Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Đẩy mạnh xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực của VN hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Khóa luận: Thực trạng và giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực của Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
Nội dung chính
LỜI MỞ ĐẦU
- Tính cấp thiết của đề tài
Với kim ngạch nhập khẩu hàng hoá năm 2025 lên tới 1.998 tỷ USD và tốc độ tăng trưởng kim ngạch trung bình hàng năm 9,9%, Hoa Kỳ là thị trường khổng lồ và hấp dẫn đối với bất kỳ doanh nghiệp nào trên thế giới. Kể từ khi Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ được ký kết (2021), kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ đã có sự tăng trưởng mạnh mẽ, từ 1,065 tỷ USD năm 2021 lên 5,9 tỷ USD năm 2025. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng chủ lực của Việt Nam như dệt may, thủy sản, giày dép… chiếm tỷ trọng lớn.
Tuy nhiên, việc xuất khẩu các mặt hàng chủ lực của Việt Nam sang Hoa Kỳ đến nay vẫn còn nhiều hạn chế: một là Hoa Kỳ còn là một thị trường rất mới đối với Việt Nam nên các doanh nghiệp vẫn chưa nắm rõ những thủ tục pháp lý và chính sách nhập khẩu của Hoa Kỳ; hai là còn tồn tại những bất đồng trong văn hoá kinh doanh và các tập quán buôn bán giữa hai nước Việt Nam và Hoa Kỳ; ba là năng lực cạnh tranh của các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam còn yếu do chưa có hàm lượng công nghệ kỹ thuật cao, chủ yếu còn là các sản phẩm thô và sơ chế; bốn là Việt Nam chưa trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) nên tiềm lực xuất khẩu của nước ta sang Hoa Kỳ vẫn gặp nhiều hạn chế và bất lợi trong các vụ tranh chấp thương mại.
Do hoạt động xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ vẫn còn những tồn tại nói trên nên việc nghiên cứu thực trạng và đưa ra các giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng chủ lực của Việt Nam sang Hoa Kỳ trở thành những vấn đề cần thiết và bức xúc, đòi hỏi phải có những phân tích chính xác và kịp thời để có những giải pháp phù hợp.
- Mục tiêu nghiên cứu
Từ việc nghiên cứu thực trạng xuất khẩu các mặt hàng chủ lực của Việt Nam sang Hoa Kỳ, đồng thời phân tích những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức đối với từng mặt hàng, khoá luận đưa ra những biện pháp hữu hiệu nhằm khắc phục những điểm yếu, hạn chế thách thức, phát huy tối đa những điểm mạnh, từ đó đẩy mạnh xuất khẩu những mặt hàng chủ lực của Việt Nam sang Hoa Kỳ trong thời gian sắp tới.
- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Khóa luận sẽ tập trung nghiên cứu thực trạng xuất khẩu năm mặt hàng chủ lực của Việt Nam bao gồm: dệt may, thuỷ sản, giày dép, cà phê và đồ gỗ trong thời kỳ từ năm 2020 đến nay và đưa ra những giải pháp cụ thể để thúc đẩy xuất khẩu năm mặt hàng này sang thị trường Hoa Kỳ.
- Phương pháp nghiên cứu
Khoá luận áp dụng các phương pháp nghiên cứu như: so sánh, đối chiếu, tổng hợp, thống kê, phân tích… dựa trên các số liệu thu thập được để làm nổi bật những thành tựu đã đạt được và những hạn chế cần khắc phục.
- Kết cấu của khóa luận: Khóa luận: Đẩy mạnh xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực của VN.
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung khoá luận được chia ra làm ba chương:
- Chương I : Tổng quan về thị trường Hoa Kỳ và quan hệ thương mại Việt Nam- Hoa Kỳ
- Chương II : Thực trạng xuất khẩu một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ
- Chương III : Một số giải pháp giúp đỡ doanh nghiệp đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng chủ lực của Việt Nam sang Hoa Kỳ
CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG HOA KỲ VÀ QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM – HOA KỲ
I/ TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG HOA KỲ
1. Giới thiệu chung về điều kiện tự nhiên và dân cư
Vị trí địa lý : Hoa Kỳ nằm ở Bắc Hoa Kỳ, phía đông là Bắc Đại Tây Dương, phía tây là Bắc Thái Bình Dương, phía bắc tiếp giáp với Canada, và phía nam tiếp giáp với Mêhicô.
Tổng diện tích : 9.629.254 km2, chiếm 6,2% diện tích toàn cầu, trong đó diện tích đất đai là 9.159.123 km2 và diện tích mặt nước là 470.131 km2.
Tài nguyên: than đá, đồng, chì, molybdenum, phốt phát, uranium, bô xít, vàng, quặng sắt, thuỷ ngân, nicken, muối kali, bạc, tungsten, thiếc, dầu lửa, khí…
Dân số: 297.883.322 (năm 2026) trong đó:
Tốc độ tăng dân số hàng năm khoảng 0,92% Mật độ : 32 người / km2
Sắc tộc : người da trắng chiếm 77,1%, người da đen chiếm 12,9%, người Châu Á 4,2%, còn lại là thổ dân và các dân tộc khác. Khoảng 30% dân số Hoa Kỳ là người nhập cư. Hiện nay, hàng năm Hoa Kỳ có khoảng 1 triệu người nhập cư.
Lịch sử : Hoa Kỳ tách ra khỏi khối thuộc địa Anh năm 1776 và được công nhận là một quốc gia độc lập sau khi Anh và Hoa Kỳ ký Hiệp ước Paris năm 1783. Hiện nay, Hoa Kỳ có 50 bang và 5 khu hành chính trực thuộc.
Thủ đô : Thủ đô Hoa Kỳ hiện nay là Washington D.C (Washington là họ của tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ là George Washington và DC là viết tắt của The District of Columbia – tên trước đây của vùng đất này). Washington DC có diện tích là 176 km2 và khoảng gần 600 nghìn dân.
