Khóa luận: Thực trạng phát triển dịch vụ của Ngân hàng Agribank

Rate this post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Thực trạng phát triển dịch vụ của Ngân hàng Agribank hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Khóa luận: Thực trạng phát triển dịch vụ của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chi nhánh Hà Tây dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

Nội dung chính

I. Khái quát về NHNo&PTNT chi nhánh Hà Tây.

1. Vài nét khái quát về NHNo&PTNT chi nhánh Hà Tây.

Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Hà Tây, đơn vị thành viên của NHNo&PTNT Việt Nam, được thành lập tháng 10/1991 trên cơ sở sát nhập 8 đơn vị thuộc Ngân hàng nông nghiệp Hà Sơn Bình cũ và 6 đơn vị thuộc Ngân hàng Nông nghiệp Hà Nội chuyển giao. Trải qua 20 năm xây dựng và phát triển ngân hàng đã lần lượt có các tên gọi:

  • Ngân hàng Nông Nghiệp tỉnh Hà Tây trong giai đoạn 1991-
  • Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Hà Tây trong giai đoạn 1996-2025
  • Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chi nhánh Hà Tây thành phố Hà Nội trong giai đoạn từ 8/2025 đến nay khi Hà Tây sát nhập vào thành phố Hà Nội.

Về chức năng, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Hà Tây là ngân hàng thương mại, có chức năng kinh doanh tiền tệ, tín dụng và dịch vụ ngân hàng nhằm thức đẩy sản xuất kinh doanh, dịch vụ của toàn địa bàn, đặc biệt là hoạt động sản xuất nông nghiệp và phát triển kinh tế nông thôn.

Nhiệm vụ cụ thể của Ngân hàng là: huy động vốn để cho vay, kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng, tín dụng thuê mua, kinh doanh vàng bạc đá quý và các hoạt động kinh doanh khác. Trong đó huy động vốn – cho vay và các dịch vụ khác là rất quan trọng, sát thực với địa bàn của khu vực Hà Tây nhằm phát triển kinh tế nông thôn, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển theo hướng công nghiệp hoá.

Về nhân sự, tổng số định biên toàn chi nhánh đến thời điểm hiện tại là hơn 900 cán bộ. Trong số đó tỷ lệ nam và nữ tương đối cân bằng: nam 44,21% trên tổng số cán bộ, nữ chiếm 55,79% trên tổng số cán bộ. Xét về trình độ, thạc sỹ chiếm 1% , đại học chiếm 66%, dưới đại học chiếm 33% trên tổng số cán bộ.

  • Sơ đồ 1: Cơ cấu tổ chức của NHNo&PTNT chi nhánh Hà Tây.

Với mô hình tổ chức NHNo&PTNT Hà Tây hoạt động kinh doanh theo chủ trương, định hướng phát triển kinh tế của toàn địa bàn, đầu tư vốn xuống tận các thôn xóm phục vụ đắc lực cho sự phát triển kinh tế của địa phương, đầu tư cho vay với nhiều thành phần kinh tế trong đó cho vay hộ sản xuất chiếm tỷ trọng lớn. Vì vậy, mô hình tổ chức bộ máy của NHNo&PTNT Hà Tây là rất hợp lý, tạo điều kiện tốt nhất cho khách hàng giao dịch trên khắp địa bàn toàn tỉnh.

Với sự đóng góp to lớn cho kinh tế địa bàn phát triển, suốt từ năm 1994 đến nay, Ngân hàng liên tục là đơn vị giành lá cờ đầu trong khu vực và là Ngân hàng đầu tiên của địa bàn được Nhà Nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lao động.

2. Các sản phẩm dịch vụ của NHNo&PTNT chi nhánh Hà Tây. Khóa luận: Thực trạng phát triển dịch vụ của Ngân hàng Agribank.

2.1. Dịch vụ cho khách hàng cá nhân.

Tài khoản cá nhân: là một loại dịch vụ huy động vốn qua tài khoản tiền gửi thanh toán dành cho khách hàng cá nhân. Agribank nhận tiền gửi, quản lý, theo dõi số dư và cung cấp các dịch vụ về tài khoản cho khách hàng an toàn và chính xác.

Cho vay cá nhân và hộ gia đình. Khách hàng có thể dễ dàng lựa chọn các sản phẩm cho vay phù hợp với điều kiện của mình:

  • Cho vay vốn để phục vụ sản xuất kinh
  • Cho vay lưu vụ.
  • Cho vay thực hiện nhu cầu phục vụ đời sống.
  • Cho vay mua sắm nhà ở, phương tiện vận chuyển…
  • Cho vay cầm cố giấy tờ có giá.
  • Cho vay người lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài.
  • Cho vay trả góp.
  • Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành thẻ tín dụng.

Tiết kiệm và đầu tư là hình thức huy động tiền gửi bằng VNĐ và ngoại tệ với các loại sản phẩm:

  • Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn.
  • Tiết kiệm có kỳ hạn.
  • Tiết kiệm gửi góp.
  • Tiết kiệm hưởng lãi suất bậc thang theo thời gian gửi.
  • Tiết kiệm hưởng lãi suất bậc thang theo luỹ tiến của số dư tiền gửi.
  • Tiết kiệm có thưởng.
  • Tiết kiệm bằng vàng.
  • Tiết kiệm bằng VNĐ bảo đảm giá trị theo giá vàng.

Phát hàng các giấy tờ có giá như kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn, chứng chỉ tiền gửi dài hạn,…

Chuyển và nhận tiền, dịch vụ kiều hối. Agribank cung cấp dịch vụ chuyển tiền trong nước hoặc ra nước ngoài đến bất cứ ngân hàng nào ở nước ngoài một cách nhanh chóng và an toàn theo những mục đích hợp pháp theo quy định của nhà nước về quản lý ngoại hối. Khóa luận: Thực trạng phát triển dịch vụ của Ngân hàng Agribank.

  • Dịch vụ thẻ.

Thẻ ghi nợ nội địa (Success) với đặc tính đa năng tiện dụng cho việc chi trả lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và đối tượng hưởng lương từ ngân sách nhà nước.

Thẻ ghi nợ quốc tế (Agribank Visa Debit – Success) và thẻ tín dụng quốc tế (Agribank Visa Credit – Golden Key) với hạn mức tín dụng lên tới 300 triệu đồng Việt Nam. Khách hàng có thể sử dụng thẻ để rút/ứng tiền mặt và các dịch vụ khác tại hơn một triệu máy ATM tại Việt Nam và thế giới, thanh toán hàng hoá, dịch vụ tại hơn 30 triệu điểm chấp nhận thẻ hay trực tiếp mua hàng qua mạng internet.

Mua bán ngoại tệ: Agribank nhận mua ngoại tệ của khách hàng cá nhân từ nguồn ngoại tệ mặt, tiền gửi, tiền gửi tiết kiệm, kiều hối. Đồng thời đáp ứng nhu cầu ngoại tệ để mang, chuyển ra nước ngoài cho các mục đích quy định.

2.2. Dịch vụ cho khách hàng doanh nghiệp.

Thanh toán quốc tế: Doanh nghiệp có thể sử dụng dịch vụ của ngân hàng để thanh toán hàng xuất nhập khẩu thông qua dịch vụ chuyển tiền, thư tín dụng xuất khẩu, nhờ thu.

Dịch vụ tài khoản: Doanh nghiệp có thể đăng kí sử dụng loại tài khoản tiền gửi thanh toán hoặc dịch vụ trả và nhận lương tự động.

Trong đó tài khoản tiền gửi thanh toán là loại tiền gửi không kỳ hạn do các tổ chức gửi vào tài khoản dùng để thanh toán và hưởng lãi suất theo quy định.

Dịch vụ trả và nhận lương tự động là dịch vụ mà ngân hàng nhận việc trả lương, thưởng, thù lao cho nhân viên hay các đại lý của các doanh nghiệp bằng cách trích tài khoản của doanh nghiệp tại ngân hàng hoặc nhận tiền mặt để trả cho nhân viên theo danh sách nhân viên do doanh nghiệp cung cấp. Khóa luận: Thực trạng phát triển dịch vụ của Ngân hàng Agribank.

