Khóa luận: Thực trạng xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực của VN

Rate this post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Thực trạng xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực của VN hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Khóa luận: Thực trạng xuất khẩu một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

I/ NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN KHI XUẤT KHẨU SANG THỊ TRƯỜNG HOA KỲ

1. Những thuận lợi

Hoa Kỳ là thị trường khổng lồ đối với hầu như tất cả các loại hàng hoá mà Việt Nam có thể xuất khẩu. Tổng trị giá xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ năm 2025 mới chiếm khoảng 0,29% tổng trị giá nhập khẩu hàng hoá của thị trường này. Do vậy, tiềm năng xuất khẩu còn rất lớn.

Chi phí sản xuất của Hoa Kỳ ngày càng tăng, cho nên ngày càng nhiều các nhà sản xuất Hoa Kỳ đặt gia công sản phẩm ở nước ngoài. Họ trở thành các công ty thương mại đặt hàng sản xuất ở nước ngoài rồi nhập về cung ứng cho hệ thống khách hàng truyền thống của mình tại Hoa Kỳ. Nhu cầu nhập khẩu hàng hoá, nhất là hàng tiêu dùng của Hoa Kỳ chắc chắn sẽ tiếp tục tăng.

Nhu cầu của thị trường Hoa Kỳ rất đa dạng. Chủng tộc và văn hoá đa dạng dẫn đến nhu cầu và tập quán tiêu dùng cũng đa dạng. Thu nhập bình quân đầu người cao, song chênh lệch thu nhập rất lớn. Số dân nhập cư vào Hoa Kỳ hiện nay mỗi năm lên tới 1 triệu người và ngày càng tăng, trong đó phần đông là lao động chân tay có thu nhập thấp. Yếu tố thu nhập và dân số này dẫn đến thị trường này có nhu cầu cả về hàng cao cấp đắt tiền lẫn hàng bình dân rẻ tiền.

Tiềm lực xuất khẩu và khả năng cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam trên thị trường quốc tế đã được nâng cao một bước. Cơ cấu xuất khẩu cũng đang có những chuyển dịch tích cực theo hướng đa dạng hoá chủng loại mặt hàng và tăng tỷ trọng hàng chế biến và chế tạo. Khóa luận: Thực trạng xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực của VN.

Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu hàng đầu thế giới về một số mặt hàng với kim ngạch tăng nhanh như các mặt hàng nông sản: cà phê, hạt điều, hạt tiêu… Nhất là trong thời gian tới khi Việt Nam chính thức gia nhập WTO thì càng có nhiều thuận lợi hơn đối với việc xuất khẩu hàng hoá sang Hoa Kỳ. Hiện nay đã có nhiều mặt hàng và doanh nghiệp tạo được uy tín và chỗ đứng trên thị trường Hoa Kỳ và sẽ còn nhiều triển vọng cho các doanh nghiệp Việt Nam trong thời gian tới.

Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ (BTA) đã và đang phát huy có hiệu quả. Các doanh nghiệp Việt Nam đã quen và hiểu hơn về thị trường Hoa Kỳ, từ đó có cách tiếp cận phù hợp và có hiệu quả hơn với thị trường này.

Nhiều doanh nghiệp Hoa Kỳ, do nhiều nguyên nhân khác nhau, đang quan tâm hơn đến thị trường Việt Nam. Một số doanh nghiệp nhập khẩu như Wal-Mart, hay Safeway của Hoa Kỳ trước đây chưa có quan hệ kinh doanh với Việt Nam đã chọn Việt Nam là thị trường chiến lược. Doanh nghiệp Hoa Kỳ quan tâm nhiều hơn đến Việt Nam do nền kinh tế Việt Nam vẫn tiếp tục tăng trưởng khá cao và ổn định và Việt Nam sẽ trở thành thành viên của WTO trong tương lai gần. Môi trường kinh doanh của Việt Nam ngày càng thông thoáng. Một số doanh nghiệp Hoa Kỳ đang có quan hệ làm ăn với Trung Quốc muốn mở rộng hoặc chuyển sang kinh doanh với Việt Nam. Nguyên nhân chủ yếu là do Trung Quốc đang trở thành đối thủ chiến lược của Hoa Kỳ. Thâm hụt thương mại của Hoa Kỳ với Trung Quốc đã lên tới mức kỷ lục (200 tỷ USD trong năm qua). Các nhà công ty Hoa Kỳ đang ngày càng quan tâm đến Việt Nam một phần là do giá nhân công trong một số lĩnh vực ở đây rẻ hơn tới 30% so với khu vực phía Nam Trung Quốc.

Hơn một triệu người Việt Nam đang sống tại Hoa Kỳ là thị trường đáng kể, nhất là đối với các mặt hàng thực phẩm, và là cầu nối rất tốt để đưa hàng hoá Việt Nam thâm nhập thị trường này. Bên cạnh đó, quan hệ chính trị giữa hai nước tiếp tục được củng cố và đang phát triển theo chiều hướng tích cực. Nhiều người Hoa Kỳ trước đây đã từng tham chiến ở Việt Nam hoặc đã từng sinh sống ở Việt Nam, hiểu Việt Nam và mong muốn phát triển quan hệ giữa hai nước, trong đó có quan hệ kinh tế.

2. Những khó khăn

Năng lực cung và tiếp thị xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam nhìn chung còn yếu. Ngoài những yếu kém chung và truyền thống như chủng loại nghèo nàn, chất lượng và mẫu mã chưa phù hợp, giá cả không cạnh tranh… thì điểm yếu nổi bật của các doanh nghiệp Việt Nam tại thị trường Hoa Kỳ là quy mô sản xuất nhỏ và khả năng liên kết giữa các doanh nghiệp yếu. Điều này đã dẫn đến sự khó khăn trong việc đáp ứng các đơn hàng lớn và có yêu cầu thời gian giao hàng nhanh của khách hàng Hoa Kỳ. Hơn nữa, đại bộ phận các doanh nghiệp may mặc và giầy dép còn hoạt động theo hình thức gia công. Hình thức này không phù hợp với tập quán nhập khẩu của khách hàng Hoa Kỳ.

Ngoài ra, các sản phẩm của Việt Nam đều là những mặt hàng ít được đầu tư công nghệ cao. Đây cũng chính là lý do khiến nhiều doanh nghiệp Hoa Kỳ chưa quan tâm đến nhập khẩu từ Việt Nam hoặc còn nhập hàng từ Việt Nam thông qua các công ty trung gian ở nước thứ ba. Khóa luận: Thực trạng xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực của VN.

Cạnh tranh xuất khẩu vào Hoa Kỳ gay gắt và quyết liệt. Hoa Kỳ là một thị trường lớn, do vậy, cả thế giới hướng vào thị trường này. Việt Nam mới chỉ thực sự thâm nhập vào thị trường Hoa Kỳ kể từ năm 2022 sau khi BTA có hiệu lực, trong khi đó các đối thủ cạnh tranh đã có hệ thống bạn hàng nhập khẩu và phân phối tại thị trường này từ rất lâu. Trung Quốc là một trong những đối thủ cạnh tranh chính của Việt Nam trên thị trường này đối với các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam hiện nay như dệt may, giầy dép, hải sản, thủ công Hoa Kỳ nghệ… Việc Trung Quốc gia nhập WTO và sự tăng trưởng nhanh kim ngạch buôn bán với Hoa Kỳ cũng đang đặt ra cho Việt Nam thêm nhiều thách thức to lớn trong việc thâm nhập thị trường Hoa Kỳ.

Tuy BTA đã và đang phát huy hiệu quả, nhưng Việt Nam vẫn đang đứng trước một số bất lợi về thâm nhập thị trường. Mặc dù Việt Nam đã được hưởng mức thuế MFN, song một số mặt hàng của Việt Nam nhập khẩu vào Hoa Kỳ vẫn phải chịu mức thuế cao hơn so với hàng cùng loại nhập từ một số nước khác do những nguyên nhân sau: một là, Việt Nam vẫn chưa được hưởng mức thuế ưu đãi GSP của Hoa Kỳ dành cho các nước đang phát triển; hai là, đa số các mặt hàng từ 24 nước trong khu vực Lòng chảo Caribê, 4 nước thuộc khu vực Adean, gần 40 nước Châu Phi được miễn thuế hoặc được hưởng mức thuế thấp hơn mức thuế MFN rất nhiều; ba là, Hoa Kỳ đã ký Hiệp định thương mại tự do khu vực NAFTA, Hiệp định thương mại tự do song phương với các nước Isarel, Jordan, Singapore, Chi Lê, Australia… và đang đàm phán nhiều hiệp định thương mại tự do khác với một số nước có cơ cấu hàng xuất khẩu tương tự như Việt Nam.

Các biện pháp bảo hộ sản xuất nội địa của Hoa Kỳ đang có chiều hướng gia tăng. Một số mặt hàng của Việt Nam xuất khẩu sang Hoa Kỳ có tốc độ tăng trưởng nhanh đã và đang vấp phải sự cản trở của những chính sách bảo hộ này như dệt may, thuỷ sản,…

Cước phí và thời gian vận tải hàng từ Việt Nam sang Hoa Kỳ thường cao hơn và lâu hơn các nước khác do khoảng cách địa lý xa và chưa có tuyến vận tải biển hoặc hàng không trực tiếp giữa hai nước. Ví dụ, hiện nay, cước phí vận tải biển từ Việt Nam sang Hoa Kỳ cao hơn Trung Quốc khoảng 15- 20%. Thời gian vận tải biển từ Việt Nam sang bờ Tây Hoa Kỳ trung bình khoảng 30- 45 ngày trong khi đó Trung Quốc là 12- 18 ngày. Hơn nữa, từ giữa năm 2025 trở lại đây, giá xăng dầu liên tục tăng cao đã ảnh hưởng lớn đến giá thành sản xuất trong nước và chi phí vận chuyển hàng hóa xuất khẩu.

