về chất lượng công trình xây dựng )

6.1. Ý nghĩa lý luận

Hệ thống hóa cơ sở lý luận của QLNN về chất lượng CTXD, đưa ra các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý chất lượng CTXD tại huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Đồng thời, tổng kết kinh nghiệm của các đơn vị có đặc điểm tương đồng với huyện Lệ Thủy, rút ra các vấn đề nghiên cứu áp dụng ở địa phương.

6.2. Ý nghĩa thực tiễn

Trên cơ sở quan điểm đổi mới của Đảng và Nhà nước, đánh giá thực trạng QLNN về chất lượng CTXD tại huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình, tham chiếu những vấn đề lý luận và thực tiễn ở các địa phương trong nước; chỉ ra những bất cập trong QLNN về chất lượng CTXD tại huyện Lệ Thủy, từ đó đề xuất định hướng, hệ thống giải pháp nhằm hoàn thiện QLNN về chất lượng CTXD tại huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình.

Đây là công trình, tài liệu tham khảo cho các đối tượng nghiên cứu, sinh viên, cao học và các giảng viên tại các cơ sở đào tạo đại học và trên đại học và những ai quan tâm nghiên cứu công tác QLNN về chất lượng CTXD tại huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình.

Kết quả nghiên cứu của luận văn còn là tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý tại địa bàn huyện Lệ Thủy trong công tác QLNN về chất lượng CTXD trên địa bàn.

7. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phần chính của luận văn được trình bày thành 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiển công tác quản lý nhà nước về chất lượng công trình xây dựng.

Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về chất lượng công trình xây dựng tại huyện Lệ Thủy.

Chương 3: Một số giải pháp về quản lý nhà nước nhằm nâng cao chất lượng công trình xây dựng trên địa bàn huyện Lệ Thủy

Có thể bạn quan tâm:

Dịch Vụ Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỂN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG

1.1. Một số khái niệm cơ bản ( Luận văn: Quản lý nhà nước về chất lượng công trình xây dựng )

1.1.1. Khái niệm công trình xây dựng

  • Công trình xây dựng

Theo Khoản 10 Điều 3 Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 thì: “Công trình xây dựng là sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với đất, có thể bao gồm phần dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước và trên mặt nước, được xây dựng theo thiết kế” [30].

Trên thực tế, CTXD gồm nhiều loại công trình khác nhau, theo quy định tại Khoản 1 Điều 8 Nghị định số 46/2015/NĐ-CP căn cứ theo chức năng sử dụng, công trình xây dựng bao gồm 6 loại công trình như sau[14]:

  1. Công trình dân dụng;
  2. Công trình công nghiệp;
  3. Công trình giao thông;
  4. Công trình nông nghiệp và phát triển nông thôn;
  5. Công trình hạ tầng kỹ thuật;
  6. Công trình quốc phòng, an

Công trình dân dụng gồm Nhà ở và công trình công cộng.

Nhà ở: Nhà chung cư và các loại nhà ở tập thể khác; nhà ở riêng lẻ.

Công trình công cộng gồm: Công trình giáo dục; công trình y tế; công trình thể thao; công trình văn hóa; công trình tôn giáo, tín ngưỡng; công trình thương mại, dịch vụ và trụ sở làm việc; nhà ga; trụ sở cơ quan nhà nước.

Công trình công nghiệp gồm: Công trình sản xuất vật liệu xây dựng, công trình luyện kim và cơ khí chế tạo, công trình khai thác mỏ và chế biến khoáng sản, công trình dầu khí, công trình năng lượng, công trình hóa chất, công trình công nghiệp nhẹ.

Công trình hạ tầng   kỹ thuật gồm:   Công trình   cấp   nước; công trình thoát nước; công trình xử lý chất thải rắn; công trình chiếu sáng công cộng; công trình thông tin, truyền thông; nghĩa trang, nhà tang lễ, cơ sở hỏa táng; công viên, cây xanh; bãi đỗ ô tô, xe máy; cống, bể kỹ thuật, hào và tuy nen kỹ thuật.

Công trình giao thông gồm: Công trình đường bộ; công trình đường sắt; công trình cầu; công trình hầm; công trình đường thủy nội địa; công trình hàng hải; các công trình hàng hải khác; công trình hàng không.

Công trình nông nghiệp và phát triển nông thôn gồm: Công trình thủy lợi; công trình đê điều; công trình chăn nuôi, trồng trọt, lâm nghiệp, diêm nghiệp, thủy sản và các công trình nông nghiệp và phát triển nông thôn khác.

Công trình quốc phòng, an ninh là công trình được đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn ngân sách do Bộ Quốc phòng, Bộ Công an quản lý, phục vụ quốc phòng, an ninh.

Đặc điểm của công trình xây dựng CTXD có những đặc điểm sau: ( Luận văn: Quản lý nhà nước về chất lượng công trình xây dựng )

  • Chủ thể quản lý các CTXD theo quy định bao gồm: Bộ Xây dựng; các bộ, ngành; UBND cấp tỉnh và cấp huyện QLNN trên cơ sở tiêu chuẩn xây dựng đối với các CTXD ban hành kèm theo quy định tại Phụ lục 1 Nghị định số 46/2015/NĐ-CP.
  • CTXD chịu ảnh hưởng của điều kiện địa lý, tự nhiên, kinh tế – xã hội. Đặc điểm này chi phối tới việc thực hiện dự án như khảo sát, thiết kế, lựa chọn phương án thi công, kết cấu công trình, điều kiện mặt bằng thi công,…
  • CTXD có vốn đầu tư lớn, thời gian thực hiện và thời gian sử dụng lâu dài, trình độ kỹ thuật và mỹ thuật cao; có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế – xã hội, dân sinh, văn hóa và quốc phòng, an
  • Có liên quan đến nhiều ngành, nhiều lực lượng khác nhau cùng hợp tác tạo thành. Đặc điểm này làm cho việc quản lý đầu tư xây dựng CTXD khá phức tạp.
  • Ảnh hưởng cũng như tác động rất lớn đến kiến trúc cảnh quan, môi trường tự nhiên, môi trường xã hội, do đó liên quan rất nhiều đến lợi ích của cộng đồng dân cư địa phương nơi xây dựng công trình.
  • CTXD là sản phẩm xây dựng mang tính chất tổng hợp về kỹ thuật, kinh tế, xã hội, văn hoá, nghệ thuật và an ninh, quốc phòng.
  • Chất lượng CTXD thể hiện bởi sự tuân thủ các quy chuẩn, tiêu chuẩn được quy định qua các giai đoạn hình thành công trình xây dựng. Do quá trình hình thành CTXD lâu dài nên chất lượng sản phẩm xây dựng bị thay đổi theo thời gian, không gian và điều kiện sử dụng.