2. Vài nét về nền kinh tế Hoa Kỳ Khóa luận: Đẩy mạnh xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực của VN.
2.1 Quy mô kinh tế
Mặc dầu, tỷ trọng GDP của Hoa Kỳ trong tổng GDP của toàn thế giới có xu hướng giảm, xong Hoa Kỳ vẫn là nước có thu nhập quốc dân lớn nhất và có thu nhập bình quân đầu người đứng đầu thế giới. Năm 2026, tổng thu nhập quốc dân của Hoa Kỳ ước tính khoảng 13.049,299 tỷ USD, tăng 2,67% so với GDP năm 2025 và chiếm khoảng trên 31% tổng thu nhập quốc dân toàn cầu. Thu nhập bình quân đầu người của Hoa Kỳ trong cùng năm ước tính khoảng 43.555 USD.
2.2 Cơ cấu kinh tế
Trong cơ cấu kinh tế của Hoa Kỳ, hiện nay, có tới 79,4% GDP được tạo ra từ các ngành dịch vụ, trong khi đó công nghiệp chỉ chiếm 19,7% và nông nghiệp chỉ đóng góp 0,9%. Tỷ trọng dịch vụ trong GDP của Hoa Kỳ còn tiếp tục tăng trong các năm tới.
Các ngành công nghiệp chính của Hoa Kỳ bao gồm: dầu lửa, sắt thép, ô tô, hàng không, viễn thông, hoá chất, điện tử, chế biến thực phẩm, hàng tiêu dùng, khai thác gỗ, khai khoáng. Các ngành chế tạo hàng không, điện tử, tin học, nguyên tử, vũ trụ, hoá chất là những ngành công nghiệp mũi nhọn của Hoa Kỳ. Trong lĩnh vực tài chính tiền tệ, hiện nay, Hoa Kỳ chiếm khoảng 50% tổng lưu lượng thanh toán và đầu tư quốc tế thực hiện bằng đồng đôla. Các sản phẩm nông nghiệp chính của Hoa Kỳ gồm lúa mỳ, các loại ngũ cốc khác, ngô, hoa quả, bông, thịt bò, thịt lợn, gia cầm, sản phẩm sữa, lâm sản, cá.
2.3 Tốc độ tăng trưởng
Bảng sau sẽ cho thấy tốc độ tăng trưởng kinh tế của Hoa Kỳ không ổn định và không đồng đều qua các năm từ 2020 đến năm 2025. Trong đó tốc độ tăng GDP thấp nhất là vào năm 2021, chỉ đạt 0,5%. Nguyên nhân chính là do sự kiện khủng bố ngày 11/9 đã làm ảnh hưởng nặng nề đến nền kinh tế Hoa Kỳ.
2.4 Hoạt động thương mại
Kim ngạch xuất nhập khẩu của Hoa Kỳ chiếm khoảng 25% GDP, là nước xuất, nhập khẩu lớn nhất thế giới. Bất chấp giá dầu cao và hậu quả nặng nề của cơn bão Katrina, năm 2025 Hoa Kỳ xuất khẩu trị giá 1.272 tỷ đôla và nhập khẩu trị giá 1.998 tỷ đôla, tăng 11,77% và 11,93% so với năm 2024.
Các sản phẩm xuất khẩu gần đây có sự giảm sút là thiết bị, máy móc đầu vào, ô tô và phụ tùng, động cơ, thực phẩm, bia. Những mặt hàng có sự tăng trưởng là hàng hoá tiêu dùng cao cấp, thiết bị và máy móc công nghiệp và nguyên vật liệu mới.
Các mặt hàng nhập khẩu gần đây có sự tăng trưởng là hàng tiêu dùng, bia, thực phẩm,… và những mặt hàng có sự suy giảm là nguyên vât liệu và thiết bị công nghiệp, hàng hoá đầu vào, ô tô và phụ tùng, động cơ…
Hoa Kỳ bị thâm hụt thương mại ở mức cao liên tiếp trong gần 2 thập kỷ, đặc biệt tăng liên tục ở mức kỷ lục là 726 tỷ đô la năm 2025, chiếm 5,8%, vượt mức báo động (5,5% GDP).
- Bảng 1: Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Hoa Kỳ thời kỳ 2020-2025
2.5 Các bạn hàng chính
Hiện nay, Hoa Kỳ có quan hệ buôn bán với 230 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới. Các bạn hàng buôn bán lớn nhất của Hoa Kỳ là Canada, Mexico, Nhật Bản, ASEAN, Trung Quốc, Anh, Đức, Pháp, Hà Lan. Kể từ năm 2023 đến nay, Trung Quốc đã vượt Mêhicô trở thành nước xuất khẩu lớn thứ 2 vào Hoa Kỳ, sau Canada.
3. Môi trường luật pháp và chính sách thương mại của Hoa Kỳ Khóa luận: Đẩy mạnh xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực của VN.
3.1 Một số chính sách và pháp luật thương mại của Hoa Kỳ
- Luật thương mại Hoa Kỳ có rất nhiều và phức tạp.
Luật thương mại 1930: được ban hành nhằm bảo hộ các nhà sản xuất Hoa Kỳ khỏi hàng hoá giá cả thấp được sản xuất ở nước ngoài.
Luật Thoả thuận thương mại có đi có lại 1934: Các nhà làm chính sách của Hoa Kỳ nhanh chóng nhận ra sai lầm của chủ nghĩa bảo hộ và hướng tới thị trường tự do. Năm 1934, đạo luật này trở thành hòn đá tảng trong chính sách thương mại của Hoa Kỳ.
Mở rộng điều luật năm 1954 và các điều khoản tự vệ: Sự mở rộng điều luật vào năm 1955 và 1958 bao gồm các điều khoản giải thoát cho miễn giảm thuế quan. Năm 1958, Quốc hội Hoa Kỳ đã cho phép tổng thống đưa ra sự nhượng bộ thuế lên tới 20% và được trải đều trong 4 năm.
