Khóa luận: Thực tiễn các doanh nghiệp chống bán phá giá của mỹ

Rate this post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Thực tiễn các doanh nghiệp chống bán phá giá của mỹ hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Khóa luận: Thực tiễn các doanh nghiệp chống bán phá giá của mỹ dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

1. Tổng quan thực trạng bán phá giá vào thị trường Mỹ

Trong vòng 50 năm qua , Hoa Kỳ đã liên kết các quốc gia trên thế giới lại với nhau thông qua các hiệp định tự do hoá thương mại với mục đích giảm bớt các hàng rào thuế quan và phi thuế quan. Đồng thời với việc nghiêm cấm các hình thức phân biệt đối xử trong thương mại, các hiệp định này cũng thừa nhận luật chống bán phá giá như một công cụ cho phép ngăn chặn các hành vi gian lận thương mại gây tổn hại cho nền kinh tế của một quốc gia.

Do kết quả của việc giảm dần các hàng rào thương mại, thuế chống bán phá giá đã nhanh chóng trở thành một công cụ đắc lực được các nhà sản xuất Mỹ tận dụng để giảm bớt áp lực từ hàng hoá nhập khẩu. Các vụ kiện bán phá giá đã tăng lên rất nhanh và xuất hiện ở tất cả các mặt hàng từ các sản phẩm nông nghiệp như hoa, hải sản, mật ong tới các sản phẩm vật liệu như thép, và thậm chí là cả các sản phẩm công nghệ cao như máy tính và chip bán dẫn.

Sức mạnh của luật chống bán phá giá nằm ở chỗ : Chính quyền Mỹ có thể áp dụng một mức thuế lên đến trên 400%. Trong nhiều trường hợp, mức thuế có thể đủ cao để đẩy các công ty nước ngoài ra khỏi thị trường Mỹ. Ngoài ra, mức thuế chống bán phá giá còn có thể kéo dài tới 20 năm, tạo thành một hàng rào “bền vững” đối với một sản phẩm được nhập khẩu từ một nước nhất định.

Xét một cách công bằng thì luật chống bán phá giá chỉ có được sức mạnh kể từ khi Luật Thương mại 1979 ra đời. Luật Thương mại 1979 đã tạo ra một số thay đổi trong Luật chống bán phá giá 1921, hay còn gọi là Chương VII Luật Thuế quan 1930. Những thay đổi này có hiệu lực từ ngày 1/1/1980. Một trong số những thay đổi đó là sự chuyển đổi thẩm quyền từ Cục Ngân khố Mỹ sang Bộ Thương mại Hoa Kỳ (DOC) và Uỷ ban Thương mại Quốc tế Hoa Kỳ ( USITC). Như vậy, sức mạnh hiện nay của Luật chống bán phá giá chỉ có được từ ngày 1/1/1980. Đây là lý do để chúng ta xem xét  và tổng kết các vụ kiện bán phá giá trong giai đoạn 1980-2001.

Có thể bạn quan tâm đến dịch vụ:

===>>> Bảng Giá Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Luật

1.1 Thống kê các vụ bán phá giá trong giai đoạn 1980-2001

Trong giai đoạn 1980-2001, Bộ Thương mại Hoa Kỳ (DOC) và Uỷ ban Thương mại Quốc tế Hoa Kỳ (USITC) đã nhận được 988 vụ kiện bán phá giá với tổng trị giá hàng nhập khẩu thuộc diện điều tra là 58 tỉ USD.

Biểu đồ 1. Thống kê các vụ kiện Bán phá giá trong giai đoạn 1980-2001

Trong số 988 vụ kiện này, bên nguyên đơn tức là các nhà sản xuất Mỹ đã giành thắng lợi được 42%( 42% số vụ kiện kết thúc bằng việc DOC đưa ra một mức thuế chống bán phá giá); 38% số vụ kiện nhận được phán quyết của USITC là: không gây thiệt hại cho ngành sản xuất Mỹ; 20% còn lại là do DOC hoãn điều tra hoặc không tìm thấy hành vi bán phá giá. Nếu tính theo giá trị hàng nhập khẩu thuộc diện điều tra thì các con số tương ứng là 54%; 32.5%; 13.5% (tức là có 54% giá trị hàng nhập khẩu thuộc diện điều tra phải chịu thuế chống bán phá giá). Cụ thể, trong giai đoạn từ năm 1980 đến 1990, các nhà sản xuất Mỹ đã đệ trình khoảng 500 đơn kiện lên DOC và USITC. Một nửa trong số này đã nhận được một mức thuế chống bán phá giá. Mức thuế trung bình trong giai đoạn này là vào khoảng 30 đến 40%. Theo các số liệu thống kê, sự suy giảm trong khả năng tận dụng năng lực sản xuất đi kèm với việc tăng lượng hàng nhập khẩu là nguyên nhân chính dẫn đến việc ngày càng có nhiều vụ kiện nhận được một mức thuế chống bán phá giá. Khóa luận: Thực tiễn các doanh nghiệp chống bán phá giá của mỹ.