Bảo lãnh: Có rất nhiều hình thức bảo lãnh mà doanh nghiệp có thể lựa chọn tuỳ mục đích của mình như: Bảo lãnh vay vốn trong nước và nước ngoài, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh đảm bảo chất lượng sản phẩm, bảo lãnh hoàn thanh toán, bảo lãnh bảo hành, bảo lãnh bảo dưỡng, và các loại bảo lãnh khác.

Cho vay doanh nghiệp: Các loại hình doanh nghiệp hoạt động kinh doanh tại Việt Nam đều có thể vay vốn cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án đầu tư phát triển tuỳ theo nhu cầu có thể vay vốn ngắn hạn, trung hạn hoặc dài hạn.

Dịch vụ séc. Doanh nghiệp mở tài khoản tiền gửi thanh toán tại ngân hàng có thể đăng kí sử dụng dịch vụ séc. Có hai hình thức: Séc chi trả vào tài khoản và séc gạch chéo.

Kinh doanh ngoại tệ: Đây là dịch vụ đáp ứng nhu cầu thanh toán quốc tế và phòng ngừa biến động tỷ giá cho doanh nghiệp dưới các hình thức: Giao dịch hối đoái giao ngay, giao dịch hối đoái kỳ hạn và giao dịch hối đoái hoán đổi.

Dịch vụ chuyển tiền: Đây là dịch vụ đáp ứng nhu cầu chuyển tiền thanh toán của doanh nghiệp cho khách hàng mở tài khoản tại Agribank hay bất cứ một ngân hàng nào khác.

Bao thanh toán trong nước: Doanh nghiệp sẽ nhận được tiền ứng trước bằng Việt Nam Đồng tới 80% trị giá khoản phải thu.

2.3. Dịch vụ ngân hàng điện tử.

  • VNTOPUP: Đây là dịch vụ nạp tiền điện thoại bằng SMS cho thuê bao sử dụng điện thoại di động trả trước của mạng VinaPhone, Viettel, E-Mobile, SFone và các mạng di động khác.
  • SMS BANKING: Là dịch vụ giúp khách hàng dễ dàng kiểm soát tài khoản của mình mọi lúc, mọi nơi thông qua điện thoại di động.
  • ATRANSFER: Là dịch vụ chuyển khoản bằng SMS với tài khoản mở tại Agribank.
  • APAYBILL: Là dịch vụ thanh toán hoá đơn cho thuê bao di động trả sau.
  • VNMART: Mua hàng online trên Internet bằng ví điện tử.

II. Thực trạng hoạt động dịch vụ của NHNo&PTNT chi nhánh Hà Tây. Khóa luận: Thực trạng phát triển dịch vụ của Ngân hàng Agribank.

1. Dịch vụ huy động vốn.

Nền tảng cơ sở quan trọng đầu tiên trong hoạt động kinh doanh của một ngân hàng thương mại đó chính là nguồn vốn. Với ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh Hà Tây thì nguồn vốn huy động từ tiết kiệm vẫn là thế mạnh. Trong những năm vừa qua, chi nhánh đã thực hiện nhiều biện pháp để huy động tối đa nguồn vốn nhàn rỗi từ dân cư và từ các tổ chức kinh tế trong và ngoài địa bàn. Kết quả đạt được như sau:

  • Bảng 2. Kết quả hoạt động huy động vốn giai đoạn 2024-2025.

Ta thấy rằng, năm 2025, mặc dù nền kinh tế gặp nhiều khó khăn, các ngân hàng thi nhau tăng lãi suất huy động do thiếu vốn trầm trọng nhưng kết quả huy động vốn của chi nhánh vẫn rất khả quan. Tính đến 31/12/2025, tổng nguồn vốn tự huy động của ngân hàng là 8.336 tỷ, tăng 22.21% so với năm 2024, hoàn thành 107% so với kế hoạch đề ra. Trong đó, nguồn vốn huy động bằng nội tệ chiếm tỷ trọng lớn 91% trong tổng số nguồn vốn huy động. Sự gia tăng nguồn vốn huy động chủ yếu là do sự gia tăng lượng tiền gửi không kỳ hạn (tăng 78.4%), và tiền gửi kì hạn dưới 1 năm (tăng 87.96%). Mặc dù vậy, ngân hàng vẫn có nguồn tiền gửi kỳ hạn >= 12 chiếm tỷ trọng lớn 57% trên tổng số nguồn vốn tự huy động. Đó là nguồn vốn ổn định, lâu dài giúp cho ngân hàng có thế ổn định kế hoạch kinh doanh lâu dài.

Trong tổng nguồn vốn huy động được năm 2025, có 5.414 tỷ tiền gửi từ dân cư, chiếm 64.9% so với tổng nguồn vốn, phản ánh tính ổn định bền vững của nguồn vốn trong kinh doanh. Như vậy, với thế mạnh huy động vốn tại địa phương và sự hỗ trợ kịp thời của ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, ngân hàng có thể chủ động nguồn vốn tập trung mở rộng cho vay.

2. Dịch vụ cho vay. Khóa luận: Thực trạng phát triển dịch vụ của Ngân hàng Agribank.

Song song với nghiệp vụ huy động vốn thì tình hình sử dụng vốn đóng vai trò quyết định trong quá trình hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Đối với hầu hết các ngân hàng hiện nay không ngoại trừ ngân hàng nông nghiệp, tình hình sử dụng vốn đang là vấn đề rất được quan tâm đóng vai trò quyết định, nhưng sai lầm trong công tác sử dụng vốn sẽ dẫn đến hậu quả khôn lường. Chính vì vậy, ngân hàng luôn coi trọng và đặt công tác tín dụng lên hàng đầu. Trong những năm vừa qua ngân hàng đã tập trung vốn huy động để thực hiện đầu tư có trọng điểm và cho vay đối với kinh tế quốc doanh, tạo điều kiện giúp đỡ kinh tế quốc doanh giữ vững vai trò chủ đạo của mình đồng thời cũng tích cực mở rộng hoạt động tín dụng tới tất cả các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, các doanh nghiệp vừa và nhỏ, thực hiện đa dạng hoá hình thức cho vay. Ngoài cho vay ngắn hạn, ngân hàng còn thẩm định và đầu tư cho vay trung dài hạn đáp ứng chương trình phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn. Trong những năm qua, bằng nhiều giải pháp tích cực và sáng tạo, hoạt động cho vay của chi nhánh đã vượt qua những khó khăn, giữ vững ổn định và tiếp tục phát triển về cả tốc độ tăng trưởng và chất lượng. Kết quả hoạt động cho vay đáng được ghi nhận, dư nợ tín dụng tăng trưởng lành mạnh và vững chắc.

  • Bảng 3: Tình hình cho vay qua các năm 2023-2025.

Qua bảng số 2 ta thấy rằng:

Doanh số cho vay của ngân hàng trong năm 2025 tăng với tốc độ rất lớn 71.37% lớn hơn rất nhiều so với tốc độ tăng của năm 2023 là 40.1% và năm 2024 là 34.75%. Doanh số thu nợ cũng diễn biến tương tự, tốc độ tăng năm 2025 là 88.86% lớn hơn rất nhiều so với năm 2023 là 36.2% và năm 2024 là 34.1%. Ngược lại, dư nợ năm 2025 tăng với tốc độ chậm hơn rất nhiều 6.73% so với năm 2023 là 24.5% và năm 2024 là 27.7%, tỷ lệ này quá thấp so với NHNo&PTNT Việt Nam là 14% và của toàn ngành ngân hàng là 21-22%. Khóa luận: Thực trạng phát triển dịch vụ của Ngân hàng Agribank.

Doanh số cho vay và doanh số thu nợ qua các năm xét về cả giá trị tuyệt đối và tỷ lệ tăng đều lớn hơn tổng dư nợ. Điều này có thể lý giải vì ngân hàng chú trọng cho vay kinh tế hộ sản xuất theo mùa vụ và thời kì ngắn hạn, chính vì vậy tỷ trọng cho vay ngắn hạn chiếm phần lớn. Năm 2025, Doanh số cho vay ngắn hạn chiếm 82.93%, dư nợ ngắn hạn chiếm 76.59%.

Ngân hàng luôn chú trọng việc đa dạng hoá các đối tượng khách hàng thuộc các thành phần, đối tượng khác nhau: Cho vay hộ gia đình – cá nhân, tổ hợp tác, kinh tế trang trại (65%), doanh nghiệp (35%).