1.1.2. Khái niệm chất lượng công trình xây dựng

Chất lượng sản phẩm được xem xét trên nhiều góc độ khác nhau như: ( Luận văn: Quản lý nhà nước về chất lượng công trình xây dựng )

  • Xuất phát từ bản thân sản phẩm: Chất lượng là tập hợp những tính chất của bản thân sản phẩm để chế định tính thích hợp của nó nhằm thỏa mãn những nhu cầu xác định phù hợp với ứng dụng của nó.
  • Xuất phát từ phía nhà sản xuất: Chất lượng là sự hoàn hảo và phù hợp của một sản phẩm với một tập hợp các yêu cầu tiêu chuẩn hay các quy cách đã được xác định trước.
  • Theo định nghĩa của Tổ chức Tiêu chuẩn hóa Quốc tế (ISO) nêu trong tiêu chuẩn Quốc tế ISO 9000:2005:“Chất lượng là mức độ đáp ứng các yêu cầu của một tập hợp có đặc tính vốn có”.
  • Theo thuật ngữ và quan điểm tại Luật Xây dựng: Chất lượng CTXD là tập hợp các đặc tính kỹ thuật của công trình xây dựng được xác định thông qua kiểm tra, đo đạc, thí nghiệm, kiểm định thỏa mãn các yêu cầu về an toàn, bền vững, kỹ thuật, mỹ thuật của công trình và phù hợp với thiết kế, các quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật được áp dụng, hợp đồng xây dựng và quy định của pháp luật có liên quan.
  • Chất lượng CTXD không chỉ đảm bảo sự an toàn về mặt kỹ thuật mà còn phải thỏa mãn các yêu cầu về an toàn sử dụng, tính kinh tế, tính thẩm mỹ, bản sắc văn hóa…. Ví dụ: một công trình cầu quá an toàn, quá chắc chắn nhưng không phù hợp với quy hoạch, kiến trúc, gây những ảnh hưởng bất lợi cho cộng đồng (an ninh, an toàn môi trường…), không kinh tế thì cũng không thoả mãn yêu cầu về chất lượng công trình. Có được chất lượng CTXD như mong muốn, có nhiều yếu tố ảnh hưởng, trong đó có yếu tố cơ bản nhất là năng lực quản lý (của chính quyền, của chủ đầu tư) và năng lực của các nhà thầu tham gia các quá trình hình thành sản phẩm xây dựng.

Để CTXD đảm bảo chất lượng thì cần phải quan tâm đến các vấn đề sau đây:

  • Chất lượng CTXD phải được thực hiện từ khâu lập quy hoạch, lập chủ trương đầu tư, lập dự án đầu tư đến khảo sát, thiết kế, thẩm định, thi công,… cho đến giai đoạn khai thác, sử dụng, bảo trì. Chất lượng CTXD thể hiện ở chất lượng lập quy hoạch xây dựng, chất lượng lập dự án đầu tư, chất lượng hồ sơ thiết kế,…
  • Chất lượng CTXD được hình thành từ chất lượng của nguyên vật liệu, cấu kiện, máy móc, thiết bị kỹ thuật đưa vào công trình thông qua các kết quả thí nghiệm, kiểm định. Mặt khác, nó được thực hiện từ các bước công nghệ thi công, chất lượng của đội ngũ công nhân, kỹ thuật công trình. ( Luận văn: Quản lý nhà nước về chất lượng công trình xây dựng )
  • Chất lượng công trình luôn phải gắn với vấn đề an toàn công trình. Vấn đề an toàn không chỉ phải đảm bảo trong giai đoạn khai thác công trình mà phải đảm bảo trong giai đoạn thi công xây dựng đối với bản thân công trình, với đội ngũ công nhân, kỹ thuật cùng các thiết bị xây dựng và khu vực công trình.
  • Chất lượng CTXD phải đảm bảo đúng tiến độ theo hợp đồng xây dựng, nghĩa là chất lượng công trình không chỉ thể hiện ở thời gian hoàn thành công trình đưa vào sử dụng mà còn thể hiện việc đáp ứng theo tiến độ quy định của từng hạng mục công trình theo quy định.
  • Chất lượng công trình cần quan tâm đến vấn đề môi trường không chỉ từ góc độ tác động của công trình đến môi trường mà cả tác động ngược lại từ môi trường tới quá trình hình thành dự án.
  • Chất lượng CTXD phải quan tâm đến hiệu quả và thời gian sử dụng của công trình sau khi nghiệm thu hoàn thành đưa vào khai thác sử dụng.

Tóm lại, Chất lượng CTXD là tập hợp các đặc tính kỹ thuật của CTXD được xác định thông qua kiểm tra, đo đạc, thí nghiệm, kiểm định đáp ứng các yêu cầu đặt ra trong những điều kiện nhất định, thể hiện sự phù hợp về quy hoạch, đạt được độ tin cậy trong khâu thiết kế, thẩm định, thi công, vận hành theo quy chuẩn, tiêu chuẩn quy định; chất lượng công trình có tính xã hội, thẩm mỹ và hiệu quả đầu tư cao, thể hiện tính đồng bộ trong công trình, thời gian xây dựng đúng tiến độ.

1.1.3. Tiêu chí đánh giá chất lượng công trình xây dựng

Việc đánh giá chất lượng CTXD hiện nay có nhiều ý kiến khác nhau, lý do chính là ở chỗ chưa có những quan điểm chung thống nhất khi đánh giá. Do đó, quan điểm đánh giá chất lượng CTXD cần xuất phát từ các quan điểm sau:

  • Một là, đánh giá dưới góc độ của Luật Xây dựng “CTXD là sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với đất, có thể bao gồm phần dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước và phần trên mặt nước, được xây dựng theo thiết kế”…Với góc độ này thì chất lượng công trình phụ thuộc vào năng lực của những nguời tham gia xây dựng công trình (lập dự án đầu tư xây dựng, thiết kế , khảo sát, thi công xây dựng, quản lý dự án đầu tư xây dựng và giám sát thi công xây dựng công trình); phụ thuộc vào chất lượng vật liệu, vật tư và thiết bị lắp đặt vào công trình; phụ thuộc vào chất lượng thi công xây dựng; phụ thuộc vào chất lượng khảo sát xây dựng và thiết kế xây dựng công trình; và phụ thuộc vào công tác quản lý chất lượng các khâu trong quá trình lập và thực hiện dự án đầu tư xây dựng công trình. ( Luận văn: Quản lý nhà nước về chất lượng công trình xây dựng )
  • Hai là, đánh giá về mức độ an toàn, bền vững của công trình. Theo Luật Xây dựng thì sự cố công trình là những hư hỏng vượt quá giới hạn an toàn cho phép làm cho công trình có nguy cơ sập đổ, đã sập đổ một phần hoặc toàn bộ công trình hoặc công trình không sử dụng được theo thiết kế. Theo đó, có 4 loại sự cố bao gồm sự cố sập đổ, sự cố về biến dạng, sự cố sai lệch vị trí và sự cố về công năng; về cấp độ có cấp I, II, III và cấp IV tùy thuộc vào mức độ hư hỏng công trình và thiệt hại về người. Chính vì vậy mà mức độ an toàn, bền vững của công trình là điều cần phải được xem xét chặt chẽ và nghiêm túc.
  • Ba là, đánh giá sự đáp ứng của công trình với các quy định về quy chuẩn xây dựng và các tiêu chuẩn kỹ thuật xây dựng được phép áp dụng cho riêng dự án đã nêu trong hợp đồng xây dựng.
  • Bốn là, đánh giá về mỹ thuật của công trình xây dựng. Ngoài yêu cầu về độ an toàn và bền vững thì yêu cầu mỹ thuật đối với CTXD không thể xem nhẹ được. CTXD trường tồn với thời gian, nếu chất lượng mỹ thuật không đảm bảo thì chủ đầu tư không được thụ hưởng công trình đẹp và không đóng góp cảnh quan đẹp cho xã hội. CTXD phải thể hiện được tính sáng tạo độc đáo, bố cục hiện đại nhuần nhuyễn với truyền thống, tránh sao chép, lặp lại, đơn điệu trong nghệ thuật kiến trúc.