Bảng 1. Kết quả của các vụ kiện bán phá giá vào thị trường Mỹ Giai đoạn 1980-2001

Trong thập niên 90 và những năm đầu của thiên niên kỷ mới, “ chống bán phá giá bằng  việc áp dụng thuế” vẫn là một cách bảo hộ được các nhà sản xuất Mỹ ưa thích. Ví dụ như  riêng trong năm 1992 đã có 89 vụ kiện bán phá giá. Và tính cho đến năm 2001, đã có đến 550 mức thuế chống bán phá giá được thực thi.

Biểu đồ 2. Kết quả xử lý các vụ kiện trong Giai đoạn 1980-2001

Một đặc điểm khác đó là xu hướng ngày càng tăng của tỉ lệ bán phá giá (dumping margins) mà DOC phát hiện ra. Xu hướng tăng này là khá ổn định với tỉ lệ tăng trung bình là 2.5%/năm, đưa tỉ lệ bán phá giá bình quân từ mức 15.5% trong những năm đầu của thập niên 80 lên mức 63% tính đến năm 2001. Tuy nhiên, tỉ lệ tăng trong 10 năm đầu là cao hơn so với 10 năm tiếp theo, dù vậy xu hướng tăng lên vẫn là xu hướng chính có thể thấy trong giai đoạn này.

Biểu đồ 4 biểu diễn tỉ lệ các vụ kiện nhận được phán quyết “gây thiệt hại vật chất” của USITC. Cũng tương tự như trong biểu đồ 3, ta có thể thấy một xu hướng tăng lên của số lượng phán quyết “gây thiệt hại vật chất”, tức là tỉ lệ các phán quyết “gây thiệt hại vật chất” so với số lượng các vụ kiện ngày càng cao, từ mức 45% vào đầu những năm 80 tăng lên đến mức 62% tính đến năm 2001.

Biểu đồ 3.Xu hướng của “tỉ lệ bán phá giá”(dumping margins) Giai đoạn 1980-2001

Biểu đồ 4. Tỉ lệ các phán quyết “Có thiệt hại vật chất” Giai đoạn 1980-2001

Kết hợp hai xu hướng này lại cho thấy một xu hướng tăng lên của mức thuế chống bán phá giá (tỉ lệ bán phá giá nhân với tỉ lệ phán quyết “gây thiệt hại vật chất”), từ mức 5% lên 30% cho mỗi công ty bị kiện bán phá giá.

Có một số lý do có thể giải thích cho xu hướng này. Thứ nhất, những thay đổi về mặt pháp lý đã làm thay đổi đáng kể những quy định mà Bộ Thương mại Hoa Kỳ (DOC) và Uỷ ban Thương mại Quốc tế Hoa Kỳ (USITC) phải tuân thủ trong quá trình đưa ra phán quyết của mình. Thứ hai, cơ cấu các công ty và các sản phẩm thuộc diện điều tra thay đổi theo chiều hướng liên quan đến các hành vi bán phá giá nhiều hơn. Cuối cùng, đó là sự tuỳ ý của các cơ quan pháp luật Mỹ trong việc sử dụng các phương pháp có khả năng phát hiện ra hành vi bán phá giá cao hơn. Khóa luận: Thực tiễn các doanh nghiệp chống bán phá giá của mỹ.

Tuy nhiên, theo một nghiên cứu phát hành vào tháng 4/2003 của Bruce A. Blonigen thuộc trường Đại học Tổng hợp Oregon và Cục Nghiên cứu Kinh tế Quốc gia (NBER), xu hướng tăng lên của mức bán phá giá cơ bản là do sự linh động ngày càng cao trong cách xác định mức bán phá giá của DOC. Điều này có nghĩa là sự tăng lên của mức bán phá giá chủ yếu là do tác động của nguyên nhân thứ ba, còn tác động của hai nguyên nhân đầu là rất ít hoặc không đáng kể. Cụ thể, việc DOC sử dụng phương pháp “Dữ liệu sẵn có”, thẩm tra chi phí sản xuất và việc sử dụng dữ liệu về chi phí để xây dựng giá trị thông thường bị quy là nguyên nhân chính làm tăng đáng kể mức bán phá giá. Một điểm quan trọng là xu hướng tăng lên của mức bán phá giá không chỉ do việc DOC ngày càng áp dụng biện pháp trên nhiều hơn (phát triển theo chiều rộng), mà còn do sự thay đổi trong việc áp dụng các biện pháp này. Điều này có nghĩa là sự thay đổi trên dẫn đến kết quả : ngày càng tìm thấy mức bán phá giá cao hơn (phát triển theo chiều sâu). Trong khi việc thực hiện Hiệp định đạt được tại vòng đàm phán Uruguay 1995 (cụ thể là Hiệp định chống bán phá giá) đã làm mức bán phá giá trung bình mà DOC phát hiện được giảm 20%, thì sự phát triển theo chiều rộng và chiều sâu nói trên đã giúp bù lại những ảnh hưởng của Vòng đàm phán Uruguay tính cho đến năm 2001.