Luật cải cách thương mại 1974: cho phép Chính phủ được quyền cắt giảm 60% mức thuế quan sau vòng đàm phán hậu Kenedy và loại bỏ các thuế nhập khẩu mức 5% hoặc nhỏ hơn như một bộ phận của thoả thuận thương mại với các nước khác.
Luật công ty thương mại xuất khẩu 1982: khuyến khích việc thành lập các công ty thương mại tổng hợp như ở các nước khác. Điều luật này cho phép các hãng của Hoa Kỳ hợp sức với nhau để bán sản phẩm của họ ở nước ngoài ngay cả khi Luật chống độc quyền không cho phép họ hành động như vậy trong phạm vi Hoa Kỳ.
Luật thuế quan và thương mại 1984: Luật này cho phép Tổng thống thương lượng giảm bớt hoặc loại bỏ hàng rào đối với thương mại trong lĩnh vực dịch vụ, sản phẩm công nghệ cao, mua bán và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Luật này cũng cho phép thương lượng với Isarel về khu vực mậu dịch tự do.
Sau 60 năm ban hành Đạo luật thoả thuận thương mại có đi có lại – hòn đá tảng trong chính sách thương mại của Hoa Kỳ, Hoa Kỳ đã trở nên một trong những cường quốc thương mại lớn nhất thế giới. Yếu tố quan trọng nhất duy trì sức cạnh tranh là tính mở cửa của nền kinh tế Hoa Kỳ. Chính sách thương mại hiện nay của Washington không chỉ khác với chính sách trước đây ở sự nỗ lực của giới cầm quyền áp dụng một cách triệt để hơn nữa khái niệm “buôn bán bình đẳng” mà còn bởi sự xuất hiện của những dấu hiệu biến dạng nhất định trong nguyên tắc có đi có lại.
3.2 Chính sách nhập khẩu của Hoa Kỳ Khóa luận: Đẩy mạnh xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực của VN.
Nằm trong tổng thể chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ, chính sách nhập khẩu của Hoa Kỳ phục vụ cho lợi ích của quốc gia, cụ thể là phục vụ cho người tiêu dùng và phát triển các ngành kỹ thuật cao, từ đó tối ưu hoá cơ cấu nền kinh tế. Xét tổng thể, chính sách nhập khẩu của Hoa Kỳ có năm mục đích nổi bật như sau:
- Hàng hoá nhập khẩu nhằm mục đích đa dạng hoá nền kinh tế và tăng tính năng động cho mỗi ngành sản xuất cũng như từng doanh nghiệp Hoa Kỳ.
- Tăng cường cạnh tranh giữa doanh nghiệp Hoa Kỳ và doanh nghiệp nước ngoài, tiến tới cải thiện công nghệ quản lý, công nghệ kỹ thuật và cuối cùng là giảm giá bán cho người tiêu dùng.
- Tăng cường cơ hội và phạm vi lựa chọn cho người tiêu dùng Hoa Kỳ.
- Tạo đối trọng nhằm gây sức ép để các nước đối tác mở cửa thị trường cho sản phẩm của Hoa Kỳ.
- Kết hợp chặt chẽ với các chính sách quân sự và ngoại giao tạo thành công cụ gây sức ép trong quan hệ đối ngoại, điển hình là công cụ trừng phạt hoặc trợ giúp kinh tế.
Về nhập khẩu, một mặt Hoa Kỳ chủ trương sản xuất những hàng hoá và dịch vụ gì nước khác không sản xuất nổi và tập trung vào những ngành cần nhiều công nghệ tinh vi phức tạp nhưng cũng đem lại nhiều lợi nhuận nhất, mặt khác khuyến khích việc nhập khẩu hàng hoá rẻ tiền cần nhiều sức lao động, nhằm hạ giá thành đối với sản phẩm tiêu dùng, đáp ứng phần lớn nhu cầu người nghèo và tầng lớp trung lưu, đồng thời góp phần kiềm chế lạm phát. Đây là thuận lợi lớn cho các nước đang phát triển đang làm hàng gia công xuất khẩu vào Hoa Kỳ như các nước Châu Á- Thái Bình Dương và các nước Châu Hoa Kỳ Latinh.
- Có 4 điểm lớn trong chính sách nhập khẩu của Hoa Kỳ với các nước đang phát triển. Cụ thể là:
Thứ nhất: Đẩy mạnh mở cửa thị trường thông qua mở rộng cơ hội tiếp cận thị trường Hoa Kỳ cho hầu hết các đối tác thương mại trên toàn thế giới để phục vụ toàn cầu hoá kinh tế. Các biện pháp thuế quan được sử dụng chủ yếu. Một số ít biện pháp phi thuế được WTO cho phép vẫn sử dụng. Chính sách này dành cho nhóm 1 (thành viên WTO).
Thứ hai: Các quy định áp dụng mang tính song biên gần đạt tới đối xử thành viên WTO, song còn có một số hạn chế nhất định. Điều này được lý giải bởi hầu hết các Hiệp định thương mại song biên ký với Hoa Kỳ đều dựa trên khung và các nguyên tắc của WTO (Việt Nam thuộc nhóm này). Khóa luận: Đẩy mạnh xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực của VN.
Thứ ba: Các quy định áp dụng mang tính phân biệt đối xử. Các quy định này gần như hạn chế hoàn toàn khả năng tiếp cận thị trường Hoa Kỳ. Chính sách này áp dụng với các nước ở nhóm 3 (một số nước như Irắc, Cuba, Libia…)
Thứ tư: Liên quan đến chính sách được áp dụng để điều tiết sự phát triển quan hệ tự do thương mại song biên hoặc khu vực mà Hoa Kỳ có chính sách riêng – Chính sách thương mại theo khu vực hoặc với một số nước nhất định có quyền lợi đặc biệt với Hoa Kỳ (ví dụ như Hiệp định tự do thương mại Hoa Kỳ – Isarel, Hiệp định tự do thương mại Hoa Kỳ – Giocdani… ).