Tóm lại, chất lượng CTXD phải được đánh giá về độ an toàn, bền vững, kỹ thuật và mỹ thuật phù hợp với Quy chuẩn và tiêu chuẩn xây dựng, các quy định trong VBQPPL có liên quan và hợp đồng giao nhận thầu xây dựng.

Theo đó, căn cứ Điều 6 Nghị định 46/CP-NĐ, về áp dụng các tiêu chuẩn, tiêu chí trong xây dựng các CTXD phải tuân thủ các quy định tại Điều 6 Luật Xây dựng và tuân thủ các quy định có liên quan do Bộ Xây dựng ban hành.

  • Khi áp dụng tiêu chuẩn nước ngoài phải có bản thuyết minh về sự cần thiết phải áp dụng. Tiêu chuẩn nước ngoài được áp dụng phải có toàn văn tiêu chuẩn dưới dạng tệp tin hoặc bản in và phải có bản dịch tiếng Việt hoặc tiếng Anh cho phần nội dung sử dụng.
  • Đối với các giải pháp kỹ thuật, công nghệ, vật liệu mới chủ yếu của công trình lần đầu áp dụng tại Việt Nam phải đáp ứng yêu cầu của quy chuẩn kỹ thuật và quy định của pháp luật có liên quan. Nhà thầu đề xuất áp dụng các giải pháp kỹ thuật công nghệ, vật liệu mới có trách nhiệm cung cấp các căn cứ, tài liệu chứng minh về điều kiện đảm bảo an toàn, hiệu quả và khả thi khi áp dụng để cơ quan có thẩm quyền thẩm định trong quá trình thẩm định thiết kế XDCT theo quy định của pháp luật về xây dựng.

1.2. Quản lý nhà nước đối với chất lượng công trình xây dựng

1.2.1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò quản lý nhà nước về chất lượng công trình xây dựng

  • Khái niệm quản lý nhà nước về chất lượng công trình xây dựng

QLNN thường được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp:

Khái niệm QLNN theo nghĩa rộng: Là hoạt động tổ chức, điều hành của cả bộ máy nhà nước, nghĩa là bao hàm cả sự tác động, tổ chức của quyền lực nhà nước trên các phương diện lập pháp, hành pháp và tư pháp. ( Luận văn: Quản lý nhà nước về chất lượng công trình xây dựng )

Theo nghĩa hẹp, QLNN chủ yếu là quá trình tổ chức, điều hành của hệ thống cơ quan hành chính Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người theo pháp luật nhằm đạt được những mục tiêu yêu cầu nhiệm vụ QLNN. Đồng thời, các cơ quan nhà nước còn thực hiện các hoạt động mang tính chấp hành các hoạt động QLNN nhằm xây dựng tổ chức bộ máy và cũng cố chế độ công tác nội bộ của mình.

QLNN về chất lượng CTXD:

Theo ISO 9000: “Quản lý chất lượng là tất cả những hoạt động của chức năng chung của quản lý, bao gồm các việc xác định chính sách chất lượng, mục tiêu, trách nhiệm và thực hiện chúng bằng các biện pháp như lập kế hoạch chất lượng, kiểm soát chất lượng, bảo đảm chất lượng và cải tiến chất lượng trong khuôn khổ hệ chất lượng”.

Theo Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 46/2015/NĐ-CP ngày 12/5/2015 của Chính phủ về quản lý và bảo trì chất lượng công trình xây dựng thì “Quản lý chất lượng công trình xây dựng là hoạt động quản lý của các chủ thể tham gia các HĐXD theo quy định của Nghị định này và pháp luật khác có liên quan trong quá trình chuẩn bị, thực hiện đầu tư xây dựng công trình và khai thác, sử dụng công trình nhằm đảm bảo các yêu cầu về chất lượng và an toàn của công trình.” [14].

Dưới góc độ QLNN: QLNN về chất lượng CTXD là tập hợp những hoạt động của cơ quan có chức năng quản lý thông qua các biện pháp như lập kế hoạch chất lượng, kiểm tra chất lượng, đảm bảo chất lượng và cải tiến chất lượng công trình.

Căn cứ Điều 2 Nghị định số 46/2015/NĐ-CP, các chủ thể tham gia HĐXD và quản lý chất lượng CTXD bao gồm: Người quyết định đầu tư, chủ đầu tư, chủ sở hữu, người quản lý, sử dụng công trình, nhà thầu trong nước, nhà thầu nước ngoài, các cơ quan QLNN về xây dựng và các tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến công tác quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng

Đối với các công trình xây dựng sau khi xây dựng đưa vào khai thác, tuổi thọ của công trình phụ thuộc vào hai giai đoạn: Lập thẩm định dự án, triển khai thực hiện xây lắp công trình và Quản lý trong quá trình khai thác (bảo trì, duy tu Sửa chữa…). Các giai đoạn thực hiện trên phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhiều chủ thể tham gia đảm bảo chất lượng cũng như tuổi thọ của công trình. Công tác quản lý chất lượng CTXD bao gồm các hoạt động quản lý chất lượng trong các giai đoạn khảo sát, thiết kế, thi công, nghiệm thu, bảo hành, bảo trì và xử lý sự cố công trình xây dựng.

– Đối với giai đoạn đầu tư xây dựng: Hoạt động đảm bảo chất lượng CTXD phụ thuộc vào quá trình đầu tư xây dựng, từ bước chuẩn bị đầu tư (lập dự án đầu tư) đến thực hiện đầu tư, công tác khảo sát thiết kế, thẩm định, phê duyệt và thi công xây dựng công trình.

+ Các yếu tố kỹ thuật: Quy mô, tiêu chuẩn kỹ thuật của công trình (tiêu chuẩn thiết kế, tiêu chuẩn và công nghệ thi công). Vị trí địa điểm xây dựng công trình, đặc điểm địa hình, địa chất, thủy văn.

+ Các chủ thể tham gia vào dự án: Tư vấn lập, thẩm định dự án; thẩm tra thiết kế kỹ thuật… Các cơ quan QLNN, Chủ đầu tư, Ban QLDA, tư vấn giám sát xây dựng, kiểm định dự án và đặc biệt là nhà thầu thi công… ( Luận văn: Quản lý nhà nước về chất lượng công trình xây dựng )

+ Các chế độ chính sách trong công tác quản lý xây dựng, tiền vốn và các yếu tố xã hội tác động đến dự án.