Một khía cạnh khác cũng cần xét đến là các mục tiêu của luật chống bán phá giá Mỹ. Về cơ bản, có bốn đặc điểm để hình thành một mục tiêu của luật chống bán phá giá. Thứ nhất, đó là các công ty xuất khẩu có mức giá quá cạnh tranh bởi đơn giản giá cả chính là nguyên nhân để kiện bán phá giá. Hơn nữa, chính mức giá là yếu tố tạo nên sự cạnh tranh giữa nhà xuất khẩu và nhà sản xuất nội địa Mỹ. Mức giá càng cạnh tranh thì động lực để các nhà sản xuất Mỹ đệ đơn kiện bán phá giá càng cao. Thứ hai, đó là các công ty xuất khẩu chiếm một thị phần đáng kể trên thị trường Mỹ. Sở dĩ có đặc điểm này là bởi lẽ, chỉ có các công ty chiếm thị phần lớn mới tạo đủ sự đe doạ đối với khả năng sinh lời của các đối thủ nội địa Mỹ. Thứ ba, thị phần của các công ty xuất khẩu này là khá ổn định bởi nếu không các đối thủ Mỹ sẽ dễ dàng chiếm được thị phần mà không cần viện đến luật chống bán phá giá. Và cuối cùng, thị trường Mỹ là thị trường chủ chốt, nếu không muốn nói là thị trường duy nhất, của các công ty xuất khẩu trên (Tuy nhiên, trên thực tế, không phải chỉ có các công ty có cả bốn đặc điểm trên mới trở thành mục tiêu của các vụ kiện bán phá giá. Nhưng chí ít chúng ta cũng có thể tìm thấy một trong bốn đặc điểm trên trong các bị đơn của các vụ kiện bán phá giá)

Với các đặc điểm trên ta dễ dàng nhận thấy 5 đối tác thương mại lớn nhất của Mỹ tính theo giá trị nhập khẩu là Canada (16.9% tổng giá trị nhập khẩu của Mỹ) Trung Quốc (10.9% tổng giá trị nhập khẩu của Mỹ), Mexico (10.2% tổng giá trị nhập khẩu của Mỹ), Nhật Bản (8.79% tổng giá trị nhập khẩu của Mỹ), và Đức (5% tổng giá trị nhập khẩu của Mỹ)[1]. Trong số 5 nguồn nhập khẩu lớn nhất này, mức tăng trưởng hàng nhập khẩu từ Trung Quốc trong thập niên 90 là lớn nhất, gần gấp 3 lần mức tăng trưởng bình quân kim ngạch nhập khẩu cùng kỳ của Mỹ. Trong số 4 quốc gia còn lại, nổi lên Mexico và Canada bởi 65% kim ngạch xuất khẩu của Mexico và 61% kim ngạch xuất khẩu của Canada là sang thị trường Mỹ. Với Nhật Bản và Đức, con số tương ứng là 24% và 6%. Khóa luận: Thực tiễn các doanh nghiệp chống bán phá giá của mỹ.

Tóm lại, đây sẽ là 5 mục tiêu lớn nhất của luật chống bán phá giá Mỹ.

Biểu đồ 5. 10 quốc gia bị kiện bán phá giá nhiều nhất Giai đoạn 1980-2001

1.2 Thực trạng xử lý các vụ bán phá giá vào thị trường Mỹ

Một vấn đề liên quan đến việc số lượng các vụ kiện bán phá giá và mức bán phá giá phát hiện được ngày càng tăng là việc DOC xử lý các vụ kiện như thế nào.

Kể từ năm 1979, chính quyền Mỹ đã rất nỗ lực trong việc sửa đổi luật chống bán phá giá do nhận thức được tầm quan trọng ngày càng lớn của bộ luật này. Phần lớn các thay đổi liên quan đến luật chống bán phá giá (kể cả những thay đổi về mặt quản lý) đều nhằm mục đích tạo điều kiện cho việc đệ đơn kiện và phát hiện hành vi bán phá giá. Có lẽ chính điều này đã khiến cho việc thi hành luật ngày càng xa rời mục tiêu mà chính bản thân bộ luật này đưa ra, đó là ngăn chặn các hành vi gian lận về giá, tạo ra một thị trường cạnh tranh bình đẳng. Thay vào đó, bộ luật chống bán phá giá của Mỹ ngày càng mang tính chất của một công cụ bảo hộ nền công nghiệp Mỹ.

