Khóa luận: KQNC hiệu quả kinh tế giữa hai mô hình trồng lúa

Rate this post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: KQNC hiệu quả kinh tế giữa hai mô hình trồng lúa hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Khóa luận: Đánh giá hiệu quả kinh tế giữa hai mô hình trồng lúa và trồng rau tại Xã Tân Nhựt, Huyện Bình Chánh, Thành Phố Hồ Chí Minh dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

Nội dung chính

4.1. Đặc điểm của mẫu điều tra.

Tổng mẫu điều tra là 70 hộ trong đó:

  • Rau :35 hộ
  • Lúa :35 hộ

Với cách thức lựa chọn mẫu ngẫu nhiên có mục đích mẫu được tiến hành điều tra đối với những hộ thuần về trồng lúa và những hộ nằm trong tổ chuyên trồng rau để phỏng vấn nhằm lấy những thông tin cần thiết phục vụ cho đề tài.

4.1.1 Kinh nghiệm trong sản xuất

  • Bảng 4.1 Số năm kinh nghiệm về trồng Lúa

Qua thực tế điều tra cho thấy hầu như những hộ trồng Lúa có kinh nghiệm rất lâu đời, với 71% là những hộ có kinh nghiệm từ 20 năm trở lên và 29% là với hộ có kinh nghiệm nhỏ hơn 20 năm. Điều này thể hiện người nông dân tại địa phương có rất nhiều kinh nghiệm trong mô hình trồng lúa. Đây là điều kiện thuận lợi cho người nông dân trong việc canh tác lúa và cũng là lý do họ vẫn giữ diện tích canh tác lớn cho lúa đến giờ.

  • Bảng 4.2 Số năm kinh nghiệm trong trồng Rau

Qua thống kê từ bảng 4.2 cho thấy cơ cấu về kinh nghiệm trồng rau theo xu hướng ngược lại với trồng lúa. Hộ trồng rau với kinh nghiệm hơn 20 năm chiếm 34%, trong khi số hộ có kinh nghiệm nhỏ hơn 20 năm chiếm 66%, điều này rất dễ hiểu đối với địa phương này. Vì những số ít người trồng rau lâu năm trước kia họ sử dụng sản phẩm chủ yếu để tự cung tự cấp, bán với số lượng nhỏ, dần theo thời gian số hộ trồng rau cũng như diện tích được tăng lên đáng kể, và sản phẩm chủ yếu là để bán ra thị trường. Đây là kết quả của việc chuyển đổi cơ cấu của chính quyền địa phương trong năm 2021.

4.1.2. Trình độ học vấn của chủ hộ

Hầu hết nông dân tham gia trong nông nghiệp tại địa phương có trình độ rất thấp. Với 95% chủ hộ có trình độ THCS trở xuống, 5% hộ có trình độ PTTH, Liệu điều này có ảnh hưởng gì đến hiệu quả kinh tế sản xuất? Theo nhận định của chủ hộ Mai Văn Tùng, thuộc ấp 3 xã Tân Nhựt cho rằng “kinh nghiệm mới là điều quan trọng trong canh tác Lúa cũng như cây Rau”. Điều đó cũng khá thực tế vì đại bộ phận người nắm vai trò chủ đạo trong sản xuất nông nghiệp hầu như là lớn tuổi nên thâm niên của họ rất lâu. Nên dựa vào kinh nghiệm vốn có của mình để chỉ bảo cho người lao động thuê chứ phần lớn họ không trực tiếp xuống ruộng.

4.2.Tình hình sản xuất Lúa và Rau tại địa phương năm 2024 Khóa luận: KQNC hiệu quả kinh tế giữa hai mô hình trồng lúa.

4.2.1. Tình hình phân bố diện tích trồng lúa và rau tại địa phương

Trong năm 2024 tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp là 1.942,93 ha trong đó diện tích đất canh tác lúa chiếm 62% tương ứng với 1.210ha, diện tích canh tác rau chiếm 4% với diện tích 81,1ha, phần diện tích đất còn lại được sử dụng cho các mô hình như nuôi trồng thủy sản, trông các loại cây ăn trái, cây lâu năm, và một số cây ngắn ngày khác như bắp, mía, nha đam, cỏ…

  • Hình 4.1 Cơ cấu đất sản xuất nông nghiệp

Với cơ cấu sử dụng đất trong năm 2024 tại địa phương cho thấy rõ cây Lúa vẫn còn giữ vai trò chủ đạo trong đóng góp giá trị kinh tế của xã Tân Nhựt. Trong khi cây Rau chiếm diện tích còn quá nhỏ trong tổng diện tích đất SXNN tại xã. Phải chăng giá trị kinh tế của cây Rau đem lại thật sự chưa cao?, mặc dù chính quyền địa phương đã thực hiện một số chính sách chuyển đổi cơ cấu từ đầu năm 2021, hay vì một lý do nào khác?.

Với sự đa dạng cơ cấu trong sản xuất nông nghiệp thì diện tích đất dành cho sản xuất một số loại cây trồng khác tương đối khá cao. Chính điều này thể hiện rõ nguồn thu nhập của người nông dân không chỉ từ 2 nguồn cây rau và cây lúa mà còn từ những nguồn phụ như trái cây, cây cảnh, nấm…

4.2.2. Thực trạng biến động về diện tích của cây lúa và rau

Qua hình 4.2 cho thấy diện tích đất trồng của hai loại cây trồng này có xu hướng nghịch nhau từ năm 2021-2024. Diện tích cây Lúa có xu hướng giảm dần theo thời gian, ngược lại diện tích cây rau tăng lên từ 27,22ha (2021) đến 81,6 ha (2024) điều này chứng tỏ một phần diện tích trồng cây lúa đã được chuyển sang trồng cây rau. Tuy nhiên tỷ lệ tăng diện tích trồng cây rau và diện tích trồng cây Lúa bị giảm còn rất nhỏ qua các năm. Điều này cho thấy chính sách chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp tại địa phương còn rất chậm, hay nói cách khác là chính sách này chưa được sự đồng ý từ đại bộ phận nông dân tại địa phương.

  • Hình 4.2 Sự Biến động về DT trồng Rau và Lúa từ năm 2021-2024

Mãi đến năm 2024 mà diện tích trồng lúa vẫn còn quá cao sao với cây rau, vào khoảng 1210ha. Đây là một con số khá lớn nên nó phản ảnh rõ người dân không chỉ  chuyển sang trồng rau mà họ tiếp tục duy trì diện tích canh tác lúa của mình.

4.2.3. Quy Trình sản xuất Lúa và Rau trong năm 2024. Khóa luận: KQNC hiệu quả kinh tế giữa hai mô hình trồng lúa.

  • a) Mô hình cây Lúa.

Lúa là cây lương thực chủ đạo của xã Tân Nhựt huyện Bình Chánh TP.HCM từ rất lâu. Mãi đến nay diện tích gieo trồng lúa vẫn còn được duy trì khá cao. Trong năm 2024 tại xã Tân Nhựt cây Lúa được trồng theo 2 vụ:

  • Vụ 1: Hè – Thu

Bắt đầu từ cuối tháng 3 âm lịch và kết thúc giữa tháng bảy trong năm, phương thức gieo trồng trong vụ này là 100% sạ một lần. Trong vụ này năng suất cây lúa rất cao, vì điều kiện khí hậu tương đối thuận lợi cho cây lúa tăng trưởng và phát triển.

  • Vụ 2: Vụ Mùa

Bắt đầu giữa tháng 7 và kết thúc vào tháng 11 âm lịch. Đặc trưng của vụ mùa là cấy nên lượng giống sử dụng cho vụ này tương đối ít, nhưng công lao động cho cây khá nhiều cho việc nhổ mạ đem cấy. Chi phí cho việc làm đất vụ mùa rất cao vì phải giải quyết gốc rạ ở vụ một còn lại, nhìn chung năng suất đem lại thấp hơn so với vụ Hè –Thu.

Trong sản xuất Lúa Vụ Mùa người nông dân thường gặp khó khăn vì trong vụ này thường xuyên xuất hiện các bệnh như: cháy rầy, đạo ôn cổ bông, vàng lùn. Đây là những căn bệnh mà cả hai vụ đều gặp phải và nó là nguyên chính làm giảm năng suất, hiệu quả kinh tế của cấy lúa.

Việc chuẩn bị đất cho gieo trồng đều được người dân thuê khoán trọn gói, hầu như ít ai sử dụng công lao động nhà cho việc cày xới đất cũng như thu hoạch cuối vụ. Hình thức tiêu thụ lúa tại địa phương có thể được bán tươi tại ruộng hoặc phơi khô sau đó bán dần. Giá trị chênh lệch nhau từ 1.000đ-1.500đ/kg giữa lúa khô và lúa tươi. Người nông dân trồng lúa thường khoán toàn bộ lúc thu hoạch nên việc vận chuyển lúa về nhà được thực hiện bởi người nhận khoán.

Trong quá trình sản xuất lúa các loại phân bón chủ yếu được hộ nông dân chọn bón là: URE, NPK, LÂN, KALI, DAP và một số phân hóa học khác. Đặc biệt họ không sử dụng phân chuồng để bón lót cho ruộng lúa.