– Đối với giai đoạn quản lý khai thác và bảo trì cũng phụ thuộc vào nhiều yếu tố:

+ Công tác tổ chức quản lý khai thác, bảo trì CTXD.

+ Các điều kiện xã hội, ý thức của người dân và phương tiện tham gia xây dựng.

+ Các quy định trong quản lý khai thác (quy định bảo trì, duy tu Sửa chữa).

+ Nguồn vốn đảm bảo cho công tác bảo trì, duy tu Sửa chữa.

+ Các hoạt động quan trắc, kiểm định đánh giá chất lượng, khả năng chịu lực của công trình trong quá trình khai thác.

  • Vai trò của quản lý nhà nước đối với chất lượng công trình xây dựng

Công tác QLNN về chất lượng CTXD có vai trò to lớn đối với nhà thầu, chủ đầu tư và các doanh nghiệp xây dựng, vai trò đó được thể hiện cụ thể là:

  1. Đối với Nhà nước: Công tác QLNN về chất lượng tại các CTXD được đảm bảo sẽ tạo được sự ổn định trong xã hội, tạo được niềm tin đối với các nhà đầu tư trong và ngoài nước tham gia vào lĩnh vực xây dựng, hạn chế được những rủi ro, thiệt hại cho những người sử dụng CTXD nói riêng và cộng đồng nói
  2. Đối với chủ đầu tư: Đảm bảo và nâng cao chất lượng công trình xây dựng sẽ thoả mãn được các yêu cầu của CĐT, tiết kiệm được vốn cho Nhà nước hay nhà đầu tư và góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống xã hội.

Ngoài ra, đảm bảo và nâng cao chất lượng tạo lòng tin, sự ủng hộ của các tổ chức xã hội và người hưởng lợi đối với CĐT, góp phần phát triển mối quan hệ hợp tác lâu dài.

  • Đối với nhà thầu: Việc đảm bảo và nâng cao chất lượng CTXD sẽ tiết kiệm nguyên vật liệu, nhân công, máy móc thiết bị, tăng năng suất lao động. Nâng cao chất lượng CTXD có ý nghĩa quan trọng tới nâng cao đời sống người lao động, thuận lợi cho việc áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ đối với nhà thầu. Chất lượng CTXD gắn với an toàn của thiết bị và nhân công nhà thầu trong quá trình xây dựng. Ngoài ra, chất lượng CTXD đảm bảo cho việc duy trì và nâng cao thương hiệu cũng như phát triển bền vững của nhà thầu ( Luận văn: Quản lý nhà nước về chất lượng công trình xây dựng )
  • Ý nghĩa của việc quản nhà nước về chất lượng công trình xây dựng QLNN về chất lượng CTXD là một vấn đề sống còn được Nhà nước và cộng đồng hết sức quan tâm. Nếu công tác QLNN về chất lượng CTXD thực hiện tốt sẽ không xảy ra sự cố, tuổi thọ công trình đáp ứng thời gian quy định trong hồ sơ thiết kế, phát huy hiệu quả dự án, đáp ứng đầy đủ nhiệm vụ theo quyết định phê duyệt. Do vậy, việc nâng cao công tác QLNN về chất lượng CTXD không chỉ là nâng cao chất lượng công trình mà còn góp phần chủ động phòng chống tham nhũng, ngăn ngừa thất thoát trong xây dựng. Theo thực tế, ở đâu tuân thủ nghiêm ngặt những quy định của Nhà nước về quản lý chất lượng CTXD thì ở đó chất lượng công trình tốt và hạn chế được tiêu cực trong xây dựng. CTXD khác với sản phẩm hàng hoá thông thường khác vì CTXD có phạm vi ảnh hưởng tương đối rộng, được thực hiện trong một thời gian dài, do nhiều người tham gia, gồm nhiều vật liệu tạo nên, thường xuyên chịu tác động bất lợi của thời tiết và điều kiện tự nhiên. Cũng vì đặc điểm đó, việc nâng cao công tác QLNN về chất lượng CTXD là rất cần thiết, bởi nếu xãy ra sự cố thì sẽ gây ra tổn thất rất lớn về người và của, tác động xấu đến môi trường vùng hưởng lợi, đồng thời cũng rất khó khắc phục hậu quả.

Nâng cao công tác QLNN về chất lượng CTXD là góp phần nâng cao chất lượng sống cho con người. Mỗi công trình được xây dựng có chất lượng công trình bảo đảm, tránh được xảy ra những sự cố đáng tiếc thì sẽ tiết kiệm được đáng kể cho ngân sách nhà nước. Số tiền đó sẽ được dùng vào công tác đầu tư cho phát triển kinh tế xã hội, góp phần nâng cao đời sống nhân dân, hoặc dùng cho công tác xóa đói giảm nghèo.

  • Đặc điểm của quản nhà nước về chất lượng công trình xây dựng

QLNN về chất lượng CTXD là hoạt động của các chủ thể tham gia HĐXD theo quy định của Nhà nước trong quá trình chuẩn bị, thực hiện đầu tư xây dựng công trình và khai thác sử dụng nhằm đảm bảo các yêu cầu về chất lượng và an toàn của công trình.

QLNN về chất lượng CTXD không can thiệp trực tiếp mà gián tiếp thông qua công cụ pháp luật tác động vào công tác quản lý sản xuất hàng ngày giữa người đặt hàng (chủ đầu tư) và người bán hàng (các nhà thầu) để làm ra sản phẩm xây dựng – một loại sản phẩm có tính đơn chiếc.

Hoạt động QLNN về chất lượng CTXD là mang tính vĩ mô, tính định hướng, tính hỗ trợ và tính cưỡng chế của cơ quan công quyền. Các cơ quan QLNN chịu trách nhiệm về tình hình chất lượng CTXD trên địa bàn được phân cấp quản lý chứ không phải là chất lượng cụ thể của từng công trình.

Nhà nước tổ chức nghiên cứu, soạn thảo và ban hành quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật nhằm đưa ra các tiêu chí và chuẩn mực để làm ra sản phẩm xây dựng và đánh giá chất lượng sản phẩm cần đạt được. Sau khi đã tạo được môi trường pháp lý và kỹ thuật, Nhà nước phải tổ chức hướng dẫn việc thực thi trong thực tế. Việc kiểm tra phải được thực hiện theo đúng nội dung và thẩm quyền nhằm cưỡng chế các chủ thể thực hiện đầy đủ về nội dung và trình tự quy định trong công tác bảo đảm chất lượng CTXD không chỉ bảo vệ lợi ích của chủ đầu tư, của các chủ thể khác mà cao hơn là lợi ích của cả cộng đồng.