Ngoài bốn điểm lớn trên còn các quy định đặc thù áp dụng chung cho mọi loại hàng hoá nhập khẩu: phục vụ lợi ích người tiêu dùng của mình, Hoa Kỳ thực thi chính sách nhập khẩu khá nghiêm ngặt xét về khía cạnh các tiêu chuẩn kỹ thuật, an toàn và vệ sinh. Đối với những nước đang phát triển chưa có hệ thống kiểm soát chất lượng và kiểm dịch an toàn, hoàn thiện thì đây là một trở ngại rất lớn (ví dụ như đối với Việt Nam).
4. Một số điều cần biết khi kinh doanh với các doanh nghiệp Hoa Kỳ
- Tính cách người Hoa Kỳ
Người Hoa Kỳ biết tôn trọng lời hứa. Nếu nhận thấy điều gì làm được, họ hứa và thực hiện cho được, những điều gì cảm thấy khó khăn, không cho phép hứa hẹn thì họ trả lời “không”, khác với người Nhật, dù rõ ràng phải trả lời “không” nhưng lại cố tìm cách tránh né. Chính vì vậy, khi bị người khác thất hứa, người Hoa Kỳ có thể giận dữ và hủy bỏ quan hệ.
Cách tính toán sòng phẳng đến chi li cho mọi việc bất kể đối với ai, từ người thân trong gia đình tới bạn hữu đã tạo cho người Hoa Kỳ một đặc điểm riêng, đó là tính thực dụng. Tính thực dụng của người Hoa Kỳ có nhiều tác động tốt cho sản xuất kinh doanh, nó giúp cho việc phá bỏ những tư duy, quan niệm cũ hoặc những tập quán lạc hậu để tìm tới những giải pháp mới, hợp lý hơn và hiệu quả hơn.
Người Hoa Kỳ đặc biệt coi trọng sự đúng giờ. Ở Hoa Kỳ, thời gian quý như tiền bạc nên việc sử dụng thời giờ thường khá chặt chẽ theo một chương trình định trước. Muốn gặp gỡ làm việc với người Hoa Kỳ cần phải gọi điện trước và khi đã thỏa thuận được thời điểm thì nhất thiết phải có mặt đúng giờ. Sự sai hẹn, có khi chỉ 5 phút là điều bất lịch sự mà một số người đã quen sử dụng rành rọt thời gian có thể tức giận, huỷ bỏ cuộc gặp gỡ.
- Tiếp xúc và những nghi lễ xã giao Khóa luận: Đẩy mạnh xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực của VN.
Cũng giống như người Châu Á, người Hoa Kỳ có một số phép lịch sự tối thiểu cần phải để ý trong khi giao tiếp. Chẳng hạn, nếu ai đó hắt hơi, nhảy mũi thì nếu ở gần, ta phải chúc phúc lành, còn nếu ta bị hắt hơi phải nói câu xin lỗi và sau khi được chúc cần phải cảm ơn. Cố gắng tránh ho, hỉ mũi, cạy móng tay và xỉa răng… nơi công cộng.
Bắt tay là cử chỉ thân thiện thông thường khi gặp mặt nhưng cần chú ý rằng chỉ khi phụ nữ đã sẵn sàng mới được chủ động chìa tay ra. Người Hoa Kỳ ít bắt tay lúc từ biệt nên không cần phải quá chú ý vào động tác này.
Người Hoa Kỳ thường quan tâm tới hình thức của phòng họp, phòng làm việc. Nói chung các phòng này được xếp đặt, bố trí rất kiểu cách, sang trọng và sạch sẽ. Vì vậy, với tư cách là chủ nhà đón khách cần phải chuẩn bị nơi hội họp nghiêm túc, sạch sẽ và thông báo những ai có trong thành phần họp có mặt đúng giờ cùng những tài liệu cần thiết cho cuộc họp. Chủ nhà cần phải chủ động giới thiệu trước và nếu có phụ nữ trong cuộc họp thì giới thiệu phụ nữ trước tiên. Người được giới thiệu cần phải đứng dậy và tươi cười xã giao.
- Thương lượng kinh doanh với người Hoa Kỳ
Đặc điểm nổi bật trong cách thương lượng của người Hoa Kỳ là sớm loại bỏ những lời lẽ rườm rà, đi ngay vào mục đích và càng đi càng nhanh. Ngoài lý do tiết kiệm thời gian, họ luôn muốn nhanh chóng định đoạt thương vụ. Nếu thấy không có khả năng buôn bán được gì, họ lập tức gạt vấn đề ra một bên để dành thời gian tiếp xúc thương lượng với người khác.
II/ TỔNG QUAN VỀ QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM – HOA KỲ Khóa luận: Đẩy mạnh xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực của VN.
1. Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất nhập khẩu giữa hai nước
Vào năm 2021, trước khi Hiệp định thương mại có hiệu lực, thị trường Hoa Kỳ chỉ chiếm 7% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam và xuất khẩu của Việt Nam chỉ chiếm 0,2% tổng kim ngạch nhập khẩu của Hoa Kỳ từ các nước đang phát triển. Năm 2022, năm đầu tiên sau Hiệp định thương mại, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào Hoa Kỳ đã tăng gấp đôi (tăng 128% trong năm 2022) trong khi tổng kim ngạch xuất khẩu tăng 10%. Trên thực tế, khoảng 90% tăng trưởng của kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam trong năm 2022 là do sự tăng trưởng của xuất khẩu sang Hoa Kỳ. Kết quả là chỉ trong một năm sau khi ký kết Hiệp định thương mại, tỷ trọng của thị trường Hoa Kỳ trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đã tăng gấp đôi, lên đến 14%. Trong thời kỳ 4 năm từ năm 2022 đến 2025, tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu của hàng hoá Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ tăng trung bình 15%/năm.