  • b) Mô hình cây Rau Khóa luận: KQNC hiệu quả kinh tế giữa hai mô hình trồng lúa.

Hiện nay huyện Bình Chánh đã có một số xã thành công với mô hình trồng rau an toàn, Tuy nhiên xã Tân Nhựt với DT trồng rau còn manh mún và chưa được hộ nông dân sản xuất đại trà vì người nông dân vẫn phải giữ lại một số DT lúa, đầu ra của cây rau chưa ổn định, chưa có thương hiệu, sử dụng quá nhiều công lao động cho việc chăm sóc làm cho người nông dân cảm thấy rất vất vả, vấn đề về vốn tín dụng cũng là mối lo ngại cho các hộ nông dân tại địa phương.

Cây rau hàng năm được trồng theo 3 vụ:

  • Vụ 1: Hè-Thu bắt đầu từ ngày 14 đến 30/6
  • Vụ 2:Vụ Mùa bắt đầu từ 1/7-30/10
  • Vụ 3 : Đông Xuân là khoản thời gian còn lại.

Đối với mô hình cây rau, nông dân sử dụng chủ yếu các loại phân như URE, NPK, LÂN, KALI, DAP, phân xanh và phân hóa học.

  • Bảng 4.3 cơ cấu số vụ trồng Rau trong năm 2024

Tuy nhiên vẫn còn một số ít hộ trồng 2 vụ trong năm, chiếm 17% và thời gian rỗi còn lại họ tiến hành phơi đất chuẩn bị cho năm sau. Hầu như những hộ trồng theo ba vụ thì đặc trưng của hai vụ đầu là trồng rau ăn lá thuần một loại giống là Cải Ná, vụ còn lại hộ nông dân kết hợp nhiều loại rau như cải xanh, cải ngọt…

Đây là mô hình sản xuất tốn khá nhiều công lao động của gia đình, chẳng những ở giai đoạn đầu của sản xuất mà giai đoạn cuối vẫn còn sử dụng công lao động cho việc thu hoạch rau, củ, quả. Hầu như sản phẩm được thu mua tại nơi trồng, đây là điều kiện thuận lợi cho người trồng rau đỡ tốn công chuyên chở.

4.2.4. Tình hình sử dụng giống và kỹ thuật canh tác ở địa phương Khóa luận: KQNC hiệu quả kinh tế giữa hai mô hình trồng lúa.

  • a) Kỹ thuật canh tác

Xã Tân Nhựt-huyện Bình Chánh là một xã thuần nông nghiệp. Trong năm 2024, người nông dân được sự hướng dẫn của đội BVTV, đội này thường xuyên tổ chức các buổi tập huấn về sản xuất nông nghiệp, các buổi trình diễn sản phẩm mới về nông nghiệp. Người nông dân sẽ được hướng dẫn rất rõ về các bệnh lý diễn ra ở lúa và rau trong từng giai đọan sinh trưởng và phát triển của cây trồng. Đây là điều kiện thuận lợi giúp người nông dân cảm thấy an toàn cho sản phẩm của mình, các buổi tập huấn, trình diễn là miễn phí nên thu hút rất đông đảo nông dân tham gia.

  • b) Tình hình cây giống sử dụng trong sản xuất.

Cả cây Rau và cây Lúa điều được trạm khuyến nông cấp giống và liên tục là giống mới qua từng vụ, và họ được nhân viên khuyến nông hướng dẫn kỹ thuật sản xuất với loại giống mới này.

Đối với cây Lúa ở vụ Hè –Thu được sử dụng chủ yếu là 3 lọai giống đó là OM35-36, OM1490, MTL250 với tỉ lệ tương ứng 54%, 29%, 17%.

  • Hình 4.3 Cơ cấu lúa Giống vụ 1

Qua hình 4.3 cho thấy loại giống OM35-36 được sử dụng tương đối đại trà với tỷ lệ khá cao trong vụ Hè Thu tại địa phương.

Tuy nhiên, sang vụ hai cơ cấu này bị biến mất và tên giống rất phổ biến được các hộ nông dân lụa chọn là Nàng Thơm Mùa chiếm tỷ lệ 88%, giống này do người nông dân mua của các thương lái hoặc do họ mua tại trạm khuyến nông, giống còn lại là các giống được sử dụng trong vụ 1.

Đối với cây rau ở vụ 1 và vụ 2  thì 100% sử dụng giống rau Cải Ná. Bước sang Vụ 3 của Rau là hình thức gieo trồng tổng hợp với các loại rau như: , Cải Xanh hành lá, cải ngọt.. Khóa luận: KQNC hiệu quả kinh tế giữa hai mô hình trồng lúa.

4.2.5. Vấn đề khuyến nông taị địa phương

Công tác khuyến nông tại xã thường xuyên được tổ chức tại xã, trung bình từ 2-3 lần/năm do cán bộ KN, hoặc nhân viên của đội BVTV chủ trì.

  • Bảng 4.4  Tình hình KN trong SX Lúa và Rau trong năm 2024

Thông qua bảng 4.3 ta thấy tỷ lệ tham gia KN và không tham gia KN của hai loại hình sản suất này có chiều hướng thuận nhau tuy nhiên xét về tỷ lệ thì còn chênh lệch khá nhiều. Người dân trồng rau tham gia KN với tỷ lệ cao hơn so với người trồng lúa và ngược lại, có lẽ đối với người trồng rau kỹ thuật canh tác còn quá mới đối với họ, vả lại đặc điểm sinh lý của cây rau họ cần phải năm kỹ hơn để tránh được rủi ro trong sản xuất nông nghiệp với chi phí đầu vào khá cao, mặc dù diện tích gieo trồng còn nhỏ.

4.2.6. Thực trạng tín dụng tại địa phương.

Hiện tại, nguồn tín dụng hổ trợ cho sản xuất nông nghiệp tại xã Tân Nhựt-huyện Bình chánh đó là: người nông dân sẽ được vay từ HND với khối lượng tiền từ 10 triệu -15 triệu/năm, thời hạn trả từ 1-3 năm tương ứng mức lãi suất 7%/năm, 6 tháng trả lãi một lần và Ngân hàng NN-PTNT với lượng tiến từ 10 triệu – 30 triệu vay ngắn hạn 6 tháng tương ứng mức lãi 0,92%.

Cơ cấu vay vốn tín dụng cuả người nông dân trồng rau và lúa hoàn toàn trái ngược nhau, hầu như người trồng lúa sử dụng vốn gia đình là cơ bản, do chi phí trồng lúa tương đối thấp so với trồng rau. Với 63% số hộ không vay vốn, còn trồng rau thì tỷ lệ vay vốn khá cao chiếm  52%.

  • Bảng 4.5 Tình hình tín dụng trong SX rau và Lúa

4.2.7. Tình hình thuỷ lợi

Nguồn thủy lợi chính cho việc tưới tiêu trong sản xuất nông nghiệp tại địa phương là hệ thống kênh, rạch, giếng và nước tự nhiên. Mô hình trồng lúa 100% sử dụng nước kênh và nước mưa, tuy nhiên đặc điểm này không phù hợp với mô trình trồng rau. Đất trồng rau hiện nay đại bộ phận được chuyển từ đất canh tác lúa, vậy nên phải lên líp và đặc tính của cây rau không chịu quá nhiều nước nên chi phí tiêu tiêu trong canh tác rau là điều hiển nhiên qua các vụ trong năm.

Người nông dân không phải mất chi phí về thủy lợi cũng như các thuế phải nộp cho nhà nước, đây là điều kiện thuận lợi cho người nông trong SXNN tại địa phương.

4.3. Kết quả và hiệu quả sản xuất Khóa luận: KQNC hiệu quả kinh tế giữa hai mô hình trồng lúa.

4.3.1.Tổng chi phí sản suất của Lúa và Rau bình quân trên 1000m2.

  • a) Vụ Hè –Thu.

Bảng 4.6. Tổng hợp chi phí của hai mô hình trên 1000m2 ở vụ 1

Với hệ thống số liệu điều tra thực tế được tổng hợp thông qua bảng 4.5 cho thấy ở vụ hè – thu thì chi phí trên 1000m2 đối với mô hình cây Lúa thì tổng chi phí trung bình khoảng 777.580đ /m2 trong đó chi phí vật tư chiếm tỷ trọng cao nhất với 52%/tổng CP mà chủ yếu vẫn là lượng phân bón. Chi phí lao động chiếm tỷ lệ thấp với 13%/tổng CP điều này đã nêu lên rõ trong sản xuất lúa thì cần nhân công lao động tương đối ít. Nên rất phù hợp đối với những hộ không có nguồn lao động trong gia đình, với 33% còn lại trong tổng chi phí là phải trả cho việc thuê khoán trong cày xới đất đầu vụ, tưới tiêu, và thu hoạch cuối vụ.

Với mô hình trồng rau thì cơ cấu trong tổng CPSX mang chiều hướng ngược lại, việc trồng rau tốn rất nhiều công lao động mà đặc biệt là công lao động nhà. Tổng CP/1000m2 trung bình khoảng 2.065.990đ, con số này khá lớn so với tổng CP/1000m2 việc trồng cây lúa. Thực tế cho thấy với các hộ trồng rau thì chi phí đầu vào là vấn đề đáng lo ngại vì họ phải tốn chi phí đầu vào rất lớn cho việc sản xuất, canh tác trên ruộng của mình. Trong đó chi phí chi cho lao động là nhiều nhất, với tỷ trọng 64%/Tổng CPSX, trong khi chi phí vật tư và chi phí khác chỉ chiếm 36%. Điều này cũng cho thấy rõ việc quyết định trồng rau đối với những hộ có ít lao động gia đình là điều rất khó khăn.

