Khóa luận: Ảnh hưởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính

Rate this post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Ảnh hưởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Khóa luận: Ảnh hưởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ thế giới tới hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1 Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tới nền kinh tế Việt Nam

2.1.1 Những khó khăn bên trong của nền kinh tế Việt Nam (khi xảy ra khủng hoảng)

Thứ nhất, về tăng trưởng kinh tế: Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2025 sụt giảm so với nhiều năm trước, chất lượng tăng trưởng và hiệu quả tăng trưởng vẫn chưa có sự cải thiện rõ rệt. Năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế, của doanh nghiệp và của sản phẩm còn thấp.

Thứ hai, lạm phát cao ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất- kinh doanh và đời sống nhân dân: Các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, hết sức khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng của các ngân hàng thương mại vì không đủ sức gánh chịu lãi suất vay quá cao. Sản xuất kinh doanh của nhiều doanh nghiệp bị đình đốn, một số lâm vào tình trạng phá sản. Đời sống của nhiều tầng lớp dân cư, chủ yếu là những người làm công ăn lương, nông dân, đồng bào vùng thiên tai bão lụt và đồng bào các dân tộc vùng sâu, vùng xa gặp nhiều khó khăn do lạm phát.

Thứ ba, xuất khẩu chưa bền vững nhập siêu cao: Giá trị nhập siêu ở mức cao đe dọa đến sự ổn định kinh tế vĩ mô, nhất là cung cầu ngoại tệ và tỷ giá hối đoái. Tình trạng nhập siêu gia tăng thể hiện sự yếu kém căn bản của một nền kinh tế dựa chủ yếu vào khai thác tài nguyên và nguồn nhân lực chất lượng không cao với việc xuất khẩu các sản phẩm thô và gia công cho nước ngoài, ngành công nghiệp phụ trợ yếu kém.

Thứ tư, đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng cao nhưng vốn giải ngân thấp: Đầu tư nước ngoài vào Việt Nam tăng cao, thể hiện lòng tin của doanh nghiệp nước ngoài với môi trường kinh doanh ở Việt Nam. Tuy nhiên vẫn còn nhiều vấn đề cần chú ý như: tỷ trọng vốn giải ngân so với vốn đăng kí chưa được cải thiện nhiều; vốn đăng kí vào các dự án bất động sản (văn phòng cho thuê, khu vui chơi giải trí, nhà ở, sân golf…) chiếm tỉ trọng khá cao so với đầu tư vào khu vực sản xuất; nông, lâm, ngư nghiệp vẫn là lĩnh vực kém hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài. Ngoài các yếu tố thuộc về các nhà đầu tư nước ngoài, các nút thắt đối với việc thực hiện vốn đầu tư (kết cấu hạ tầng, chất lượng nguồn nhân lực và thủ tục hành chính) vẫn chưa có sự cải thiện rõ ràng.

Thứ năm, thị trường chứng khoán bị sụt giảm trong khi thị trường bất động sản trầm lắng: Thị trường chứng khoán có những biến động bất thường, ngoài tác động của sợ biến động thị trường tài chính quốc tế và tình trạng suy thoái kinh tế của nhiều nước công nghiệp phát triển, thì những biến động kinh tế vĩ mô trong nước và những khó khăn trong sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp đã ảnh hưởng mạnh tới sự biến động của thị trường chứng khoán Việt Nam. Chỉ số chứng khoán liên tục giảm sút trong những tháng gần đây. Tuy chưa đóng vai trò là thước đo phản ánh trạng thái của nền kinh tế, song sự sụt giảm mạnh của chỉ số chứng khoán cũng cho thấy những khó khăn lớn của nền kinh tế. Khóa luận: Ảnh hưởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính.

Cùng với sự sụt giảm của chỉ số chứng khoán, sự đóng băng của thị trường bất động sản tiềm ẩn những nguy cơ gây nên bất ổn định kinh tế vĩ mô. Theo báo cáo của ngân hàng thương mại, tổng dư nợ vốn cho vay đầu tư bất động sản trong cả nước đã lên tới trên 115.000t tỷ đồng, chiếm 9,5% tổng dư nợ của toàn bộ nền kinh tế. Số vốn đầu tư vào bất động sản lớn tập trung chủ yếu tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh (khoảng 75% tổng dư nợ cho vay bất động sản của cả nước) . Về lý thuyết tỷ trọng này chưa phải đáng lo ngại, nhưng tình trạng khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu và nguy cơ suy giảm kinh tế trong nước là những cảnh bảo về những nguy cơ có thể xảy ra từ tình trạng đóng băng của thị trường bất động sản, nhất là khi thị trường bất động sản chứa đựng yếu tố đầu cơ, chứ không phản ánh trung thực quan hệ cung cầu.

Thứ sáu, các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn: Các doanh nghiệp đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, gặp nhiều khó khăn do những biến động bất lợi của môi trường kinh tế vĩ mô. Các doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu có qui mô vừa và nhỏ, năng lực cạnh tranh còn thấp kém.Trong điều kiện khó khăn chung của cả nền kinh tế, các doanh nghiệp phải đối mặt với hàng loạt khó khăn chồng chất: giá cả các yếu tố đầu vào tăng cao, hàng hóa sản xuất ra khó tiêu thụ, sản xuất- kinh doanh của nhiều doanh nghiệp bị thu hẹp, không có khả năng thanh tóa các khoản nợ đến hạn…Để giữ vững sản xuất- kinh doanh, các doanh nghiệp có nhu cầu vốn lớn, nhưng việc tiếp cận đến nguồn vốn tín dụng của các ngân hàng các khó khăn hơn so với trước đây. Theo báo cáo của các ngân hàng thương mại, chỉ khoảng một nửa số doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận được với nguồn vốn tín dụng từ các ngân hàng thương mại.Để góp phần kiềm chế lạm phát, thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ, các ngân hàng thương mại phải tăng lãi suất huy động và tỉ lệ dự trữ bắt buộc, dẫn đến tăng lãi suất cho vay, khiến nhiều doanh nghiệp không chịu nổi. Theo hiệp hội doanh nghiệp vừa và nhỏ, nhóm doanh nghiệp bị tác động mạnh bởi lạm phát, đang hết sức khó khăn, bị phá sản hoặc đứng trước nguy cơ phá sản lên tới 20% tổng số các doanh nghiệp. Với khả năng nội tại còn hạn chế, các doanh nghiệp không dễ vượt qua được những trở ngại của sự biến động kinh tế vĩ mô. Khó khăn của các doanh nghiệp không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến sự tăng trưởng chung của nền kinh tế mà còn có những hậu quả tiêu cực về mặt xã hội.

Không chỉ các doanh nghiệp công nghiệp và dịch vụ gặp nhiều khó khăn, tình trạng tương tự cũng xảy ra đối với các cơ sở sản xuất nông nghiệp và người nông dân.Trong những tháng cuối năm 2025, giá cả nhiều mặt hàng nông sản xuất khẩu như cao su, cà phê, gạo giảm mạnh do nhu cầu nhập khẩu của thế giới đi xuống, khiến cho người nông dân gặp nhiều khó khăn do chi phí đầu vào của sản xuất tăng cao trong những tháng đầu năm. Mặc dù từ tháng 10/2025 đến nay, giá một số sản phẩm đầu vào đã giảm những vẫn chưa đủ bù đắp thiệt hại của người nông dân.Ngành chăn nuôi trong nước gặp nhiều khó khăn do bệnh dịch và giá thức ăn chăn nuôi tăng mạnh trong thời gian vừa qua. Mặt khác, ngành chăn nuôi Việt Nam lại đang phải cạnh tranh với hàng nhập khẩu từ nước ngoài do quyết định giảm thuế nhập khẩu các sản phẩm chăn nuôi, khiến nhiều cơ sở chăn nuôi trong nước phải đóng cửa.

Thú bẩy, tình trạng mất việc làm có xu hướng tăng lên: Theo số liệu chính thức, hết năm 2025, cả nước có gần 30.000 lao động làm việc trong các doanh nghiệp bị mất việc làm do suy giảm kinh tế. Dự báo năm 2026 có thêm khoảng 150.000 lao động mất việc làm. Tình trạng thất nghiệp gia tăng tác động xấu tới hệ thống an sinh xã hội.

2.1.2. Ảnh hưởng của khủng hoảng đến một số lĩnh vực của nền kinh tế Việt Nam Khóa luận: Ảnh hưởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính.

Cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu đã và sẽ ảnh hưởng đến một số hoạt động của kinh tế nước ta, nhưng mức độ tác động không lớn như các nước đang phát triển khác.

  • Về hoạt động ngân hàng và thị trường tiền tệ

Tuy cuộc khủng hoảng chưa có ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ thống ngân hàng, nhưng một số tác động gián tiếp là đáng kể. Trước hết, đó là diễn biến của tỷ giá và lãi suất USD. Tỷ giá USD với đồng Việt Nam trên thị trường có nhiều biến động do tâm lý của người dân. Trước tình hình đó, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã có các biện pháp, chính sách để điều hành, ổn định tỷ giá, hạ lãi suất cơ bản, giúp doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn để sản xuất kinh doanh, đặc biệt là các doanh nghiệp xuất – nhập khẩu, rà soát và kiểm soát nợ xấu của các ngân hàng thương mại.

  • Những tác động đến hệ thống ngân hàng

Từ việc phân tích nguyên nhân của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu xuất phát từ nước Mỹ nêu trên, chúng ta có thể khẳng định là cuộc khủng hoảng này sẽ không có tác động đáng kể đến hệ thống ngân hàng Việt Nam, bởi lẽ:

Thứ nhất, mức độ hội nhập của nền kinh tế Việt Nam nói chung và của hệ thống ngân hàng nói riêng với nền kinh tế và hệ thống ngân hàng Mỹ và thế giới chưa sâu. Các ngân hàng Việt Nam hiện nay chủ yếu làm cầu nối cung cấp dịch vụ thanh toán, bảo lãnh và bao thanh toán cho các doanh nghiệp xuất, nhập khẩu. Bên cạnh đó, lượng vốn của các ngân hàng Việt Nam vay trên thị trường quốc tế là không lớn nên có thể loại trừ khả năng xuất hiện hiệu ứng rút vốn ồ ạt gây nên rủi ro về thanh khoản của hệ thống ngân hàng.

Thứ hai, các ngân hàng và các tổ chức tài chính Việt Nam không sở hữu các MBS của Mỹ, do vậy không phải gánh chịu những khoản lỗ phát sinh do công cụ này giảm giá. Mặt khác, cấu trúc của hệ thống ngân hàng Việt Nam còn khá đơn giản, các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng chưa phát triển, chưa có sự liên thông ở mức tinh vi giữa TTBĐS và TTCK thông qua các công cụ phái sinh tương tự như MBS của Mỹ. Các ngân hàng Việt Nam đầu tư vào bất động sản chủ yếu thông qua hình thức trực tiếp là cho vay có đảm bảo bằng tài sản hoặc bằng chính bất động sản hình thành từ vốn vay nên khả năng tạo hiệu ứng dây chuyền kiểu Mỹ khi bất động sản giảm giá là rất khó xảy ra. Khóa luận: Ảnh hưởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính.

Tuy nhiên, mặc dù hệ thống ngân hàng Việt Nam không chịu ảnh hưởng trực tiếp từ cuộc khủng hoảng tài chính đang diễn ra nhưng không phải là không có vấn đề. Những vấn đề mà hệ thống ngân hàng gặp phải chủ yếu phát sinh từ những yếu tố nội tại.

Trước hết, là vấn đề mô hình của hệ thống ngân hàng. Theo Khoản 2, Điều 20 của Luật các tổ chức tín dụng được Quốc hội ban hành năm 2014 và được sửa đổi, bổ sung năm 2021 thì các loại hình ngân hàng ở Việt Nam bao gồm: ngân hàng thương mại, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác. Nhưng dưới gốc độ lập pháp thì cho đến nay, chúng ta vẫn chưa có sự phân biệt rõ ràng về chức năng của từng loại ngân hàng. Đặc biệt, chưa có một văn bản pháp quy nào được ban hành để điều chỉnh hoạt động của ngân hàng phát triển và NHĐT – là những hoạt động kinh doanh ngân hàng có rủi ro cao nhất. Chính sự mập mờ này đã tạo điều kiện cho các NHTM, các CTTC “lấn sân”. Và trên thực tế, nhiều NHTM và các CTTC đã “không ngần ngại” đầu tư vào bất động sản và chứng khoán đã mang lại không ít hệ lụy cho nền kinh tế, góp phần không nhỏ vào việc đẩy nền kinh tế đi đến lạm phát thời gian qua.

Tiếp theo, là sự ra đời ồ ạt của các ngân hàng và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng, đặc biệt là các CTTC. Cho đến thời điểm hiện tại, chúng ta đã có trên 80 ngân hàng thương mại và trên 20 công ty tài chính. Phần lớn các CTTC đều có nguồn góc vốn góp từ các tập đoàn kinh tế, các tổng công ty nhà nước lớn. Với vai trò tạo vốn và điều hoà vốn giữa các thành viên trong tập đoàn, tổng công ty, cho nên CTTC dễ dàng bỏ qua những chuẩn mực cần thiết của hoạt động tín dụng trong việc tài trợ vốn cho các thành viên, các dự án của tập đoàn và tổng công ty. Điều này không những làm cho rủi ro tín dụng tăng lên mà còn làm tăng nguy cơ “hiệu ứng dây chuyền” khi thị trường tiền tệ hoặc lĩnh vực kinh doanh chính của tập đoàn, tổng công ty có biến động mạnh. Việc có quá nhiều ngân hàng (trong đó, có khoảng 25% ngân hàng có hiệu quả kinh doanh hạn chế) và các CTTC sẽ dẫn đến hai nguy cơ lớn là khả năng huy động vốn để duy trì kinh doanh ổn định và khả năng quản trị ngân hàng, đặc biệt trong giai đoạn khó khăn hiện nay. Khóa luận: Ảnh hưởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính.