Hệ thống pháp luật thương mại của Hoa Kỳ rất phức tạp và chồng chéo. Hàng nhập khẩu vào Hoa Kỳ chịu sự điều tiết của nhiều luật khác nhau, cả luật liên bang lẫn luật bang. Trong khi đó sự hiểu biết của các doanh nghiệp Việt Nam về pháp luật Hoa Kỳ liên quan đến thương mại nói chung và nhập khẩu vào Hoa Kỳ nói riêng còn rất hạn chế.

Việt Nam vẫn bị Hoa Kỳ coi là nước có nền kinh tế phi thị trường, do vậy, phải chịu nhiều bất lợi trong các vụ tranh chấp thương mại tại thị trường này. Hơn nữa, Việt Nam chưa phải là thành viên WTO, cho nên, các vụ tranh chấp thương mại giữa Việt Nam và Hoa Kỳ đều phải giải quyết trên cơ sở song phương theo Luật Hoa Kỳ, do đó Việt Nam thường bị ép vào thế bất lợi.

Khó khăn trong thanh toán. Do mới có quan hệ kinh doanh với các doanh nghiệp Hoa Kỳ nên các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam thường yêu cầu thanh toán theo phương thức L/C at sight không huỷ ngang. Ngược lại, nhiều doanh nghiệp Hoa Kỳ hoặc do không quen với phương thức thanh toán này hoặc do muốn các phương thức thanh toán khác (D/A, D/P…) thuận tiện, đỡ tốn kém và ít rủi ro hơn cho họ. Ví dụ, theo phương thức L/C at sight, người nhập khẩu thường phải thanh toán tiền hàng trước khi hàng đến, trong khi hàng thực phẩm phải được FDA kiểm tra trước khi cho phép nhập vào thị trường. Do vậy, người nhập khẩu rất ngại thanh toán bằng L/C at sight vì sợ không đòi lại được tiền hàng trong trường hợp hàng không được FDA cho phép nhập khẩu.

II/ THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU MỘT SỐ MẶT HÀNG CHỦ LỰC CỦA VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG HOA KỲ Khóa luận: Thực trạng xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực của VN.

1. Mặt hàng dệt may

  • Giới thiệu vài nét về nhập khẩu dệt may của Hoa Kỳ

Về chính sách nhập khẩu dệt may của Hoa Kỳ: Điều tiết nhập khẩu qua tác động tới lượng và giá là hai đặc điểm chính dễ nhận thấy nhất trong chính sách nhập khẩu dệt may của Hoa Kỳ.

Mặc dù không còn bị khống chế bởi hạn ngạch sau 1/1/2025, phần lớn các nước thành viên WTO vẫn phải trả thuế nhập khẩu cho hàng dệt may vào Hoa Kỳ nếu không thuộc diện được ưu đãi theo các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) song phương và khu vực.

Biểu thuế của Hoa Kỳ có các cột khác nhau biểu thị mức độ ưu đãi khác nhau tùy theo quan hệ thương mại với nước xuất khẩu. Hoa Kỳ đã chuyển hướng sang gián tiếp điều tiết nhập khẩu bằng cách gây ảnh hưởng tới giá hàng dệt may của các nước xuất khẩu.

Về kim ngạch nhập khẩu: Hoa Kỳ là một trong những thị trường tiêu thụ chính của hàng dệt may thế giới. Năm 2022, tổng kim ngạch nhập khẩu các sản phẩm dệt may của Hoa Kỳ là 77,3 tỉ USD, năm 2023 là 82,9 tỉ USD, năm 2024 là 89,5 tỉ USD và năm 2025 là 95,7 tỉ USD. Có thể thấy kim ngạch nhập khẩu của Hoa Kỳ về mặt hàng dệt may không ngừng tăng lên và là một cơ hội lớn cho các doanh nghiệp xuất khẩu mặt hàng này trên toàn thế giới.

Về thị trường nhập khẩu: Gần đây, nhập khẩu hàng dệt may của Hoa Kỳ đã chuyển mạnh từ các nước Châu Á sang các nước thành viên của Hiệp định thương mại tự do Bắc Hoa Kỳ và các nước láng giềng như Mêhicô, Canada và các nước vùng Caribê. Nguyên nhân của sự dịch chuyển này là do Hoa Kỳ có chính sách tăng cường các mối quan hệ khu vực. Sản phẩm nhập khẩu từ các thành viên NAFTA không cần hạn ngạch và được giảm thuế, thậm chí miễn thuế. Một nguyên nhân khác là quy định về xuất xứ của Hoa Kỳ đã tạo ra rào cản đối với hàng hoá của các nước Châu Á.

Thuận lợi và khó khăn khi xuất khẩu dệt may sang Hoa Kỳ:

  • Thuận lợi Khóa luận: Thực trạng xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực của VN.

Xuất khẩu dệt may của Việt nam vào Hoa Kỳ có những thuận lợi cơ bản là ngành dệt may Việt Nam ngày càng thu hút được sự chú ý của các nhà nhập khẩu Hoa Kỳ do chất lượng may tốt và đảm bảo thời gian giao hàng.

Năng lực sản xuất của ngành dệt may Việt Nam rất lớn với hàng ngàn doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, ngoài ra còn có cả hàng vạn cơ sở sản xuất nhỏ mang tính gia đình, cá thể … Lực lượng sản xuất tăng nhanh hơn tốc độ tăng trưởng xuất khẩu. Đây là một yếu tố quan trọng để đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may sang Hoa Kỳ.

Trong sáu năm qua, cơ sở vật chất và máy móc trang thiết bị của ngành dệt may được đầu tư đổi mới, đáp ứng yêu cầu của thị trường quốc tế. Trung bình hàng năm các doanh nghiệp đầu tư trang thiết bị phục vụ cho sản xuất từ 500.000 đến 800.000 USD/ doanh nghiệp. Ví dụ như công ty dệt Thành Công đã đầu tư hơn 400.000 USD để mua thêm thiết bị điều khiển tự động cho toàn bộ dây chuyền dệt kim, lắp đặt thêm hệ thống nghiên cứu, pha màu tự động. Việc làm này giúp nâng cao năng lực cạnh tranh cho các sản phẩm dệt may xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ, một thị trường luôn đòi hỏi những sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao.

Các nhà đầu tư đang quan tâm đến thị trường Việt Nam với hàng loạt các dự án đầu tư nước ngoài vào ngành dệt may Việt Nam. Gần 200 dự án đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực dệt may cũng là tiềm lực mạnh để có thể đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ.

  • Khó khăn

Kể từ 1/1/2025 hàng dệt may Việt Nam có thêm một khó khăn mới tại thị trường Hoa Kỳ là vẫn phải chịu hạn ngạch trong khi đó khoảng 150 nước khác được xuất khẩu không bị hạn chế số lượng vào thị trường này.

Hiện nay, có một số cát Việt Nam đã phải “nhường” hẳn cho Trung Quốc vì không cạnh tranh được về giá. Nguyên nhân chính là do nguyên phụ liệu còn phụ thuộc quá nhiều vào nhập khẩu. Cụ thể là trong việc gia công sản xuất hàng dệt may, các doanh nghiệp Việt Nam phải nhập hầu hết nguyên phụ liệu như bông (nhập 90%), xơ sợi polyesterr (nhập 100%), xơ sợi ngắn (nhập 60%), vải (nhập 70%), thuốc nhuộm và máy móc thiết bị (nhập 100%). Cũng do lệ thuộc nguyên phụ liệu nhập khẩu, nên việc thực hiện đơn hàng bị chậm, khó lòng cạnh tranh với các nước khác.

Tình trạng thiếu hụt nhân công có tay nghề là hết sức phổ biến trong ngành dệt may Việt Nam trong thời gian gần đây. Theo đánh giá, ngành may Việt Nam thiếu khoảng 30% nhân công. Có nơi chỉ tuyển được 40 tới 50% số thợ làm việc. Lý do là nhà máy trả lương thấp để kéo giá thành xuống, người công nhân nản lòng do lao động cật lực mà vẫn không đủ sống, những người thợ lành nghề cũng phải bỏ việc tìm kế mưu sinh, việc gọi thợ làm hàng may mặc trở nên hết sức khó khăn.

Mặc dù có những khó khăn về vấn đề nguyên phụ liệu nhưng vấn đề Việt Nam chưa là thành viên WTO Tổ chức Thương mại thế giới chính là nguyên nhân chủ yếu làm giảm sự cạnh tranh của hàng may mặc Việt Nam. Việt Nam không có lợi thế cạnh tranh với một số đối thủ vào Hoa Kỳ. Chẳng hạn với Mexico và Canada (vốn chiếm tới 12% thị phần dệt may tại Hoa Kỳ) chỉ phải chịu thuế suất nhập khẩu bằng 0%. Trong khi hàng dệt may Việt Nam vào Hoa Kỳ vẫn phải chịu thuế suất khoảng 15%. Những nước thành viên WTO như Trung Quốc, ấn Độ, Thái Lan, Cambodia cũng không bị chi phối về hạn ngạch quota dệt may xuất sang thị trường Hoa Kỳ rộng lớn. Khóa luận: Thực trạng xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực của VN.