 Với 5 phương pháp xác định hành vi bán phá giá, DOC có toàn quyền lựa chọn phương pháp thích hợp nhất cho từng vụ kiện và cũng có thể kết hợp cùng một lúc nhiều phương pháp nếu cần thiết. Tuy nhiên, việc áp dụng các phương pháp này vào thực tế đã không thể hiện được đúng tính chất của từng phương pháp như quy định trong Luật. Cụ thể, Bộ luật chống bán phá giá hiện nay dường như không có đủ khả năng để nhận biết chính xác các hành vi phân biệt về giá (áp dụng một mức giá ở Mỹ thấp hơn ở thị trường nội địa) hoặc việc bán hàng ở mức giá thấp hơn mức chi phí. Trong số 5 phương pháp mà DOC sử dụng, chỉ có phương pháp so sánh giữa giá nhập khẩu vào thị trường Mỹ với giá của thị trường nước xuất khẩu là tương đối xác định được sự khác biệt về giá. Khóa luận: Thực tiễn các doanh nghiệp chống bán phá giá của mỹ.

Điều này có thể được thể hiện qua các phán quyết mà DOC đưa ra trong giai đoạn từ 1/1/1995 đến 31/12/2001, tức là từ khi các hiệp định của vòng đàm phán Uruguay có hiệu lực cho đến hết năm 2001. Trong giai đoạn này, DOC đã đưa ra 364 phán quyết, trong đó số lượng phán quyết “Có hành vi bán phá giá” là 276 với tỉ lệ bán phá giá trung bình là 58.79%. Vấn đề nổi lên trong các phán quyết này là : có rất ít phán quyết hướng được đến mục tiêu xác định hành vi phân biệt giá. Trong số 364 phán quyết, chỉ có 10 phán quyết được dựa hoàn toàn trên cơ sở so sánh giữa giá nhập khẩu vào thị trường Mỹ với giá của thị trường nước xuất khẩu. Hơn thế, 5 trong số 10 phán quyết này là : Không có hành vi bán phá giá. Điều này có nghĩa là DOC, bằng phương pháp so sánh giá nhập khẩu vào thị trường Mỹ với giá của thị trường nước xuất khẩu, chỉ phát hiện ra 5 hành vi bán phá giá trong tổng số 364 cuộc điều tra.

Ngoài ra, như đã nói ở trên, DOC ngày càng thiên về sử dụng các phương pháp giúp phát hiện hành vi bán phá giá như “Dữ liệu sẵn có”, “Giá dự tính”. Cụ thể, trong số 364 phán quyết, 93 phán quyết là dựa trên các thông tin sẵn có (phương pháp 5); 121 phán quyết dựa trên phương pháp: Giá trị thông thường = Giá của nền kinh tế phi thị trường (phương pháp 4). Trong 52 phán quyết, DOC đã sử dụng giá dự tính (phương pháp 3) do không tìm thấy thị trường so sánh tương ứng hoặc sản phẩm tương tự không được bán tại thị trường so sánh. Trong 85 phán quyết, DOC kết hợp giữa giá dự tính với giá của nước xuất khẩu hoặc giá của nước thứ ba do có đến hơn 20% các sản phẩm so sánh được bán ở mức giá thấp hơn mức chi phí.

 Trong 80 phán quyết khác, DOC dựa một phần vào việc so sánh giữa giá nhập khẩu vào thị trường Mỹ với giá của thị trường nước xuất khẩu. Tuy nhiên, trong các phán quyết này, DOC thường nghiêng về hướng chỉ sử dụng giá dự tính thay cho dữ liệu thực tế hoặc loại bỏ các khoản doanh thu phát sinh từ mức giá thấp hơn mức chi phí. Trong các vụ kiện sử dụng kiểu phương pháp hỗn hợp này, DOC phát hiện ra 65 hành vi bán phá giá. Tuy nhiên, khó mà xác định được rằng trong số 65 hành vi bán phá giá trên, có bao nhiêu hành vi là biểu hiện của sự phân biệt về giá; còn có bao nhiêu hành vi chỉ là sự phóng đại của kiểu phương pháp hỗn hợp trên ? Thật dễ hiểu khi có những nghi ngờ này bởi các phương pháp hỗn hợp có xu hướng làm tăng mức bán phá giá lên cao hơn so với kết quả có được từ việc so sánh thông thường. Việc chỉ sử dụng các khoản doanh thu phát sinh từ mức giá cao hơn mức chi phí để so sánh với giá nhập khẩu vào thị trường Mỹ luôn phóng đại mức bán phá giá, do các mức giá thấp nhất thu được tại thị trường nước xuất khẩu đã bị loại ra khỏi quá trình so sánh. Chúng ta có thể nhận biết được sự phóng đại này thông qua một phán quyết sau : Cuộc điều tra được tiến hành đối với sản phẩm bán dẫn SRAM của Đài Loan,sử dụng cho máy vi tính. Công ty thuộc diện điều tra là một công ty của Mỹ Integrated Silicon Solution, Inc (ISSI) [2]. ISSI bị một công ty cũng của Mỹ là Micron, Inc kiện vì nhập khẩu sản phẩm bán dẫn của Đài Loan ở mức giá thấp hơn mức hợp lý (LTFV). Trong quá trình tính toán mức bán phá giá, DOC sử dụng phương pháp 1: xác định giá trị thông thường = giá tại thị trường nước xuất khẩu (Đài Loan) và đã loại bỏ các khoản doanh thu phát sinh từ mức giá thấp hơn mức chi phí ra khỏi giá trị thông thường. Kết quả là DOC phát hiện ra hành vi bán phá giá ở mức 7.56%. Trong khi đó, nếu không loại bỏ các khoản doanh thu nói trên, kết quả sẽ giảm chỉ còn 1/3, tức là 2.74%. Khóa luận: Thực tiễn các doanh nghiệp chống bán phá giá của mỹ.