Bên cạnh đó, tỷ lệ nợ xấu đang có xu hướng gia tăng do tăng trưởng tín dụng khá cao cũng đặt hệ thống ngân hàng trước những thách thức không nhỏ. Theo số liệu từ Ngân hàng Nhà nước (NHNN), tổng dư nợ tín dụng cho vay kinh doanh bất động sản hiện nay khoảng 115.500 tỷ đồng, chiếm 9,15% trên tổng dư nợ toàn hệ thống. Riêng năm 2024, tỷ lệ tăng trưởng tín dụng của hệ thống ngân hàng Việt Nam năm 2024 là 53% – một con số khá cao cộng với khoảng 50% các khoảng dư nợ được thế chấp bằng bất động sản sẽ làm tăng tỷ lệ nợ xấu trong những tháng cuối năm 2025 khi các khoản cho vay vào bất động sản trước đây lúc thị trường này còn hấp dẫn sẽ đáo hạn. Trong tình hình TTBĐS vẫn chưa có dấu hiệu khởi sắc thì việc các ngân hàng phải đối diện với khoản lỗ lớn là khó tránh khỏi. Tại Đại hội đồng cổ đông bất thường của Ngân hàng Eximbank đã công bố nợ quá hạn của ngân hàng này là 1.361 tỷ đồng, chiếm 6,09% tổng dư nợ, trong đó nợ xấu là 619 tỷ đồng và khoản nợ có khả năng bị mất là 200 tỷ đồng. Theo lãnh đạo Eximbank, nợ xấu của ngân hàng này chủ yếu là các khoản cho vay bất động sản. Hiện nay, dư nợ cho vay bất động sản của Eximbank là 4.000 tỷ đồng, chiếm 18,2% tổng dư nợ của ngân hàng.

Ngoài ra, nguy cơ về tính thanh khoản của hệ thống ngân hàng vẫn đang còn tiềm ẩn, mặc dù các giải pháp thắt chặt tiền tệ, ổn định kinh tế vĩ mô, kìm chế lạm phát của Chính phủ đã phát huy tác dụng. Lãi suất cơ bản qua bốn đợt cắt giảm trong một thời gian ngắn đã được hạ xuống còn 10%, tỷ lệ dự trữ bắt buộc cũng được giảm xuống đáng kể đi kèm theo việc tăng lãi suất trên tỷ lệ này, lãi suất cho vay trên thị trường liên ngân hàng và chiết khấu giấy tờ có cũng giảm khá mạnh. Song song đó, NHNN đã mua lại tín phiếu bắt buộc phát hành cho các ngân hàng trước thời gian đáo hạn trị giá 20,3 ngàn tỷ đồng. Những động thái trên là dấu hiệu “nới lỏng chính sách tiền tệ” một cách linh hoạt của Chính phủ nhằm tăng tính thanh khoản cho hệ thống ngân hàng, tạo điều kiện để ngân hàng hạ lãi suất cho vay để các doanh nghiệp có thể tiếp cận nguồn vốn. Qua đó, kích thích sản xuất chống lại nguy cơ giảm phát và duy trì mức tăng trưởng của nền kinh tế. Nhưng khi, lượng tiền mặt trong hệ thống tăng lên và các ngân hàng đã giảm đáng kể lãi suất cho vay tương đương với mức cuối năm 2024 thì các doanh nghiệp lại tỏ ra không mấy mặn mà. Nguyên nhân chủ yếu được xác định là do ảnh hưởng của đợt lạm phát trong nước vừa qua và của cuộc khủng khoảng tài chính toàn cầu đang diễn ra đã làm sức mua trong nước và trên thị trường các nước vốn là nơi tiêu thụ truyền thống sản phẩm xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam giảm mạnh. Như vậy, hệ thống ngân hàng Việt Nam lại đối diện với một thách thức mới. Đó là tìm đầu ra cho những đồng vốn của mình. Trong điều kiện TTBĐS “đóng băng” và TTCK liên tục tuột dốc thì rõ ràng đây thật sự là một bài toán khó. Khóa luận: Ảnh hưởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính.

  • Những tác động đến thị trường chứng khoán

Các nghiên cứu gần đây cho thấy, cơn bão tài chính thế giới chưa có những tác động lớn trực tiếp đến nền kinh tế nói chung và TTCK Việt Nam nói riêng. Cơ sở của những kết luận trên là tính liên thông và hội nhập của nền kinh tế Việt Nam với nền kinh tế và thị trường tài chính thế giới chưa cao. Tuy nhiên, nếu xem xét một cách thấu đáo có thể thấy rằng mặc dù không chịu ảnh hưởng trực tiếp nhưng TTCK Việt Nam cũng đã chịu sự tác động nhất định từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Sự tác động này biểu hiện trên các phương diện sau đây:

Một là, khủng hoảng tài chính với sức lan tỏa nhanh chóng đã tác động đến các quốc gia vốn là thị trường xuất khẩu hàng hoá của nhiều doanh nghiệp niêm yết như Mỹ, Liên minh Châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc…Khủng hoảng tài chính làm sức mua của các thị trường trên giảm sút nghiêm trọng ảnh hưởng đáng kể đến kế hoạch doanh thu và lợi nhuận của các doanh nghiệp niêm yết làm giá cổ phiếu của các doanh nghiệp này vốn đang sụt giảm lại khó có khả năng phục hồi.

Hai là, khủng hoảng tài chính đã làm cho các nhà đầu tư nước ngoài bán ròng cổ phiếu, trái phiếu. Tính từ đầu tháng 8/2025 đến đầu tháng 10/2025 các nhà đầu tư nước ngoài đã liên tục bán ròng cổ phiếu với tổng giá trị lên 1.278 tỷ đồng và khoảng 13,5 ngàn tỷ đồng đối với trái phiếu. Với giá trị bán ra khổng lồ này đã góp phần không nhỏ vào sự sụt giảm của chỉ số VN-Index và Hastc-Index thời gian qua. Trước đó, nhiều ý kiến đã “trấn an” các nhà đầu tư là sẽ không có chuyện các nhà đầu tư ngoại rút vốn vì phần lớn các quỹ đầu tư nước ngoài tại Việt Nam là các quỹ đóng. Thực tế cho thấy, đồng nội tệ của nhiều quốc gia bị ảnh hưởng nặng bởi lạm phát đã mất giá so với đồng USD vài chục phần trăm trong khi sự giảm giá của đồng Việt Nam so với đồng USD và các ngoại tệ mạnh khác là không đáng kể. Khả năng nhà đầu tư nước ngoài đã nhận định rằng đồng Việt Nam sẽ tiếp tục mất giá cũng như các đồng tiền khác nên đã bán chứng khoán để mua ngoại tệ nhằm kiếm lời là rất có thể. Nếu kịch bản diễn ra đúng như họ dự đoán thì khi đó họ sẽ bán ngoại tệ để tiếp tục đầu tư vào chứng khoán. Khóa luận: Ảnh hưởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính.

Thứ ba, tác động rõ nét nhất của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đến TTCK Việt Nam là ở yếu tố tâm lý. Thật ra, yếu tố tâm lý trên TTCK thì ở quốc gia nào cũng có, đặc biệt là các quốc gia có thị trường này mới hình thành. Yếu tố tâm lý đã làm cho TTCK Việt Nam bao phen lâm vào tình trạng mất cân đối cung cầu: khi giá chứng khoán lên thì mua không được, ngược lại khi giá rớt thì chỉ toàn lệnh bán mà không có lệnh mua. Sở dĩ có hiện tượng này là do phần nhiều các nhà đầu tư Việt Nam chưa chuẩn bị kiến thức và bản lĩnh cũng như kinh nghiệm cần thiết để tham gia mua bán chứng khoán, mặt khác môi trường thông tin chưa thật sự đảm bảo cho thông tin đến với tất cả các nhà đầu tư cùng một lúc và chuẩn xác. Việc đầu tư theo đám đông đã gây khó khăn trong việc hoạch định chính sách và điều tiết thị trường của cơ quan quản lý và trở thành mảnh đất màu mỡ cho các hành vi làm giá, giao dịch nội gián, tung tin đồn thất thiệt…để trục lợi. Tâm lý mua bán theo đám đông lại trở nên nặng nề hơn khi nền kinh tế bị lạm phát. Mỗi khi các thông tin về việc tăng giá xăng dầu, NHNN tăng lãi suất cơ bản hoặc chỉ số giá tiêu dùng được công bố đều nhận được phản ứng tức thời từ TTCK. Trong giai đoạn này, các nhà đầu tư nước ngoài được xem là nhân tố dẫn dắt thị trường. Động thái mua vào hoặc bán ra của họ cũng sẽ làm cho giá chứng khoán tăng hoặc giảm theo. Nhưng từ cuối tháng 9/2025 đến nay, rất nhiều thông tin tốt về nền kinh tế được phát đi như lãi suất cơ bản và giá xăng liên tục giảm, chỉ số giá tiêu dùng giảm đáng kể đã không nhận được những phản ứng tích cực nào từ thị trường và chỉ số chứng khoán cả 2 sàn Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội đều giảm. Điều đó cho thấy nhà đầu tư Việt Nam đã không còn quan tâm đến các thông tin tốt từ nền kinh tế trong nước nữa. Cái mà họ quan tâm là diễn biến tình hình giao dịch ở các TTCK Mỹ, Anh, Nhật Bản…thế nào và sẽ có hành vi đầu tư tương tự. Thời gian gần đây, diễn biến của các chỉ số chứng khoán Việt Nam luôn cùng chiều với chỉ số của các thị trường trên. Vậy là cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã chuyển hướng tâm lý đầu tư của các nhà đầu tư Việt Nam: từ đầu tư theo nhà đầu tư nước ngoài ở trong nước sang đầu tư theo các “nhà đầu tư ngoài nước”. Tâm lý này trở thành một rào cản không nhỏ cho các nỗ lực của Chính phủ nhằm vực dậy TTCK. Nhiều chuyên gia đã chỉ ra rằng, khi thị trường tài chính có biến động mạnh ở một hoặc nhiều nước phát triển, các TTCK toàn cầu có độ liên thông lớn hơn rất nhiều so với thời kỳ ổn định và Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật đó.

Thứ tư, tâm lý giá xuống đã làm méo mó vai trò là “phong vũ biểu” phản ánh “sức khỏe” nền kinh tế và đe dọa tính thanh khoản của thị trường. Đó là khi, giá chứng khoán xuống quá thấp thì người bán lại không muốn bán nhưng người mua cũng sẽ không dám mua do vẫn còn lo sợ chứng khoán sẽ tiếp tục giảm nữa. Khi đó từ “khủng hoảng niềm tin” thị trường sẽ chuyển sang một cuộc khủng hoảng khác nguy hiểm hơn nhiều: khủng hoảng về tính thanh khoản.

Thứ năm, mặc dù không phải phát sinh mới đây do cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu nhưng TTCK Việt Nam vẫn còn tồn tại rất nhiều những vấn đề khác mà trong phạm vi bài viết này chúng tôi chưa có điều kiện đề cập đến. Cụ thể như các vấn đề về khung pháp lý, vai trò quản lý, giám sát của Nhà nước, tính minh bạch của thị trường…

Về thị trường chứng khoán, luồng tiền đầu tư gián tiếp vào Việt Nam suy giảm và đã có hiện tượng các nhà đầu tư nước ngoài rút vốn khỏi thị trường. Mặc dù tình hình kinh tế vĩ mô của Việt Nam trong những tháng gần đây có những chuyển biến tích cực, nhưng thị trường chứng khoán Việt Nam tiếp tục sụt giảm. VN-index giảm liên tục và lập đáy mới xuống dưới 350 điểm. Việc nhà đầu tư nước ngoài có biểu hiện rút khỏi thị trường chứng khoán Việt Nam đã gây tâm lý hoang mang cho các nhà đầu tư trong nước. Khóa luận: Ảnh hưởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính.

  • Về đầu tư nước ngoài

Cuộc khủng hoảng đã bước đầu có ảnh hưởng đến đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và viện trợ phát triển chính thức (ODA). Số dự án FDI đăng ký mới có xu hướng chững lại, trong tháng 10-2025, tổng số dự án đăng ký mới là 68 dự án với tổng vốn đăng ký là 2,02 tỷ USD, thấp hơn nhiều so với các tháng đầu năm (9 tháng đầu năm có 885 dự án đăng ký với tổng số vốn đăng ký là 56,27 tỷ USD).

Khả năng giải ngân vốn FDI và ODA trong năm 2025 cũng đang chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng. Tổng vốn FDI thực hiện trong 10 tháng năm 2025 so với tổng số vốn đăng ký mới và tăng thêm chỉ đạt khoảng 15%. Số vốn ODA giải ngân năm 2025 có thể không đạt được như dự báo trước là 2,3 tỷ USD.

Trong những năm tới, khủng hoảng tài chính thế giới có thể khiến dòng đầu tư nước ngoài cả trực tiếp và gián tiếp vào Việt Nam suy giảm vì những lo ngại về bất ổn kinh tế và sự suy thoái kinh tế toàn cầu.

Tác động lớn nhất của cuộc khủng hoảng này là làm thay đổi hoàn toàn và sâu sắc ngành công nghiệp tài chính Mỹ và hệ thống tài chính toàn cầu. Trong những năm tới, dòng vốn đầu tư nước ngoài trực tiếp và gián tiếp vào Việt Nam sẽ suy giảm, vì do bất ổn kinh tế và sự suy thoái kinh tế toàn cầu. sẽ suy giảm,vì do bất ổn kinh tế và sự suy thoái toàn cầu.