  • b) Vụ Mùa. Khóa luận: KQNC hiệu quả kinh tế giữa hai mô hình trồng lúa.

Bước sang vụ mùa thì tổng CP/1000m2 canh tác lúa cũng không có gì thay đổi trung bình vẫn nằm khoảng 740.430đ, và một điều đáng chú ý ở đây là chi phí vật tư không chiếm tỷ trọng cao nhất nữa mà là chi phí khác chiếm tỷ trọng cao nhất với 43% điều này cũng dễ hiểu đó là chi phí cho việc dọn đất ở vụ này khá nặng, phải dọn kết quả quả vụ hè-thu để lại như gốc rạ, cỏ dại…, và bản chất lúa ở vụ này chủ yếu là cấy nên đất ruộng rất lún và điều này gây rất nhiều khó khăn cho việc thu hoạch cũng như chuyên chở.

Tương tụ như ở vụ Hè-Thu mô hình trồng cây rau ở vụ mùa thì chi phí cho lao động cũng rất cao và cũng giữ tỷ trọng cao nhất là 47%. Về bản chất thì chi phí cho việc trồng rau vẫn có sự  thay đổi so với vụ Hè- Thu, điều này chúng tỏ vật giá ở vụ mùa đã có sự chuyển đổi và liều lượng của các nhân tố đầu vào cũng thay đổi.

  • Bảng 4.7. Tổng hợp chi phí trên 1000m2 ở vụ mùa

Trong bảng 4.7 thể hiện ở vụ mùa chi phí trung bình /1000m2 cho việc sản xuất lúa thấp hơn chi phí trung bình/1000m2 ở vụ hè – thu. Tuy nhiên ở mô hình trồng rau thì ngược lại, tức chi phí/1000m2 ở vụ hè –thu cao hơn vụ mùa.

  • c)Vụ Đông-Xuân.

Bảng 4.8 Tổng hợp chi phí Rau trên 1000m2 ở vụ 3

Ở vụ 3 thì chỉ có mô hình cây Rau được tiếp tục với CP trung bình ứng với 1000m2 là 1.679.200đ và chi phí lao động vẫn chiếm tỷ trọng cao nhất với tỷ lệ tương ứng 55%. Sở dĩ trồng rau tốn nhiều công lao động vì kỹ thuật trồng rau đòi hỏi phải tỷ mỷ và cần cù để kịp thời phát hiện các bệnh của cây nhằm có biện pháp kịp thời để nâng cao năng suất cây trồng. CP khác trong việc trồng rau chiếm tỷ trọng khá thấp vì sản phẩm được thu mua tại nơi trồng  nên người chủ không phải tốn phí cho việc vận chuyển.

4.3.2. Hiệu quả của Lúa và Rau bình quân trên 1000m2. Khóa luận: KQNC hiệu quả kinh tế giữa hai mô hình trồng lúa.

  • a) Vụ Hè –Thu

Bảng 4.9 Hiệu quả trên 1000m2 của 2 mô hình Lúa và Rau tại vụ 1

Với kết quả được tổng hợp tại bảng 4.9 cho thấy rõ sản lượng TB/1000m2 của cây lúa và cây rau lần lược là 405,05kg và 1.236,90kg  hai con số này chênh lệch khá lớn. Trước hết điều này cho thấy về mặt kết quả cây rau đem lại kết quả cao hơn cây lúa trong vụ hè-thu xét trên cùng diện tích canh tác. Với mức giá tương ứng của lúa và rau là 5.100đ/kg và 4.800đ/kg, với mức giá hiện có thì doanh thu/1000m2 của cây rau cao hơn cây lúa. Từ chỉ tiêu này ta tính được lợi nhuận/1000m2 của hai mô hình lúa và rau tương ứng là 1.298.370đ – 3.871.130đ.

Xét về mặt hiệu quả kinh tế lúc này thì cây rau có hiệu quả kinh tế cao hơn cây lúa và đem lại thu nhập cho hộ trồng rau cao hơn trong năm 2024. Trong sản xuất nông nghiệp hộ nông dân thường chú ý đến chỉ tiêu thu nhập vì họ không tính được công lao động nhà đã bỏ ra. Tuy nhiên chỉ tiêu này không phản ánh đúng hiệu quả kinh tế của mô hình kinh doanh. Vay để thể rõ được hiệu quả kinh tế cần loại bỏ chi phí lao động nhà ra khỏi thu nhập. Khi đó chỉ tiêu lợi nhuận được sử dụng để đánh giá, lợi nhuận của cây rau cao hơn cây lúa ở vụ này.

  • b)Vụ Mùa

Bảng 4.10 Hiệu quả của 2 mô hình Lúa và Rau trên 1000m2 tại vụ mùa

Sang vụ mùa thì kết quả này tiếp tục được duy trì, thể hiện giá trị kinh tế cây rau mang lại cao hơn rất nhiều so với cây lúa trên cùng diện tích canh tác. Nhưng liệu điều này có luôn đúng không?, nếu như một vài yếu tố nào đó thay đổi theo thời gian như giá lao động, giá phân bón, giá yếu tố đầu ra, năng suất….

Đối với hộ nông dân chỉ tiêu thu nhập là chỉ tiêu được chú trọng nhất bởi họ không tách rời được công lao động gia đình bỏ ra trong quá trình sản xuất nông nghiệp nói chung. Trong bảng 4.10 cho thấy rõ hai chỉ tiêu này ứng với hai mô hình cây trồng chênh lệch khá lớn và chỉ tiêu lợi nhuận đã thể hiện rõ hiệu quả kinh tế của cây lúa và cây rau trong vụ mùa trong năm 2024 tại địa phương. Xét về giá bán cả sản phẩm lúa và rau điều tăng lên. Đây có phải là biểu hiện tốt trong sản xuất nông nghiệp?. Để trả lời kết quả cuối cùng về hiệu quả sản xuất của hai mô hình ta tiếp tục tổng kết kết quả sản xuất ở vụ đông-xuân của cây rau.

  • c)Vụ Đông Xuân Khóa luận: KQNC hiệu quả kinh tế giữa hai mô hình trồng lúa.

Với mức giá 5.100đ/kg cây rau tiếp tục đem lại lợi nhuận cho người trồng rau khoảng 3.514.900đ/m2. Phải chăng cây rau đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn cây lúa? Câu hỏi này thực tế đã được trả lời trong năm 2024 ứng với năng suất, giá, và tổng chi phí hiện có.

Qua ba vụ canh tác thì lợi nhuận đem lại tương đối ổn định cho cả hai đối tượng là hộ trồng rau cũng như hộ trồng lúa. vì lợi nhuận trung bình hộ trông rau thu được/1000m2 ở vụ 3 được thể hiện ở bảng 4.11.

  • Bảng 4.11 Hiệu quả của Rau xét trên 1000m2 tại vụ 3

Lợi nhuận thu được là 3.727.600đ/1000m2, với giá bán của rau qua 3 vụ tương đối ổn định cho hộ. Đây là một biểu hiện khá tốt trong sản xuất rau tại địa phương.

4.3.3. Tổng hợp hiệu quả của hai mô hình Lúa và Rau tại xã Tân Nhựt năm 2024.

Với kết quả được tổng hợp trong bảng 4.12 đã đưa ra kết luận tương đối về hiệu quả kinh tế giữa hai mô hình cây lúa và cây rau tại xã Tân Nhựt- huyện Bình Chánh TP.HCM. Mặt dù với chênh lệch khá lớn về tổng chi phí cho đầu vào với tỷ lệ tương ứng 1 lúa : 3 rau, rõ ràng cây rau cần CP trung bình 2.107.050đ/1000m2 quá lớn so với cây lúa chỉ 777.610đ/1000m2. Về mặt CP là thế nhưng kết quả kinh tế mang lại /1000m2 với hai mô hình cũng có khoảng cách rất lớn. Lợi nhuận từ cây lúa mang lại chỉ 1.283.200đ/1000m2, trong khi đó giá trị kinh tế của cây rau đem lại khá cao trung bình khoảng 3.395.130đ/1000m2.

Với kết quả thực tế từ nghiên cứu, trong năm 2024 cây rau đã mang lại thu nhập cũng như lợi nhuận cho hộ nông dân cao hơn cây lúa mặt dù CP ban đầu người trồng rau phải chấp nhận bỏ ra cao hơn rất nhiều. Đây là hai chỉ tiêu đánh giá chính xác về hiệu quả kinh tế của mô hình sản xuất trong nông nghiệp. Vậy lý do ở đây là gì? khiến sự lựa chọn trong sản xuất lúa và rau còn khoảng cách quá lớn về diện tích canh tác?. Và liệu kết quả này còn tiếp tục duy trì trong những năm tiếp theo?. Khi những yếu tố có liên quan biến động?. Khóa luận: KQNC hiệu quả kinh tế giữa hai mô hình trồng lúa.