Ngày 22/10/2026, Bộ Thương mại Việt Nam chính thức áp dụng mức thuế 5% đối với 2 mặt hàng nguyên liệu cho ngành dệt may là polyeste và filamen. Việc nâng mức thuế từ 0% lên 5% đối với 2 loại nguyên liệu cơ bản này khiến cho các doanh nghiệp sản xuất sợi, vải có khả năng thua lỗ do phải tăng chi phí đầu vào ngoài dự kiến.

Hàng dệt may Việt Nam phải đối mặt với các vụ kiện chống bán phá giá sau khi Hoa Kỳ cam kết sẽ theo dõi lượng hàng dệt may nhập khẩu từ Việt Nam. Do vậy chỉ cần lượng hàng vào thị trường Hoa Kỳ tăng ở mức độ vừa phải là cũng có thể bị đưa vào diện điều tra khởi kiện bán phá giá rất lớn. Điều này đồng nghĩa với việc nhiều nhà nhập khẩu Hoa Kỳ sẽ quay lưng lại với hàng dệt may Việt Nam và lựa chọn một đối tác làm ăn khác ít bị rủi ro hơn.

  • Kim ngạch xuất khẩu dệt may

Nhờ có Hiệp định thương mại song phương được kí kết và có hiệu lực từ tháng 12/2021, kim ngạch xuất khẩu dệt may sang Hoa Kỳ đã tăng nhanh chóng. Bảng sau sẽ cho thấy rõ mức tăng trưởng này.

  • Bảng 3: Kim ngạch xuất khẩu dệt may sang Hoa Kỳ qua các năm

Qua bảng số liệu trên ta thấy, năm 2022, sau khi Hiệp định có hiệu lực, kim ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam sang Hoa Kỳ đã lên đến hơn 1 tỷ USD kim ngạch, tăng hơn 21 lần so với năm 2021. Đặc biệt là từ năm 2023, kim ngạch xuất khẩu dệt may sang Hoa Kỳ đã vượt ngưỡng 2 tỷ USD, chiếm hơn 50% kim ngạch xuất khẩu của cả nước vào năm 2024. Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu lớn thứ 5 vào Hoa Kỳ về quần áo, chiếm khoảng 4,2% tổng trị giá nhập khẩu nhóm hàng này của Hoa Kỳ trong năm 2024.

Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may năm 2025 chỉ đạt 2.757,5 triệu USD, tăng 5,13% so với năm trước, thấp hơn rất nhiều so với mức tăng kim ngạch xuất khẩu chung của Việt Nam sang Hoa Kỳ (25%) và mức tăng kim ngạch nhập khẩu hàng dệt may của Hoa Kỳ (8,3%). Điều này cũng có nghĩa là thị phần hàng dệt may Việt Nam tại Hoa Kỳ bị giảm. Kể từ khi Hoa Kỳ áp dụng hạn ngạch trở lại đối với dệt may Trung Quốc vào giữa năm 2025, hàng dệt may Việt Nam giảm được sức ép cạnh tranh nên xuất khẩu có khá hơn (10 tháng đầu năm 2025 tăng 1,3% trong khi đó 7 tháng đầu giảm – 0,5%).

  • Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu dệt may Khóa luận: Thực trạng xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực của VN.

Cơ cấu các nhóm mặt hàng cũng có những thay đổi đáng chú ý. Trị giá các cát bị hạn ngạch trong tổng kim ngạch hàng dệt may năm 2024 chỉ còn chiếm khoảng 65% so với mức trên/dưới 80% của các năm trước, và vẫn tiếp tục có xu hướng giảm. Hiện nay, đã có tới 31 cát phi hạn ngạch đạt kim ngạch trên 1 triệu USD. Đây là một xu hướng tích cực trong việc xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ.

  • Bảng 4: Cơ cấu xuất khẩu giữa hàng hạn ngạch và phi hạn ngạch

Năm 2025, trong nhóm hàng dệt may, quần áo dệt kim giảm 6,3%, quần áo vải dệt thoi tăng 7,5%. Tuy nhiên, cũng cần phải lưu ý hàng dệt may Việt Nam đã đa dạng hơn về chủng loại và tỷ trọng hàng phi hạn ngạch đang tăng lên nhờ chiếm được lòng tin của thị trường Hoa Kỳ bởi chất lượng hàng dệt may Việt Nam so với hàng Trung Quốc là không hề thua kém. Một số cat quần áo của Việt Nam, kể cả những cat không bị hạn ngạch, có khả năng cạnh tranh tốt. Dự báo mức tăng trưởng trong năm 2026 có thể đạt bằng mức 5 – 7%. Tính đến tháng 8/2026, xuất khẩu nhóm hàng hạn ngạch đạt 1.403 triệu USD, các doanh nghiệp đã sử dụng hết 60% nguồn hạn ngạch ký quỹ và 20% nguồn hạn ngạch visa tự động.

2. Mặt hàng thuỷ sản

  • Giới thiệu vài nét về nhập khẩu thuỷ sản của Hoa Kỳ

Về chính sách nhập khẩu. Hoa Kỳ thường gắn ngoại thương thuỷ sản với các vấn đề khác ít liên quan tới xuất nhập khẩu như lấy lý do “bảo vệ môi trường” và “bảo vệ thiên nhiên hoang dã” để đưa ra các lệnh cấm vận đối với một số hàng thuỷ sản nhập khẩu. Hoa Kỳ cũng thường đưa vấn đề chống phá giá vào chính sách nhập khẩu thuỷ sản để bảo hộ nền sản xuất trong nước. Vấn đề cá tra, cá ba sa và tôm của Việt Nam là thí dụ điển hình cho chính sách này của Hoa Kỳ.

Ngoài hệ thống thuế quan, Hoa Kỳ còn áp dụng hệ thống phi thuế quan trong nhập khẩu thuỷ sản (rào cản kỹ thuật) nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong nước, lợi ích quốc gia, bảo hộ sản xuất trong nước bao gồm các qui định về:

  • Các chỉ tiêu dinh dưỡng như đạm, mỡ, muối, nước, khoáng chất bắt buộc phải đạt tỷ lệ nhất định, nhằm đảm bảo dinh dưỡng cho người sử dụng.
  • Các quy định về chủng loại, kích cỡ, khối lượng, cách chế biến, ghi nhãn, bao gói nhằm thoả mãn yêu cầu sử dụng và ngăn chặn gian lận thương mại.
  • Việc nuôi trồng, đánh bắt nguyên liệu để chế biến ra sản phẩm đó phải không phương hại đến môi sinh và môi trường.

Về kim ngạch nhập khẩu. Hoa Kỳ là nước xuất khẩu hải sản lớn nhất thế giới và cũng là nước nhập khẩu hải sản lớn thứ 2 thế giới sau Nhật Bản. Hàng năm, trung bình Hoa Kỳ phải nhập khẩu một lượng hải sản giá trị khoảng 2,5 tỷ USD từ các nước châu Á. Hơn một nửa lượng thuỷ sản tiêu dùng ở Hoa Kỳ có nguồn gốc từ nhập khẩu.

  • Bảng 5: Kim ngạch nhập khẩu thuỷ sản của Hoa Kỳ Khóa luận: Thực trạng xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực của VN.

Về cơ cấu nhập khẩu. Người tiêu dùng ở Hoa Kỳ thuộc nhiều nguồn gốc và tầng lớp, rất phân biệt về văn hoá và thu nhập nên các sản phẩm thuỷ sản tiêu thụ ở Hoa Kỳ cũng rất đa dạng cả về chất lượng cũng như số lượng. Hoa Kỳ nhập hơn 100 mặt hàng thuỷ sản các loại từ cao cấp nhất đến thấp nhất, với đủ loại giá cả khác nhau.

Thị trường Hoa Kỳ nhập khẩu chủ yếu là các nhóm hàng giáp xác, nhuyễn thể tươi và đông lạnh chiếm 56,8% giá trị, cá tươi và đông lạnh 33,1%, hộp cá 4,5%, hộp giáp xác nhuyễn thể 2,8%. Trong số đó, tôm là mặt hàng ưa thích nhất tại Hoa Kỳ và được tiêu thụ với khối lượng rất lớn.

Về thị trường. Hoa Kỳ nhập khẩu thuỷ sản từ 130 nước trong đó dẫn đầu là Thái Lan, Êcuađo, Canađa, Trung Quốc, Chilê, Mêhicô và Ấn Độ…

Thuận lợi và khó khăn khi xuất khẩu thuỷ sản sang Hoa Kỳ:

  • Thuận lợi

Với vùng biển rộng trên 1 triệu km2 với nhiều sông ngòi và hồ tự nhiên lại nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới nên Việt Nam rất thuận lợi cho việc phát triển thuỷ sản làm nguồn nguyên liệu cho xuất khẩu.