Về ngắn hạn, khủng hoảng ở Mỹ chưa có tác động lớn đến Việt Nam do dòng vốn đầu tư vào Việt Nam hầu hết bắt nguồn từ các nước và vùng lãnh thổ trong khu vực như Singapore, Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan,… Mỹ chỉ đứng thứ 11 trong hơn 80 quốc gia và vùng lãnh thổ có hoạt động đầu tư trực tiếp tại Việt Nam với 419 dự án còn hiệu lực, tổng số vốn đăng ký 4,1 tỷ USD.

Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng tài chính đã không chỉ dừng lại ở Mỹ mà đã lan sang các nước phát triển khác, trong đó có Nhật Bản, Hàn Quốc và các quốc gia có đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam. Các nước châu Á, nơi chiếm tới 80% dòng vốn đầu tư vào Việt Nam, cũng đang chịu tác động lớn của cuộc khủng hoảng. Việc huy động vốn trên thế giới sẽ gặp nhiều khó khăn do chi phí vốn trở nên đắt đỏ hơn. Hậu quả là các nhà đầu tư sẽ hạn chế tăng thêm đầu tư mới và thực hiện các dự án đã cam kết. Đã có xu hướng một số công ty mẹ ở chính quốc yêu cầu các chi nhánh tại Việt Nam phải giảm đầu tư để rút vốn về để tháo gỡ khó khăn cho các công ty mẹ. Do vậy, trong dài hạn, nếu khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới không bị chặn lại thì chắc chắn nó sẽ tác động tới đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam.

Giải ngân vốn FDI cũng có thể sẽ giảm, khi mà trong tình hình khó khăn hiện nay, các công ty đầu tư vào Việt Nam sẽ thận trọng hơn trong kế hoạch tài chính và đầu tư. Thêm vào đó, hầu hết các dự án đầu tư nói chung, dự án FDI nói riêng, phần nợ vay thường chiếm một tỷ phần rất lớn trong tổng vốn đầu tư, nên khi các tổ chức tài chính đang gặp khó khăn sẽ làm cho nhiều hợp đồng vay vốn sẽ không được ký kết hoặc không thể giải ngân. Ngay cả các dự án FDI đang triển khai cũng có thể bị chững lại, vì rất có thể, các công ty sẽ phải cân đối lại nguồn vốn, bảo đảm tài chính an toàn trong khủng hoảng. Riêng các dự án mới cấp phép, nếu chủ đầu tư bị tổn thương lớn từ cuộc khủng hoảng này, thì có thể bị tạm dừng triển khai, thậm chí rút bỏ. Do vậy, năm 2026 – 2027, tốc độ giải ngân vốn FDI được dự báo là sẽ theo xu hướng chậm lại.

Những dự báo ban đầu cho thấy, số vốn ODA cam kết và giải ngân tại Việt Nam trong những năm tới sẽ có xu hướng giảm do nguồn vốn đầu tư của các tổ chức tài chính, tiền tệ quốc tế và dự trữ cho vay của các nước phát triển được cân đối lại để bình ổn thị trường tài chính. Khóa luận: Ảnh hưởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính.

Huy động vốn gián tiếp vào thị trường cổ phiếu Việt Nam trong thời gian tới sẽ rất khó khăn do các nhà đầu tư sẽ hướng tới các kênh đầu tư an toàn. Việc bán tháo chứng khoán khỏi thị trường Việt Nam là có thể, mặc dù xác suất không cao, do tính thanh khoản và quy mô của thị trường. Điều này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến thị trường chứng khoán và quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước lớn trong các năm tới. Việc huy động vốn thông qua thị trường vốn khó khăn trong khi thị trường tín dụng thắt chặt sẽ chặn dòng vốn và đẩy chi phí tài chính của các doanh nghiệp lên cao.

Một khía cạnh khác của đầu tư gián tiếp là các giao dịch chênh lệch lãi suất nhằm hưởng chênh lệch lãi suất giữa 2 đồng tiền trong khi tỷ giá ổn định. Các giao dịch này thường mang tính đầu cơ ngắn hạn cao. Với lãi suất toàn cầu sụt giảm và chính sách tỷ giá neo VND vào USD của Việt Nam trong khi lãi suất VND vẫn ở mức cao, có thể dòng vốn này sẽ chảy vào trong một số giai đoạn nhất định nhằm khai thác cơ hội chênh lệch. Trong những trường hợp thoái vốn, dòng vốn này có thể tạo áp lực tỷ giá cho VND.

Việc phát hành chứng khoán huy động vốn trên thị trường quốc tế cũng sẽ khó khăn và chi phí tăng cao. Chính phủ Việt Nam hiện có kế hoạch phát hành 1 tỷ USD và Vinashin có kế hoạch huy động 400 triệu USD trên thị trường quốc tế vào năm 2026. Tuy nhiên, trong bối cảnh của khủng hoảng tài chính, việc thực hiện kế hoạch nêu trên sẽ gặp phải những trở ngại đáng kể trong thời gian tới.

Dòng kiều hối từ trước đến nay vẫn là một dòng ngoại tệ tương đối ổn định, ngay cả trong thời kỳ kinh tế toàn cầu có khó khăn. Trong một vài năm trở lại đây, dòng kiều hối về Việt Nam tăng mạnh, với mức doanh số 8 tỷ – 10 tỷ USD/năm. Ngoài mục đích hỗ trợ thân nhân và đầu tư vào kinh doanh, một phần không nhỏ của dòng kiều hối này được đầu tư vào chứng khoán và bất động sản – những lĩnh vực hiện nay không còn “nóng” như trước. Hơn nữa, một phần lớn nguồn kiều hối về Việt Nam lại từ nước Mỹ, nơi tăng trưởng kinh tế đang sa sút và tình trạng thất nghiệp gia tăng. Điều này khiến cho dòng kiều hối trong các năm tới có thể cũng sẽ suy giảm. Khóa luận: Ảnh hưởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính.

Tuy đầu tư nước ngoài được dự báo là sẽ khó khăn hơn trong những năm tới, nhưng Việt Nam có thể có những cơ hội nhất định qua cuộc khủng hoảng tài chính thế giới. Dòng vốn trên thế giới sẽ tập trung vào những nơi có môi trường chính trị và kinh doanh ổn định, mà Việt Nam lại đang có những lợi thế trong hai nhân tố này.

Hiện tại, hầu hết các nhà đầu tư vẫn cam kết nhiều vì họ tin tưởng vào tương lai và triển vọng đi lên của nền kinh tế nước ta. Nhiều nhà đầu tư cho rằng, tác động của cuộc khủng hoảng tới nền kinh tế Việt Nam chỉ ở mức độ nhất định và sẽ được khắc phục trong thời gian tới.

Một điểm thuận lợi nữa của chúng ta là các nhà đầu tư lớn như Nhật Bản, EU đã hướng vào khu vực Đông – Nam Á và có chiến lược đầu tư dài hạn trong 10 năm tới. Tại khu vực Đông – Nam Á, Nhật Bản hướng nhiều nhất vào Việt Nam với chiến lược đầu tư nhất quán từ Chính phủ cho đến các tập đoàn lớn. Các động thái gần đây của Nhật Bản đã rất rõ ràng và kiên quyết, cho dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, Việt Nam vẫn sẽ là nơi Nhật Bản phân bố lại sản xuất của họ. Nhật Bản cũng đã sáp nhập JICA và JBIC thành một quỹ viện trợ ODA khổng lồ. Mục tiêu của quỹ này cũng hướng vào Đông – Nam Á, trong đó có Việt Nam.

  • Về tăng trưởng kinh tế

Những tác động trực tiếp và gián tiếp nêu trên của khủng hoảng tài chính thế giới đang và sẽ ảnh hưởng đến việc thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế của nước ta trong năm 2025. Dự kiến tốc độ tăng trưởng GDP trong năm 2025 chỉ đạt khoảng 6,7%, thấp hơn chỉ tiêu đã được Quốc hội thông qua là 7%. Khóa luận: Ảnh hưởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính.

Với những tác động ban đầu của khủng hoảng tài chính thế giới đến đầu tư nước ngoài, thương mại, tài chính tiền tệ,… trong thời gian vừa qua, cũng như phạm vi ảnh hưởng của khủng hoảng đến kinh tế thế giới như đã phân tích ở trên, nền kinh tế nước ta cũng sẽ còn gặp khó khăn trong năm 2026 và các năm tiếp theo.

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, biến động của kinh tế toàn cầu sẽ ảnh hưởng đến tốc độ tăng GDP của Việt Nam. Khi kinh tế toàn cầu suy giảm trong năm 2026, những thị trường xuất khẩu lớn của chúng ta như Mỹ, Nhật Bản, EU và một số khu vực có nguy cơ bị thu hẹp, đồng thời thu hút đầu tư, cả gián tiếp và trực tiếp của chúng ta cũng sẽ bị giảm sút. Kim ngạch xuất khẩu năm 2026 dự báo sẽ tăng 13%, mức tăng thấp nhất trong nhiều năm trở lại đây. Tổng mức đầu tư toàn xã hội năm 2026 dự báo bằng 39,5% GDP, thấp hơn so với dự báo trước đây là 40% GDP. Nhiều doanh nghiệp trong nước, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ gặp khó khăn do tiêu thụ hàng hóa giảm và thiếu vốn đầu tư.

Do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới, kinh tế của Việt Nam năm 2026, theo dự báo, sẽ đạt mức tăng trưởng thấp hơn so với năm 2025, với tốc tăng trưởng chỉ đạt 6,23%. Giá trị gia tăng ngành công nghiệp và xây dựng dự kiến sẽ tăng trưởng khoảng 7,4%, ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản dự kiến sẽ tăng khoảng 2,8%, thấp hơn so với tốc độ tăng trưởng trong năm 2025. Ngành dịch vụ sẽ đạt mức tăng trưởng xấp xỉ năm 2025.

Năm 2027 và các năm tiếp theo, kinh tế thế giới và khu vực châu Á được dự báo khả quan hơn. Điều này sẽ tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Dự báo tăng trưởng kinh tế của nước ta sẽ phục hồi sau năm 2026, với tốc độ tăng trưởng xấp xỉ và cao hơn năm 2025.

  • Về xã hội:

Trong năm 2026 những vấn đề cần quan tâm hàng đầu đối với nền kinh tế Việt Nam chính là tình trạng mất việc làm, thất nghiệp gia tăng, thu nhập của người dân giảm sút. Giá của hầu hết các mặt hàng nông sản như: cà phê, chè, hạt tiêu, nhân điều, rau quả, cao su…đều giảm so với tháng trước và giảm 30% so với cùng kì năm ngoái. Giá thủy sản giảm kéo dài.Các mặt hàng công nghiệp chế biến như dệt may, da giầy, hàng điện tử linh kiện máy tính, sản phẩm gỗ, sản phẩm nhựa đều giảm…Những khó khăn trong sản xuất kinh doanh cùng với việc giá cả nhiều mặt hàng trên thế giới giảm mạnh đã khiến nhiều doanh nghiệp thu hẹp sản xuất dẫn đến thu nhập của người lao động thấp xuống. Khóa luận: Ảnh hưởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính.

Nhiều ngành công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ phát triển mạnh trong những năm qua trước hết nhờ lợi thế nguồn nhân lực dồi dào, giá nhân công rẻ.Đây cũng là một trong những nhân tố khiến ta thu hút mạnh đầu tư nước ngoài, trở thành một địa chỉ outsourcing (lấy nguồn từ nước ngoài) của nhiều hãng lớn trên thế giới và xúc tiến xuất khẩu lao động đi nhiều nơi.

Trong bối cảnh khủng hoảng toàn cầu và khó khăn kinh tế trong nước, các ngành dùng nhiều lao động ở nước ta đều bị chấn động, buộc phải thu hẹp sản xuất kinh doanh, cắt giảm việc làm. Nhiều nhà đầu tư nước ngoài cũng không thể thực hiện các cam kết của họ ở Việt Nam, thậm chí có những nhà đầu tư đã lặng lẽ đóng cửa nhà máy ra đi.Các hợp đồng outcourcing giảm mạnh khi các nước đều lo tạo thêm việc làm cho người dân nước mình, và người lao động ở các nước sẵn sang chấp nhận mọi việc làm có thể tạo thu nhập, kể cả thu nhập thấp hơn, chứ không “kén các chọn canh” như trước.

Mất việc làm, thất nghiệp gia tăng tất yếu dẫn tới giảm thu nhập của người dân, trước hết là các gia đình có người trong diện này. Mặt khác, doanh nghiệp và các đơn vị sử dụng lao động nói chung đều gặp khó khăn nên gần như không thể tăng tiền công, tiền lương cho người lao động. Hàng triệu hộ kinh doanh nhỏ, hộ nông dân, làng nghề cũng khó tiêu thụ sản phẩm hơn, nguồn thu của họ teo lại. Thu nhập của người dân giảm sút khiến cho có thể diện nghèo lại càng tăng lên, tiến độ xóa đói giảm nghèo của chúng ta chậm lại. Sức mua của thị trường tiêu dùng trong nước sẽ giảm sút khi thu nhập giảm và ai cũng phải “thắt lưng buộc bụng”. Điều đó bất lợi cho phát triển kinh tế.

2.2 Hiện trạng của xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam trước và trong thời kì khủng hoảng Khóa luận: Ảnh hưởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính.