Thứ nhất là hoạt động cho vay hộ sản xuất cá nhân phân bố tương đối phù hợp với sự phát triển kinh tế hộ: thương mại dịch vụ (29.6%), nông nghiệp (27.2%), làng nghề truyền thống (15.3%), cho vay đời sống (8.4%), tiểu thủ công nghiệp (4.4%), nuôi trồng thuỷ sản (1.4%)…

Hoạt động cho vay theo tổ nhóm thuộc các tổ chức xã hội luôn được ngân hàng quan tâm. Đến 31/12/2025, toàn tỉnh có dư nợ 1.999 tổ, số hộ dư nợ hơn 39.000 hộ tương đương 410 tỷ, chiếm 35.8% số hộ và 9% số tiền dư nợ hộ gia đình cá nhân.

Hoạt động cho vay tiêu dùng cũng là một đối tượng cho vay tiềm năng, khách hàng vay có nguồn thu ổn định, ý thức chấp hành trả nợ cao. Đến cuối năm 2025, tổng dư nợ cho vay tiêu dùng là 387 tỷ, chiếm 8.4% tổng dư nợ cho vay hộ sản xuất. Trong đó, cho vay xây dựng, sửa chữa nhà ở chiếm 56.6%, mua phương tiện đi lại 31.2%, mua phương tiện nghe nhìn 3.9%, khác là 8.3%.

Cho vay xuất khẩu lao động cũng là một đối tượng cho vay được Ngân hàng chú trọng theo chủ trương giải quyết việc làm của Đảng và Nhà nước. Tính đến hết năm 2025, dư nợ cho vay người đi lao động nước ngoài đạt 608 hộ, tương đương 11,039 tỷ, chiếm 0.23% so với tổng dư nợ cho vay hộ sản xuất.

  • Thứ hai, hoạt động cho vay doanh nghiệp có cơ cấu thay đổi theo chiều hướng tích cực.

Theo ngành kinh tế, tỷ trọng cho vay thương mại, dịch vụ ngày càng chiếm tỷ trọng lớn (75.45%), tiếp đó là cho vay nông nghiệp nông thôn (10.35%), xây dựng (10.17%), công nghiệp (4.03%), phù hợp với cơ cấu ngành của địa bàn. Theo thành phần kinh tế, tỷ trọng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm đa số (94.04%) góp phần không nhỏ thực hiện chính sách hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ về vốn theo chủ trương của Nhà nước. Giảm dần tỷ trọng cho vay doanh nghiệp nhà nước (chiếm 1.76% tổng dư nợ cho vay doanh nghiệp. Chủ yếu, cho vay các công ty trách nhiệm hữu hạn (82.38%), và cho vay doanh nghiệp tư nhân (14.77%), đa dạng hoá cho vay các thành phần kinh tế.

3. Sản phẩm dịch vụ thanh toán và kinh doanh ngoại hối.

3.1. Hoạt động huy động vốn và cho vay bằng ngoại tệ. Khóa luận: Thực trạng phát triển dịch vụ của Ngân hàng Agribank.

Góp phần trong việc quản lý nguồn ngoại tệ ra vào Việt Nam và đảm bảo nguồn ngoại tệ cho hoạt động kinh doanh cho các doanh nghiệp có quan hệ buôn bán với nước ngoài, chi nhánh đã cung cấp các sản phẩm huy động và cho vay bằng ngoại tệ. Trong 5 năm triển khai thực hiện hoạt động ngoại tệ, chi nhánh đã đạt được một số kết quả nhất định.

  • Bảng 4: Kết quả hoạt động huy động vốn và cho vay bằng ngoại tệ năm 2021 -2025.

Nếu lấy năm 2021 làm gốc ta thấy rằng tốc độ tăng nguồn vốn và dư nợ ngoại tệ như sau:

  • Đồ thị 1: Tốc độ tăng trưởng nguồn vốn và dư nợ giai đoạn 2021-2025

Như vậy, nếu xét giá trị tuyệt đối thì cả nguồn vốn và dư nợ đều có xu hướng tăng cho thấy sự chuyển biến tích cực trong hoạt động này. Tuy nhiên, so với các chi nhánh khác trong cùng hệ thống và các ngân hàng khác trong cùng địa bàn thì vẫn còn khá khiêm tốn. Năm 2024, tổng dư nợ ngoại tệ là 12.34 triệu USD so với năm 2023 là 5.23 triệu USD, gấp hơn 2 lần so với năm 2023 và 4.49 lần so với năm gốc 2021. Sự gia tăng đột biến trong nhu cầu vay vốn bằng ngoại tệ cũng theo xu hướng chung của các ngân hàng thương mại gặp phải trong thời điểm này. Nguyên nhân chính là do năm 2024 các ngân hàng chạy đua lãi suất khiến cho cả lãi suất huy động lẫn lãi suất cho vay VNĐ đều tăng cao. Để đáp ứng nhu cầu về vốn, các doanh nghiệp chạy sang vay bằng USD với lãi suất “mềm” hơn. Mặt khác, theo Quyết đinh 966/2020/QĐ-NHNN chủ trương mở rộng đối tượng vay, những khác hàng không có nguồn thu ngoại tệ cũng được phép vay, dẫn đến thời điểm này các doanh nghiệp ồ ạt chuyển sang vay bằng USD mạnh hơn. Trong khi đó tốc độ gia tăng của tổng nguồn vốn khá ổn định.

Sang năm 2025, ta thấy có một sự chuyển biến khá đặc biệt đó là sự suy giảm trong cả nguồn vốn và dư nợ ngoại tệ. Nguyên nhân chính dẫn đến nguồn vốn năm 2025 giảm so với năm 2024 là do tình hình kinh tế thế giới biến động ảnh hưởng đến tỷ giá USD với VNĐ. Đặc biệt là trong quý II và III năm 2025, tỷ giá USD thị trường tự do cao hơn tỷ giá liên ngân hàng từ 10% đến 20% nên khách hàng gửi tiết kiệm, kỳ phiếu bằng ngoại tệ rút ra nhiều, kiều hối chuyển về đại bộ phận cũng được rút ra bằng ngoại tệ. Mặt khác lãi suất tiền gửi VNĐ lớn hơn lãi suất tiền gửi ngoại tệ do vậy một bộ phận lớn khách hàng bán ngoại tệ để gửi tiết kiệm, kỳ phiếu VNĐ. Khóa luận: Thực trạng phát triển dịch vụ của Ngân hàng Agribank.

Dư nợ ngoại tệ năm 2025 giảm là do nhiều nguyên nhân. Thứ nhất là do khủng hoảng kinh tế thế giới và khu vực làm cho hoạt động xuất, nhập khẩu bị co hẹp dẫn đến nhu cầu vay ngoại tệ giảm. Thứ hai là do chính phủ, Ngân hàng nhà nước và NHNo&PTNT Việt Nam nghiêm cấm cho vay bằng ngoại tệ bán thành nội tệ đối với các đơn vị làm hàng xuất khẩu, thực hiện 8 nhóm giải pháp chống lạm phát, khắc phục nhập siêu. Thứ ba là do biến động giá xăng dầu, sắt thép và các nguyên liệu chủ yếu khác phục vụ sản xuất kinh doanh. Thứ tư là do nguồn vốn ngoại tệ giảm dẫn tới việc quản lý điều hành dư nợ ngoại tệ cũng phải giảm theo.

3.2. Hoạt động thanh toán hàng xuất nhập khẩu.

Dịch vụ thanh toán ngày càng đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu dịch vụ của ngân hàng, không chỉ vì đây là sản phẩm dịch vụ truyền thống tăng lợi nhuận cho ngân hàng thông qua việc thu các khoản phí, mà đây còn là hoạt động tạo ra một nguồn vốn đáng kể cho ngân hàng thông qua số dư trên các tài khoản vãng lai. Hiện nay, ngân hàng đang thực hiện dịch vụ thanh toán quốc tế dưới ba hình thức chính là tín dụng chứng từ, nhờ thu và chuyển tiền. Ngân hàng luôn cố gắng tăng cường đầu tư trang thiết bị cơ sở vật chất kỹ thuật và bổ sung thêm cán bộ đủ điều kiện để nâng cao chất lượng dịch vụ thanh toán, từng bước đáp ứng yêu cầu hội nhập khu vực và quốc tế. Nhờ vậy, doanh số thanh toán hàng xuất nhập khẩu đã đạt được những kết quả đáng kể.