Việt Nam đã trở thành thành viên của nhiều tổ chức nghề cá thế giới như: Tổ chức nghề cá thuộc FAO, Uỷ ban Thuỷ sản châu Á Thái Bình Dương (APFIC), Trung tâm phát triển nghề cá Đông Nam Á (SEAFDEC), Mạng lưới các Trung tâm Nuôi trồng thuỷ sản khu vực châu Á Thái Bình Dương (NACA),… Vị thế trên trường quốc tế của ngành thuỷ sản Việt Nam ngày càng được nâng cao. Ngoài ra, ngành thuỷ sản còn tranh thủ được sự hỗ trợ các tổ chức phi chính phủ như Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN), Quỹ bảo vệ thiên nhiên hoang dã (WWF), Liên minh sinh vật biển quốc tế (IMA), tổ chức AFRICA 70 của Italia, tổ chức AIDA của Tây Ban Nha…

Riêng về đầu tư nước ngoài đến năm 2025, ngành thuỷ sản đã có 149 dự án với số vốn đăng ký là 482 triệu USD và 13 dự án ODA với số vốn 89,9 triệu USD. Đây là những nguồn vốn quan trọng giúp các doanh nghiệp thuỷ sản đầu tư mới công nghệ chế biến thuỷ sản cao cấp đáp ứng nhu cầu của thị trường quốc tế.

Trên thế giới chỉ có riêng Việt Nam sản xuất được cá basa, hơn nữa, cá của Hoa Kỳ lại không ngon bằng cá basa Việt Nam. Hơn nữa, thị trường Hoa Kỳ cũng có nhu cầu rất cao đối với sản phẩm tôm, mặt hàng xuất khẩu chủ lực của ngành thủy sản Việt Nam. Những yếu tố trên hứa hẹn kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản sang Hoa Kỳ sẽ tăng trưởng tốt trong tương lai.

Các cuộc khủng hoảng về thực phẩm thịt ở Hoa Kỳ và một số thị trường khác đã khiến cho người tiêu dùng gia tăng tiêu dùng các sản phẩm thuỷ sản.

Việc gia nhập WTO sẽ có nhiều thuận lợi cho các doanh nghiệp thuỷ sản, vì Việt Nam sẽ có thể tham gia đàm phán để dỡ bỏ bớt những chính sách bảo hộ sản xuất nông nghiệp nội địa của các thị trường lớn và sẽ có thể tham gia đấu tranh, chống lại những vụ kiện bất công trên thế giới.

  • Khó khăn Khóa luận: Thực trạng xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực của VN.

Việt Nam mới chỉ thực sự thâm nhập thị trường Hoa Kỳ kể từ năm 2022 sau khi BTA có hiệu lực, trong khi các đối thủ cạnh tranh đã có hệ thống bạn hàng nhập khẩu và phân phối tại thị trường này từ rất lâu. Đây là thách thức lớn đối với Việt Nam nhất là khi các doanh nghiệp Việt Nam chưa có một hệ thống phân phối hoàn chỉnh.

Thuỷ sản chế biến của Việt Nam xuất khẩu sang Hoa Kỳ chưa nhiều, chủ yếu mới xuất khẩu dưới dạng sơ chế cho nên trị giá xuất khẩu thấp. Nguyên nhân là do các cơ sở thuỷ sản Việt Nam chưa hiểu hết được nhu cầu của thị trường Hoa Kỳ, chưa có sự hợp tác đầu tư với đối tác Hoa Kỳ về công nghệ chế biến thuỷ sản ở Việt Nam như chúng ta đã làm với các nhà đầu tư Nhật Bản.

Các biện pháp bảo hộ sản xuất nội địa của Hoa Kỳ đang có chiều hướng gia tăng. Cá tra và cá ba sa đang phải chịu thuế chống bán phá giá từ 37% đến 64%. Tôm đông lạnh và đóng hộp cũng chịu sự áp đặt thuế chống bán phá giá. Tiếp đến là tác động của Lệnh ngừng bán thuỷ sản của Việt Nam ở 3 bang miền Nam Hoa Kỳ do dư lượng kháng sinh, xảy ra đầu tháng 8/2025 khiến cho ngành thuỷ sản nói riêng và kim ngạch xuất khẩu của ta nói chung bị giảm đi đáng kể. Bên cạnh đó, quy định mới về việc phải ký quỹ khi xuất khẩu tôm sang Hoa Kỳ đã gây nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ hải sản Việt Nam, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Cùng với các yếu tố trên, sản phẩm thuỷ sản xuất khẩu vào Hoa Kỳ cũng phải tuân thủ hàng loạt các yêu cầu như:

  • Tuân theo các tiêu chuẩn và quy định mang tính kỹ thuật
  • Phù hợp với quy định về nhãn mác sản phẩm
  • Kiểm soát được các hành vi gian lận thương mại
  • Tuân theo các quy định về xuất xứ sản phẩm
  • Đảm bảo an toàn thực phẩm và bảo vệ môi trường.

Kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản:

Sau khi Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ có hiệu lực tháng 12/2021, kim ngạch buôn bán giữa Việt Nam và Hoa Kỳ đã phát triển nhảy vọt. Hiệp định đã tác động rất lớn tới việc đẩy mạnh xuất khẩu hàng thuỷ sản của Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ, đưa Hoa Kỳ trở thành một trong những thị trường nhập khẩu thuỷ sản hàng đầu của Việt Nam, chiếm 25% thị phần xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam vào năm 2024 và 23% vào năm 2025.

  • Bảng 6: Kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản sang Hoa Kỳ qua các năm

Năm 2021, Việt Nam xuất khẩu sang Hoa Kỳ với khối lượng 70.930 tấn thuỷ sản các loại, trị giá 481 triệu USD, tăng gần 60% so với năm 2020. Sau khi Hiệp định có hiệu lực, khối lượng các mặt hàng xuất khẩu đã tăng mạnh mẽ lên 98.664 tấn, đạt 674,56 triệu USD, chiếm 32,4% tổng giá trị xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam. Năm 2023, kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng hải sản (kể cả chế biến) tiếp tục tăng 18,02%, đạt 796,09 triệu USD, xếp vị trí thứ hai sau hàng dệt may, chiếm 35,3% tổng giá trị xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam. Khóa luận: Thực trạng xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực của VN.

Lần đầu tiên kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam sang Hoa Kỳ bị giảm sút và giảm 24% vào năm 2024. Nguyên nhân là do mặt hàng tôm bị áp thuế chống bán phá giá nên kim ngạch xuất khẩu giảm mạnh. Năm 2025, do tác động đồng thời của việc áp thuế chống bán phá giá cá tra, cá ba sa philê đông lạnh và tôm đông lạnh, xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam sang Hoa Kỳ có phần giảm sút. Tổng kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam (kể cả thuỷ sản chế biến) sang Hoa Kỳ năm 2025 là 631,48 triệu USD, tăng 5,39% so với năm trước. Thị phần xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam ở thị trường rộng lớn này mới chỉ chiếm 4,9%.

  • Cơ cấu xuất khẩu thuỷ sản

Năm 2020, cơ cấu thị trường nhập khẩu Hoa Kỳ có sự điều chỉnh mạnh và Việt Nam đã nắm bắt cơ hội chen chân vào thị trường rộng lớn này. Trong các mặt hàng thuỷ sản của Việt Nam xuất sang Hoa Kỳ, tôm chiếm tỷ trọng chính 74% tổng giá trị hàng thuỷ sản xuất khẩu. Cá tra, ba sa philê đông lạnh là mặt hàng độc đáo của Việt Nam tại thị trường Hoa Kỳ.

  • Bảng 7 : Cơ cấu mặt hàng thuỷ sản của Việt Nam xuất sang Hoa Kỳ

Cụ thễ tình hình kim ngạch xuất khẩu sang Hoa Kỳ của một số mặt hàng chính như sau:

Tôm đông lạnh Năm 2024, kim ngạch xuất khẩu tôm đông lạnh đạt 37.060 tấn, trị giá 397 triệu USD, 2025 đạt 332,16 triệu USD, giảm khoảng -16% so với năm trước. Nguyên nhân chính là do nhập khẩu của Hoa Kỳ giảm do còn hàng tồn kho nhập từ năm trước trước khi áp thuế chống phá giá và do các qui định ký quĩ nhập khẩu ngặt nghèo. Tuy nhiên, từ giữa năm 2025 do nhu cầu nhập khẩu của Hoa Kỳ tăng và do bão Katrina xẫy ra tháng 8 năm 2025 đã gây thiệt hại rất nặng nề đối với ngành nuôi trồng và đánh bắt thuý sản của Hoa Kỳ dan đến tăng nhu cầu nhập khẩu đễ bù đắp cung nội địa giảm mạnh. Trong 7 tháng đầu năm 2026, mặt hàng tôm xuất khẩu cũng đạt mức tăng trưởng nhanh tại thị trường Hoa Kỳ, tăng 19% về khối lượng và 35% về giá trị.

Việt Nam tuy chỉ đứng thứ bảy về khối lượng xuất khẩu tôm sang Hoa Kỳ, nhưng do tôm có chất lượng cao nên về giá trị xuất khẩu tôm vươn lên vị trí thứ ba. Tuy đã có mức tăng trưởng nhanh, nhưng thị phần của tôm đông lạnh Việt Nam tại Hoa Kỳ còn rất nhỏ (6,2% về giá trị). Khóa luận: Thực trạng xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực của VN.

Tôm chế biến. Trong khi kim ngạch nhập khẩu tôm chế biến của Hoa Kỳ tăng 7,6% trong năm 2025 thì kim ngạch tôm chế biến của Việt Nam nhập khẩu vào nước này trong cùng thời kỳ lại giảm -19,8% và chỉ đạt 74,3 triệu chiếm 11,4% thị phần nhập khẩu của Hoa Kỳ, giảm so với 14% trong năm 2024. Trong khi đó tôm chế biến của một số nước khác tăng mạnh như Trung Quốc tăng 33,4% (chiếm thị phần 16,8%), Canada tăng 77,5% (chiếm thị phần 8,5%), Inđônêsia tăng 68,7% (chiếm thị phần 6%). Ðiều này chứng tỏ các doanh nghiệp Việt Nam chưa quan tâm hoặc còn gặp khó khăn trong việc chuyễn đỗi mặt hàng từ tôm đông lạnh sang tôm chế biến dan đến đễ các đối thủ cạnh tranh khác chiếm mất thị trường tôm chế biến.