2.2.1 Về cơ chế, chính sách xuất khẩu, nhập khẩu

Cơ chế quản lý xuất nhập khẩu bao gồm ba thành tố cơ bản là : Chủ thể điều chỉnh, đối tượng điều chỉnh, công cụ điều chỉnh. Để tạo điều kiện thực hiện thành công chiến lược phát triển kinh tế – xã hội thời kì 2018- 2027 và chủ động hội nhập quốc tế việc hoàn thiện. Nhà nước liên tục đổi mới, bổ sung cơ chế chính sách xuất nhập khẩu cho phù hợp với điều kiện thực tế trong giai đoạn hiện nay theo các hướng:

Rà soát lại hệ thống luật để điều chỉnh các qui định không còn phù hợp hoặc chưa được rõ để phù hợp với cá qui định của WTO. Tiếp tục hoàn thiện các văn bản luật để điều chỉnh các quan hệ kinh tế mới phát sinh như: Luật cạnh tranh và chống độc quyền, Luật chống bán phá giá và chống trợ cấp, Luật phòng vệ khẩn cấp, Luật chống bán phá giá nội bộ.

Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn hàng hóa – dịch vụ xuất nhập khẩu cho phù hợp với đòi hỏi thị trường, nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hóa – dịch vụ.

Trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu, kiên trì chính sách nhiều thành phần, trong đó kinh tế quốc doanh đóng vai trò chủ đạo.

Tiếp tục cải cách hành chính trong lĩnh vực thương mại theo hướng: xóa bỏ các thủ tục phiền hà, ổn định môi trường pháp lý để tạo tâm lý tin tưởng cho các doanh nghiệp bỏ vốn kinh doanh lâu dài, phấn đấu làm cho chính sách thuế, đặc biệt là thuế xuất nhập khẩu có định hướng nhất quán không gây khó khăn cho các doanh nghiệp trong việc tính toán hiệu quả kinh doanh, giảm dần tiến tới ngừng áp dụng các lệnh cấm, lệnh ngừng nhập khẩu tạm thời, cố gắng thuế hóa các biện pháp phi thuế quan.

Điều hành lãi suất, tỷ giá hối đoái một cách linh hoạt để vừa bảo đảm sự ổn định kinh tế xã hội, vừa có lợi cho xuất khẩu hạn chế nhập khẩu. Khóa luận: Ảnh hưởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính.

Chủ động thay đổi căn bản các phương thức quản lý nhập khẩu: Mở rộng sử dụng các công cụ phi thuế “hợp lệ” như các hàng rào tiêu chuẩn kĩ thuật, vệ sinh, môi trường…, hạn ngạch thuế quan, thuế tuyệt đối, thuế mùa vụ, thuế chống phá giá, chống trợ cấp. Cải cách biểu thuế và cải cách công tác thu thuế, bỏ chế độ tính thuế theo giá tối thiểu.

Tích cực sắp xếp lại các doanh nghiệp, các ngành hàng kinh doanh, đặc biệt là doanh nghiệp nhà nước để nâng cao hiệu quả kinh doanh, công bố rõ ràng lộ trình dỡ bỏ hàng rào bảo hộ, khắc phục những bất hợp lý trong chính sách bảo hộ, cân đối lại đối tượng bảo hộ theo hướng chú trọng bảo hộ nông sản.

Với những định hướng rõ ràng như vậy nhà nước ta đã ban hành rất nhiều những qui định, điều lệ tương ứng với các công cụ điều chỉnh xuất nhập khẩu.

  • Với chính sách nhập khẩu:

Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu của Việt Nam hiện hành (Luật số 45/2022/QH-11) qui định áp dụng ba loại thuế suất đối với hàng nhập khẩu tùy thuộc vào các đối tác khác nhau đó là: Thuế suất thông thường, Thuế suất ưu đãi, Thuế suất ưu đãi đặc biệt

Trong thông tư 113/2022/TT- BTC ngày 15/12/2022 hướng dẫn thi hành Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu năm 2022 có qui định cụ thể về cách xác định trị giá tính thuế theo 6 cách mà Hiệp định trị giá hải quan của WTO qui định.

Ngày 28/07/2012 Việt Nam đã gia nhập ASEAN, và gia nhập Diễn đàn hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) vào năm 2014, đây là những dấu mốc quan trọng với Việt Nam, trong khuôn khổ ASEAN, Việt Nam đã ký kết Nghị định thư ( 15/12/2012) gia nhập Hiệp định về chương trình ữu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) cho khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) và cam kết thực hiện những nội dung của CEPT.

Nội dung của cam kết đó là : Phải chuẩn bị danh mục để cắt giảm thuế quan và bắt đầu thực hiện việc cắt giảm thuế có hiệu lực từ ngày 01/01/2013 và hoàn thành thuế suất từ 0- 5% vào ngày 01/01/2023. Chính phủ Việt Nam đã đưa ra lịch trình cắt giảm tổng thể để thực hiện CEPT/AFTA và thời hạn cuối cùng vào năm 2023 thuế nhập khẩu của Việt Nam với ASEAN chỉ còn 0 – 5%.

Các rào cản phi thuế quan liên quan đến Nhập khẩu:

  • Qui định về việc cấm nhập khẩu: Khóa luận: Ảnh hưởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính.

Hàng cấm nhập khẩu trước đây được chính phủ công bố hàng năm, có giá trị cho năm đó hoặc một số năm. Đến năm 2018 thủ tướng chính phủ ban hành quyết định 46/2017/QĐ- TTg qui đinh danh mục hàng cấm xuất, cấm nhập cho cả giai đoạn 2018- 2022. Ngày 23/1/2023 Chính phủ ban hành Nghị định 12/2023/NĐ- CP qui định chi tiết về hàng hóa cấm xuất khẩu, nhập khẩu cho cả giai đoạn dài nhằm đáp ứng với nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.Danh mục hàng hóa cấm nhập khẩu: Vũ khí, đạn dược, vật liệu nổ…(tham khảo bản ban hành kèm theo Nghị định số 12/2023/NĐ- CP)

  • Qui định về hạn ngạch:

Theo qui định của Bộ thương mại (195/TMDLXNK ngày 09/04/1992) thì việc mua bán hạn ngạch bị nghiêm cấm. Những năm trước đây, Việt Nam cũng đã sử dụng biện pháp này khá phổ biến đối với cả hàng xuất khẩu lẫn hàng nhập khẩu. Nhưng sau năm 2012, bắt đầu chuyển sang chỉ quản lý hàng xuất. Đến năm 2017 thì biện pháp mang tên là “hạn ngạch” coi như không còn. Song thực tế, những biện pháp tương đương hạn ngạch vẫn được sử dụng như: Danh mục hàng hóa quản lý theo kế hoạch, định hướng, Danh mục hàng hóa có lien quan đến cân đối lớn của nền kinh tế quốc dân, Danh mục hàng hóa xuất nhập khẩu theo quản lý chuyên ngành.

  • Qui định về giấy phép nhập khẩu:

Ở nước ta, giấy phép nhập khẩu từng lô hàng (chuyến hàng) được bãi bỏ từ ngày 15/12/2012. Tuy nhiên, giấy phép nhập khẩu vẫn là biện pháp quản lý nhập khẩu quan trọng. Ngày 04/04/2018, Thủ tướng chính phủ đã ban hành quyết định số 46/2018/QĐ- TTg, qui định cơ chế quản lý hàng hóa xuất nhập khẩu thời kì 2018-2022 trong đó có qui định về các mặt hàng xuất nhập khẩu quản lý bằng giấy phép. Đến 23/1/2023 Nhà nước ban hành Nghị định 12/2023/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật thương mại cho cả giai đoạn dài nhằm đáp ứng với nhu cầu hội nhập.

Cũng có các qui định về tiêu chuẩn kĩ thuật, kiểm dịch động thực vật, nhãn mác hàng hóa, môi trường…đều hường tới phù hợp với bối cảnh hội nhập quốc tế. Khóa luận: Ảnh hưởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính.

  • Với chính sách xuất khẩu:

Nhà nước ta đã và đang thực hiện các biện pháp thúc đẩy các ngành kinh tế hướng theo xuất khẩu, khuyến khích khu vực tư nhân mở rộng xuất khẩu để giải quyết công ăn việc làm và tăng thu ngoại tệ cho đất nước.

Chính sách phát triển xuất khẩu của nước ta trong giai đoạn 2022-2027 gồm các chính sách sau:

  • Chính sách chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu

Hình thành và phát triển các vùng sản xuất hàng xuất khẩu: Trong chiến lược phát triển kinh tế- xã hội đến năm 2027 và tầm nhìn 2040 có đưa ra định hướng về việc phát triển các vùng: “Các vùng, khu vực đều phát huy lợi thế để phát triển, tạo thêm thế mạnh của mình theo cơ cấu kinh tế mở, gắn với nhu cầu trong và ngoài nước”.

  • Chính sách phát triển các ngành hàng sản xuất và xuất khẩu Chính sách chuyển dịch cơ cấu sản phẩm xuất khẩu
  • Chính sách và phương hướng phát triển thị trường xuất khẩu
  • Biện pháp và chính sách tài chính khuyến khích sản xuất và đẩy mạnh xuất khẩu: Tín dụng xuất khẩu và trợ cấp xuất khẩu

Với mục tiêu tạo ra một hệ thống chính sách đồng bộ về tín dụng ưu đãi đối với hoạt động sản xuất, chế biến, gia công, kinh doanh hàng xuất khẩu, Thủ tướng chính phủ đã có quyết định số 133/2018/QĐ-TTg ngày 10/9/2018 ban hành Qui chế tín dụng hỗ trợ xuất khẩu. Đây là văn bản pháp lý tương đối hoàn chỉnh về tín dụng hỗ trợ xuất khẩu, được ban hành trên cơ sở kế thừa Nghị định số 43/2016/NĐ-CP và Quyết định số 02/2018/QĐ – TTg đồng thời bổ sung thêm những hình thức ưu đãi mới là cho vay ngắn hạn hỗ trợ xuất khẩu và bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng xuất khẩu.

Tóm lại sau nhiều lần chỉnh sửa và thay đổi, rõ ràng chính sách và cơ chế xuất nhập khẩu của nhà nước ta đã định hướng mạnh mẽ vào mở rộng hợp tác giao lưu kinh tế với thế giới, chuyển một cách rất cơ bản từ nhà nước độc quyền ngoại thương sang nhà nước thống nhất quản lý ngoại thương. Khóa luận: Ảnh hưởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính.

Tuy nhiên chính sách của nước ta về xuất nhập khẩu vẫn còn nhiều điểm bất cập:

  • Thuế quan, nhìn chung thuế quan còn cao và còn quá nhiều mức.
  • Hàng rào phi thuế quan: hiện nay để kiểm soát hoạt động ngoại thương, bên cạnh hàng rào thuế quan, chúng ta còn áp dụng biện pháp phi thuế quan như: cấm nhập khẩu, hạn chế số lượng, cấp giấy phép….việc áp dụng các biện pháp này rõ ràng tỏ ra không phù hợp với một số nguyên tắc cơ bản của các tổ chức kinh tế thương mại khu vực như ASEAN, APEC,WTO……

2.2.2. Thực trạng về xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam từ 2018 đến nay (Tháng 2 năm 2026)

Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam có chiều hướng gia tăng mạnh theo thời gian, trong cả khu vực doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

2.2.2.1 Tình hình xuất nhập khẩu của Việt Nam giai đoạn 2018 – 2024

  • Giá trị và tốc độ tăng trưởng xuất nhập khẩu

Trong giai đoạn này, tốc độ tăng trưởng xuất nhập khẩu không ổn định. Năm 2018, tăng trưởng xuất nhập khẩu chỉ đạt 3,7% do tình tình kinh tế – chính trị thế giới biến động. Chỉ số này đã được cải thiện vào năm 2019, và bứt phá trong hai năm 2021-2022. Sau khi suy giảm nhẹ vào năm 2022, tốc độ tăng trưởng tiếp tục giữ ở mức cao, đặc biệt năm 2024 là 28,9%, cao nhất trong 7 năm của giai đoạn 2018–2024. Tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm là 20,5%.

Năm 2024, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 109.217 triệu USD, gấp 3,5 lần so với 31.247 triệu USD của năm 2018

Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu:

  • Nhóm hàng khoáng sản, nhiên liệu: Khóa luận: Ảnh hưởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính.

Năm 2024 chỉ riêng hai mặt hàng dầu thô và than đá đã chiếm gần 20% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước. Sản lượng xuất khẩu dầu thô và than đá tăng trưởng không ổn định. Khối lượng xuất khẩu dầu thô chỉ tăng nhẹ trong những năm đầu của giai đoạn 2018-2024 rồi giảm dần. Sở dĩ có sự sụt giảm này là do các mỏ dầu cũ dần cạn kiệt trong khi công tác thăm dò và mua lại mỏ dầu mới của các nước khác không đạt nhiều tiến triển.

Để tiết kiệm tài nguyên và bảo vệ môi trường, trong những năm tới kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng này sẽ giảm dần. Trong đề án xuất khẩu 2023-2027, Bộ thương mại đã điều chỉnh mục tiêu xuất khẩu khoáng sản, nhiên liệu xuống còn 9,6% vào năm 2027, trong đó giá trị xuất khẩu dầu thô còn 6,1 tỷ USD và than đá còn 325 triệu USD.

  • Nhóm hàng nông lâm thủy sản

Trong vòng 7 năm 2018-2024, giá trị xuất khẩu các mặt hàng này đã tăng lên gần gấp 3 lần. Đây là những mặt hàng chịu nhiều tác động của thị trường thế giới. Trong những năm 2018-2020, do ảnh hưởng của kinh tế thế giới suy giảm, nhu cầu về nông sản, thủy sản giảm làm giảm giá hàng loạt mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Kim ngạch xuất khẩu tăng rất chậm trong giai đoạn này. Những năm còn lại của giai đoạn 2018-2024, do tình hình kinh tế thế giới phục hồi và chi phí sản xuất gia tăng; giá trị xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đã tăng nhanh.