  • Đồ thị 2: Doanh số thanh toán hàng xuất nhập khẩu

Qua đồ thị ta thấy rằng, doanh số thanh toán hàng xuất nhập khẩu của ngân hàng còn khá khiêm tốn. Năm 2021 doanh số hàng xuất là 8.02 triệu USD, tăng trong 3 năm 2022, 2023, 2025 và giảm vào năm 2024. Doanh số hàng nhập so với năm 2021 đều giảm qua các năm từ 2022 đến 2024, nhưng đến năm 2025 lại tăng lên một cách đột biến. Sự biến đổi qua các năm không đáng kể, tăng giảm thất thường mặc dù tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu của địa bàn đạt trên 20%/năm. Doanh số thanh toán hàng nhập vẫn chiếm ưu thế hơn đặc biệt là năm 2021 và 2025 cũng cho thấy hiện tượng nhập siêu diễn ra trên địa bàn. Hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu diễn ra trên địa bàn còn khá ảm đạm cũng do một phần lớn là các hàng hoá xuất nhập khẩu của địa bàn đều được thực hiện qua trung gian. Khóa luận: Thực trạng phát triển dịch vụ của Ngân hàng Agribank.

3.3. Hoạt động khác.

  • a, Hoạt động mua bán ngoại tệ.

Đây cũng là một hoạt động cơ bản đáp ứng nhu cầu ngoại tệ của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu khi giao dịch thanh toán bằng ngoại tệ. Doanh số mua bán ngoại tệ (quy đổi ra USD) cũng biến đổi theo chiều hướng tích cực.

  • Đồ thị 3: Doanh số mua bán ngoại tệ năm 2021-2025

Doanh số hoạt động mua bán ngoại tệ tăng trưởng khá đều đặn, từ năm 2021 là 34.95 triệu USD đến năm 2024 là 108.95 triệu USD, với tốc độ tăng trưởng bình quân là 40% ngày càng đáp ứng tốt hơn nhu cầu ngày càng tăng trong hoạt động mua, bán ngoại tệ của các khách hàng khi xuất nhập khẩu hàng hoá. Chỉ riêng năm 2025, nhu cầu mua bán ngoại tệ giảm so với năm 2024.

  • Bảng 5: Kết quả hoạt động mua, bán ngoại tệ năm 2024-2025

Từ bảng trên ta thấy rằng,thứ nhất là doanh số mua bán ngoại tệ của ngân hàng khá cân bằng. Như vậy số ngoại tệ mua vào đủ để đảm bảo cho số ngoại tệ bán ra, và ngân hàng không dùng nguồn ngoại tệ này đảm bảo cho hoạt động chi trả ngoại tệ khác, đảm bảo cho hoạt động kinh doanh ngoại tệ an toàn. Thứ hai là doanh số mua, bán ngoại tệ năm 2025 so với năm 2024 đều giảm, trong khi đó doanh số mua từ khách hàng xuất khẩu và doanh số bán cho khách hàng nhập khẩu đều tăng do năm 2025 kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước tăng 29.5% so với năm 2024; điều này chứng tỏ nguyên nhân doanh số mua bán ngoại tệ giảm là do từ các nguồn khác trước tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế trong nước và toàn cầu. Thứ ba, doanh số ngoại tệ từ khách hàng xuất nhập khẩu vẫn còn chiếm tỷ trọng nhỏ, khoảng 19% so với doanh số mua bán ngoại tệ cho thấy ngân hàng chưa khai thác hết tiềm năng. Thứ 4, lãi từ hoạt động mua bán ngoại tệ tăng 114% mặc dù doanh số giảm, chứng tỏ ngân hàng kinh doanh ngày càng có hiệu quả hơn. Khóa luận: Thực trạng phát triển dịch vụ của Ngân hàng Agribank.

Nhưng xét về con số tuyệt đối thì hoạt động mua bán ngoại tệ của ngân hàng vẫn là một con số khiêm tốn so với tiềm năng của địa bàn.

  • b, Hoạt động chi trả kiều hối.

Kiều hối là một nguồn lực quý giá cho đất nước, mang lại một nguồn ngoại tệ mạnh mà gần như không mất chi phí. Vì vậy, Nhà nước đã có rất nhiều biện pháp thu hút nguồn kiều hối đầu tư và gửi về Việt Nam. Chính vì vậy, nguồn kiều hối trong những năm gần đây tăng liên tục và ổn định. Điều đó tạo điều kiện thuận lợi cho ngân hàng khi triển khai hoạt động dịch vụ chi trả kiều hối. Doanh số chi trả kiều hối qua các năm tăng trưởng khá nhanh và ổn định.

  • Đồ thị 4: Doanh số chi trả kiều hối năm 2021-2025

Nguồn kiều hối được chuyển về thông qua hai hình thức: Qua Western Union và qua tài khoản. Khác với doanh số mua bán ngoại tệ và hoạt động huy động cho vay bằng ngoại tệ, năm 2025 mặc dù khủng hoảng kinh tế nhưng lượng kiều hối vẫn tăng khá ổn định. Năm 2024 là 37.36 triệu USD thì năm 2025 là 43.67 triệu USD, tăng 16.8% so với 2024.

4. Sản phẩm dịch vụ thẻ. Khóa luận: Thực trạng phát triển dịch vụ của Ngân hàng Agribank.

Trước thời điểm 01/07/2024, dịch vụ thẻ do phòng Kế toán đảm nhiệm từ khâu tiếp xúc nhu cầu khách hàng, phát hành thẻ.. đến việc giải quyết các vấn đề liên quan đến thẻ. Tuy nhiên, khối lượng công việc ngày càng tăng và nhằm phục vụ tốt hơn nhu cầu của khách hàng, bộ phận thẻ cùng với bộ phận chứng khoán và marketing sát nhập thành phòng dịch vụ khách hàng. Từ những chiếc thẻ ATM đầu tiên được phát hành năm 2020 đến nay trải qua 6 năm phát triển, dịch vụ thẻ của ngân hàng đã đạt được một số kết quả nhất định.

Thứ nhất là về số lượng thẻ phát hành, tuy mới ra đời nhưng số lượng thẻ của ngân hàng đã đạt được những bước tiến đáng kể.

  • Đồ thị 5: Số lượng thẻ ATM đã phát hành qua các năm.

Qua biểu đồ ta thấy rằng số lượng thẻ phát hành tăng lên liên tục qua các năm, với tỷ lệ tăng xấp xỉ 100%. Đặc biệt là năm 2024, số lượng thẻ tăng lên 12.656 thẻ tương ứng tỷ lệ tăng 118%, đây cũng là năm thị trường thẻ ATM “nở rộ”. Đến năm 2025, số lượng thẻ tăng 10.964 thẻ tương ứng với tỷ lệ tăng 46.85%. Xét về cả con số tuyệt đối lẫn tương đối thì so với năm 2024, việc phát hành thẻ năm 2025 giảm đi đáng kể.

Số lượng thẻ hoạt động tên tổng số lượng thẻ phát hành chiếm tỷ lệ khá lớn nhưng qua các năm số thẻ không sử dụng ngày càng tăng nhanh. Năm 2022 là 451 thẻ, năm 2023 là 548 thẻ, 2024 là 921 thẻ, và đến năm 2025 tăng mạnh lên con số 1.931 thẻ, chiếm tỷ trọng 18.15% tổng số thẻ đã phát hành. Điều này chứng tỏ trong hoạt động phát hành thẻ vẫn còn nhiều hạn chế, chưa tận dụng hết tối đa nguồn lực, khâu chăm sóc khách hàng, chủng loại và công nghệ vẫn còn hạn hạn chế.