Ngoài  ra, trong số 258 cuộc điều tra, DOC đã hoàn toàn hoặc một phần dựa vào phương pháp phân tích theo chi phí, nghĩa là DOC sử dụng các mức chi phí thu thập được để xây dựng nên giá trị thông thường( phương pháp “giá dự tính” và phương pháp “giá của nền kinh tế phi thị trường”). Hiển nhiên là việc sử dụng dữ liệu về chi phí để xây dựng giá trị thông thường sẽ không thể chỉ rõ hành vi phân biệt về giá do mức “giá trị thông thường” xác định được không hề có liên quan đến các dữ liệu về giá. Một vấn đề khác trong phương pháp xây dựng giá trị thông thường dựa trên các mức chi phí là : tỉ lệ lãi suất mà DOC áp dụng thường cao hơn mức bình thường. Chính điều này sẽ làm tăng khả năng phát hiện hành vi bán phá giá (Bảng 1).

Ngay cả khi DOC sử dụng các mức tỉ lệ lợi nhuận hợp lý thì phương pháp so sánh giá của từng sản phẩm cụ thể với tỉ lệ lợi nhuận trung bình của cả ngành cũng có xu hướng tạo ra mức bán phá giá cao hơn. Chúng ta có thể đưa ra một ví dụ : Giả sử DOC xác định tỉ lệ lợi nhuận hợp lý của một ngành sản xuất là 5%. Nhà sản xuất nước ngoài sản xuất 3 mẫu sản phẩm khác nhau A, B, C. Ba sản phẩm A, B, C đều cùng một dòng sản phẩm và nhà sản xuất nước ngoài thu được cùng một mức doanh số đối với 3 sản phẩm trên. Tuy nhiên, mức lợi nhuận mà nhà sản xuất nước ngoài thu được từ 3 sản phẩm là không giống nhau và lần lượt là 1%, 4%, 10%. Như vậy mức lợi nhuận trung bình mà nhà sản xuất nước ngoài thu được là 5%, tương đương với mức mà DOC đưa ra. Tuy nhiên, DOC lại xác định hành vi bán phá giá theo từng mẫu riêng biệt và coi các mức bán phá giá âm bằng 0 (phương pháp làm tròn- zeroing). Kết quả là, Mẫu A và B bị coi là bán phá giá.

Bảng 2. Số lượng các phán quyết theo từng phương pháp Giai đoạn 1980-2001

Chúng ta có thể thấy rằng việc luật chống bán phá giá của Mỹ không có khả năng phân biệt rõ ràng các hành vi phân biệt về giá không làm cho bộ luật này bất lực trước việc xử lý các hành vi gian lận thương mại, mà ngược lại, còn phát hiện ra nhiều hành vi bán phá giá hơn do đã đánh đồng các hành vi gian lận với các hành vi thương mại bình thường khác.

Bảng 3. So sánh tỉ lệ lợi nhuận

Như vậy, qua một số nét sơ lược về thực trạng xử lý các vụ bán phá giá của Mỹ, có thể thấy rằng luật chống bán phá giá của Mỹ chưa thực hiện được đúng chức năng mà chính quyền Mỹ thường nói tới, đó là : loại bỏ những nhân tố “bóp méo” thị trường. Kết quả là, các phương pháp xác định hành vi bán phá giá đã không thể phân biệt chính xác giữa mức giá thương mại thông thường với mức giá “bóp méo” thị trường, dẫn đến việc trừng phạt cả những hành vi thương mại cạnh tranh thông thường, những hành vi thương mại có sự tham gia của các công ty Mỹ. Như vậy, không thể nói rằng : Luật chống bán phá giá đảm bảo một “sân chơi” công bằng cho các công ty Mỹ và các đối thủ nước ngoài. Ngược lại, luật chống bán phá giá còn chủ động tạo ra sự phân biệt giữa hàng hoá nước ngoài với hàng hoá của Mỹ bằng cách áp đặt các quy định mà các sản phẩm của Mỹ không phải chịu.

2. Những nhận xét về việc áp dụng luật chống bán phá giá của Mỹ Khóa luận: Thực tiễn các doanh nghiệp chống bán phá giá của mỹ.