Trong năm 2024, khối lượng xuất khẩu các mặt hàng nông sản có phần giảm hoặc tăng không nhiều. Tuy nhiên, giá trị xuất khẩu lại tăng rất cao so với năm 2023. Nguyên nhân là giá nông sản thế giới đang trên đà lên giá. Đầu năm 2025, thế giới đối mặt với cuộc khủng hoảng lương thực khi giá hầu hết các nông sản chính như: bắp, lúa mì, gạo đều tăng gấp 2-3 lần trong vòng chưa đầy hai năm.

Tóm lại, do đã có quá trình phát triển lâu dài, đã khai thác phần lớn tiềm năng nên hoạt động xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam những năm qua có xu hướng tăng trưởng chậm lại về khối lượng, nhưng vẫn gia tăng nhanh về giá trị do giá cả thế giới có xu hướng tăng lên. Việc gia nhập WTO đã đặt ngành xuất khẩu nông, lâm, thủy sản trước những thời cơ và thách thức mới. Khóa luận: Ảnh hưởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính.

Để các mặt hàng này thực sự trở thành thế mạnh của xuất khẩu Việt Nam, về lâu dài cần phát triển theo hướng: nâng cao dần chất lượng sản phẩm, gia tăng hàm lượng chế biến, đẩy mạnh hoạt động xây dựng và quảng bá thương hiệu, phát triển hạ tầng pháp lý.

  • Nhóm hàng chế biến:

Đây là nhóm hàng gồm nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực như: dệt may, giày dép, sản phẩm cơ khí, sản phẩm gỗ, sản phẩm nhựa, điện tử, thủ công mỹ nghệ… Có thể phân chia các mặt hàng này thành hai nhóm.

Hàng chế biến chính: thủ công mỹ nghệ, dệt may, giày dép, thực phẩm chế biến, hóa phẩm tiêu dùng, sản phẩm cơ khí – điện, vật liệu xây dựng, sản phẩm gỗ.

Hàng chế biến cao: điện tử và linh kiện máy tính, phần mềm.

  • Dệt may, da giày:

Tình hình xuất khẩu dệt may, da giày của Việt Nam 7 năm qua luôn ổn định. Tốc độ tăng trưởng bình quân của ngành dệt may là 23%, da giày là 15,3%. Hai ngành này có chung đặc điểm là sử dụng nhiều lao động, phù hợp với lợi thế lao động giá rẻ ở Việt Nam. Những hạn chế của các ngành này là phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu của nước ngoài (60%-70%), hao phí điện năng lớn.

  • Sản phẩm gỗ

Các sản phẩm gỗ gia tăng giá trị xuất khẩu một cách đều đặn trong giai đoạn 2018-2024. Trong vòng 7 năm, giá trị xuất khẩu tăng gấp 7 lần. Năm 2021 có tốc độ tăng trưởng kỉ lục 81%, qua đó đưa gỗ vào nhóm hàng có giá trị xuất khẩu trên 1 tỷ USD. Gia nhập WTO mở ra những thuận lợi và cả khó khăn cho ngành chế biến gỗ xuất khẩu.

  • Máy tính và linh kiện điện tử: Khóa luận: Ảnh hưởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính.

Ngành xuất khẩu hàng điện tử và linh kiện máy tính đang ngày càng có vai trò quan trọng trong cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam. Nếu như không tính năm 2019 xuất khẩu mặt hàng này giảm đi do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế thế giới thì tốc độ tăng trưởng xuất khẩu bình quân của mặt hàng này giai đoạn 2020-2024 đạt 29,4%, cao nhất trong số các mặt hàng chủ lực

Tóm lại, vấn đề nan giải đối với các sản phẩm chế biến: dệt may, da giày, sản phẩm gỗ, sản phẩm nhựa… là nguồn nguyên, phụ liệu phần lớn phải nhập khẩu từ nước ngoài. Do vậy, giá trị gia tăng của sản phẩm xuất khẩu chưa cao, các doanh nghiệp chưa thực sự chủ động trong việc kí kết các hợp đồng. Nhiều sản phẩm chế biến còn mang tính chất gia công.

Các thị trường xuất nhập khẩu chủ yếu

  • Các thị trường xuất khẩu chủ yếu

Các thị trường xuất khẩu quan trọng của Việt Nam theo thứ tự là: Mỹ, EU, ASEAN, Nhật Bản, Trung Quốc, Australia. Trong giai đoạn 2018-2024, Kim ngạch xuất khẩu vào tất cả các thị trường trọng điểm đều tăng trưởng ấn tượng: xuất khẩu vào EU tăng 2,8 lần, vào Nhật tăng 2,3 lần và vào ASEAN tăng 2,8 lần. Đáng chú ý nhất là việc gia tăng xuất khẩu vào thị trường Mỹ. Nếu như năm 2018, giá trị xuất khẩu sang thị trường lớn nhất thế giới này chỉ là 1065,3 triệu USD, thì đến năm 2024, kim ngạch xuất khẩu đạt 10,54 tỷ USD, xấp xỉ 10 lần năm 2018. Kết quả này có được là nhờ Hiệp định Thương mại Việt-Mỹ kí kết vào năm 2017 và có hiệu lực vào cuối năm 2018.

Định hướng xuất khẩu của Việt Nam là đa dạng hóa thị trường, gia tăng xuất khẩu sang các nước châu Âu, châu Mỹ và giảm xuất khẩu sang các nước châu Á.

  • Các thị trường nhập khẩu chủ yếu Khóa luận: Ảnh hưởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính.

Các đối tác Việt Nam nhập khẩu nhiều nhất đều thuộc khu vực Đông Á: Trung Quốc, Singapore, Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Malaysia, Hồng Kông. Năm 2018, Việt Nam nhập khẩu đến 73,7% hàng hóa từ các nước trên; đến tháng 11 năm 2024, con số này là 76,3%. Trong chính sách về cơ cấu thị trường nhập khẩu, định hướng đưa ra là giảm tỷ trọng nhập khẩu từ các nước châu Á xuống còn 55% vào năm 2027. Chiến lược phát triển xuất nhập khẩu thời kì 2018-2027 còn đề cập tới việc gia tăng nhập khẩu từ các thị trường công nghệ nguồn như Mỹ, EU, Nhật Bản lên 40% vào năm 2027. Tuy nhiên, đến thời điểm này có thể thấy mục tiêu này hoàn toàn không khả thi.

Tuy hàng hóa của chúng ta xuất khẩu sang khoảng 200 nước và vùng lãnh thổ nhưng kim ngạch xuất khẩu sang 40 thị trường lớn nhất đã chiếm đến 97% giá trị xuất khẩu, 20 thị trường lớn nhất chiếm đến 90% giá trị xuất khẩu. Trong nhập khẩu, Việt Nam mua đến 76,3% hàng hóa từ 8 đối tác lớn nhất.

Các đối tác xuất khẩu chủ yếu là các thị trường có công nghệ nguồn, trong khi các đối tác nhập khẩu chủ yếu lại là các thị trường không có công nghệ nguồn.

  • Tình trạng nhập siêu:

Nhập siêu xảy ra liên tục trong cả giai đoạn 2018-2024. Ngoại trừ năm 2022 có giá trị nhập siêu giảm nhẹ, các năm còn lại giá trị nhập siêu tăng liên tục, đặc biệt năm 2024 vừa qua tăng gần 2,5 lần. Đây là mức tăng kỉ lục trong thời gian qua. Tỉ lệ nhập siêu trên tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2024 cũng cao kỉ lục: 25,82%, cao nhất trong vòng 10 năm trở lại đây. Tình hình 2 tháng đầu năm 2025 đã cho thấy nhập siêu đến gần 4,3 tỷ USD, bằng 49,2% kim ngạch xuất khẩu

2.2.2.2 Thực trạng xuất nhập khẩu của Việt Nam kề từ khi khủng hoảng tài chính bùng nổ ( Năm 2025- Quí I năm 2026)

Năm 2025, hoạt động ngoại thương Việt Nam phải “bươn chải” trong bối cảnh kinh tế thế giới diễn biến nhanh, phức tạp, khó lường; phát triển kinh tế của đất nước lên xuống thất thường. Nếu như mọi năm quý 4 thường là thời điểm ngoại thương thừa thắng tiến lên, thì vào thời khắc này của năm 2025 lại bắt đầu chao đảo vì tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu.

  • Xuất khẩu Khóa luận: Ảnh hưởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính.

Kim ngạch cả năm 2025 ước đạt xấp xỉ 63 tỷ USD, tăng trên 29,5% so với năm 2024. Kim ngạch của khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 34,87 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 55,4%, tăng 25,5% so với năm 2024; của khu vực doanh nghiệp 100% vốn trong nước đạt 28,02 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 44,6%, tăng 34,9%, so với năm 2024.

Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu giữ được ở mức cao do trong những tháng đầu năm dầu thô, than đá và nhiều mặt hàng nông sản gặp thuận lợi về giá và thị trường xuất khẩu. Những mặt hàng có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu cao như gạo, nhân điều, khoáng sản.

Ngoài 10 mặt hàng có kim ngạch trên 1 tỷ USD đã thực hiện được từ năm 2024 (chủ yếu thuộc nhóm hàng công nghiệp chế biến, nông sản) là thủy sản, gạo, cà phê, cao su, dầu thô, dệt may, giầy dép, điện tử và linh kiện máy tính, sản phẩm gỗ và nhóm sản phẩm cơ khí, trong năm nay xuất hiện thêm 1 mặt hàng có khả năng đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD là dây điện và cáp điện.

Một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực có khối lượng giảm nhưng do giá thế giới tăng mạnh nên về mặt trị giá tăng khá so với năm 2024 như: Dầu thô tăng 23,1% nhưng lượng giảm 7,7%, than đá tăng 44,3% nhưng lượng giảm 38,3%, cà phê tăng 5,8% nhưng lượng giảm 18,3%, cao su tăng 14,6% nhưng lượng giảm 9,8%, chè tăng 12,2% nhưng lượng giảm 8,8%.

Sản phẩm tàu thuyền, sản phẩm từ gang thép, sản phẩm từ cao su có mức tăng trưởng cao so với năm 2024, là những mặt hàng có triển vọng tăng mạnh trong những năm tới.

Mức tăng trưởng của các khu vực thị trường có sự thay đổi, xuất khẩu sang thị trường Châu Phi tăng 95,7%; Châu Á tăng 37,8%; Châu Đại dương tăng 34,9%, nhưng tăng chậm lại đối với Châu Mỹ (21,9%); Châu Âu (26,3%).

Cơ cấu thị trường hàng hoá có sự chuyển dịch, thị trường Châu Á chiếm 44,5% (năm 2024 là 41,9%), Châu Âu chiếm 18,3% (năm 2024 là 18,7%), Châu Mỹ 20,6% (năm 2024 là 21,9%), Châu Đại dương 6,7% (năm 2024 là 6,4%), Châu Phi 1,9% (năm 2024 là 1,27%). Khóa luận: Ảnh hưởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính.

Đến nay, hàng hoá xuất khẩu nước ta đã vươn tới hầu hết các quốc gia và vùng lãnh thổ. Cuộc khủng hoảng tài chính đã ảnh hưởng đến xuất khẩu của nước ta vào EU và Hoa Kỳ khiến tốc độ tăng xuất khẩu vào hai thị trường này giảm so với năm 2024 nhưng năm qua chúng ta tiếp tục đẩy mạnh việc đa dạng hoá thị trường xuất khẩu, nhiều chủng loại hàng hoá đã vào được các thị trường xuất khẩu mới, giảm dần xuất khẩu qua các thị trường trung gian, đặc biệt xuất khẩu vào thị trường châu Phi tăng đột biến.

  • Nhận định chung về các kết quả đạt được

Trên cơ sở những kết quả đạt được trong hoạt động xuất khẩu năm 2025, có thể rút ra một số nhận định cơ bản như sau:

  • Những thành tựu:

Năm 2025 do chịu ảnh hưởng của biến động của kinh tế thế giới nên xuất khẩu diễn biến không theo quy luật, những tháng đầu năm xuất khẩu gặp thuận lợi về giá, KNXK đạt mức cao trong 2 tháng 7 và 8 tuy nhiên đến tháng 9 xuất khẩu giảm mạnh và tiếp tục giảm trong những tháng cuối năm. Nhìn chung cả năm 2025, xuất khẩu đã đạt được mức tăng trưởng cao, phát triển cả về quy mô, tốc độ, thị trường và thành phần tham gia xuất khẩu. Có thể nhìn nhận như sau:

Thứ nhất, qui mô và tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu tiếp tục được duy trì ở mức cao.

Thứ hai, các mặt hàng xuất khẩu truyền thống vẫn giữ được nhịp độ tăng trưởng cao, nhất là các mặt hàng gạo, rau quả, hạt điều, than đá, hàng điện tử và linh kiện máy tính, sản phẩm nhựa, túi xách và li và ô dù… Xuất khẩu hàng hoá tăng còn có sự đóng góp của nhiều mặt hàng mới ví dụ như sản phẩm từ cao su, sản phẩm chế tạo từ gang, thép, máy biến thế, động cơ điện, tàu thuyền các loại…

Thứ ba, cơ cấu hàng hoá xuất khẩu vẫn tiếp tục chuyển dịch tích cực theo hướng tăng tỷ trọng nhóm hàng chế biến, chế tạo, giảm tỷ trọng xuất khẩu thô. Những hàng hoá có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu cao và giá trị xuất khẩu lớn là nhóm hàng công nghiệp và chế biến như: thuỷ sản, hàng điện tử và linh kiện điện tử, sản phẩm nhựa, túi xách va li, mũ và ô dù…

Thứ tư, bên cạnh việc tập trung khai thác tối đa các thị trường trọng điểm, năm qua chúng ta tiếp tục giữ vững thị trường truyền thống, đẩy mạnh việc đa dạng hoá thị trường xuất khẩu, nhiều chủng loại hàng hoá xuất khẩu đã vào được các thị trường mới, điển hình là các thị trườn tại khu vực Châu Phi-Tây Nam Á, Châu Á, và Châu Đại Dương.