Trước đây thẻ ATM do ngân hàng phát hành chủ yếu cho cán bộ nhân viên trong cùng hệ thống rút tiền lương. Nhưng hiện nay, rất nhiều công ty có nhu cầu chi trả lương qua tài khoản đến cán bộ, nhân viên, công nhân các khu công nghiệp…và rất nhiều đối tượng khách hàng cá nhân đăng ký yêu cầu mở thẻ. Kết quả đạt được đã góp phần không nhỏ vào việc thực hiện chỉ thị 20/2024/CT-TTg về việc trả lương qua tài khoản cho các đối tượng hưởng lương từ ngân sách. Mục đích của ngân hàng là mở rộng mạng lưới khách hàng và tạo thói quen sử dụng tài khoản ngân hàng, từ đó làm cơ sở phát triển dịch vụ thanh toán đa tiện ích không dung tiền mặt để đa dạng hoá các loại hình dịch vụ kinh doanh.

Thứ hai, xét về số lượng máy ATM và điểm phát hành thẻ trên địa bàn vẫn còn rất hạn chế. Tính đến cuối năm 2024, toàn địa bàn chưa có điểm POS nào; số lượng máy ATM vẫn ở con số khiêm tốn là 10 máy, trong đó 4 máy ở Hà Đông, và 6 máy còn lại ở Sơn Tây, Đan Phượng, Thường Tín, Ứng Hoà, Chương Mỹ, Xuân Mai. Các huyện còn lại vẫn chưa có máy ATM. Nhưng đến cuối năm 2025, số lượng máy ATM đã lên con số 21 máy, và POS đặt tại quầy giao dịch là 39 thiết bị. Đây là một sự đầu tư không nhỏ của ngân hàng, một kết quả đáng ghi nhận trong năm vừa qua. Số điểm phát hành ATM cũng khiêm tốn, năm 2024 có 27 điểm phát hành thẻ, năm 2025 có 77 điểm. Như vậy trong thời gian tới, ngân hàng cần chủ động điều tra, đánh giá nhu cầu của khách hàng để phát triển thị trường thẻ của ngân hàng trên địa bàn.

Thứ ba, xét về số dư trên tài khoản thẻ ATM cũng là một nguồn vốn lớn cho ngân hàng. Chi nhánh chủ động tập trung khai thác mọi nguồn vốn nhàn rỗi trong dân dưới mọi hình thức. Trong những năm qua, số dư trên tài khoản thẻ ATM tăng liên tục với tỷ lệ tăng bình quân trên 100% , nhưng so với tốc độ tăng số lượng thẻ cũng xấp xỉ 100% thì số dư bình quân trên một tài khoản thẻ khá ổn định ở mức 700 ngàn đến 1 triệu đồng. Số dư bình quân này cho thấy mục đích chính của người dân khi sử dụng thẻ là rút tiền mặt chứ chưa thực sự dụng thẻ với mục đích thanh toán hàng hoá dịch vụ, đây mới là mục đính chính mà nhà phát hành thẻ đề ra. Xét riêng năm 2025, tổng số bút toán giao dịch trên máy ATM là 230.668 bút toán nhưng trong đó chỉ có 3.044 bút toán chuyển khoản (chiếm 1,32%), còn lại đều với mục đích để rút tiền. Tổng giá trị giao dịch của các bút toán chuyển khoản cũng chỉ đạt 9,713 tỷ chiếm 2,54% tổng giá trị giao dịch trên máy ATM.

Thứ tư, sản phẩm thẻ quốc tế đã được triển khai. Hiện tại, ngân hàng mới phát hành thẻ quốc tế Visa, tuy nhiên số lượng thẻ phát hành còn khiêm tốn 156 thẻ chủ yếu là thẻ ghi nợ và 2 thẻ tín dụng. Ngân hàng cũng đã chính thức chấp nhận thanh toán thẻ Master Card.

5. Sản phẩm dịch vụ khác. Khóa luận: Thực trạng phát triển dịch vụ của Ngân hàng Agribank.

  • Dịch vụ Mobile Baking.

Các dịch vụ đã được triển khai đến các chi nhánh loại 3, phòng giao dịch. Tuy nhiên số lượng khách hàng đăng kí sử dụng dịch vụ mới ở con số khá khiêm tốn 600 khách hàng.

  • Đại lý nhận lệnh chứng khoán.

Hiện tại hoạt động đại lý nhận lệnh chứng khoán (Agriseco) đang quản lý 382 tài khoản của các nhà đầu tư cá nhân, môi giới đặt lệnh mua, bán qua đại lý với doanh số khớp lệnh đạt 61 tỷ đồng, bằng 50% doanh số năm 2024.

Sản phẩm dịch vụ thấu chi trên tài khoản thanh toán cá nhân với trên 150 khách hàng, luôn có số dư thấu chi dao động từ 1,5 đến 1,8 tỷ đồng.

Ngoài ra, ngân hàng còn triển khai hợp tác với tổng công ty viễn thông Quân đội Viettel, nhận bàn giao máy điện thoại cố định không dây và tổ chức bán. Triển khai hợp tác với Công ty bảo hiểm Ngân hàng nông nghiệp (ABIC) phát triển dịch vụ bảo hiểm qua hệ thống NHNo, thu phí bảo hiểm PRUDENTIAL, dịch vụ thanh toán thu cước phí cho tổng công ty viễn thông Quân đội Viettel.

III. Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển sản phẩm dịch vụ của NHNo&PTNT chi nhánh Hà Tây thành phố Hà Nội.

1. Nhà cung cấp dịch vụ. Khóa luận: Thực trạng phát triển dịch vụ của Ngân hàng Agribank.

Trong những năm gần đây, số lượng các ngân hàng liên tục tăng lên, kể cả ngân hàng thương mại cổ phần trong nước lẫn chi nhánh của các ngân hàng nước ngoài. Đặc biệt từ thời điểm 1/4/2024, ngân hàng nước ngoài được phép thành lập ngân hàng 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam theo cam kết gia nhập WTO. Tính đến thời điểm cuối năm 2025 theo thống kê của ngân hàng nhà nước, tại Việt Nam có 6 ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước, 38 ngân hàng thương mại cổ phần đô thị, 42 chi nhánh ngân hàng nước ngoài, 5 ngân hàng liên doanh, 5 ngân hàng 100% vốn nước ngoài, 17 công ty tài chính, 15 công ty cho thuê tài chính, và 54 văn phòng đại diện của ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam. Trong số đó, trên địa bàn Hà Tây có 6 ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước và 15 ngân hàng thương mại cổ phần đô thị hoạt động như: Ngân hàng TMCP ngoại thương Việt Nam, ngân hàng TMCP ngoài quốc doanh, ngân hàng TMCP kỹ thương, ngân hàng TMCP quân đội, ngân hàng TMCP xuất nhập khẩu Việt Nam, ngân hàng TMCP quốc tế Việt Nam…

So với số lượng ngân hàng hiện đang hoạt động trong nước, con số các ngân hàng mở chi nhánh và phòng giao dịch tại địa bàn còn khá nhỏ, chưa có sự xuất hiện của các chi nhánh, văn phòng đại diện hay phòng giao dịch của các ngân hàng nước ngoài. Nhưng trên thực tế, địa bàn Hà Tây mặc dù diện tích lớn (chiếm 65,5% diện tích Hà Nội mới) nhưng 90% dân số ở nông thôn. Tổng vốn huy động 16 nghìn tỷ đồng và dư nợ cho vay 13.8 nghìn tỷ đồng tính đến hết tháng 7/2025, mới đạt khoảng 4.1% tổng vốn huy động và 5.7% tổng dư nợ cho vay của toàn thành phố Hà Nội mới. Như vậy, con số ngân hàng hoạt động trên địa bàn khá lớn tính trên tổng nguồn vốn huy động và tổng dư nợ của địa bàn. Mặt khác, ngoài các ngân hàng quốc doanh thì các ngân hàng thương mại cổ phần hoạt động tại địa bàn đều thuộc “top” những ngân hàng cổ phần có chất lượng tốt. Như vậy, Chi nhánh NHNo&PTNT không những vấp phải sự cạnh tranh gay gắt của các ngân hàng quốc doanh, các ngân hàng thương mại cổ phần đang và mới hoạt động trên địa bàn mà còn cả những ngân hàng cổ phần chưa thành lập chi nhánh tại địa bàn và các ngân hàng 100% vốn nước ngoài được phép thành lập chi nhánh và phòng giao dịch.

2. Khách hàng sử dụng dịch vụ.

Đối tượng khách hàng sử dụng sản phẩm dịch vụ của ngân hàng tương đối đa dạng, có thể chia làm hai loại chính đó là hộ sản xuất, cá nhân và doanh nghiệp. Khóa luận: Thực trạng phát triển dịch vụ của Ngân hàng Agribank.