2.1 Phản ứng của các quốc gia đối với luật chống bán phá giá của Mỹ

Với “lối chơi” không công bằng quen thuộc của mình, Mỹ đã vấp phải sự phản đối của rất nhiều quốc gia trên thế giới. Và luật chống bán phá giá cũng không nằm ngoài những đối tượng đó. Trong những năm gần đây, liên minh Châu Âu, Nhật Bản và một số quốc gia đang phát triển như Ấn Độ, Mexico đã kịch liệt lên tiếng phản đối bộ luật chống bán phá giá của Mỹ mà cụ thể là đạo luật chống bán phá giá 1916. Các nước này cho rằng đạo luật chống bán phá giá 1916 của Mỹ đã vi phạm một số quy định của WTO. Cụ thể, ngày 1/2/1999, liên minh Châu Âu đã đệ đơn kiện lên WTO rằng đạo luật chống bán phá giá 1916 đã vi phạm:

  • Khoản XVI: 4 của Hiệp định thành lập WTO tại Marrakesk.
  • Khoản VI: 1 và khoản VI:2 của GATT 1994 và khoản 1, 2.1, 2.2, 3, 4, và 5 của Hiệp định chống bán phá giá của WTO
  • Vào ngày 3/6/1999, Nhật Bản cũng đệ đơn kiện lên WTO rằng đạo luật chống bán phá giá 1916 đã vi phạm :
  • Khoản III: 4 của GATT 1994
  • Khoản VI của GATT 1994 và Hiệp định chống bán phá giá của WTO, cụ thể là Khoản VI: 2 của GATT 1994 và khoản 18.1 của Hiệp định chống bán phá giá của WTO cũng như Khoản 1, 2, 3, 4, 5, 9, và 11 của Hiệp định chống bán phá giá của WTO
  • Khoản XI của GATT 1994
  • Khoản XVI: 4 của Hiệp định thành lập WTO tại Marrakesh (sau đây gọi là Hiệp định WTO) và Khoản 18.4 của Hiệp định chống bán phá giá của WTO.
  • Sau khi xem xét đơn kiện, WTO đã thành lập ban điều tra và đã ra bản báo cáo vào ngày 31/3/2000 như sau:
  • Đạo luật chống bán phá giá của Mỹ đã vi phạm một số điều khoản về chống bán phá giá của WTO, cụ thể :

Các yêu cầu về gây thiệt hại thuộc Khoản VI: 1 GATT: Khóa luận: Thực tiễn các doanh nghiệp chống bán phá giá của mỹ.

Khoản VI: 1 GATT quy định rằng : Hành vi bán hàng ở mức giá thấp hơn mức hợp lý LTFV chỉ bị coi là hành vi bán phá giá nếu hành vi đó gây hoặc đe doạ gây thiệt hại vật chất đối với một ngành sản xuất nằm trong khu vực hoạt động của bên nguyên đơn, hoặc kìm hãm việc thành lập một ngành sản xuất nội địa. Mặc dù, quy định của Luật chống bán phá giá 1916 khá tương đồng với quy định trên nhưng đạo luật chống bán phá giá 1916 vẫn vi phạm Khoản VI: 1 GATT do đạo luật 1916 không hề đưa ra các yêu cầu cụ thể về việc gây thiệt hại như trong Khoản VI:1 GATT.

  • Các hình thức chống bán phá giá hợp lệ theo quy định của GATT 1994

Luật chống bán phá giá 1916 vi phạm Khoản VI: 2 GATT 1994 và khoản 18.1 Hiệp định chống bán phá giá của WTO bởi lý do luật chống bán phá giá 1916 cho phép áp dụng các biện pháp khác ngoài thuế chống bán phá giá để đối phó với hàng nhập khẩu. Cụ thể, khoản VI: 2 GATT 1994 và Hiệp định chống bán phá giá của WTO quy định rõ : Việc áp dụng thuế chống bán phá giá là biện pháp duy nhất mà các nước thành viên của WTO có thể áp dụng đối với hành vi bán phá giá.

Sự vi phạm của Mỹ có thể được thấy rõ hơn khi trong năm tài khoá 2001, Mỹ đã thông qua đạo luật P.L 106-387 về lĩnh vực nông nghiệp theo đó cho phép  Cục Ngân khố Mỹ chuyển nhượng số tiền thu được từ thuế chống bán phá giá cho các công ty đệ đơn kiện yêu cầu “bảo hộ”. Đạo luật này rõ ràng là một hình thức trợ giá của chính phủ, giúp tăng thêm một lớp bảo hộ cho thị trường Mỹ. Đây chính là một động thái vi phạm Hiệp định chống bán phá giá của WTO bởi Hiệp định này chỉ cho phép các chính phủ áp dụng biện pháp thuế quan để đối phó với những gian lận về giá, chứ không cho phép các quốc gia thành viên tạo thêm bất kỳ một hàng rào bảo hộ nào khác giống như hành động trên của Mỹ.