  • Những hạn chế: Khóa luận: Ảnh hưởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính.

Thứ nhất, một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực gặp khó khăn do phải đối mặt với những rào cản thương mại mới ngày càng nhiều với các hành vi bảo hộ thương mại tinh vi tại các thị trường lớn. Việc tăng giá trị xuất khẩu phụ thuộc nhiều vào giá thế giới và những thị trường xuất khẩu lớn, khi những thị trường này có biến động thì KNXK bị ảnh hưởng.

Thứ hai, nhu cầu của thị trường xuất khẩu bị thu hẹp, các đơn hàng xuất khẩu dệt may, đồ gỗ, một số nông sản vào Mỹ và EU đều giảm do ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu; Trong khi thị trường xuất khẩu gặp khó khăn thì các chi phí đầu vào không giảm, thậm chí còn tăng cao như lương công nhân, lãi suất ngân hàng, khiến nhiều doanh nghiệp dệt may phải chuyển từ sản xuất mua nguyên liệu bán thành phẩm sang gia công để bảo toàn vốn, vì vậy giá trị gia tăng trên sản phẩm dệt may ngày càng thấp là lợi nhuận giảm.

Thứ ba, xuất khẩu vẫn phụ thuộc nhiều vào các mặt hàng khoáng sản, nông, lâm, thuỷ, hải sản; các mặt hàng công nghiệp chế biến chủ yếu vẫn mang tính chất gia công; Các mặt hàng xuất khẩu chưa đa dạng, phong phú, số lượng các mặt hàng xuất khẩu mới có kim ngạch lớn, tốc độ tăng trưởng nhanh chưa nhiều. Xuất khẩu chủ yếu dựa vào khai thác lợi thế so sánh sẵn có mà chưa khai thác được lợi thế cạnh tranh thông qua việc xây dựng các ngành công nghiệp có mối liên kết chặt chẽ với nhau để hình thành chuỗi giá trị gia tăng xuất khẩu lớn.

Thứ tư, vẫn chưa tận dụng triệt để lợi ích từ việc gia nhập WTO, các hiệp định thương mại song phương và khu vực đã ký kết giữa Việt Nam và các đối tác để khai thác hết tiềm năng của các thị trường lớn như Hoa Kỳ, EU, Trung Quốc.

Thứ năm, việc tiếp cận nguồn vốn vay bằng VNĐ cho sản xuất kinh doanh vẫn còn bất cập, nhất là đối với các mặt hàng nông sản, thuỷ sản, trong khi đó lãi suất cho vay mặc dù đã giảm nhưng vẫn ở mức cao, điều này đã làm chi phí tăng cao ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh của hàng hoá xuất khẩu. Khóa luận: Ảnh hưởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính.

  • Nhập khẩu và cán cân thương mại

Tổng kim ngạch nhập khẩu năm 2025 ước đạt 79,90 tỷ USD, tăng 27,5% so với năm 2024, trong đó doanh nghiệp có vốn trong nước nhập khẩu khoảng 51,5 tỷ USD, tăng 25,6% và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nhập khẩu khoảng 28,5 tỷ USD, tăng 31%

Những mặt hàng nhập khẩu chủ yếu có trị giá tăng cao so với năm 2024 gồm: ôtô nguyên chiếc các loại tăng 78,9% (so với cuối năm 2024 và đầu năm 2025 thì đã giảm rất nhiều), linh kiện ôtô tăng 52,6%, thép tăng 22%, phôi thép tăng 42,9%, phân bón tăng 47%, xăng dầu tăng 41,2%, bông tăng 75%, đá quý và kim loại tăng200,9%, thức ăn gia súc và nguyên liệu tăng 47,2%…

Các mặt hàng nhập khẩu có kim ngạch lớn thuộc nhóm thiết bị máy móc, nguyên nhiên, vật liệu, phụ liệu (không kể xăng dầu). Trong đó có một số mặt hàng chiếm tỷ trọng cao như: thép thành phẩm chiếm 6,1 %, máy móc thiết bị chiếm 17%, vải chiếm 5,5%, điện tử linh kiện, máy tính chiếm 4,6%, nguyên phụ liệu dệt, may, da chiếm 2,9 %…

Về thị trường nhập khẩu, KNNK từ Châu Á vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất 75,6% và ngày càng tăng (năm 2024 chiếm 72,2%) trong đó chủ yếu là nhập khẩu từ Trung Quốc và ASEAN, trong khi đó nhập khẩu từ thị trường Châu Âu vẫn ở mức khiêm tốn chiếm 10,3%

Nhập siêu cả năm 2025 là 17 tỷ USD với tỷ lệ nhập siêu/xuất khẩu là 27%, giảm so với năm 2024 (năm 2024 là 29,1%). So với mục tiêu ban đầu là 20 tỷ USD đã phấn đấu giảm được 3 tỷ USD nhập siêu.

Ngoài các nước ASEAN, Việt Nam cũng nhập siêu lớn từ các nước Châu Á khác. Các mặt hàng nhập siêu như nguyên phụ liệu dệt may, da giầy, xăng dầu, hoá chất, phân bón, sắt thép, máy móc thiết bị phụ tùng đều là nguyên liệu sản xuất hàng xuất khẩu của ta sang các thị trường khác.

Mặc dù gặp rất nhiều khó khăn về thị trường bị co lại do những thị trường lớn là Mỹ, Nhật, EU kinh tế bị suy thoái, giá xuất khẩu thô, cao su, hạt tiêu, cà phê, chè,… bị tụt giảm mạnh, việc thanh toán gặp khó khăn…, nhưng tổng kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng 2,4% so với cùng kỳ.

Việt Nam một trong nước hiếm hoi mà nền kinh tế định hướng xuất khẩu có tốc độ tăng xuất khẩu dương, trong đó có 9 mặt hàng có kim ngạch tăng, đặc biệt là xuất khẩu gạo tháng 3 tăng 23,5%, và trong 3 tháng tăng 76,4% so với cùng kỳ.

Trong khi kim ngạch xuất khẩu tăng thì kim ngạch nhập khẩu giảm mạnh, trong đó tháng 1 giảm 55,2%, tháng 2 giảm 31,7%, tháng 3 giảm 47%, tổng 3 tháng giảm 45% so với cùng kỳ. Kim ngạch nhiều mặt hàng giảm do giá giảm như dầu thô, chất dẻo, sắt thép và phôi thép, sợi dệt, phân bón, bông… Khóa luận: Ảnh hưởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính.

Về xuất khẩu, xuất khẩu đá quý và kim loại quý (trong đó chủ yếu là tái xuất khẩu vàng) tháng 1 đạt 139 triệu USD, cao gấp gần 7 lần cùng kỳ, tháng 2 đạt 1,298 tỷ USD, cao gấp 120,2 lần cùng kỳ, tháng 3 ước đạt 850 triệu USD, cao gấp 41 lần, tính chung 3 tháng ước đạt 2,287 tỷ USD, cao gấp 49 lần.

Nếu không kể đá quý, kim loại quý, thì 3 tháng xuất khẩu chỉ đạt 11,2 tỷ USD, giảm 15% hay giảm khoảng 2 tỷ USD so với cùng kỳ năm trước.

Mặc dù việc xuất khẩu vàng khi giá trong nước thấp hơn giá thế giới là cần thiết, có tác dụng thu ngoại tệ, cải thiện cung – cầu, bù đắp cán cân thanh toán, tăng tính thanh khoản của quốc gia, giảm áp lực tăng tỷ giá VND/USD… nhưng dù sao cũng là tái xuất số vàng đã nhập khẩu trong những năm trước.

Có 26 trên 35 mặt hàng xuất khẩu chủ yếu có kim ngạch giảm so với cùng kỳ năm trước như dầu thô, điện tử máy tính và linh kiện, than, hạt điều, sản phẩm, chất dẻo, dây điện và cáp điện, cao su…

  • Biểu đồ 1: Biểu đồ xuất, nhập khẩu và xuất siêu 3 tháng đầu năm 2026

Nhập khẩu bị sụt giảm quá mạnh. Tháng 1 giảm 55,2%, tháng 2 giảm 31,7%, tháng 3 ước giảm 49%, tính chung 3 tháng ước giảm 45% so với cùng kỳ.

Nhập khẩu giảm do cả yếu tố giá, do cả yếu tố lượng, nên kim ngạch giảm mạnh. Giảm mạnh gồm có xăng dầu, hoá chất, máy móc, thiết bị và dụng cụ phụ tùng, phân bón, thuốc trừ sâu, chất dẻo, bông, sợi, nguyên phụ liệu dệt may giày dép, sắt thép, điện tử máy tính…

Sự sụt giảm nhập khẩu cho thấy tình hình sản xuất hàng tiêu thụ trong nước và hàng xuất khẩu vẫn đang đứng trước những khó khăn.

2.3 Ảnh hưởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng tới hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu của Việt Nam Khóa luận: Ảnh hưởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính.

Ngay từ những tháng đầu năm 2025, đã xuất hiện xu hướng giảm tốc độ xuất khẩu sang Mỹ, thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam. Do cầu tiêu dùng tại Mỹ đang trên đà suy giảm mạnh bởi tác động của khủng hoảng tài chính. Các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam chịu nhiều ảnh hưởng nhất là may mặc, giày da, gạo, cá basa, cà phê…

Cuộc khủng hoảng cũng tác động đến tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam sang EU và Nhật Bản – hai thị trường xuất khẩu quan trọng của Việt Nam. Phân tích của các chuyên gia kinh tế cho thấy, do bị tác động mạnh từ cuộc khủng hoảng, người tiêu dùng của các thị trường này cũng phải cắt giảm chi tiêu, nên nhu cầu nhập khẩu đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam cũng sẽ có xu hướng giảm. Tỷ trọng của thị trường EU trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam cũng đã giảm, chỉ còn 16,5%, trong khi năm 2024 là 18%.

Xuất khẩu cả năm 2025 chỉ đạt khoảng 64 tỷ USD, tăng 31,8% so với thực hiện năm 2024, thấp hơn so với dự báo của Chính phủ vào đầu tháng 10-2025 cả về kim ngạch và tốc độ tăng (tương ứng là 65 tỷ USD và 33,9%) do xuất khẩu giảm không chỉ về số lượng các đơn hàng, mà cả về giá bán của hàng hóa xuất khẩu. Năm 2026, dự kiến kim ngạch xuất khẩu là 64 tỷ USD, giảm cả về kim ngạch và tốc độ tăng kim ngạch.

Dựa theo cơ chế tác động của khủng hoảng tới hoạt động xuất nhập khẩu ta có thể đưa ra các mặt ảnh hưởng như sau:

2.3.1 Ảnh hưởng tới thị trường xuất, nhập khẩu

Có sự khác nhau về tác động của khủng hoảng tài chính tới thị trường xuất khẩu Việt Nam, giữa thị trường khu vực và ngoài khu vực.

Xuất khẩu của nước ta xấp xỉ bằng 80% GDP, điều này chứng tỏ xuất khẩu có vị trí quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế. Song những nền kinh tế lớn nhất là Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản – là những thị trường chiếm trên 50% kim ngạch xuất khẩu của nước ta – lại đang lâm vào suy thoái, trên 40% là châu Á và châu Đại Dương, cũng là những khu vực chịu tác động mạnh của khủng hoảng, số còn lại là khu vực châu Phi và Trung Đông, khu vực chịu tác động ít hơn nhưng kim ngạch xuất khẩu của ta vào khu vực này còn nhỏ.

  • Thị trường khu vực: Khóa luận: Ảnh hưởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính.

Thị trường xuất khẩu Asean, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kong chiếm trên 70% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Riêng Asean, Nics và Nhật Bản chiếm khoảng 70% trong tổng kim ngạch xuất khẩu. Do vậy sự thay đổi nhu cầu hàng nhập khẩu từ Việt Nam của họ sẽ ảnh hưởng rất lớn đến Ngoại Thương của nước ta. Trên thực tế, khả năng nhập khẩu của các nước này giảm với những lí do sau:

Thứ nhất, dưới tác động của cuộc khủng hoảng, hàng loạt các nước trong khu vực lâm vào khó khăn. Đặc biệt là quốc gia phát triển, bạn hàng lớn của chúng ta đó là Nhật phải gánh chịu hậu quả hết sức nặng nề. Xét riêng về lĩnh vực sản xuất, các nước này đều gặp trở ngại. Nhiều xí nghiệp, nhà máy khó khăn cả về đầu vào và đầu ra, về nguồn vốn… Hàng loạt xí nghiệp của họ phải đóng cửa, tạm ngừng sản xuất, giảm tiến độ kinh doanh, giảm nhân công….Trong tình thế này, nhu cầu hàng tư liệu sản xuất, nguyên nhiên vật liệu nhập khẩu sẽ giảm trong khi đó hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam lại là hàng sơ chế, nguyên nhiên vật liệu…(chiếm 60-70% tổng kim ngạch xuất khẩu). Như vậy, xuất khẩu của Việt Nam phục vụ cho sản xuất khu vực sẽ giảm mạnh.

Thứ hai, do lao động thất nghiệp tăng nên thu nhập người dân thấp, lạm phát tăng và lãi suất tiền gửi được khuyến khích nâng giá nên khả năng tiêu dùng giảm. Hơn nữa, nền kinh tế giảm tốc độ tăng trưởng một cách đột ngột. Những lí do này khiến cho sức mua của thị trường khu vực giảm. Hậu quả của nó là xuất khẩu hàng tiêu dùng của Việt Nam sang khu vực sẽ giảm.