  • Bảng 6: Kết quả tín dụng của NHNo&PTNT chi nhánh Hà Tây năm 2025.

Theo bảng trên, ta thấy rằng đối tượng hộ sản xuất và cá nhân vẫn là khách hàng chiếm tỷ trọng lớn. Cho vay kinh tế hộ chiếm 61.91% tổng dư nợ, và chiếm 63.83% tổng doanh số cho vay của cả ngân hàng. Ngân hàng nông nghiệp Hà Tây xác định rõ cho vay kinh tế hộ là một trong những mục tiêu trọng tâm hàng đầu trong hoạt động tín dụng.

Khi phân đối tượng hộ sản xuất và cá nhân theo các lĩnh vực ngành nghề, đối tượng chủ yếu của ngân hàng là các hộ sản xuất cá nhân thuộc lĩnh vực nông nghiệp, thương nghiệp dịch vụ và các làng nghề truyền thống.

  • Bảng 7: Kết quả hoạt động cho vay hộ sản xuất và cá nhân theo đối tượng năm 2025.

Dư nợ cho vay hộ sản xuất phân bố tương đối phù hợp với sự phát triển kinh tế hộ như chăn nuôi 681 tỷ chiếm 55% so với tổng dư nợ cho vay ngành nông nghiệp, ngành tiểu thủ công nghiệp và làng nghề truyền thống 901 tỷ chiếm 19.7%, ngành thương mại dịch vụ 1.356 tỷ đồng chiếm 29.6%… từ đó giúp hàng triệu hộ có vốn để phát triển sản xuất kinh doanh, tỷ trọng cho vay hộ sản xuất cao nhất so với các tổ chức tín dụng cùng trên địa bàn kinh doanh. Có thể khẳng định nguồn vốn vay của ngân hàng đã giúp nhiều hộ làng nghề không còn sản xuất thủ công như trước, mà đã đầu tư mua sắm máy móc thiết bị, mở rộng nhà xưởng.. từ đó nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm. Sản phẩm làng nghề khu vực Hà Tây sản xuất không những có chỗ đứng trên thị trường nội địa mà còn phục vụ xuất khẩu như: Làng nghề chế biến nông sản huyện Hoài Đức, sản phẩm lụa tơ tằm Vạn Phúc-Hà Đông, mây tre đan Chương Mỹ, Phú Xuyên, đồ gỗ cao cấp Vạn Điểm-Thường Tín góp phần quan trọng vào phát triển tiểu thủ công nghiệp toàn địa bàn.

Xét về phía khách hàng là doanh nghiệp, dư nợ cho vay doanh nghiệp lớn đến hết 31/12/2025 là 151 tỷ đồng, chỉ chiếm tỷ lệ 5.96% so với dư nợ cho vay doanh nghiệp. Trong khi đó, dư nợ cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tính đến hết 31/12/2025 là 2.379 tỷ đồng, chiếm 94.04%. Như vậy, khách hàng chủ yếu của ngân hàng đó là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, chiếm 746 trên tổng số 770 doanh nghiệp là khách hàng của ngân hàng.

  • Bảng 8: Kết quả cho vay doanh nghiệp theo thành phần kinh tế tính đến hết 31/12/2025.

Như vậy, các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực thương mại dịch vụ vẫn là khách hàng chủ yếu của ngân hàng chiếm 75.45% tổng dư nợ. Tiếp đó là doanh nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn 10.35% và xây dựng 10.17%. Điều này hoàn toàn phù hợp với cơ cấu ngành kinh tế trong địa bàn.

3. Giá cả dịch vụ ngân hàng. Khóa luận: Thực trạng phát triển dịch vụ của Ngân hàng Agribank.

Giá cả phản ánh giá trị của sản phẩm, giá cả có vai trò quan trọng đối với quyết định của khách hàng. Đối với ngân hàng, giá cả chính là lãi suất và mức phí áp dụng cho các dịch vụ cung ứng cho các khách hàng của mình. Trong việc xác định mức phí và lãi suất, ngân hàng gặp phải mâu thuẫn: nếu quan tâm đến mở rộng thị phần thì cần xác định mức phí và lãi suất ưu đãi cho khách hàng, tuy nhiên điều này làm giảm thu nhập ngân hàng; nhưng nếu chỉ chú trọng đến thu nhập, ngân hàng có thể đưa ra mức lãi suất và phí sao cho đáp ứng mục tiêu tăng thu nhập nhưng điều này có thể dẫn đến tình trạng ngân hàng dễ mất dần khách hàng. Vì vậy, ngân hàng phải định giá theo đúng ngàng giá thị trường sẽ cho phép ngân hàng giữ được khách hàng.

Trên thực tế, trong những năm vừa qua, trên thị trường tài chính ngân hàng có nhiều biến động. Giai đoạn đầu năm 2025, cuộc chạy đua lãi suất giữa các ngân hàng cổ phần nhằm hút vốn đã đẩy lãi suất huy động và cho vay tăng lên rất cao. Các ngân hàng quốc doanh trong đó có ngân hàng nông nghiệp mặc dù không tham gia vào cuộc chạy đua này nhưng cũng bị ảnh hưởng khá nhiều: phải tăng lãi suất theo xu hướng thị trường, tình trạng rút vốn ồ ạt và đổi sổ tiết kiệm… đã gây khá nhiều rắc rối và ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí và lợi nhuận của ngân hàng. Ngược lại, giai đoạn cuối năm 2025 và đầu năm 2026, tình hình thị trường lãi suất lại diễn biến theo chiều ngược lại. Lãi suất huy động của khối các ngân hàng cổ phần liên tục giảm và sát với thậm chí là thấp hơn khối ngân hàng quốc doanh. Việc cạnh tranh lãi suất có hiệu quả hay không còn phụ thuộc vào từng thời điểm. Như vậy ngân hàng phải có những phản ứng linh hoạt trước diễn biến thị trường để có thể định ra một tỷ lệ lãi suất phù hợp nhất. Khóa luận: Thực trạng phát triển dịch vụ của Ngân hàng Agribank.

Về mặt phí dịch vụ, tỷ trọng trong thu nhập của ngân hàng ngày càng tăng. Việc xác định giá dịch vụ sao cho phù hợp còn tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố. Nhưng đối với sản phẩm dịch vụ ngân hàng mới triển khai, có thể mức phí đưa ra chỉ đủ hoà vốn hoặc thậm chí là lỗ. Ví dụ như phí ATM ở giai đoạn đầu bằng 0 nhưng khi ngân hàng đã chiếm lĩnh được một thị phần đáng kể ngân hàng có thể tăng mức phí đến một tỷ lệ phù hợp.

Mặt khác, lãi suất và phí còn là tín hiệu phản ánh tình hình biến động của thị trường. Nó có thể là một thông số qua đó ngân hàng có thể nắm bắt khả năng thanh toán của khách hàng cũng như khả năng cạnh tranh của các đối thủ trên thương trường.

4. Môi trường pháp lý và hệ thống quản lý của nhà nước đối với hoạt động dịch vụ ngân hàng.

Khung pháp lý không ngừng được đổi mới và hoàn thiện theo hướng nới lỏng kiểm soát thương mại dịch vụ, kể cả dịch vụ ngân hàng và thị trường tài chính. Luật các tổ chức tín dụng sửa đổi bổ sung năm 2021, Luật công cụ chuyển nhượng, luật chứng khoán, luật giao dịch điện tử, pháp lệnh Ngoại hối mới, nghị định về giao dịch điện tử trong hoạt động ngân hàng…đã được Quốc hội và Chính phủ ban hành. Đặc biệt Luật Ngân hàng Nhà nước được ban hành từ năm 1997 và Luật các tổ chức tín dụng năm 1997 sau hơn 10 năm đã có những điểm không còn phù hợp với xu hướng hội nhập hiện nay. Chính vì vậy, Quốc hội đang trong quá trình dự thảo và hoàn thiện hai luật này. Cùng với đó, Luật Doanh Nghiệp và Luật Đầu Tư có hiệu lực 1/7/2023…đã tạo ra khung pháp lý cơ bản, là nền tảng hình thành nên hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động của các tổ chức tín dụng. Các văn bản này sẽ tạo hành lang pháp lý cơ sở để ngân hàng triển khai các dịch vụ ngân hàng cũng như hỗ trợ khách hàng trong trường hợp phát sinh tranh chấp với ngân hàng. Hệ thống chính sách và pháp luật tiếp tục có những điều chỉnh phù hợp với các yêu cầu thực hiện cam kết trong khuôn khổ WTO và yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường.