Phi lê cá sông lạnh: Một điễm đáng lưu ý là vào năm 2023, kim ngạch xuất khẩu cá phi lê và cá tươi giảm lần lượt là 18% và 4% so với 2022 do tác động của thuế chống bán phá giá.

Năm 2024, kim ngạch cá đông lạnh đạt 33.680 tấn, trị giá 119 triệu USD, năm 2025 đạt 105,32 triệu USD, giảm -11,5% so với năm 2024. Nguyên nhân chủ yếu do 3 bang Lousiana, Mississippi, Alabama cấm lưu thông tạm thời tất cả thủy sản Việt Nam (ở Lousiana) và cá Basa (ở Mississippi và Alabama), sau khi FDA phát hiện một số lô cá Basa Việt nam có dư lượng kháng sinh Flouroquinolones vào trung tuần tháng 8 năm 2025. Những lệnh cấm này không những ảnh hưởng trực tiếp đến tiêu thụ thuý sản nói chung và phi lê cá tra và basa của Việt Nam nói riêng tại các bang này mà còn ảnh hưởng làm giảm tiêu thụ trên cả Hoa Kỳ do người tiêu dùng lo ngại ảnh hưởng tới sức khỏe.

Tuy nhiên, đối với ngành thủy sản, nhu cầu nhập khẩu tôm và phi lê cá da trơn của Hoa Kỳ năm 2026 có thễ sẽ tăng trở lại do những vùng cung cấp hai loại sản phẩm này tại Hoa Kỳ bị thiệt hại do cơn bão Katrina van chưa phục hồi.

3. Mặt hàng giày dép

  • Giới thiệu vài nét về thị trường nhập khẩu giày dép của Hoa Kỳ

Về kim ngạch nhập khẩu giày dép. Hiện nay, mặt hàng giầy dép chiếm 3% trong tỗng nhập khẩu của Hoa Kỳ và với mặt hàng này, nhu cầu nhập khẩu của Hoa Kỳ lớn và van tiếp tục tăng. Mức tiêu thụ giày dép của Hoa Kỳ hiện nay là 4-5 đôi/người/năm khiến cho Hoa Kỳ trở thành nước nhập khẩu giày dép lớn nhất toàn cầu. Năm 2025 nhập khẩu giày dép của Hoa Kỳ đạt hơn 200 triệu đôi/tháng.

Theo số liệu thống kê của Tỗng cục thống kê Hoa Kỳ, tỗng trị giá nhập khẩu giầy dép và phụ kiện giầy dép của Hoa Kỳ năm 2023 là 15,56 tý USD, và năm 2024 là 16,498 tý USD, tăng 4,8% so với năm trước. Ðến năm 2025, kim ngạch nhập khẩu giày dép lên đến con số kỉ lục là 26,67 tý USD. Kim ngạch nhập khẩu trong 5 tháng đầu năm 2026 tăng trên 7% so với cùng kỳ năm 2025, đạt 11,89 tý USD.

Trong đó, kim ngạch nhập khẩu giày nam và giày nữ (không tính giày thễ thao) chiếm tới gần 43% tỗng giá trị nhập khẩu. 5 tháng đầu năm 2026 nhập khẩu giày nữ của Hoa Kỳ đạt 3,44 tý USD, tăng 7,74% so với 5 tháng đầu năm 2025. Nhập khẩu loại giày nam của Hoa Kỳ 5 tháng đầu năm 2026 đạt gần 1,64 tý USD, tăng 4,9% so với cùng kỳ năm 2025.

Về thị trưòng nhập khẩu. Trong các nước xuất khẩu giày dép vào Hoa Kỳ, Trung Quốc chiếm thị phần lớn nhất, đặc biệt là sau khi Hoa Kỳ bãi bỏ chính sách hạn chế nhập khẩu giày dép từ Trung Quốc. Năm 2025, thị phần xuất khẩu giày dép vào Hoa Kỳ của Trung Quốc lên tới khoảng 70%, tiếp theo là Italia và Brazil. Xuất khẩu của Việt Nam và Inđônêsia cũng đang có những dấu hiệu tăng trưởng tích cực. Khóa luận: Thực trạng xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực của VN.

  • Bảng 8 : Các nước xuất khẩu chính giầy dép vào Hoa Kỳ

Giày dép là ngành sản xuất sử dụng rất nhiều lao động. Các nước đang phát triển ở châu Á sẽ tiếp tục chiếm ưu thế trong ngành da giày. Giá nhân công tại Hoa Kỳ cao hơn nhiều so với giá nhân công ở các nước châu Á, đặc biệt là các nước đang phát triển. Do đó, nhập khẩu giày dép của Hoa Kỳ từ các nước đang phát triển sẽ tiếp tục tăng.

Thuận lợi và khó khăn xuất khẩu giày dép sang thị trường Hoa Kỳ

  • Thuận lợi

Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ có hiệu lực đã khiến cho thuế nhập khẩu của Hoa Kỳ nói chung và thuế nhập khẩu giày dép nói riêng giảm mạnh. Hiện nay, Hoa Kỳ dành cho Việt Nam mức thuế nhập khẩu giày dép thấp thứ hai sau Mêhicô. Bên cạnh đó, khác với mặt hàng dệt may, Hoa Kỳ không quy định hạn ngạch đối với mặt hàng giày dép.

Mặt hàng giày dép Việt Nam cũng đang có nhiều cơ hội do các nhà nhập khẩu Hoa Kỳ tìm thêm các nguồn cung cấp khác để không bị phụ thuộc vào Trung Quốc vốn đang chiếm thị phần quá lớn về giày dép nhập khẩu của nước này và đối thủ cạnh tranh khác của Việt Nam là Brazil cũng đang gặp khó khăn trong việc xuất khẩu giày dép vào thị trường Hoa Kỳ.

Tốc độ tăng trưởng khá nhanh của xuất khẩu giày dép Việt Nam vào Hoa Kỳ trong một hai năm gần đây cho thấy cơ hội khá lớn cho các doanh nghiệp Việt Nam ở thị trường Hoa Kỳ. Dù chỉ mới chiếm 3% thị phần nhập khẩu trên thị trường Hoa Kỳ nhưng xét về tốc độ, trong 3 năm sau khi Hiệp định thương mại song phương có hiệu lực, mức tăng trưởng bình quân của giày dép Việt Nam là 40-50%/năm, trở thành nhóm hàng có tỉ lệ tăng trưởng ổn định nhất mặc dù mới chỉ chiếm khoảng 10% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam.

Nhiều doanh nghiệp xuất khẩu thành công trên thị trường thế giới, có những thương hiệu nổi tiếng trong khu vực như Bitis, Bitas, Vinagiay… đã gây được tiếng vang ở thị trường Hoa Kỳ và bước đầu cũng đã có những thâm nhập thành công nhất định.

  • Khó khăn

Tuy xuất khẩu mặt hàng này có giá trị khá lớn trong số các sản phẩm xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ nhưng các công ty giày dép Việt Nam lại chưa hiểu biết nhiều về thị trường này.

Nguyên liệu ngành giày dép hoàn toàn phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu, chỉ có giày vải, dép đi trong nhà là dùng nguồn nguyên liệu trong nước (chiếm 25%) làm cho giá thành của sản phẩm Việt Nam cao và nếu Hoa Kỳ dành cho Việt Nam hưởng chế độ thuế quan ưu đãi phổ cập GSP thì Việt Nam cũng khó lòng được hưởng vì không đạt tiêu chuẩn về xuất xứ. Việc lệ thuộc về nguyên liệu cũng khiến cho lợi nhuận thực tế của các doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu giày da bị giảm sút nghiêm trọng. Chẳng hạn như ngành da giày cho biết cứ 5 đô la xuất khẩu thì chỉ thực lãi vài chục cent.

Việt Nam đang có khoảng 40.000 lao động thuộc ngành giày dép nhưng vẫn thiếu đội ngũ công nhân lao động kỹ thuật có tay nghề cao và đội ngũ cán bộ làm marketing xuất khẩu. Thiết bị sản xuất giày dép thì chỉ thuộc loại trung bình trong khu vực.

Một thách thức nữa với giày dép Việt Nam khi thâm nhập thị trường Hoa Kỳ đến từ nước láng giềng Trung Quốc. Sản phẩm giày dép Trung Quốc chiếm đến 50% thị phần nước Hoa Kỳ với ưu thế tuyệt đối với tầng lớp dân cư có thu nhập thấp và trung bình. Trung Quốc đã từ lâu chủ động được nguồn nguyên vật liệu lại tận dụng được nguồn nhân công dồi dào, giá rẻ, năng suất lao động cao, hệ thống phân phối bài bản thông qua Hoa Kiều. Những yếu tố này khiến sản phẩm giày dép Việt Nam phải cạnh tranh hết sức khó khăn trên thị trường Hoa Kỳ.

Các đối thủ cạnh tranh khác như Thái Lan, Inđônêxia, Ấn Độ đang tích cực đầu tư sản xuất và xuất khẩu mặt hàng này, trong khi hàng của Việt Nam chưa có được lợi thế cạnh tranh nổi bật.

  • Kim ngạch xuất khẩu giày dép Khóa luận: Thực trạng xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực của VN.