Xuất khẩu của Hoa Kỳ vào Việt Nam tăng ở mức 26% trong năm 2022, phù hợp với mức tăng trưởng của những năm trước, nhưng tốc độ này cao hơn nhiều so với tổng mức xuất khẩu của Hoa Kỳ và nhanh hơn so với tổng mức nhập khẩu của Việt Nam là 20%. Sau khi ký kết Hiệp định thương mại, xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ tăng nhanh hơn xuất khẩu của Hoa Kỳ vào Việt Nam, vì nhượng bộ thuế quan Hoa Kỳ dành cho Việt Nam nhiều hơn nhiều so với những nhượng bộ mà Việt Nam dành cho Hoa Kỳ. Xuất khẩu của Hoa Kỳ sang Việt Nam cũng tăng đến 250% trong vòng 5 năm qua.
Kể từ sau khi Hiệp định thương mại song phương được ký kết, tốc độ tăng trưởng thương mại của Việt Nam và Hoa Kỳ đã đạt 450%. Đây là tốc độ tăng trưởng rất lớn, tiềm năng tăng trưởng còn rất nhiều.
2. Kim ngạch xuất nhập khẩu giữa hai nước Khóa luận: Đẩy mạnh xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực của VN.
Kim ngạch thương mại hàng hoá hai chiều đã tăng từ 220 triệu USD năm 2014 – năm Hoa Kỳ bỏ cấm vận kinh tế đối với Việt Nam – lên 1,4 tỷ USD năm 2021– năm trước khi BTA có hiệu lực– và đạt gần 7,7 tỷ USD năm 2025.
- Bảng 2: Kim ngạch xuất nhập khẩu hai chiều Việt Nam – Hoa Kỳ
Từ bảng số liệu trên ta thấy từ năm 2020 đến năm 2025, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ đã tăng trưởng mạnh mẽ và lớn hơn nhiều so với mức tăng của kim ngạch nhập khẩu từ Hoa Kỳ.
Tỉ trọng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam so với kim ngạch nhập khẩu của Hoa Kỳ cũng tăng lên đáng kể, từ 5,06% năm 2020 lên tới 20,2% năm 2025 và liên tục tăng lên qua các năm trừ năm 2024. Nguyên nhân là do trong năm 2024, Việt Nam vướng phải một số vụ kiện liên quan đến tranh chấp thương mại như vụ kiện về bán phá giá tôm đông lạnh nhập khẩu vào Hoa Kỳ cộng thêm với hậu quả sau vụ kiện bán phá giá cá tra và cá basa khiến cho kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang Hoa Kỳ giảm mạnh. Hơn nữa, việc ký kết Hiệp định dệt may Việt Nam – Hoa Kỳ cũng đã hạn chế kim ngạch nhập khẩu hàng dệt may vào nước này do hàng dệt may Việt Nam phải chịu hạn ngạch.
Trong khi đó tỉ trọng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ Hoa Kỳ không có những chuyển biến rõ rệt. Một điều dễ nhận thấy là năm 2023, kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ Hoa Kỳ đạt được kết quả rất khả quan với mức tỉ trọng cao nhất trong vòng 6 năm, đạt 4,53% tăng gấp đôi so với tỷ trọng nhập khẩu năm 2022. Nguyên nhân của hiện tượng này là do trong năm 2023, Việt Nam đã nhập khẩu máy bay Boeing, mặt hàng có giá trị rất lớn, từ Hoa Kỳ khiến cho tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ Hoa Kỳ tăng lên đáng kể.
Đồ thị sau sẽ cho thấy rõ hơn mức chênh lệch về kim ngạch và mức tăng trưởng kim ngạch xuất nhập khẩu giữa hai nước từ năm 2020 đến năm 2025.
Hiện nay Hoa Kỳ đang đứng đầu trong nhóm 7 nước xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, chiếm khoảng 20% tổng kim ngạch xuất khẩu của nước ta. Nếu tính riêng về xuất khẩu, Việt Nam là nước xuất khẩu lớn thứ 44 vào Hoa Kỳ trong năm 2025.
3. Cơ cấu mặt hàng xuất nhập khẩu giữa hai nước Việt Nam xuất khẩu sang Hoa Kỳ
Cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ có sự khác biệt so với các nước đang phát triển khác, đặc biệt là các nước Châu Á, đó là tỉ trọng hàng công nghiệp chế tạo chỉ chiếm dưới 1/4 tổng kim ngạch xuất khẩu sang Hoa Kỳ. Cho đến nay, xuất khẩu của Việt Nam vào Hoa Kỳ chủ yếu là các sản phẩm chưa chế biến hoặc sơ chế.
Đứng đầu trong các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ là : dệt may, thuỷ hải sản (kể cả thuỷ hải sản chế biến), giầy dép, nông lâm sản và thực phẩm (kể cả thực phẩm chế biến, trong đó chủ yếu là cà phê, hạt điều, tiêu, mật ong tự nhiên, cao su thiên nhiên), dầu khí và các sản phẩm dầu khí, đồ gỗ nội thất. So với 2024, kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang Hoa Kỳ năm 2025 tăng hơn 20%, trong đó nhóm dệt may chỉ tăng 1,3%, thuỷ sản tăng 10,1%, giầy dép tăng 52,7%, đồ gỗ tăng 103,3%, nông sản tăng 13,9%, dầu khí tăng 108,7%, các mặt hàng công nghiệp khác tăng 76,9%.
- Việt Nam nhập khẩu từ Hoa Kỳ Khóa luận: Đẩy mạnh xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực của VN.