1.2.2. Nguyên tắc quản lý nhà nước về quản lý chất lượng công trình xây dựng ( Luận văn: Quản lý nhà nước về chất lượng công trình xây dựng )

Căn cứ Điều 4 Nghị định số 46/2015/NĐ-CP về quản lý và bảo trì chất lượng CTXD, các nguyên tắc trong QLNN về chất lượng CTXD bao gồm [14]:

  • Thứ nhất, CTXD phải được kiểm soát chất lượng theo quy định của Nghị định này và pháp luật có liên quan từ chuẩn bị, thực hiện đầu tư xây dựng đến quản lý, sử dụng công trình nhằm đảm bảo an toàn cho người, tài sản, thiết bị, công trình và các công trình lân cận.
  • Thứ hai, hạng mục công trình, công trình xây dựng hoàn thành chỉ được phép đưa vào khai thác, sử dụng sau khi được nghiệm thu bảo đảm yêu cầu của thiết kế xây dựng, tiêu chuẩn áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật cho công trình, các yêu cầu của hợp đồng xây dựng và quy định của pháp luật có liên quan.
  • Thứ ba, nhà thầu khi tham gia HĐXD phải có đủ điều kiện năng lực theo quy định, phải có biện pháp tự quản lý chất lượng các công việc xây dựng do mình thực hiện, Nhà thầu chính hoặc tổng thầu có trách nhiệm quản lý chất lượng công việc do nhà thầu phụ thực hiện.
  • Thứ tư, Chủ đầu tư có trách nhiệm tổ chức quản lý chất lượng công trình phù hợp với hình thức đầu tư, hình thức quản lý dự án, hình thức giao thầu, quy mô và nguồn vốn đầu tư trong quá trình thực hiện đầu tư xây dựng công trình theo quy định của Nghị định này. Chủ đầu tư được quyền tự thực hiện các HĐXD nếu đủ điều kiện năng lực theo quy định của pháp luật.
  • Thứ năm, cơ quan chuyên môn về xây dựng hướng dẫn, kiểm tra công tác quản lý chất lượng của các tổ chức, cá nhân tham gia xây dựng công trình; thẩm định thiết kế, kiểm tra công tác nghiệm thu công trình xây dựng, tổ chức thực hiện giám định chất lượng công trình xây dựng; kiến nghị và xử lý các vi phạm về chất lượng công trình xây dựng theo quy định của pháp luật.
  • Thứ sáu, các chủ thể tham gia hoạt động đầu tư xây dựng quy định tại Khoản 3, Khoản 4 và Khoản 5 Điều này chịu trách nhiệm về chất lượng các công việc do mình thực hiện.

1.2.3. Nội dung quản lý nhà nước về quản lý chất lượng công trình xây dựng

Theo quy định tại Khoản 3 Điều 55 Nghị định số 46/2015/NĐ-CP thì QLNN về chất lượng CTXD có nhiều nội dung. Đối với công tác QLNN về chất lượng CTXD ở cấp huyện có 04 nội dung chính như sau [14]:

  • Hướng dẫn Ủy ban nhân dân cấp xã, các tổ chức và cá nhân tham gia hoạt động xây dựng trên địa bàn thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý chất lượng công trình xây dựng

Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật luôn có vị trí quan trọng; là khâu then chốt, quan trọng để chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước thực sự đi vào cuộc sống xã hội, đi vào ý thức, hành động của từng chủ thể trong xã hội. Do đó, công tác hướng dẫn các văn bản pháp luật liên quan đến chất lượng CTXD là hết sức quan trọng nhằm đảm bảo cho các chủ thể tham gia HĐXD trên địa bàn được nắm bắt đầy đủ những quy định liên quan để triển khai thực hiện.

Việc hướng dẫn phải thực hiện thường xuyên, kịp thời và chính xác, thông qua các hội nghị phổ biến, tập huấn, hội thảo hay các văn bản hướng dẫn nhằm đem lại hiệu quả cao nhất. ( Luận văn: Quản lý nhà nước về chất lượng công trình xây dựng )

  • Tổ chức kiểm tra định kỳ theo kế hoạch và kiểm tra đột xuất của quản lý nhà nước về chất lượng công trình xây dựng được ủy quyền quyết định đầu tư trên địa bàn

Bản chất của hoạt động QLNN về chất lượng CTXD là mang tính vĩ mô, tính định hướng, tính hỗ trợ và tính cưỡng chế của cơ quan công quyền. Các cơ quan QLNN chịu trách nhiệm về tình hình chất lượng CTXD trên địa bàn được phân cấp quản lý chứ không phải là chất lượng cụ thể của từng công trình. Điểm b, Khoản 3, Điều 8, Nghị định số 37/2014/NĐ-CP ngày 05/4/2014 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh quy định như sau: Phòng Kinh tế và Hạ tầng là cơ quan tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân huyện thực hiện chức năng QLNN về: Công nghiệp; tiểu thủ công nghiệp; thương mại; quy hoạch xây dựng, kiến trúc; hoạt động đầu tư xây dựng; phát triển đô thị; xây dựng đô thị, khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao (bao gồm: cấp nước, thoát nước đô thị và khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao, cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng; chiếu sáng đô thị, cây xanh đô thị; quản lý nghĩa trang, trừ nghĩa trang liệt sĩ; quản lý xây dựng ngầm đô thị; quản lý sử dụng chung cơ sở xây dựng đô thị); nhà ở; công sở; vật liệu xây dựng; xây dựng; khoa học và công nghệ. Vì vậy, việc lập kế hoạch kiểm tra, thanh tra hoặc thanh kiểm tra đột xuất là hết sức cần thiết để duy trì hoạt động QLNN về chất lượng công trình xây dựng.

Việc kiểm tra phải được thực hiện theo đúng nội dung và thẩm quyền nhằm cưỡng chế các chủ thể thực hiện đầy đủ về nội dung và trình tự quy định trong công tác bảo đảm chất lượng CTXD không chỉ bảo vệ lợi ích của chủ đầu tư, của các chủ thể khác mà cao hơn là lợi ích của cả cộng đồng.

  • Thẩm định thiết kế xây dựng công trình xây dựng theo phân cấp

Thẩm định thiết kế CTXD của cơ quan QLNN về xây dựng cơ bản thực chất là hoạt động kiểm tra chất lượng hồ sơ thiết kế phù hợp với quy chuẩn, tiêu chuẩn sử dụng, chủ trương đầu tư và đảm bảo tính kinh tế đối với công trình vốn ngân sách và vốn ngoài ngân sách nhà nước. Năm 2015, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 46/2015/NĐ-CP về quản lý chất lượng công trình xây dựng, trong đó bắt buộc công tác thẩm định thiết kế của cơ quan QLNN đối với tất cả các công trình xây dựng không kể nguồn vốn cho thấy Nhà nước đã tăng cường quản lý công tác này sau hơn 10 năm giao công tác thẩm định thiết kế CTXD cho chủ đầu tư thực hiện theo Luật xây dựng năm 2003.