Theo thống kê của Hải quan Hoa Kỳ, hiện nay giầy dép Việt Nam chiếm khoảng hơn 4% tổng trị giá nhập khẩu của Hoa Kỳ. Việt Nam đã trở thành nước sản xuất giày dép được các nhà sản xuất và bán lẻ lớn trên thế giới quan tâm.

Năm 2022, Việt Nam là nước xuất khẩu giầy dép lớn thứ 8 vào Hoa Kỳ. Năm 2024, Việt Nam đã nhảy lên vị trí thứ 5 và đến năm 2025, Việt Nam đã vượt qua Inđônêsia trở thành nước xuất khẩu lớn thứ 4 về giầy dép vào Hoa Kỳ, chỉ đứng sau Trung quốc (khoảng 68%), Italia (khoảng 8%), Brazil (khoảng 7%).

  • Bảng 9: Kim ngạch xuất khẩu giày dép sang Hoa Kỳ

Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu giày dép cao nhất là vào năm 2022, đạt gần 72%. Đây chính là kết quả đạt được sau khi Hiệp định thương mại song phương có hiệu lực. Kim ngạch xuất khẩu vào Hoa Kỳ trong năm 2024 đã đạt đến 415,8 triệu USD và năm 2025 đạt hơn 611 triệu USD, chỉ đứng sau dệt may và thủy sản. Kim ngạch giầy dép trong năm 2025 tăng mạnh có thể một phần là do mặt hàng này gặp khó khăn về thị trường tại EU nên dồn sang thị trường Hoa Kỳ.

Như vậy, trong 5 năm, kim ngạch nhập khẩu giày dép của Hoa Kỳ từ Việt Nam đã tăng gần 6 lần, thị phần tăng mạnh từ 0,86% năm 2020 lên 4,02% năm 2025.

Theo một số chuyên gia giầy dép Hoa Kỳ, kim ngạch nhập khẩu giầy dép Việt Nam vào Hoa Kỳ thực tế có thể còn cao hơn con số thống kê trên do có một số giầy dép Việt Nam được nhập khẩu vào Châu Âu để gia công chế biến tiếp hoặc chỉ để bao gói lại và đóng mark sản xuất tại một nước nào đó ở Châu Âu sau đó tái xuất sang Hoa Kỳ.

  • Cơ cấu xuất khẩu giày dép

Hoa Kỳ nhập khẩu giày dép từ Việt Nam chủ yếu tập trung vào giày không cao su và giày cao su – plastic.

Hoa Kỳ là thị trường nhập khẩu giày thể thao mũ da thuộc lớn nhất của nước ta với lượng xuất khẩu 8 tháng năm 2026 đạt 0,84 triệu đôi và 15,48 triệu USD, tăng 135,45% về lượng và 138,67% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025.

Trong đó, lượng giày thể thao mũ da thuộc xuất khẩu với đơn giá dưới 18 USD/đôi chiếm 46,2%, đạt 389.648 đôi, tăng 106,61% so với 8 tháng năm 2025

Nếu chỉ tính riêng giầy dép cao su và vải thì hiện nay Việt Nam là nước xuất khẩu lớn thứ 2 vào Hoa Kỳ chỉ sau Trung Quốc. Đối thủ cạnh tranh chính của Việt Nam về giầy thể thao và giầy dép nữ là Trung Quốc, Brazil, và Indonêsia, đặc biệt là hàng giá rẻ từ Trung Quốc. Giá bình quân giầy dép Việt Nam xuất khẩu vào Hoa Kỳ cao hơn nhiều so với giá của Trung Quốc (loại giầy vải và cao su cao hơn khoảng 2 lần) và có xu hướng tăng. Điều này thể hiện Việt Nam là nơi phù hợp sản xuất các loại giầy dép cao cấp.

4. Mặt hàng cà phê Khóa luận: Thực trạng xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực của VN.

  • Giới thiệu vài nét về thị trường nhập khẩu cà phê của Hoa Kỳ

Hoa kỳ là nước tiêu thụ và nhập khẩu cà phê lớn nhất thế giới. Nhu cầu nhập khẩu cà phê của Hoa Kỳ tương đối ổn định mỗi năm khoảng 1,2 triệu tấn với trị giá 3 tỷ USD mỗi năm. Trị giá nhập khẩu năm 2023, 2024, 2025 lần lượt là 1,77, 2,06 và 2,75 tỷ USD. Khoảng 70% cà phê nhập khẩu và Hoa kỳ là loại cà phê arabica (chủ yếu từ Côlômbia, Brazil, Mêhicô…) và 30% còn lại là cà phê robusta (chủ yếu từ Việt nam và Inđônêxia).

Thuận lợi và khó khăn trong việc xuất khẩu cà phê sang Hoa Kỳ

  • Thuận lợi

Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ tuy không làm giảm thuế suất mặt hàng cà phê nhưng lại có tác động làm tăng giao lưu buôn bán với thị trường Hoa Kỳ cũng như tạo cơ hội cho các doanh nghiệp học hỏi kinh nghiệm về kỹ thuật công nghệ chế biến và phương pháp quản lý tiên tiến nhằm xuất khẩu thành phẩm, tạo dựng thương hiệu chiếm lĩnh thị trường Hoa Kỳ.

Hoa Kỳ có nền nông nghiệp phát triển nên có thể tự túc được nhiều loại nông sản. Tuy nhiên, đối với mặt hàng cà phê, Hoa Kỳ vẫn phải nhập khẩu. Vì vậy, Hoa Kỳ được xem là một thị trường tự do, không có bất kỳ một sự ngăn cản bảo hộ nào từ phía Chính phủ, chỉ có sự cạnh tranh về giá cả và chất lượng.

Theo các chuyên gia nông nghiệp và phân tích thị trường, Việt Nam đang rất có lợi thế về mặt hàng cà phê tại thị trường Hoa Kỳ và hiện nay Hoa Kỳ đang là thị trường xuất khẩu cà phê lớn thứ 2 của Việt Nam sau Bỉ. Các đối thủ cạnh tranh chính là Brazil và Inđônêxia.

Hiện nay việc Hoa Kỳ có thiện chí muốn quay trở lại Tổ chức Cà phê quốc tế (ICO) sau những nỗ lực vận động của tổ chức này đã dấy lên hi vọng mới cho các nhà xuất khẩu vì cường quốc nhập khẩu cà phê số 1 thế giới sẽ mang lại cơ hội bùng nổ tiêu thụ mặt hàng này tại thị trường Hoa Kỳ. Đồng thời, các nhà đầu tư Hoa Kỳ cũng sẽ quan tâm đầu tư vào các nước xuất khẩu cà phê lớn trên thế giới (trong đó có Việt Nam) nhằm hạn chế những bất lợi mà các nước này đang gặp phải và giúp ổn định lại lượng cung mặt hàng này trên thế giới.

  • Khó khăn

Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp – Phát triển nông thôn, cà phê nhân Việt Nam có chất lượng kém, tỷ lệ loại bỏ chiếm tỷ lệ cao trên thế giới. Năm 2025 cà phê Robusta của Việt Nam phải loại bỏ chiếm 89% của thế giới, tăng 9% so với cùng kỳ năm trước. Đây thực sự là một báo động về tình trạng chất lượng cà phê Việt Nam. Phần lớn cà phê hạt xuất khẩu là loại R2 với các chỉ tiêu về độ ẩm, tạp chất và hạt hư (hạt non, lép, đen, bể) cao hơn so với qui định của ICO, do việc xử lý thuỷ phần vẫn dựa nhiều vào tự nhiên (phơi nắng) hoặc sấy thủ công nên không chủ động kiểm soát được độ ẩm, ảnh hưởng đến tỷ lệ tạp chất và hạt hư.

Giá cà phê xuất khẩu của Việt Nam vào Hoa Kỳ thấp so với những nước xuất khẩu khác. Giá cà phê rosbuta hạt sống trung bình nhập khẩu vào Hoa Kỳ là 0.83 USD/kg, trong khi đó giá cà phê loại này của Việt Nam chỉ đạt trung bình 0,43 USD/kg. Ngoài ra, giá cà phê hạt sống chỉ chiếm khoảng 1/4 trong giá cà phê thành phẩm trên thị trường Hoa Kỳ và mang tên các thương hiệu lớn: Nestcafe, Starbuck.. Do vậy, lợi nhuận phần lớn nằm trong khâu chế biến và lưu thông bán lẻ do các tập đoàn đa quốc gia nắm giữ, lợi nhuận mà người trồng cà phê ở các nước đang phát triển có được chỉ là 8%.

Việt Nam tham gia vào thị trường kinh doanh mặt hàng này sau so với các nước trong khu vực nên chưa có kinh nghiệm nhiều, đặc biệt trong giao dịch kỳ hạn. Trị giá trừ lùi trong giao dịch kỳ hạn đối với cà phê Việt Nam bao giờ cũng cao hơn nhiều so với các nước khác. Cũng có thể coi đó là chi phí rủi ro mà các nhà nhập khẩu áp đặt do chất lượng sản phẩm không ổn định và chưa tin cậy vào khả năng giao hàng đúng hạn của Việt Nam. Khóa luận: Thực trạng xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực của VN.