  • Bảng 4.12 Tổng hợp so sánh hiệu quả kinh tế năm 2024 của hai mô hình trên 1000m2

Với các chỉ tiêu như thu nhập, lợi nhuận điều cho thấy cây rau mang lại giá trị kinh tế cao hơn cây lúa và mang lại hiệu quả kinh tế cho người sản xuất. Thế nhưng một câu hỏi đặt ra là tại sao cây rau vẫn không được sản xuất trên quy mô rộng? mặt dù địa phương đã có chính sách chuyển đổi cơ cấy từ cây lúa sang rau và một số loại hoa màu khác từ năm 2021.

Để trả lời cho những câu hỏi trên ta tiếp tục xét các chỉ tiêu như hiệu suất đồng vốn, tỷ suất lợi nhuận và tiến hành đo lường sự biến động của doanh thu cũng như lợi nhuận từ hai mô hình này khi các biến có liên quan biến động thông qua việc phân tích độ nhạy cho mô hình.

Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận cho biết một đồng chi phí bỏ ra để đầu tư sản xuất kinh doanh sẽ thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận? Cụ thể qua tính toán tổng hợp từ bảng 4.12 cho thấy đối với mô hình cây lúa thì 1đ chi phí bỏ ra người nông dân thu được 1,65đ lợi nhuận trong khi cây rau chỉ thu được 1,61đ. Điều này thể hiện việc trồng lúa khả thi và chắc chắn hơn trồng rau vì một đồng vốn bỏ ra cho việc canh tác cây lúa tốt hơn cây rau.

Hiệu suất đồng vốn cho biết một đồng lợi nhuận thu được bỏ ra bao nhiêu đồng chi phí. Và đây là chỉ tiêu thứ 2 nói lên cây lúa vẫn hiệu quả hơn cây rau, vì 1đ lợi nhuận thu được chỉ bỏ ra 0,61đ chi phí ở mô hình cây lúa và 0,62đ ở mô hình cây rau.

Hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu kép, có sự so sánh giữa 2 hoặc nhiều hơn các chỉ tiêu kết quả sản xuất với nhau, ví dụ: tỷ suất lợi nhuận, tỷ suất thu nhập,hiệu suất đồng vốn…và ở đây ta tiến hành so sánh hai chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận với hiệu suất đồng vốn của hai mô hình điều cho thấy rõ tính an toàn của cây lúa cao hơn và hiệu quả kinh tế đem lại cũng cao hơn.

Vậy xét về mặt kinh tế cả hai mô hình đều đem lại hiệu quả. Nếu chỉ dựa trên tổng quan thì ta thấy rõ ràng cây rau đem lại thu nhập cũng như lợi nhuận cho người nông dân cao hơn cây lúa trên cùng diện tích canh tác. Nhưng xét trên một đồng chi phí bỏ ra thì cây lúa lại tỏ ra tính khả thi hơn cây rau và tính an toàn cũng cao hơn.

Rõ ràng quyết định của hộ nông dân tại địa phương không phải là không có cơ sở. Và diện tích trồng lúa lớn hơn trồng rau tại xã Tân Nhựt huyện Bình Chánh TP.HCM là hợp lý. Bởi họ là những người khó chấp nhận rủi ro mặt dù lợi ích mang lại cho họ có thể nhiều hơn.

4.3.4. Cơ cấu trong tổng chi phí sản xuất của hai mô hình trong năm 2024

  • Hình 4.4 Cơ cấu của các loại CP trong TCPSX của hai mô hình

Dựa vào hình 4.4 cho thấy mô hình trồng rau chi phí lao động chiếm tỷ trọng cao nhất với 53%/TCP, điều này chỉ rõ trồng rau cần rất nhiều lao động vậy nên doanh thu, lợi nhuận, thu nhập là ba chỉ tiêu sẽ bị thay đổi mạnh nếu giá của lao động thay đổi. Vậy trong tương lai giá thuê công lao động liệu có ổn định hay không hay sẽ biến động theo thời gian?. Đây là vấn đề cần được xem xét kỹ để giúp hộ nông dân có thể ra quyết định lựa chọn mô hình sản xuất hợp lý với điều kiện vốn có của hộ, phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội.

Trong khi đó mô hình trồng lúa thì tỷ trọng cao nhất lại là chi phí vật tư,trong đó gồm có: chi phí cho giống, phân bón, thuốc trừ sâu, mà điều đáng quan tâm nhất là chi phí phân bón vì nó chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng chi phí vật tư với tỷ lệ là 69%/ CPVT. Vậy các chỉ tiêu về thu nhập, doanh thu, lợi nhuận của người trồng lúa cũng sẽ bị thay đổi nếu giá phân thay đổi. Và điều này khá thực tế vì trong 2024 giá phân biến động một cách đột biến.

Một biến mà không thể bỏ ra khỏi sự đo lường biến động của doanh thu và lợi nhuận của cả hai mô hình là giá bán sản phẩm.

Người nông dân sẽ lự chọn mô hình sản xuất thích hợp nếu họ nhận được câu trả lời cho các nghi vấn trên, nhằm giảm thểu rủi ro trong sản xuất. Vậy ta tiến hành phân tích độ nhạy cho các chỉ tiêu doanh thu và lợi nhuận cho cả hai mô hình.

4.4. Phân tích độ nhạy của Doanh thu, Lợi nhuận Khóa luận: KQNC hiệu quả kinh tế giữa hai mô hình trồng lúa.

4.4.1. Phân tích độ nhạy của Doanh thu theo giá và năng suất.

  • a) Mô hình cây Lúa.

Bảng 4.13 Độ nhạy doanh thu của  Lúa theo giá và sản lượng

Qua ước lượng và tính toán cho thấy ở bảng 4.13, tại mức năng suất và mức giá đầu ra của cây lúa thấp nhất cụ thể năng suất và giá bán cùng giảm 40% khi đó đó giá bán là 3.480đ/kg và năng suất là 1236.48kg/1000m2, thì người nông dân trồng lúa có doanh thu = 741,89đ nhỏ hơn tổng chi phí bỏ ra cho việc sản xuất với TCP = 777.610đ, làm cho giá trị lợi nhuận thu được từ việc trồng lúa mang giá trị âm. Tuy nhiên với tốc độ biến động của mức giá đầu ra và năng suất trên bảng 4.13 cho thấy việc trồng lúa khá an toàn đối với hộ nông dân tại địa phương. Người nông dân vẫn còn lợi nhuận khi mức giá và năng suất giảm không vượt quá 35% tương đương với mức giá ở khoảng 3.770đ/kg và năng suất trung bình là 230,6kg/1000m2 . Trong thực tế điều này khó xảy ra nên người nông dân không có gì lo ngại về mô hình trồng lúa của mình, nhưng cần có sự cân nhắc khi so sánh hiệu quả kinh tế và tính rủi ro so với một số mô hình khác để có mô hình sản xuất phù hợp với nguồn nhân lực vốn có nhằm đem lại nguồn thu nhập cao hơn.

  • b) Mô hình cây Rau.

Phân tích tương tự như mô hình cây lúa cho mô hình cây rau, qua kết quả tính toán ở bảng 4.14 cho thấy mô hình sản xuất cây rau cũng khá ổn định khi giá đầu ra và năng suất thay đổi, người nông dân chỉ lỗ khi cả hai nhân tố năng suất và giá đầu ra giảm >35%. Vì lúc này doanh thu nhỏ hơn chi phí với doanh thu = 1.980.980đ < TCP = 2.107.050đ. Mặc dù với tổng chi phí đầu vào khá cao nhưng lợi nhuận mang lại cũng khá cao so với mô hình cây Lúa. Trong thực tế thì điều này cũng khó xảy ra vì theo quy luật cung-cầu thì cung ít làm giá tăng và ngược lại. Chính điều này làm cho người trồng rau cảm thấy được an toàn trong sản xuất tuy nhiên mức độ an toàn này không cao so với mức độ an toàn khi trồng cây lúa.

  • Bảng 4.14 Độ nhạy doanh thu của Rau theo giá và sản lượng

Tại mức giá giảm đến 35% là 3.282đ/kg tương ứng với năng suất 708,20kg/1000m2 thì người trồng rau vẫn còn có lời vì doanh thu lớn hơn chi phí. Khi năng suất và giá cùng giảm đến 40% thì hộ nông dân sẽ bị lỗ. Lúc này doanh thu = 1.980.780đ trong khi chi phí là 2.107.000đ Vậy cần phải có sự cập nhật thông tin về giá kịp thời cho hộ nông dân để họ có sự lựa chọn phù hợp. Vì đây là vấn đề còn hạn chế trong nông nghiệp tại xã Tân Nhựt.

4.4.2. Phân tích độ nhạy của LN theo giá đầu ra và giá đầu vào Khóa luận: KQNC hiệu quả kinh tế giữa hai mô hình trồng lúa.