5. Mở cửa và hội nhập trong lĩnh vực tài chính ngân hàng. Khóa luận: Thực trạng phát triển dịch vụ của Ngân hàng Agribank.

Thực hiện đường lối và chủ trương của Đảng và Nhà nước, trong những năm qua Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong việc hội nhập kinh tế quốc tế thông qua mở rộng mạnh mẽ quan hệ kinh tế song phương và đa phương; phát triển quan hệ đầu tư với gần 70 quốc gia và vùng lãnh thổ; bình thường hoá quan hệ với các tổ chức tài chính – tiền tệ quốc tế như Ngân hàng thế giới (WB), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB), gia nhập hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) và khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), kí hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Hoa Kỳ… và đặc biệt là sự kiện Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức Thương mại thế giới (WTO) vào ngày 7/11/2023.

Việc hội nhập trong lĩnh vực tài chính ngân hàng mang lại nhiều cơ hội, thúc đẩy công cuộc đổi mới và cải cách, nâng cao năng lực quản lý và điều hành, tranh thủ vốn và công nghệ… nhưng đồng thời ngân hàng cũng phải đối mặt với một sự cạnh tranh ngày càng gay gắt và khốc liệt hơn từ phía khối ngân hàng ngoại.

Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn trong thời gian vừa qua được coi là ngân hàng hàng đầu tại Việt Nam trong việc tiếp nhận triển khai các dự án nước ngoài, đặc biệt là các dự án của WB, ADB, AFD. Và qua đó cũng nhận được sự hỗ trợ rất nhiều trong việc cải tiến công nghệ ngân hàng, đào tạo các kĩ năng quản lý, quản trị ngân hàng.

IV. Đánh giá tình hình cung cấp sản phẩm dịch vụ của NHNo&PTNT chi nhánh Hà Tây. Khóa luận: Thực trạng phát triển dịch vụ của Ngân hàng Agribank.

1. Những thành tựu đạt được.

Dưới áp lực cạnh tranh từ các ngân hàng và các quỹ tín dụng trên địa bàn, từ sự hiểu biết nhu cầu ngày càng cao của khách hàng, cũng như sự phát triển công nghệ hiện đại, trong những năm vừa qua ngân hàng có những bước phát triển đáng kể trong việc phát triển sản phẩm dịch vụ. Từ những phân tích ở trên, có thể đánh giá những kết quả đạt được của NHNo&PTNT trong việc cung cấp sản phẩm dịch vụ như sau:

Thứ nhất, ngân hàng ngày càng tập trung, nâng cao chất lượng và đa dạng các sản phẩm dịch vụ truyền thống. Các sản phẩm dịch vụ truyền thống ngày càng được hoàn thiện giúp cho khách hàng ngày càng thuận tiện trong giao dịch với ngân hàng, giảm thiểu rủi ro và chi phí cho cả ngân hàng và khách hàng. Song song với đó là việc đa dạng hoá các sản phẩm dịch vụ truyền thống phù hợp với từng đối tượng sử dụng dịch vụ khách hàng, tăng khả năng tiếp cận và quyền lựa chọn dịch vụ ngân hàng của mọi đối tượng khách hàng.

Thứ hai, ngân hàng bắt đầu quan tâm và tập trung khai thác thị trường sản phẩm dịch vụ hiện đại. Thông qua việc đẩy mạnh hiện đại hoá, ứng dụng công nghệ vào hoạt động kinh doanh, ngân hàng đã phát triển những sản phẩm dịch vụ mới và hiện đại đa tiện ích như: ATM, mobile banking…Các sản phẩm mới đã được triển khai đến các chi nhánh loại 3 và các phòng giao dịch trực thuộc của ngân hàng như: huy động tiền gửi tiết kiệm bằng vàng, tiết kiệm có kỳ hạn lãi suất bậc thang, cho vay mua điện thoại không dây Viettel, cho vay hỗ trợ lãi suất doanh nghiệp, thu phí bảo hiểm Prudential (hợp tác với ABIC chuẩn bị triển khai), phát hành thẻ quốc tế Visa, sản phẩm dịch vụ thấu chi trên tài khoản cá nhân. Cùng với các sản phẩm mới là các tiện ích mà ngân hàng đem lại như gửi tiền một nơi rút tiền nhiều nơi, mô hình giao dịch một cửa, kéo dài thời gian giao dịch ngoài giờ…Với sự phát triển của các dịch vụ ngân hàng mới, hiện đại, ngân hàng cũng đã thu hút được thêm một số lượng lớn khách hàng, củng cố hình ảnh và thương hiệu của ngân hàng trong bộ phận tầng lớp dân cư.

Thứ ba, hạ tầng cơ sở hiện đại đựơc quan tâm đầu tư, ứng dụng công nghệ vào hoạt động ngân hàng. Đây là nền tảng để ngân hàng cải tiến những sản phẩm dịch vụ truyền thống và cung cấp thành công các dịch vụ ngân hàng hiện đại. Hiện nay, chi nhánh đã hoàn thành giai đoạn II việc triển khai chương trình hiện đại hoá hệ thống thanh toán và kế toán ngân hàng đến chi nhánh loại 3 và phòng giao dịch trực thuộc. Đây là một hệ thống giúp khách hàng chỉ phải giao dịch qua một cửa tại ngân hàng, tiết kiệm thời gian và chi phí. Hệ thống có thể tích hợp toàn bộ các nghiệp vụ ngân hàng trong một hệ thống đồng nhất nên nó có khả năng vừa cung cấp các sản phẩm dịch vụ truyền thống, vừa đưa ra các sản phẩm dịch vụ mới của ngân hàng hiện đại. IPCAS cho phép giao dịch 24/24h, vì vậy khách hàng có thể thực hiện giao dịch thẻ với ngân hàng tại bất cứ thời điểm nào trong ngày. Mặt khác còn giúp cho việc quản lý và điều hành của ngan hàng trở nên trôi chảy, dễ dàng hơn, phù hợp với chuẩn mực và thông lệ quốc tế.

Trong thời gian qua, ngân hàng đã có những cải thiện đáng kể về năng lực tài chính, quản trị điều hành, cơ cấu tổ chức và mạng lưới kênh phân phối góp phần đáp ứng ngày càng tốt hơn trong việc phát triển sản phẩm dịch vụ của ngân hàng.

2. Những tồn tại và nguyên nhân. Khóa luận: Thực trạng phát triển dịch vụ của Ngân hàng Agribank.

2.1. Những tồn tại.

Thứ nhất là dịch vụ ngân hàng đã có những bước phát triển nhưng thiếu tính đồng bộ, tính cạnh tranh chưa cao, chủ yếu mới là mở rộng mạng lưới, cạnh tranh bằng giá. Cạnh tranh bằng chất lượng dịch vụ, công nghệ và thương hiệu chưa được phát huy một cách hiệu quả thực sự. Ví dụ như dịch vụ thẻ ATM của ngân hàng mới đang trong quá trình kết nối thanh toán với các ngân hàng trong hệ thống liên minh thẻ Banknetvn và Smartlinhk. Tính đến cuối năm 2025, mới kết nối thành công với 13 ngân hàng trong hệ thống thẻ hợp nhất này. Vì thế, vừa gây tăng chi phí, vừa hạn chế việc đáp ứng các nhu cầu về thẻ một cách dễ dàng và đa tiện ích trong dân cư. Rất nhiều sản phẩm dịch vụ của ngân hàng triển khai như mobile banking, dịch vụ tài khoản, séc, tín dụng cầm cố, quản lý tài sản, tín dụng tiêu dùng… nhưng thiếu sự liên kết hợp tác đã làm giảm phần nào hiệu quả kinh doanh của ngân hàng.