Trong 10 nước xuất khẩu cà phê lớn nhất sang Hoa Kỳ hiện nay có tới 8 nước Hoa Kỳ La tinh đã có mặt trên thị trường Hoa Kỳ từ rất lâu. Đây là một thách thức đối với các doanh nghiệp Việt Nam bởi các nước này cùng với lợi thế về địa lý đã có thời gian dài thâm nhập thị trường này nên nắm vững thói quen, thị hiếu và đã thiết lập được các kênh thâm nhập hiệu quả. Bên cạnh đó, người Hoa Kỳ vẫn ưa chuộng sản phẩm cà phê chè (arabica) vốn xuất xứ từ Hoa Kỳ La tinh hơn so với cà phê vối từ Đông Nam Á.

  • Kim ngạch xuất khẩu cà phê

Với diện tích trồng cà phê 500.000 ha, Việt Nam trở thành cường quốc sản xuất, xuất khẩu cà phê lớn thứ 2 thế giới. Hàng năm, thị trường Hoa Kỳ chiếm 25 – 30% lượng cà phê xuất khẩu của cả nước.

  • Bảng 10: Kim ngạch xuất khẩu cà phê sang Hoa Kỳ qua các năm

Kim ngạch xuất khẩu cà phê sang Hoa Kỳ tăng mạnh mẽ vào năm 2023 (83,73% so với năm 2022) đã đưa Hoa Kỳ trở thành thị trường tiêu thụ cà phê xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, chiếm 20 – 25% thị phần, chủ yếu là cà phê thô. Tuy nhiên, kim ngạch xuất khẩu cà phê sang thị trường này trong năm 2022 lại giảm, chỉ bằng 68% kim ngạch năm 2021. Nguyên nhân của tình trạng này là do giá cà phê trên thế giới giảm, cộng với việc mặt hàng cà phê thô chưa được hưởng lợi từ Hiệp định thương mại song phương giữa hai nước (BTA).

Hiện nay, kim ngạch xuất khẩu cà phê sang Hoa Kỳ vẫn tiếp tục tăng tuy nhiên với tốc độ chậm. Mặc dù số lượng cà phê xuất khẩu không tăng (thậm chí còn giảm vào cuối năm 2025 và đầu năm 2026) nhưng kim ngạch vẫn tăng là do giá cà phê trên thế giới ngày càng cao do hậu quả của việc nguồn cung từ các nước xuất khẩu cà phê lớn trên thế giới bị hạn chế, chứ không phải là do chất lượng cà phê đã được cải thiện. Đặc biệt là trong tháng 7 năm 2026, giá cà phê đã lên đến đỉnh điểm cao nhất trong vòng 7 năm qua, đạt mức 1.618 USD/ tấn, tăng 40% so với cùng kỳ năm trước.

  • Cơ cấu xuất khẩu cà phê

Khoảng 95% cà phê của Việt Nam xuất khẩu vào Hoa kỳ là cà phê nguyên liệu chưa rang xay (hạt chưa rang và chưa tách cafêin), còn lại là cà phê hạt đã tách cafêin và cà phê rang xay đóng hộp.

5. Mặt hàng đồ gỗ Khóa luận: Thực trạng xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực của VN.

  • Giới thiệu vài nét về thị trường nhập khẩu đồ gỗ của Hoa Kỳ

Về kim ngạch nhập khẩu. Trong vòng 6 năm kể từ năm 2020, kim ngạch nhập khẩu gỗ và các sản phẩm gỗ của Hoa Kỳ khá cao. Đặc biệt vào năm 2024, tốc độ tăng trưởng kim ngạch nhập khẩu mặt hàng này tăng mạnh mẽ hơn 38% từ khoảng 16,5 tỷ USD năm 2023 lên 23 tỷ USD.

  • Bảng 11: Kim ngạch nhập khẩu gỗ và các sản phẩm làm từ gỗ của Hoa Kỳ

Về cơ cấu nhập khẩu. Nhu cầu đồ nội thất dùng trong gia đình và văn phòng của Hoa Kỳ rất lớn. Nếu chỉ tính riêng các mặt hàng đồ gỗ không được liệt kê ở các mục khác, đồ gỗ dùng trong phòng ngủ, ghế khung gỗ không bọc đệm, các bộ phận của ghế, ghế khung gỗ có bọc đệm, đồ gỗ trong bếp trừ ghế, đồ gỗ văn phòng trừ ghế thì khối lượng nhập khẩu của Hoa Kỳ một năm cũng lên tới khoảng gần 16 tỷ USD, trong đó hai mặt hàng chủ yếu là đồ gỗ dùng trong phòng ngủ và các loại đồ gỗ chưa được liệt kê vào các danh mục khác đã chiếm tới 6,7 tỷ USD.

Thuận lợi và khó khăn trong việc xuất khẩu đồ gỗ sang Hoa Kỳ

  • Thuận lợi

Xuất khẩu đồ gỗ nội thất Việt Nam vào thị trường Hoa Kỳ tăng nhanh nhờ có những điều kiện thuận lợi như:

Thuế nhập khẩu đồ gỗ từ Việt Nam giảm mạnh trung bình từ 50 – 55% xuống còn 0 – 3% sau Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ.

Một số công ty Hoa Kỳ đang có xu hướng khai thác thêm nguồn hàng ngoài Trung Quốc để đối phó với thuế chống bán phá giá đối với hàng đồ gỗ nhập từ nước này và để tránh phụ thuộc quá nhiều vào một nguồn cung.

  • Năng lực cung ứng hàng đồ gỗ của Việt Nam được tăng cường đáng kể. Nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã đầu tư thêm năng lực sản xuất và mở rộng sang lĩnh vực đồ gỗ trong nhà và đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực này tăng khá dẫn đến tăng mạnh khả năng cung.
  • Nhu cầu nhập khẩu đồ gỗ và tổng nhập khẩu đồ nội thất của Hoa Kỳ vẫn tiếp tục tăng.
  • Công tác xúc tiến thương mại nói chung và quảng bá về năng lực ngành công nghiệp đồ gỗ Việt Nam nói riêng tại Hoa Kỳ đã góp phần đáng kể làm cho các nhà nhập khẩu Hoa Kỳ quan tâm đến việc mua hàng từ Việt nam.

Với năng lực cung của Việt Nam đang và tiếp tục tăng mạnh trong các năm tới, một số mặt hàng đồ gỗ dùng trong phòng ngủ của Trung Quốc tiếp tục phải chịu thuế bán phá giá vào Hoa Kỳ ít nhất trong 5 năm nữa, xuất khẩu đồ gỗ vào Hoa Kỳ của một số nước giảm sẽ tạo điều kiện cho kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ của Việt Nam sang Hoa Kỳ tiếp tục tăng trưởng cao trong những năm tới. Khóa luận: Thực trạng xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực của VN.

Mặt khác, thị trường tiêu thụ đồ gỗ ở Hoa Kỳ cũng có xu hướng gia tăng dòng sản phẩm trung bình và cao cấp. Các doanh nghiệp Việt Nam đang tập trung khai thác dòng sản phẩm này nên sẽ tránh phải cạnh tranh với hàng cấp thấp của Trung Quốc, đồng thời giảm nguy cơ bị xem xét về bán phá giá.

  • Khó khăn

Việc đảm bảo nguyên liệu đầu vào cho sản xuất đồ gỗ là một trong những khó khăn nan giải nhất mà ngành sản xuất đồ gỗ chưa thực sự tìm ra được biện pháp khắc phục hiệu quả. Khó khăn xuất phát từ một thực tế là hiện nay Nhà nước hạn chế tới mức tối đa việc khai thác gỗ từ rừng tự nhiên nhằm đảm bảo giữ gìn môi trường. Theo đó, hàng năm, cả nước chỉ được phép khai thác khoảng 300.000 m3 từ nguồn rừng tự nhiên, con số này chỉ đáp ứng được 20% nguyên liệu cho ngành sản xuất phục vụ xuất khẩu.

Để bù đắp thiếu hụt còn lại, các doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ bắt buộc phải phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu từ các thị trường nước ngoài. Tuy nhiên, nhiều nước đã thực thi chính sách hạn chế xuất khẩu gỗ nguyên liệu. Hai nước xuất khẩu gỗ nhiều nhất Đông Nam Á, chiếm thị phần chủ yếu gỗ nhập khẩu của Việt Nam là Indonesia và Malaysia đã quyết định ngừng xuất khẩu gỗ xẻ làm cho các doanh nghiệp chế biến gỗ xuất khẩu của Việt Nam. Như vậy, các nhà máy chế biến gỗ luôn bị động, chịu sức ép lớn về nguyên liệu.

Giá gỗ nguyên liệu nhập khẩu biến động theo xu hướng tăng dần, trong khi giá bán ra của tất cả các sản phẩm không tăng. Với 80% nguyên liệu phải nhập khẩu, giá trị gia tăng trên mỗi sản phẩm gỗ xuất khẩu của VN chỉ đạt 10-15% giá trị xuất khẩu.

Ngoài ra, xuất khẩu vào thị trường Hoa Kỳ có tốc độ tăng trưởng cao nhưng kim ngạch không cao. Mẫu mã, chủng loại vẫn thua hàng Trung Quốc, Thái Lan, do đó các doanh nghiệp vẫn chỉ làm gia công cho các nước thứ 3, làm đầu mối và thu mua xuất khẩu cho các tập đoàn của nước ngoài. Vì vậy, xuất khẩu đồ gỗ dù tăng rất nhanh nhưng lợi nhuận thu về rất thấp..

Trong khi thế mạnh của đồ gỗ VN là ngoại thất thì nhu cầu của thị trường Hoa Kỳ lại nghiêng về nội thất.