Thứ ba, do tác động của khủng hoảng tới thương mại và cán cân thương mại khu vực. Để bù đắp cho sự thâm hụt trong tài khoản vãng lai, giải quyết các tài khoản nợ ngoại tệ quá hạn, tạo điều kiện khôi phục nền kinh tế… các quốc gia bị khủng hoảng đều tích cực dựa vào xuất khẩu để tăng thu ngoại tệ, hạn chế nhập khẩu để tiết kiệm nguồn ngoại tệ vốn rất khan hiếm của họ để đảm bảo an toàn cho nền kinh tế. Khi các chính sách này được thực hiện trên thực tế sẽ gây ra một rào cản trực tiếp đối với hàng xuất khẩu của Việt Nam vào các quốc gia khu vực.

Dự báo xuất khẩu vào các thị trường chính như Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan sẽ giảm so với năm 2025, đặc biệt là thị trường ASEAN do xuất khẩu xăng dầu sang thị trường này giảm. Kế hoạch năm 2026 xuất khẩu hàng hóa vào thị trường Châu Á đạt 31,6 tỷ USD, tăng 13 % so với năm 2025; Khu vực thị trường Châu Đại Dương dự kiến giảm còn bằng 91,8% so với năm 2025 đạt 3,9 tỷ USD cũng bởi nguyên nhân trên. Khóa luận: Ảnh hưởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính.

Qua ba luận điểm trên có thể kết luận rằng: nhu cầu nhập khẩu hàng xuất khẩu từ Việt Nam của các quốc gia trong khu vực bị giảm đáng kể dưới tác động của khủng hoảng tài chính tiền tệ. Đây là loại tác động gián tiếp ngoại thương của Việt Nam thông qua tác động tới nền kinh tế các nước có liên quan trong khu vực.

  • Thị trường ngoài khu vực:

Xuất khẩu của nước ta xấp xỉ bằng 80% GDP, điều này chứng tỏ xuất khẩu có vị trí quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế. Song những nền kinh lớn nhất là Hoa kỳ, EU, Nhật Bản là những thị trường chiếm trên 50% kim ngạch xuất khẩu của nước ta lại đang lâm vào suy thoái, trên 40% là châu Á và châu Đại Dương, cũng là những khu vực chịu tác động mạnh của khủng hoảng, số còn lại là khu vực châu Phi và Trung Đông, khu vực chịu tác động ít hơn nhưng kim ngách xuất khẩu của ta vào khu vực thị trương này còn nhỏ.

Trước khó khăn của những thị trường truyền thống như Mỹ, EU, Nhật Bản…, hoạt động xuất khẩu của nhiều doanh nghiệp đã chủ động đẩy mạnh sang khai thác và mở rộng những thị trường mới, hoặc đã thâm nhập trước đó.

  • Bảng 1: Thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam

Cơ cấu thị trường hàng hoá cũng có sự chuyển dịch, tăng dần ở châu Á, châu Đại dương và châu Phi. So với tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước, thị trường châu Á chiếm 44,5% (năm 2024 là 41,9%), châu Âu chiếm 18,3% (năm 2024 là 18,7%), châu Mỹ 20,6% (năm 2024 là 21,9%), châu Đại dương 6,7% (năm 2024 là 6,4%), châu Phi 1,9% (năm 2024 là 1,27%). Theo báo cáo của Bộ Công thương, mức tăng trưởng của các khu vực thị trường có sự thay đổi, xuất khẩu sang thị trường châu Phi đã tăng tới 95,7%, châu Á tăng 37,8%; châu Đại dương tăng 34,9%, nhưng tăng chậm lại đối với châu Mỹ (21,9%), châu Âu (26,3%).

Hai thị trường xuất khẩu chủ yếu ở ngoài khu vực là EU và Mỹ. Và rõ ràng các quốc gia này đang gánh chịu hậu quả hết sức nặng nề từ cuộc khủng hoảng lần này. Khóa luận: Ảnh hưởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính.

Mỹ là thị trường nhập khẩu quan trọng các mặt hàng dệt may, da giày, thuỷ sản của Việt Nam.

Khủng hoảng tài chính của Mỹ có thể làm cho xuất khẩu của Việt Nam vào Mỹ giảm mạnh vì hai lý do (1) Là hàng xuất khẩu của Việt Nam một phần lớn vẫn là các loại hàng thô, trong khi giá các nguyên liệu thô trên thị trường thế giới đang giảm, kể cả khi không có khủng hoảng ở Mỹ, và (2) là sự eo hẹp của thị trường tài chính dẫn đến eo hẹp thị trường nhập khẩu hàng hóa, nhu cầu về hàng xuất khẩu của Việt Nam giảm đi.

Chính vì thế có thể nói xuất khẩu Việt Nam đang thực sự đứng trước khó khăn do nhu cầu giảm sút đáng kể của các bạn hàng lớn.

Không riêng gì Việt Nam mà nhiều quốc gia ở châu Á còn phải chịu những tác động sâu xa hơn từ việc thị trường xuất khẩu lớn nhất bị suy thoái. Mỹ là một nền kinh tế 70% tiêu dùng. Một khi mà người tiêu dùng Mỹ thắt chặt hầu bao, không còn vung tiền chi tiêu mua sắm ôtô, tivi, tủ lạnh, thực phẩm… thì các nền kinh tế dựa chủ yếu vào nguồn lợi từ xuất khẩu chắc chắn sẽ gặp rất nhiều khó khăn.

Khu vực thị trường Châu Âu: Năm 2026, xuất khẩu những hàng hóa chủ yếu vào thị trường EU dự báo sẽ giảm như dệt may, giầy dép vì nhu cầu tiêu dùng giảm do khủng hoảng kinh tế các mặt hàng có khả năng tăng là sản phẩm nhựa, hàng điện tử, hàng thủy sản. Tổng kim ngạch xuất khẩu dự kiến đạt 13,3 tỷ USD, tăng 15%.

Khu vực thị trường Châu Mỹ: Do cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ nên tăng trưởng nhập khẩu của Hoa Kỳ năm 2026 dự báo sẽ giảm (trừ những nhóm hàng nhiên liệu và một số nông sản có thể vẫn tăng do vẫn có nhu cầu tiêu dùng và tăng giá) nhất là đối với các nhóm hàng xuất khẩu chính của Việt Nam như may mặc, giầy dép, vali, túi xách, đồ gỗ, đồ điện tử, cáp điện, sản phẩm nhựa, hạt điều, cà phê. Dự kiến kim ngạch xuất khẩu năm 2026 đạt 14,6 tỷ USD, tăng 13% so với năm 2025, trong đó Hoa Kỳ đạt 12,7 tỷ USD, tăng 10%. Các mặt hàng như sản phẩm gỗ, dệt may, giầy dép, cà phê, thủy sản vẫn là những mặt hàng đóng góp lớn vào tăng trưởng.

Khu vực thị trường Châu Phi: Dự báo tình hình phát triển kinh tế tại khu vực này có thuận lợi ở một số thị trường và không có đột biến trong chính sách thương mại, đòi hỏi ở thị trường này không quá khắt khe, vì vậy đây là thị trường rất tiềm năng cho Việt Nam, năm 2026 phấn đấu xuất khẩu đạt 2,3 tỷ USD, tăng 89% so với năm 2025

Theo như các số liệu ở trên về tình hình xuất nhập khẩu của EU và Mỹ thì quả thực đây là một tác động khá lớn đối với xuất khẩu của Việt Nam.

2.3.2. Ảnh hưởng đến giá hàng xuất nhập khẩu Khóa luận: Ảnh hưởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính.

Trong nửa đầu năm 2025, giá hàng hóa trên thị trường thế giới leo thang, gây áp lực tăng chi phí nhập khẩu và đẩy nhập siêu lên cao; lạm phát trong nước cũng có một phần nguyên nhân từ diễn biến này.

Giá dầu giảm mạnh do nhu cầu suy yếu trước bối cảnh kinh tế toàn cầu rơi vào suy thoái, đồng USD hồi phục so với các đồng tiền chủ chốt khác, hoạt động đầu cơ cũng phần nào giảm trước bối cảnh không sáng sủa của kinh tế thế giới. Mức thấp nhất của giá dầu trong thời gian qua là 30,28USD/thùng vào ngày 23/12/2025, tình hình suy giảm nghiêm trọng kéo theo đó là hàng loạt các mặt hàng khác cũng sụt giảm theo. Chỉ riêng giá vàng có diễn biến tăng trong thời kỳ trên là do tâm lý của nhà đầu tư lựa chọn chuyển đổi sang kênh đầu tư an toàn hơn.

  • Bảng 2: Diễn biến giá cả hàng hoá thế giới (Từ 12/9/2025 đến 12/1/2026)

Xuất khẩu giảm một mặt do quan hệ cung- cầu về hàng hóa trên thị trường thế giới không còn mất cân đối lớn như vừa qua, trong đó Việt Nam có ba nhóm mặt hàng bị tác động lớn là năng lượng (gồm dầu thô, than), lương thực, thực phẩm (gồm thuỷ sản, chè, cà phê,…). Cụ thể, như cà phê từ đầu năm khi chưa xảy ra cuộc khủng hoảng, giá lên trên 2.500 USD/tấn, thì nay chỉ còn 1.600 USD/tấn; hoặc gạo xuất khẩu có khi lên trên 1.000 USD/tấn thì nay cũng chỉ còn 390-400USD/tấn…Hiện nay, giá xuất khẩu dầu thô của nước ta hiện đã giảm xuống còn 340 USD/thùng, chỉ bằng 40% so với giá xuất khẩu trung bình trong năm 2025; giá xuất khẩu cà phê là 1.680 USD/tấn, bằng 84%; cao su là 1.500 USD/tấn, bằng 65%; gạo là 420 USD/tấn, bằng 70%; nhân điều là 4000 USD/tấn, bằng 76%; hạt tiêu là 2.250 USD/tấn, bằng 67%…

Giá xăng đầu, lương thực và nhiều loại nông sản giảm và do khủng hoảng tài chính diễn ra trên phạm vi toàn cầu, nhất là các thị trường nhập khẩu chính của nước ta, nhu cầu nhập khẩu giảm nên xuất khẩu tăng chậm lại, trong 4 tháng cuối năm kim ngạch xuất khẩu giảm bình quân 400 triệu USD/tháng so với mức bình quân 8 tháng trước đó. Tình hình này còn kéo dài sang năm 2026, với mức độ có khả năng còn nghiêm trọng hơn. Giá hàng trên thị trường thế giới bắt đầu bước vào một đợt thoái trào mạnh, khiến xuất khẩu chịu ảnh hưởng nặng. Hầu hết các mặt hàng xuất khẩu đồng loạt giảm giá mạnh, đặc biệt ở mặt hàng dầu thô, nông sản, thủy sản… Khóa luận: Ảnh hưởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính.

2.3.3 Ảnh hưởng tới kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam

2.3.3.1. Xuất khẩu

Một khi mà người tiêu dùng Mỹ thắt chặt hầu bao, không còn vung tiền chi tiêu mua sắm ôtô, tivi, tủ lạnh, thực phẩm… thì các nền kinh tế dựa chủ yếu vào nguồn lợi từ xuất khẩu chắc chắn sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Với Việt Nam cũng vậy, hiện nay 60% GDP của chúng ta là để phục vụ cho xuất khẩu, mà Mỹ là thị trường nhập khẩu quan trọng các mặt hàng dệt may, da giày, thuỷ sản của Việt Nam. Ngoài ra, khủng hoảng tài chính Mỹ cũng lan rộng, thành khủng hoảng kinh tế thế giới nên xuất khẩu của Việt Nam sang các thị trường tiềm năng như EU, Nhật, Đông Nam Á… đều bị ảnh hưởng nặng nề. Tác động của khủng hoảng khinh tế toàn cầu không chỉ thể hiện ở sự sụt giảm kim ngạch xuất khẩu mà còn ảnh hưởng đến giá hàng xuất khẩu, thị trường xuất khẩu…

Khủng hoảng tài chính toàn cầu làm cho xuất khẩu của Việt Nam giảm mạnh vì hai lý do hàng xuất khẩu của Việt Nam một phần lớn vẫn là các loại hàng thô, trong khi giá các nguyên liệu thô trên thị trường thế giới đang giảm, kể cả khi không có khủng hoảng ở Mỹ sự eo hẹp của thị trường tài chính dẫn đến eo hẹp thị trường nhập khẩu hàng hóa, nhu cầu về hàng xuất khẩu của Việt Nam giảm đi.

  • Hình 4: kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam tháng 1/2025 đến tháng 2/2026

Xuất khẩu của Việt Nam đã bắt đầu gánh chịu những khó khăn từ tháng 8 năm 2025. Trị giá xuất khẩu hàng hóa giảm 4 tháng liên tiếp, mặc dù có tăng nhẹ trong tháng 12 nhưng tiếp tục giảm mạnh trong tháng 1 năm 2026. Kim ngạch xuất khẩu tháng 1 năm 2026 đạt 3,7 tỷ USD, giảm 19% so với tháng 12 năm 2025 và giảm 24,2% so với cùng kỳ 2025.