Không có gì ngạc nhiên khi thấy rằng hơn ba phần tư hàng nhập khẩu của Việt Nam từ Hoa Kỳ là các sản phẩm công nghiệp chế tạo, chủ yếu là máy móc thiết bị vận tải. Các mặt hàng Hoa Kỳ xuất khẩu sang Việt Nam chủ yếu gồm máy móc, thiết bị và phụ tùng, phụ tùng máy bay, phân bón, nguyên liệu công nghiệp như bông, bột giấy, nhựa, phụ kiện gia công giầy… Nói chung, xu hướng nhập khẩu của Việt Nam từ Hoa Kỳ chủ yếu là thiết bị, phụ tùng công nghệ cao, mặc dù rất đắt tiền nhưng là hàng không thể mua từ các nước khác, hoặc các nguyên liệu, phụ kiện phục vụ gia công hàng xuất khẩu.
III/ MỘT SỐ SỰ KIỆN NỔI BẬT TRONG QUAN HỆ THƯƠNG MẠI HAI NƯỚC
1. Các vụ kiện bán phá giá cá tra, cá basa và tôm Việt Nam
- Vụ kiện bán phá giá cá tra, cá basa Việt Nam
Cá tra, cá basa – còn được gọi là cá da trơn hay catfish theo tên tiếng Anh-là một thứ đặc sản của một số vùng ở Hoa Kỳ. Giá bình quân 1 pound mà các nhà nuôi cá catfish nhận được giảm từ 75 xen năm 2020 xuống 66 xen năm 2021 và 50 xen năm 2022. Hiệp hội các nhà nuôi cá catfish Hoa Kỳ (CFA) lập luận rằng giá bán hiện thấp hơn chi phí sản xuất tới 15 xen. Doanh số cá catfish nội địa bán cho các đơn vị chế biến giảm 20% từ 446 triệu USD năm 2020 xuống 385 triệu USD năm 2021. Các chủ trại nuôi cá catfish “cáo buộc” các sản phẩm cá tra và cá basa nhập khẩu từ Việt Nam chính là nguyên nhân gây ra sự giảm sút này.
Ngày 28 tháng 6 năm 2022, CFA đã đệ đơn kiện một số doanh nghiệp chế biến thuỷ sản Việt Nam lên Bộ Thương mại Hoa Kỳ (DOC) và Uỷ ban Thương mại quốc tế Hoa Kỳ (ITC) là các sản phẩm cá tra và basa philê đông lạnh được bán thấp hơn giá trị hợp lý tại Hoa Kỳ, gây thiệt hại cho sản xuất nội địa. Việt Nam được xác định không phải là một nước theo nền kinh tế thị trường nên mức thuế suất chống phá giá áp dụng sẽ là 190%. Với mức thuế như vậy để có lãi, các nhà xuất khẩu không thể duy trì mức giá thu mua nguyên liệu như trước mà phải tìm cách hạ giá. Hậu quả là vào năm 2025, với mức giá 10.000 đồng/kg cá nguyên liệu loại I, mỗi một kg cá xuất bán, người nuôi bị mất gần 2.500 đồng so với mức giá cao vào cuối năm 2024. Hàng trăm nghìn người dân đang sống nhờ nghề nuôi cá tra, cá basa tại các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long bị đe doạ nghiêm trọng.
Giá bán ra tại Hoa Kỳ thấp hơn chi phí sản xuất vì nhiều nguyên do. Chuyện cá da trơn nhập khẩu từ Việt Nam chỉ là một khía cạnh nhỏ bé của vấn đề. Cá nhập khẩu từ Việt nam chiếm 3/4 lượng nhập khẩu cá da trơn nhưng chỉ là 2% trong số hơn 272 ngàn tấn cá loại này sản xuất tại Hoa Kỳ. Vì vậy cá Việt Nam nhập khẩu thực ra không ảnh hưởng mấy tới giá catfish ở Hoa Kỳ. Cá nhập khẩu Việt Nam chỉ là nạn nhân của cả một chiến dịch giữ giá đã được chuẩn bị khởi động từ lâu. Phán quyết mang nặng tính bảo hộ này của Doc hoàn toàn đi ngược lại xu thế tự do thương mại toàn cầu hiện nay.
- Vụ kiện bán phá giá tôm Việt Nam Khóa luận: Đẩy mạnh xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực của VN.
Sau tranh chấp về vấn đề cá tra và cá basa xuất khẩu vào Hoa Kỳ, Việt Nam lại phải lo đối phó với một cuộc tấn công khác của giới nuôi tôm tại Hoa Kỳ.
Tôm đông lạnh là mặt hàng được tiêu thụ mạnh tại thị trường Hoa Kỳ, trong đó phần lớn là hàng nhập khẩu (88%) còn lại là sản xuất nội địa. Giới nuôi tôm tại Hoa Kỳ cho rằng loại tôm giá rẻ, nuôi trong ao hồ của Việt Nam đã được bán dưới giá thị trường vào Hoa Kỳ và gây phương hại cho giới nuôi tôm nội địa.
Hậu quả là ngày 31/12/2023, Liên minh Nuôi tôm Miền Nam Hoa Kỳ (SSA), một liên minh gồm 8 tiểu bang nằm ở phía bờ biển đông nam nước Hoa Kỳ, nộp đơn kiện Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam, Ấn Độ, Brazil và Ecuador cho Bộ Thương mại (DOC) và Uỷ ban Mậu dịch quốc tế (ITC) với các số liệu chứng minh về việc bán phá giá tôm, làm thiệt hại công nghiệp nuôi tôm Hoa Kỳ từ 30 đến 200%. SSA cho rằng, các hình thức tài trợ của Nhà nước và tổ chức quốc tế đã khuyến khích quá nhiều cơ sở hạ tầng và kỹ thuật nuôi tôm tại các quốc gia bị kiện khiến cho các nước này xuất càng nhiều tôm sang Hoa Kỳ với giá rẻ mạt.