  • Kiểm tra công tác nghiệm thu đưa công trình vào sử dụng theo ủy quyền của Ủy ban nhân dân tỉnh

Mục đích của việc kiểm tra trước khi nghiệm thu là để kiểm tra chi tiết chất lượng của công trình hoàn thành hoặc gần hoàn thành. Tại bước này, nếu có khiếm khuyết thì cũng khó có thể làm gì nhiều. Tuy nhiên, đây cũng không phải là trường hợp thường xuyên xảy ra nếu như thực hiện đầy đủ công tác kiểm tra kỹ thuật như các bước nêu trên đúng cách. Mục tiêu chính của việc kiểm tra trước khi nghiệm thu nhằm để đảm bảo rằng công trình được thi công đảm bảo theo hồ sơ thiết kế được được cấp có thẩm quyền phê duyệt, tất cả các tài liệu cần thiết đều được sắp xếp đúng cách để có thể dễ dàng kiểm tra trong khi nghiệm thu chính thức.

Tóm lại, chất lượng CTXD là vấn đề hết sức quan trọng, nó có tác động trực tiếp đến hiệu quả kinh tế, đời sống của con người và sự phát triển bền vững. Đặc biệt, ở nước ta vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, doanh nghiệp và nhân dân chiếm tỷ trọng rất lớn trong thu nhập quốc dân. Vì vậy, để tăng cường quản lý chất lượng CTXD, các cơ quan QLNN ở Trung ương và địa phương cần thực hiện: ( Luận văn: Quản lý nhà nước về chất lượng công trình xây dựng )

  • Ban hành các văn bản pháp quy như Luật, Nghị định, Thông tư, các tiêu chuẩn, quy phạm xây dựng nhằm tạo ra môi trường pháp lý cho việc tổ chức thực hiện quản lý chất lượng CTXD.
  • Đề ra các chủ trương chính sách khuyến khích đầu tư thiết bị hiện đại, sản xuất vật liệu mới, nghiên cứu và ứng dụng thành tựu khoa học trong xây dựng, đào tạo cán bộ, công nhân nhằm nâng cao năng lực đáp ứng yêu cầu quản lý đầu tư xây dựng nói chung và quản lý chất lượng CTXD nói riêng.
  • Tăng cường quản lý chất lượng thông qua các tổ chức chuyên lo về chất lượng tại các Hội đồng nghiệm thu các cấp, các cục giám định chất lượng, phòng giám định.
  • Có chính sách khuyến khích các đơn vị, tổ chức thực hiện theo tiêu chuẩn ISO 9001 – 2000, tuyên dương các đơn vị đăng ký và đạt công trình huy chương vàng chất lượng cao của ngành, công trình chất lượng tiêu biểu của liên ngành.

Phải thấy rằng với những văn bản pháp quy, các chủ trương chính sách, biện pháp quản lý đó về cơ bản đã đủ điều kiện để tổ chức quản lý chất lượng CTXD. Chỉ cần các tổ chức từ cơ quan QLNN, chủ đầu tư, ban quản lý, các nhà thầu (khảo sát, tư vấn lập dự án đầu tư, xây lắp) thực hiện đầy đủ các chức năng của mình một cách có trách nhiệm theo đúng trình tự quản lý, quy phạm nghiệm thu công trình xây dựng.

1.2.4. Nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan quản lý nhà nước về chất lượng công trình xây dựng

Căn cứ Điều 161-165 Luật xây dựng 2014, Điều 51 Nghị định 46/CP- NĐ về quản lý và bảo trì chất lượng CTXD dân dụng, hệ thống cơ quan QLNN về chất lượng CTXD dân dụng bao gồm [14, 30]:

Chính phủ thực hiện:

Thống nhất QLNN về hoạt động ĐTXD trong phạm vi cả nước; chỉ đạo xây dựng và thực hiện chiến lược, kế hoạch; ban hành văn bản quy phạm pháp luật về xây dựng.

Chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương thực hiện pháp luật về xây dựng; phân công, phân cấp QLNN cho các bộ, ngành, địa phương; chỉ đạo giải quyết những vấn đề quan trọng, phức tạp vướng mắc trong quá trình quản lý hoạt động ĐTXD.

Bộ Xây dựng: Thống nhất QLNN về chất lượng công trình xây dựng trong phạm vi cả nước và quản lý chất lượng các công trình xây dựng chuyên ngành, bao gồm: Công trình dân dụng; công trình công nghiệp vật liệu xây dựng; công trình công nghiệp nhẹ; công trình hạ tầng kỹ thuật; công trình xây dựng trong đô thị trừ công trình đường sắt, công trình cầu vượt sông và đuờng quốc lộ. ( Luận văn: Quản lý nhà nước về chất lượng công trình xây dựng )

Các Bộ quản lý công trình xây dựng chuyên ngành:

Bộ Xây dựng vận tải: Quản lý chất lượng công trình xây dựng trừ các công trình xây dựng do Bộ Xây dựng quản lý;

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: Quản lý chất lượng công trình nông nghiệp và phát triển nông thôn;

Bộ Công Thương: Quản lý chất lượng các công trình công nghiệp trừ các công trình công nghiệp do Bộ Xây dựng quản lý.

Bộ Quốc phòng, Bộ Công an: Quản lý chất lượng các công trình quốc phòng, an ninh.

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh: QLNN về chất lượng công trình xây dựng trên địa bàn. Sở Xây dựng và các Sở quản lý công trình xây dựng chuyên ngành giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý chất lượng công trình chuyên ngành trên địa bàn như sau:

Sở Xây dựng: Quản lý chất lượng các công trình dân dụng; công trình công nghiệp vật liệu xây dựng, công trình công nghiệp nhẹ; công trình hạ tầng kỹ thuật; công trình xây dựng trong đô thị trừ công trình đường sắt, công trình cầu vượt sông và đường quốc lộ;

Sở Xây dựng vận tải: Quản lý chất lượng công trình xây dựng trừ các công trình xây dựng do Sở Xây dựng quản lý.

Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: Quản lý chất lượng công trình nông nghiệp và phát triển nông thôn;

Sở Công Thương: quản lý chất lượng công trình công nghiệp trừ các công trình công nghiệp do Sở Xây dựng quản lý.

Ủy ban nhân dân cấp huyện: Căn cứ vào đặc điểm của từng địa phương, UBND cấp tỉnh phân cấp trách nhiệm QLNN về chất lượng CTXD cho UBND cấp huyện quản lý.

1.2.5. Các yếu tố ảnh hưởng tới quản lý nhà nước về chất lượng công trình xây dựng

  • Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ( Luận văn: Quản lý nhà nước về chất lượng công trình xây dựng )

Xác định quản lý chất lượng CTXD là nhiệm vụ trọng tâm của tất cả các khâu trong suốt quá trình xây dựng. Thời gian qua, Bộ Xây dựng đã coi trọng xây dựng, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, quy chuẩn, tiêu chuẩn, định mức kinh tế – kỹ thuật nhằm tạo hành lang pháp lý cho việc đảm bảo chất lượng công trình trong HĐXD.