Thứ hai, trong những năm gần đây, ngân hàng tích cực đưa ra thị trường những sản phẩm dịch vụ mới, hiện đại và tiện dụng hơn. Tuy nhiên, những sản phẩm này nhìn chung còn khá đơn điệu, chưa thực sự phát triển và chất lượng chưa cao, chưa thu hút được khách hàng sử dụng. Hệ thống sản phẩm dịch vụ vẫn còn mang nặng tính truyền thống, nghèo nàn về chủng loại, đặc biệt là tiện ích của một số dịch vụ chưa cao.

Dịch vụ hiện nay được xem là phát triển nhất hiện nay là dịch vụ thẻ cũng mới chỉ cung cấp chủ yếu những dịch vụ cơ bản nhất là rút tiền, xem sao kê,…Việc thanh toán tại các điểm chấp nhận thẻ mới chỉ triển khai tại các quầy giao dịch của ngân hàng với số lượng hạn chế tại khoảng 60 điểm giao dịch. Chưa triển khai được các điểm chấp nhận thẻ để thanh toán mua hàng như các siêu thị, trung tâm thương mại, khách sạn, nhà hàng…Các giao dịch chuyển khoản thanh toán còn hạn chế, tổng số bút toán chuyển khoản mới khoảng 1.32% tổng số bút toán trên máy ATM, giá trị giao dịch khoảng 2.54% tổng giá trị giao dịch trên máy ATM. Về thẻ quốc tế mới chỉ triển khai phát hành thẻ quốc tế Visa tuy nhiên số lượng thẻ còn khiêm tốn, chưa phát thẻ Master mà mới chỉ bắt đầu chấp nhận thanh toán thẻ Master, còn các thông dụng khác trên thế giới như American Express, Diners Club và JCB vẫn chưa được chấp nhận thanh toán. Khóa luận: Thực trạng phát triển dịch vụ của Ngân hàng Agribank.

Các sản phẩm dịch vụ ngân hàng điện tử mới đang triển khai các sản phẩm mobile banking nhưng mới chỉ nhằm phục vụ cung cấp biến động số dư tài khoản, truy vấn số dư, liệt kê 5 giao dịch gần nhất, chuyển khoản trong cùng hệ thống ngân hàng nông nghiệp, thanh toán hoá đơn cho thuê bao di động trả sau, mua hàng qua ví điện tử, nạp tiền cho thuê bao di động trả trước. Tuy nhiên, số lượng khách hàng đăng kí sử dụng mới khoảng trên 600 khách hàng, quá khiêm tốn so với số lượng dân đông đảo tại địa bàn. Các dịch vụ mobile banking chưa thực sự hữu hiệu trong hoạt động thanh toán, chuyển khoản cũng mới chỉ dừng lại ở việc chuyển khoản trong cùng hệ thống. Chưa phát triển các sản phẩm dịch vụ tiện ích khác của ngân hàng điện tử như internet banking, home banking,…

Các sản phẩm dịch vụ khác như dịch vụ ngân hàng bảo hiểm, ngân quỹ, bảo quản tài sản, thanh toán quốc tế và kinh doanh ngoại tệ…vẫn còn khá đơn giản và chưa thực sự chiếm ưu thế.

Thứ ba, doanh thu từ các sản phẩm ngoài tín dụng còn hạn chế.

  • Bảng 9: Doanh thu của NHNo&PTNT chi nhánh Hà Tây thành phố Hà Nội năm 2025.

Như vậy, dựa vào bảng trên ta thấy rằng doanh thu chủ yếu của ngân hàng vẫn phụ thuộc quá nhiều vào hoạt động tín dụng (chiếm 98.82%), chưa đa dạng hóa được nguồn thu và cũng cho thấy sản phẩm dịch vụ ngoài tín dụng của ngân hàng vẫn còn kém phát triển.

2.2. Nguyên nhân. Khóa luận: Thực trạng phát triển dịch vụ của Ngân hàng Agribank.

Thứ nhất là năng lực tài chính của ngân hàng còn hạn chế, thiếu vốn để khai thác sản phẩm dịch vụ. Mặc dù, ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam nói chung là ngân hàng có tiềm lực vốn mạnh nhất nhưng so với các chi nhánh và ngân hàng 100% vốn nước ngoài còn rất hạn chế. Mặt khác, việc hiện đại hoá ngân hàng đòi hỏi nhu cầu vốn rất lớn để đầu tư vào trang thiết bị, xây dựng hệ thống mạng, nghiên cứu phát triển hoặc mua các phần mềm ứng dụng…

Thứ hai, nền tảng công nghệ của ngân hàng còn hạn chế và khả năng ứng dụng công nghệ còn hạn chế. Năng lực tài chính của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam và chi nhánh còn hạn chế không cho phép ngân hàng đầu tư nhiều vào phát triển công nghệ. Hiện tại hệ thống hiện đại hoá giao dịch thanh toán và kế toán ngân hàng (IPCAS) mới hoàn thành giai đoạn II. Trong năm 2025 chỉ có hội sở chi nhánh thực hiện giao dịch trên hệ thống IPCAS và cuối năm 2025 mới hoàn thành chuyển đổi sang chi nhánh loại 3, phòng giao dịch trực thuộc nên hạn chế việc triển khai sản phẩm dịch vụ hiện đại. Hiện nay đang bắt đầu triển khai giai đoạn tiếp theo.

Thứ ba, chưa có chiến lược Marketing cụ thể rõ ràng trong hoạt động phát triển sản phẩm dịch vụ, công tác marketing chưa thực sự được chú trọng, và còn thiếu đội ngũ chuyên nghiệp trong lĩnh vực marketing ngân hàng. Chính vì vậy, đối tượng chủ yếu sử dụng những sản phẩm dịch vụ hiện đại vẫn chủ yếu là tầng lớp công chức trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, du lịch,…Kênh phân phối không hiệu quả đa dạng, hiệu quả còn thấp, phương thức giao dịch chủ yếu là tiếp xúc trực tiếp qua quầy mặc dù kênh phân phối điện tử đang trên đà phát triển nhưng mới ở giai đoạn đầu, chưa thực sự phát triển.

Chính sách khách hàng còn kém hiệu quả chưa đáp ứng căn bản nhu cầu về dịch vụ ngân hàng của các nhóm đối tượng khác nhau. Đối tượng có thu nhập thấp, người nghèo và đối tượng không có tài sản đảm bảo vẫn khó tiếp cận nguồn vốn tín dụng của ngân hàng, trong khi đó đối tượng người dân có thu nhập cao lại chưa được thực sự thoả mãn về các nhu cầu dịch vụ ngày càng cao. Chất lượng dịch vụ chưa cao, phong cách phục vụ khách hàng chưa thực sự chuyên nghiệp, tốc độ xử lý yêu cầu của khách hàng chưa nhanh và chức năng tư vấn khách hàng chưa được chú trọng. Một số quy trình nghiệp vụ còn nặng về đảm bảo an toàn cho ngân hàng mà chưa thực sự thuận tiện cho khách hàng.

Thứ tư, trình độ nguồn nhân lực của ngân hàng vẫn còn hạn chế, chưa đáp ứng tốt được yêu cầu khi cung ứng các sản phẩm dịch vụ mới. Cán bộ quản trị chưa được đào tạo bài bản về quản trị ngân hàng mà chủ yếu là lựa chọn qua thực tiễn hoạt động kinh doanh. Vì vậy, khả năng quản trị trong thời buổi hội nhập cạnh tranh gay gắt như hiện nay còn hạn chế, tầm nhìn chiến lược trong việc phát triển các sản phẩm dịch vụ mới còn hạn chế nên dẫn đến quá trình triển khai còn chậm chạp. Đội ngũ nhân lực triển khai chưa đáp ứng được với yêu cầu sử dụng trên nền công nghệ mới, việc đào tạo gặp nhiều khó khăn do thói quen làm việc truyền thống như trước đây. Nguồn nhân lực cho các lĩnh vực kinh doanh mới của ngân hàng còn thiếu cả về số lượng lẫn chất lượng như kinh doanh bảo hiểm, chứng khoán, đầu tư, tư vấn,… Khóa luận: Thực trạng phát triển dịch vụ của Ngân hàng Agribank.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>> Khóa luận: Giải pháp phát triển sản phẩm dịch vụ NH Agribank

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

1 Bình luận
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
trackback

[…] ===>> Khóa luận: Thực trạng phát triển dịch vụ của Ngân hàng Agribank […]

Contact Me on Zalo
0877682993
1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x