Quyết định sơ bộ của chính phủ Hoa Kỳ áp đặt mức thuế 93,13% đối với tôm nhập từ Việt Nam đã gây phương hại đến quan hệ thương mại song phương. Hơn nữa, với việc đánh thuế tôm nhập vào Hoa Kỳ thì người thua thiệt nhiều nhất ở đây là người tiêu dùng, bởi vì nếu Liên hiệp Tôm Miền Nam Hoa Kỳ thắng kiện thì giá tôm bán tại các chợ ở Hoa Kỳ tăng lên. Theo lời Liên hiệp Tôm miền Nam, 6 quốc gia bị kiện đã chiếm hết gần 3/4 số tôm nhập khẩu của Hoa Kỳ, với gần 350 triệu kg mỗi năm, và đã khiến cho giá tôm giảm xuống 28% trong vòng 3 năm qua. Không chỉ người tiêu dùng loại thực phẩm này chịu thiệt hại, mà vụ kiện phi lý này còn có thể khiến cho hàng nghìn người lao động Hoa Kỳ trong các ngành phân phối và bán hàng mất việc làm.
Thuế chống bán phá giá mà Hoa Kỳ áp dụng với 6 nước cung cấp tôm nói trên đã gây nên sự xáo trộn về nguồn cung cấp tôm trên thị trường Hoa Kỳ. Tuy vậy, hầu hết 6 nước trên vẫn đứng đầu danh sách 10 nước xuất khẩu tôm vào thị trường này năm qua, trong đó Thái Lan dẫn đầu, tiếp đến là Indonêsia, Ecuador, Trung Quốc và Việt Nam. Hiện nay, Việt Nam mỗi năm xuất khẩu khoảng 470 triệu đôla tôm sang Hoa Kỳ. Brazil là nước bị ảnh hưởng rõ nhất, bởi nước này đã bị rớt khỏi danh sách 10 nước xuất khẩu tôm lớn nhất sang Hoa Kỳ trong năm 2025.
Riêng đối với ngành thuỷ sản Việt Nam, đây là một sự kiện lớn vì tỷ trọng xuất khẩu tôm vào thị trường Hoa Kỳ lớn gấp 10 lần so với cá tra và cá basa và chiếm gần 50% tổng kim ngạch xuất khẩu tôm của Việt Nam.
- Áp đặt tiền đặt cọc khi nhập khẩu tôm vào Hoa Kỳ Khóa luận: Đẩy mạnh xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực của VN.
Lại có thêm một rào cản gây khó khăn cho tôm xuất khẩu của Việt Nam. Từ tháng 2 năm 2025, các nhà nhập khẩu muốn nhập tôm vào thị trường Hoa Kỳ phải đóng một khoản tiền ký quỹ gọi là thuế suất tạm tính. Đó là quy định mới của Hải quan Hoa Kỳ áp dụng đối với hàng nhập khẩu bị đánh thuế chống bán phá giá từ các nước trong vụ kiện tôm năm 2024. Theo quy định mới này, khoản tiền đặt cọc sẽ tương đương với giá trị thuế chống bán phá giá được tính trên giá trị của tổng lượng hàng trong 12 tháng mà nhà nhập khẩu đó được nhập từ nước bị áp thuế bán phá giá. Hiện nay, các nhà nhập khẩu Hoa Kỳ bắt đầu đẩy rủi ro này về phía doanh nghiệp xuất khẩu trong đó có Việt Nam. Họ yêu cầu các nhà xuất khẩu Việt Nam phải tự đóng tiền đặt cọc, tự nhập hàng vào Hoa Kỳ, giao hàng tại Hoa Kỳ sau khi đã thông quan và chịu mọi rủi ro trong trường hợp mức thuế phá giá tăng sau khi đã xem xét. Quy định mới đã gây rất nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ bởi số tiền ký quỹ là rất lớn mà lại có nguy cơ bị mất.
Từ sau quy chế này, hoạt động xuất khẩu thuỷ sản vào thị trường Hoa Kỳ gần như không tiến triển. Các doanh nghiệp giảm bớt thu mua, giảm sản xuất và ngưng một số dây chuyền. Số lượng hàng tồn kho lớn, nhiều nhà xuất khẩu Việt Nam bị lỗ nặng. Không chỉ có nhà xuất khẩu thua lỗ, người nuôi tôm cũng lao đao do giá tôm liên tục giảm. Nguồn cung trong nước tăng trong khi thị trường tiêu thụ ứ hàng, giá tôm giảm là điều không thể tránh khỏi. Các doanh nghiệp cũng đẩy mạnh khai thác một số thị trường như Nhật, Hàn Quốc, Trung Đông,… song giá tôm ở những thị trường này cũng chịu tác động của những diễn biến trên thị trường Hoa Kỳ.
2. Hiệp định dệt may Việt Nam – Hoa Kỳ Khóa luận: Đẩy mạnh xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực của VN.
Dệt may là một trong số những mặt hàng mang lại nhiều ngoại tệ nhất cho Việt Nam. Năm 2024, hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu sang Hoa Kỳ tăng gấp 18 lần so với năm 2021. Sự gia tăng quá nhanh này đã khiến nhiều nhà sản xuất dệt may cỡ nhỏ của Hoa Kỳ lo ngại và làm áp lực để chính phủ đặt ra hạn ngạch đối với hàng dệt may nhập khẩu từ Việt nam.
Hiệp định dệt may Việt Nam – Hoa Kỳ được ký tắt vào ngày 25/4/2023 tại Washington và ký chính thức vào ngày 17/7/2023 tại Hà Nội với mục đích nhằm ngăn chặn sự gia tăng quá nhanh của hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ. Theo đó, hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu sang Hoa Kỳ sẽ được thực hiện theo hạn ngạch với mức tối đa vào khoảng 1 tỉ 700 triệu đôla mỗi năm. Hiệp định này có hiệu lực từ 1/5/2023 đến 31/12/2024 nhưng có thể được gia hạn hàng năm cho đến khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới.
Hạn ngạch: Các mức hạn ngạch này sẽ được tăng thêm 7% mỗi năm (2% đối với các sản phẩm từ len). Các hạn ngạch cũng có thể được điều chỉnh hàng năm bằng cách mượn trước hoặc chuyển tiếp, tuy nhiên không được quá 11%/năm.