Nội dung đổi mới trong QLNN về chất lượng CTXD của Việt Nam là chính quyền không can thiệp trực tiếp mà gián tiếp qua công cụ pháp luật tác động vào công tác quản lý sản xuất hàng ngày của người mua (chủ đầu tư) và người bán (các nhà thầu) để làm ra sản phẩm xây dựng – một loại sản phẩm có tính đơn chiếc. Nhà nước tập trung xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, văn bản quy phạm kỹ thuật, hệ thống tổ chức, hướng dẫn và kiểm tra để tạo pháp lý cho mối quan hệ của các chủ thể tham gia HĐXD hướng tới việc hình thành công trình có chất lượng cao làm thỏa mãn yêu cầu của khách hàng. Nghĩa là: Nhà nước kiểm soát các điều kiện “phù hợp” vì lợi ích cộng đồng, lợi ích của toàn xã hội. Vì vậy, có thể nói yếu tố tác động số một đến cơ quan QLNN về chất lượng CTXD là việc ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật sao cho phù hợp đi vào cuộc sống.

  • Năng lực cán bộ quản lý

Theo quy định của Luật Xây dựng năm 2014 và trước đó là Luật Xây dựng năm 2003 (đã được thay thế) đều quy định HĐXD là hoạt động có điều kiện [29, 30]. Tức là muốn tham gia vào mọi công tác từ hoạt động quản lý đến hoạt động trực tiếp đều phải là người có điều kiện năng lực phù hợp hay nói cách khác là phải có nghề và phải được Nhà nước công nhận thông qua quyết định giao nhiệm vụ hoặc công nhận qua việc cấp chứng chỉ hành nghề. Quản lý chất lượng CTXD là hoạt động chuyên nghiệp và không chuyên nghiệp của cơ quan QLNN, các tổ chức và cá nhân có tác động gián tiếp hay trực tiếp vào công trình thông qua hệ thống các quy định pháp luật nhằm đảm bảo chất lượng CTXD trong quá trình khảo sát, thiết kế, thi công xây dựng và khai thác sử dụng, điều này cho thấy nếu năng lực cán bộ của bộ máy QLNN về HĐXD yếu kém thì tất yếu dẫn đến hệ lụy là công trình kém chất lượng.

  • Sự phối hợp các ngành

Sản phẩm xây dựng liên quan đến nhiều ngành cả về phương diện cung cấp các yếu tố đầu vào, thiết kế và chế tạo sản phẩm và cả về phương diện sử dụng công trình. Vì vậy, để tạo lập công trình đảm bảo chất lượng như mong muốn cần có sự vào cuộc của các ngành như Xây dựng, Tài chính, Kế hoạch… .

  • Năng lực của các đơn vị thi công công trình xây dựng

Nhà thầu thi công CTXD phải chịu trách nhiệm trước chủ đầu tư và pháp luật về chất lượng công việc do mình đảm nhận; bồi thường thiệt hại khi vi phạm hợp đồng, sử dụng vật liệu không đúng chủng loại, thi công không bảo đảm chất lượng hoặc gây hư hỏng, gây ô nhiễm môi trường và các hành vi khác gây ra thiệt hại. Là đơn vị trực tiếp tạo ra sản phẩm xây dựng thông qua hợp đồng xây dựng bằng cách lập kế hoạch, tập trung nguồn lực tạo thành sản phẩm là CTXD và hưởng lợi nhuận. Vấn đề đặt ra ở đây như đã nêu trên Nhà thầu thi công CTXD cần có năng lực theo quy định của pháp luật mới đáp ứng được điều kiện cần để thi công xây dựng công trình, điều kiện đủ là thi công công trình hoàn thành theo đúng thiết kế và các quy định của nhà nước, của Chủ đầu tư. Cả quá trình tạo ra sản phẩm xây dựng cần đáp ứng năng lực về tổ chức bộ máy con người, thiết bị, công nghệ,.. .nếu một trong các yêu cầu không đáp ứng dẫn đến ảnh hưởng đến chất lượng công trình là không tránh khỏi.

  • Sự hiểu biết của người dân

Pháp luật Việt Nam đã quy định về việc giám sát cộng đồng trong lĩnh vực xây dựng và giao cho cơ quan Mặt trận Tổ quốc là đầu mối điều hành nhiệm vụ này và có trách nhiệm giám sát toàn bộ hoạt động đầu tư xây dựng, trong đó có nội dung về giám sát chất lượng CTXD. Sự đánh giá mức độ hài lòng của người dân về tiện ích, an toàn khi sử dụng là một cơ sở kết luận công trình đó có đảm bảo về an toàn sử dụng. Sản phẩm xây dựng ảnh hưởng nhiều đến cảnh quan và môi trường tự nhiên và do đó liên quan nhiều đến lợi ích cộng đồng nhất là đối với dân cư địa phương nơi đặt công trình, do đó vấn đề vệ sinh và bảo vệ môi trường được đặc biệt quan tâm trong xây dựng công trình.

1.3. Kinh nghiệm quản lý nhà nước về chất lượng công trình xây dựng và bài học kinh nghiệm

1.3.1. Kinh nghiệm quản lý nhà nước về chất lượng công trình xây dựng ở huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình ( Luận văn: Quản lý nhà nước về chất lượng công trình xây dựng )

Công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng trên địa bàn huyện Quảng Trạch được các cơ quan quản lý nhà nước, các chủ đầu tư và các đơn vị liên quan quan tâm chỉ đạo thực hiện. Nhiều công trình xây dựng hoàn thành, đảm bảo các yêu cầu về chất lượng đã phát huy hiệu quả đầu tư, tạo động lực cho phát triển kinh tế – xã hội của huyện. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều công trình xây dựng chất lượng thấp, cá biệt có công trình vừa xây dựng xong đã xuống cấp, hư hỏng gây bức xúc trong xã hội, làm lãng phí tiền của, không phát huy được hiệu quả vốn đầu tư. Nguyên nhân chủ yếu do các chủ đầu tư, các tổ chức tư vấn, các nhà thầu tham gia quản lý về xây dựng công trình không tuân thủ nghiêm túc các quy định quản lý từ khâu khảo sát, lập dự án đầu tư đến thi công xây dựng và kiểm tra chứng nhận sự phù hợp chất lượng, nghiệm thu, bảo hành, bảo trì công trình xây dựng. Hệ thống quản lý chất lượng công trình xây dựng từ huyện đến cơ sở còn nhiều bất cập, thiếu đồng bộ và chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành. Điều kiện năng lực của các tổ chức và cá nhân tham gia hoạt động xây dựng chưa đáp ứng yêu cầu.