Hầu hết các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam như dệt may, dầu thô, điều, hải sản, cà phê, cơ khí, điện tử… đều có mức tăng trưởng rất thấp và đang đi xuống. Theo Bộ Công Thương, ước tính quý 1/2026, Việt Nam đã xuất siêu tới 1,647 tỷ USD. Tuy nhiên, trong 35 nhóm hàng hoá được thống kê, chỉ có 9 nhóm hàng hoá xuất khẩu tăng. Sở dĩ kim ngạch xuất khẩu 3 tháng tăng nhẹ là do có sự đóng góp tăng kỷ lục của nhóm đá quý và kim loại quý. Kim ngạch tháng 3/2026 của loại hàng hóa này đạt 850 triệu USD, tăng tới 49 lần so với cùng kỳ năm 2025 và chiếm 18% kim ngạch xuất khẩu cả nước. Nguyên nhân của sự tăng đột biến này là do việc tái xuất vàng. Như vậy, nếu bóc tách kim ngạch xuất khẩu vàng thì Việt Nam vẫn trong tình trạng nhập siêu. Còn lại, xuất khẩu của đa số nhóm hàng hoá đều chững hoặc giảm.

  • Bảng 3 :Số liệu trị giá xuất khẩu một số mặt hàng chủ yếu từ tháng 7/2025 đến tháng 1/2026

Đáng lo ngại nhất là trong 13 mặt hàng chủ lực thì kim ngạch xuất khẩu của 12 mặt hàng đều giảm mạnh từ 10 đến 20%, như điện tử và linh kiện máy tính, giày dép, than đá, thủy sản, cà phê, nhân điều, sản phẩm chất dẻo… Trong đó, so với cùng kỳ năm 2025, dầu thô giảm mạnh nhất với mức giảm 48,6%, kế đến là dây điện và cáp điện giảm 47,3%, cao su giảm 43,9%. Nhóm hàng dệt may vốn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong kim ngạch xuất khẩu cả nước thì trong tháng 3, kim ngạch đã giảm 4,2%.

Tác động của khủng hoảng tài chính Mỹ đến một số nhóm hàng chính:

  • Nhóm hàng nông sản Khóa luận: Ảnh hưởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính.

Có lẽ đây là nhóm hàng ít chịu tác động của khủng hoảng nhất. Gần đây, giá một số loại nông sản xuất khẩu xuống thấp khi gặp khủng hoảng tài chính. Nhiều chuyên gia nhận định, giá nông sản giảm là bất ngờ nhưng chỉ vào thời điểm này, không đến mức quá nghiêm trọng. Rất nhiều mặt hàng nông sản chủ lực của Việt Nam chịu tác động từ hiệu ứng domino của cơn khủng hoảng tài chính thế giới như cao su, cà phê, điều, hạt tiêu, gạo. Song, sự giảm giá này còn là do nhiều yếu tố khác, như một số sản phẩm chuẩn bị bước vào thời kỳ thu hoạch (cà phê), hoặc hết hàng do đã cuối vụ (hạt tiêu) hay mức giá giảm đã kéo dài từ trước đó (gạo). Mặt hàng chịu tác động đầu tiên, nặng nề nhất chính là cao su – khi giá liên tục giảm theo chiều thẳng đứng. 60% sản lượng cao su Việt Nam hiện xuất sang Trung Quốc, hơn 15% đi Nhật Bản… Các nước này lại nhập cao su chủ yếu để sản xuất lốp xe bán cho Mỹ, châu Âu nên nhiều chuyên gia lo ngại giá cao su còn xuống nữa.

Tuy nhiên, mặt hàng gạo trong nhóm hàng chủ lực này có kim ngạch xuất khẩu tăng. Tháng 3, gạo tăng 23,5% và tính chung 3 tháng, gạo tăng 76,4% so với cùng kỳ 2025. Đối với hạt điều, tuy giá nhân điều gần đây giảm từ 6.500 xuống 5.400 USD/tấn so với hồi đầu tháng 8/2025 và đây không phải là lương thực chủ lực, song người tiêu dùng (nhất là ở Mỹ), ăn quen từ lâu nên chỉ một thời gian nữa giá sẽ bình ổn trở lại.

Tóm lại, các mặt hàng nông sản tiêu dùng vẫn có cơ hội vì không nhắm tới khách hàng quá giàu và vẫn có những nước sản xuất không đủ, phải nhập để đáp ứng nhu cầu thiết yếu như thuỷ sản, rau quả, gạo… Về cơ bản, giá các mặt hàng nông sản thiết yếu sẽ theo cân đối cung cầu, vượt qua tâm lý nhất thời, và tiếp tục có cơ hội thương mại.

  • Nhóm hàng thủy sản

Hai thị trường xuất khẩu chính của thủy sản Việt Nam là Mỹ và châu Âu. Kinh tế Mỹ đang khó khăn, kéo theo thị trường châu Âu khó theo càng làm bất lợi cho DN xuất khẩu Việt Nam. Các nhà đầu tư Mỹ rút vốn đầu tư ở châu Âu, khiến đồng Euro, đồng bảng Anh có khả năng mất giá, nhà nhập khẩu châu Âu bị lỗ. Vì vậy việc xuất khẩu của Việt Nam vào châu Âu dần thêm khó. Tính đến tháng 1 năm 2026, thuỷ sản 250 triệu USD, giảm 18,6% so với cùng kỳ. Bản thân các doanh nghiệp thuỷ sản cũng đã va vấp nhiều, như các vụ kiện chống bán phá giá, quy định ngặt nghèo về chất lượng… nên không quá khó để vượt qua giai đoạn này.

  • Nhóm hàng công nghiệp chế biến Khóa luận: Ảnh hưởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính.

Đây là nhóm quan trọng nhất, chiếm tỷ trọng trên 70% tổng kim ngạch xuất khẩu. Và đây cũng là một trong những nhóm hàng chịu ảnh hưởng nặng nề nhất từ khủng hoảng tài chính Mỹ. Nhìn vào bảng số liệu trên có thể thấy mặt hàng giam kim ngạch nhiều nhất là dệt may, giày dép và thủy sản. Tính đến tháng 1 năm 2026, dệt may 722 triệu USD, giảm 33,2% so cùng kỳ; da giày 350 triệu USD, giảm 26%; sản phẩm gỗ 197 triệu USD, giảm 31,8 %. Ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu, đơn hàng xuất khẩu dệt may từ các thị trường truyền thống như Nhật, Mỹ, châu Âu giảm sút. Đơn hàng toàn ngành đã giảm 20%, thị trường Mỹ giảm 30% – 50% đơn hàng. Theo thống kê của Bộ Công Thương, một số doanh nghiệp (DN) dệt may nước ngoài ở Đồng Nai, Bình Dương, Vũng Tàu… đã đóng cửa, sa thải hàng loạt công nhân. Ước tính lượng lao động ngành dệt may mất việc làm có thể lên đến hơn chục ngàn người. Như vậy, cuộc khủng hoảng tài chính nặng nề tại các thị trường chủ chốt như Mỹ, EU, Trung Quốc, Nhật Bản… chính là nguyên nhân khiến sức cầu sụt giảm mạnh. Rắc rối của hệ thống ngân hàng tại những thị trường lớn làm hạn chế khả năng thanh khoản của các doanh nghiệp (DN) nhập khẩu hàng từ Việt Nam.

2.3.3.2. Nhập khẩu

Hàng xuất khẩu chủ yếu là gia công, hàm lượng nhập khẩu trong kim ngạch xuất khẩu chiếm đến 70-80%, giá trị gia tăng rất thấp. Cũng từ tháng 8, do giá nhiều mặt hàng nhập khẩu giảm mạnh (xăng dầu, sắt thép, phân bón, các loại hoá chất…) cùng với nhu cầu tiêu thụ bị thu hẹp, sản xuất và đầu tư trong nước bị cắt giảm do lãi suất cao, khả năng tiếp cận vốn bị hạn chế làm nhu cầu nhập khẩu giảm, tốc độ tăng kim ngạch nhập khẩu có thấp hơn so với 7 tháng dầu năm

Năm 2025, kim ngạch nhập khẩu cũng giảm mạnh với mức 4,1 tỷ USD, giảm tới 45% so với cùng kỳ năm ngoái. Một số mặt hàng nhập khẩu giảm đáng kể như ô tô giảm tới hơn 70%; phôi thép giảm hơn 80%; chất dẻo và hóa chất giảm hơn 50%, xăng dầu gần 75% so với cùng kỳ… Nhập khẩu giảm ngoài yếu tố giá cũng cho thấy nhu cầu trong nước, nhất là nhu cầu cho sản xuất đang giảm mạnh. cụ thể hơn, nhu cầu nhập khẩu nguyên liệu để sản xuất hàng xuất khẩu giảm do khó khăn về thị trường, vốn, lãi suất… doanh nghiệp và người dân cũng sẽ tiết kiệm hơn trong sản xuất, tiêu dùng.

Trong tháng 1/2026, lượng nhập khẩu tất cả các mặt hàng chủ yếu đều giảm lượng so với cùng kỳ năm 2025 như: xăng dầu giảm 43,4%, ô tô giảm 79,4%, thép các loại bằng 19,6%, phân bón bằng 34,8%, máy móc thiết bị giảm 17%, máy tính và linh kiện giảm 45%, giấy các loại giảm 43,7%, chất dẻo nguyên liệu giảm 29,2%.

  • Bảng 4 :Số liệu trị giá nhập khẩu một số mặt hàng chủ yếu từ tháng 7/2025 đến tháng 1/2026

Trong số 23 mặt hàng nhập khẩu chủ yếu (chiếm 75%), kim ngạch nhập khẩu tháng 1 năm 2026 giảm so với tháng 1 năm 2025 là gần 2,8 tỷ USD, trong đó giảm do giá là 300 triệu USD, giảm do lượng là gần 2,5 tỷ USD. Các mặt hàng giảm lớn về lượng: xăng dầu giảm 426 triệu USD, hóa chất 98 triệu USD, sản phẩm hóa chất 54 triệu USD, phân bón các loại 80 triệu USD, chất dẻo nguyên liệu 80 triệu USD, thép các loại 700 triệu USD, máy tính linh kiện 164 triệu USD, máy móc thiết bị 242 triệu USD, ô tô 92 triệu, linh kiện phụ tùng ô tô 117 triệu USD,…

Trong khi kim ngạch xuất khẩu tăng thì kim ngạch nhập khẩu giảm mạnh, trong đó tháng 1 giảm 55,2%, tháng 2 giảm 31,7%, tháng 3 giảm 47%, tổng 3 tháng giảm 45% so với cùng kỳ. Kim ngạch nhiều mặt hàng giảm do giá giảm như dầu thô, chất dẻo, sắt thép và phôi thép, sợi dệt, phân bón, bông…Nhập khẩu bị sụt giảm quá mạnh. Tháng 1/2026 giảm 55,2%, tháng 2 giảm 31,7%, tháng 3 ước giảm 49%, tính chung 3 tháng ước giảm 45% so với cùng kỳ. Nhập khẩu giảm do cả yếu tố giá, do cả yếu tố lượng, nên kim ngạch giảm mạnh. Giảm mạnh gồm có xăng dầu, hoá chất, máy móc, thiết bị và dụng cụ phụ tùng, phân bón, thuốc trừ sâu, chất dẻo, bông, sợi, nguyên phụ liệu dệt may giày dép, sắt thép, điện tử máy tính… Sự sụt giảm nhập khẩu cho thấy tình hình sản xuất hàng tiêu thụ trong nước và hàng xuất khẩu vẫn đang đứng trước những khó khăn.

2.4. Đánh giá chung Khóa luận: Ảnh hưởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính.

Nền kinh tế Mỹ rơi vào tình trạng đình trệ, tiêu thụ của Mỹ giảm thì các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam sẽ bị tác động trực tiếp. Hiện nay, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu đang theo dõi sát sao tình hình và tìm kế hoạch đối phó. Ngay lập tức, các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ hải sản đã chuẩn bị nhóm họp để tìm giải pháp. Các thị trường bị tác động mạnh của khủng hoảng tài chính như Mỹ, châu Âu, Nhật đều là những thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam.

Nhu cầu trên toàn thế giới suy giảm là nguyên nhân chính của việc giảm giá hàng loạt mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam, ví dụ điển hình là dầu thô. Không chỉ giảm giá, lượng hàng hóa xuất khẩu cũng suy giảm nghiêm trọng. Chính vì vậy, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam gỉam đáng kể, điển hình là các mặt hàng công nghiệp chế biến như dệt may, da giày…Đồng thời đây cũng là những mặt hàng chiếm tỷ trọng lớn trong kim ngạch xuất khẩu nước ta.

Về thị trường, 3 thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam là Mỹ, EU, Nhật, chiếm hơn 50% tổng kim ngạch xuất khẩu đều đang gặp khó, suy giảm liên tiếp là nguyên nhân chính của suy giảm xuất khẩu.

Xuất khẩu sẽ chịu tác động kép trên cả ba phương diện: đơn đặt hàng sẽ ít đi do bạn hàng giảm nhập khẩu vì những khó khăn về tài chính – kinh tế ở nước họ, nhu cầu của người tiêu dùng giảm; giá cả nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực của ta như dầu thô, lúa gạo, cao-su, cà-phê, thủy sản… đều giảm. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu, kể cả các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, sẽ co lại do gặp khó khăn về vốn và đầu ra.

Về nhập khẩu, một mặt có khả năng giảm bớt nhập siêu do giá cả nhiều mặt hàng nhập khẩu giảm, nhu cầu trong nước cũng ít đi, từ đó lạm phát sẽ dịu bớt. Nhưng mặt khác, lại nảy sinh khả năng nhập khẩu sẽ gia tăng do giá cả trên thị trường thế giới thuyên giảm, thuế suất hạ thấp theo các cam kết quốc tế và điều này sẽ gây sức ép mạnh lên sản xuất trong nước.

Nhập khẩu của Việt Nam phần lớn là nhập khẩu nguyên liệu thô phục vụ sản xuất. Khi thị trường bị thu hẹp, đơn đặt hàng sụt giảm khiến sản xuất đình đốn thì nhập khẩu bị suy giảm nghiêm trọng. Khóa luận: Ảnh hưởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>> Khóa luận: Giải pháp tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Contact Me on Zalo
0877682993
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x