Thoả thuận visa: Việt Nam sẽ cấp visa cho tất cả các loại hàng hoá xuất khẩu chịu hạn ngạch.
Đảm bảo thực thi: Mỗi bên đồng ý cung cấp những thông tin cần thiết để thực thi Hiệp định và cung cấp những số liệu xuất nhập khẩu hàng tháng có liên quan.
Tiếp cận thị trường: Việt Nam sẽ giữ thuế quan của mình đối với hàng dệt may ở mức 7% đối với sợi, 12% đối với vải và 20% đối với quần áo. Việt Nam cũng sẽ trao cho Hoa Kỳ quy chế đối xử Tối huệ quốc và đồng ý kiềm chế không áp dụng các rào cản phi thuế quan.
Mức hạn ngạch ký kết chưa đáp ứng đủ năng lực sản xuất của các doanh nghiệp Việt Nam và Việt Nam đang nỗ lực đàm phán nhằm sớm gia nhập tổ chức WTO để hệ thống quota có thể được huỷ bỏ, và như vậy công nghiệp dệt may Việt nam mới có thể phát triển theo đúng tiềm năng của mình.
3. Vấn đề Quốc hội Hoa Kỳ cấp PNTR cho Việt Nam
Việt Nam bình thường hoá quan hệ với Hoa Kỳ năm 2015 nhưng lúc đó Hoa Kỳ vẫn chưa bình thường hoá quan hệ kinh tế thương mại với Việt Nam do áp đặt Tu chính án Jackson Vanik, điều khoản không cho phép Hoa Kỳ buôn bán bình thường với những nước chịu Tu chính án và hàng năm Việt Nam phải thương lượng để họ miễn áp dụng điều khoản đó, Tác dụng của Quy chế Quan hệ thương mại bình thường vĩnh viễn (viết tắt là PNTR) là tạo điều kiện để bình thường hoá hoàn toàn quan hệ buôn bán giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, nghĩa là hàng năm không phải xem xét lại miễn Tu chính án Jackson Vanik. Có PNTR thì những thoả thuận đạt được trong thương lượng song phương mới có hiệu lực trong quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Hoa Kỳ.
Về phía Hoa Kỳ, ngay trước khi Việt Nam bước vào vòng đàm phán song phương cuối cùng, đã hình thành Liên minh các doanh nghiệp ủng hộ Việt Nam gia nhập WTO và thúc đẩy thêm quá trình đàm phán đi đến kết thúc. Cái đó rõ ràng là lợi ích của họ. Lực lượng ủng hộ Việt Nam mạnh mẽ là những doanh nghiệp đang đầu tư ở Việt Nam như ngân hàng, bảo hiểm, viễn thông…
Ngày 1/8/2026, Uỷ ban Tài chính Thượng viện thông qua dự luật PNTR cho Việt Nam, mặc dù vậy, vẫn còn nhiều ý kiến quan ngại về con đường PNTR phải vượt qua Hạ viện, nơi có nhiều tiếng nói chống đối liên quan đến nhân quyền và dệt may. Liên minh các nhà sản xuất và Hội đồng Quốc gia các Tổ chức dệt may lo sợ rằng việc Việt Nam tiếp cận đầy đủ với thị trường Hoa Kỳ sẽ gây thiệt hại cho ngành công nghiệp dệt may và nhân công Hoa Kỳ. Tuy nhiên, Quốc hội Hoa Kỳ sẽ sớm thông qua PNTR cho Việt Nam để Việt Nam nhanh chóng gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới vì chính lợi ích của Hoa Kỳ.
Thứ nhất, Việt Nam gia nhập WTO và hội nhập vào nền kinh tế thế giới nghĩa là sân chơi của Hoa Kỳ rộng thêm hơn, lợi ích kinh tế mà Hoa Kỳ có thể khai thác lớn thêm hơn. Khóa luận: Đẩy mạnh xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực của VN.
Thứ hai, khi Việt Nam trở thành thành viên của WTO, Hoa Kỳ sẽ dựa vào cơ chế và những quy định của tổ chức này để thúc đẩy quá trình tự do hoá thương mại ở Việt Nam, điều chỉnh và sửa đổi pháp luật Việt Nam cho tương thích với luật chơi chung của kinh tế thị trường thế giới. Như vậy, doanh nghiệp của Hoa Kỳ và của cả thế giới sẽ yên tâm, dễ dàng khai thác thị trường Việt Nam.
Thứ ba, thị trường Việt Nam với trên 80 triệu dân và tốc độ phát triển kinh tế nhanh sẽ là một thị trường tiềm năng có sức hấp dẫn.
- Như vậy, rõ ràng là đôi bên cùng có lợi.
Tóm lại, từ những vụ kiện bán phá giá và những khó khăn trong vấn đề được Quốc hội Hoa Kỳ thông qua PNTR cho Việt Nam, có thể thấy làm ăn với một nước như Hoa Kỳ là không hề đơn giản. Các doanh nghiệp Việt Nam cần phải nghiên cứu kỹ hơn về chính sách nhập khẩu của Hoa Kỳ, đặc biệt là những quy định về hàng rào bảo hộ để tránh được những rắc rối không cần thiết và những thiệt hại nặng nề qua các vụ bán phá giá. Bên cạnh đó, Việt Nam cần xúc tiến mạnh hơn nữa và đáp ứng những yêu cầu cần thiết để sớm được hưởng quy chế PNTR của Quốc hội Hoa Kỳ nhằm đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá sang thị trường này. Khóa luận: Đẩy mạnh xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực của VN.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>> Khóa luận: Thực trạng xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực của VN

Dịch Vụ Viết Luận Văn Thạc Sĩ 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietthuethacsi.com/ – Hoặc Gmail: dicvuluanvanthacsi@gmail.com
[…] ===>> Khóa luận: Đẩy mạnh xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực của VN […]