  • a) Mô hình cây Lúa

Bảng 4.15 Độ nhạy về lợi nhuận của Lúa  theo giá bán và giá phân bón

Qua khảo sát thực tế cho thấy  trong mô hình sản xuất Lúa thì chi phí vật tư chiếm tỷ trọng cao nhất, điều này làm cho lợi nhuận thu được từ việc canh tác Lúa sẽ thay đổi khi giá vật tư thay đổi cũng như giá đầu ra thay đổi. Với số liệu thông qua TTTH đưa ra kết quả trong bảng 4.15. Người nông dân trồng Lúa vẫn không bị lỗ vốn tại vị trí giá bán giảm 60% (p = 2.300đ/kg) và toàn bộ giá phân bón như Ure, Lân, Kali, …đồng tăng 20%, nếu như giá phân tăng 60% đồng thời giá bán giảm 50%(p = 2.900đ/kg) thì người nông dân thu được LN = 95.340đ/1000m2 nhưng vượt qua ngưỡng này thì sẽ bị lỗ. Vậy hộ trồng lúa cần phải kết hợp hai yếu tố này để có quyết định kịp thời. Tại mức giá giảm hơn 60% và giá phân tăng 20% thì hộ nông dân bị lỗ. Qua đây cho thấy mức độ biến động của giá bán tác động rất mạnh đến lợi nhuận của hộ trồng lúa. Và tác động của giá phân bón không mạnh.

  • b) Mô hình cây Rau

Dụa vào kết quả bảng 4.16 ta thấy đối với mô hình trồng Rau thì người trồng nông dân sẽ bị lỗ tại mức giá bán ra giảm 60% còn 2.000đ/kg đồng thời giá thuê công lao động tăng 10% khoảng 80.500đ/công. Và cũng tại vị trí mức giá bán ra giảm 50% (p = 2.530đ/kg), giá thuê LĐ tăng 50% (p = 109.800đ/công) thì người nông dân sẽ bị lỗ.vậy người nông dân không nên tiếp tục trồng rau tại hai vị trí này. Vì mô hình trồng rau cần rất nhiều công lao động.

Cả hai mô hình trồng Rau và trồng Lúa điều có xu hướng giống nhau về độ nhạy theo giá bán ra và giá đầu vào có tỷ trọng lớn nhất trong tổng chi phí sản xuất, nhưng về tốc độ thì khác nhau, liệu mô hình nào mang tính rủi ro cao hơn? Để thấy rõ điều đó ta tiếp tục đo lường tốc độ giảm của LN khi các yếu tố liên quan thay đổi tương ứng với hai mô hình

  • Bảng 4.16 Độ nhạy về lợi nhuận của Rau  theo Pra và giá LĐ

Với mô hình này thì có sự khác biệt đó là giá nhân công lao động tác động rất mạnh đến lợi nhuận của mô hình cây lúa. Trong khi mức độ tác động của giá phân trong mô hình cây lúa không mạnh lắm. Để xem mức độ thay đổi nhiều hay ít ta tiến hành biện pháp so sánh tốc độ % thay đổi của các biến Khóa luận: KQNC hiệu quả kinh tế giữa hai mô hình trồng lúa.

a)So sánh tốc độ giảm giá bán với tốc độ giảm LN ứng với  giá đầu vào tăng của hai mô hình lúa và rau.

  • Bảng 4.17 Tốc độ giảm LN của lúa ứng với việc thay đổi Ppb và giá bán
  • Bảng 4.18 Tốc độ giảm LN của rau ứng với việc thay đổi giá LĐ và giá bán

Qua hai bảng tổng hợp 4.17 và 4.18 ta có thể rút  ra một vài nhận xét về tốc độ giảm của LN ứng với việc thay đổ của các yếu tố có liên quan. Cả hai mô hình điều cho thấy rõ LN bị giảm rất mạnh khi giá sản phẩm đầu ra giảm, với tỷ lệ tăng – giảm của giá yếu tố đầu vào – yếu tố đầu ra như nhau nhưng tỷ lệ giảm lợi nhuận chênh lệch khá xa. Rõ ràng giá đầu ra tác động rất mạnh đối với cả hai mô hình. Cụ thể khi giá bán giảm 10%, giá đầu vào không đổi  thì LN giảm 16%, ngược lại LN chỉ giảm 3%.

Khi đi vào phân tích cụ thể hai mô hình thì ta thấy LN từ  mô hình trồng Rau biến động mạnh hơn LN của mô hình trồng Lúa với tỷ lệ thay đổi của các yếu tố là như nhau. Khi giá rau bán ra giảm 60% và giá đầu vào không đổi thì LN giảm 20% còn LN từ cây Lúa chỉ giảm 12% khi giá bán ra giảm 60% và giá phân không đổi. Tương tự khi giá bán giảm và giá đầu vào đồng thời tăng 60% thì LN từ cây lúa giảm 109% trong khi cây rau giảm 118%, rõ ràng đã có sự chênh lệch. Qua những so sánh cụ thể trên chúng tỏ trồng cây rau đem lại lợi nhuận cao hơn cay lúa đồng thời rủi ro cũng cao hơn.

Với các kết quả thông qua tính toán tổng hợp cho thấy cả hai mô hình cây lúa và cây rau điều đem lại hiệu quả kinh tế. Tuy nhiên xét trên 1000m2 đất canh tác thì cây rau cho lợi nhuận cao hơn cây lúa và tính rủi ro của cây rau cũng cao hơn..

Xét về mặt hiệu quả thông qua các chỉ tiêu như hiệu xuất đồng vốn và tỷ xuất lợi nhuận thì cây lúa lại mang tính khả thi hơn với lý do là chi phí bỏ ra trong mô hình cây rau quá lớn so với cây lúa. Có thể nói đây cũng là 1 lý do làm hạn chế việc mở rộng diện tích đất canh tác rau tại địa phương trong khi chính quyền đã có chính sách chuyển đổi.

Với các thông tin được phân tích đã giúp cho việc trả lời được tất cả các câu hỏi đã đặt ra. Tuy nhiên khi lựa chọn mô hình sản xuất còn phụ thuộc vào các nhân tố mang tích chủ quan lẫn khách quan. Vậy để tăng tính khả thi cho kết luận của để tài, ta tiến hành đo lường mức độ tác động của các nhân tố đến năng suất cây trồng thông qua mô hình hồi quy. Từ đó đưa ra các kiến nghị giúp hộ nông dân nâng cao năng suất cho mô hình sản xuất  mình lựa chọn.

4.5. Các nhân tố tác động đến năng suất Lúa và Rau Khóa luận: KQNC hiệu quả kinh tế giữa hai mô hình trồng lúa.

4.5.1. Mô hình các nhân tố tác động đến năng suất cây lúa và rau

Năng suất cây lúa cũng như cây rau phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố đầu vào như giống, lao động, phân bón, kinh nghiệm, trình độ văn hóa, khuyến nông, loại đất, diện tích canh tác, thời tiết…Các yếu tố đầu vào này thay đổi làm cho năng suất cũng thay đổi theo nhưng thay đổi ở một mức độ nào đó nó sẽ có xu hướng biến đổi ngược lại Vì vậy hàm cobbdouglas được sử dụng để mô tả hiện tượng này.

Hàm cobbdouglas là hàm có dạng phi tuyến tính, do đó chuyển về dạng hàm log-log để đơn giản, khuyến nông, tín dụng là những biến định tính ta mã hóa dưới dạng biến Dummy.

Từ hàm Hàm cobbdouglas (*) ta  đưa về dạng hàm log-log như sau: LogY = β0 + +β1logX12 logX2 + β3logX3+ β4 logX4+ β5 logX5+ β6 logX6+ β7log X7+ β8DUMKN+ β9DUMTD

Trong đó:

  • Y: Sản lượng lúa (kg/1000m2)
  • KN: Khuyến nông
  • TD: Tín dụng
  • X1: Lao động(công/1000m2)
  • X 2: Phân bón (kg/1000m2)
  • X3: Kinh nghiệm (năm)
  • X4: Số năm đi học (năm)
  • X5: Thuốc bảo vệ thực vật.
  • X6: Diện tích gieo trồng(1000m2)
  • X7: Lượng giống (kg)
  • b0: Tung độ gốc.
  • b1…b9 : Là các hệ số co giãn ứng với các biến tương ứng.

4.5.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất cây lúa.

  • Vụ Hè-Thu

Dựa vài mô hình 1.1 ở phần phụ lục 2 ta thấy trong mô hình hồi quy có 9 biến độc lập. Tuy nhiên có 5 biến không có ý về mặt thống kê và có dấu trái với kỳ vọng như: X7, X6, X4, TD và KN. Sử dụng phần mềm Eviews 3.0 ta tiến hành bỏ các biến này ra khỏi mô hình. Ta được kết quả như bảng 4.19.

  • Bảng 4.19 Hệ số hồi quy về năng suất lúa vụ Hè-Thu

Với kết quả từ bảng 4.19 cho thấy R-squared = 0,91 điều này thể hiện 91% mức biến thiên về năng suất cây lúa trong vụ hè – thu chịu sự tác động của các biến độc lập như: LD, TVBTV, PB, KNGHIEM .Vậy ta có phương trình hồi quy mẫu như sau.

LOG(Y1) = 0,05565702611 * LOG(X1) + 0,2420809837*LOG(X2) + 0,1799137281*LOG(X3) + 0,2956485305 * LOG(X5) + 3,350668348 Khóa luận: KQNC hiệu quả kinh tế giữa hai mô hình trồng lúa.