  • Các vi phạm khác

Ngoài các vi phạm về mặt quy định trên, Mỹ còn vi phạm các quy định của WTO trong việc xác định hành vi bán phá giá. Trước hết, theo quy định của Hiệp định chống bán phá giá của WTO, khi so sánh giá xuất khẩu sang thị trường Mỹ với  giá trị thông thường, cơ quan điều tra của nước thành viên phải sử dụng đồng nhất cùng một phương pháp cho cả hai mức giá. Cụ thể, nếu sử dụng phương pháp giá trị trung bình (weighted averages) để tính giá xuất khẩu thì cũng phải áp dụng phương pháp giá trị trung bình để tính giá trị thông thường. Còn nếu lấy giá xuất khẩu theo từng giao dịch cụ thể thì cũng phải lấy giá trị thông thường theo từng giao dịch cụ thể. Tuy nhiên, như đã đề cập trong Chương I, ngoài việc áp dụng hai phương pháp trên, Mỹ vẫn áp dụng một phương pháp thứ ba, đó là so sánh giá xuất khẩu của từng giao dịch với giá trị thông thường trung bình. Trên thực tế, bản thân phương pháp thứ ba này không phải là nguyên nhân chính tạo ra sự vi phạm, mà sự vi phạm cơ bản do biện pháp làm tròn (zeroing) mà DOC sử dụng. Còn phương pháp thứ ba có tác dụng như một chất xúc tác : Tạo ra các mức bán phá giá âm, để biện pháp zeroing có tác dụng.

Một vi phạm khác trong các quy định về bán phá giá của Mỹ là : Bộ luật Thương mại 1979 đã đưa ra một mức sàn cho chi phí quản lý và lợi nhuận, cụ thể là 10% cho chi phí quản lý và 8% cho lợi nhuận (xem phần 2.1 Chương I). Các mức sàn này được đưa ra chủ yếu nhằm phục vụ cho công tác xác định mức bán phá giá theo phương pháp giá dự tính. DOC thường áp dụng các mức này trừ khi số liệu thực tế cho thấy một mức cao hơn. Trong khi đó, WTO quy định các nước thành viên phải dựa trên các dữ liệu thực tế để xác định các yếu tố này.

2.2  Những ảnh hưởng tiêu cực của luật chống bán phá giá của Mỹ đến bản thân nền kinh tế Mỹ. Khóa luận: Thực tiễn các doanh nghiệp chống bán phá giá của mỹ.

Những bất cập của Luật chống bán phá giá Mỹ cho thấy rằng cần có những sửa đổi vì lợi ích của người tiêu dùng Mỹ và thương mại Mỹ.

Luật chống bán phá giá bấy lâu nay đã bị lạm dụng bởi những người theo chủ nghĩa bảo hộ, những người muốn tìm kiếm một lối thoát khỏi sự cạnh tranh của hàng hoá nhập khẩu. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, tình hình đã bắt đầu thay đổi. Việc lạm dụng luật chống bán phá giá phần nào giảm bớt sự cạnh tranh của hàng hoá nhập khẩu đối với các sản phẩm tiêu thụ nội địa của Mỹ nhưng lại chuyển những khó khăn đó sang cho các nhà xuất khẩu bởi các nhà xuất khẩu Mỹ đang dần trở thành mục tiêu chính mà đạo luật chống bán phá giá của các chính phủ nước ngoài hướng tới. Với việc Mỹ lạm dụng luật chống bán phá giá vào thương mại quốc tế, các quốc gia khác cũng tích cực xây dựng bộ luật chống bán phá giá riêng cho mình như một công cụ đối kháng khi mà các hàng rào thuế quan và phi thuế quan khác phải dần loại bỏ theo quy định của WTO. Có thể nói, cho đến tận đầu thập niên 90, luật chống bán phá giá vẫn chỉ là một công cụ bảo hộ xa lạ, được một số ít nước giàu như Mỹ, Canada, Australia, và Châu Âu sử dụng. Nhưng đến nay, 62 quốc gia trên thế giới đã có luật chống bán phá giá. Trong thập niên 90 đã có 2,438 cuộc điều tra về hành vi bán phá giá được tiến hành trên toàn cầu; con số này biểu hiện một mức tăng trên 50% so với thập niên 80. Trong giai đoạn từ 1995 đến 2000 có 28 quốc gia đã chính thức sử dụng thuế chống bán phá giá để đối phó với hàng nhập khẩu; 13 trong số 28 quốc gia này đã tiến hành các cuộc điều tra hành vi bán phá giá đối với sản phẩm xuất khẩu của Mỹ. Mỹ hiện đã trở thành mục tiêu lớn thứ ba trên thế giới của luật chống bán phá giá, chỉ sau Trung Quốc và Nhật Bản. Còn nếu chỉ tính trong số các quốc gia tham gia vào khu vực thương mại tự do Châu Mỹ (FTAA), thì Mỹ là mục tiêu số một[3].