Bên cạnh đó do sản phẩm đồ gỗ xuất khẩu của 80% doanh nghiệp trong nước chưa có chứng chỉ ISO và chứng chỉ rừng quốc tế FSC chứng minh nguồn gốc của sản phẩm nên hiện có tới 90% sản phẩm gỗ xuất khẩu của Việt Nam phải xuất qua trung gian như qua các tập đoàn nhập khẩu của Thuỵ Điển, Đài Loan, Trung Quốc.

Hơn nữa, đồ gỗ Việt Nam lại đang phải đối diện với nguy cơ bị kiện bán phá giá từ các doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ nội địa của Hoa Kỳ.

  • Kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ Khóa luận: Thực trạng xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực của VN.

Đồ gỗ là một trong những mặt hàng xuất khẩu sang Hoa Kỳ có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất. Kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này tăng liên tục từ năm 2020 đến nay. Số liệu bảng sau cho thấy mức tăng trưởng này trong 6 năm qua.

  • Bảng 12: Kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ sang Hoa Kỳ

Sau khi Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ được ký kết, thuế suất nhập khẩu mặt hàng đồ gỗ giảm mạnh xuống 0 –5% đã giúp cho kim ngạch xuất khẩu sang Hoa Kỳ tăng mạnh mẽ lên hơn 51 triệu USD, tăng hơn 2 lần so với trước khi Hiệp định có hiệu lực.

Nổi lên như một ngành xuất khẩu đầy tiềm năng, kim ngạch xuất khẩu của ngành chế biến gỗ năm 2024 đã vượt qua ngưỡng 1 tỉ USD, trong đó thị trường Hoa Kỳ đạt hơn 370 triệu USD và đang trở thành thị trường mục tiêu lớn nhất của đồ gỗ xuất khẩu Việt Nam, tăng khoảng 209,9% so với cùng kỳ năm ngoái.

Kim ngạch xuất khẩu năm 2025 đạt 566 triệu USD, tăng 52% so với cùng kỳ năm 2024. Nhóm hàng này đã vươn lên vị trí thứ 4 trong số các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ, sau dệt may, thuỷ sản và xấp xỉ bằng kim ngạch giầy dép.

  • Cơ cấu xuất khẩu đồ gỗ

Trong nhóm này, các mặt hàng đồ gỗ dùng trong phòng ngủ có kim ngạch lớn nhất và tốc độ tăng cao nhất. Năm 2024, kim ngạch các sản phẩm này đạt 151 triệu USD, chiếm 40% tổng kim ngạch xuất khẩu đồ nội thất của Việt Nam sang Hoa Kỳ và chiếm 5,6% tổng nhập khẩu của Hoa Kỳ. Năm 2025, tốc độ tăng của mặt hàng đồ gỗ dùng trong phòng ngủ vào khoảng 256% so với năm 2024.

Các loại ghế gỗ cũng có tốc độ tăng trưởng mạnh. Năm 2024, Việt Nam xuất khẩu 23,2 triệu USD ghế khung gỗ không bọc và 18,2 triệu USD ghế khung gỗ có bọc sang thị trường Hoa Kỳ, chiếm 2,5% và 0,8% tổng nhập khẩu các mặt hàng tương ứng của Hoa Kỳ. Tốc độ tăng trưởng kim ngạch 2 mặt hàng này trong năm 2025 là 66% đối với ghế khung gỗ không bọc và 80% đối với ghế gỗ có bọc so với năm trước.

Đồ gỗ sử dụng trong bếp tăng 200% trong năm 2024 thì trong năm 2025 chỉ tăng khoảng 15% và đạt 12,7 triệu USD. Trong khi đó, đồ gỗ sử dụng trong văn phòng có tốc độ tăng trưởng mạnh hơn, đạt 3,74 triệu USD, tăng 96% so với cùng kỳ năm ngoái.

Đồ nội thất bằng kim loại, nhựa hoặc từ các chất liệu khác còn chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong tổng xuất khẩu đồ nội thất của Việt Nam sang Hoa Kỳ, mặc dù thị trường Hoa Kỳ cũng có nhu cầu lớn đối với các mặt hàng này.

Theo Hiệp hội Chế biến gỗ, bên cạnh việc sử dụng đồ gỗ thuần túy thì một xu hướng đang gia tăng là sử dụng đồ gỗ có thêm những chi tiết bằng vật liệu khác như kim loại, nhựa, da, vải….

III/ NHỮNG VẤN ĐỀ CÒN HẠN CHẾ TRONG VIỆC XUẤT KHẨU CÁC MẶT HÀNG CHỦ LỰC SANG THỊ TRƯỜNG HOA KỲ Khóa luận: Thực trạng xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực của VN.

Hạn chế nổi bật là nhìn chung, một số mặt hàng chủ lực còn trong tình trạng sản xuất nhỏ và manh mún, liên kết giữa các doanh nghiệp xuất khẩu còn yếu nên hết sức khó khăn để thâm nhập thị trường Hoa Kỳ, một thị trường đòi hỏi khối lượng quy mô và giá cả cạnh tranh.

Qui mô xuất khẩu các mặt hàng chủ lực sang Hoa Kỳ còn nhỏ bé, xuất khẩu tăng trưởng nhanh nhưng chưa vững chắc và rất dễ bị tổn thương bởi các cú sốc từ bên ngoài như sự biến động giá cả trên thị trường thế giới hay sự xuất hiện của các rào cản thương mại mới của Hoa Kỳ.

Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sang Hoa Kỳ còn chưa hợp lý trên cả ba phương diện: một là, chủng loại hàng hóa còn đơn điệu, chậm xuất hiện những mặt hàng xuất khẩu mới có đóng góp kim ngạch đáng kể; hai là, các mặt hàng xuất khẩu có giá trị gia tăng còn thấp do chủ yếu vẫn là các mặt hàng như nông, lâm, thủy, hải sản trong khi các mặt hàng công nghiệp như dệt may, da giày chủ yếu vẫn mang tính chất gia công; ba là, quá trình chuyển dịch cơ cấu mặt hàng xuất khẩu theo hướng công nghiệp hóa diễn ra chậm và chưa có giải pháp cơ bản, triệt để, chủ yếu chuyển dịch theo chiều rộng mà chưa đi vào chiều sâu.

Nhìn vào cơ cấu giá trị trong mỗi đơn vị hàng hoá xuất khẩu có thể thấy có nhiều mặt hàng chủ lực nếu Việt Nam càng xuất khẩu được nhiều thì càng thiệt thòi bởi chủ yếu những mặt hàng này được xuất khẩu dưới dạng nguyên liệu thô và sơ chế. Sau nhiều năm chật vật, tỷ trọng hàng Việt Nam xuất khẩu đã qua chế biến, cho dù còn thô sơ, cũng mới chỉ dừng lại ở mức gần 40% tổng lượng hàng xuất khẩu. Lượng cà phê Việt Nam xuất khẩu ra thị trường thế giới mỗi niên vụ đủ làm biến động giá cà phê trên các sàn giao dịch quốc tế nhưng mấy người Hoa Kỳ biết đến một thương hiệu cà phê Việt Nam rang xay. Các món ăn chế biến từ tôm cá Việt Nam vẫn không thể có mặt trong các siêu thị lớn của Hoa Kỳ, mà thay vào đó chỉ là tôm cá đông lạnh mà thôi. Phần giá trị gia tăng rất lớn của mỗi mặt hàng chế biến sâu thuộc về các hãng chế biến nước ngoài.

Cho tới nay Việt Nam vẫn chưa hình thành được hệ thống các ngành công nghiệp phục vụ sản xuất hàng xuất khẩu. Dệt may và gia dày phụ thuộc nguyên phụ liệu nhập khẩu gần hết trị giá xuất khẩu. Sự lệ thuộc nguyên phụ liệu nước ngoài không những làm cho tiền lãi thực sự không bao nhiêu, mà còn khiến sản phẩm Việt Nam khó cạnh tranh trên thị trường Hoa Kỳ.

Khả năng chủ động nắm bắt những cơ hội thuận lợi để thâm nhập và khai thác thị trường Hoa Kỳ của các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam còn nhiều hạn chế. Nguyên nhân là do đại bộ phận các doanh nghiệp xuất khẩu có quy mô nhỏ, yếu về năng lực, kém về kiến thức và kinh nghiệm kinh doanh thương mại quốc tế.

Theo các chuyên gia kinh tế, hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam khi bán hàng cho đối tác Hoa Kỳ ít quan tâm đến các vấn đề pháp lý liên quan, vì vậy, thường gặp nhiều rủi ro về mặt pháp lý trong giao dịch thương mại với doanh nghiệp nước ngoài. Một vướng mắc khác mà doanh nghiệp hay gặp là thủ tục hải quan khi xuất hàng vào thị trường Hoa Kỳ. Phần lớn những trục trặc về thủ tục này rơi vào trường hợp doanh nghiệp chưa biết cách điền vào tờ khai, khai không đúng số lượng, chi tiết về hàng hóa trong bảng kê… Khóa luận: Thực trạng xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực của VN.

Hơn nữa, công tác mạng lưới đại diện thương mại ở Hoa Kỳ còn nhiều yếu kém, chưa thực sự hỗ trợ tốt cho hoạt động xuất khẩu, các chương trình xúc tiến thương mại còn nhỏ lẽ, rời rạc và hiệu quả chưa cao.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>> Khóa luận: Giải pháp xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực của VN

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

1 Bình luận
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
trackback

[…] ===>> Khóa luận: Thực trạng xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực của VN […]

Contact Me on Zalo
0877682993
1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x