Kiểm định mô hình

  • Kiểm định dấu của các hệ số

Biến X5 (TBVTV) có hệ số dấu dương, phù hợp với dấu kỳ vọng, điều này giải thích về mặt tương đối là lượng thuốc bảo vệ thực vật càng được sử dụng thì năng suất cây lúa ở vụ hè-thu càng tăng. Cụ thể khi tăng 1% cho việc mua TBVTV sử dụng thì năng suất cây lúa tăng trung bình là 0,29%, với mức độ tin cậy là rất lớn (Pvalue = 0,0004. Điều này nói lên TBVTV là biến góp phần làm ảnh hưởng đến năng suất lúa vụ hè – thu tương đối lớn.

Biến X2 (PB) cũng mang giá trị dương phù hợp với dấu kỳ vọng, với mức ý nghĩa α = 5% ta có giá trị t n-2, α/2 = 2,0423 < t = 2,603105. Điều này có nghĩa biến X2 có ý nghĩa về mặt thống kê hay nói cách khác nó giải thích khá tốt cho biến phụ thuộc Y1. Ta thấy 1% thay đổi lượng phân bón thì năng suất lúa trung bình trên 1000m2 thay đổi là 0,24%, tuy nhiên sự tác động của biến x2 nhỏ hơn biến x5 trong mô hình.

Lý luận tương tự ta thấy biến giải thích X1(LD) cũng phù hợp với dấu kỳ vọng và có ý nghĩa về mặt thống kê với t n-2, α/2 < t tại mức α = 5% và 10%. Điều này nói lên việc tăng công lao động để chăm sóc cây lúa là động lực để tăng năng suất cây trồng. Ta thấy biến X1 có mức tác động yếu nhất, thể hiện khi 1% X1 thay đổi kéo theo 0,055% Y1 thay đổi theo. Có thể đây là vấn đề để trả lời cho câu hỏi vì sao? trong sản xuất lúa cần ít công chăm sóc hơn cây rau.

Biến X3 (KNGHIEM) xét về mặt thống kê, đây là biến có ý nghĩa tương đối cao trong mô hình với độ tin cậy Pvalue = 0,0066. Có thể nói càng nhiều kinh nghiệm thì kỹ năng về canh tác cây lúa đêm lại hiệu quả càng cao. Khi 1% X3 thay đổi kéo theo 0,17% Y1 thay đổi theo. Vậy kinh nghiệm có thể là yếu tố cần thiết trong canh tác lúa và đã chứng minh lời nói của hộ nông dân là đúng.

Hệ số hồi quy C trong mô hình này 3,35 với Pvalue = 0,0000, điều này giải thích ngay cả khi những biến trên không tồn tại thì năng suất trung bình /1000m2 ở vụ hè-thu của lúa là 3,35kg.

  • Kiểm định F- Fisher (kiểm định ý nghĩa toàn diện toàn diện của mô hình).

Giả thuyết:

  • H0 :  β1 = β2 = …= βn = 0
  • H1 :  ∂!βj ≠ 0
  • Với mức ý nghĩa α = 5%, ta có Fk-1,n-k,α = F3,31,0.05 = 2,839
  • Mô hình tuyến tính có F = 81,65399  > Fk-1,n-k,α

Kết luận: Bác bỏ H0, hay mô hình rất có ý nghĩa thống kê

  • Kiểm định WHITE (hiện tượng phương sai không đồng điều).

Giả thuyết:

  • H0 : a1 = a2 =…= an = 0
  • H1: ai ≠ 0

Xét các mô hình hồi quy nhân tạo ở mô hình 1.3 ở phụ lục, nhận thấy R2 aux = 0,31 à W = n* R2aux = 35*0,31 = 10,85

Với c2k,a =  c27,0.05 = 14,0671 > W= 10,85 Kết luận: Không có hiện tượng phương sai sai số thay đổi.

  • Kiểm định hiện tượng tự tương quan.

Đặt giả thuyết:

  • H0 : r = 0 hay không có hiện tượng tự tương quan
  • H1 : r ≠ 0 có hiện tượng tự tương quan.
  • Từ kết xuất hồi quy của mô hình tuyến tính ta có:
  • Durbin-Waston d = 1,81 à chưa có kết luận

Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến: Khóa luận: KQNC hiệu quả kinh tế giữa hai mô hình trồng lúa.

Từ kết quả R2aus ở các mô hình hồi quy phụ (mô hình1.4.1, mô hình 1.4.2, mô hình 1.4.3, mô hình 1.4.4 so sánh với R2 từ mô hình hồi quy gốc là 0.91 cho thấy các R2aux của các mô hình hồi quy phụ điều nhỏ hơn 0.91 nên mô hình không có hiện tượng đa cộng tuyến.

Mô hình tổng quát: LOG(Y1) = 0,05565702611*LOG(X1) + 0,2420809837*LOG(X2) + 0,1799137281*LOG(X3) + 0,2956485305*LOG(X5) + 3,350668348

  • b) Vụ mùa

Với những lý luận tương tự cho vụ 2, sử dụng phần mềm Eview 3.0 để loại bỏ những biến thật sự không có ý nghĩa xem phụ lục 5 mô hình 2.1. Các biến còn lại X1, X2, X5, X6 được giữ lại trong mô hình. Để xem sự tác động của các biến này ta tiến hành các phép kiểm định cho mô hình mẫu từ bảng 4.7 để nói lên tổng thể.

  • Bảng 4.20 Hệ số hồi quy về năng suất lúa vụ mùa trên 10002

Với thông tin mô hình 2.2 trong phần phụ lục 5 cho thấy độ tin cậy của mô hình là 0,97 tức 91%sự biến thiên của năng suất  lúa ở vụ mùa chịu sụ tác động của các biến như X1, X2, X5, X6.

Trong vụ mùa thể hiện sự khác biệt rõ với vụ hè thu, biến X3 thực sự không còn có ý nghĩa thống kê và bị loại khỏi mô hình và biến được thay vào là biến diện tích X6. Điều nay cũng khá thực tế, với thực trạng về canh tác lúa trong vụ 2 là thời tiết không thuận lợi, cây lúa mắc bệnh nhiều nên những hộ trồng với diện tích nhỏ có xu hướng không quan tâm, còn những hộ có diện tích canh tác lớn tập trung hơn trong sản xuất. Đây là điều kiện dẫn đến năng suất cao cho những hộ này.

Ta có mô hình hồi quy mẫu như sau: LOG(Y2) = 0,3316654603*LOG(X1) + 0,3401122349*LOG(X2) + 0,2454009908*LOG(X5) + 0,09033791325*LOG(X6) + 2,634218958

Kiểm định mô hình

  • Kiểm định dấu của các hệ số

X1 có sự phù hợp với dấu kỳ vọng và có ý nghĩa về mặt thống kê với t n-2, α/2 < t tại mức α = 5%. Điều này nói lên 1% thay đổi của biến công lao động kéo theo 0,33% năng suất của cây lúa ở vụ mùa biến đổi theo. Đây là sự tác động khá lớn của biến lao động. Một đặc điểm khá rõ là ở vụ mùa nhiều sâu bệnh, nấm.. nên cây lúa cần sự chăm sóc kỹ hơn nên tốn nhiều công lao động và đây là điều cần thiết. Khóa luận: KQNC hiệu quả kinh tế giữa hai mô hình trồng lúa.

Biến X2 (PB) cũng có dấu phù hợp với dấu kỳ vọng, ta thấy về mặt tương đối lượng phân bón thay đổi 1% kéo theo sự thay đổi của Y2 là 0,34%. Xét về mặt thống kê biến X2 có ý nghĩa  thống kê với α = 5% và pvalua= 0,018.

Biến X5 (TBVTV) có hệ số dấu dương, phù hợp với dấu đã kỳ vọng, điều này giải thích 1% thay đổi về việc sử dụng lượng thuốc bảo vệ thực vật cho lúa ở vụ mùa thì kéo theo 0,25% sự thay đổi về năng suất trung bình trên 1000m2. Có thể nói TBVTV được sử dụng tăng lên thì năng suất trung bình của cây lúa ở vụ mùa càng tăng. Vì trong vụ này cây lúa mắc bệnh vàng lùn, nấm trắng nên cần có dung lượng thuốc BVTV phù hợp để sử dụng kịp thời. Đồng thời ta có trị t n-2, α/2  = 1,6973 < t = 2,85 với α = 10% tuy nhiên vẫn có ý nghĩa ở mức α = 5%.

X6 (DT) đây là biến có ý nghĩa lớn nhất xét về mặt thống kê. Tuy nhiên mức độ tác động của nó tới biến độc lập không mạnh. Với 1% thay đổi của biến X6 kéo theo sự thay đổi của Y2 chỉ 0,09%. Đây là biến có mức tác động thấp nhất trong mô hình hồi quy.

Hệ số hồi quy C trong mô hình này là 2,63 với Pvalue = 0,000, điều này giải thích ngay cả khi những biến trên không tồn tại thì năng suất suất trung bình /1000m2 ở vụ hè-thu là 2,63kg.

  • Kiểm định F- Fisher (kiểm định ý nghĩa toàn diện toàn diện của mô hình).