Xu hướng tăng nhanh của việc áp dụng thuế chống bán phá giá trên thế giới đã tạo nên một mối đe doạ rõ rệt đối với tình hình tăng trưởng xuất khẩu của Mỹ. Các sản phẩm xuất khẩu chủ lực chiếm đến hơn 50% kim ngạch xuất khẩu của Mỹ như kim loại và các sản phẩm kim loại, hoá chất, máy công cụ, thiết bị điện, hàng dệt may, và dược phẩm đều là các sản phẩm thuộc diện chịu nhiều tác động của luật chống bán phá giá nhất. Còn đối với các thành viên tương lai của FTAA như Brazil và Argentina, 75% chủng loại sản phẩm xuất khẩu của Mỹ cũng là các sản phẩm chủ lực của các quốc gia này, và do đó nguy cơ 75% này phải đối mặt với luật chống bán phá giá khi xuất sang các thị trường này cũng không phải là nhỏ do Brazil và Argentina cũng là các nước tích cực trong việc vận dụng luật chống bán phá giá. Khóa luận: Thực tiễn các doanh nghiệp chống bán phá giá của mỹ.

Với tư cách là nhà xuất khẩu lớn nhất thế giới, Hoa Kỳ sẽ ngày càng trở thành mục tiêu của luật chống bán phá giá khi mà các nước trên thế giới nắm được cách sử dụng “vũ khí chống bán phá giá”. Rõ ràng là ngày càng phát triển việc sử dụng luật chống bán phá giá sẽ chỉ làm dấy lên xu hướng bảo hộ  và càng làm tổn hại đến quyền lợi của nền kinh tế Mỹ.

Hơn thế nữa, bản thân sự bảo hộ này cũng làm tổn hại đến người dân Mỹ, những người đã được lợi từ những hàng nhập khẩu giá rẻ. Trong một nghiên cứu của mình, Daniel Griswold, phó giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Chính sách Thương mại thuộc Viện CATO Hoa Kỳ, đã đưa ra một bằng chứng về sự tổn hại mà luật chống bán phá giá gây ra. Bằng chứng này liên quan đến ngành công nghiệp sản xuất thép của Mỹ. Đó là sau thời kỳ khủng hoảng tài chính Châu Á 1997-1998, thị trường Mỹ đã tràn ngập các sản phẩm thép nhập khẩu giá rẻ. Nhằm cứu vãn tình hình, ngành sản xuất thép của Mỹ đã kiện bán phá giá đối với các sản phẩm thép nhập khẩu, đặc biệt là các sản phẩm thép của Châu Á. Kết quả là ngành sản xuất thép đã nhận được sự bảo hộ của chính quyền Mỹ. Sự bảo hộ này đã đem lại cho ngành thép khoảng 200 triệu USD mỗi năm. Tuy nhiên, để có được khoản tiền trên thì các ngành khác đã phải chịu thiệt hại. Đó là các ngành công nghiệp sử dụng thép như, xây dựng, vận tải,.., những ngành có số lượng công nhân đông gấp 40 lần số lượng công nhân trong ngành thép, và cũng là những ngành đã được lợi rất nhiều từ các sản phẩm thép giá rẻ nay đã phải hy sinh những lợi ích đó chỉ vì một bộ phận công nhân nhỏ trong ngành thép. Hơn thế nữa, những người tiêu dùng sử dụng sản phẩm của các ngành sản xuất trên như ôtô, các thiết bị điện dân dụng cũng phải hy sinh quyền lợi của mình vì những chính sách hạn chế cạnh tranh và làm tăng chi phí. Theo Griswold dự tính, để giá của mỗi tấn thép tăng thêm một dollar, thì người tiêu dùng Mỹ đã phải bỏ ra thêm 120 triệu USD.

Rõ ràng, qua một số nét sơ lược trên, chúng ta có thể thấy rằng luật chống bán phá giá Mỹ đang ẩn chứa trong nó những yếu tố bất cập. Mặc dù, Tổ chức Thương mại Thế giới WTO đã thừa nhận luật chống bán phá giá như một công cụ pháp lý hợp lệ, nhưng vẫn cần có những sửa đổi đối với luật chống bán phá giá Mỹ để công cụ này thực hiện đúng chức năng của mình hơn và cũng là để tạo ra một hành lang pháp lý bình đẳng cho cả các nhà sản xuất Mỹ lẫn các nhà xuất khẩu nước ngoài. Khóa luận: Thực tiễn các doanh nghiệp chống bán phá giá của mỹ.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>> Khóa luận: Giải pháp chống bán phá giá cho doanh nghiệp VN

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest
1 Bình luận
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
trackback

[…] ===>> Khóa luận: Thực tiễn các doanh nghiệp chống bán phá giá của mỹ […]

1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993