Thực tế hoạt động và những vấn đề còn hạn chế của các chủ thể trực tiếp tham gia hoạt động quản lý chất lượng công trình xây dựng trong các bước chuẩn bị đầu tư dự án (lập dự án, lập nhiệm vụ, đề cương…), thiết kế công trình, thi công và nghiệm thu đưa công trình vào sử dụng

  • Đối với chủ đầu tư: Chưa chấp hành đúng trình tự thủ tục xây dựng, phó mặc cho tư vấn, nhà thầu thi công; với việc thực thi pháp luật trong thực tế còn hạn chế, đặc biệt đối với dự án sử dụng vốn ngân sách.
  • Đối với các tổ chức tư vấn xây dựng: Hiện nay thiếu các tư vấn chất lượng cao ở tầm vĩ mô trong việc đề xuất các chủ trương đầu tư xây dựng, quy hoạch, lập dự án, đề xuất các giải pháp kỹ thuật công nghệ chính xác, hợp lý, khả thi; trong nhiều trường hợp đã để xảy ra các sai sót, phải điều chỉnh cho quá trình xây dựng gây tốn kém, lãng phí, ảnh hưởng lớn đến chất lượng công trình.
  • Đối với nhà thầu thi công xây dựng: Vẫn còn có nhà thầu không có cán bộ kỹ thuật, không có chỉ huy trưởng công trình theo quy định, hoặc bố trí cán bộ chỉ huy trưởng công trường không đúng với hồ sơ dự thầu… đa số các nhà thầu chưa quan tâm đến biện pháp thi công, hệ thống quản lý chất lượng nội bộ, không bố trí đủ cán bộ giám sát nội bộ, thậm chí khoán trắng cho đội thi công và tư vấn giám sát; biện pháp thi công trong hồ sơ dự thầu chỉ là hình thức, chưa đưa ra được các biện pháp sát thực để phục vụ thi công.

Từ thực tế đó, huyện Quảng Trạch đã có nhiều giải pháp để nâng cao chất lượng CTXD như Nâng cao chất lượng lập quy hoạch; năng lực thực thi công vụ của cán bộ công chức phụ trách lĩnh vực xây dựng; nâng cao công tác thẩm định, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra; xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm pháp luật về chất lượng CTXD,…

1.3.2. Kinh nghiệm quản lý nhà nước về chất lượng công trình xây dựng ở huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình ( Luận văn: Quản lý nhà nước về chất lượng công trình xây dựng )

Hiện nay, vấn đề quản lý chất lượng công trình xây dựng đang được quy định tại Nghị định số 46/2015/NĐ-CP về quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng, Nghị định số 59/2015/NĐ-CP về quản lý dự án đầu tư xây dựng và một số văn bản hướng dẫn. Thực tế trên địa bàn huyện Quảng Ninh chất lượng các công trình xây dựng mà đặc biệt là các công trình sử dụng nguồn vốn từ ngân sách nhà nước cơ bản đáp ứng được yêu cầu, nhiều dự án đưa vào sử dụng đã góp phần quan trọng cho sự phát triển của địa phương. Mặc dù vậy, vẫn còn một số hạn chế như công tác kiểm tra, thanh tra chưa được thực hiện thường xuyên, năng lực của các đơn vị tư vấn, các chủ đầu tư còn hạn chế,…

Do vậy, trong thời gian qua huyện Quảng Ninh đã rất chú trọng trong công tác tuyên truyền, phổ biến các văn bản QPPL liên quan đến chất lượng CTXD và đặc biệt là năng lực của các đơn vị tư vấn tham gia hoạt động xây dựng trên địa bàn. Công tác thẩm định dự án đã chú trọng đến thẩm định năng lực của các đơn vị tư vấn (khảo sát, thiết kế), nếu đơn vị tư vấn không đủ năng lực thì yêu cầu chủ đầu tư ký kết hợp đồng với các đơn vị đủ năng lực đã được công khai trên trang web của Sở Xây dựng. Đặc biệt, công tác quản lý dự án đối với các dự án sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện đều do Ban quản lý các dự án huyện (yêu cầu các chủ đầu tư không thuê đơn vị tư vấn) thực hiện quản lý dự án nên trách nhiệm và hiệu quả khá tốt.

1.3.3. Bài học kinh nghiệm

Từ kinh nghiệm QLNN về chất lượng công trình của các địa phương trong nước, thì bài học rút ra đối với huyện Lệ Thủy là:

Làm rõ và cụ thể hơn chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ giữa các cơ quan quản lý và phân cấp quản lý của tỉnh với chính quyền các địa phương. Hoàn thiện hệ thống các văn bản dưới luật về quản lý chất lượng công trình xây dựng.

Hoàn thiện nội dung QLNN về chất lượng CTXD bắt đầu từ khâu quy hoạch, xây dựng, sử dụng, khai thác, cải tạo, Sửa chữa, nâng cấp, bảo trì, bảo dưỡng và bảo vệ các CTXD.

Việc xây dựng, sử dụng, khai thác, duy tu, bảo dưỡng các CTXD phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định hiện hành và quy hoạch xây dựng đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Quy hoạch xây dựng trong đó có quy hoạch CTXD phải đi trước một bước để đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất.

Công tác chuẩn bị xây dựng CTXD phải đủ điều kiện mới đưa vào kế hoạch. Căn cứ kế hoạch được phê duyệt, UBND tỉnh, huyện cần bố trí đủ vốn theo tiến độ thực hiện dự án cho các dự án thuộc nguồn vốn của ngân sách nhà nước, các dự án từ các nguồn vốn khác đều phải được kiểm tra giám sát từ lúc xin phép và khởi công xây dựng nhằm đảm bảo sự phối hợp đồng bộ giữa các dự án được xây dựng trên cùng địa bàn.

Tóm lại: Quản lý đồng bộ chất lượng CTXD là một vấn đề hết sức phức tạp liên quan đến nhiều ngành, lĩnh vực và của các cấp quản lý chính quyền, phụ thuộc vào ý thức của những người xây dựng, vận hành và sử dụng. Để hoàn thiện và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác QLNN về chất lượng CTXD của tỉnh Quảng Bình nói chung và của huyện Lệ Thủy nói riêng đòi hỏi phải có sự phối kết hợp chặt chẽ giữa các Sở, ngành, cấp huyện, xã và các đơn vị có liên quan từ khâu quy hoạch đến khâu triển khai xây dựng, đưa công trình vào khai thác sử dụng.

Tiểu kết chương 1 ( Luận văn: Quản lý nhà nước về chất lượng công trình xây dựng )

Tóm lại, trong Chương 1, đề tài đã tập trung làm rõ một số vấn đề lý luận về chất lượng CTXD. Cụ thể, đã nêu rõ khái niệm về công trình xây dựng, công trình xây dựng, chất lượng CTXD. Đồng thời, nghiên cứu chương 1 cũng nêu rõ các khái niệm quản lý nhà nước về chất lượng CTXD, vai trò QLNN về chất lượng CTXD, nêu rõ nội dung quản lý nhà nước chất lượng CTXD. Ngoài ra, chương 1 cũng nghiên cứu kinh nghiệm QLNN đối với chất lượng công trình xây dựng của huyện Quảng Trạch và huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình, từ đó đưa ra một số bài học kinh nghiệm có thể tham khảo cho QLNN đối với chất lượng CTXD của huyện Lệ Thủy.

Mời bạn tham khảo thêm:

Luận văn: Thực trạng Nhà nước quản lý công trình xây dựng

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest
1 Bình luận
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
trackback

[…] → Luận văn: Quản lý nhà nước về chất lượng công trình xây dựng […]

1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993