Giả thuyết:

  • H0 :  β1 = β2 = …= βn = 0
  • H1 :  ∂!βj ≠ 0

Với mức ý nghĩa α = 5%, ta có Fk-1,n-k,α= F3,31,0.05 = 2,839

Mô hình tuyến tính có F = 79,24330  > Fk-1,n-k,α

Kết luận: Bác bỏ H0, hay mô hình rất có ý nghĩa thống kê

  • Kiểm định WHITE (hiện tượng phương sai không đồng điều).

Giả thuyết:

  • H0 : a1 = a2 =…= an = 0
  • H1: ai ≠ 0

Xét các mô hình hồi quy nhân tạo ở mô hình 2.3 (phụ lục), nhận thấy:

  • R2 aux = 0,36 à W = n* R2aux = 35*0,36 = 12,6
  • Với c2k,a = c27,0.05 = 14,0671 > W= 12,6

Kết luận: Không có hiện tượng phương sai sai số thay đổi.

  • Kiểm định hiện tượng tự tương quan.

Đặt giả thuyết:

  • H0 : r = 0 hay không có hiện tượng tự tương quan
  • H1 : r ≠ 0 có hiện tượng tự tương quan.
  • Từ kết xuất hồi quy của mô hình tuyến tính phần phụ lục ta có:

Durbin-Waston d = 1,954 à chấp nhận H0 hay mô hình không xảy ra hiện tượng tự tương quan.

  • Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến Khóa luận: KQNC hiệu quả kinh tế giữa hai mô hình trồng lúa.

Từ kết quả R2aus ở các mô hình hồi quy phụ ở phần phụ lục (mô hình 2.4.1, mô hình 2.4.2, mô hình 2.4.3, mô hình 2.4.4) so sánh với R2 từ mô hình hồi quy gốc là 0,91cho thấy các R2aux của mô hình hồi quy phụ điều nhỏ hơn 0,91 nên mô hình không có hiện tượng đa cộng tuyến.

Mô hình tổng quát: LOG(Y2) = 0,3316654603 * LOG(X1) + 0,3401122349*LOG(X2) + 0,2454009908*LOG(X5) + 0,09033791325* LOG(X6) + 2,634218958.

4.5.3. Mô hình năng suất cây rau

  • Vụ Hè-Thu

Bảng 4.21 Hệ số hồi quy của các biến tác động đến năng suất rau vụ 1

Theo mô hình 3.2 trong phần phụ lục cho thấy độ giải thích của mô hình là 86% với giá trị R-squared = 0,86. Điều này nói rõ 86% sự biến thiên của năng suất rau ở vụ hè-thu phụ thuộc vào các yếu tố như tín dụng, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và lao động tương ứng với các biến X1, X2, X5, và TD. Thông qua các phép kiểm định với các bảng 4.1, bảng 4.2, bảng 4.3, bảng 4.4.1, bảng 4.4.2, bảng 4.4.3, bảng 4.4.4) ta có thể kết luận cho tổng thể là năng suất rau bị ảnh hưởng bởi những năng suất nào? Với mô hình hồi quy mẫu như sau:

LOG(Y1) = 0,1764307347*TD + 0,2513676938*LOG(X5) + 0,2453747081*LOG(X2) + 0,3348233187*LOG(X1) + 3,441371945

  • Kiểm định mô hình

Với các phép kiểm định tương tự cho mô hình về năng suất cây lúa ta tiếp tiến hành như sau.

  • Kiểm định dấu của các hệ số

Biến X5 (TBVTV) có hệ số dấu dương, phù hợp với dấu kỳ vọng, điều này giải thích lượng thuốc bảo vệ thực vật càng được sử dụng thì năng suất cây rau ở vụ 1 càng tăng. Về thực tế cho thấy cây rau cần chế độ chăm sóc rất kỹ, thời tiết không thuận lợi sẽ tạo điều kiện cho nấm, sâu bệnh phát triễn ở cây rau rất mạnh. Vì vậy TBVTV sử dụng càng nhiều càng đem lại năng suất cho cây. Cụ thể 1% thay đổi của biến X5 kéo theo 0,25% thay đổi của biến Y1. X5 là biến có mức tác động mạnh đến biến phụ thuộc nên người sản xuất cần chú ý đến nhân tố này nhiều. Với mức ý nghĩa a = 5% biến này đã có ý nghĩa thống kê với giá trị t n-2, α/2  =  2,0423 < t  =  4,088082 Khóa luận: KQNC hiệu quả kinh tế giữa hai mô hình trồng lúa.

Biến X2(PB) là yếu tố không thể thiếu giúp cho việc tăng trưởng của cây trồng nói chung và cây rau nói riêng, nên việc góp phần ảnh hưởng đến năng suất của cây là chuyện rất dễ hiểu. Xét về mặt thông kê PB có ý nghĩa thống kế với độ tin cậy là rất lớn (Pvalue = 0,0015). Với với giá trị t n-2, α/2 = 2,0423 < t = 3,502809

Rau là loại cây cần có sự chăm sóc theo hướng thủ công và việc thường xuyên theo dõi quá trình tăng trưởng của cây là điều cần thiết. Hệ số của biến X1 mang dấu dương điều này nói lên việc sử dụng lao động càng nhiều thì năng suất đem lại từ cây rau ở vụ hè-thu càng lớn. Đây là sự hù hợp với dấu kỳ vọng, Xét về mặt thống kê biến này có ý nghĩa tại mức ý nghĩa a = 5% cùng với Pvalue = 0,0001. Biến X1 thể hiện: khi nó thay đổi 1% thì kéo theo 0,33% biến Y1 biến động. Đây là biến có mức độ tác động lớn nhất trong mô hình hồi quy. Vì trồng rau rất cần sự chăm sóc hàng ngày nên công lao động gia đình tốn rất nhiều.

TD là biến giả, với phương thức mã hóa DumTD =1 đối với hộ có tham vay vốn tín dụng và DUMTD = 0 với hộ không tham gia. Với sự kỳ vọng nếu vay vốn thì họ sẽ suy nghĩ đến việc hồi lại vốn nên tập trung đầu tư có hiệu quả là điều cần thiết. Qua mô hình hồi quy mẫu cho thấy khi hộ nông dân tham gia tín dụng thì năng suất  trung bình /1000m2 ở vụ hè-thu tăng lên 0,174%. Đây là sự tác động tương đối với năng suất của cây và cũng có ý nghĩa về mặt thống kê với a = 5% hoặc 10%.

Hệ số hồi quy C trong mô hình này 3,44. Điều này giải thích ngay cả khi những biến trên không tồn tại thì năng suất trung bình /1000m2 ở vụ hè-thu là 3,344kg.

  • Kiểm định F- Fisher (kiểm định ý nghĩa toàn diện toàn diện của mô hình).

Giả thuyết:

  • H0 :  β1 = β2 = …= βn = 0
  • H1 :  ∂!βj ≠ 0

Với mức ý nghĩa α = 5%, ta có Fk-1,n-k,α= F3,31,0.05 = 2,839

Mô hình tuyến tính có F = 47,13118 > Fk-1,n-k,α

Kết luận: Bác bỏ H0, hay mô hình rất có ý nghĩa thống kê

  • Kiểm định WHITE (hiện tượng phương sai không đồng điều).

Gỉa thuyết:

  • H0 : a1 = a2 =…= an = 0
  • H1: ai ≠ 0

Xét các mô hình hồi quy nhân tạo ở mô hình 4.3 ở phần phụ lục, nhận thấy:

  • R2 aux = 0,15 à W = n* R2aux = 35*0,15 = 5,25
  • Với c2k,a =  c27,0.05 = 14,0671 > W = 5,25

Kết luận: Không có hiện tượng phương sai sai số thay đổi.

  • Kiểm định hiện tượng tự tương quan.

Đặt giả thuyết:

  • H0 : r = 0 hay không có hiện tượng tự tương quan
  • H1 : r ≠ 0 có hiện tượng tự tương quan.

Từ kết xuất hồi quy của mô hình tuyến tính phần phụ lục ta có:

  • Durbin-Waston d =1,510756 à chưa có kết luận
  • Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến

Từ kết quả R2aus ở các mô hình hồi quy phụ ở phụ lục 7 (các mô hình 4.4.1, mô hình 4.4.2, mô hình 4.4.3, mô hình 4.4.4) so sánh với R2 từ mô hình hồi quy gốc là 0,86, cho thấy các R2aux ở các mô hình hồi quy phụ điều nhỏ hơn 0,86 nên mô hình không có hiện tượng đa cộng tuyến trong mô hình. Khóa luận: KQNC hiệu quả kinh tế giữa hai mô hình trồng lúa.

Mô hình tổng quát: LOG(Y1) = 0,1764307347*TD + 0,2513676938*LOG(X5) + 0,2453747081*LOG(X2) + 0,3348233187 *LOG(X1) + 3,441371945.

  • b)Vụ mùa

Bảng 4.22 Hệ số hồi quy của các biến tác động đến năng suất rau vụ 2

Với các lý luận tương tự về các bước kiểm định ta có thể kết luận mô hình hồi quy mẫu có ý nghĩa về mặt thông kê với độ giải thích mô hình là 95%. Vậy ta có thể đưa ra mô hình hồi quy cho tổng thể về các biến giải thích cho năng suất cây rau ở vụ mùa như sau: LOG(Y2) = 0,5273074511*TD + 0,4578365842*LOG(X1) + 0,1309470903*LOG(X2) + 0,2834661502*LOG(X5) + 3,464774102

Qua phương chạy mô hình hồi quy ta có thể tính được với mô hình cây rau khi không có sự tác động của các biến được xét trong mô hình thì giá trị năng suất trung bình /1000m2 ở vụ hè-thu tăng lên 3,46kg.

Sang vụ mùa, đối với cây rau, biến tín dụng tỏ vẻ mạnh hơn trong vụ hè thu vì với những hộ tham gia tín dụng thì năng suất trung bình y2 tăng lên 0,52%, trong khi đó ở vụ 1 đối với hộ tham gia tín dụng thì năng suất trung bình tăng chỉ 0,17%.

4.5.4. Nhận xét Khóa luận: KQNC hiệu quả kinh tế giữa hai mô hình trồng lúa.

Qua bốn mô hình hồi quy được xét với 2 mô hình cây rau và cây lúa qua hai vụ hè thu và vụ mùa cho ta các nhận xét sau:

Đối với mô hình cây rau thì cả hai vụ điều chịu sự tác động của 3 biến giải thích là: LD, PB, TBVTV và điểm khác biệt cần chú ý là ở vụ 1 thì năng suất cây lúa chịu sự tác động của biến KNGHIEM nhưng sang vụ hai thì biến này được thay bởi biến diện tích. Điều này có thể hiểu cây lúa là cây trồng truyền thống của địa phương nên kinh nghiệm là yếu tố thể hiện rõ tính năng của mình trong trường hợp sản xuất tương đối thuận lợi. Sang vụ mùa thì tình hình về sâu bệnh diễn biến khá mạnh nên những hộ trồng với diện tích lớn có xu hướng tích cực hơn hộ có diện tích nhỏ.

Với mô hình cây rau thì các biến giải thích cũng có nét chung với mô hình cây lúa đó là 3 biến cùng ảnh hưởng như :LD, PB, TBVTV. Ngoài ra biến TD góp phần thay đổi năng suất của cây rau trong cả hai vụ. Cây rau có đặc điểm là nguồn vốn đầu vào khá cao nên chính sách về tín dụng ảnh hưởng mạnh kết quả sản xuất của cây rau.

Vậy trong sản xuất nông nghiệp nói chung cần có sự tác động phù hợp đến ba yếu tố TBVTV, PB, LD, còn với mô hình sản xuất cây lúa thì ngoài ba yếu tố nói trên thì còn chú ý đến yếu tố KNGHIEM và DT. Tương tự cho cây rau thì cũng bị ảnh hưởng bởi ba yếu tố trên và yếu tố TD. Vậy người sản xuất cần sử dụng liều lượng các nhân tố phù hợp, tạo điều kiện nâng cao năng suất cây trồng tương ứng với mô hình sản xuất của mình đã chọn.

Trong quá trình sản canh tác cây lúa hộ nông dân cần chư ý đến các nhân tố như lượng phân bón, lượng thuốc bảo vệ thực vân, công chăn sóc, diện tích gieo trồng và cả kinh nghiệm. Đây là những yếu tố có tác động mạnh làm tăng giảm đến năng suất cây lúa trong năm 2024 mói riêng và trong sản xuất lúa nói chung.

Lời khuyên tương tự trong canh tác cây rau. Cần tập trung đầu tư cho các nhân tố như phân bón, công lao động, nguồn vốn, thuốc bảo vệ thực vât một cách hợp lý nhằm nâng cao năng suất cây trồng.

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ Khóa luận: KQNC hiệu quả kinh tế giữa hai mô hình trồng lúa.

5.1. Kết luận

Thông qua thực trạng hiện nay cho thấy trong quá trình canh tác các mô hình nông nghiệp nói chung điều gặp nhũng khó khăn và thuận lợi nhất định. Với mô hinh trồng lúa thì được thực hiện qua hai vụ đó là vụ hè-thu và vụ mùa, vụ hè- thu tương đối thuận lợi về điều kiện thời tiết cũng như các loại giống mới như OM35-36, OM1490, MTL250 nên năng suất của vụ này tương đối cao so với vụ mùa. Bước sang vụ mùa giống chủ yếu là giống Nàng Thơm với phương thức cấy là chủ yếu, điều kiện thời tiết không thuận lợi cho sản xuất nên cây dễ mắc bệnh. Đây là nguyên nhân làm giảm năng suất lúa ở vụ mùa.

Bên cạnh đó cây rau được trồng 2 vụ có hộ trồng 3 vụ tùy theo mục đích sử dụng đất sử cho năm sau. ở hai vụ đầu với cây giống chủ yếu là Cải Ná, sang vụ 3 thì hầu như người nông dân trồng tổng hợp gồm nhiều loại rau như: cải xanh, cải ngọt…. Đối với cây rau thì công lao động dành cho việc chăm sóc hàng ngày rất cần thiết, đặc biệt là nguồn vốn đầu vào rất lớn so với cây lúa.

Xét về mặt kinh tế thì cả hai mô hình đều đem lại hiệu quả kinh tế cho người nông dân, tuy nhiên cây rau mang tính rủi ro cao hơn cây lúa và suất sinh lợi từ 1đ chi phí bỏ ra nhỏ hơn cây lúa tuy nhiên chênh lệch này không lớn. Thông qua phương pháp phân tích độ nhạy của lợi nhuận cũng như danh thu khi giá đầu ra và giá của chi phí đầu vào chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí biến đổi, cho thấy rõ tốc độ thay đổi của lợi nhuận theo các yếu tố này của cây rau mạnh hơn cây lúa nhiều. Xét về các yếu tố khách quan thì cây rau cũng gặp khá nhiều khó khăn đó là: thị trường tiêu thụ chưa có, giá cả, kỹ thuật không được người dân hiểu biết, thị trường rau sạch, rau an toàn ngày càng được mở rộng, chi phí đầu vào quá lớn. Trong khi đó Lúa là cây trồng truyền thống nên người nông dân rất am hiểu với kinh nghiệm lâu đời, giá cả tương đối ổn định, thị trường tiêu thụ được khẳng định. Với những lý do nghịch nhau nên có thể trả lời được tại sao diện tích  trồng rau vẫn không được mở rộng mặt dù năm 2021 chính quyến địa phương có chính sách chuyển đổi.

Vậy vấn đề lựa chọn mô hình canh tác tùy thuộc vào rất nhiều vào các nhân tố mà đặc biệt là các nhân tố cá ảnh hưởng đến năng suất cây trồng hay còn gọi là những yếu tố vốn có của người nông dân, đồng thời các yếu tố tác động từ chính quyền địa phương cũng mang tính quyết định vì nó thể hiện độ tin cậy khi được sự ủng hộ từ chính quyền.

5.2. Kiến nghị Khóa luận: KQNC hiệu quả kinh tế giữa hai mô hình trồng lúa.

Đề tài tập trung vào việc đánh giá xem hiệu quả mang lại cũng như rủi ro tồn đọng từ hai mô hình cây nông nghiệp lúa và rau. Nên kiến nghị của đề tài tập trung các mặc chủ yếu như: Chính quyền địa phương xã cũng như các cấp cần tạo điều kiện cho người nông dân cảm thấy thật an toàn khi quyết định lựa chon mô hình sản xuất. Đối với những hộ có điều kiện phù hợp trong việc trồng lúa thì giúp họ cũng cố và tiếp tục phát triễn mô hình này, như lao động gia đình ít, nguồn chi phí đầu vào thấp. cần đảm bảo nguồn đầu ra tránh hiện tượng người nông dân bị ép giá bởi các thương lái, Đảm bảo nguồn tín dụng khi cần thiết, tuy nhiên vấn đề canh tác cây lúa theo truyền thống cần được chuyển đổi thông qua việc tuyên truyền giúp người nông dân hiểu rõ lợi ích của các buổi tập huấn KN.

Với những hộ có nguồn lao động gia đình dồi dào, có cơ sở kinh tế, đất phù hợp cho cây rau thì khuyến khích họ trồng rau. Tiếp theo sau đó cần cung cấp cho họ những thông tín về giá thị trường, đảm bảo nguồn sản phẩm đầu ra với giá đảm bảo. Nên định hướng người dân sản xuất theo mô hình rau an toàn, hổ trợ nguồn vốn đầu vào khi cần thiết với mức lãi suất phù hợp.

Không nên có chính sách thuần hóa cây rau trong tương lai, mà chính quyền địa phương cần có sự kết hợp hài hòa giữa DT canh tác lúa và rau trong DT đất canh tác của hộ. Để tránh tình trạng người nông dân không làm chủ nguồn lương thực chủ yếu của chính họ, vì điều này luôn tạo sự lo lắng cho người nông dân trong đời sống hằng ngày. Khóa luận: KQNC hiệu quả kinh tế giữa hai mô hình trồng lúa.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>> Khóa luận: Đánh giá hiệu quả kinh tế giữa hai mô hình trồng lúa

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

1 Bình luận
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
trackback

[…] ===>> Khóa luận: KQNC hiệu quả kinh tế giữa hai mô hình trồng lúa […]

Contact Me on Zalo
0877682993
1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x